Thứ Sáu, 10 tháng 5, 2024

VẬN DỤNG TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ KHUYẾN HỌC, KHUYẾN TÀI TRONG XÂY DỰNG XÃ HỘI HỌC TẬP Ở VIỆT NAM

 

Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh rất quan tâm đến việc khuyến khích, động viên nhân dân học tập để nâng cao nhận thức và phụng sự cho sự phát triển đất nước. Tư tưởng của Người đã được Đảng ta kế thừa và phát triển khi đưa ra chủ trương khuyến học, khuyến tài và xây dựng xã hội học tập để nâng cao dân trí, phát triển nhân lực ở Việt Nam hiện nay.


TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ KHUYẾN HỌC, KHUYẾN TÀI


Xác định “cán bộ là cái gốc của mọi công việc”, Hồ Chí Minh rất quan tâm đến việc đào tạo, bồi dưỡng cán bộ thông qua quá trình học tập. Theo Người, học tập chính là một quá trình tiếp thu tri thức để bổ sung, nâng cao trình độ nên mỗi người phải luôn học tập ở trường, lớp và tự học suốt cuộc đời vì: “Học hành là vô cùng. Học càng nhiều, biết càng nhiều càng tốt”(1). Vì thế, mỗi người, nhất là người cán bộ, đảng viên nếu không muốn mình trở nên lạc hậu, thì phải ra sức học tập bởi lẽ nếu không chịu khó học thì không tiến bộ được. “Không tiến bộ là thoái bộ. Xã hội càng đi tới, công việc càng nhiều, máy móc càng tinh xảo. Mình mà không chịu học thì lạc hậu, mà lạc hậu là bị đào thải, tự mình đào thải mình”(2). Bên cạnh đó, Hồ Chí Minh còn đưa ra những chỉ dẫn có tính chất phương pháp luận rất quan trọng về cách thức học tập có hiệu quả. Đó là, “muốn học tập có kết quả tốt thì phải có thái độ đúng và phương pháp đúng… Phương châm, phương pháp học tập là lý luận liên hệ với thực tế”(3).


Khi đến thăm một đơn vị, thấy tình trạng cán bộ đảng viên, nhất là những người lớn tuổi có tư tưởng ngại học, Bác đã bộc bạch: “Bác thường nghe nói có đồng chí 40 tuổi đã cho mình là già nên ít chịu học tập. Nghĩ như vậy là không đúng, 40 tuổi chưa phải là già. Bác đã 76 tuổi nhưng vẫn cố gắng học thêm. Chúng ta phải học và hoạt động cách mạng suốt đời. Còn sống thì còn phải học, còn phải hoạt động cách mạng”(4) để nhắc nhở mỗi cán bộ, đảng viên phải ra sức học tập - học tập là nhu cầu tự thân suốt đời.


Cũng theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, học và tự học luôn gắn liền nhau và đó cũng chính là con đường tốt nhất để mỗi người không ngừng tu dưỡng, rèn luyện, nâng cao trình độ cho bản thân. Người từng bộc bạch: “Về văn hóa: Tôi chỉ học hết tiểu học (...). Về hiểu biết phổ thông: Năm 17 tuổi tôi mới nhìn thấy ngọn đèn điện lần đầu tiên, 29 tuổi mới nghe rađio lần đầu”(5), “tôi năm nay 71 tuổi, ngày nào cũng phải học. Việc lớn, việc nhỏ, tôi phải tham gia. Công việc cứ tiến mãi. Không học thì không theo kịp. Công việc nó sẽ gạt mình lại phía sau”(6). Đây là những lợi bộc bạch rất chân thành được đúc rút ra từ chính cuộc đời của Người nên có có sức lay động rất lớn đến mỗi cán bộ, đảng viên phải ra sức học tập tinh thần tự học suốt đời của Bác.


Theo Bác, “Học hỏi là một việc phải tiếp tục suốt đời. Suốt đời phải gắn liền lý luận với công tác thực tế. Không ai có thể tự cho mình đã biết đủ rồi, biết hết rồi. Thế giới ngày ngày đổi mới, nhân dân ta ngày càng tiến bộ, cho nên chúng ta phải tiếp tục học và hành để tiến bộ kịp nhân dân”(7). Vì thế, quá trình học không nên được chăng hay chớ mà cần phải nghiêm túc, không bỏ bê, không ngắt quãng. Người không chỉ nói, yêu cầu mỗi người, mỗi cán bộ, đảng viên của Đảng đều phải học, tự học và học suốt đời, mà Người còn là một tấm gương mẫu mực về quá trình tự làm giàu tri thức của bản thân. Khi đặt chân sang các nước, Người đều tự học ngoại ngữ để tìm hiểu văn hóa, lịch sử các nước và hòa nhập với cuộc sống nơi đó, từ đó tham gia hoạt động cách mạng, viết sách, báo, tạp chí; đồng thời, nghiên cứu, học tập chủ nghĩa Mác - Lênin và truyền bá về Việt Nam.


Cách mạng Tháng Tám năm 1945 thành công, trước tình hình thực dân Pháp thực hiện chính sách ngu dân khiến hơn 90% đồng bào ta bị mù chữ, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã kêu gọi mở chiến dịch “diệt giặc dốt”. Trên tinh thần, ai biết chữ thì dạy cho người chưa biết chữ; người biết nhiều dạy cho người biết ít; tận dụng mọi nơi, mọi lúc để dạy và học,... phong trào thi đua “Bình dân học vụ” được Người phát động những năm đầu khi nước nhà mới giành được độc lập đã được toàn dân đồng lòng, đồng sức tham gia, triển khai với quyết tâm cao và đã đạt được những thành tựu không thể phủ nhận. Ngoài ra, với tầm nhìn xa trông rộng, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã rất chú trọng đến sự nghiệp giáo dục và đào tạo của nước nhà theo phương châm: “Vì lợi ích 10 năm thì phải trồng cây. Vì lợi ích trăm năm thì phải trồng người”. Chính điều này đã góp phần vào thắng lợi của nhân dân ta trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ xâm lược, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.


Không chỉ nói về việc học nói chung mà Người còn chỉ rõ mục đích của việc học là để hoàn thiện, phát triển bản thân và phụng sự cho đất nước. Tháng 9-1949, Chủ tịch Hồ Chí Minh đến thăm trường Nguyễn Ái Quốc Trung ương và Người đã ghi lại trong trang đầu cuốn sổ vàng truyền thống của Trường:


“Học để làm việc


          làm người


          làm cán bộ


Học để phụng sự đoàn thể


          phụng sự giai cấp và nhân dân


          phụng sự Tổ quốc và nhân loại”(8).


Hồ Chí Minh đặt “làm cán bộ” sau “làm việc”, “làm người” nhằm khẳng định bản chất của người cán bộ trong xã hội mới, học không phải để làm quan như trong xã hội cũ như Người từng nhắc nhở: “Học cốt để biết đạo lý làm người, để giúp dân, không nên theo đuổi mục đích đỗ đạt để làm quan và nhũng nhiễu dân”(9) mà học để thực hiện mục tiêu cao cả là “phụng sự” đoàn thể, giai cấp và nhân dân, Tổ quốc và nhân loại, là luôn luôn đặt lợi ích của Tổ quốc, của nhân dân lên trên tất cả. Với hai từ “phụng sự”, Hồ Chí Minh đã nêu lên ý nghĩa đích thực của việc học tập thật sự khoa học, cách mạng, tiến bộ và nhân văn. Theo Người, việc học phải hướng tới mục đích toàn diện nhằm hoàn thiện nhân cách, đạo đức làm người; chiếm lĩnh các kiến thức về văn hóa, chính trị, khoa học, kỹ thuật, chuyên môn nghiệp vụ, đồng thời nắm bắt những kiến thức lý luận và kiến thức thực tế. Nếu không có nhân cách, đạo đức sẽ không có bản lĩnh để vượt qua được khó khăn, gian khổ; nếu không có trình độ sẽ không theo kịp được yêu cầu ngày càng phát triển của cách mạng, đặc biệt nếu “làm mà không có lý luận thì không khác gì đi mò trong đêm tối, vừa chậm chạp, vừa hay vấp váp. Có lý luận thì mới hiểu được mọi việc trong xã hội, trong phong trào để chủ trương cho đúng, làm cho đúng”(10).


Một điều đặc biệt là Chủ tịch Hồ Chí Minh không chỉ là người đưa ra tư tưởng khuyến khích, động viên mọi người học tập suốt đời mà Người cũng chính là tấm gương sáng mẫu mực về tinh thần học, tự học và học suốt đời để làm giàu tri thức, nâng cao trình độ. Do đó, Người luôn căn dặn mỗi cán bộ, đảng viên cần “thực hiện lời dạy của Lênin là học, học nữa, học mãi. Học phải đi đôi với hành. Học để hành càng ngày càng tốt hơn”(11).


KHUYẾN KHÍCH, ĐỘNG VIÊN, TẠO ĐỘNG LỰC ĐỂ TOÀN DÂN RA SỨC HỌC TẬP


Kế thừa tư tưởng của Hồ Chí Minh về khuyến khích, động viên nhân dân ra sức học tập, từ khi đổi mới đến nay, Đảng ta rất quan tâm đến việc khuyến học, khuyến tài. “Khuyến học, khuyến tài được hiểu là những hoạt động vận động, khuyến khích người dân ở mọi độ tuổi học tập thường xuyên, học suốt đời để có tri thức mới, hình thành những kỹ năng mới giúp lao động hiệu quả hơn, cuộc sống văn minh, hạnh phúc hơn”(12). Mục tiêu của khuyến học, khuyến tài là thúc đẩy xây dựng cả nước ta trở thành một xã hội học tập, tức một xã hội mà ai cũng muốn học và phải học, từ trẻ em đến người lớn, ở mọi ngành nghề, xuất thân, điều kiện, dân tộc, giới tính,… Hay nói cách khác, “xây dựng cả nước thành một xã hội học tập” là mục tiêu chính, còn “khuyến học, khuyến tài” là phương tiện để đạt được mục tiêu đó.


Ngày 2/10/1996, Hội Khuyến khích và Hỗ trợ giáo dục Việt Nam (gọi tắt là Hội Khuyến học Việt Nam) được thành lập theo Quyết định số 122/QĐ-TTg ngày 29/2/1996 của Thủ tướng Chính phủ. Theo đó, “Hội Khuyến học Việt Nam (sau đây gọi tắt là Hội) là tổ chức xã hội, tập hợp các lực lượng xã hội và công dân Việt Nam sinh sống ở trong nước và nước ngoài tâm huyết với sự nghiệp giáo dục, khuyến học, khuyến tài, góp phần xây dựng cả nước trở thành một xã hội học tập nhằm nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài, phục vụ cho sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, hội nhập khu vực và quốc tế”(13). Ngày 5/12/2005, Ban Chấp hành Trung ương Đảng đã tặng Hội Khuyến học Việt Nam bức trướng với dòng chữ: “Hội Khuyến học Việt Nam - Khuyến học, khuyến tài Xây dựng cả nước trở thành một xã hội học tập” để ghi nhận những đóng góp của Hội Khuyến học Việt Nam với phong trào khuyến học, khuyến tài.


Ngày 13/4/2007, Bộ Chính trị khóa X ban hành Chỉ thị số 11-CT/TW về “Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác khuyến học, khuyến tài, xây dựng xã hội học tập”. Chỉ thị nhằm vận động nhân dân tích cực học tập nâng cao dân trí, nghề nghiệp, chuyên môn nhằm tăng năng lực sản xuất, chất lượng công việc, chất lượng cuộc sống. Gắn việc phát triển phong trào khuyến học, khuyến tài với xây dựng môi trường giáo dục lành mạnh, học đi đôi với hành, với phong trào làm kinh tế giỏi, xóa đói, giảm nghèo và xây dựng đời sống văn hóa ở cơ sở.


Ngày 10/5/2019, Ban Bí thư khóa X ban hành Kết luận số 49-KL/TW về tiếp tục thực hiện Chỉ thị số 11-CT/TW của Bộ Chính trị khóa X yêu cầu: “Nâng cao chất lượng, hiệu quả đào tạo, bồi dưỡng kỹ năng nghề nghiệp cho công nhân, người lao động trong các lĩnh vực kinh tế - xã hội nhằm đáp ứng yêu cầu đổi mới công nghệ, lao động năng động, sáng tạo trong điều kiện nền kinh tế số hiện nay. Khuyến khích các cơ quan, đơn vị, doanh nghiệp, tổ chức xã hội, cơ sở giáo dục nâng cao chất lượng, hiệu quả đào tạo nghề và kỹ năng sống cho người lao động.


Tại Đại hội XIII, Đảng ta xác định mục tiêu phát triển con người toàn diện và xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc để văn hóa, con người Việt Nam thực sự trở thành sức mạnh nội sinh, động lực phát triển đất nước và bảo vệ Tổ quốc. Quan điểm của Đảng gắn việc phát triển phong trào khuyến học, khuyến tài, xây dựng xã hội học tập với xây dựng đời sống văn hóa ở cơ sở; với xây dựng đời sống văn hóa mới. Đại hội XIII cũng đã xác định rõ: Chú trọng hơn giáo dục đạo đức, nhân cách, năng lực sáng tạo và các giá trị cốt lõi, nhất là giáo dục tinh thần yêu nước, tự hào, tự tôn dân tộc, truyền thống và lịch sử dân tộc, ý thức trách nhiệm xã hội cho các tầng lớp nhân dân, nhất là thế hệ trẻ; giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc tốt đẹp của người Việt Nam; khơi dậy khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Gắn giáo dục tri thức, đạo đức, thẩm mỹ, kỹ năng sống với giáo dục thể chất, nâng cao tầm vóc con người Việt Nam; Tăng cường giáo dục lòng yêu nước, lòng tự hào dân tộc, truyền thống và lịch sử dân tộc, ý thức trách nhiệm xã hội cho các tầng lớp nhân dân, nhất là thanh niên; Đẩy mạnh giáo dục nâng cao nhận thức, ý thức tôn trọng và chấp hành pháp luật, bảo vệ môi trường, giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc của người Việt Nam, đặc biệt là thế hệ trẻ.


Có thể nhận thấy, Đảng ta đã kế thừa, vận dụng và phát triển sáng tạo tư tưởng Hồ Chí Minh trong chủ trương thúc đẩy khuyến học khuyến tài, xây dựng xã hội học tập. Nhờ đó đã khuyến khích, động viên, tạo động lực để toàn dân ra sức học tập, không ngừng nâng cao trình độ và đóng góp ngày càng nhiều cho sự phát triển đất nước. Mô hình “gia đình học tập, “dòng họ học tập”, “quê hương học tập”, “xã hội học tập” là sự cụ thể hóa chủ trương đúng đắn của Đảng về thúc đẩy toàn dân tích cực học tập, góp phần hiện thực hóa khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc trong giai đoạn hiện nay./.

ST

 

VẬN DỤNG TƯ TƯỞNG "CHÍNH TRỊ SÁNG SUỐT" CỦA CHỦ TỊCH HỒ CHÍ MINH TRONG CÔNG TÁC XÂY DỰNG ĐẢNG HIỆN NAY

 

“Chính trị sáng suốt” trong di sản Hồ Chí Minh xét đến cùng chính nói đến cái hay, cái đẹp, và nói đến các giá trị bền vững của một nền chính trị hướng đến sự nghiệp giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp và giải phóng con người. Trong giai đoạn cách mạng ở nước ta hiện nay, nghiên cứu, vận dụng quan điểm về “chính trị sáng suốt” có ý nghĩa lý luận và thực tiễn to lớn, đối với sự nghiệp cách mạng nói chung và công tác xây dựng Đảng về chính trị nói riêng.


“CHÍNH TRỊ SÁNG SUỐT” TRONG DI SẢN HỒ CHÍ MINH


Trong di sản Hồ Chí Minh, “chính trị sáng suốt” được thể hiện bản chất của chế độ, gắn liền với vai trò của đảng cầm quyền, tức là khi Đảng ta trở thành đảng cầm quyền, lãnh đạo chính quyền, và được biểu hiện tập trung nhất ở hệ tư tưởng chính trị, quan điểm, đường lối, sách lược, các quyết sách chính trị của đảng cầm quyền; phong cách, tác phong của đội ngũ hoạt động chính trị. “Chính trị sáng suốt” được biểu hiện rõ nhất trong mối quan hệ giữa Đảng, Nhà nước, với nhân dân. Chính vì vậy, chính trị sáng suốt làm cho người cầm quyền hướng đến nhu cầu và nguyện vọng của dân; đồng thời, nhân dân phải biết trách nhiệm và nghĩa vụ của mình đối với Chính phủ. Trong mối quan hệ đó, Hồ Chí Minh khẳng định: Đảng cầm quyền, nhưng dân là chủ, vì vậy, Đảng phải nhiệm vai trò của “người lãnh đạo”, và đồng thời là vai trò của “người đầy tớ thật trung thành của nhân dân”(1). “Chính trị sáng suốt” trong di sản Hồ Chí Minh được biểu hiện ở những đặc trưng cơ bản và đặt trong các mối quan hệ chủ yếu sau đây:


Thứ nhất, “chính trị sáng suốt” được thể hiện ở mục tiêu, lý tưởng, bản lĩnh và trí tuệ của Đảng. Trong di sản Hồ Chí Minh, mục tiêu, lý tưởng, bản lĩnh và trí tuệ của Đảng là những hạt nhân nòng cốt của “chính trị sáng suốt”, Đảng ta xác định con đường cách mạng không chỉ dừng lại ở việc giành và giữ chính quyền, mà trên nền tảng chính quyền đó để xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội với mục tiêu giàu mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh, người dân được hưởng cuộc sống ấm no và hạnh phúc thực sự. Hồ Chí Minh cho rằng, như vậy Đảng mới “xứng đáng là người lãnh đạo, là người đầy tớ thật trung thành của nhân dân”(2). Lý tưởng đó phù hợp với nguyện vọng của tuyệt đại đa số nhân dân Việt Nam, mang đậm tính văn hoá và làm rõ nét của nền chính trị sáng suốt.


Thứ hai, “chính trị sáng suốt” được biểu hiện trong quan hệ giữa Đảng và Nhân dân. Nền “chính trị sáng suốt” theo quan điểm của Hồ Chí Minh được biểu hiện trong mối quan hệ giữa Đảng và Nhân dân: “ý Đảng” và “lòng dân”. Trong mối quan hệ đó thì Đảng cầm quyền nhưng dân là gốc, là chủ và làm chủ. Hồ Chí Minh cho rằng: “Trong bầu trời không gì quý bằng nhân dân. Trong thế giới không gì mạnh bằng lực lượng đoàn kết của nhân dân”(3). Người khẳng định: “Dân chúng đồng lòng, việc gì cũng làm được. Dân chúng không ủng hộ, việc gì làm cũng không nên”(4). Để giải quyết tốt mối quan hệ này, Người cho rằng “phải đưa chính trị vào giữa dân gian”(5). Đây chính là cách lãnh đạo, quản lý bằng sự cảm hoá, thuyết phục là “chính trị sáng suốt” đó là cơ sở tạo ra quyền lực cho Đảng thay vì sự áp đặt.


Thứ ba, “chính trị sáng suốt” được biểu hiện ở việc hiện thực hoá nghị quyết, đường lối trong thực tiễn. Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ ra rằng: “Muốn làm tốt mọi công việc thì phải lãnh đạo tốt... Lãnh đạo tốt nghĩa là thực hiện đầy đủ những nghị quyết của Đảng, biến quyết tâm của Đảng thành quyết tâm của nhân dân”(6). Chỉ khi nào như vậy Đảng mới thực sự xứng đáng vừa là người lãnh đạo, vừa là người đầy tớ thật sự trung thành của nhân dân; từ đó không ngừng củng cố được niềm tin của nhân dân đối với sự nghiệp cách mạng của Đảng và dân tộc. Xuyên suốt đường lối và cương lĩnh lãnh đạo của Đảng, Đảng khẳng định nhất quán, rõ ràng, dứt khoát quan điểm tất cả mọi hoạt động của mình là vì hạnh phúc của nhân dân. Xác định đúng đắn về mặt lý luận đã khó, hiện thực hóa đường lối ấy trong thực tiễn còn khó hơn. Vậy mà trên thực tiễn lãnh đạo, Đảng ta đã sáng suốt lãnh đạo toàn xã hội từng bước đi tới mục tiêu đã lựa chọn. Hoạt động để đem lại hiệu quả thực sự cho toàn thể nhân dân trong các lĩnh vực của đời sống xã hội bao gồm chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội...và lấy hiệu quả đó làm thước đo mới là điều khó nhất của một đảng cầm quyền.


Thứ tư, “chính trị sáng suốt” được thể hiện ở một nền chính trị liêm khiết, trong sạch; lựa chọn đội ngũ cán bộ, đảng viên là những người vừa có đức, vừa có tài cho cách mạng. Theo quan điểm của Hồ Chí Minh, “chính trị sáng suốt” được biểu hiện rõ nét ở việc thi hành một nền chính trị liêm khiết, trong sạch. Chủ tịch Hồ Chí Minh đưa ra quan điểm chính trị là đạo đức, là “thanh khiết từ to đến nhỏ”(7), đạo đức là cơ sở của chính trị, đạo đức là gốc của người cách mạng. Mọi hoạt động chính trị phải dựa trên cơ sở đạo đức, hướng tới những hành vi có đạo đức, mà cụ thể xây dựng, thực hiện quyền làm chủ thực sự của nhân dân lao động, đảm bảo dân là chủ và dân làm chủ. Muốn vậy, Hồ Chí Minh nhấn mạnh, mỗi cán bộ, đảng viên phải thường xuyên thấm nhuần và rèn luyện các phẩm chất đạo đức cách mạng. Bởi khi mỗi cán bộ, đảng viên trở thành một tấm gương sáng về hành vi đạo đức, thì họ luôn nhận được sự tin yêu của quần chúng nhân dân, hết lòng hết sức, một lòng một dạ tin theo đi theo Đảng, là cơ sở để củng cố mối quan hệ mật thiết giữa Đảng với nhân dân - cội nguồn sức mạnh của cách mạng Việt Nam trong mọi thời kỳ.


Thứ năm, hiểu “chính trị sáng suốt” trong di sản Hồ Chí Minh còn ở nội dung căn cốt, đó là sử dụng cán bộ, sử dụng con người. Con người là chủ thể sáng tạo ra văn hoá và cũng là sản phẩm của văn hoá. Chủ tịch Hồ Chí Minh nhấn mạnh, cán bộ là gốc của mọi công việc. Muôn việc thành hay bại đều liên quan tới cán bộ tốt hay kém. Trong quá trình lãnh đạo sự nghiệp cách mạng to lớn của dân tộc, nếu Đảng không lựa chọn được những người có đức, có tài, có ý chí, quyết tâm, suốt đời hết lòng, hết sức phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân thì đó là thất bại cho Đảng và cũng sẽ làm cho sự nghiệp cách mạng không thể đi tới thành công. Những bài học về sự suy thoái và tê liệt của một số tổ chức cơ sở đảng hiện nay, xét đến cùng là do vấn đề cán bộ - công việc gốc của Đảng. Việc cất nhắc, đề bạt cán bộ bị đồng tiền tha hóa và chủ nghĩa cá nhân chi phối, người sử dụng, đề bạt cán bộ thiếu lý trí và bản lĩnh để lựa chọn những người thật sự có đức, có tài vào các vị trí trọng trách lãnh đạo, thì đó là cách làm phản văn hoá, là những người làm chính trị nhưng chưa có văn hóa, hay nói cách khác là người làm “chính trị chưa sáng suốt”.


VẬN DỤNG TRONG CÔNG TÁC XÂY DỰNG ĐẢNG HIỆN NAY


Quan điểm “chính trị sáng suốt” trong di sản Hồ Chí Minh là một chỉ dẫn sâu sắc về mặt lý luận và thực tiễn cho sự nghiệp cách mạng của dân tộc ta. Quá trình lãnh đạo cách mạng, đặc biệt là kể từ khi trở thành Đảng cầm quyền, trước những đòi hỏi cần phải phát huy trí tuệ và bản lĩnh của mình, thì Đảng ta luôn đáp ứng được yêu cầu mới của lịch sử, giúp cho Đảng ta luôn nhạy bén trước tình hình mới và xác định được chính xác mục tiêu đấu tranh và các bước đi để giành thắng lợi.


Trong giai đoạn hiện nay, Đảng ta khẳng định công tác xây dựng Đảng nói chung, xây dựng Đảng về chính trị nói riêng là nhiệm vụ then chốt, nhiệm vụ sống còn trong toàn bộ sự nghiệp cách mạng. Đảng phải thường xuyên tự đổi mới, tự chỉnh đốn, coi đây là quy luật tồn tại và phát triển của Đảng. Đảng ta luôn nhấn mạnh vấn đề giữ vững bản chất cách mạng và khoa học. Nền tảng để xây dựng Đảng về chính trị trước hết là: kiên định, vận dụng, phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh với thực tiễn Việt Nam; kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; kiên định những vấn đề có tính nguyên tắc trong công tác xây dựng Đảng; không ngừng nâng cao năng lực cầm quyền của Đảng, nâng cao trí tuệ, bản lĩnh chính trị của Đảng và của từng cán bộ, đảng viên, trước hết của cán bộ lãnh đạo chủ chốt các cấp; luôn giữ vững bản chất cách mạng của Đảng, không để ảnh hưởng, tác động xấu đến sự phát triển của đất nước và lợi ích của Nhân dân.


Trong quá trình đổi mới sâu rộng ở nước ta hiện nay, bên cạnh những thuận lợi, đang chịu sự chi phối từ những mặt trái của cơ chế thị trường, những tiêu cực nảy sinh trong quá trình hội nhập, toàn cầu hoá, tình trạng suy thoái đạo đức ở một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên đang là một vấn đề nhạy cảm, phức tạp, thậm chí nhức nhối trong đời sống tinh thần của nhân dân Việt Nam hiện nay. Đại hội XIII, Đảng ta khẳng định: “Một bộ phận cán bộ, đảng viên chưa tiên phong, gương mẫu; tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, biểu hiện "tự diễn biến", "tự chuyển hóa" trong nội bộ vẫn còn diễn biến phức tạp”(8). Đồng thời, không ít đảng viên thiếu trách nhiệm, không tích cực tham gia vào việc xây dựng và tổ chức thực hiện nghị quyết của Đảng. Tình trạng trên xét đến cùng là sự xuống cấp của văn hoá, trước hết là văn hoá chính trị, là lực cản lớn nhất trên con đường xây dựng và phát triển đất nước.


Trước yêu cầu mới của sự nghiệp cách mạng, việc quán triệt quan điểm “chính trị sáng suốt” trong di sản Hồ Chí Minh trong công tác xây dựng Đảng về chính trị là vấn đề cấp bách, có ý nghĩa chiến lược lâu dài của sự nghiệp cách mạng. Muốn vậy, chúng ta phải thực hiện tốt các vấn đề sau đây:


Một là, Đảng luôn kiên định giữ vững mục tiêu lý tưởng cách mạng trên nền tảng tư tưởng là chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh.


Trong mọi thời kỳ cách mạng, Đảng phải luôn kiên định với mục tiêu lý tưởng của cách mạng: Độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội là con đường đúng đắn, phù hợp với quy luật phát triển của dân tộc và thời đại. Độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội cũng chính là vấn đề dân tộc và giai cấp. Đây là mục tiêu bất biến mà nhân dân ta đã kiên trì phấn đấu hy sinh, theo đuổi hơn 90 năm qua dư­­ới sự lãnh đạo của Đảng. Chỉ có mục tiêu đó mới đảm bảo cho nhân dân ta không còn áp bức bất công. Để giữ vững được mục tiêu lý tưởng cách mạng, đòi hỏi Đảng phải luôn trung thành với chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh. Đây là “cẩm nang thần kỳ” đưa cách mạng nước ta đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác. Trung thành với chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh là chúng ta phải biết kế thừa và vận dụng và phát triển sáng tạo trong điều kiện mới của đất nước ta hiện nay.


Hai là, phát huy dân chủ thực sự, có cơ chế để Nhân dân tham gia vào công tác xây dựng Đảng. Đây là chủ trương chiến lược, một vấn đề cơ bản trong đường lối của Đảng. Muốn phát huy sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân tộc thì phải phát huy dân chủ. Vì vậy, dân chủ trở thành một nguồn lực lớn, một giá trị văn hoá, vừa là động lực vừa là mục tiêu của cách mạng. Trong suốt quá trình cách mạng, Đảng ta luôn kết hợp giữa sự lãnh đạo của Đảng với việc phát huy nghị lực sáng tạo của nhân dân, tìm thấy sức mạnh của mình ở mối liên hệ mật thiết với Nhân dân để họ xứng đáng là người sáng tạo ra lịch sử một cách tự giác, có tổ chức. Do đó, cùng với việc chăm lo đời sống nhân dân, tôn trọng và bảo đảm những quyền công dân đã được Hiến pháp quy định, cấp uỷ Đảng các cấp, các cơ quan nhà nước cần không ngừng giáo dục nhân dân, nâng cao dân trí, phát huy vai trò của các tổ chức quần chúng, các tầng lớp nhân dân trong việc giám sát cán bộ, công chức, có cơ chế để cho nhân dân tham gia vào công tác xây dựng Đảng, phát huy vai trò giám sát của nhân dân, của công luận đối với việc rèn luyện phẩm chất, đạo đức, lối sống của cán bộ, đảng viên. Là cơ sở để củng cố khối đại đoàn kết toàn dân tộc - cơ sở cho thắng lợi của cách mạng trong mọi thời kỳ.


Ba là, xây dựng một nền chính trị trong sạch, vững mạnh. Nền chính trị trong sạch, vững mạnh đối lập với suy thoái về chính trị, tư tưởng, đạo đức, quan liêu, tham ô, tham nhũng, hối lộ, cửa quyền, hách dịch, xa dân, cục bộ địa phương, vô cảm với những khó khăn và nỗi khổ của nhân dân...Do vậy, xây dựng Đảng, Nhà nước và các tổ chức trong hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh là cơ sở để phòng chống tham nhũng, lãng phí, các hiện tượng sa sút, suy thoái về chính trị, đạo đức lối sống của cán bộ, đảng viên một cách có hiệu quả. Yêu cầu cơ bản của công tác xây dựng Đảng là nâng cao bản lĩnh chính trị và năng lực lãnh đạo của Đảng, nâng cao trình độ kiến thức, đạo đức cách mạng cho cán bộ, đảng viên; khắc phục có hiệu quả tệ tham nhũng; tăng cường dân chủ và kỷ luật, củng cố khối đoàn kết thống nhất trong Đảng; tiếp tục đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng, khắc phục bệnh quan liêu, xa rời, coi thường quần chúng, củng cố mối liên hệ giữa Đảng, và Nhà nước với Nhân dân. Thực hiện tốt việc chống quan liêu, tham nhũng, chống đặc quyền, đặc lợi trong Đảng sẽ có tác động quyết định đến việc chống quan liêu, tham nhũng, thực hành dân chủ, làm lành mạnh các quan hệ xã hội. Vì thế, đấu tranh phòng chống quan liêu, tham nhũng, các hiện tượng sa sút, suy thoái về phẩm chất về đạo đức lối sống của cán bộ, đảng viên là một nhiệm vụ trọng tâm của việc xây dựng hệ thống chính trị trong sạch vững mạnh hiện nay.


Bốn là, xây dựng văn hoá lãnh đạo, quản lý của Đảng cầm quyền. Đây là vấn đề rất quan trọng có tính chất cấp thiết trong giai đoạn cách mạng hiện nay. Muốn xây dựng, củng cố, giữ gìn và phát huy văn hoá lãnh đạo, quản lý của Đảng cầm quyền, đòi hỏi Đảng phải không ngừng hoàn thiện về trí tuệ, bản lĩnh, phẩm chất của mình nhằm phát triển đất nước theo con đường xã hội chủ nghĩa. Đồng thời, mỗi cán bộ, đảng viên phải thấm nhuần lời dạy của Hồ Chí Minh: “Chúng ta phải hiểu rằng, các cơ quan của Chính phủ từ toàn quốc cho đến các làng, đều là công bộc của dân, nghĩa là để gánh việc chung cho dân, chứ không phải để đè đầu dân ... Việc gì lợi cho dân, ta phải hết sức làm. Việc gì hại đến dân, ta phải hết sức tránh. Chúng ta phải yêu dân, kính dân thì dân mới yêu ta, kính ta”(9). Có như thế Nhân dân mới đồng hành cùng với Đảng trong cuộc hành trình này. Điều căn bản và cốt lõi nhất chính là phải luôn biết lắng nghe dân, tin dân, dựa vào dân. Mỗi cán bộ, đảng viên phải luôn lấy đó làm bài học kinh nghiệm cho mình, để không có tình trạng một đảng cầm quyền xa dân, không hiểu dân, mất dân. Đảng phải nhận rõ được nguy cơ này, phải thường xuyên đổi mới, chỉnh đốn về mối quan hệ giữa Đảng và dân, giữ cho được mối quan hệ giữa Đảng và dân được trong sáng và ngày càng vững chắc, tốt đẹp./.

ST

 

BÍ QUYẾT THÀNH CÔNG CỦA NHÀ CHÍNH TRỊ HỒ CHÍ MINH

 

Tại sao trong cùng hoàn cảnh lịch sử, nhiều người Việt Nam ra đi tìm đường cứu nước, nhưng chỉ có Nguyễn Tất Thành - Hồ Chí Minh thực hiện thành công sứ mệnh lịch sử của mình đối với Tổ quốc và đồng bào. Từ góc nhìn chính trị học, bài viết phân tích, luận giải các sự kiện và minh chứng lịch sử, làm rõ bí quyết thành công của nhà chính trị Hồ Chí Minh trong sự nghiệp giành lại độc lập dân  tộc và hạnh phúc cho nhân dân Việt Nam.


TÌM ĐƯỜNG CỨU NƯỚC TRÊN NỀN TẢNG TƯ DUY MỚI


Thứ nhất, không theo con đường cũ của những bậc tiền bối.


Trước sự thất bại của các phong trào đấu tranh chống thực dân Pháp xâm lược (từ năm 1958 đến những thập niên đầu thế kỷ XX), nhiều người Việt Nam trăn trở tìm chọn, thử nghiệm con đường giành độc lập cho dân tộc và một số người đi ra nước ngoài mong tìm sự giúp đỡ của chính phủ các nước cho sự nghiệp chống giặc ngoại xâm(1). Sự khủng hoảng về con đường cứu nước và sự thất bại của các phong trào đấu tranh lúc này đã phản ánh sự bất lực của những “kịch bản” cứu nước theo con đường “cải lương”, “bạo động”, “cầu viện” ngoại bang…


Trong bối cảnh đó, nhận thức được yêu cầu lịch sử, người thanh niên Nguyễn Tất Thành quyết định ra đi tìm đường cứu nước(2). Từ kết quả nghiên cứu về Hồ Chí Minh những năm qua cho thấy, ngay từ lúc rời Tổ quốc ra đi, nền tảng tư duy chính trị của Nguyễn Tất Thành khác cơ bản với những người yêu nước đương thời. Một trong những biểu hiện tư duy mới là “trong lúc những thanh niên Việt Nam cùng lứa tuổi say sưa với phong trào Đông Du sang Nhật Bản thì Hồ Chủ tịch đã khước từ sự lựa chọn của Phan Bội Châu đối với mình và rời Tổ quốc ra đi về phía Tây”(3); nhận thức của Nguyễn Tất Thành - Nguyễn Ái Quốc về thế giới và đối tượng của cách mạng Việt Nam cũng trên lập trường và quan điểm mới so với các nhà yêu nước khác. Người không ảo tưởng trông chờ sự giúp đỡ từ các nước đế quốc thực dân. Trong một bức thư gửi những người bạn cùng làm việc trong toà báo Người cùng khổ, Nguyễn Ái Quốc viết: “Chúng ta cùng chịu chung một nỗi đau khổ: sự bạo ngược của chế độ thực dân. Chúng ta đấu tranh vì một lý tưởng chung: giải phóng đồng bào chúng ta và giành độc lập cho Tổ quốc chúng ta”(4).


Dù rất khâm phục tinh thần yêu nước của các bậc tiền bối, nhưng Nguyễn Tất Thành đã nhận ra những hạn chế của họ trong việc xác định nhiệm vụ lịch sử, mục tiêu, đối tượng cách mạng; nhận ra những hạn chế về phương thức, phương pháp đấu tranh, về nhận thức “bạn - thù” của cuộc cách mạng dân tộc, dân chủ ở Việt Nam. Do đó, Nguyễn Tất Thành đến nước Pháp không phải để cầu viện hay cầu học, mà “xem nước Pháp và các nước khác. Sau khi xem xét họ làm như thế nào, tôi sẽ trở về giúp đồng bào chúng ta”(5). Một sự khác biệt lớn giữa Nguyễn Ái Quốc với các nhà yêu nước lúc đó là xác định phương pháp cách mạng không phải là “bạo động” hay “cải lương” mà “đi vào quần chúng, thức tỉnh họ, tổ chức họ, đoàn kết họ, huấn luyện họ, đưa họ ra đấu tranh giành tự do độc lập”(6). Như vậy, trên nền tảng tư duy mới, Nguyễn Ái Quốc đã xác định phương hướng hành động và phương pháp hành động cách mạng phù hợp với yêu cầu của thực tiễn cách mạng Việt Nam đầu thế kỷ XX.


Như vậy, “Khi còn ở trong nước, Nguyễn Tất Thành tuy chưa nhận thức được đặc điểm của thời đại, nhưng từ thực tế lịch sử, Anh đã thấy rõ con đường của các bậc cha anh là cũ kỹ, không đem lại kết quả, Anh phải đi tìm một con đường mới”(7).


Thứ hai, cứu nước trên nền tảng tư duy chính trị thực tiễn.


Tìm đến văn minh Phương Tây (trong lúc chủ trương “Hướng Đông” đang rất phổ biến) là lựa chọn có tính bước ngoặt thể hiện “sự nhạy cảm chính trị” đặc biệt. Nguyễn Tất Thành kể lại “Vào trạc tuổi 13 lần đầu tiên tôi được nghe những từ ngữ tiếng Pháp: tự do, bình đẳng, bác ái - đối với chúng tôi lúc ấy, mọi người da trắng được coi là người Pháp - thế là tôi muốn làm quen với văn minh Pháp”(8).


Nguyễn Tất Thành đến Pháp là để tìm hiểu nước Pháp, để từ đó lý giải về sự xâm lược của thực dân Pháp ở Việt Nam. Điều này phản ánh tư duy thực tiễn của nhà cách mạng trẻ tuổi: Muốn tìm hiểu tận gốc kẻ thù đang áp bức nô dịch đất nước mình, để từ đó có phương pháp và vũ khí thích hợp đánh đuổi chúng.


Khi bàn về con đường cứu nước của Phan Bội Châu, có ý kiến cho rằng, mặc dù Cụ đã nhìn thấy “muốn cứu nước phải có lực lượng, phải xây dựng sự đồng tâm hiệp lực của đồng bào cả nước. Cụ ra sức thức tỉnh mọi người để xây dựng khối đoàn kết dân tộc và cũng thấy rõ năm, mười nghìn tên thực dân không thể nào đương đầu lâu dài với cả một dân tộc đồng tâm nhất trí. Nhưng Cụ không thể nào xốc cả một dân tộc đứng dậy được... Phan Bội Châu cũng đã thấy được tầm quan trọng của sự viện trợ quốc tế, nhưng nếu có thoát khỏi quan niệm đồng văn đồng chủng hoặc đồng bệnh tương liên thì Cụ cũng chưa thể nhìn thấy đâu là lực lượng có thể tranh thủ được. Cụ mong lợi dụng sự mâu thuẫn giữa bọn đế quốc, nhưng chính Cụ và tổ chức yêu nước của Cụ đã bị sự câu kết giữa chúng làm cho khốn quẫn”(9).


Thực tế cho thấy, tư tưởng chính trị của Nguyễn Tất Thành từ lúc còn trẻ và xuyên suốt hành trình tìm đường giải phóng dân tộc, không phải là sự tiếp tục - tiếp nối tư duy chính trị đương thời để giải quyết vấn đề đặt ra từ những “thất bại” của các nhà yêu nước tiền bối, mà là một hình thái tư tưởng chính trị mới dựa trên nền tảng tư duy chính trị có tính thực tiễn cao. Từ đó hình thành nhiều quan điểm chính trị khác những nhà cách mạng thế hệ trước như: yêu nước gắn liền với thương dân - “Tự do cho đồng bào tôi, độc lập cho Tổ quốc tôi, đấy là tất cả những điều tôi muốn; đấy là tất cả những điều tôi hiểu” (10); học hỏi các nền văn minh để chống lại hành động xâm lược của các nước văn minh; đánh đuổi ngoại xâm, giải phóng dân tộc gắn liền với xây dựng một xã hội mới, một nhà nước mới tiến bộ và tốt đẹp hơn... Tư duy chính trị mới của Nguyễn Tất Thành là nền tảng, lập trường chính trị để Người thực hiện thành công sứ mệnh lịch sử của mình và trở thành Hồ Chí Minh - Anh hùng giải phóng dân tộc, Nhà văn hóa kiệt xuất của Việt Nam, “để lại một dấu ấn trong quá trình phát triển của nhân loại và trong lịch sử của đất nước”(11) .


ĐỔI MỚI CĂN BẢN QUAN ĐIỂM CHÍNH TRỊ TRYỀN THỐNG


Từ bỏ quan điểm “Trung Quân, Ái Quốc”, xác lập quan điểm “Trung với Nước, Hiếu với Dân” - Yêu nước gắn liền với thương dân.


Những người Việt Nam mang chí hướng giải phóng dân tộc lúc bấy giờ đều có một điểm chung là lòng yêu nước sâu sắc, nhưng ở Nguyễn Tất Thành tình cảm yêu nước gắn liền với lòng thương yêu nhân dân. Vì vậy, mục tiêu nhất quán, xuyên suốt của Nguyễn Tất Thành là tìm con đường giành độc lập cho Tổ quốc và hạnh phúc cho nhân dân - Độc lập dân tộc gắn với hạnh phúc của nhân dân là tiêu chí cơ bản để Nguyễn Tất Thành lựa chọn con đường cách mạng Việt Nam.


Hồ Chí Minh đã đặt nền móng đổi mới tư tưởng chính trị Việt Nam truyền thống - thay đổi nền tảng chính trị phong kiến: “Trung Quân, Ái Quốc” bằng quan điểm chính trị mới “Trung với Nước, Hiếu với Dân” (theo GS. TS. Ahn Kyong Hwan, Trường Đại học Chosun, Hàn Quốc: “tinh thần yêu nước, thương dân, yêu dân tộc của Chủ tịch Hồ Chí Minh, một nhân vật vĩ đại nhất xứng đáng là tấm gương cho tất cả các nhà lãnh đạo chính trị trên thế giới”(12); thay đổi quan điểm “Hướng Đông” với lý do “Đồng văn Đồng chủng” bằng tư duy chính trị thực tế, hướng tới tư tưởng chính trị dân chủ hiện đại, gắn chính trị với thực tiễn kinh tế, chính trị, xã hội của đất nước và xu thế quốc tế với những giá trị cốt lõi đảm bảo cho công cuộc giải phóng dân tộc thành công, mở đường cho xây dựng một chế độ xã hội mới ở Việt Nam.


Thực tế lịch sử cho thấy những quan điểm chính trị truyền thống của các sĩ phu phong kiến trong phong trào Cần Vương, hoặc tư tưởng lập hiến, tư tưởng dân chủ tư sản của Phan Bội Châu, hay tư tưởng cải lương của Phan Chu Trinh... đã hạn chế nhận thức của nhiều nhà yêu nước về nhiệm vụ lịch sử của đất nước đặt ra, hạn chế về tầm nhìn chính trị của các thủ lĩnh lãnh đạo phong đấu tranh giải phóng dân tộc ở thời kỳ này. Vì vậy những quan điểm chính trị truyền thống lúc đó đã không còn thuyết phục đối với Nguyễn Tất Thành - Hồ Chí Minh.


Xác lập tư tưởng chính trị giải phóng dân tộc trên nền tảng thực tiễn Việt Nam.


Tư tưởng chính trị Hồ Chí Minh về con đường cách mạng Việt Nam được xác lập trên nền tảng thực tiễn, với một hệ thống lý luận hoàn bị, từ tính chất dân tộc dân chủ của cuộc cách mạng đến phương hướng chiến lược của cách mạng; nhiệm vụ của cách mạng (về kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội); lực lượng làm cách mạng; lãnh đạo cách mạng; phương pháp cách mạng; quan hệ của cách mạng Việt Nam với phong trào cách mạng thế giới, và tiếp đến là mô hình phát triển xã hội tổng thể của Việt Nam(13) sau khi đánh đuổi được quân xâm lược.


Tư tưởng chính trị Hồ Chí Minh phản ánh sát thực đặc điểm lịch sử xã hội Việt Nam; phản ánh sức mạnh to lớn từ những truyền thống tốt đẹp của nhân dân Việt Nam như: “Dân ta có một lòng nồng nàn yêu nước. Đó là một truyền thống quý báu của ta. Từ xưa đến nay, mỗi khi Tổ quốc bị xâm lăng, thì tinh thần ấy lại sôi nổi, nó kết thành một làn sóng vô cùng mạnh mẽ, to lớn, nó lướt qua mọi nguy hiểm, khó khăn, nó nhấn chìm tất cả lũ bán nước và lũ cướp nước”.


Tư tưởng chính trị Hồ Chí Minh khẳng định chủ nghĩa Mác - Lênin và chế độ cộng sản có thể áp dụng vào cuộc cách mạng giải phóng các dân tộc thuộc địa, nhưng đồng thời cũng chỉ rõ “Dù sao thì cũng không thể cấm bổ sung “cơ sở lịch sử” của chủ nghĩa Mác bằng cách đưa thêm vào đó những tư liệu mà Mác ở thời mình không thể có được... Xem xét lại chủ nghĩa Mác về cơ sở lịch sử của nó, củng cố nó bằng dân tộc học phương Đông”(14).


Tư tưởng chính trị Hồ Chí Minh khẳng định cách mạng là sự nghiệp của quần chúng nhân dân. Nhưng nhân dân phải được giác ngộ, phải được tổ chức và được lãnh đạo bằng một đảng tiên phong với đường lối đúng đắn thì mới trở thành lực lượng có sức mạnh to lớn. Muốn cách mạng thắng lợi “Trước hết phải có Đảng cách mệnh, để trong thì vận động và tổ chức dân chúng, ngoài thì liên lạc với các dân tộc bị áp bức. Đảng có vững cách mệnh mới thành công, cũng như người cầm lái có vững thuyền mới chạy”(15); để xây dựng Đảng Cộng sản, trước hết phải giải quyết tốt vấn đề nhận thức tư tưởng, chính trị và phương pháp tổ chức cho những người yêu nước; phải giác ngộ chủ nghĩa yêu nước truyền thống, chủ nghĩa dân tộc Việt Nam theo lập trường cách mạng vô sản.


Trong tư tưởng chính trị Hồ Chí Minh, vấn đề giai cấp, dân tộc và lập trường giai cấp, dân tộc được xác định rõ ràng, sát với thực tiễn Việt Nam đầu thế kỷ XX. Đó là, trong xã hội có giai cấp, mỗi người đều đứng trên lập trường một giai cấp nhất định. Người cách mạng phải đứng trên lập trường của giai cấp công nhân. Theo quan điểm của Hồ chí Minh, giai cấp - dân tộc là một thể thống nhất biện chứng, không có giai cấp nào nằm ngoài dân tộc. Vì vậy, khi xem xét, đánh giá ý thức giai cấp của các tầng lớp xã hội và của cá nhân phải đặt trong mối quan hệ với ý thức dân tộc của các tầng lớp và cá nhân ấy. Do đó đòi hỏi nhận thức về vấn đề giai cấp, đấu tranh giai cấp phải đúng đắn. Hồ Chí Minh khẳng định cuộc đấu tranh giai cấp ở Việt Nam không diễn ra giống như ở phương Tây.


Về xác định lực lượng cách mạng, tư tưởng chính trị Hồ Chí Minh phân biệt rõ các thang bậc giai cấp, tầng lớp xã hội trên cơ sở lợi ích và thái độ chính trị của giai cấp, tầng lớp xã hội trong cuộc cách mạng giải phóng dân tộc. Từ đó, hình thành quan điểm giai cấp đúng đắn, tạo cơ sở xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân, tập trung mọi lực lượng có thể để đánh bại quân xâm lược.


Vấn đề chính quyền là vấn đề cơ bản của mọi cuộc cách mạng; vấn đề nhà nước có ý nghĩa quan trọng đặc biệt về phương diện lý luận cũng như về phương diện thực tiễn của cách mạng giải phóng dân tộc ở Việt Nam. Cuộc khủng hoảng về đường lối cứu nước ở Việt Nam đầu thế kỷ XX bao hàm cả sự khủng hoảng quan điểm về nhà nước và thiết chế nhà nước.


Từ cuối thập niên 20 của thế kỷ trước, Nguyễn Ái Quốc đã thể hiện lập trường chính trị về kiểu cách mạng và kiểu nhà nước, về thiết chế chính trị và thể chế dân chủ. Năm 1919, thay mặt nhóm những người yêu nước An Nam tại Pháp, Người gửi đến Hội nghị Vécxây bản Yêu sách của nhân dân An Nam, bao gồm 8 điểm. Trong đó, ngoài những điểm liên quan đến quyền dân tộc tự quyết và quyền con người, Nguyễn Ái Quốc đã đề cập đến vấn đề pháp quyền và đòi hỏi phải “Cải cách nền pháp lý ở Đông Dương... Thay chế độ ra các sắc lệnh bằng chế độ ra các đạo luật”(16).


Trong tư tưởng chính trị Hồ Chí Minh, sau khi đánh đổ thực dân Pháp và phong kiến, làm cho nước Việt Nam hoàn toàn độc lập, sẽ thành lập một nước Việt Nam dân chủ mới theo tinh thần tân dân chủ. Chính quyền cách mạng của nước dân chủ mới ấy không phải thuộc quyền riêng của một giai cấp nào mà là chung của toàn thể dân tộc, chỉ trừ bọn tay sai đế quốc và những bọn phản quốc... còn ai là người dân sống trên dải đất Việt Nam đều được một phần tham gia giữ chính quyền, có một phần nhiệm vụ giữ và bảo vệ chính quyền ấy... không nên nói công nông liên hiệp và lập chính quyền Xôviết mà phải nói toàn thể nhân dân liên hợp và lập chính phủ dân chủ cộng hoà(17); quan điểm đó tiếp tục được thể hiện trong Thư gửi đồng bào toàn quốc (1944): “Chúng ta trước phải có một cái cơ cấu đại biểu cho sự chân thành đoàn kết và hành động nhất trí của toàn thể quốc dân ta. Mà cơ cấu ấy thì phải do một cuộc toàn quốc đại biểu Đại hội gồm tất cả các đảng phái cách mệnh và các đoàn thể ái quốc trong nước bầu cử ra. Một cơ cấu như thế mới đủ lực lượng và oai tín, trong thì lãnh đạo công việc cứu quốc, kiến quốc, ngoài thì giao thiệp với các hữu bang”(18).


Hồ Chí Minh đã thể hiện sự sáng tạo không chỉ trong việc quán triệt tư tưởng về nhà nước kiểu mới, mà còn thực thi kịp thời quan điểm đó trong tiến trình giải phóng dân tộc, tạo nền tảng cơ bản huy động ở mức cao nhất sức mạnh toàn dân để kháng chiến và kiến quốc thắng lợi.


THÀNH CÔNG CỦA NHÀ CHÍNH TRỊ HỒ CHÍ MINH


Thứ nhất, tư tưởng chính trị Hồ Chí Minh về con đường giải phóng dân tộc đã đáp ứng hai nhiệm vụ lịch sử đặt ra: 1) đánh đuổi thực dân xâm lược, giành độc lập cho dân tộc; 2) xoá bỏ chế độ phong kiến, giành lại dân chủ cho nhân dân. Chính trị Hồ Chí Minh đã giải quyết thành công cuộc khủng hoảng về con đường cứu nước, cứu dân đặt ra từ nửa cuối thế kỷ XVII và tư tưởng chính trị Hồ Chí Minh trở thành giá trị cốt lõi của đời sống chính trị Việt Nam, trở thành văn hóa chính trị Việt Nam thời kỳ hiện đại.


Thứ hai, Hồ Chí Minh đã xác lập nền tảng chính trị cho sự đoàn kết xã hội Việt Nam thực hiện thắng lợi sự nghiệp “đánh đổ các xiềng xích thực dân gần 100 năm… đánh đổ chế độ quân chủ mấy mươi thế kỷ mà lập nên chế độ dân chủ cộng hòa”, thiết lập một chế độ chính trị hiện đại - nền Cộng hòa Dân chủ Việt Nam của dân, do dân, vì dân.


Thứ ba, chính trị Hồ Chí Minh là nền tảng lý luận xây dựng Nhà nước Việt Nam mới vận hành theo phương châm “việc gì có lợi cho dân phải hết sức làm, việc gì có hại cho dân phải hết sức tránh… phải đặt quyền lợi của dân trên hết thảy”.


Thứ tư, tư tưởng chính trị - pháp lý Hồ Chí Minh là nền tảng lý luận Lập Hiến của nước Việt Nam mới, định hướng cho xây dựng các bản Hiến pháp Việt Nam sau này - đảm bảo quyền tự do dân chủ của nhân dân Việt Nam; tất cả quyền bính trong nước là của toàn thể nhân dân với một chính thể dân chủ rộng rãi, một chính quyền mạnh mẽ và sáng suốt của nhân dân bằng sức mạnh của Hiến pháp.


Nhìn tổng quát, thành tựu vĩ đại của nhà chính trị Hồ Chí Minh là lãnh đạo nhân dân Việt Nam thực hiện thắng lợi việc xóa bỏ sự nô dịch của ngoại bang; đánh đổ chế độ phong kiến phi dân chủ; lập nên chế độ dân chủ cộng hòa, lấy hạnh phúc của nhân dân làm mục tiêu hướng tới. Sự nghiệp chính trị của Hồ Chí Minh đã tạo những “dấu ấn” phát triển trong tiến trình vận động của Việt Nam và thế giới. Do đó, Hồ Chí Minh nhận được sự tôn vinh nhất quán, bền vững không chỉ của người Việt Nam, mà cả một bộ phận rất lớn nhân dân thế giới. Vì vậy, nhiệm vụ khoa học đặt ra là phải tiếp tục nghiên sáng tỏ hệ thống những di sản và những “bí quyêt” dẫn đến thành công của nhà chính trị Hồ Chí Minh./.

ST


TĂNG CƯỜNG DÂN CHỦ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA - CĂN CỐT ĐỂ THỰC HIỆN THẮNG LỢI SỰ NGHIỆP BẢO VỆ TỔ QUỐC TRONG TÌNH HÌNH MỚI

 

Xây dựng chủ nghĩa xã hội (CNXH) và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa (XHCN) là hai nhiệm vụ chiến lược, xuyên suốt, có mối quan hệ biện chứng với nhau của cách mạng Việt Nam. Sau các nghị quyết chuyên đề về vấn đề này, Hội nghị Trung ương 8 khóa XIII đã ban hành Nghị quyết về “Chiến lược bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới”, với tư duy mới, nhận thức ngày càng đầy đủ hơn về nhiều vấn đề vừa mang tính cấp thiết trước mắt, vừa mang tính chiến lược lâu dài, trong đó có “tăng cường dân chủ xã hội chủ nghĩa”.


1. Chế độ dân chủ XHCN ở Việt Nam là một thể chế chính trị để bảo đảm và thực hiện quyền làm chủ của nhân dân trên thực tế trong đời sống kinh tế, chính trị, văn hoá, xã hội; phát huy cao độ tính tích cực sáng tạo của nhân dân trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, dưới sự lãnh đạo của Đảng, thông qua sự quản lý thống nhất của Nhà nước.


Trong Thông báo ý kiến của Bộ Chính trị, ngày 6/5/2010 về việc “Xuất bản Báo cáo tổng kết 20 năm thực hiện Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (1991-2011)” chỉ rõ: “Khẳng định dân chủ XHCN là bản chất của chế độ ta, vừa là mục tiêu, vừa là động lực của công cuộc đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, thể hiện mối quan hệ gắn bó giữa Đảng, Nhà nước và nhân dân”. Từ đó, lần đầu tiên Đảng ta đưa vào Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên CNXH (bổ sung, phát triển năm 2011) và xác định, bổ sung nội hàm của dân chủ XHCN với tính cách là “động lực” của cách mạng Việt Nam: “Dân chủ XHCN là bản chất của chế độ ta, vừa là mục tiêu, vừa là động lực của sự phát triển đất nước”.


Dân chủ XHCN với tính cách “là động lực”, cùng với quan điểm chỉ đạo của Đảng “khơi dậy mạnh mẽ tinh thần yêu nước, ý chí tự cường dân tộc, sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc và khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc” được xác định trong Văn kiện Đại hội XIII tạo thành “hệ động lực” xây dựng thành công CNXH và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam XHCN trong tình hình mới. Vì vậy, Chiến lược bảo vệ Tổ quốc trong tình mới đã đề ra một trong những nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu là phải: “Tăng cường dân chủ XHCN”.


Là động lực của bảo vệ Tổ quốc, vai trò của dân chủ thể hiện ở chỗ, khi lợi ích giữa cá nhân và cộng đồng được giải quyết, nó sẽ khơi thông các nguồn lực, phát huy tối đa tính tích cực của cá nhân và cộng đồng, làm nhân lên sức mạnh của nội lực và ngoại lực, tạo ra xung lực thúc đẩy tăng trưởng kinh tế cả về tốc độ, quy mô và chất lượng để tạo nguồn lực cơ bản cho sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc.


Động lực dân chủ không chỉ biểu hiện ở kinh tế mà còn biểu hiện ngày càng rõ hơn ở chính trị, khi quyền lực và ý chí của nhân dân được tôn trọng và thực hiện rõ ràng, công khai, minh bạch, thì dân chủ chính trị sẽ tỏ rõ sức mạnh đối với tiến bộ và phát triển xã hội nói chung, sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc của người dân nói riêng. Môi trường xã hội dân chủ sẽ làm hình thành dư luận xã hội tích cực, thúc đẩy hành động sáng tạo của đông đảo quần chúng; khi dân chủ được bảo đảm, con người và các quan hệ xã hội sẽ trở nên cởi mở và năng động hơn. Quyền lực chính trị của nhân dân nếu không được bảo đảm thì có thể dẫn tới tình trạng người dân thờ ơ, lãnh đạm đối với xã hội, suy giảm tính tích cực chính trị - đó chính là nguyên nhân làm suy giảm hoặc đánh mất tiềm năng sáng tạo, mất động lực để nhân dân phụng sự sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc. Theo đó, nguồn lực của mọi nguồn lực, động lực của mọi động lực và động lực sâu xa, bền vững cho mọi sự phát triển chính là nhân tố con người trong sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc hiện nay.


Với từng công dân, dân chủ là động lực mạnh mẽ để thực hiện các quyền cá nhân, hình thành nhân cách trung thực và sáng tạo, hình thành môi trường xã hội dân chủ lành mạnh - nơi các giá trị nhân cách, năng lực con người được tôn trọng, được đánh giá khách quan, công bằng và có chính sách đãi ngộ thỏa đáng. Khi đó, ý thức bảo vệ Tổ quốc của công dân được nâng cao và phát huy tối đa; nhân dân hết lòng, hết sức theo Đảng và tận hiến cho sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc.


Niềm tin của nhân dân vào sự lãnh đạo và đường lối của Đảng, sự quản lý của Nhà nước suy đến cùng là động lực tinh thần to lớn, quyết định đến thành - bại của sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc. Thực tiễn gần 95 năm lãnh đạo cách mạng Việt Nam, nhất là từ thực tiễn lãnh đạo công cuộc đổi mới của Đảng đã chứng minh điều đó. Vì vậy, Đảng ta rút ra một trong những bài học sâu sắc là: “Trong mọi công việc của Đảng và Nhà nước, phải luôn quán triệt sâu sắc quan điểm “dân là gốc”; thật sự tin tưởng, tôn trọng và phát huy quyền làm chủ của nhân dân, kiên trì thực hiện phương châm “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng”. Nhân dân là trung tâm, là chủ thể của công cuộc đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc; mọi chủ trương, chính sách phải thực sự xuất phát từ cuộc sống, nguyện vọng, quyền và lợi ích chính đáng của nhân dân, lấy hạnh phúc, ấm no của nhân dân làm mục tiêu phấn đấu. Thắt chặt mối quan hệ mật thiết giữa Đảng với nhân dân, dựa vào nhân dân để xây dựng Đảng; củng cố và tăng cường niềm tin của nhân dân đối với Đảng, Nhà nước, chế độ xã hội chủ nghĩa”. Trong khi đó, “Sức mạnh đại đoàn kết dân tộc và dân chủ XHCN có lúc, có nơi chưa được phát huy đầy đủ. Các nguồn lực, tiềm năng sáng tạo của nhân dân trong xây dựng và bảo vệ Tổ quốc chưa được phát huy. Quyền làm chủ của nhân dân có lúc, có nơi còn bị vi phạm”.


Dự báo tình hình thế giới, khu vực và trong nước thời gian tới tác động đến sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN trong tình hình mới, Chiến lược bảo vệ Tổ quốc trong tình mới đã khái quát: Thế giới đang trải qua những biến động to lớn, diễn biến rất nhanh chóng, phức tạp, khó dự báo. Cục diện thế giới đa cực, đa trung tâm hình thành ngày càng rõ nét hơn; cạnh tranh chiến lược giữa các nước lớn ngày càng gay gắt, toàn diện, thậm chí đối đầu. Luật pháp quốc tế và các thể chế đa phương đứng trước những thách thức nghiêm trọng... Trong nước, nguy cơ tranh chấp biển, đảo, đe dọa chủ quyền lãnh thổ, chiến tranh thông tin, chiến tranh không gian mạng gia tăng. Các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị cấu kết, tăng cường chống phá công khai và trực diện, với âm mưu, thủ đoạn ngày càng tinh vi...


2. Từ tình hình trên và từ vai trò là động lực của dân chủ XHCN ở Việt Nam luôn luôn đặt ra tính cấp thiết phải tăng cường dân chủ XHCN nhằm thực hiện thắng lợi sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới. Theo đó, trong thời gian tới, cần quán triệt và tổ chức thực hiện đồng bộ các giải pháp sau:


Thứ nhất, tạo chuyển biến mạnh mẽ về tư tưởng, nhận thức, trách nhiệm của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân và cả hệ thống chính các cấp đối với tăng cường dân chủ XHCN trong nghiên cứu, quán triệt, triển khai thực hiện Chiến lược bảo vệ Tổ quốc trong tình mới.


Đây là giải pháp cơ bản, có ý nghĩa quyết định thành công trong bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam XHCN, nhất là khi: “Nhận thức của một số cấp ủy, tổ chức đảng, một bộ phận cán bộ, đảng viên và nhân dân về nhiệm vụ bảo Tổ quốc chưa được đầy đủ, sâu sắc, còn biểu hiện chủ quan, lơ là, mất cảnh giác, nhất là với âm mưu “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch”. Do đó, điều kiện tiên quyết của công tác tuyên giáo, công tác tư tưởng và lãnh đạo tư tưởng của cấp ủy, tổ chức Đảng các cấp là phải làm chuyển biến tích cực, sâu sắc về tư tưởng, nhận thức, trách nhiệm của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân và cả hệ thống chính các cấp, trước hết là đội ngũ cán bộ, đảng viên và lực lượng nòng cốt đối với việc tăng cường dân chủ XHCN trong bảo vệ Tổ quốc tình hình mới. Cán bộ, đảng viên, công chức và nhân dân phải luôn luôn quán triệt quan điểm dân chủ là động lực của sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc. Công tác tuyên giáo nói chung, công tác tư tưởng và lãnh đạo tư tưởng của cấp ủy, tổ chức Đảng các cấp nói riêng phải thấu suốt và khơi thông nguồn lực đặc biệt đó thông qua các giải pháp lãnh đạo, chỉ đạo tăng cường dân chủ XHCN trong bảo vệ Tổ quốc.


Trong điều kiện hiện nay, cần tiếp tục tuyên truyền, phổ biến và thực hiện hiệu quả những ý kiến chỉ đạo của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng trong cuốn sách “Một số vấn đề về đường lối quân sự, chiến lược quốc phòng trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa thời kỳ mới” cho cấp ủy, chính quyền, các ngành, các cấp, các địa phương và nhân dân.


Thứ hai, tiếp tục đẩy mạnh nghiên cứu, hoàn thiện hệ thống lý luận về tăng cường dân chủ XHCN trong bảo vệ Tổ quốc.


Thực hiện nhiệm vụ, giải pháp này nhất thiết phải tổng kết thực tiễn, phát triển lý luận về mục tiêu, quan điểm, nguyên tắc, nhiệm vụ, phương thức tăng cường dân chủ XHCN trong bảo vệ Tổ quốc phù hợp với yêu cầu nhiệm vụ trong hoàn cảnh mới. Theo đó, phải có tổng thể các chủ trương, nội dung, biện pháp của các tổ chức, các lực lượng tác động vào ý thức, năng lực nghiên cứu tổng hợp của đội ngũ cán bộ quản lý khoa học, các chuyên gia, đội ngũ các nhà khoa học đầu ngành trong nghiên cứu, hoàn thiện hệ thống lý luận về tăng cường dân chủ XHCN trong bảo vệ Tổ quốc.


Trước mắt, tiếp tục nghiên cứu các giải pháp đưa Luật Thực hiện dân chủ ở cơ sở (có hiệu lực từ 1/7/2023) vào cuộc sống; tập trung luận giải sâu sắc hoàn thiện cơ chế, chính sách, luật pháp để khơi dậy, tăng cường và phát huy dân chủ XHCN trong bảo vệ Tổ quốc.


Để mở rộng dân chủ, thực hiện và phát huy quyền làm chủ của nhân dân, một mặt, Nhà nước phải bảo đảm các thể chế, thiết chế, cơ chế dân chủ được chế định bằng nguyên tắc, luật pháp và các chuẩn mực văn hóa đạo đức. Pháp luật phải ghi nhận và thể chế hóa đầy đủ quyền con người, quyền công dân và bảo đảm về mặt pháp lý để các thành viên của xã hội có điều kiện bảo vệ lợi ích hợp pháp cũng như kiểm soát được quyền lực của mình... Mặt khác, phải bảo đảm tính toàn diện trong quá trình mở rộng và phát huy dân chủ: Về kinh tế, vấn đề cốt lõi là bảo đảm lợi ích kinh tế của người lao động, của người tham gia vào nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc. Những lợi ích đó phải được thể chế hóa trong các quyền công dân, làm cho người lao động làm chủ thực sự về tư liệu sản xuất, phát triển sản xuất kinh doanh. Về chính trị, phải bảo đảm cho nhân dân có quyền tham gia vào các hoạt động quản lý điều hành của Nhà nước và tổ chức chính trị - xã hội; đảm quyền dân chủ trong ứng cử, bầu cử, trong thảo luận, đóng góp ý kiến xây dựng các dự án luật có liên quan đến bảo vệ Tổ quốc. Về văn hóa, tinh thần, phải tạo cho các tầng lớp nhân dân có quyền tự do hưởng thụ thành tựu văn hóa tiến bộ và tự do tư tưởng, tự do sáng tạo văn hóa, nhất là văn hóa giữ nước cả truyền thống và hiện đại trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật.


Thứ ba, không ngừng nâng cao văn hóa dân chủ của nhân dân trong tham gia bảo vệ Tổ quốc.


Quyền lực thuộc về nhân dân chỉ trở thành hiện thực trong cuộc sống khi ý thức chính trị, trình độ thực hành dân chủ và khả năng tham gia vào đời sống chính trị của đất nước của nhân dân đạt được ở những mức độ nhất định và ngày càng được nâng cao. Do vậy, phải phát triển văn hóa, giáo dục, khoa học, nâng cao dân trí và năng lực thực hành dân chủ cho nhân dân. Đồng thời, tiếp tục đẩy mạnh phát triển truyền thông đại chúng, làm cơ sở cho các cuộc tranh luận, thảo luận, trưng cầu ý kiến, qua đó nâng cao văn hóa dân chủ trong xã hội, hình thành dư luận xã hội tích cực; đồng thời là diễn đàn để nhân dân bày tỏ chính kiến, tâm tư, nguyện vọng chính đáng, quyền và lợi ích hợp pháp của mình đối với sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc.


Thứ tư, chủ động đấu tranh phòng, chống các tư tưởng, hành vi sai trái về tăng cường dân chủ XHCN trong bảo vệ Tổ quốc.


Nếu các giải pháp trên nhằm tăng cường dân chủ XHCN trong bảo vệ Tổ quốc hay nói cách khác là để “xây”, thì giải pháp này nhằm hạn chế, triệt tiêu những “lực cản” trong quá trình tăng cường dân chủ XHCN trong bảo vệ Tổ quốc. Thực hiện giải pháp này phải khắc phục hai khuynh hướng: Hoặc là tuyệt đối hóa tăng cường dân chủ XHCN với tính cách là động lực, song lại tách rời, coi nhẹ các động lực khác đã được Văn kiện Đại hội XIII chỉ rõ; hoặc là coi nhẹ tăng cường dân chủ XHCN trong bảo vệ Tổ quốc, cho đây chỉ là nhiệm vụ của cấp ủy, tổ chức đảng, tổ chức chỉ huy các cấp trong lực lượng vũ trang, nhất là trong Quân đội nhân dân. Đó còn là những hành vi dân chủ quá trớn, dân chủ vô hạn độ, thậm chí cực đoan của một bộ phận nhân dân khi đòi hỏi phải công khai tất cả, kể cả bí mật quân sự, bí mật nhà nước và “thiên cơ” của quốc gia…


Tóm lại, bất luận trong hoàn cảnh nào, việc tăng cường dân chủ XHCN luôn là vấn đề căn cốt để bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam XHCN trong tình mới theo tinh thần Chiến lược bảo vệ Tổ quốc trong tình mới của Đảng./.

ST


PHÁT HUY DÂN CHỦ, XÂY DỰNG NHÀ NƯỚC CỦA DÂN, DO DÂN, VÌ DÂN

 

Xây dựng nhà nước của dân, do dân, vì dân là mục tiêu tối thượng và cao đẹp mà chúng ta đã và đang từng bước hiện thực hóa trong cuộc sống xã hội; đó là xây dựng Nhà nước do nhân dân bầu ra, do nhân dân xây dựng, tất cả quyền lực đều thuộc về nhân dân.


Quan điểm nhất quán đó đã được Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: "Chính quyền từ xã đến Chính phủ trung ương do dân cử ra. Ðoàn thể từ Trung ương đến xã do dân tổ chức nên. Nói tóm lại, quyền hành và lực lượng đều ở nơi dân" (Hồ Chí Minh toàn tập, Tập 6, NXB Chính trị Quốc gia - Sự thật, H.2011, tr.232).


Xác định dân chủ là bản chất của chế độ, vừa là mục tiêu, vừa là động lực để phát triển đất nước, vì thế chúng ta khẳng định phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội, hoàn thiện hệ thống pháp luật,… là quá trình hoàn thiện nền dân chủ xã hội chủ nghĩa. Vì ở nước ta: "chính quyền là của nhân dân, do nhân dân làm chủ… Nhân dân là ông chủ nắm chính quyền. Nhân dân bầu ra đại biểu thay mặt mình thi hành chính quyền ấy. Thế là dân chủ" (Hồ Chí Minh toàn tập, Tập 8, NXB Chính trị Quốc gia - Sự thật, H.2011, tr.263). Nội dung cốt lõi của dân chủ bao gồm các nội dung căn bản: Nền dân chủ của nhân dân lao động, vì nhân dân lao động, thể hiện ở việc bảo vệ quyền sống, quyền tự do, và quyền mưu cầu hạnh phúc của nhân dân; thừa nhận nguyên tắc bình đẳng và tự do được bảo đảm về mặt pháp lý để thực hiện quyền làm chủ của nhân dân; có nội dung toàn diện, thể hiện trên các lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, ý thức - tư tưởng, trong đó nổi bật là sự tham gia một cách bình đẳng, ngày càng rộng rãi của nhân dân vào việc quản lý nhà nước và xã hội thông qua hình thức dân chủ trực tiếp, dân chủ đại diện. Do đó, trong phương hướng, nhiệm vụ xây dựng Nhà nước, Ðảng ta khẳng định: "Trong tổ chức và hoạt động của Nhà nước, phải thực hiện dân chủ, tuân thủ các nguyên tắc pháp quyền và phải tạo ra sự chuyển biến tích cực, đạt kết quả cao hơn" (Ðảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Ðại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII, NXB Chính trị Quốc gia, H.2016, tr.175). Ðể xây dựng nhà nước thật sự của dân, do dân và vì dân, Ðảng và Nhà nước có quan điểm rất cụ thể, và nền dân chủ mà chúng ta xây dựng và hoàn thiện là cơ chế quản lý điều hành đất nước, đó là: Ðảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, nhân dân lao động làm chủ.


Trong xu thế mở cửa, hội nhập quốc tế, khoa học - công nghệ đã có sự phát triển vượt bậc, Ðảng ta khẳng định Nhà nước là đại diện quyền làm chủ của nhân dân, đồng thời là người tổ chức, thực hiện đường lối chính trị của Ðảng. Như vậy, mọi đường lối, chính sách của Ðảng, pháp luật của Nhà nước đều phản ánh lợi ích của đại bộ phận nhân dân. Trong đó, nhân dân là người trực tiếp tham gia, xây dựng và thực thi chính sách của Ðảng và Nhà nước. Phát huy dân chủ, xây dựng nhà nước của dân, do dân, vì dân ở Việt Nam thực chất là xây dựng nhà nước lấy dân làm gốc, dựa vào dân, tin dân, bảo vệ dân, chịu trách nhiệm trước nhân dân. Nhân dân luôn ở vị trí người làm chủ và thật sự là chủ, được làm bất cứ việc gì mà pháp luật không cấm. Trong xã hội đó, quyền lợi, nghĩa vụ của công dân luôn kết hợp chặt chẽ. Nghĩa là nhân dân có quyền làm chủ, đồng thời phải có nghĩa vụ làm tròn bổn phận công dân, giữ đạo đức công dân. Và không thể có hiện tượng nhà nước của dân, do dân, vì dân mà người làm chủ nhà nước lại không thực hiện bổn phận của mình đối với nhà nước. Nhà nước bảo đảm quyền dân chủ của nhân dân, quyền lực nhà nước được tổ chức thống nhất, nhưng có sự phân công phối hợp chặt chẽ giữa các cơ quan nhà nước, dựa trên nguyên tắc tập trung dân chủ trong tổ chức và hoạt động của cả bộ máy nhà nước. Thông qua nguyên tắc này, quyền lực nhà nước thật sự thuộc về nhân dân, bảo đảm sự thống nhất tổ chức và hành động, phát huy tối đa sức mạnh của bộ máy nhà nước. Nhờ đó, Hiến pháp, pháp luật được thực thi, quyền lực của nhân dân được bảo đảm; như vậy tập trung dân chủ hoàn toàn đối lập với quan điểm quan liêu, cục bộ, bè phái, bệnh hình thức của nhà nước cũ.


Trong hơn 35 năm tiến hành sự nghiệp đổi mới, bộ máy nhà nước ở Việt Nam đã có bước phát triển cả về tổ chức và hoạt động, theo hướng bảo đảm nhà nước của dân, do dân, vì dân, đủ năng lực để thực hiện quyền lực nhà nước trong điều kiện mới. Hoạt động của Quốc hội, Hội đồng nhân dân các cấp, của Chính phủ, Tòa án nhân dân, Viện Kiểm sát nhân dân được xây dựng bảo đảm giữ vững bản chất giai cấp công nhân, tính nhân dân và tính dân tộc, từng bước nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động. Quốc hội ban hành nhiều bộ luật, luật; Ủy ban Thường vụ Quốc hội ban hành nhiều pháp lệnh và nghị quyết. Ðiều này chứng tỏ sự phát triển về năng lực lập pháp của Quốc hội, kịp thời cụ thể hóa đường lối của Ðảng trong hoạt động thực tiễn; bảo đảm dân quyền, nhân quyền và có tính nhân văn sâu sắc. Ðồng thời, tiến hành bổ sung, sửa đổi Hiến pháp và hệ thống pháp luật phù hợp yêu cầu thực tiễn của đất nước; bước đầu đã cải tiến được quy trình xây dựng luật, ban hành nhiều văn bản pháp luật đáp ứng yêu cầu quản lý nhà nước và hội nhập quốc tế. Chúng ta đã và đang đi đúng hướng khi thực hiện xây dựng nhà nước gọn, nhẹ, có hiệu lực, phù hợp sự phát triển mới của cuộc sống, trong đó nổi lên vấn đề quan trọng là xây dựng các cơ quan nhà nước và chính quyền các cấp không có đặc quyền, đặc lợi, bộ máy nhà nước trong sạch, vững mạnh, bảo đảm vận hành và hoạt động có hiệu quả, bảo đảm mọi quyền lợi thật sự đều hướng về và thuộc về nhân dân. Theo đó, nguyên tắc tổ chức quyền lực nhà nước được quy định đầy đủ hơn trong Hiến pháp năm 2013; chức năng, nhiệm vụ, tổ chức bộ máy nhà nước được xác định rõ hơn.


Sự nghiệp đổi mới đòi hỏi chúng ta cần củng cố, xây dựng đội ngũ cán bộ công chức của Nhà nước thật sự là công bộc của dân, có đức, có tài, vì đây là cái gốc, là nền tảng để hoàn thiện bộ máy nhà nước. Và thực tiễn 35 năm đổi mới cho thấy Chính phủ và các bộ, ngành đã tập trung hơn vào quản lý, điều hành vĩ mô, năng động giải quyết những vấn đề lớn, quan trọng; cải cách hành chính được chú trọng, nhất là thủ tục hành chính; tổ chức Chính phủ được sắp xếp hợp lý hơn, tổ chức chính quyền địa phương đang được thí điểm các mô hình theo hướng hiệu quả hơn. Vì thế chúng ta đã một bước nâng cao chất lượng tổ chức, hoạt động của bộ máy nhà nước; phân định cụ thể hơn chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, trách nhiệm của Chính phủ, các bộ, ngành và chính quyền các địa phương; hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước được tăng cường.


Ðặc biệt vừa qua khi đất nước phải đối phó với đại dịch Covid-19, Ðảng, Nhà nước và Chính phủ đã kịp thời có chính sách hỗ trợ người dân gặp khó khăn. Cùng với đó là các chính sách hỗ trợ khắc phục thiên tai, lũ lụt ở miền trung; với quan điểm tất cả mọi chủ trương, chính sách, phúc lợi đều hướng về người dân. Mục tiêu không để ai bị bỏ lại phía sau đã có ý nghĩa quan trọng trong việc bảo đảm an sinh, góp phần giữ vững ổn định xã hội, đồng thời thể hiện cam kết một "Chính phủ hành động" thật sự đã tạo được niềm tin mãnh liệt trong nhân dân và nâng tầm vị thế của đất nước trên trường quốc tế.


Thực tế cho thấy, bên các thành tựu đạt được chúng ta còn có những hạn chế nhất định trong xây dựng nhà nước của dân, do dân, vì dân. Do đó, cần có một hệ thống giải pháp đồng bộ nhằm phát huy tối đa, hiệu lực, hiệu quả của bộ máy, để thật sự bảo đảm quyền làm chủ và đem lại lợi ích cho toàn thể nhân dân. Một là, tiếp tục tăng cường bản chất giai cấp công nhân, tính nhân dân, tính dân tộc của Nhà nước, bảo đảm nhà nước thật sự của dân, do dân, vì dân. Trước hết cần phát huy hơn nữa vai trò lãnh đạo của Ðảng với Nhà nước. Ðảng lãnh đạo Nhà nước bằng chủ trương, đường lối, bằng công tác cán bộ, bố trí, sắp xếp đúng cán bộ, làm tốt việc kiểm tra, giám sát thực hiện chức năng, nhiệm vụ của đội ngũ cán bộ. Hai là, tiếp tục hoàn thiện cơ chế vận hành của Nhà nước, bảo đảm nguyên tắc tất cả quyền lực đều thuộc về nhân dân; quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công và phối hợp chặt chẽ giữa các cơ quan để thực hiện có hiệu quả quyền lập pháp, quyền hành pháp và quyền tư pháp. Hoàn thiện hệ thống pháp luật, đáp ứng yêu cầu đòi hỏi mới của thực tiễn. Duy trì, thực hiện có hiệu quả trên thực tế các hoạt động kiểm tra, giám sát bảo đảm tính hợp hiến, hợp pháp. Ba là, tiếp tục nâng cao hơn nữa hoạt động của Quốc hội và các đại biểu Quốc hội; đẩy mạnh hoạt động cải cách hành chính. Chú trọng xây dựng Chính phủ "liêm chính và kiến tạo". Xây dựng các cơ quan bộ máy nhà nước trong sạch, vững mạnh, hoạt động có hiệu quả, bảo đảm quyền làm chủ của người dân. Bốn là, tập trung hoàn thiện bộ máy nhà nước và quy chế hoạt động, xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức trong sạch, vững mạnh, có phẩm chất, năng lực đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ. Có cơ chế, chế tài xử lý nghiêm minh đối với cán bộ, công chức tham ô, tham nhũng, xa dân, thiếu tôn trọng dân, và nhũng nhiễu dân. Ðể bảo đảm tốt công việc này, cần thực hiện có hiệu quả quy chế dân chủ ở cơ sở, khuyến khích, bảo vệ những người tích cực đấu tranh chống tiêu cực, tham nhũng.


Như vậy, để sự nghiệp đổi mới đạt nhiều thành tựu mới, một trong những vấn đề tiên quyết cần tiếp tục là phát huy dân chủ, xây dựng nhà nước của dân, do dân, vì dân. Nhà nước phải thường xuyên phát huy quyền làm chủ của nhân dân đi đôi với việc tăng cường kỷ cương, phép nước, giải quyết hài hòa các mối quan hệ lợi ích, tiếp tục tạo ra hành lang pháp lý đa dạng hơn để người dân phát huy tối đa quyền làm chủ của mình trong việc kiểm tra, giám sát hoạt động của cơ quan nhà nước các cấp./. 

ST

QUỐC KHÍ VÀ NGUYÊN KHÍ VIỆT NAM VỚI KHÁT VỌNG HÙNG CƯỜNG

 

Mỗi quốc gia, dân tộc với tư cách là một quốc gia hay quốc gia dân tộc, dù trong thời đại nào và nhất là trong thế giới ngày nay, đều mang thể diện của riêng mình. Đó là danh dự, uy tín của quốc gia, nhất là trong quan hệ với các nước khác. Ấy là Quốc thể.


Không một quốc gia, dân tộc nào muốn phát triển và thịnh vượng không có, không gìn giữ và không nối đời vun đắp phẩm giá, tư chất, bản lĩnh, khí phách… làm nên địa vị, sức mạnh và uy tín quốc gia. Ấy là Quốc khí.


Việt Nam không nằm ngoài quy luật muôn đời, muôn thời ấy.


Nếu vị thế, hình ảnh, sức mạnh, danh dự, uy tín và ảnh hưởng của đất nước   thể hiện một cách toàn vẹn, đa diện và thống nhất nằm ở mỗi người ngay từ bên trong và quốc gia trên tất cả các mối bang giao với các nước khác trên trường quốc tế làm nên Quốc thể Việt Nam thì Quốc khí Việt Nam là sự hàm chứa và tỏa sáng toàn bộ những tư chất mang tính chung và riêng, tính phổ quát và đặc thù làm nên dung mạo, hun đúc hồn phách quốc gia, làm nên thần thái, tỏa ra sức mạnh hiện hữu và hướng tới tương lai dân tộc, nhìn từ mọi phía một cách mạnh mẽ và vững bền. Và, nhân tố căn bản và quyết định cùng với hồn thiêng sông núi làm nên Quốc khí Việt Nam là gần 100 triệu đồng bào, trong đó rường cột là nhân tài, thì ấy là Nguyên khí Việt Nam.


Do thế, gần 100 triệu đồng bào nước Việt ta, nhất là những người đại diện của quốc gia không thể và càng không được phép làm một điều gì có thể làm tổn hại Quốc thể thì chính là vun đắp cho Quốc khí thịnh vượng, làm cho đất nước cường thịnh và xứng đáng với thế giới, lại cũng chính là góp phần chăm lo Nguyên khí vững bền để Đất nước phồn vinh, Dân tộc mãi mãi trường tồn. Ấy là vận khí và khí vận của Quốc gia.


Sinh ra, phát triển và khẳng định mình ở một vị trí mang tầm vóc địa chính trị, địa kinh tế án ngữ ngã ba con đường giao lưu từ Á sang Âu, cũng là địa quân sự hiểm yếu nhìn ra Biển Đông, nối khắp những biển lớn: từ Thái Bình Dương tới Ấn Độ Dương, đồng thời là nơi hợp lưu tiếp biến và thâu hóa những dòng văn hóa lớn lên mặt Bắc, xuống phương Nam, ra phía Đông… Việt Nam không chỉ đơn thuần bồi tụ và phát triển Quốc khí, mà bước theo tiến trình lịch sử dựng nước, giữ nước và giao lưu quốc tế của mình, còn chăm lo Quốc khí ấy thành nguyên khí quốc gia.


Quốc khí, tức cái khí vận và vận khí của quốc gia, thì nguyên khí là khí đầu tiên, là thiên khí vậy. Ấy chính là tinh thần, tinh khí của con người Việt Nam vậy. Nó hàm chứa trong cả lực lượng vật chất và lực lượng tinh thần của quốc gia. Bởi thế, cổ nhân nói: “Đạo trị nước, trước tiên là bồi dưỡng nguyên khí” (Trị quốc chi đạo, tiên tại dưỡng kỳ nguyên khí). Cổ nhân lại nói: “Hiền tài là nguyên khí của quốc gia” cũng là vậy. 


Nhìn lại lịch sử mấy ngàn năm, có thể nói, dường như đất nước Việt Nam sinh ra cùng với lịch sử chiến tranh vệ quốc vĩ đại nhưng đầy máu và nước mắt của mình cùng sự tận cùng sinh tử của công cuộc bảo vệ, xây đắp và thống nhất giang san. Chỉ tính trong 2020 năm sau Công nguyên, dân tộc Việt Nam bước qua ngót nghìn năm Bắc thuộc. Trên thế giới, cho tới nay, chưa  thấy một dân tộc nào sau cả nghìn năm lệ thuộc vẫn không bị đồng hóa, không mất giống nòi, vùng dậy và quét sạch làu vết nhơ nô lệ, giành lại giang san. Dân tộc tiếp tục kết liễu 13 cuộc đại chiến tranh xâm lược, đánh bại đủ loại giặc ngoại xâm hung bạo nhất của mọi thời đại đến từ phương Bắc, phương Đông tới phương Tây, vì Tổ quốc Việt Nam độc lập và thống nhất. Từ “Nam quốc sơn hà” qua “Bình Ngô đại cáo” tới “Tuyên ngôn độc lập”… tất cả dồn tụ, kết tinh và tỏa sáng Quốc khí Việt Nam: Đoàn kết - Quật khởi - Nhân ái - Hòa mục - Cầu thị - Thủy chung -Thích ứng - Can trường… Hệ giá trị Đất nước ấy theo thời gian trường cửu làm nên sức mạnh văn hóa vô địch giữ vững độc lập, tự do, thống nhất quốc gia, trở thành cái nôi nuôi dưỡng, phát triển dân tộc trường tồn và hòa nhập, trưởng thành cùng nhân loại mấy nghìn năm nay. Quốc khí còn thì Đất nước còn, Dân tộc còn.


Vì thế hiện nay, hơn hết bao giờ, chúng ta càng phải tự mình trở nên hùng mạnh. Trong các cuộc chiến tranh chống ngoại xâm, dù kẻ thù tàn bạo thế nào, dù hung hiểm bao nhiêu suốt mấy nghìn năm qua, cũng không thể khuất phục và tiêu diệt được dân tộc Việt Nam độc lập và thống nhất. Chúng ta hiểu rằng, nước không độc lập, thống nhất tất biệt phái, phân ly và mất tự do; quốc gia không hùng mạnh thì nước khó lòng độc lập, thống nhất và nhân dân càng không có tự do, hạnh phúc. Đây chính là dân chủ và thước đo phát triển dân chủ và dân chủ phát triển tôn vinh Quốc thể Việt Nam.


Nếu không biết giữ lấy, đau đáu và chăm lo vun đắp Quốc khí ấy để Đất nước ngày càng tự mình độc lập, thống nhất, dân chủ và hùng cường, thì họa quốc gia suy vong, lệ thuộc mới sẽ tới và theo đó, thân phận mỗi người lâm vào vòng vong quốc nô mới, sẽ cận kề! Gần 100 triệu người Việt Nam, dù ở khắp hoàn cầu, cần một chữ Đồng, để giữ vững và tôn vinh vị thế, sức mạnh, danh dự và uy tín Việt Nam trước hoàn cầu! Đó là ý chí, lương tri, là nhân phẩm, đạo lý là bản lĩnh và khí phách Dân tộc ta suốt mấy ngàn năm dồn tụ, kết tinh và trở thành Quốc bảo Việt Nam, vì độc lập, thống nhất, dân chủ, tự do và hùng cường.


Hơn bao giờ hết, hiện nay, thời kỳ cạnh tranh và phát triển mới của thế giới, với cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư trong không gian phẳng và tốc độ toàn cầu hóa, đã và đang mở ra những cơ hội phát triển mới mẻ chưa từng có, với quy mô, tốc độ đột phá nhưng cũng đặt ra những thách thức tụt hậu nan giải đối với tất cả các quốc gia, dân tộc, trên quy mô toàn cầu trong một thế giới đầy biến động, cũng đồng thời mở ra một kỷ nguyên hội nhập, đua tranh mới, gay gắt của Việt Nam trong cộng đồng quốc tế.


Việt Nam càng phải độc lập, thống nhất, dân chủ, tự do và hùng cường.


Đó là con đường phát triển duy nhất đúng, nếu muốn bảo đảm thành công của công cuộc đổi mới toàn diện và đồng bộ tương dung với xu thế phát triển của thế giới. Càng không thể chờ đợi, cầu toàn hoặc thái độ do dự, ngập ngừng và càng không thể chấp nhận hành động nửa vời, chắp vá. Lúc này, đất nước chỉ có hoặc tụt hậu hoặc phát triển; trong thế giới hiện nay, không thể đứng im, cũng bởi hơn hết bao giờ, đứng im, dù ở bất cứ phương diện nào, cũng chính là tụt hậu, trong thế giới biến động khôn lường ngày nay.


Chúng ta phải đổi mới không chỉ tầm nhìn, quyết sách mà còn chỉnh đốn, sửa sang về nền móng căn bản, kế sách lâu dài, cơ chế chiến lược phát triển phù hợp với đất nước và thời đại: Đổi mới tầm nhìn chiến lược, trỗi dậy toàn diện, đồng bộ sức mạnh dân tộc, thâu thái sức mạnh thời đại xây dựng nền tảng cho một xã hội phồn vinh và bền vững, với khát vọng Việt Nam trở thành một quốc gia hùng cường và nhân văn, giữ vị thế xứng đáng trong cộng đồng quốc tế.


Nếu chúng ta không định vị chiến lược công nghiệp hóa, hiện đại hóa dân tộc mình, đất nước mình, nhất định sẽ càng khó tìm được chỗ đứng xứng đáng trên trường quốc tế, và càng khó có cơ hội góp phần mình cùng nhân loại xây dựng thế giới. Đó là vận mệnh quốc gia, là danh dự của dân tộc! Pháp tốt nhất để định vị đất nước!


Khi thế giới càng toàn cầu hóa thì vấn đề dân tộc đối với mỗi quốc gia càng nổi lên như một mệnh đề quan thiết. Do đó, xử lý vấn đề dân tộc vì sự phát triển toàn cầu và chủ động tiên lượng nắm lấy tổng thể sự vận động toàn cầu để  giải quyết cụ thể, thiết thực những công việc của dân tộc phải và đang trở thành mệnh lệnh hành động song trùng một cách tự nhiên và tất yếu.


Không có phương lược phát triển nào khác hơn là, trên đường văn hóa, chủ nghĩa dân tộc Việt Nam, dưới ngọn cờ của Đảng, phải trở thành động lực căn bản và to lớn trong tiến trình phát triển đất nước hiện nay và tương lai. Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: Chủ nghĩa dân tộc là một động lực lớn của đất nước; và trong tình hình quốc tế hiện nay, những đặc điểm dân tộc và những điều kiện riêng biệt ngày càng trở thành nhân tố quan trọng trong việc vạch ra chính sách, vạch ra những phương pháp và những biện pháp riêng của mình. Chúng ta đi con đường của mình một cách độc lập và sáng tạo trên đường lớn nhân loại. Buông lơi, coi nhẹ điều đó là cầm chắc sự thất bại từ nền móng và từ ưu thế.


Vì thế, 22 năm tới, trong tầm nhìn tới năm 2045, trước mắt năm 2030, với công cuộc đổi mới sáng tạo, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, Việt Nam phải trở thành một nước công nghiệp, hiện đại phát triển, vì dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh, với bản lĩnh Việt Nam; nơi hội tụ của niềm tin, tri thức và tấm lòng rất mực thủy chung, nhân ái, chan hòa với bạn bè quốc tế; thành viên của thế giới nhân văn, hòa bình và tiến bộ trong chỉnh thể hoàn cầu. 


Đó là sự kết tinh Quốc khí thành danh hiệu Việt Nam, bắt đầu từ chỗ đứng Việt Nam, là sự lựa chọn mang tầm chiến lược, là lòng tin chính trị mang tầm quốc tế của đất nước trong thế giới đương đại.


Đó chính là văn hóa Việt Nam.


Bước vào thập kỷ thứ ba của thế kỷ XXI, thế giới càng biến đổi khôn lường và không ngừng tái cơ cấu, theo đó hình thành những xu hướng phát triển mới mẻ.


Một cách tự nhiên, phải đổi mới tư duy và giải quyết hài hòa vấn đề cốt lõi của tất cả các mối quan hệ của Đất nước dù trong nước hay quốc tế mới có thể xây dựng và động lực phát triển quốc gia. Dù muốn hay không, càng tiếp tục đổi mới càng phải lại nhận thức và hành động đúng quy luật vận động của đất nước một cách tổng thể, trước hết và trực tiếp trong việc giải quyết vấn đề trung tâm là lợi ích và chung quanh lợi ích một cách tổng hòa, cụ thể từ cá nhân, giai cấp, giai tầng… tới quốc gia, dân tộc và với các nước trên tầm quốc tế mang tính thống nhất chỉnh thể và đa dạng. 


Trải mấy ngàn năm qua, lợi ích quốc gia - dân tộc luôn là mục tiêu tối thượng. Hiện nay, càng phải bảo vệ nó trước bất cứ ai, trong bất cứ cảnh huống nào. Chân lý “Không có gì quý hơn Độc lập tự do” càng phải tỏa sáng trong ý nghĩ, tư tưởng, tình cảm và hành động của mỗi người. Làm trái đi chính là rước lấy nguy cơ có ngày mất nước. Không có độc lập, tự do và thống nhất không có bất cứ một sự tự quyết chính trị nào, càng không thể nói tới bất cứ một sự phát triển Đất nước xứng đáng nào.


Tất cả nhằm mục tiêu cao cả: Bảo vệ và phát triển lợi ích tối thượng của mỗi người, của từng tổ chức trong xã hội, của quốc gia dân tộc Việt Nam xã hội chủ nghĩa trong thế giới đương đại. Lợi ích chính trị của đất nước Việt Nam phải là hạt nhân mà mọi sự đổi mới, dù ở phương diện nào, góc độ nào, mức độ tới đâu… đều xoay chung quanh nó, chứ tuyệt đối không phải ngược lại. Đây là cái bất biến chúng ta cần nắm chắc, để chủ động hành xử trước mọi sự đổi thay của thời cuộc, của thế giới trong lộ trình đổi mới toàn diện, đồng bộ, vì chủ nghĩa xã hội Việt Nam. Quốc khí Việt Nam theo đó mà thịnh vượng.


Đồng thời, phải chủ động đón bắt thời cơ phát triển. Hơn bao giờ hết, hiện nay, thời cơ chính là lực lượng. Phải nhất định chủ động nắm lấy một cách kiên quyết và hiệu quả cuộc cách mạng 4.0 để thực hiện công cuộc đổi mới vì sự phồn vinh của Tổ quốc, để đưa nước ta từ nước phát triển trung bình thấp thành nước phát triển, có thu nhập cao, bằng sự hóa giải thành công mâu thuẫn gay gắt bậc nhất giữa sự phát triển chậm chạp, nguy cơ rơi vào bẫy thu nhập trung bình và tụt hậu về kinh tế với yêu cầu trở thành nước phát triển cao trong tầm nhìn năm 2045.


Vì thế, con đường tất yếu là đẩy nhanh cuộc đổi mới thời kỳ 4.0 mạnh mẽ, sáng tạo hơn nữa, với khát vọng trở thành nước phát triển vào giữa thế kỷ XXI và giữ vững độc lập, chủ quyền và sự toàn vẹn, thống nhất lãnh thổ quốc gia, tiếp tục nâng cao hơn vị thế và uy tín Việt Nam trên trường quốc tế.


Hiện nay, trong cuộc cạnh tranh khốc liệt và phát triển của thế giới, thực tiễn xác tín, lãng phí lớn nhất là lãng phí nhân tài, cạnh tranh lớn nhất là cạnh tranh nhân tài. Không một quốc gia nào trở nên hùng cường mà không thu hút và trọng dụng nhân tài. Mặt khác, kinh nghiệm cũng xác tín, muốn phát triển khác thường, phải có những con người khác thường. Việt Nam với khát vọng hùng cường, không thể đứng ngoài quy luật này.


Chúng ta không thể trở nên  và trường tồn, nếu buông lơi việc trọng dụng con người, nhất là chưa đối đãi xứng đáng với những bậc hiền tài. “…Muốn thịnh trị phải được người hiền tài... Cho nên người đứng đầu thiên hạ phải lo việc ấy trước tiên”. Năm 1429, trong “Chiếu cầu hiền”, Lê Lợi đã tổng kết như thế. Ngày 14/11/1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh viết “Nhân tài và kiến quốc”, với lời kêu gọi: “Kiến thiết thì phải có nhân tài. Nhân tài nước ta dù chưa có nhiều lắm nhưng nếu chúng ta khéo lựa chọn, khéo phân phối, khéo dùng thì nhân tài ngày càng phát triển, càng thêm nhiều”. Đó là Nguyên khí Việt Nam.


Xưa nay, ở nước ta, đây là nhân tố tiên phong phát triển của bất cứ phương diện nào, ở bất cứ thể chế nào. Các bậc tiền hiền, kiệt hiệt: Chu Văn An, Hưng Đạo Vương, Nguyễn Trãi… chính là những người như vậy. Những khuyến nghị cải cách của Chu Văn An với “Thất trảm sớ”, Nguyễn Trường Tộ với “Tế cấp bát điều”, Nguyễn Lộ Trạch với “Thời vụ sách”… vẫn đang là những bài học lớn trên phương diện này đối với chúng ta. Đất nước hai lần bỏ lỡ thời cơ cất cánh chỉ trong gần 200 năm suốt thế kỷ 18, 19. Đó là những sự phát kiến “bất thường” của những bậc kỳ tài vượt hẳn lên đương thời vị quốc vị dân nhưng “cô độc”.


Càng về cuối thế kỷ XX, lịch sử của chúng ta là lịch sử của sự phát triển rút ngắn, thậm chí là phát triển nhảy vọt, khi thời cơ lịch sử chín muồi và thế lực phát triển tới độ. Trong hai nhân tố thời cơ và lực lượng, những con người viễn kiến, đi tiên phong giữ vai trò đột phá thậm chí quyết định sự phát triển. Đó cũng chính là thời cơ phát triển. Bởi vậy, càng phải chăm lo Quốc khí ngay từ gốc, vun đắp Nguyên khí ngay từ căn bản. Đó là bài học lớn về trọng dụng con người và phát triển nhân tài và cũng là yêu cầu của công cuộc đổi mới toàn diện, đồng bộ trong tầm nhìn năm 2045.  


Do đó, khâu đột phá của đột phá về phát triển nguồn nhân lực chính là phát triển nhân tài mà rường cột là đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý chiến lược và đội ngũ doanh nhân Việt Nam. Công cuộc đổi mới cần những người có cá tính sáng tạo khác thường: nhìn thấy những điều chưa ai nhìn thấy, nói những điều ít ai dám nói, làm những việc không ai dám làm; chịu trách nhiệm khi không ai dám chịu trách nhiệm…; càng cần sự đột phá, sáng tạo, vượt trước… hoặc làm thay đổi thực trạng hoặc tạo ra điều mới chưa từng có hoặc tạo ra thời thế hoặc chuyển vần lịch sử hoặc tạo ra vận khí quốc gia hoặc thậm chí đảo lộn đời sống quốc gia, quốc tế, vượt thời đại… Nói gọn lại, cần những người có óc nghĩ trước, dũng cảm đi trước, tiên phong chịu trách nhiệm, thậm chí chấp nhận hy sinh trước, vì quốc gia dân tộc, một cách xứng đáng và ngang tầm. Đây là lực lượng có vai trò quyết định dẫn dắt quốc gia và đi tiên phong hội nhập quốc tế, bảo đảm song hành sự phát triển bền vững chính trị đồng bộ với phát triển kinh tế, chính trị với kỹ trị… phù hợp với quy mô, tốc độ, yêu cầu đổi mới và hội nhập toàn cầu.


Hoàn thiện và thực thi Chiến lược Phát triển nhân tài quốc gia trong tầm nhìn 2045, trước mắt tới năm 2030, trong đó đội ngũ nhân tài quốc gia giữ vị thế xứng đáng, với tư cách là một quốc sách xứng tầm. Đổi mới cơ chế, hoàn thiện bộ thể chế tương dung bảo đảm sự hoạt động sáng tạo và thống nhất đội ngũ chính trị gia - chiến lược gia - quản trị gia - kỹ trị gia và khoa học gia, không kể nguồn gốc xuất thân một cách cách tổng thể, với phương châm: Trọng thị - Trọng dụng - Trọng đãi thật cầu thị và chân thành, thật công bình và chính trực, thật dân chủ và khoa học, thật quang minh và chính đại mang tầm chiến lược. Ở đây, không có chỗ cho sự hẹp hòi, thiển cận, cục bộ, càng không dung thứ cho sự kỳ thị, sợ hãi và vô nhân văn.


Hơn hết bao giờ, giữ vững bản lĩnh chính trị quốc gia, trước hết định vị và tập trung ở bản lĩnh chính trị, văn hóa chính trị của đội ngũ lãnh đạo quốc gia, giữ vai trò tiên phong và động lực cực kỳ quan trọng. Nó phải là sự kết tinh và hội tụ ở đó không chỉ trách nhiệm chính trị, trí tuệ, sự tinh tế, tinh thần dân tộc mà thấm đẫm cả lương tri, sự kinh lịch, sự khoan dung và chủ nghĩa nhân văn, mang hồn cốt, tinh hoa và khí phách của văn hóa truyền thống và hiện đại Việt Nam, trong tầm nhìn toàn cầu.    


Công cuộc đổi mới trong tầm nhìn năm 2045 đang thách thức, nếu không dũng cảm đổi mới sáng tạo, không phát huy Quốc khí, không nâng niu Nguyên khí, nhất định không có sự đột phá giải phóng mọi tiềm năng và thực lực phát triển nào như mong muốn, càng rất khó có sự bứt tốc thành công nào như mơ ước.


Đó là cương lĩnh hành động, là thước đo hiệu quả của công cuộc đổi mới, là nhân tố tiếp tục phát triển hệ giá trị vì Việt Nam độc lập, thống nhất, dân chủ, tự do và hùng cường.


Lịch sử không chờ đợi!./. 

ST



Đập tan mọi luận điệu xuyên tạc Chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ

 

Trong những ngày qua khi toàn Đảng, toàn dân, toàn quân tổ chức nhiều hoạt động thiết thực hướng tới kỷ niệm 70 năm Chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ (7/5/1954 - 7/5/2024). Để động viên, hỗ trợ các lực lượng diễu binh, diễu hành và du khách, nhiều gia đình ở Điện Biên đã chủ động chuẩn bị các loại nước uống, hoa quả phục vụ miễn phí. Nhiều người dân đã tận tình quạt mát cho các chiến sĩ trong giờ nghỉ giải lao bằng mọi vật dụng có sẵn trong tay như quạt chạy pin, quạt giấy, sách báo... Tuy nhiên, trên một số trang mạng xã hội xuất hiện một số bài viết lạc lõng có nội dung phán xét, xuyên tạc, phủ nhận tầm vóc, giá trị lịch sử to lớn này của Nhân dân Việt Nam.

Những luận điệu trơ tráo xuyên tạc lịch sử

Trên mạng xã hội các thế lực thù địch, phản động và một số kẻ thiếu thiện chí vẫn cố tình tìm mọi cách hạ thấp ý nghĩa, xuyên tạc bản chất, tính chính nghĩa của cuộc kháng chiến chống Thực dân Pháp của nhân dân ta, chúng cố tình cho rằng “nếu không có sự giúp đỡ của nước ngoài thì Việt Nam không thể chiến thắng”; hay chúng lu loa rằng đó chỉ là cuộc chiến của 2 bên hiếu chiến chứ không phải cuộc chiến chính nghĩa bảo vệ nền độc lập, tự do... Đây là những luận điệu nhằm công kích, xuyên tạc bản chất, tính chất chính nghĩa của cuộc kháng chiến chống Thực dân Pháp; tạo sự hoài nghi cho quần chúng nhân dân về chiến thắng lịch sử vĩ đại của dân tộc, hạ thấp uy tín, vai trò lãnh đạo của Đảng, phủ nhận những hy sinh mất mát của những tấm gương anh dũng trong cuộc kháng chiến chống Thực dân Pháp của quân và dân ta.

Thậm chí càng gần đến ngày lễ lớn của dân tộc thì càng nhiều clip, video được chia sẻ trên mạng xã hội; một số trang phản động của các thế lực thù địch đăng tải các thông tin về Chiến thắng Điện Biên Phủ 1954, của nhân dân Việt Nam xuyên tạc, bóp méo rằng, “chiến thắng Điện Biên Phủ không gắn liền với sự lãnh đạo của Đảng Lao động Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh”; “Chiến thắng Điện Biên Phủ giành được khi Thực dân Pháp mắc những sai lầm chiến lược”... Bên cạnh việc tập trung xuyên tạc vào bản chất, tính chất chính nghĩa của cuộc kháng chiến chống Thực dân Pháp của nhân dân ta, các đối tượng trên còn lập luận rằng đó chỉ là cuộc chiến của 2 bên hiếu chiến chứ không phải cuộc chiến chính nghĩa bảo vệ nền độc lập, tự do. Từ đó, hạ bệ thần tượng lịch sử như phủ nhận tấm gương anh dũng hy sinh của Anh hùng Tô Vĩnh Diện; phủ nhận công lao của Đảng, của Chủ tịch Hồ Chí Minh và vai trò chỉ huy tài ba của cố Đại tướng Võ Nguyên Giáp.

Trơ tráo hơn nữa, các thế lực thù địch, các tổ chức phản động lưu vong và một số đối tượng chống đối còn lợi dụng tình hình hạn hán, xâm nhập mặn ở các tỉnh phía Nam thời gian qua xuyên tạc rằng: “...thay vì tổ chức sự kiện to lãng phí tiền của sao không lấy tiền đó cứu dân”, “tiền thuế của dân thay vì mang nước đến cho dân lại mang đi phô trương lực lượng”; “lực lượng Quân đội, Công an từ dân mà ra nhưng bỏ mặc dân chết khát”; “Đảng chỉ lo phô trương quyền lực thanh thế mà không đoái hoài gì đến người dân”.... Thậm chí các đối tượng còn lồng ghép nội dung kích động, phân biệt, kỳ thị vùng miền rằng người miền Nam chỉ giúp người miền Nam, rồi đòi chia lại “Bắc kỳ”, “Nam kỳ”....

70 năm qua, sau Chiến thắng Điện Biên Phủ, đã có hàng nghìn công trình lớn, nhỏ, trong nước và nước ngoài nghiên cứu về chiến dịch này để cố gắng đưa ra những đánh giá đầy đủ, trọn vẹn nhất về ý nghĩa, tầm ảnh hưởng to lớn của sự kiện đối với Việt Nam và thế giới. Chiến thắng Điện Biên Phủ là chiến thắng vang dội của dân tộc Việt Nam, trong đó có sự ủng hộ, giúp đỡ của bè bạn quốc tế. Chúng ta không bao giờ quên sự ủng hộ, giúp đỡ to lớn của bè bạn quốc tế góp phần làm nên chiến thắng, nhưng sức mạnh nội sinh của dân tộc là quan trọng nhất. Chính do nội lực được tăng cường, chúng ta có điều kiện tiếp nhận sự ủng hộ, giúp đỡ và sử dụng có hiệu quả các nguồn viện trợ đó trong Chiến dịch Điện Biên Phủ.

Sự ghi nhận của cộng đồng quốc tế

Trên phương diện quốc tế, cuộc kháng chiến trường kỳ, đầy gian khổ, Nhân dân Việt Nam đã nhận được sự ủng hộ mạnh mẽ, sự giúp đỡ quý báu của các nước xã hội chủ nghĩa anh em, nhận được sự ủng hộ của nhân dân các dân tộc bị áp bức ở Châu Á, Châu Phi, Mỹ La tinh, đặc biệt là liên minh chiến đấu giữa ba nước Đông Dương và phong trào đấu tranh của nhân dân tiến bộ trên thế giới, trong đó có nhân dân tiến bộ Pháp. Chiến dịch Điện Biên Phủ đã mang một ý nghĩa rất lớn và đã đi vào lịch sử nhân loại, bởi đây là lần đầu tiên quân đội của một nước từng là thuộc địa ở châu Á đánh bại đội quân hiện đại và tối tân của một cường quốc châu Âu, được hỗ trợ bởi Đế quốc Mỹ trong một chiến dịch quân sự lớn.

Kết cục chiến dịch này được xem là một thảm họa bất ngờ đối với Thực dân Pháp và cũng là một đòn giáng mạnh với thế giới phương Tây, đã đánh bại âm mưu duy trì chế độ thuộc địa ở Đông Dương của Pháp và buộc Pháp phải đàm phán, ký kết Hiệp định Geneva về chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Đông Dương. Góp phần to lớn vào phong trào đấu tranh vì hòa bình, tiến bộ của nhân loại; thôi thúc, cổ vũ các nước thuộc địa ở châu Á, châu Phi và Mỹ Latin đứng lên tự giải phóng, thoát khỏi ách xâm lược của chủ nghĩa thực dân, đế quốc.

Gần 70 năm đã trôi qua, nhưng tầm vóc vĩ đại và ý nghĩa lịch sử của Chiến thắng Điện Biên Phủ vẫn là nguồn cổ vũ lớn lao cho nhân dân ta và các dân tộc yêu chuộng hòa bình trên thế giới. Tinh thần đoàn kết, tự lực, tự cường, ý chí quyết chiến, quyết thắng của quân và dân ta trong chiến dịch Điện Biên Phủ đến nay vẫn khiến nhiều bạn bè và các học giả quốc tế ngưỡng mộ. Chiến thắng Điện Biên Phủ của dân tộc Việt Nam là biểu tượng của phong trào giải phóng các dân tộc thuộc địa, các dân tộc bị áp bức, bóc lột trên thế giới. Đây là lời khẳng định của Giáo sư Ezequiel Ramoneda, điều phối viên Trung tâm nghiên cứu Đông Nam Á (CESEA) thuộc Viện quan hệ quốc tế Đại học quốc gia La Plata Argentina (UNLP).

Giáo sư Carl Thayer, Đại học New South Wales (Australia) cho rằng, chiến dịch Điện Biên Phủ là minh chứng hiệu quả của chiến tranh nhân dân, Việt Nam đã giành thắng lợi nhờ huy động toàn dân tham gia kháng chiến. Trong thư gửi cán bộ, chiến sĩ Điện Biên ngày 11/3/1954, Chủ tịch Hồ Chí Minh nhấn mạnh rằng, nhiệm vụ chống Thực dân Pháp rất khó khăn nhưng tin rằng, họ sẽ phát huy ý chí, sức mạnh, quyết tâm vượt mọi khó khăn, gian khổ để làm tròn nhiệm vụ vẻ vang sắp tới, Giáo sư Carl Thayer nhắc lại. Trong chiến dịch Điện Biên Phủ, hàng chục nghìn người đã tham gia làm đường và vận chuyển lương thực, vận chuyển pháo binh ra tiền tuyến. Giáo sư Carl Thayer cũng cho rằng, sự hỗ trợ quân sự từ các nước anh em cũng là một nhân tố quan trọng quyết định thắng lợi của chiến dịch Điện Biên Phủ.

Về phía giới truyền thông, trong những ngày qua, hàng loạt hãng thông tấn, báo, tạp chí nổi tiếng, trang tin điện tử... quốc tế đã liên tục đã đăng tải các bài viết cùng nhiều hình ảnh tư liệu minh họa về việc Việt Nam kỷ niệm 70 năm Chiến thắng Điện Biên Phủ, nêu bật ý nghĩa của chiến thắng này đối với Việt Nam cũng như với các nước trên thế giới. Các bài báo đánh giá cao sự vững bước trên con đường phát triển thịnh vượng, với nhiều thành tựu to lớn sau gần 40 năm Đổi mới, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam. Trong bài viết dưới tiêu đề “Bài học của Chiến thắng Điện Biên Phủ vĩ đại trong cuộc chiến chống thực dân”, tờ Resumen Latinoamericano của Argentina, tờ báo rất có uy tín trong lực lượng cánh tả Mỹ Latinh và Tây Ban Nha, nhấn mạnh, chiến thắng Điện Biên Phủ vẫn luôn là niềm tự hào của nhân dân Việt Nam bởi ý nghĩa và tầm vóc to lớn, đi vào lịch sử nhân loại trong cuộc đấu tranh chống thực dân, cổ vũ mạnh mẽ phong trào độc lập của các dân tộc thuộc địa trên thế giới.

Tờ ReporteAsia (Argentina) thì nhấn mạnh vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh trong công cuộc kháng chiến toàn dân, tập hợp khối đại đoàn kết dân tộc, phát huy cao độ tinh thần yêu nước để làm nên chiến thắng Điện Biên Phủ. Tờ báo cho biết, cách đây 70 năm, sau 56 ngày đêm chiến đấu dũng cảm, mưu trí, sáng tạo, quân đội và nhân dân Việt Nam đã đập tan toàn bộ tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ, tiêu diệt và bắt sống quân Pháp tại đây; bắn rơi hàng chục máy bay, xe và toàn bộ vũ khí, kho tàng, quân trang và quân dụng của quân đội Pháp.

Trong bài viết mang tựa đề “Bản hùng ca bất diệt của thế kỷ XX”, đăng ngày 3/5, trên Tạp chí “Voces del periodista” – tiếng nói của những nhà báo Mexico, tác giả Mouris Salloum George và cũng là Tổng Biên tập của tạp chí trên nhấn mạnh, chiến thắng Điện Biên Phủ đã tạo nên bước ngoặt quan trọng cho Cách mạng Việt Nam, tạo cơ sở căn bản và quyết định cho việc đi đến ký kết Hiệp định Geneve về chấm dứt chiến tranh tại Việt Nam và lập lại hòa bình ở Đông Dương. Chiến thắng này cũng khẳng định sự trưởng thành ấn tượng, vượt bậc của QĐND Việt Nam, đồng thời tô điểm thêm cho truyền thống vẻ vang của lực lượng này: “Trung thành với Đảng và nhân dân, sẵn sàng chiến đấu, hy sinh vì độc lập, tự do của Tổ quốc và chủ nghĩa xã hội”, “Mọi nhiệm vụ đều hoàn thành, mọi khó khăn đều có thể vượt qua, mọi kẻ thù đều sẽ bị đánh bại”.

Từ truyền thống ngàn năm dựng nước và giữ nước của dân tộc đến chiến thắng lừng lẫy địa cầu, Chiến thắng Điện Biên Phủ là một bản hùng ca bất hủ, “một cái mốc chói lọi bằng vàng của lịch sử” trong thế kỷ 20. Là một trong những chiến thắng hiển hách của lịch sử hàng ngàn năm đấu tranh chống ngoại xâm dựng nước và giữ nước của dân tộc Việt Nam sánh ngang chiến thắng Bạch Đằng (938) của Ngô Quyền, chiến thắng Chi Lăng - Xương Giang (1427) của Lê Lợi - Nguyễn Trãi, rồi chiến thắng Ngọc Hồi - Đống Đa của Quang Trung (1789). Là thắng lợi của khát vọng hòa bình, độc lập, tự do, của ý chí tự lực, tự cường của dân tộc Việt Nam; thắng lợi của phong trào giải phóng dân tộc, dân chủ nhân dân trên thế giới và của lương tri thời đại. Chiến thắng Điện Biên Phủ đã giáng đòn quyết định, đập tan dã tâm xâm lược của các thế lực đế quốc, thực dân hiếu chiến chấm dứt gần 100 năm Việt Nam là thuộc địa của Pháp, đồng thời báo hiệu sự kết thúc của đế quốc Pháp trên phạm vi thế giới, buộc Chính phủ Pháp phải ký Hiệp định Giơ-ne-vơ, chấm dứt chiến tranh ở Đông Dương, mở ra trang mới cho cách mạng Việt Nam; đồng thời là một sự kiện quan trọng báo hiệu sự sụp đổ hoàn toàn của chủ nghĩa thực dân cũ trên phạm vi toàn thế giới.

Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định: “Chiến thắng Điện Biên Phủ như là một mốc son chói lọi bằng vàng của lịch sử”. Đây là chiến thắng quân sự lớn nhất trong cuộc chiến tranh Đông Dương (1945-1954) của Việt Nam. Với thắng lợi quyết định này, lực lượng Quân đội Nhân dân Việt Nam do Đại tướng Võ Nguyên Giáp chỉ huy đã buộc quân Pháp tại Điện Biên Phủ phải đầu hàng vào ngày 7/5/1954. Trên phương diện quốc tế, chiến dịch này có một ý nghĩa rất lớn và đã đi vào lịch sử nhân loại, bởi đây là lần đầu tiên quân đội của một nước từng là thuộc địa ở châu Á đánh bại đội quân hiện đại và tối tân của một cường quốc Châu Âu, được hỗ trợ bởi đồng minh là Hoa Kỳ trong một chiến dịch quân sự lớn, buộc Pháp phải hòa đàm và rút quân ra khỏi Đông Dương.

70 năm đã trôi qua kể từ ngày quân và dân ta dệt nên bản anh hùng ca chiến thắng Điện Biên Phủ. Thời gian lùi xa, nhưng ý nghĩa và bài học lịch sử của chiến thắng Điện Biên Phủ vẫn còn mãi, tiếp thêm sức mạnh, động lực cho toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta, không chỉ là dịp nhắc nhớ trong mỗi người trẻ về một thời hoa lửa của đất nước, là dịp để thế hệ trẻ thể hiện lòng tri ân đối với những bậc cha anh đi trước đã ngã xuống vì cuộc sống tự do, hạnh phúc ngày hôm nay. Lưu giữ những giá trị trường tồn để tiếp tục đưa đất nước đi trên con đường đổi mới, hội nhập và phát triển, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN. Trong mỗi trái tim người Việt Nam nói chung và thế hệ trẻ ngày nay nói riêng đều dâng trào niềm kiêu hãnh, tự hào về chiến công hiển hách, tinh thần quật khởi của cha anh, có sức lan tỏa mạnh mẽ trở thành một trong những động lực tinh thần to lớn giúp thế hệ trẻ ngày nay có thêm điểm tựa để tích cực rèn luyện, phấn đấu xây dựng quê hương, đất nước ngày càng giàu mạnh.

Những giá trị lịch sử sâu sắc và tầm vóc thời đại to lớn của Chiến thắng Điện Biên Phủ vẫn vẹn nguyên, đã, đang và tiếp tục làm tăng thêm niềm tự hào dân tộc, niềm tin tưởng tuyệt đối vào sự lãnh đạo của Đảng; cổ vũ toàn Đảng, toàn dân, toàn quân không ngừng phấn đấu dưới lá cờ vẻ vang của Đảng vì độc lập, tự do của Tổ quốc, vì chủ nghĩa xã hội, vì hạnh phúc của Nhân dân trong công cuộc đổi mới toàn diện và hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng hiện nay.

Phao