Thứ Sáu, 10 tháng 5, 2024

Triển khai quân đội Pháp ở Ukraine có thể dựa trên 3 giả định

 Các lực lượng vũ trang Pháp được hình thành từ 3 lực lượng không quân, hải quân và lục quân. Ngoài ra, Paris cũng duy trì kho vũ khí hạt nhân của riêng nước này. Điều này có nghĩa là mặc dù quy mô có thể bị hạn chế, song quân đội Pháp hoàn toàn có khả năng tiến hành chiến tranh ngay cả khi không có mặt Tổ chức hiệp ước Bắc Đại Tây Dương (NATO).

Xét về lực lượng sẵn có, việc triển khai quân đội Pháp ở Ukraine có thể dựa trên 3 giả định sau:

Trường hợp thứ nhất, Pháp chỉ điều động một sư đoàn. Pháp sẽ cử tối đa là một nửa bộ binh thông thường vào chiến đấu trực tiếp, phần còn lại sẽ trở thành lực lượng dự bị nhằm ngăn chặn xung đột lan rộng và leo thang.

Trường hợp thứ hai là liên kết phòng thủ. Pháp khó có thể tổ chức tấn công với sức mạnh của duy nhất 1 sư đoàn bởi nhiệm vụ này đòi hỏi quy mô lực lượng gấp ba lần đối phương. Có thể hình dung rằng quân đội Pháp hoạt động như một lực lượng dự bị để giải vây cho cuộc phản công của Ukraine. Tuy nhiên, ưu tiên ở đây vẫn là triển khai lực lượng vào thời điểm quan trọng để ngăn chặn chiến thắng của người Nga.

Trường hợp cuối cùng là Pháp liên minh với các đối tác. Pháp sẽ không hành động độc lập trong chiến dịch này, các đơn vị chiến đấu được cử đi sẽ phải phối hợp với lực lượng Kiev để tối đa hóa hiệu quả tác chiến. Hơn nữa, Pháp sẽ hạn chế việc mạo hiểm quân lực quốc gia nếu không có sự hỗ trợ của NATO, đặc biệt là Anh. Xét về mặt chính trị, động thái liên minh này thậm chí có thể dẫn đến sự hồi sinh trong mối quan hệ giữa London và Paris.

Trang Defense News nhận định, nếu Pháp quyết định điều quân tới Ukraine, ít khả năng lực lượng này sẽ tham chiến trực tiếp với quân Nga. Thay vào đó, họ sẽ được cử đến để hỗ trợ binh sĩ Ukraine canh gác các khu vực trọng điểm để lính Ukraine có thể được điều động ra tiền tuyến.

Hiện tại không phải toàn bộ quân đội Ukraine đang chiến đấu ở tiền tuyến. Khá nhiều binh sĩ Ukraine đang bị mắc kẹt làm nhiệm vụ canh gác gần Kiev và dọc biên giới với Belarus để để phòng Nga mở mũi tiến công từ phía bắc.

Nếu quân đội Pháp được gửi đến Ukraine, họ sẽ đảm nhận trách nhiệm canh gác ít nhất một phần biên giới Belarus - Ukraine để quân đội hiện đảm nhiệm nhiệm vụ đó có thể được chuyển hướng ra tiền tuyến.

Bằng cách đảm nhận nhiệm vụ này, lực lượng Pháp có thể giúp tăng cường sức mạnh chiến đấu của lực lượng Ukraine, đồng thời tránh đối đầu trực tiếp với Nga.

Trong kịch bản thứ nhất và thứ ba, quyết định xuất quân của ông Macron được đánh giá mang mục đích chiến lược và biểu tượng chính trị.

Pháp có thể điều động một sư đoàn, đồng thời liên minh với các đối tác nhằm tập trung bảo vệ thủ đô Kiev và thành phố cảng Odessa. Nếu Odessa được an toàn, Ukraine  có thể tăng xuất khẩu ngũ cốc, từ đó nhận được sự hỗ trợ nhiều hơn từ các quốc gia đang phát triển và mới nổi. Điều này cực kỳ quan trọng với Ukraine trong giai đoạn tái thiết đất nước hậu xung đột.

Yếu tố quân sự được nhấn mạnh trong kịch bản thứ hai. Nếu quân đội Nga cố gắng tiến công mạnh mẽ ở phía đông nam, khu vực phía bắc Zaporizhia sẽ trở thành điểm yếu chí mạng trong hoạt động phòng thủ của Ukraine. Việc Pháp hỗ trợ Ukraine củng cố lớp phòng ngự này sẽ giúp củng cố tinh thần và sức mạnh đáng kể cho các lực lượng Kiev đang chiến đấu ở tiền tuyến.

Để thực hiện các giả định trên, Pháp cần triển khai giai đoạn sơ bộ gồm 2 nhiệm vụ chính.

Thứ nhất, tàu Charles de Gaulle sẽ được triển khai đến phía đông Địa Trung Hải. Mục đích của bước đi này là hỗ trợ các máy bay phản lực Rafale tiến gần và kiểm soát không phận khu vực tập trung của Pháp, đồng thời cung cấp thông tin về tình hình tổng quan nơi chiến trường.

Thứ hai, quốc gia láng giềng của Ukraine là Moldova cũng sẽ được hỗ trợ bởi quân đội Pháp. Tình hình đang ngày càng bất ổn tại quốc gia này khi khu vực thiểu số Gagauzia - khu vực giáp sát Ukraine - đang yêu cầu được ly khai với sự hỗ trợ của Nga.

Trước tình hình đó, vào tháng 3, Pháp cũng đã ký hiệp ước quốc phòng cam kết ủng hộ Moldova. Pháp hy vọng có thể ổn định tình hình khu vực này chỉ với lượng bộ binh nhỏ.

Cho dù là kịch bản nào, Bộ trưởng Quốc phòng Pháp Sébastien Lecornu khẳng định, sự hiện diện quân sự tiềm tàng của lực lượng Pháp ở Ukraine không nhằm tham chiến trực tiếp và cũng không nhằm chống lại Nga.

"Sau những đồn đoán trên mạng xã hội và trên các phương tiện truyền thông, hãy để tôi nói rõ rằng vấn đề không phải là gửi quân đến gây chiến với Nga", ông cho biết trong một cuộc điều trần trước Ủy ban Quốc phòng của quốc hội.

Ông nói, thay vì huấn luyện quân đội Ukraine ở Ba Lan, Pháp tính đến khả năng huấn luyện ngay trên lãnh thổ Ukraine, cách xa tiền tuyến. Theo ông, Ukraine sẽ có nhu cầu huấn luyện nhiều hơn cho quân nhân nhập ngũ trong tương lai gần.

Hơn 20 quốc gia NATO đã huấn luyện quân đội Ukraine ở Anh, Mỹ, Tây Ban Nha và các nơi khác. Các lực lượng vũ trang Pháp đang huấn luyện quân đội Ukraine ở Pháp và Ba Lan.

Ngoài ra, Bộ trưởng Lecornu cho biết, Paris sẽ chuyển giao hàng trăm xe bọc thép cho Ukraine vào đầu năm tới như một phần của gói viện trợ quân sự mới. Theo ông Lecornu, mục đích của lô thiết giáp này nhằm củng cố khu vực chiến tuyến rộng lớn của Ukraine. "Đây chắc chắn là chìa khóa cho khả năng tác chiến linh động của lực lượng Kiev", quan chức này cho biết.

Ông Lecornu nói thêm chi nhánh dự án quốc phòng KNDS tại Pháp đã tăng cường sản lượng đạn pháo 155mm lên 3.000 quả mỗi tháng. Ông cho biết công ty đang đầu tư vào máy móc cùng với mở lại một dây chuyền sản xuất bổ sung. Bộ trưởng Quốc phòng Pháp khẳng định "rất kỳ vọng" sản lượng của Pháp sẽ tăng lên 4.000 đến 5.000 đầu đạn mỗi tháng vào cuối năm 2024.

Sự mơ hồ chiến lược và những rủi ro tiềm tàng

Những kịch bản có thể xảy ra nếu Pháp điều quân đến Ukraine - 3

Người phát ngôn Bộ Ngoại giao Nga Maria Zakharova (Ảnh: AFP).

Quốc hội Liên bang Đức (Bundestag) kết luận sự hiện diện quân sự trực tiếp của Paris tại chiến sự Nga - Ukraine là hành động đơn phương, không phải quyết định chung của NATO. Theo đó, Điều 5 về phòng thủ tập thể trong Hiến chương NATO sẽ không được áp dụng.

Theo điều khoản này, cuộc tấn công vào một quốc gia thành viên NATO sẽ được xem là tấn công vào khối liên minh. Về mặt pháp lý, tất cả các quốc gia thành viên bắt buộc phải nhanh chóng hỗ trợ quân sự cho nước bị tấn công.

Tuy vậy, theo giới quan sát chính sách đối ngoại, tuyên bố của ông Macron được đưa ra nhằm mục đích chính trị, trên thực tế, nhà lãnh đạo Pháp không có ý định triển khai quân sự. Trước những bước tiến mà quân đội Moscow liên tục đạt được, cộng với chiến dịch phản công mùa hè 2023 không thành công như mong đợi của Kiev, nhiều ý kiến cho rằng đường lối cứng rắn của ông Macron chỉ nhằm nâng cao vị thế của Paris trước các đồng minh phương Tây.

Theo Zeit Online, các cơ quan nghiên cứu của Đức cho biết việc một quốc gia NATO đơn phương triển khai quân sự, tức không nằm trong khuôn khổ hoạt động và cơ cấu chỉ huy quân sự của khối, tại Ukraine sẽ không biến đây thành một cuộc xung đột chung của toàn liên minh.

Một quan chức giấu tên cho biết trong trường hợp này, sẽ chỉ có quốc gia đơn phương hành động trở thành chủ thể tham gia xung đột.

Truyền thông Đức nhấn mạnh các tuyên bố của ông Macron "đặc biệt khó chịu, nhất là với đảng Dân chủ Xã hội (SPD) của Thủ tướng Đức Olaf Scholz", vốn đưa ra lập trường hoàn toàn ngược lại với Tổng thống Pháp.

Các thành viên Quốc hội Liên bang Đức viết: "Trong tình huống quân đội từ một quốc gia thành viên NATO chiến đấu trên danh nghĩa Ukraine trong cuộc xung đột hiện tại chống lại Nga, nếu quốc gia này bị tấn công trong thời gian chiến đấu tại khu vực xảy ra xung đột, Điều 5 Hiệp ước NATO sẽ không được kích hoạt".

Liên minh lo ngại về việc "các quốc gia và quân đội NATO bị tấn công trên lãnh thổ của chính họ". Nói cách khác, Pháp tự đưa mình vào cuộc chiến với tư cách chủ thể độc lập chứ không đại diện cho quyết định tập thể của NATO. Liên minh quân sự gồm hơn 30 thành viên do Mỹ dẫn dắt đến nay vẫn khẳng định sẽ không tham gia trực tiếp vào xung đột Ukraine.

Tổng thống Macron chắc chắn hiểu rõ rủi ro xung đột leo thang nếu ông thực sự công khai sử dụng các biện pháp can thiệp quân sự. Pháp có thể sẽ phải đối mặt với việc bị đe dọa sử dụng vũ khí hạt nhân, các cuộc tấn công thử nghiệm bằng máy bay chiến đấu hoặc vũ khí tầm xa từ phía Nga.

Tuy nhiên, các biện pháp răn đe cũng có thể phần nào gây áp lực khiến Điện Kremlin phải thỏa hiệp. Ông Macron gọi đó là "sự mơ hồ chiến lược" cần thiết để khiến Nga phải đoán xem liệu phương Tây có thực sự triển khai quân tới Ukraine hay không.

Sự mơ hồ chiến lược đó có thực sự hiệu quả hay không vẫn là câu hỏi để ngỏ. Trong khi đó, một số quan chức phương Tây cảnh báo nó chỉ khiến tình hình leo thang nguy hiểm hơn.

Trong khi đề xuất của Tổng thống Macron về việc gửi lực lượng quân sự phương Tây đến Ukraine bị hầu hết các đồng minh NATO bác bỏ, các quốc gia vùng Baltic như Estonia, Latvia và Litva cũng như một số quốc gia gần Nga hơn về mặt địa lý lại hoan nghênh quan điểm này.

Nhà quan sát Mathieu Droin, học giả tại Trung tâm Nghiên cứu Chiến lược và Quốc tế, cho rằng: "Cho dù Tổng thống Macron có hiện thực hóa tuyên bố hay không thì chắc chắn ông ấy đã giành được sự ủng hộ ở Đông Âu và điều này có thể sẽ hữu ích trong các kế hoạch chiến lược tương lai của Pháp".

Ông Droin cho biết ngoại trừ các trường hợp ngoại lệ như Hungary và Slovakia, các quốc gia ở Đông và Trung Âu là những quốc gia ủng hộ Ukraine mạnh mẽ nhất và hoan nghênh sự thay đổi của ông Macron.

Về phía Nga, giới chức nước này tuyên bố, ngay cả khi quân đội Pháp ở Ukraine không được triển khai dọc tiền tuyến Ukraine thì họ vẫn sẽ là mục tiêu ưu tiên của lực lượng Nga. 

Người phát ngôn Bộ Ngoại giao Nga Maria Zakharova hôm 8/5 cảnh báo, nếu Pháp điều quân tới Ukraine thì lực lượng này sẽ bị quân đội Nga coi là mục tiêu hợp pháp.

phao

GỐC VỮNG CÂY MỚI BỀN, XÂY LẦU THẮNG LỢI TRÊN NỀN NHÂN DÂN

 

Nhà nước dân chủ Nhân dân là nhà nước phục vụ Nhân dân, đem lại lợi ích cho Nhân dân. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định: Cả đời tôi chỉ có một mục đích là phấn đấu cho quyền lợi của Tổ quốc và hạnh phúc của quốc dân. Những khi tôi phải ẩn nấp nơi núi non, ra vào chốn tù tội, xông pha sự hiểm nghèo là vì mục đích đó. Đến lúc quốc dân đoàn kết tranh được chính quyền, ủy thác cho tôi gánh vác việc Chính phủ, tôi lo lắng đêm ngày, nhẫn nhục, cố gắng, cũng vì mục đích đó.


Trong bức điện chia buồn Đảng ta khi Bác mất, chủ tịch Phiden, nói: “Chủ tịch Hồ Chí Minh thuộc về một lớp người đặc biệt mà cái chết lại gieo mầm cho sự sống, đời đời bất diệt”. Thời gian đã minh chứng điều đó: Dù Bác mất, nhưng tư tưởng, nhân cách và những tấm gương đạo đức của Bác, tiêu biểu cho giá trị con người thì được truyền bá từ thế hệ này sang thế hệ khác. Vì vậy mà Bác bất tử trong lòng dân tộc và trong lòng nhân loại tiến bộ.


Bác thường để lại đĩa thịt gà mà ăn trọn mấy quả cà xứ Nghệ

Tránh nói to và đi nhẹ cả trong vườn

Tim đau hết nỗi đau người ở chân trời góc bể

Đến bên Người ta thở dễ dàng hơn

(Việt Phương).


Theo Người, Nhà nước phải:


“Làm cho dân có ăn

Làm cho dân có mặc

Làm cho dân có chỗ ở

Làm cho dân có học hành”.


Thiếu tướng Phan Văn Xoàn, nguyên cận vệ Bác kể lại, 12h đêm giao thừa, Bác mặc áo bông, quần vải gụ, đi dép cao su tìm đến thăm nhà của một người nghèo nhất HN như cận vệ Bác báo về, đó là gia đình một người gánh nước thuê. Người quan tâm đến đời sống của mọi người dân, dù họ là người nghèo khổ nhất.


Nhà nước vì dân là Nhà nước không làm thay Nhân dân mà phải hướng dẫn cho Nhân dân tự chăm lo, thỏa mãn các nhu cầu, lợi ích của mình.


Nhà nước vì dân là Nhà nước do chính nhân dân tự xây dựng nên, sự tồn tại và hoạt động của Nhà nước là phải vì quyền lợi của toàn thể Nhân dân lao động, chứ không phải vì quyền lợi của một nhóm người hay một tập đoàn xã hội nào đó như ở các chế độ xã hội khác.


Nhà nước vì dân là Nhà nước đặt lợi ích của nhân dân lên trên hết, mọi chủ trương, đường lối, chính sách của Nhà nước đều phải nhằm phục vụ cho lợi ích của nhân dân: Việc gì có lợi cho dân, ta phải hết sức làm. Việc gì có hại đến dân, ta phải hết sức tránh.


Trong lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc Việt Nam, vai trò, sức mạnh của quần chúng Nhân dân đã tạo nên sức mạnh to lớn đưa nc ta vượt qua mọi khó khăn thử thách, vượt qua mọi giông bão của thời đại. Từ quan niệm : “Quan nhất thời, dân vạn đại” trong nhân gian, đến “Chở thuyền là dân, lật thuyền cũng là dân” trong tư tưởng của Nguyễn Trãi, hay quan điểm Chủ nghĩa Mác-Lênin khẳng định: “Cách mạng là sự nghiệp của quần chúng nhân dân” đã được Chủ tịch Hồ Chí Minh kế thừa và phát triển. Theo Người, “dân là gốc nước”, “dễ mười lần không dân cũng chịu, Khó trăm lần dân liệu cũng xong”, “Gốc có vững thì cây mới bền. Xây lầu thắng lợi trên nền nhân dân”. Nhận thức đc vai trò, sức mạnh của quần chúng Nhân dân, nên phải yêu dân, kính dân, tôn trọng dân là vì lẽ như vậy.


Do đó, phải thường xuyên chăm lo đến đời sống vật chất và tinh thần cho nhân dân, cải thiện dân sinh, nâng cao dân trí cho Nhân dân.


Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh căn dặn, một người cán bộ, đảng viên phải có trách nhiệm đối với Nhân dân, công việc và đối vs chính mình. Thực hiện trách nhiệm với dân là phẩm chất của người cán bộ, đảng viên. Người nói : “Vì vậy cán bộ Đảng và chính quyền từ trên xuống dưới, đều phải hết sức quan tâm đến đời sống của nhân dân…Nếu dân đói, rét, dốt, bệnh thì chính sách của ta dù có hay mấy cũng không thực hiện được”. Dân chỉ biết đến giá trị của độc lập tự do khi dân được ăn no, mặc đủ.


Cán bộ phải đặt lợi ích của Nhân dân, của Tổ quốc lên trên, lên trước hết.


Năm 1947, trong cuốn sách “Sửa đổi lề lối làm việc” để huấn luyện về lề lối làm việc của cán bộ, một trong những điều Bác viết: Bất kỳ việc gì cũng vì lợi ích của Nhân dân mà làm và chịu trách nhiệm trước Nhân dân. Trước khi đi xa, trong bản Di chúc thiêng liêng, Bác căn dặn: Mỗi đảng viên, cán bộ phải thực sự thấm nhuần đạo đức cách mạng, thật sự cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư, phải xứng đáng là người lãnh đạo, người đầy tớ trung thành của Nhân dân.


Bác còn dạy: Cơm của chúng ta ăn, áo của chúng ta mặc, vật liệu chúng ta dùng đều là mồ hôi nước mắt của Nhân dân mà ra. Vì vậy chúng ta phải đền ơn xứng đáng cho Nhân dân. Chớ vác mặt làm quan cách mạng để dân ghét, dân khinh, dân không ủng hộ... Bác Hồ căn dặn: Chúng ta có trọng dân, yêu dân, kính dân thì dân mới yêu ta, kính ta.... 


Để gần dân, Chủ tịch Hồ Chí Minh đưa ra nguyên tắc "Việc gì cũng hỏi ý kiến dân chúng, cùng dân chúng bàn bạc. Giải thích cho dân chúng hiểu rõ. Được dân chúng đồng ý. Do dân chúng vui lòng ra sức làm". Chủ tịch Hồ Chí Minh nhấn mạnh học hỏi quần chúng nhưng không theo đuôi quần chúng mà phải biết lắng nghe, phân tích những ý kiến, sáng kiến của Nhân dân để từ đó kiểm định chủ trương, chính sách, pháp luật và việc làm của cán bộ, đảng viên, tìm ra cái hay để phát triển và cái dở để sửa chữa. Có tâm với dân thì sẽ làm tốt điều đó.


Nhà nước vì dân là Nhà nước phải biết kết hợp, điều chỉnh các loại lợi ích khác nhau giữa các giai cấp, tầng lớp xã hội,các bộ phận dân cư để luôn được Nhân dân ủng hộ, xây dựng. Nhà nước vì dân là Nhà nước phải thật sự liêm khiết, trong sạch, vững mạnh, sáng suốt, tránh quan liêu, tham nhũng, đặc quyền, đặc lợi.


Văn kiện Đại hội lần thứ XIII của Đảng quan niệm: “dân là gốc”, dân là chủ thể, dân là trung tâm; dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng; từ đó, chủ trương thân dân, tin dân, trọng dân, gần dân, sát dân, hiểu dân, yêu dân, kính dân, vì dân. Đây là sự chắt lọc tinh túy truyền thống lịch sử; sự bổ sung, phát triển tư tưởng Hồ Chí Minh lên một tầm cao mới, phù hợp với thực tiễn Việt Nam và xu thế của thời đại.


Như vậy, nhà nước là đại diện quyền làm chủ của Nhân dân, đồng thời là người tổ chức thực hiện đường lối chính trị của Đảng. Mọi đường lối, chính sách của Đảng và pháp luật của nhà nước đều phải phản ánh lợi ích của đa số Nhân dân. Nhân dân không chỉ có quyền mà còn có trách nhiệm tham gia hoạch định và thi hành các chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước.


Đối với Tuyên Quang, Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh xác định nội dung chuyên đề học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh thực hiện trong giai đoạn 2021 - 2025 với chủ đề là: “Phát huy truyền thống quê hương cách mạng, ý chí tự lực, tự cường, xây dựng tỉnh Tuyên Quang có nền hành chính hoạt động hiệu lực, hiệu quả; môi trường xanh - sạch - đẹp; kinh tế phát triển nhanh, bền vững”. Ủy ban nhân dân tỉnh cũng đã xây dựng Đề án “Đẩy mạnh cải cách hành chính, xây dựng Chính quyền điện tử hướng tới Chính quyền số tỉnh Tuyên Quang giai đoạn 2021-2025, định hướng đến năm 2030”. Việc đưa Trung tâm phục vụ hành chính công của tỉnh vào hoạt động là một trong những giải pháp đột phá để nâng cao tỷ lệ hồ sơ giải quyết trực tuyến mức độ 3 và 4, tiếp nhận qua dịch vụ bưu chính công ích. Qua đó giảm chi phí thấp nhất và tạo sự hài lòng nhất cho người dân, tổ chức và doanh nghiệp, hướng tới xây dựng nền hành chính phục vụ, chuyên nghiệp, hiện đại và thân thiện, góp phần thực hiện thắng lợi Chương trình tổng thể cải cách hành chính nhà nước giai đoạn 2021 - 2030, Nghị quyết Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh Tuyên Quang lần thứ XVII, nhiệm kỳ 2020 - 2025.   Điều đó cho thấy, tỉnh đặc biệt quan tâm đến việc xây dựng nền hành chính phục vụ theo tư tưởng Hồ Chí Minh. Tư tưởng “Dân là gốc của nước” của Chủ tịch Hồ Chí Minh đang được Tuyên Quang vận dụng sáng tạo vào trong giai đoạn hiện nay.


Suy cho cùng, sức mạnh của Đảng là ở sự gắn bó mật thiết với Nhân dân, được lòng dân. Muốn được lòng dân, có lòng dân thì toàn bộ hoạt động của Đảng cũng như mọi chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước phải xuất phát từ lợi ích và nguyện vọng chính đáng của Nhân dân, nhằm vào mục đích vì lợi ích của Nhân dân. Thực hiện đầy đủ, có chất lượng quyền và nghĩa vụ công dân, đặc biệt không chỉ là tôn trọng mà phải tạo cơ chế để dân phát huy đầy đủ, có hiệu quả quyền làm chủ của mình. Có như vậy, chắc chắn chúng ta sẽ góp phần tạo nên sự chuyển biến mạnh mẽ, tích cực và tiến bộ trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội, từng bước hiện thực hoá mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, xã hội dân chủ, công bằng, văn minh”./.

ST


 VẬN DỤNG TƯ TƯỞNG "LẤY DÂN LÀM GỐC" CỦA CHỦ TỊCH HỒ CHÍ MINH VÀO THỰC TIỄN CÔNG TÁC


Chủ tịch Hồ Chí Minh không chỉ là lãnh tụ vĩ đại của phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc của nhân dân trên thế giới mà người còn là nhà văn hoá kiệt xuất, nhà tư tưởng lớn với hệ tư tưởng đổi mới được chứng minh qua thực tiễn, trở thành nền tảng tư tưởng và kim chỉ nam cho hành động của cách mạng Việt Nam, cho đến tận ngày nay vẫn còn nguyên giá trị. Những tư tưởng đó được các lớp cán bộ, chiến sĩ Bộ đội biên phòng Bình Phước vận dụng vào thực tiễn mang lại hiệu quả cao trong công tác, trong đó có tư tưởng “lấy dân làm gốc”.


Lấy dân làm gốc trong tư tưởng Chủ tịch Hồ Chí Minh


“Dân là gốc của nước, nước lấy dân làm gốc” là tư tưởng và phương châm hành động của các bậc hiền triết từ đông sang tây, từ cổ chí kim. Danh nhân Nguyễn Trãi đã từng nói: “Việc nhân nghĩa cốt ở an dân”. Hay như Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn cũng đã từng tâu với vua Trần Anh Tông rằng: “Khoan thư sức dân để làm kế sâu bền gốc. Đó là thượng sách giữ nước”. Nói như vậy để thấy rằng dù cho trong thời đại nào việc dựa vào dân, lấy dân làm gốc luôn được coi là yếu tố tiên quyết đến mọi thắng lợi.


Với Chủ tịch Hồ Chí Minh, từ khi Người tiếp cận được với Chủ nghĩa Mác- Lê Nin thông qua đọc “Bản sơ thảo lần thứ nhất những Luận cương về vấn đề dân tộc và thuộc địa” đăng trên báo Nhân đạo vào năm 1920. Người đã rất tâm đắc và cho đây là luồng ánh sáng mới cho phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc, giải phóng thuộc địa. Trên cơ sở kế thừa và phát huy những tinh hoa đó, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đúc rút, nâng


tư tưởng lấy dân làm gốc lên một tầm cao mới phù hợp với xu thế và đặc điểm xã hội Việt Nam.


Theo đó, Người xác định nhân dân là chủ thể, là dân tộc gồm 04 giai cấp công nhân, nông dân, tiểu tư sản, tư sản dân tộc và những phần tử yêu nước khác. Đây là lực lượng đông đảo, to lớn, vừa là nơi tập hợp trí tuệ, sức mạnh, đạo đức, tài năng và của cải, vừa là nơi tập hợp của lòng yêu nước và tinh thần dân tộc. Kế thừa và phát triển tư tưởng trọng dân, chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định, dân chính là gốc của nước, “nước lấy dân làm gốc”. Trong bài thơ cổ động được viết năm 1948, Người cũng đã căn dặn:


“Quân tốt, dân tốt

Muôn sự đều nên.

Gốc có vững, cây mới bền

Xây lầu thắng lợi trên nền nhân dân”.


Trong bài nói tại hội nghị cung cấp toàn quân lần thứ nhất diễn ra vào ngày 24-6-1952, Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng nhấn mạnh: “Nước ta là nước dân chủ, địa vị cao nhất là dân, vì dân là chủ. Trong bộ máy cách mạng từ người quét nhà, nấu ăn cho đến Chủ tịch một nước đều là phân công làm đày tớ cho dân”. “Đối với nhân dân, thì công cụ của nhà nước dân chủ mới (Chính phủ, Pháp luật, công an, Quân đội…) là để giữ gìn quyền lợi của nhân dân”.


Khi nói chuyện tại lớp nghiên cứu chính trị khoá 2, trường Đại học nhân dân Việt Nam ngày 08-12-1956, Bác Hồ tiếp tục nhấn mạnh lại vai trò làm chủ và sức mạnh, trí tuệ của dân: “Trong bầu không gì quý bằng nhân dân. Trong thế giới không gì mạnh bằng lực lượng đoàn kết của nhân dân”. Người cũng thường xuyên nhắc tới câu ca dao của người dân Quảng Bình rằng “Dễ mười lần không dân cũng chịu. Khó vạn lần dân liệu cũng xong” của nhà thơ Thanh Tịnh viết năm 1948. Dân là gốc của nước, từ đầu chí cuối Người luôn coi trọng dân, tin vào dân, dựa vào dân để phát huy sức mạnh từ dân, mang lại độc lập, thống nhất, ấm no, hạnh phúc cho nhân dân. Người căn dặn mỗi cán bộ, đảng viên, thân sỹ yêu nước đều “Phải đem hết sức dân, tài dân, của dân để làm lợi cho dân”.


Đảng ta ra đời và được nuôi dưỡng trưởng thành từ nhân dân. Khi lòng dân và ý đảng cùng chung một nhịp đập thì mới phát huy được nguồn sức mạnh và tinh thần đoàn kết của nhân dân. Lấy dân làm gốc cũng là kim chỉ nam xuyên suốt trong quá trình lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc ta. Muốn làm được điều đó phải gần dân, lắng nghe dân, thấu hiểu dân, tôn trọng dân, đề ra chủ trương, chính sách hợp lòng dân. Tất cả mọi sự nghiệp đều là của dân, do dân và vì dân.


Quan điểm lấy dân làm gốc cũng chính là nền tảng cho công cuộc đổi mới và tiến lên chủ nghĩa xã hội mà Đảng và nhân dân ta đã và đang thực hiện nhằm hướng tới mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh.


Hết lòng phụng sự nhân dân


Trong thư gửi bộ đội chủ lực, bộ đội địa phương và dân quân du kích nhân ngày kỷ niệm ngày thành lập quân giải phóng Việt Nam 22-12-1949, chủ tịch Hồ Chí Minh đã nêu rõ: “Quân đội ta là quân đội nhân dân, do dân đẻ ra, vì dân mà chiến đấu, yêu nước, yêu dân, cho nên hy sinh kham khổ”. “Nhân dân là nền tảng, là cha mẹ của bộ đội”. Để trở thành quân nhân, việc đầu tiên là phải thuộc lòng mười lời thề danh dự của quân nhân; trong đó lời thề thứ 9 nói rõ “Khi tiếp xúc với nhân dân làm đúng ba điều nên: Kính trọng dân, giúp đỡ dân, bảo vệ dân. Và ba điều răn: Không lấy của dân, không doạ nạt dân, không quấy nhiễu dân. Để gây lòng tin cậy, yêu mến của nhân dân. Thực hiện quân với dân một ý chí”.


Thật vậy, “Quân đội ta là quân đội của nhân dân. Trong thời kỳ kháng chiến, quân đội thi đua giết giặc, để bảo vệ nhân dân, hòa bình trở lại, quân đội vừa lo học tập, vừa ra sức giúp nhân dân trong mọi việc.… Vì bộ đội luôn luôn ra sức phục vụ nhân dân, cho nên nhân dân thương yêu bộ đội như con em ruột thịt của mình”. Quân với dân như cá với nước.


Thấm nhuần lời dạy của Bác, lớp lớp thế hệ cán bộ, chiến sĩ Bộ đội Biên phòng nói chung và Bộ đội Biên phòng tỉnh Bình Phước nói riêng đã luôn xác định “Đồn là nhà, biên giới là quê hương, đồng bào các dân tộc là anh em ruột thịt”. Thường xuyên “bám trụ, bám dân, bám địa bàn”, thực hiện “cùng ăn, cùng ở, cùng làm, cùng nói tiếng dân tộc” để bảo vệ dân, bảo vệ biên giới. Thông qua việc thực hiện chức năng đội quân lao động sản xuất, những năm qua BĐBP tỉnh đã triển khai thực hiện ngày càng nhiều những mô hình dân vận khéo; tiêu biểu có thể kể đến như: Nâng bước em tới trường, con nuôi đồn biên phòng, xuân biên phòng ấm lòng dân bản, tháng ba biên giới, BĐBP chung sức xây dựng nông thôn mới, bò giống cho người nghèo, ngân hàng bò giống, vì sức khỏe cộng đồng, mái ấm cho người nghèo nơi biên giới… đã và đang góp phần xây dựng “thế trận lòng dân” vững chắc nơi biên giới. Ngoài chức năng là lực lượng chuyên trách trong quản lý bảo vệ chủ quyền lãnh thổ, an ninh biên giới, Bộ đội biên phòng còn đảm nhận nhiều vai trò khác nhau nhằm đảm bảo an ninh, an sinh và an toàn biên giới, cũng như trở thành chỗ dựa vững chắc cho người dân.


Chỉ tính riêng từ năm 2016 đến 2022, cán bộ chiến sĩ Bộ đội Biên phòng Bình Phước đã xây dựng gần 432 ngôi nhà tình nghĩa, nhà đại đoàn kết với trị giá hơn 14 tỷ đồng; hỗ trợ 49 con bò giống, 45 con dê giống và nhiều phương tiện sinh kế khác với trị giá gần 1 tỷ 400 triệu đồng; tổ chức được 82 đợt khám bệnh, cấp thuốc miễn phí cho 25.799 lượt người, xây dựng 4 trạm xá Quân - dân y trị giá gần 20 tỷ đồng; tổ chức hàng nghìn ngày công lao động giúp dân xây dựng, sửa chữa nhà ở, dọn dẹp vệ sinh, làm đường giao thông nông thôn, khắc phục hậu quả thiên tai, thu hoạch mùa vụ. Nhận nuôi dưỡng, đỡ đầu hàng trăm học sinh có hoàn cảnh khó khăn, tiếp sức cho các cháu đến trường tiếp tục nuôi dưỡng ước mơ trên con đường học tập.


Đặc biệt trong những năm dịch bệnh Covid-19 xuất hiện và diễn biến phức tạp, cùng với cả hệ thống chính trị, Bộ đội Biên phòng tỉnh Bình Phước cũng đã khắc phục khó khăn, chung tay góp sức về vật chất, hàng hóa thiết yếu, trang bị y tế, lương thực thực phẩm với trị giá hàng chục tỷ đồng cho người dân khu vực biên giới. Nhân dịp các ngày lễ, tết, BĐBP tỉnh cũng trao tặng hàng nghìn suất quà cho các gia đình chính sách, người có công với cách mạng, đối tượng bảo trợ và gia đình có hoàn cảnh khó khăn, đảm bảo không ai bị bỏ lại phía sau. Bên cạnh đó, những năm qua BĐBP tỉnh cũng đã cử hàng trăm cán bộ có chuyên môn, năng lực tăng cường cho các xã biên giới, phân công đảng viên tham gia sinh hoạt tại các chi bộ thôn ấp, phụ trách, giúp đỡ các hộ gia đình ở khu vực biên giới.


Vì thế, BĐBP đã được nhân dân gọi rất nhiều tên gọi gần gũi và thân thương khác như: Thầy giáo quân hàm xanh, thầy thuốc quân hàm xanh, người chiến sĩ văn hóa quân hàm xanh, người kỹ sư quân hàm xanh…. Bởi họ có thể khi hóa thân thành những người thầy thuốc không quản mưa nắng, ngày đêm để khám bệnh, cấp cứu cho người dân, khi hóa thân thành những người nông dân truyền đạt khoa học kỹ thuật vào sản xuất, và khi họ lại trở thành những chiến sĩ can trường trên mặt trận đấu tranh phòng chống tội phạm, bảo vệ bình yên cho nhân dân biên giới.


Khi được nhân dân tin yêu và coi là chỗ dựa tin cậy, nhân dân cũng trở thành tai, mắt, thành những cánh tay nối dài trong việc quản lý, bảo vệ chủ quyền an ninh biên giới, đấu tranh, ngăn chặn các hành vi vi phạm pháp luật, giữ vững an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội khu vực biên giới.


Có thể kể đến hàng chục những hội, nhóm, câu lạc bộ từ học sinh, thanh niên, phụ nữ đến người cao tuổi đều năng nổ, nhiệt tình tham gia, như: Câu lạc bộ phụ nữ dân tộc tham gia bảo vệ đường biên cột mốc, phụ nữ bảo vệ biên giới, tổ tự quản đường biên mốc quốc giới, điểm sáng biên giới, toàn dân tham gia bảo vệ an ninh tổ quốc.... Nhân dân đã cung cấp nhiều thông tin có giá trị cho BĐBP trong đấu tranh phòng chống tội phạm; tích cực tham gia tuần tra, phát quang, bảo vệ đường biên, mốc quốc giới.


Những việc làm thực tâm, thực lòng của cán bộ chiến sĩ BĐBP tỉnh với đồng bào biên giới đã góp phần tích cực trong tham gia củng cố hệ thống chính trị; phát triển kinh tế - xã hội, xóa đói giảm nghèo. Qua đó, củng cố lòng tin của nhân dân đối với Đảng, Nhà nước,


Quân đội, xây dựng thế trận biên phòng toàn dân trong thế trận quốc phòng toàn dân gắn với thế trận an ninh nhân dân vững chắc. Đồng thời khẳng định vững chắc thêm lời dạy của Bác “dân là gốc của nước. Nước lấy dân làm gốc” thì mọi việc ắt thành công./.

ST


DÂN LÀ GỐC - CÓ DÂN LÀ CÓ TẤT CẢ

 

“Dân là gốc” luôn là kim chỉ nam xuyên suốt lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc ta. Sức mạnh lòng dân đã đưa đất nước ta vượt qua những thác ghềnh, gian nan suốt hàng nghìn năm lịch sử.


Tư tưởng “Nước lấy dân làm gốc” của Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng được Đảng, Nhà nước ta thấu triệt, vận dụng, là cơ sở tạo nên cội nguồn sức mạnh đoàn kết, mối quan hệ mật thiết giữa Đảng với nhân dân. Đảng ra đời là vì lợi ích của nhân dân, sự lãnh đạo của Đảng là nhằm “lấy tài dân, sức dân để làm những công việc có lợi cho dân”, chứ không phải vì lợi ích của người lãnh đạo.


Trong bối cảnh đất nước đang tiếp tục phát triển và đổi mới hiện nay, “dân là gốc” tiếp tục là kim chỉ nam trong tư tưởng, phương châm hành động của Đảng, Nhà nước ta. 


Bài 1: Có dân là có tất cả


“Dân là gốc”, tức dân là nền tảng cho mọi thành tựu của một quốc gia, dân tộc. Lịch sử của đất nước cho thấy, từ thời phong kiến, triều đại nào biết thực thi chính sách an dân, lấy dân làm gốc ắt quy tụ được lòng dân, đất nước hưng thịnh, thái bình.


Đi ngược lại với điều này, đất nước rơi vào loạn lạc, bị các thế lực ngoại bang xâm lăng bờ cõi…


Sức mạnh từ nội lực nhân dân 


Bộ luật Hình thư đầu tiên của nước ta dưới triều nhà Lý công bố năm 1042 đã xác định: “Chăm lo đến đời sống người dân trăm họ, chỉnh đốn pháp luật sao cho giảm bớt nỗi khổ của dân, xóa bớt bất công trong thiên hạ”. Sự ra đời của Bộ luật Hình thư đầu tiên đã ghi nhận những thay đổi trong nhận thức của triều Lý so với các triều đại trước đó về tầm quan trọng của lòng dân đối với vận mệnh của một quốc gia. Những quyết sách quan trọng của triều Lý về chính trị, kinh tế, giáo dục, luật pháp cũng rất chú trọng chăm lo đến cuộc sống người dân. Nền tảng vững chắc ấy đã giúp triều Lý phát triển hưng thịnh trong hơn 200 năm.


Kế thừa những di sản triều Lý, triều đại nhà Trần trong hoàn cảnh đất nước bị giặc xâm lăng, bài học “lấy dân làm gốc” đã được vua tôi nhà Trần thấm nhuần, thể hiện qua Hội nghị Diên Hồng năm 1284, tập hợp được sức mạnh, thống nhất được ý chí của quân dân, nhờ đó đã ba lần đánh tan giặc Nguyên Mông hùng mạnh nhất thế giới thời đó. Một câu chuyện minh chứng cho chân lý “lấy dân làm gốc” là Hưng Đạo vương Trần Quốc Tuấn từng dốc lòng tâu vua Trần Anh Tông về kế sách giữ nước: “Khoan thư sức dân làm kế sâu rễ bền gốc, đó là thượng sách giữ nước”.


Lịch sử đã minh chứng, có dân là có tất cả, không biết dựa vào dân sẽ phải chịu thất bại. Nhà Hồ lâm vào cảnh nước mất, nhà tan, thất bại trước giặc Minh hung tàn cũng bởi không thấu triệt chân lý này. Đến thời Hậu Lê, tư tưởng “lấy dân làm gốc” được phát huy, sau 9 năm trường kỳ kháng chiến, quân dân nhà Lê đã đánh bại giặc Minh, khôi phục xã tắc. Nguyễn Trãi, khi thay mặt Lê Lợi viết “Bình Ngô đại cáo” đã nêu rõ: "Việc nhân nghĩa cốt ở yên dân". Bản Tuyên ngôn độc lập của triều Lê đã khẳng định tư tưởng vì dân và an dân. Nhà chính trị, quân sự kiệt xuất Nguyễn Trãi cũng khẳng định: “Chở thuyền là dân, lật thuyền cũng là dân”, thể hiện quan điểm quốc gia muốn tồn tại dài lâu và vững mạnh đều phải dựa vào dân, đặt mục đích yên dân lên hàng đầu, bởi dân có yên thì nước mới thịnh.


Không chỉ là tư tưởng xuyên suốt qua các triều đại phong kiến, trong công cuộc đấu tranh giành độc lập và bảo vệ đất nước của dân tộc thế kỷ XX, sức mạnh của quần chúng đã được minh chứng ngay từ những năm 1930-1940 mà đỉnh cao là Xô viết Nghệ-Tĩnh của công nhân, nông dân Nghệ An và Hà Tĩnh.


Dưới sự lãnh đạo của Đảng, hàng triệu người dân đang sống trong cảnh lầm than nô lệ đã được khích lệ, gắn kết với nhau để nhất tề đứng lên. Tinh thần ấy đã làm nên thành công cuộc Tổng khởi nghĩa Tháng Tám năm 1945, lật đổ chế độ thực dân - phong kiến trên đất nước ta, dẫn đến sự ra đời của Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, mở ra kỷ nguyên mới của dân tộc, kỷ nguyên độc lập dân tộc, gắn liền với chủ nghĩa xã hội.


Bản Tuyên ngôn độc lập được Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc tại Quảng trường Ba Đình lịch sử có đoạn: “Tất cả mọi người đều sinh ra bình đẳng. Tạo hóa cho họ những quyền không ai có thể xâm phạm được, trong những quyền ấy, có quyền được sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc”; “Người ta sinh ra tự do và bình đẳng về quyền lợi, và phải luôn luôn được tự do và bình đẳng về quyền lợi”. Đây chính là khát vọng cháy bỏng, là mục tiêu sống của mỗi con người. Bài học nằm lòng “lấy dân làm gốc” của cha ông đến thời đại Hồ Chí Minh tiếp tục là ngọn đuốc soi đường.


Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng luôn đặc biệt coi trọng sức mạnh của nhân dân. Người khẳng định: “Trong bầu trời không gì quý bằng nhân dân”, “Trong thế giới không gì mạnh bằng lực lượng đoàn kết của nhân dân”, “Dân là gốc của một nước, nước lấy dân làm gốc”, “Gốc có vững, cây mới bền, xây lầu thắng lợi trên nền nhân dân”.


Sau Cách mạng Tháng Tám, đất nước bắt tay vào thực hiện nhiệm vụ vừa kháng chiến, vừa kiến quốc, quyết giữ vững nền độc lập dân tộc, đưa kháng chiến đi đến thắng lợi hoàn toàn. Ở cuộc kháng chiến đó, có những dân công hỏa tuyến, những bà mẹ Việt Nam ngày đêm đào hầm nuôi giấu cán bộ, những nắm gạo sẻ chia của từng gia đình được gom lại, giúp bộ đội ta có thêm sức mạnh, niềm tin để vững bước vào trận đánh lớn. Đó chính là minh chứng rõ nét nhất cho ý chí và sức mạnh của tinh thần đoàn kết toàn dân tộc, cũng là một trong những nhân tố quyết định để làm nên một Điện Biên Phủ “lừng lẫy năm châu, chấn động địa cầu”. Sức mạnh từ nội lực nhân dân một lần nữa làm nên đỉnh cao Đại thắng mùa Xuân năm 1975, non sông thu về một mối.


Có thể thấy, tôn trọng, phát huy quyền làm chủ, chăm lo đời sống nhân dân là sợi chỉ đỏ xuyên suốt trong tư tưởng Hồ Chí Minh và trong sự lãnh đạo của Đảng. Có dân là có tất cả đã trở thành phương pháp luận, phương châm hoạt động cách mạng của Người: “Dễ mười lần không dân cũng chịu, khó trăm lần dân liệu cũng xong”...


Nhân dân là trung tâm, là chủ thể


Trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, đổi mới đất nước, Đảng, Nhà nước ta luôn lấy nhân dân là trung tâm, là chủ thể. Tại Đại hội VI của Đảng, một trong bốn bài học lớn được Đảng rút ra trong toàn bộ hoạt động của mình là Đảng phải quán triệt tư tưởng “lấy dân làm gốc”, xây dựng và phát huy quyền làm chủ của nhân dân lao động. Bài học này tiếp tục được quán triệt sâu sắc trong các kỳ Đại hội VII và Đại hội VIII của Đảng.


Đánh giá quá trình đổi mới, Đại hội IX của Đảng một lần nữa khẳng định: Đổi mới phải dựa vào nhân dân, vì lợi ích của nhân dân. Đến Đại hội Đảng lần thứ XII, một trong năm bài học mà Đại hội đúc kết là: “Trong mọi công việc của Đảng và Nhà nước, luôn xác định “Dân là gốc”, thật sự tin tưởng, tôn trọng và phát huy quyền làm chủ của nhân dân; kiên trì thực hiện đúng nguyên tắc “Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng”, nhân dân là trung tâm, là chủ thể của công cuộc đổi mới; mọi chủ trương, chính sách phải thực sự xuất phát từ nguyện vọng, quyền và lợi ích chính đáng của nhân dân.


Tại Đại hội XIII, tư tưởng dân là gốc đã được đúc kết thành bài học riêng, với những nguyên tắc cơ bản, đồng thời tiếp tục được phát triển bổ sung. Theo đó, để phát huy quyền làm chủ của nhân dân, cùng với thực hiện dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, văn kiện Đại hội nhấn mạnh việc dân giám sát và dân thụ hưởng. 


Đặc biệt, tại Hiến pháp năm 2013 - văn bản chính trị, pháp lý cao nhất của đất nước - cụm từ “nhân dân” được viết hoa một cách trang trọng, điều mà các bản Hiến pháp trước đó chưa thể hiện đã cho thấy sự tôn vinh của Đảng, Nhà nước đối với nhân dân - chủ thể của đất nước, đồng thời khẳng định bản chất Nhà nước do dân, vì dân và tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân.


Theo nguyên Ủy viên Ủy ban Thường vụ Quốc hội, nguyên Chủ nhiệm Ủy ban Pháp luật của Quốc hội Phan Trung Lý - người trực tiếp tham gia vào quá trình sửa đổi Hiến pháp, từ khi nghiên cứu chủ trương sửa đổi đến khi Hiến pháp năm 2013 được thông qua, hai chữ nhân dân được viết hoa, khẳng định mạnh mẽ quan điểm “lấy dân làm gốc”. Nhân dân là chủ thể của Hiến pháp, chủ thể của quyền lực Nhà nước. Tầm vóc của Hiến pháp, sức sống của Hiến pháp cũng chính từ hai chữ “Nhân dân” đó.


Thông điệp mà Đảng, Nhà nước và nhân dân ta muốn khẳng định đến toàn thể nhân dân và bạn bè quốc tế rằng, ở Việt Nam, mọi chủ trương, chính sách đều xuất phát từ nguyện vọng, quyền và lợi ích chính đáng của nhân dân. Đất nước ta vì thế mà đạt được những thành tựu to lớn có ý nghĩa lịch sử, “chưa bao giờ có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế như ngày nay”. Thành quả này thuộc về nhân dân.


Qua đại dịch COVID-19, điều này càng được khẳng định mạnh mẽ hơn bao giờ hết. Quan điểm “vì dân” được thể hiện xuyên suốt trong chiến lược của Đảng, Nhà nước về phòng, chống đại dịch COVID-19. Với một đất nước đang nỗ lực vươn lên, rất nhiều khó khăn phía trước, nhưng trong mọi đường lối của Đảng, sự điều hành của Nhà nước đều trước sau như một, chấp nhận thiệt hại về kinh tế nhưng bằng mọi giá, phải bảo vệ tính mạng nhân dân, đảm bảo an sinh xã hội. Khó có thể kể hết ra đây những chỉ đạo, những quyết sách kịp thời trong hơn hai năm qua để hỗ trợ người dân vượt qua đại dịch, hay phục hồi kinh tế đất nước. Tuy là một nước còn nhiều khó khăn, nhưng Việt Nam là 1 trong 6 nước có tỷ lệ bao phủ vaccine phòng COVID-19 cao nhất thế giới.


Khẳng định "dân là gốc" tiếp tục là tư tưởng, phương châm hành động của Đảng, Nhà nước ta, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng mới đây đã nêu rõ, cán bộ, đảng viên phải tôn trọng nhân dân, gắn bó mật thiết với nhân dân, học hỏi nhân dân, hết lòng, hết sức phục vụ nhân dân, chịu sự giám sát của nhân dân; phát huy sức mạnh to lớn của nhân dân trong sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc, giữ gìn an ninh, trật tự, phòng, chống tham nhũng, tiêu cực. “Phải kiên quyết loại bỏ thái độ bàng quan, vô cảm trước những bức xúc của nhân dân; kiên quyết loại bỏ mọi hành vi lạm dụng, lợi dụng quyền lực để xâm phạm lợi ích hợp pháp, chính đáng của nhân dân”, Tổng Bí thư nhấn mạnh./.

ST


THIẾT CHẾ VĂN HÓA, THỪA HAY THIẾU?

 

Ngày 12.5, Ủy ban Văn hóa, Giáo dục sẽ phối hợp tổ chức Hội thảo Văn hóa năm 2024 chủ đề “Chính sách và nguồn lực cho phát triển thiết chế văn hóa, thể thao”. Báo Đại biểu Nhân dân xin giới thiệu một số bài viết cung cấp các góc nhìn xung quanh chủ đề này.


Chúng ta còn thiếu rất nhiều thiết chế văn hóa đủ tiêu chuẩn để tổ chức các sự kiện lớn, mang tầm khu vực và quốc tế, được tổ chức và vận hành một cách chuyên nghiệp, nhưng lại thừa những thiết chế không đáp ứng được các tiêu chuẩn này.


Nhà văn hóa thành… “nhà văn khóa”


Năm 2013, Thủ tướng Chính phủ đã phê duyệt Quy hoạch tổng thể phát triển hệ thống thiết chế văn hóa, thể thao cơ sở giai đoạn 2013 - 2020, định hướng đến năm 2030. Nhờ đó, đến nay, hệ thống thiết chế văn hóa cơ sở đã từng bước được hoàn thiện nhằm thực hiện hiệu quả công tác tuyên truyền, phục vụ các nhiệm vụ chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội.


Tuy nhiên, chúng ta còn thiếu rất nhiều thiết chế văn hóa đủ tiêu chuẩn để tổ chức các sự kiện lớn, mang tầm khu vực và quốc tế, được tổ chức và vận hành một cách chuyên nghiệp, nhưng lại thừa những thiết chế không đáp ứng được các tiêu chuẩn này.


Có nhiều lý do, trong đó có những lý do do lịch sử của nó. Đó là việc các thiết chế đã được xây dựng từ lâu, với thiết kế, chức năng và cả công năng sử dụng phù hợp với một thời kỳ lịch sử cụ thể. Khi đó chúng ta chưa hình dung được sự phát triển khoa học - công nghệ mạnh mẽ như ngày hôm nay. Chúng ta cũng chưa đủ nguồn lực để có thể tạo ra những cơ sở vật chất xứng tầm, chưa kể tư duy quản lý, tổ chức các hoạt động ở các thiết chế văn hóa cũng rất khác.


Dù vậy, cũng phải khẳng định rằng, các thiết chế văn hóa đó đã hoàn thành sứ mệnh lịch sử của mình, đáp ứng nhu cầu văn hóa, văn nghệ, thể dục, thể thao của Nhân dân trong những năm tháng khó khăn của đất nước, giúp chúng ta có những thành tựu nhất định trong quá trình phát triển văn hóa ở cơ sở.


Tuy nhiên, những thành tựu ở quá khứ cũng không khỏa lấp được những vấn đề bức xúc của hiện đại. Đã khoảng 20 năm nay, các thiết chế văn hóa ở cơ sở gặp rất nhiều khó khăn.


Nhiều nhà văn hóa thành “nhà văn khóa”, vì chủ yếu khóa cửa, không có nhiều sinh hoạt, chủ yếu là khoảng sân dành cho các hoạt động thể dục, thể thao, còn hoạt động của nhà văn hóa liên quan đến sinh hoạt chi bộ, tổ dân phố, người cao tuổi... Tương tự như vậy là số phận hẩm hiu của thư viện hay bảo tàng ở nhiều địa phương, hay các công viên bị bỏ hoang, không người chăm sóc, hoặc khóa cửa để hạn chế người vào…


Dù chúng ta đều biết, về lý thuyết, các thiết chế văn hóa là các không gian công cộng, dành cho cộng đồng, là nơi giao lưu văn hóa, văn nghệ, gắn kết cộng đồng, lan tỏa những giá trị văn hóa, nhưng một khi những mục đích căn bản đó không đạt được, thì đây là một sự lãng phí rất lớn.


Điều này càng trở nên lãng phí hơn khi chúng ta vẫn quan niệm, sử dụng cách quản lý và tổ chức hoạt động cho các thiết chế theo kiểu cũ.


Bất kỳ dự án nào, bằng cách thể hiện sự quan tâm đến văn hóa, đều có hạng mục xây dựng các thiết chế như nhà văn hóa, công viên, thậm chí thư viện, rạp chiếu phim... mà chưa thực sự quan tâm đến việc làm cách nào để các thiết chế này hoạt động hiệu quả.


Cần có tư duy khác


Trong xu thế các phương tiện giải trí ngày càng đa dạng, phong phú, hấp dẫn, tư nhân đầu tư các khu vui chơi giải trí đáp ứng nhu cầu, yêu cầu và tiêu chuẩn cao của người dân, còn các cơ quan, tổ chức Nhà nước vẫn phải thực hiện tinh giản biên chế, thì việc quản lý và tổ chức hoạt động cho các thiết chế văn hóa theo mô hình cũ thực sự đã gây ra sức cản, độ ỳ rất lớn đối với các thiết chế văn hóa của Nhà nước.


Hãy tưởng tượng rằng, cán bộ văn hóa ở cơ sở chỉ quan tâm đến giờ mở cửa, đóng cửa của nhà văn hóa, thư viện, bảo tàng… mà không cần quan tâm đến xây dựng thương hiệu cho các hoạt động của mình, phát triển khán giả, thiếu những kỹ năng kinh doanh cần thiết để các thiết chế có thể trở nên sinh động, hấp dẫn, thì làm sao các thiết chế này có thể thu hút sự quan tâm của Nhân dân, cũng như đầu tư của Nhà nước?


Tôi thường chất vấn các cơ quan hữu quan, các địa phương về việc đầu tư ít ỏi cho các thiết chế văn hóa, câu trả lời thường xuyên mà tôi nhận được là đầu tư không hiệu quả, còn nhiều thiết chế văn hóa dư thừa, lãng phí... Đây đúng là vấn đề rất khó xử đối với những người yêu văn hóa. Nếu giải trình về đầu tư không hiệu quả có thể không quá khó, vì đầu tư cho văn hóa khó có thể đong đếm như kinh tế (không ai đong đếm cảm giác hạnh phúc khi xem một bộ phim, đọc một câu chuyện, chơi một trận bóng đá...) và tác động của các hoạt động văn hóa có thể lan tỏa sang các lĩnh vực kinh tế - xã hội khác (cần phải tính cho văn hóa), thì việc lãng phí các thiết chế văn hóa là một bài toán khó giải hơn.


Cần có tư duy khác về phát triển thiết chế văn hóa như chuyển đổi mô hình đầu tư công, quản trị tư, hợp tác công tư, sự tham gia chủ động và tích cực của cộng đồng, hay việc áp dụng các kỹ năng kinh doanh... Đặc biệt là cần có nguồn nhân lực phù hợp thì mới giúp có những chuyển biến căn bản cho các thiết chế văn hóa. Muốn có được điều này, chúng ta lại cần có môi trường thể chế, chính sách hỗ trợ để toàn xã hội có thể tham gia đầu tư, xây dựng, quản lý, vận hành các thiết chế văn hóa. Đó là những thay đổi liên quan đến pháp luật về đất đai, thuế, đầu tư theo hình thức đối tác công - tư, quản lý sử dụng tài sản công...


Những bài toán này lớn và khó, nhưng rất cần sớm có lời giải. Đặc biệt, rà soát, nghiên cứu, hoàn thiện cơ chế, chính sách phát triển hệ thống thiết chế văn hóa bảo đảm tính đồng bộ, thống nhất, khả thi; hoàn thiện các chính sách về công tác quy hoạch, đầu tư, xây dựng, chế độ đãi ngộ đối với đội ngũ cán bộ, người lao động công tác tại hệ thống thiết chế văn hóa./.

ST


 PHÁT HUY VAI TRÒ CỦA LỰC LƯỢNG TÁC CHIẾN KHÔNG GIAN MẠNG TRONG NHIỆM VỤ BẢO VỆ TỔ QUỐC

 

Trước sự phát triển mạnh mẽ của chiến tranh thông tin, chiến tranh mạng và âm mưu, thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch, đòi hỏi lực lượng tác chiến không gian mạng cần nắm chắc chức năng, nhiệm vụ, tiếp tục phát huy vai trò nòng cốt thực hiện thắng lợi nhiệm vụ bảo vệ chủ quyền quốc gia trên không gian mạng, góp phần quan trọng cùng các lực lượng bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.


Lực lượng tác chiến không gian mạng là bộ phận quan trọng của Quân đội nhân dân Việt Nam, có chức năng, nhiệm vụ bảo vệ hệ thống thông tin quân sự, quốc phòng; tham gia bảo vệ hệ thống thông tin quan trọng của quốc gia; sẵn sàng đáp trả đối phương, bảo vệ vững chắc chủ quyền quốc gia trên không gian mạng. Mặc dù mới thành lập theo yêu cầu, nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới, nhưng lực lượng tác chiến không gian mạng luôn nêu cao cảnh giác; trau dồi tinh thông nghiệp vụ; chủ động khắc phục khó khăn; đoàn kết, sáng tạo, hoàn thành thắng lợi các nhiệm vụ, khẳng định vai trò nòng cốt trong sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc trên không gian mạng.


Trên cơ sở quán triệt sâu sắc các nghị quyết, chỉ thị của Đảng về bảo vệ Tổ quốc, trọng tâm là Nghị quyết số 29-NQ/TW, ngày 25/7/2018 của Bộ Chính trị (khóa XII) về “Chiến lược bảo vệ Tổ quốc trên không gian mạng”, Đảng ủy, Bộ Tư lệnh 86 triển khai đồng bộ, toàn diện các chủ trương, giải pháp nâng cao hiệu quả tác chiến trên không gian mạng và đạt được nhiều kết quả quan trọng. Công tác xây dựng, phát triển lực lượng, quy hoạch, bảo đảm vũ khí, trang bị,... được lãnh đạo, chỉ đạo, triển khai thực hiện nghiêm túc, chặt chẽ ở các cấp; hiệu lực, hiệu quả công tác tham mưu, quản lý nhà nước đối với nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc trên không gian mạng không ngừng được nâng cao. Việc xây dựng, phát triển, ứng dụng công nghệ thông tin, c.h.u.y.ể.n đ.ổ.i s.ố, quản lý, bảo vệ an ninh, an toàn mạng được chú trọng; năng lực đấu tranh phòng, chống quan điểm sai trái thù địch, chiến tranh thông tin, chiến tranh mạng từng bước được nâng cao, chủ quyền quốc gia trên không gian mạng được bảo vệ vững chắc1. Công tác nghiên cứu, phát triển khoa học, công nghệ thông tin, an ninh mạng quân sự, quốc phòng và hợp tác quốc tế ngày càng đi vào chiều sâu, nền nếp, hiệu quả, góp phần nâng cao chất lượng tổng hợp, sức mạnh chiến đấu của Quân đội trong tình hình mới.


Thời gian tới, nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc nói chung, trên không gian mạng nói riêng đặt ra yêu cầu rất cao, trong khi lực lượng, phương tiện tác chiến trên môi trường này còn hạn hẹp. Các thế lực thù địch đẩy mạnh chống phá; cạnh tranh chiến lược, chiến tranh thông tin, chiến tranh mạng cũng như việc làm chủ không gian mạng giữa các cường quốc ngày càng quyết liệt,... đòi hỏi lực lượng tác chiến không gian mạng cần phát huy vai trò nòng cốt, thực hiện đồng bộ, hiệu quả các nội dung, giải pháp, bảo vệ vững chắc Tổ quốc trong mọi tình huống.


Trước hết, tập trung nâng cao hiệu lực, hiệu quả công tác tham mưu, quản lý nhà nước về bảo vệ Tổ quốc trên không gian mạng. Trên cơ sở rút kinh nghiệm những tồn tại, hạn chế chỉ ra trong tổng kết 05 năm thực hiện Nghị quyết số 29-NQ/TW về “Chiến lược bảo vệ Tổ quốc trên không gian mạng”, lực lượng tác chiến không gian mạng toàn quân, trực tiếp là Bộ Tư lệnh 86 tiếp tục nâng cao chất lượng nghiên cứu, đánh giá, dự báo tình hình, nhất là các phương thức tác chiến thông tin, điện tử, không gian mạng trong các cuộc chiến tranh gần đây trên thế giới; âm mưu, thủ đoạn, phương pháp hoạt động chống phá, tấn công mới của các thế lực thù địch, các loại tội phạm mạng; lực lượng, phương tiện, khả năng phản ứng, xử lý, tác chiến, các yếu tố tác động, cản trở nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc trên không gian mạng cả trong thời bình và thời chiến, v.v. Trên cơ sở đó, đề xuất Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng tham mưu với Đảng, Nhà nước hoạch định chủ trương, đối sách, phương án xử trí kịp thời, hiệu quả các tình huống, không để bị động, bất ngờ. Trong đó, tập trung tham mưu các giải pháp nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý không gian mạng bằng cơ chế, chính sách, pháp luật gắn với sử dụng biện pháp kinh tế, hành chính và giáo dục, thuyết phục. Thường xuyên củng cố, kiện toàn bộ máy quản lý nhà nước về công nghệ thông tin, viễn thông, an toàn thông tin, an ninh mạng và tác chiến không gian mạng. Xây dựng, hoàn thiện cơ chế phối hợp trao đổi, chia sẻ thông tin và quy trình phối hợp xử lý các tình huống trên không gian mạng với các ban, bộ, ngành Trung ương và địa phương. Cụ thể hóa, triển khai thực hiện đồng bộ, hiệu quả các nghị quyết, kết luận, nghị định, chiến lược, luật,… liên quan nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc trên không gian mạng, nhất là Nghị định số 01/2023/NĐ-CP, ngày 15/8/2023 của Chính phủ Quy định biện pháp thực hiện nhiệm vụ quốc phòng trên không gian mạng. Siết chặt quản lý, tăng cường kiểm tra, giám sát, phát hiện, phối hợp ngăn chặn, xử lý kịp thời thông tin xấu độc, hành vi vi phạm pháp luật trong hoạt động quản lý, cung cấp, sử dụng dịch vụ Internet và thông tin trên mạng, nhất là các doanh nghiệp cung cấp dịch vụ thông tin xuyên biên giới. Nâng cao năng lực tham mưu, quản lý nhà nước của cơ quan chức năng và chính quyền các cấp, góp phần bảo đảm an toàn, an ninh mạng và hoạt động tác chiến không gian mạng.


Hai là, xây dựng, phát triển lực lượng tác chiến không gian mạng ngang tầm nhiệm vụ. Để hoàn thành tốt nhiệm vụ trong bối cảnh Quân đội đang đẩy mạnh điều chỉnh lực lượng theo hướng “tinh, gọn, mạnh”, các cơ quan, đơn vị thuộc lực lượng tác chiến không gian mạng cần tiếp tục, quán triệt, thực hiện hiệu quả Nghị quyết số 05-NQ/TW, ngày 17/01/2022 của Bộ Chính trị; Nghị quyết số 230-NQ/QUTW, ngày 02/4/2022 của Quân ủy Trung ương về tổ chức Quân đội nhân dân Việt Nam giai đoạn 2021 - 2030 và những năm tiếp theo gắn với thực hiện Nghị định số 98/2015/NĐ-CP, ngày 19/10/2015 của Chính phủ về Tổ chức, hoạt động của lực lượng tác chiến không gian mạng, v.v. Tập trung xây dựng lực lượng tác chiến không gian mạng cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại; lực lượng bảo đảm an toàn, an ninh mạng hiện đại, chuyên nghiệp, có chất lượng cao “thực sự trung thành, kỷ luật, trí tuệ, nhạy bén, hiệu quả, để đủ sức mạnh chiến đấu và chiến thắng, bảo vệ chủ quyền quốc gia trên không gian mạng”. Trong đó, chú trọng kiện toàn tổ chức, biên chế, xây dựng hệ thống tổ chức chỉ huy vững mạnh gắn với xây dựng hệ thống tổ chức đảng trong sạch, vững mạnh tiêu biểu, các tổ chức quần chúng, đoàn thể vững mạnh xuất sắc; nghiên cứu hoàn thiện các đề án, đề tài chuyên sâu về phát triển tổ chức, biên chế, duy trì hoạt động lực lượng tác chiến không gian mạng chuyên trách, bảo đảm đầy đủ, đồng bộ, thống nhất trong toàn quân; trang bị vũ khí, phương tiện chuyên ngành hiện đại. Tổ chức huấn luyện, giáo dục, đào tạo xây dựng nguồn nhân lực chất lượng cao; tăng cường luyện tập, diễn tập các phương án tác chiến không gian mạng độc lập và tác chiến không gian mạng trong các loại hình tác chiến, bảo đảm cho Tổ quốc luôn giành thế chủ động, không bị bất ngờ trước mọi tình huống trên không gian mạng. Tiếp tục xây dựng, mở rộng, phát huy vai trò đấu tranh của lực lượng kiêm nhiệm trên không gian mạng trong toàn quân, toàn quốc, nhất là l.ự.c l.ư.ợ.n.g 4.7. Coi trọng đầu tư bảo đảm đồng bộ hệ thống hạ tầng kỹ thuật, cơ sở dữ liệu quốc gia, phương tiện công nghệ thông tin hiện đại; hoàn thiện hệ thống tự động hóa chỉ huy; tích cực nghiên cứu, phát triển khoa học, công nghệ và hợp tác quốc tế, góp phần nâng cao sức mạnh chiến đấu, hoàn thành thắng lợi mọi nhiệm vụ được giao.


Ba là, phát huy vai trò nòng cốt, chuyên trách trong đấu tranh, bảo vệ chủ quyền quốc gia trên không gian mạng. Đây là vấn đề cốt lõi nhằm phát huy mọi tiềm năng, thế mạnh, tạo sức mạnh tổng hợp giành thắng lợi trong tác chiến ở môi trường mới, đặc thù nhưng rất quan trọng này. Vì thế, lực lượng tác chiến không gian mạng cần tiếp tục bám sát phương châm: “Trinh sát kịp thời, ngăn chặn hiệu quả, phòng thủ vững chắc” triển khai đồng bộ các phương án trinh sát, phòng thủ, tấn công đáp trả, bảo vệ an toàn hệ thống thông tin quân sự, quốc phòng và hệ thống thông tin quốc gia. Tăng cường các biện pháp nghiệp vụ chuyên ngành quản lý, giám sát, phát hiện, ứng cứu, ngăn chặn, xử lý kịp thời các lỗ hổng bảo mật, phần mềm gián điệp, mã độc; vô hiệu hóa hoạt động tấn công mạng, tội phạm công nghệ cao lợi dụng không gian mạng phá hoại nền tảng tư tưởng của Đảng, cũng như thực hiện các hành vi trái pháp luật, xâm phạm an ninh quốc gia trên không gian mạng. Tích cực tuyên truyền, giáo dục nâng cao nhận thức, ý thức, trách nhiệm của lực lượng tác chiến không gian mạng chuyên trách toàn quân và lực lượng kiêm nhiệm rộng rãi; đẩy nhanh tiến trình c.h.u.y.ể.n đ.ổ.i s.ố trên phạm vi cả nước, xây dựng hạ tầng thông tin quốc gia, quốc phòng, an ninh hiện đại, đồng bộ; ưu tiên phát triển hệ thống công nghệ thông tin, vũ khí mạng bảo vệ hạ tầng trọng yếu của quốc gia và của quốc phòng, an ninh. Kết hợp tuyên truyền, giáo dục lịch sử, văn hóa dân tộc, xây dựng văn hóa lành mạnh với đẩy mạnh đấu tranh, ngăn chặn văn hóa độc hại, bảo vệ vững chắc nền văn hóa Việt Nam trên không gian mạng. Nghiên cứu hoàn thiện lý luận nghệ thuật tác chiến không gian mạng cả ở cấp chiến thuật, chiến dịch và chiến lược, phù hợp với tổ chức, biên chế, vũ khí, trang bị, phương tiện chuyên ngành hiện đại; xây dựng tiềm lực, thế trận tác chiến không gian mạng, thế trận quốc phòng toàn dân gắn với thế trận an ninh nhân dân trên không gian mạng vững chắc, hiệu quả. Nâng cao trình độ quản lý, chỉ đạo, điều hành của chỉ huy các cấp trong hoạt động tác chiến thông tin, tác chiến không gian mạng, bảo vệ vững chủ quyền quốc gia trên không gian mạng.


Bốn là, phối hợp chặt chẽ với các lực lượng, tạo sức mạnh tổng hợp hoàn thành thắng lợi nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc trên không gian mạng. Để hoàn thành nhiệm vụ nặng nề, phức tạp nhưng rất vẻ vang, lực lượng tác chiến không gian mạng tiếp tục tham mưu giúp Bộ Quốc phòng tăng cường cơ chế phối hợp chặt chẽ với Bộ Công an, Bộ Thông tin và Truyền thông thực hiện chức năng quản lý nhà nước về an toàn thông tin, an ninh mạng; phát triển không gian mạng quốc gia an toàn, rộng khắp; xây dựng văn hóa không gian mạng; ngăn ngừa các hành vi vi phạm pháp luật, lệch chuẩn, bảo vệ an toàn, lành mạnh môi trường mạng; nâng cao năng lực phòng, chống chiến tranh thông tin, chiến tranh mạng; phát triển phần mềm ứng dụng, xây dựng, hoàn thiện chính phủ điện tử, c.h.u.y.ể.n đ.ổ.i s.ố, v.v. Có cơ chế phối hợp, xây dựng huy động nguồn lực khoa học kỹ thuật và công nghệ của các cấp, ngành cho nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc trên không gian mạng. Cùng với đó, phối hợp chặt chẽ với Ban Tuyên giáo Trung ương, Ban chỉ đạo 35 các cấp, hệ thống cơ quan thông tấn báo chí trong và ngoài Quân đội xây dựng, hoàn thiện và nâng cao hiệu quả cơ chế chỉ đạo, hiệp đồng thống nhất thông tin đồng bộ, tác chiến thường trực, đa dạng, đa tuyến, tạo nền tảng vững chắc để phát huy sức mạnh tổng hợp bảo vệ chủ quyền quốc gia trên không gian mạng./. 

ST

CHIẾN THẮNG ĐIỆN BIÊN PHỦ BIỂU TƯỢNG VÀ ĐỈNH CAO CỦA VĂN HOÁ GIỮ NƯỚC VIỆT NAM

 

70 năm qua, sau Chiến thắng Điện Biên Phủ, đã có hàng nghìn công trình lớn, nhỏ, trong nước và nước ngoài nghiên cứu về chiến dịch này để cố gắng đưa ra những đánh giá đầy đủ, trọn vẹn nhất về ý nghĩa, tầm ảnh hưởng to lớn của sự kiện đối với Việt Nam và thế giới.


Rất nhiều vấn đề được làm sáng tỏ, đào sâu, cả ở tầm khái quát và ở các sự kiện, biến cố, chi tiết cụ thể từ hai phía. 


Song đến nay, có một câu hỏi mang tính lịch sử sâu sắc được đặt ra và tìm lời giải đáp trong nhiều công trình, đó là: Tại sao, nguyên nhân nào Việt Nam là một dân tộc nghèo, đất không rộng, người không đông lại làm nên chiến thắng vĩ đại mang tầm vóc thế giới? 


Tại sao nước Pháp giàu có, "binh hùng", vũ khí mạnh... lại thất bại thảm hại ở Điện Biên Phủ đã được chuẩn bị công phu, mà họ nghĩ sẽ là "cối xay thịt" quân Việt Minh?


Đã có nhiều lời giải xác đáng, khoa học, song không phải trọn vẹn. 


Chiến dịch Điện Biên Phủ là một trận đánh thuộc lĩnh vực quân sự, vì vậy, trước hết phải tìm nguyên nhân chiến thắng từ góc độ quân sự. 


Đó là khoa học quân sự, là nghệ thuật quân sự Việt Nam. 


Vậy nội hàm của học thuyết, nghệ thuật quân sự Việt Nam là gì? Tại một cuộc hội thảo quan trọng về vấn đề này, Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã khẳng định: "phải khẳng định có một học thuyết quân sự Việt Nam và tôi nghĩ rằng, theo học thuyết ấy không hề có chiến lược quân sự thuần túy, chiến lược ta bao giờ cũng là chiến lược tổng hợp, cả chính trị, quân sự, kinh tế, ngoại giao, văn hóa, một chiến lược toàn diện tổng hợp" (Đại tướng Võ Nguyên Giáp: "Những bài viết và nói chọn lọc thời kỳ đổi mới", Nxb Chính trị quốc gia - Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội, 2001, tr.444). 


Từ đó, "văn hóa" đã trở thành một nội dung, một thành tố hữu cơ trong học thuyết quân sự Việt Nam. 


Và trong một lần trao đổi với Giáo sư Phan Huy Lê, Đại tướng đã xác định: "Nghệ thuật quân sự Việt Nam là lĩnh vực thuộc phạm trù văn hóa".


Và điều đặc biệt thú vị nữa là, sau thất bại ở Điện Biên Phủ, chính tướng bại trận Henri Navarre - Tổng Chỉ huy quân Pháp ở Đông Dương - đã phải thừa nhận rằng: "Sức mạnh to lớn của Việt Minh nằm trong sức mạnh huyền thoại của dòng giống người Việt, lòng yêu nước và nhất là ý thức xã hội mà họ đã xây dựng được... 


Chính phủ Việt Minh đưa cuộc chiến vào tất cả các lĩnh vực - chính trị, tư tưởng, kinh tế, xã hội và quân sự - tạo ra một động lực hết sức mạnh mẽ" (H.Navarre: Đông Dương hấp hối (Hồi ký), Nxb Công an nhân dân, Hà Nội, 2004, tr.55). 


Tuy rất cay đắng vì thất bại, song tướng Navarre đã tìm ra được chân lý, nguyên nhân sâu xa làm nên thất bại của mình vì không hiểu được "động lực hết sức mạnh mẽ" của văn hóa quân sự Việt Nam, của văn hóa yêu nước, giữ nước của dân tộc chúng ta.


Lý giải vì sao nhân dân ta đã đánh thắng hai đế quốc to nói chung, và Chiến thắng Điện Biên Phủ nói riêng, Đại tướng Võ Nguyên Giáp chỉ rõ: "Sẽ không tìm được câu trả lời cho câu hỏi này nếu không nhìn sâu vào chiều dày lịch sử xa xưa, vào nền văn hóa dân tộc, vào truyền thống và di sản quân sự của tổ tiên..." (Võ Nguyên Giáp-sách đã dẫn, tr.150).


Đặc điểm bao trùm và sâu sắc nhất của văn hóa giữ nước - yêu nước của dân tộc ta được hình thành và phát triển hàng nghìn năm nay, như Đại tướng Võ Nguyên Giáp khẳng định là: "Bí quyết quan trọng bậc nhất là: phải thực hiện cả nước chung sức đánh giặc phải tổ chức toàn dân kháng chiến. 


Quân phải đánh giặc đồng thời dân cũng phải đánh giặc" (Võ Nguyên Giáp: Tổng tập luận văn - Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội, 2006, T.2, tr.997). 


Thử sơ lược nhìn lại một vài sự kiện lịch sử để hiểu rõ đặc trưng văn hóa giữ nước này từ xa xưa cho tới đỉnh cao là Chiến thắng Điện Biên Phủ.


Có lẽ, truyền thuyết "Thánh Gióng" là biểu hiện văn hóa đầu tiên của văn hóa giữ nước của dân tộc ta. Gióng đánh quân xâm lược một mình? Không phải. 


Ai nuôi Gióng từ một cậu bé bỗng lớn lên thành Phù Đổng? Cơm gạo của dân làng. Ai rèn đúc vũ khí (ngựa sắt, gươm sắt) cho Gióng. Dân làng. 


Thanh gươm bị gãy, vũ khí thay thế của Gióng là các cụm tre làng. Gióng đã thắng, đuổi quân xâm lược khỏi bờ cõi đất nước, song, đó chính là sức mạnh nhân dân trong Gióng đã làm nên chiến thắng. 


Đó là sức mạnh tổng hợp, tổng lực của văn hóa giữ nước của dân tộc ta. Tôi nhớ, sau Chiến thắng Điện Biên Phủ, Alain Ruscio-sử gia người Pháp đã nhận xét: "Võ Nguyên Giáp đâu phải chỉ có một mình! 


Ông có nhân dân Việt Nam cùng kề vai, sát cánh..." (G.Boudarel: Võ Nguyên Giáp, Nxb Thế giới, Hà Nội, 2012, tr.12). Thật thú vị khi có sự trùng hợp của hai hình ảnh nêu trên.


Văn hóa giữ nước huy động sức mạnh của cả dân tộc khi bị kẻ thù xâm lược là bí quyết của mọi chiến thắng. 


Tướng bại trận tại Điện Biên Phủ-De Castries đã phải thốt lên: Người ta có thể đánh bại một quân đội, chứ không thể đánh bại được một dân tộc.


Văn hóa giữ nước, bảo vệ Tổ quốc như vậy, tất yếu tạo ra nghệ thuật quân sự đặc biệt, riêng có của Việt Nam, đó là chiến tranh nhân dân, mà đặc trưng của nó là sức mạnh bắt nguồn trong lực lượng hùng hậu của nhân dân được giác ngộ và được tổ chức. 


Hoàn toàn tin vào sức mạnh chiến tranh nhân dân nên khi Thủ tướng Liên Xô (trước đây) hỏi Việt Nam sẽ lấy gì để đánh Mỹ, Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã tự tin trả lời: Nếu theo cách đánh của Liên Xô, "chúng tôi không trụ nổi 2 giờ đồng hồ", nhưng Việt Nam có cách đánh riêng của mình, cách đánh của chiến tranh nhân dân (theo thông tin của Thiếu tướng Nguyễn Hoàng Nhiên).


Thử đối chiếu hai trận quyết chiến chiến lược kết thúc chiến tranh, đánh đuổi quân xâm lược ra khỏi đất nước ta: Trận Ngọc Hồi - Đống Đa của thế kỷ 18 và trận Điện Biên Phủ giữa thế kỷ 20 sẽ cho ta thấy sức mạnh của văn hóa giữ nước và sự kế thừa, phát triển của chiến tranh nhân dân. Chỉ trong vòng hơn một tuần, người anh hùng dân tộc Quang Trung - Nguyễn Huệ đã tập hợp, tổ chức lực lượng quân đội từ trong nhân dân, nông dân hùng hậu từ miền trung ra đến phía bắc, hành quân thần tốc đánh một trận "sạch không kình ngạc" diệt 29 vạn quân Thanh, đất nước sạch bóng quân thù, kết thúc chiến tranh. 


Để chuẩn bị đánh tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ, quân và dân cả nước, từ bắc tới nam đã phối hợp tiêu diệt sinh lực địch, cô lập Điện Biên Phủ. Không chỉ có bộ đội chiến đấu ở Điện Biên Phủ mà còn hàng triệu thanh niên xung phong, dân công hỏa tuyến hành quân đem đạn dược, vũ khí, mở đường, tiếp tế hậu cần... cho chiến dịch. 


Cả nước ra trận vì trận quyết chiến chiến lược này, đúng như sau này, nhà thơ Chính Hữu và nhạc sĩ Vũ Trọng Hối đã viết thành thơ và nhạc: "Có những ngày vui sao, cả nước lên đường, xao xuyến bờ tre, từng hồi trống giục" bởi vì cả nước ra trận "đi theo ánh lửa từ trái tim mình". (Khi trận Điện Biên Phủ sắp diễn ra, tôi còn bé, nhưng vẫn nhớ như in: Gia đình tôi, lúc đó, có chín anh chị em thì ba anh đã tự nguyện đi thanh niên xung phong, ba chị đi dân công hỏa tuyến phục vụ chiến dịch, trong đó có chị chưa đến 15 tuổi. Ở nhà chỉ còn có bố mẹ già và ba đứa em nhỏ, thiếu ăn. 


Đồng cảm với những người ra trận, bà con làng xóm đã tự nguyện ùn ùn gánh ngô đến ủng hộ gia đình. Tôi nhớ, ngô chất thành đống trong nhà). 


Văn hóa giữ nước đâu còn là một khái niệm trừu tượng mà chính là những cái cụ thể, hằng ngày nhất và đặc biệt được thể hiện trong phẩm giá những con người bình thường nhất, trước hết là những người lính tình nguyện.


Ngày xưa, trong kế sách giữ nước của nhà Trần có chính sách "ngụ binh ư nông". 


Người nông dân sẵn sàng bỏ cày, bỏ cuốc, trở thành nghĩa sĩ, nghĩa binh, nghĩa quân khi có giặc xâm lược đất nước, khi có lời hiệu triệu cứu nước. "Ngụ binh ư nông" là một nét văn hóa giữ nước vô cùng độc đáo của dân tộc ta đã tồn tại từ hàng trăm năm. 


Ngày xưa, chắc chắn rằng, những người lính dũng cảm của Anh hùng dân tộc Quang Trung đều là từ nông dân. 


Ở trận Điện Biên Phủ cách đây 70 năm, có lẽ, phần lớn "chiến sĩ Điện Biên" cũng từ đồng quê mà trưởng thành, trở thành Bộ đội Cụ Hồ, thành anh hùng.


Bốn từ "Quyết chiến quyết thắng" trên lá cờ ở chiến dịch Điện Biên Phủ giúp tôi nhớ tới hai từ "Sát Thát" được viết trên tay những người lính thời Trần quyết diệt quân xâm lược và dòng chữ "Quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh" của cảm tử quân Trung đoàn Thủ đô chiến đấu bảo vệ Hà Nội hơn 60 ngày đêm năm 1946-1947. 


Đó không hề là một khẩu hiệu hô hào suông. Đó là ý chí kiên cường, quả cảm của người lính và đó chính là hành động tự nguyện của các thế hệ người lính Việt Nam quyết tâm sắt đá diệt giặc để giữ nước, bảo vệ và giải phóng Tổ quốc "dẫu cho trăm thân này phơi ngoài nội cỏ, nghìn xác này gói trong da ngựa ta cũng vui lòng". (Hịch tướng sĩ-Trần Quốc Tuấn). Và đó chính là những giá trị văn hóa bền vững và phát triển trong lịch sử dân tộc ta từ ngàn xưa đến hiện tại. 


Một dòng chảy văn hóa giữ nước không bao giờ, không thể đứt đoạn. Chiến thắng Điện Biên Phủ đã minh chứng hùng hồn cho sự thật lịch sử đó.


56 ngày đêm cực kỳ gian khổ và hy sinh trên chiến trường Điện Biên Phủ, nếu không có sự đoàn kết, gắn bó, thương yêu nhau như tình cảm ruột thịt, chắc rằng người lính không thể trụ vững. 


Ngược lại, nơi đây đã trở thành tấm gương sáng ngời của tình đồng đội, đồng chí, cán bộ với chiến sĩ. Khi được lên Điện Biên tham gia tổ chức lễ kỷ niệm 30 năm Ngày chiến thắng (1984), tôi ngỡ ngàng và xúc động khi chứng kiến những chiến sĩ Điện Biên ôm chặt nhau, khóc không thành tiếng, đứng lặng đi với những đôi mắt đỏ hoe chứa đầy nước mắt trước Nghĩa trang Liệt sĩ Đồi A1 (lúc đó, còn đơn sơ lắm). 


Một vẻ đẹp kỳ lạ trong đau thương của người lính. Nghĩa tình đồng đội, đồng chí là một giá trị văn hóa tuyệt vời của Bộ đội Cụ Hồ, mà đỉnh cao của nó là trước những thử thách vô cùng khốc liệt, nghiệt ngã ở chiến trường Điện Biên Phủ. 


Song giá trị văn hóa mới đó có nguồn gốc sâu xa trong lịch sử dân tộc, trong văn hóa giữ nước của chúng ta. Tôi nhớ đến tình cảm "phụ tử chi binh" của thời Trần, "huynh đệ chi binh" của thời Lê và "tướng sĩ một lòng phụ tử, hòa nước sông chén rượu ngọt ngào" (Bình Ngô đại cáo) có từ thời kháng chiến chống quân Minh.


Lịch sử dân tộc ta từng chịu quá nhiều đau thương mất mát, bị tàn phá, hy sinh do các cuộc chiến tranh xâm lược gây ra. Cũng chính vì thế mà dân tộc ta vô cùng yêu quý hòa bình. Vì vậy, nói văn hóa giữ nước Việt Nam không chỉ là sức mạnh chiến đấu để bảo vệ Tổ quốc, không chỉ là chiến lược, chiến thuật các trận đánh, mà còn chính là văn hóa yêu hòa bình, và không còn cách nào khác, phải chiến đấu cũng bởi vì hòa bình. 


Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã xác quyết: "Chúng tôi đã nhiều lần chứng tỏ thiện chí của mình. Nếu các ông muốn hòa bình thì sẽ có hòa bình. Còn nếu không, muốn chiến tranh thì sẽ có chiến tranh" và "Hãy tin rằng chúng tôi sẽ làm tất cả để tránh khỏi thảm họa này" (G.Boudarel-Sách đã dẫn. 

tr.235). "Đó là một cuộc chiến mà chúng tôi bắt buộc phải làm, chúng tôi là một dân tộc yêu chuộng hòa bình nhất thế giới" (B.Currey: Chiến thắng bằng mọi giá-Thiên tài quân sự Việt Nam: Đại tướng Võ Nguyên Giáp, Nxb Thế giới, Hà Nội, 2013, tr.432). 


Kẻ thù hung tàn, cường bạo đã bắt buộc chúng ta phải vào cuộc chiến để giành hòa bình cho dân tộc, song, với Đại tướng, đó phải là "một nền hòa bình trong tự do và công bằng... chứ không phải hòa bình trong nhẫn nhục, mất danh dự và nô lệ" (G.Boudarel-Sách đã dẫn. tr.74). 


Chiến thắng vĩ đại Điện Biên Phủ là biểu hiện sáng ngời của văn hóa giữ nước-văn hóa yêu hòa bình Việt Nam, bởi vì chiến đấu để "Lấy đại nghĩa mà thắng hung tàn. Lấy chí nhân mà thay cường bạo" như lời khẳng định đanh thép trong "Bình Ngô đại cáo". 


Đó là tư tưởng quân sự độc đáo Việt Nam, biết cách đánh thắng bằng bản sắc văn hóa riêng của dân tộc chúng ta. Ở chiến trường Điện Biên Phủ, chúng ta đã thực hiện trọn vẹn, hoàn hảo điều đó./.

ST


VẪN LÀ LUẬN ĐIỆU CŨ RÍCH CỦA CÁC THẾ LỰC PHẢN ĐỘNG


Trong công cuộc đổi mới đất nước Đảng ta lãnh đạo đã đạt được những thành tựu to lớn, góp phần làm thay đổi toàn diện trên tất cả các lĩnh vực. Sự phát triển đất nước được mỗi người dân Việt Nam trong nước cũng như kiều bào đang làm ăn sinh sống ở nước ngoài cảm nhận sâu sắc, bạn bè quốc tế khâm phục, không ít những người trước đây đi theo hàng ngũ kẻ thù chống lại cách mạng cũng phải thừa nhận.


Tuy nhiên, những năm qua, lợi dụng tình hình thế giới diễn biến phức tạp các tổ chức phản động người Việt lưu vong ở nước ngoài cấu kết chặt chẽ với một số lực lượng chống đối, cơ hội chính trị ở trong nước tăng cường hoạt động chống phá sự nghiệp cách mạng của nhân dân ta. Chúng tìm mọi thủ đoạn để truyền bá các quan điểm sai trái, phản động, xuyên tạc tình hình đất nước, lợi dụng những yếu kém, khuyết điểm để bác bỏ chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, làm cho cán bộ, nhân dân ta suy giảm lòng tin, hoài nghi vào con đường đi lên chủ nghĩa xã hội mà Đảng, Bác Hồ và nhân dân đã lựa chọn.


Có thể nói, sự chống phá quyết liệt nhất đều tập trung vào mặt chính trị tư tưởng. Các thế lực phản động đã huy động nhiều đối tượng viết và tán phát các loại tài liệu tuyên truyền xuyên tạc sự nghiệp đổi mới nước ta, bôi nhọ uy tín của các đồng chí lãnh đạo Đảng và Nhà nước, tẩy trừ "huyền thoại Hồ Chí Minh". Chúng sử dụng mọi hình thức, biện pháp để tuyên truyền, trong đó tập trung nhiều nhất là  lập các diễn đàn, website, blog trên mạng internet, tổ chức hội thảo, xúi giục một số thành phần viết “thư góp ý”, “hồi ký”; lợi dụng những ý kiến phản biện trong hội nghị để xuyên tạc đường lối của Đảng, chủ trương, chính sách của Nhà nước, gây chia rẽ, kích động chống đối. Chúng khai thác những vấn đề bức xúc về kinh tế, xã hội, về chủ quyền biên giới, lãnh thổ để kích động tiến hành những hoạt động biểu tình gây rối an ninh, trật tự xã hội. Chúng lập 413 tổ chức phản động ở nước ngoài, thông qua đó chuyển về Việt Nam nhiều tài liệu có nội dung chống đối, phá hoại đường lối, quan điểm, lý luận và chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước ta. Điển hình gần đây là các tổ chức phản động “Việt Tân”, “Đảng nhân dân hành động” ở Mỹ, “Tập hợp dân chủ đa nguyên” ở Pháp, “Ủy ban bảo vệ người lao động Việt Nam” ở Ba Lan…


Chúng không những trực tiếp chỉ đạo mà còn lập ra và tài trợ cho các tổ chức, cá nhân phản động người Việt lưu vong tuyên truyền, xuyên tạc sự nghiệp đổi mới đất nước ta, mà chúng còn lợi dụng hoạt động của một số tổ chức phi chính phủ ở nước ngoài vào các mục đích chính trị, can thiệp công việc nội bộ, xâm hại an ninh và chủ quyền của nước ta. Đặc biệt, chúng rất chú trọng việc hợp tác, đầu tư, tài trợ các chương trình, dự án để tìm hiểu, nghiên cứu lịch sử phát triển, phong tục tập quán...để phục vụ ý đồ móc nối, tuyển lựa, cài cắm người, thu thập tin tức, kết hợp với tăng cường tuyên truyền, ráo riết gây dựng và huy động tối đa các phương tiện thông tin đại chúng với nhiều cấp độ, đặt tại nhiều vùng lãnh thổ của một số quốc gia để chĩa mũi nhọn tuyên truyền, đánh lạc hướng dư luận, xuyên tạc đường lối, quan điểm, chính sách của Đảng, Nhà nước ta trong công cuộc đổi mới và tìm mọi cách hạ bệ lãnh tụ, nói xấu lãnh đạo Đảng và Nhà nước.


Vì thế, việc đẩy mạnh đấu tranh làm thất bại mọi âm mưu, thủ đoạn của bọn phản động thực sự là cuộc đấu tranh phức tạp. Trên cơ sở nhận diện âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch chống phá hiện nay, ở mỗi cấp trong quân đội, tổ chức đảng và người chỉ huy, chính ủy, chính trị viên cần quán triệt sâu sắc, xây dựng kế hoạch hành động cho đơn vị mình thực hiện tốt các nghị quyết, chỉ thị của Đảng trên lĩnh vực chính trị tư tưởng, văn hóa. Đó là cơ sở để đấu tranh bác bỏ các quan điểm sai trái, phản động, cùng mọi luận điệu xuyên tạc, những thông tin sai lệch của các thế lực phản đông và luôn được tiến hành một cách chủ động, tích cực, kịp thời trong quân đội ta hiện nay./.

ST


ĐẢNG CHỊU SỰ GIÁM SÁT CỦA NHÂN DÂN - GỐC VỮNG, CÂY BỀN, MUÔN SỰ ĐỀU NÊN

 

“Đảng chịu sự giám sát của nhân dân” là quan điểm nhất quán, xuyên suốt trong quá trình lãnh đạo cách mạng của Đảng ta, được khẳng định trong các cương lĩnh, nghị quyết và được thể chế, cụ thể hóa trong các quy định của Đảng và Nhà nước.


Từ lý luận đến thực tiễn sinh động, quan điểm này đã trở thành một giải pháp quan trọng nâng cao năng lực lãnh đạo, cầm quyền và sức chiến đấu của Đảng, phát huy quyền làm chủ của nhân dân, khơi nguồn sức mạnh xây dựng và phát triển đất nước.


Bài 1: Định rõ đường lối, kiên trì hoàn thiện chủ trương


Quá trình phát triển tư duy lý luận, hoàn thiện đường lối, chủ trương về phát huy quyền làm chủ của nhân dân là cơ sở chính trị và cơ sở pháp lý để các cấp ủy đảng và chính quyền chủ động, sáng tạo khi thực thi, đưa nghị quyết vào cuộc sống. Từ đường lối, chủ trương đến các chính sách, pháp luật đều hướng đến mục tiêu phát huy vai trò của nhân dân trong công tác giám sát, phản biện xã hội và thực hiện dân chủ ở cơ sở.


Chủ tịch Hồ Chí Minh, người sáng lập và rèn luyện Đảng ta luôn đề cao vai trò và quyền lực của nhân dân, tin vào khả năng và sức mạnh của nhân dân. Người chủ trương: “Việc gì cũng phải học hỏi và bàn bạc với dân chúng, giải thích cho dân chúng”; “Tin vào dân chúng. Đưa mọi vấn đề cho dân chúng thảo luận và tìm cách giải quyết” và “Dựa vào ý kiến của dân chúng mà sửa chữa cán bộ và tổ chức của ta”.


Quan điểm nhất quán, xuyên suốt


Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (năm 1991) nêu rõ: “Đảng lãnh đạo hệ thống chính trị, đồng thời là một bộ phận của hệ thống ấy. Đảng liên hệ mật thiết với nhân dân, chịu sự giám sát của nhân dân, hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật”. Từ đó đến nay, Văn kiện các Đại hội Đảng đều khẳng định: Đảng gắn bó mật thiết với nhân dân, chịu sự giám sát của nhân dân, tôn trọng và phát huy quyền làm chủ của nhân dân, dựa vào nhân dân để xây dựng Đảng. Văn kiện Đại hội XIII yêu cầu: Tổ chức có hiệu quả, thực chất việc nhân dân tham gia giám sát, đánh giá hiệu quả hoạt động của các tổ chức trong hệ thống chính trị; phẩm chất, năng lực của đội ngũ cán bộ, đảng viên.


Điều lệ Đảng được thông qua tại Đại hội VII quy định: “Đảng gắn bó mật thiết với nhân dân, tôn trọng quyền làm chủ và chịu sự giám sát của nhân dân, đoàn kết và lãnh đạo nhân dân tiến hành sự nghiệp cách mạng”. Điều lệ Đảng được thông qua tại các Đại hội VIII, IX, X, XI và hiện đang thi hành đều xác định: “Đảng Cộng sản Việt Nam là đảng cầm quyền, tôn trọng và phát huy quyền làm chủ của nhân dân, chịu sự giám sát của nhân dân; dựa vào nhân dân để xây dựng Đảng; đoàn kết và lãnh đạo nhân dân tiến hành sự nghiệp cách mạng”.


Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển năm 2011) nhấn mạnh: “xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân” là một trong tám đặc trưng của thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam, đồng thời yêu cầu: Đảng, Nhà nước có cơ chế, chính sách, tạo điều kiện để Mặt trận và các đoàn thể nhân dân hoạt động có hiệu quả, thực hiện vai trò giám sát và phản biện xã hội.


Quan điểm “Đảng chịu sự giám sát của nhân dân” đã được thể chế hóa thành các văn bản pháp luật. Hiến pháp năm 2013 hiến định tại Điều 4: “Đảng Cộng sản Việt Nam gắn bó mật thiết với Nhân dân, phục vụ Nhân dân, chịu sự giám sát của Nhân dân, chịu trách nhiệm trước Nhân dân về những quyết định của mình”, đồng thời hiến định chức năng giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, tại Điều 9.


Phát triển lý luận, hoàn thiện chủ trương


Những nỗ lực trong thể chế hóa, cụ thể hóa quan điểm “Đảng chịu sự giám sát của nhân dân” vừa phát huy tốt chế độ dân chủ đại diện, nâng cao chất lượng, hiệu lực, hiệu quả hoạt động của Quốc hội, Chính phủ, HĐND và UBND các cấp, vừa thực hiện hiệu quả chế độ dân chủ trực tiếp ở cơ sở.


Văn kiện Đại hội VI của Đảng đã đề ra cơ chế “Đảng lãnh đạo, nhân dân làm chủ, Nhà nước quản lý” và yêu cầu “thực hiện có nền nếp khẩu hiệu dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra”. Tuy nhiên, trong thời gian khá dài, khẩu hiệu này vẫn chưa có cơ chế cụ thể để triển khai thực hiện. Đến Đại hội VIII, Đảng ta xác định “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra” là phương châm trong việc xây dựng và thực hiện các chủ trương, chính sách lớn của Đảng và Nhà nước.


Chỉ thị số 30-CT/TW ngày 18/2/1998 của Bộ Chính trị về xây dựng và thực hiện Quy chế dân chủ ở cơ sở được ban hành trong điều kiện “Phương châm “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra” chưa được cụ thể hóa và thể chế hóa thành luật pháp, chậm đi vào cuộc sống”. Với Chỉ thị số 30-CT/TW của Bộ Chính trị và sau đó là các nghị định của Chính phủ, pháp lệnh của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, cùng với hình thức dân chủ đại diện, người dân thực hiện các hình thức dân chủ trực tiếp ở cơ sở một cách đồng bộ với những quy định, quy chế do chính nhân dân cùng bàn bạc, thảo luận, thống nhất xây dựng và thực hiện.


Quy chế giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các đoàn thể chính trị-xã hội (theo Quyết định số 217-QĐ/TW ngày 12/12/2013 của Bộ Chính trị); Quy định về việc Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các đoàn thể chính trị-xã hội và nhân dân tham gia góp ý xây dựng Đảng, xây dựng chính quyền (theo Quyết định số 218-QĐ/TW ngày 27/12/2013 của Bộ Chính trị); Quyết định số 99-QĐ/TW, ngày 3/10/2017 của Ban Bí thư về “Hướng dẫn khung để các cấp ủy, tổ chức đảng trực thuộc Trung ương tiếp tục phát huy vai trò của nhân dân trong đấu tranh ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ”; Quy định số 124-QĐ/TW ngày 2/2/2018 của Ban Bí thư về “Giám sát của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các đoàn thể chính trị-xã hội và nhân dân đối với việc tu dưỡng, rèn luyện đạo đức, lối sống của người đứng đầu, cán bộ chủ chốt và cán bộ, đảng viên”... là những quy định quan trọng của Đảng và đều đã khẳng định giám sát, phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các đoàn thể chính trị-xã hội có vai trò, ý nghĩa quan trọng trong việc nâng cao năng lực lãnh đạo của Đảng, hiệu lực, hiệu quả của Nhà nước, chất lượng hoạt động của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các đoàn thể chính trị-xã hội.


Luật Mặt trận Tổ quốc Việt Nam năm 2015 đã có thêm một chương về hoạt động giám sát và một chương về hoạt động phản biện xã hội. Nghị quyết số 403/2017/NQLT-UBTVQH-CP-ĐCTUBTWMTTQVN ngày 15/6/2017 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Chính phủ, Đoàn Chủ tịch Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cũng quy định chi tiết các hình thức giám sát, phản biện xã hội.


Văn kiện Đại hội XIII của Đảng đã bổ sung và nhấn mạnh yêu cầu thực hiện tốt, có hiệu quả phương châm “Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng”. Các nhà nghiên cứu lý luận nhận xét, việc bổ sung 2 nội dung “dân giám sát” và “dân thụ hưởng” là sự phát triển tư duy lý luận, hoàn thiện chủ trương của Đảng về dân chủ. Theo PGS, TS Nguyễn Viết Thông, nguyên Tổng Thư ký Hội đồng Lý luận Trung ương, đây là bước tiến trong nhận thức của Đảng về vị trí, vai trò của nhân dân trong quá trình bảo vệ, xây dựng và phát triển đất nước. Luật Thực hiện Dân chủ ở cơ sở năm 2022 đã cụ thể hóa đầy đủ phương châm “Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng”.


Phó Chủ nhiệm Hội đồng tư vấn Dân chủ-Pháp luật Ủy ban Trung ương MTTQ Việt Nam Đỗ Duy Thường đánh giá, việc xây dựng và ban hành Luật Thực hiện Dân chủ ở cơ sở là sự phát triển dân chủ xã hội chủ nghĩa của nước ta. Thực hiện dân chủ ở cơ sở từ khẩu hiệu chung chung đã trở thành quy phạm pháp luật quy định cụ thể về quyền của người dân và nhân dân đã có công cụ pháp lý vững chắc để thực hiện quyền làm chủ của mình.


Chương trình hành động cụ thể, thiết thực


Nỗ lực “biến nghị quyết của Đảng thành quyết tâm của quần chúng”, Ban Thường trực Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam đã kịp thời ban hành các văn bản hướng dẫn quy trình giám sát, phản biện xã hội, hướng dẫn tổ chức và hoạt động của ban thanh tra nhân dân, ban giám sát đầu tư cộng đồng, hướng dẫn giám sát cán bộ, đảng viên và công tác cán bộ...


Đoàn Chủ tịch, Đảng đoàn, Ban Thường trực Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam đã phối hợp với các bộ, ngành sửa đổi, bổ sung, ký 4 quy chế và 13 chương trình phối hợp để xây dựng cơ chế và điều kiện bảo đảm cho hoạt động giám sát, phản biện xã hội của các địa phương, đơn vị…


Khảo sát thực tế tại nhiều địa phương đã ghi nhận sự chủ động của các cấp ủy, tổ chức đảng trong quá trình hiện thực hóa chủ trương Đảng chịu sự giám sát của nhân dân. Theo số liệu của Ban Dân vận Trung ương, ngay sau khi các Quy chế, Quy định về giám sát, phản biện xã hội và việc Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các đoàn thể chính trị-xã hội và nhân dân tham gia góp ý xây dựng Đảng, xây dựng chính quyền, các Tỉnh ủy: Bến Tre, Bình Thuận, Lai Châu, Quảng Nam, Tây Ninh, Thái Bình, Hải Dương đã ban hành Chỉ thị. Thành ủy Thành phố Hồ Chí Minh và các Tỉnh ủy: Thái Nguyên, Lào Cai đã ban hành Đề án.


Đó là những văn bản chỉ đạo triển khai đồng bộ từ tỉnh đến cơ sở xã, phường, thị trấn. Đến tháng 3/2022, có 54/63 tỉnh, thành phố đã ban hành Quy định trách nhiệm của cấp ủy, tổ chức đảng, chính quyền các cấp tiếp thu góp ý của Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể chính trị-xã hội và nhân dân. Có 52/63 tỉnh, thành phố đã ban hành Quy chế tiếp xúc đối thoại trực tiếp của người đứng đầu cấp ủy đảng, chính quyền các cấp với nhân dân. Các tỉnh còn lại đều ban hành công văn hoặc kế hoạch của cấp ủy để hướng dẫn triển khai thực hiện.


Chỉ thị của Ban Thường vụ Tỉnh ủy Quảng Bình đề ra yêu cầu đồng chí bí thư cấp ủy trực tiếp chỉ đạo công tác giám sát, phản biện xã hội. Theo Phó Chủ tịch Thường trực Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tỉnh Quảng Bình Trương Văn Hởi, trong 10 năm qua, Mặt trận Tổ quốc các cấp trong tỉnh đã tổ chức tuyên truyền hơn 10.200 buổi cho hơn 720.000 người tham dự, xây dựng 60 chuyên trang, chuyên mục, đăng tải hàng nghìn tin, bài, ảnh; cung cấp hơn 1.000 cuốn tài liệu tuyên truyền, sổ tay công tác giám sát, phản biện, góp ý cho cán bộ Mặt trận Tổ quốc các cấp.


Tháng 12/2017, Tỉnh ủy Bắc Kạn ban hành Quyết định số 1926-QĐ/TU về việc cụ thể hóa 27 biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong hệ thống chính trị. Ngay sau đó, tháng 1/2018, Tỉnh ủy ban hành Quyết định số 06-QĐ/TU quy định cấp ủy, tổ chức đảng các cấp trên địa bàn tỉnh phát huy vai trò của nhân dân trong đấu tranh ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ.


Đồng chí Ma Từ Đông Điền, Trưởng ban Dân vận Tỉnh ủy Bắc Kạn chia sẻ: Cùng với việc cụ thể hóa các quy chế, quy định về giám sát, phản biện xã hội, tham gia góp ý xây dựng Đảng và chính quyền của Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể chính trị-xã hội phù hợp tình hình thực tế địa phương, Tỉnh ủy Bắc Kạn còn quan tâm, chỉ đạo sát sao việc bố trí kinh phí cho các hoạt động này.


Quyết định số 2942-QĐ/TU ngày 30/12/2014 của Tỉnh ủy Ninh Thuận đã quy định cụ thể thời hạn mà các tổ chức đảng, cơ quan chính quyền, cán bộ, đảng viên phải trả lời tiếp thu việc góp ý của Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể chính trị-xã hội và nhân dân. Đồng chí Lê Văn Bình, Chủ tịch Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tỉnh Ninh Thuận thông tin: Các cấp ủy đảng, chính quyền ở Ninh Thuận đặc biệt quan tâm công tác thi đua, khen thưởng đối với hoạt động giám sát, phản biện xã hội. Hằng năm, cấp ủy, chính quyền đều có biểu dương, khen thưởng các tập thể, cá nhân có thành tích trong công tác này.


Trong 10 năm qua, huyện Ninh Sơn có hơn 30 tập thể và 50 cá nhân tiêu biểu thuộc Ủy ban Mặt trận Tổ quốc từ huyện đến xã, thị trấn và khu dân cư được các cấp, các ngành biểu dương, khen thưởng. Thành phố Phan Rang-Tháp Chàm khen thưởng hơn 120 tập thể và 80 cá nhân tiêu biểu thuộc Ủy ban Mặt trận Tổ quốc từ thành phố đến phường, xã và khu dân cư...


Đảng ta xác định: Mở rộng dân chủ xã hội chủ nghĩa, phát huy quyền làm chủ của nhân dân là mục tiêu, đồng thời là động lực bảo đảm cho thắng lợi của cách mạng, của công cuộc đổi mới. Liên hệ chặt chẽ với nhân dân, lắng nghe ý kiến và ủng hộ sáng kiến của nhân dân, chống quan liêu, xa dân, là một vấn đề thuộc về nguyên tắc cơ bản của đảng cầm quyền. Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ: “Đối với nhân dân, không thể lý luận suông, chính trị suông”.


Đảng chịu sự giám sát của nhân dân, tôn trọng và phát huy quyền làm chủ của nhân dân, dựa vào nhân dân để xây dựng Đảng. Từ quan điểm, chủ trương phải thể chế hóa thành chính sách, pháp luật nhưng cần phải có những biện pháp triển khai mạnh mẽ, thiết thực, đồng bộ, để tạo sự đồng thuận xã hội, phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, thực hiện tốt nhiệm vụ chính trị. “Phải đem cách nhân dân so sánh, xem xét, giải quyết các vấn đề, mà hóa nó thành cách chỉ đạo nhân dân”./.

ST


 PHẢN BÁC MỘT SỐ QUAN ĐIỂM SAI TRÁI, THÙ ĐỊCH TRÊN LĨNH VỰC TƯ TƯỞNG, LÝ LUẬN CHỐNG PHÁ ĐẠI HỘI XIV CỦA ĐẢNG


Nhận diện và đấu tranh phản bác một số quan điểm sai trái, thù địch trên lĩnh vực tư tưởng, lý luận hiện nay là biện pháp quan trọng hàng đầu trong bảo vệ nền tảng tư tưởng, đường lối, chủ trương của Đảng, đặc biệt chỉ rõ nội dung, âm mưu, thủ đoạn của chúng tập trung chống phá vào thời điểm Đại hội Đảng các cấp tiến tới Đại hội XIV của Đảng là vấn đề cấp thiết hiện nay. Trên cơ sở đó xác định một số nhiệm vụ Quân đội tham gia đấu tranh, phản bác các quan điểm sai trái thù địch trên lĩnh vực tư tưởng, lý luận góp phần bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong tình hình mới.


Kiên quyết vạch trần âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch


Hiện nay, tình hình thế giới và khu vực có nhiều diễn biến phức tạp, khó lường, bên cạnh những thời cơ, thuận lợi, nhân loại cũng phải đối mặt với không ít khó khăn, thách thức cần phải hợp tác giải quyết.


Trong nước, kinh tế có nhiều khởi sắc song còn khó khăn về nhiều mặt, chưa thể kịp thời tháo gỡ. Hạn chế, yếu kém cũ chưa được khắc phục triệt để. Khó khăn mới nảy sinh; công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng; cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng, lãng phí, nhóm lợi ích, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ đã đạt được nhiều kết quả quan trọng.


Tuy nhiên, cuộc đấu tranh chống “giặc nội xâm” vẫn còn diễn biến rất phức tạp, ngày càng tinh vi, khó nhận diện hơn; nhiệm vụ quân sự, quốc phòng, bảo vệ Tổ quốc đứng trước nhiều thách thức mới… Các thế lực phản động, cơ hội chính trị đã lợi dụng những khó khăn, yếu kém còn tồn tại để đẩy mạnh thực hiện âm mưu, thủ đoạn “diễn biến hòa bình”, chống phá Đảng, Nhà nước và chế độ ta trên tất cả các lĩnh vực, nhất là thời điểm từ nay cho đến đại hội Đảng các cấp, tiến tới Đại hội XIV của Đảng. 


Trong lĩnh vực tư tưởng, lý luận, chúng tập trung vào xuyên tạc, phủ nhận chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh trên những nguyên lý, lý luận nền tảng, như: Hình thái kinh tế - xã hội cộng sản chủ nghĩa, thời đại ngày nay và thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân, đấu tranh giai cấp, dân chủ xã hội chủ nghĩa, nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa...


Lật sử, bôi xấu lãnh tụ, xuyên tạc thân thế, sự nghiệp, tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh; xuyên tạc, vu cáo lãnh đạo cấp cao của Đảng, Nhà nước, Chính phủ, Quốc hội và các lực lượng vũ trang. Tạo dựng, bịa đặt, xuyên tạc lịch sử đấu tranh cách mạng Việt Nam trong thời đại Hồ Chí Minh, nhất là lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam, lịch sử đấu tranh giải phóng dân tộc, bảo vệ Tổ quốc, bảo vệ biên giới, chủ quyền lãnh thổ, biển đảo của Việt Nam. 


Xuyên tạc, bóp méo chủ trương,  của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước với chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, nhằm mục đích phủ nhận hoàn toàn nền tảng tư tưởng và cương lĩnh, đường lối, vai trò lãnh đạo của Đảng, luật pháp và vai trò quản lý của Nhà nước Việt Nam, phủ nhận, hướng lái, làm chệch hướng chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam.


Lợi dụng các vấn đề dân chủ, nhân quyền, dân tộc, tôn giáo, môi trường; các vấn đề kinh tế, văn hóa, xã hội, quốc phòng, an ninh và đối ngoại lớn mà Đảng, Nhà nước, Quốc hội, dư luận xã hội và nhân dân đang quan tâm nghiên cứu, tháo gỡ và giải quyết để xuyên tạc tình hình, phủ nhận thành tựu của công cuộc đổi mới, gây mâu thuẫn, bất hòa, xung đột, phá vỡ khối đại đoàn kết toàn dân tộc. 


Tuyên truyền, hướng lái, thẩm thấu các tư tưởng dân chủ tư sản, nhất là tư tưởng đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập, pháp quyền tư sản, kinh tế thị trường tư bản chủ nghĩa; truyền bá, áp đặt các giá trị “dân sinh”, “dân chủ”, “dân quyền”, “nhân quyền” tư sản; kích  động chủ nghĩa dân túy, xã hội dân sự, phong trào “bất tuân dân sự” ở Việt Nam.


Xuyên tạc tình hình đấu tranh bảo vệ nền độc lập, thống nhất, toàn vẹn chủ quyền lãnh thổ, biên giới, biển đảo của Đảng, Nhà nước và lực lượng vũ trang; phủ nhận đấu tranh bằng phương pháp hòa bình... 


Xuyên tạc, phủ nhận vai trò, cơ chế lãnh đạo của Đảng đối với Quân đội và Công an; vai trò quản lý của Nhà nước đối với quốc phòng, an ninh. Bôi nhọ truyền thống, bản chất cách mạng của Quân đội; chuyển hóa, lôi kéo cán bộ, chiến sĩ và Quân đội từ bỏ nguyên tắc Đảng lãnh đạo quân đội, thực hiện âm mưu, thủ đoạn “phi chính trị hóa” quân đội, kích động “Quân đội chỉ phục tùng Hiến pháp, pháp luật, không phục tùng sự lãnh đạo của Đảng”. 


Đặc biệt, chúng sẽ tập trung chống phá công tác chuẩn bị và tiến hành Đại hội Đảng các cấp, tiến tới Đại hội XIV của Đảng như xuyên tạc các quan điểm, mục tiêu, chủ trương, định hướng lớn nêu tại dự thảo các văn kiện Đại hội XIV của Đảng và Đại hội Đảng các cấp; xuyên tạc quan điểm, phương hướng và tình hình thực hiện chủ trương về công tác nhân sự. Tập trung tung tin sai sự thật, bôi nhọ, xuyên tạc phẩm chất, đạo đức, năng lực của các nhân sự bầu vào Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư, nhất là người đứng đầu Đảng, Nhà nước, Quốc hội, Chính phủ.


Trong công tác thông tin, tuyên truyền, chúng lợi dụng các sơ hở trong phát ngôn, báo chí, truyền thông của cá nhân, tổ chức trong nước… hòng phủ nhận, xuyên tạc, phát tán, thẩm thấu các tư tưởng, quan điểm sai trái, gây bất an, phân tâm về tư tưởng, gieo rắc sự hoài nghi, giảm sút niềm tin của nhân dân đối với Đảng, tăng thêm sự bất mãn và tinh thần chống phá Đảng, Nhà nước và chế độ xã hội chủ nghĩa ở nước ta.


Sử dụng các hình thức, thể loại văn học, bài chính luận, nghị luận, bình luận, phóng sự kết hợp với các loại công bố, tuyên bố, tuyên ngôn, thư ngỏ, thư kiến nghị, thơ văn, cắt xén hình ảnh, sử dụng trí tuệ nhân tạo (AI), video clip, nhạc chế; lấy Internet làm nền tảng, sử dụng các blog, website, dịch vụ điện tử (e-mail), các trang mạng xã hội Facebook, Zalo, các dịch vụ chat, nhắn tin, hội thoại, truyền thoại (VoIP), Twitter, Youtube, MySpace... để đăng tải, phát tán thông tin xấu độc, phản động. Chúng mở các chuyên trang, chuyên mục của tổ chức, cá nhân lập diễn đàn (forum) lôi kéo, tập hợp lực lượng; lấy các báo đài phát thanh, truyền hình ở nước ngoài làm phương tiện tiến công nhằm tạo ra các các luồng tư tưởng tiêu cực trên không gian mạng và trong xã hội, kích động các hành động biểu tình, gây rối, chống đối Đảng, Nhà nước, “bất tuân dân sự” , gây mất ổn định chính trị, trật tự, an toàn xã hội. 


Những việc cần làm ngay để bảo vệ nền tảng tư tưởng, đường lối, quan điểm của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch


Tiếp tục quán triệt sâu sắc đường lối, quan điểm của Đảng, Quân ủy Trung ương, nhất là Nghị quyết số 35-NQ/TW của Bộ Chính trị “về tăng cường bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trong tình hình mới”, nâng cao nhận thức, trách nhiệm của các cấp ủy, người chỉ huy, cơ quan chức năng các cấp, đơn vị đối với với nhiệm vụ tăng cường đấu tranh tư tưởng, lý luận trong tình hình mới. 


Nhanh chóng kiện toàn, quán triệt sâu sắc chức năng, nhiệm vụ, đưa hoạt động của Ban Chỉ đạo 35, bộ phận giúp việc của các cơ quan, đơn vị vào nền nếp và có hiệu quả cao; tập trung triển khai các chủ trương, biện pháp toàn diện, đồng bộ, thống nhất, kịp thời đạt hiệu quả thiết thực. Chủ động tham mưu với cấp ủy, tổ chức đảng cấp trên các chủ trương, giải pháp lãnh đạo, chỉ đạo tăng cường bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trong tình hình mới. 


Giữ vững, tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, vai trò quản lý của Nhà nước, giữ vững sự ổn định về chính trị, tư tưởng trong Quân đội; ban hành các văn bản chỉ đạo, thực hiện có hiệu quả các đề án, kế hoạch, hướng dẫn về tổ chức các hoạt động thông tin tuyên truyền trước, trong, sau các sự kiện chính trị quan trọng, nhất là Đại hội Đảng các cấp, tiến tới Đại hội XIV của Đảng, các vấn đề dư luận trong nước và quốc tế quan tâm; tình hình an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội trên các địa bàn chiến lược; một số vụ án, vụ việc vi phạm pháp luật, kỷ luật của cán bộ, đảng viên; kịp thời định hướng tư tưởng, dư luận trong cán bộ, chiến sĩ và nhân dân, giữ vững trận địa tư tưởng của Đảng trong Quân đội.


Tập trung làm tốt công tác giáo dục chính trị, lãnh đạo tư tưởng, giữ vững sự ổn định trong đơn vị; chủ động thông tin tích cực, đẩy mạnh tuyên truyền đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước, nhiệm vụ quân sự, quốc phòng, kịp thời phê phán các quan điểm sai trái, thù địch, cơ hội chính trị, thông tin xấu độc. 


Các cơ quan chức năng và các đơn vị tăng cường quán triệt, thực hiện nghiêm các văn bản lãnh đạo, chỉ đạo, hướng dẫn của cấp trên về đấu tranh tư tưởng, lý luận; duy trì hoạt động đấu tranh có nền nếp, hiệu quả; chủ động nhạy bén nắm tình hình, tập trung tham mưu và chỉ đạo giải quyết kịp thời các vấn đề nảy sinh; tích cực đẩy mạnh công tác thông tin, tuyên truyền trên mặt trận tư tưởng, lý luận.


Các cơ quan báo chí, phát thanh, truyền hình các cấp trong quân đội cần bám sát hơn nữa nhiệm vụ chính trị của mình, phối hợp chặt chẽ với các cơ quan báo, đài Trung ương, địa phương mở rộng các chuyên trang, chuyên mục; đa dạng hóa các hình thức thông tin, tuyên truyền, định hướng tư tưởng, dư luận kịp thời, hiệu quả.


Các nhà trường, viện, cơ quan nghiên cứu khoa học trong toàn quân nêu cao tinh thần chủ động, sáng tạo trong nghiên cứu nắm bắt âm mưu thủ đoạn chống phá mới của các thế lực thù địch, tham mưu đề xuất, triển khai đấu tranh có hiệu quả, đồng thời tích cực đổi mới, nâng cao chất lượng giáo dục, đào tạo và học tập lý luận chính trị, kiên định chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối, quan điểm của Đảng; tăng cường liên kết, phối hợp với các cơ quan chức năng của Quân đội, đẩy mạnh công tác tuyên truyền, bảo vệ vững chắc nền tảng tư tưởng của Đảng, kịp thời đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trong tình hình mới./.

ST