Thứ Bảy, 11 tháng 5, 2024

 

CHỦ TRƯƠNG, CHÍNH SÁCH CỦA ĐẢNG, NHÀ NƯỚC TA ĐỐI VỚI NGƯỜI VIỆT NAM Ở NƯỚC NGOÀI LÀ HOÀN TOÀN ĐÚNG ĐẮN

Với chủ trương, chính sách đúng đắn, công tác về người Việt Nam ở nước ngoài của nước ta đã đạt được những kết quả tích cực, góp phần phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc. Tuy nhiên, vẫn còn những tiếng nói lạc điệu, cố tình phớt lờ thực tế đó, ra sức xuyên tạc, phủ nhận chủ trương, đường lối của Đảng, cũng như kết quả về công tác đối với người Việt Nam ở nước ngoài. Trong bài viết “Nghị quyết 36 về cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài, một mốc son trong đời công tác của tôi” đăng trên các trang mạng xã hội, Nguyễn Đình Bin đã đưa ra những quan điểm phiến diện, không khách quan, phủ nhận thành tựu trong hòa hợp, đoàn kết dân tộc, phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng khi cho rằng “đất nước ta chưa hòa giải, hòa hợp được dân tộc”, “nguyên nhân của những hạn chế đó.. là do Đảng không đổi mới, độc quyền”… Đây là những luận điệu sai trái hòng cản trở quá trình hòa hợp, đoàn kết dân tộc, chống phá Đảng và sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc của nước ta.

Thứ nhất, Đảng và Nhà nước đã có nhiều chủ trương, chính sách đúng đắn đối với người Việt Nam ở nước ngoài góp phần hòa hợp, đoàn kết dân tộc.

Trong suốt quá trình lãnh đạo cách mạng, Đảng Cộng sản Việt Nam luôn quan tâm đến công tác người Việt Nam ở nước ngoài; luôn coi kiều bào ta ở nước ngoài là một bộ phận không tách rời, là một nguồn lực của cộng đồng dân tộc Việt Nam, là nhân tố quan trọng góp phần tăng cường hợp tác, hữu nghị giữa nước ta với các nước trong khu vực và thế giới. Đảng, Nhà nước và Nhân dân luôn đánh giá cao những đóng góp của kiều bào đối với sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Đảng ta không ngừng đổi mới tư duy, đề ra đường lối, chính sách đúng đắn đối với người Việt Nam ở nước ngoài, góp phần phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, hướng vào thực hiện thắng lợi sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

Ngay sau khi thành lập nước (năm 1945), Đảng, Chính phủ coi trọng việc xây dựng và phát huy khối đại đoàn kết toàn dân tộc; đã vận động, kêu gọi nhiều trí thức kiều bào ở nước ngoài về nước tham gia kháng chiến, cùng với toàn thể dân tộc thực hiện thắng lợi cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ, giành độc lập dân tộc, thống nhất đất nước. Để đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp đổi mới đất nước, trong các kỳ đại hội, Đảng ta đều đánh giá cao vai trò của người Việt Nam ở nước ngoài đối với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc; đồng thời, đề ra các chủ trương, chính sách vừa phát huy nguồn lực của kiều bào, vừa hỗ trợ để người Việt Nam ở nước ngoài có địa vị pháp lý vững chắc, phát triển kinh tế, hội nhập xã hội ở nước sở tại và tích cực đóng góp cho sự nghiệp xây dựng, bảo vệ Tổ quốc. Đặc biệt, Đảng ta đã có nghị quyết riêng về người Việt Nam ở nước ngoài: Nghị quyết số 08-NQ/TW về công tác vận động người Việt Nam ở nước ngoài; Nghị quyết số 36-NQ/TW về công tác đối với người Việt Nam ở nước ngoài. Trên cơ sở tổng kết 10 năm thực hiện Nghị quyết số 36, Bộ Chính trị ra Chỉ thị số 45-CT/TW về tiếp tục đẩy mạnh thực hiện Nghị quyết 36 và ban hành Kết luận số 12-KL/TW về công tác người Việt Nam ở nước ngoài trong tình hình mới. Quán triệt, thực hiện nghị quyết của Đảng, Chính phủ đã ban hành Nghị quyết về Chương trình hành động của Chính phủ; đề án “Phát huy nguồn lực của người Việt Nam ở nước ngoài phục vụ phát triển đất nước trong tình hình mới” cùng nhiều hoạt động thực tiễn phong phú, đa dạng khác.

Thực tế đó cho thấy, tư duy về công tác người Việt Nam luôn được Đảng ta đổi mới qua các thời kỳ lịch sử, góp phần phát huy nguồn lực của cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài, sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc trong công cuộc xây dựng và phát triển đất nước, chứ không phải “không đổi mới” như sự xuyên tạc của Nguyễn Đình Bin.

Thứ hai, công tác về người Việt Nam ở nước ngoài đã đạt được những kết quả quan trọng.

Thực tế cho thấy, dưới sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý của Nhà nước, công tác về người Việt Nam ở nước ngoài đã đạt được kết quả tích cực, mặc dù sống xa Tổ quốc, nhưng người Việt Nam ở nước ngoài luôn nuôi dưỡng, phát huy tinh thần yêu nước, tự tôn dân tộc, giữ gìn truyền thống văn hóa và hướng về cội nguồn, gắn bó với gia đình, quê hương, đất nước. Cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài đã có những đóng góp to lớn về vật chất, tinh thần và cả xương máu cho sự nghiệp giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước và trong sự nghiệp xây dựng, bảo vệ Tổ quốc ngày nay.

Hiện nay, có khoảng 6 triệu người Việt Nam ở nước ngoài đang sinh sống, lao động, học tập ở 130 quốc gia và vùng lãnh thổ, trong đó hơn 80% là các nước phát triển. Có khoảng 385 dự án của người Việt Nam ở nước ngoài đầu tư tại Việt Nam với tổng số vốn đăng ký hơn 1,7 tỷ USD và có vốn góp vào hàng nghìn doanh nghiệp Việt Nam, góp phần tạo việc làm, chuyển giao công nghệ, phát triển kinh tế – xã hội. Lượng kiều hối chuyển về nước ta trong những năm qua ngày càng tăng (năm 2023 là 16 tỷ USD tăng 32,5% so với năm 2022). Các cơ quan trong và ngoài nước đã phối hợp tổ chức thành công nhiều hội thảo, hội nghị chuyên đề, diễn đàn xúc tiến thương mại, đầu tư; góp phần giải đáp, hỗ trợ tháo gỡ vướng mắc cho doanh nghiệp, doanh nhân; thúc đẩy vai trò cầu nối giao thương của người Việt Nam ở nước ngoài trong tiêu thụ sản phẩm và phát triển các kênh phân phối hàng Việt Nam ở nước ngoài. Hằng năm, có khoảng 300 – 500 lượt chuyên gia, trí thức, nhà khoa học người Việt Nam ở nước ngoài về nước và tham gia tích cực hoạt động khoa học – công nghệ, đóng góp nhiều ý kiến sâu rộng, thực tế trong các vấn đề xây dựng Đảng, hệ thống chính trị và phát triển đất nước.

Cùng với đó, vai trò, vị thế, uy tín của người Việt Nam ở nước ngoài trong xã hội sở tại ngày càng nâng cao. Đại bộ phận người dân đã có địa vị pháp lý, ổn định cuộc sống, hội nhập sau rộng trong tất cả các lĩnh vực; tích cực bảo tồn, lan tỏa những giá trị văn hóa dân tộc, xây dựng hình ảnh Việt Nam ở nước ngoài, góp phần nâng caop vị thế và uy tín của Việt Nam trên trường quốc tế.

Thực tế sinh động đó, chứng tỏ công tác người Việt Nam ở nước ngoài những năm qua đã đạt được kết quả tích cực góp phần hòa hợp, đoàn kết toàn dân tộc, hướng vào thực hiện thắng lợi mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh, chứ không phải đất nước không có hòa hợp, đoàn kết như sự xuyên tạc của Nguyễn Đình Bin.

Sự quan tâm của Đảng, Nhà nước và sự tin tưởng, đóng góp của cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài là minh chứng thực tiễn xóa bỏ những mối nghi hoặc, những luận điệu sai trái, xuyên tạc chủ trương, chính sách hòa hợp, đoàn kết toàn dân tộc của Đảng và Nhà nước ta./.

 

BÁC BỎ SỰ XUYÊN TẠC CHO RẰNG CHÚNG TA KHÔNG CÓ PHẢN BIỆN ĐỘC LẬP TRONG XÂY DỰNG CHỦ TRƯƠNG CHÍNH SÁCH CỦA ĐẢNG, NHÀ NƯỚC

          Vừa  qua, trên trang “Boxitvn” Chu Hồng Quý đăng tải bài viết “Tăng cường phản biện xã hội để Đảng tiến bộ, Chính phủ hoạt động hiệu quả, Đất nước văn minh hơn”. Quý cho rằng: “chúng ta không có phản biện độc lập”; rằng: “Vì không nghe lời phản biện của giới chuyên gia cảnh báo nên 528 triệu USD mà PVEP/PVN mất trắng đầu tư sang Venezuela như đổ sông đổ biển”. Thực chất đây là những luận điệu xuyên tạc, bóp méo sự thật, nhằm thực hiện âm mưu kích động quần chúng nhân dân, chống phá Đảng và Nhà nước ta. Những âm mưu, thủ đoạn này đối lập hoàn toàn với phản biện xã hội, mà chính là gây phức tạp tình hình xã hội; chúng đội lốt phản biện xã hội để phá bĩnh, thúc đẩy sự đối kháng trong xã hội.

Phản biện xã hội là một hình thức, một biện pháp cụ thể thể hiện quyền của nhân dân và ý thức trách nhiệm của nhân dân đối với công việc chung của đất nước; thể hiện mối quan hệ mật thiết giữa Đảng và Nhà nước với Nhân dân; thể hiện lòng tin của Đảng, Nhà nước đối với trình độ chính trị, mức độ hiểu biết của nhân dân về lãnh đạo và quản lý.

Đảng, Nhà nước ta luôn coi trọng ý kiến đóng góp phê bình, kiến nghị với Đảng và Nhà nước về các vấn đề quốc kế dân sinh của mọi tầng lớp nhân dân, các tổ chức chính trị, xã hội, tổ chức xã hội. Mọi đường lối, chính sách của Đảng và pháp luật của Nhà nước đều vì lợi ích của nhân dân, có sự tham gia ý kiến của nhân dân; phát huy vai trò và tạo điều kiện thuận lợi để Mặt trận và các đoàn thể nhân dân tham gia xây dựng đường lối, chủ trương, chính sách, pháp luật của Đảng và Nhà nước, thực hiện vai trò giám sát và phản biện xã hội… Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng đã khẳng định: “Thực hành và phát huy rộng rãi dân chủ xã hội chủ nghĩa, quyền làm chủ và vai trò tự quản của nhân dân”  Ban Bí thư Trung ương Đảng đã ban hành Chỉ thị số 18-CT/TW, ngày 26/10/2022 về “Phát huy vai trò, nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác giám sát, phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị-xã hội”.

Đảng và Nhà nước ta luôn khuyến khích các diễn đàn phản biện xã hội với ý thức trách nhiệm và tinh thần xây dựng, các ý kiến đóng góp có tính khoa học, thực tiễn, chỉ ra những tồn tại, hạn chế và nguyên nhân, giải pháp để ngày càng hoàn thiện các chủ trương, chính sách, phục vụ thiết thực cho công cuộc xây dựng và phát triển đất nước.

Trong đời sống chính trị – xã hội của một đất nước luôn tồn tại nhu cầu cá nhân đưa ra những quan điểm, chính kiến của mình, cũng như cơ quan nhà nước lựa chọn, tranh thủ ý kiến, nhận xét của các tổ chức, cá nhân, xã hội để đưa ra những quyết sách đúng đắn, kịp thời, hợp lý nhất trong quá trình nhận diện và giải quyết các vấn đề cuộc sống đặt ra. Phản biện xã hội về thực chất là người dân, các tổ chức chính trị – xã hội, xã hội – nghề nghiệp góp sức với Đảng và Nhà nước trong việc xây dựng các chủ trương, chính sách, chuẩn bị các quyết định về chương trình, kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội.

 Thực tiễn trong xây dựng các chủ trương, chính sách pháp luật như xây dựng Luật Khám bệnh, chữa bệnh 2023, Luật Đấu thầu 2023, Luật Đất đai 2024,….Văn kiện đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XIII đều lấy ý kiến của nhân dân… để phát hiện những điểm chưa chính xác, chưa phù hợp với đời sống xã hội và lợi ích chính đáng của nhân dân để kiến nghị cơ quan, tổ chức có thẩm quyền xem xét sửa đổi, bổ sung cho chính xác, phù hợp.

Như vậy, có thể thấy, các chủ trương chính sách của Đảng, Nhà nước ta đều được lấy ý kiến đóng góp của đông đảo quần chúng nhân dân. Đây là minh chứng cho thấy Nhà nước ta thực sự là nhà nước của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân. Những luận điệu xuyên tạc của Chu Hồng Quý về Việt Nam chúng ta không có phản biện độc lập là không có cơ sở. Mục đích của chúng nhằm kích động, gây chia rẽ, phá hoại mối đoàn kết giữa nhân dân với Đảng, thực hiện mưu đồ chống phá Đảng, Nhà nước ta. Vì vậy, mọi người cần nhận diện, cách giác và đấu tranh với những luận điệu sai trái trên.

 

LUẬN ĐIỆU XUYÊN TẠC CHIẾN THẮNG ĐIỆN BIÊN PHỦ

Chiến thắng Điện Biên Phủ có ý nghĩa quyết định đối với việc ký kết Hiệp định Giơnevơ, chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam và Đông Dương; cổ vũ mạnh mẽ phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc trên toàn thế giới. 70 năm đã trôi qua, sự thật lịch sử vẫn luôn được nhân dân ta trân trọng, gìn giữ và được quốc tế công nhận. Tuy nhiên, những ngày qua trên internet và một số trang mạng xã hội xuất hiện một số bài viết của các đối tượng thù địch, chống phá, chúng rêu rao rằng: Chiến thắng Điện Biên Phủ chỉ là sự “tung hô của truyền thông cộng sản”, “không có gì đáng bàn về nghệ thuật quân sự”… Đây là những luận điệu không mới về thủ đoạn, nhưng hết sức thâm độc với mục đích gieo rắc sự hoài nghi, nhằm làm giảm uy tín, vai trò lãnh đạo, quản lý của Đảng, Nhà nước và nhiệm vụ của Quân đội.

Chiến thắng Điện Biên Phủ “lừng lẫy năm châu, chấn động địa cầu” là mốc son chói lọi trong lịch sử dân tộc Việt Nam và được nhân dân tiến bộ trên toàn thế giới ghi nhận. Suốt 70 năm qua, nhiều kênh truyền hình, tạp chí uy tín trên thế giới, cũng như các chính khách, học giả, nhà tư tưởng, nhà nghiên cứu lịch sử, quân sự, văn hóa, chính trị, pháp lý,… với biết bao cuộc hội thảo, tọa đàm, trao đổi khoa học, trên rất nhiều diễn đàn với các cấp độ, tính chất và quy mô khác nhau để tìm hiểu, nghiên cứu, khám phá chiến thắng Điện Biên Phủ. Nói về ý nghĩa chiến thắng Điện Biên Phủ, ngay tại Pháp, đài truyền hình France 24 khẳng định, đây là “một thời khắc quan trọng trong lịch sử” của Việt Nam và “một cột mốc trong lịch sử phong trào giải phóng dân tộc trên thế giới”. Tờ The New York Times cho rằng, sự sụp đổ của tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ “đặt dấu chấm hết cho sự ảnh hưởng quân sự của Pháp tại châu Á”; tờ Frontline của Ấn Độ đưa ra nhận xét: Chiến thắng Điện Biên Phủ là “động lực to lớn cho phong trào giải phóng dân tộc trên khắp thế giới”. Cũng theo nhiều nhà nghiên cứu quân sự, lịch sử trên thế giới đánh giá đây là “một Stalingrat của lịch sử chiến đấu giải phóng thuộc địa”. Từ những nhận định, đánh giá khách quan của các cơ quan truyền thông và của các nhà nghiên cứu trên toàn thế giới là những minh chứng đập tan luận điệu xuyên tạc phủ nhận giá trị, ý nghĩa của chiến thắng Điện Biên Phủ.

Chiến thắng Điện Biên Phủ thể hiện rõ nét nghệ thuật quân sự độc đáo của Việt Nam. Tướng 4 sao Henri Navarre – tổng chỉ huy quân viễn chinh Pháp ở Đông Dương chính là tổng công trình sư của tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ được mệnh danh là “một pháo đài bất khả xâm phạm, một tập hợp những gì mạnh nhất, kiên cố nhất chưa từng có ở Đông Dương”, “một Verdun ở châu Á”. Thế nhưng, với ý chí, quyết tâm chiến đấu của quân và dân ta; trên cơ sở đánh giá chính xác tình hình, Đảng ta đã đưa ra những chỉ đạo đúng đắn về chiến lược, nghệ thuật chiến dịch và chiến thuật chiến đấu để giành toàn thắng. Sau này, tướng Henri Navarre đã phải thừa nhận rằng: “Trên mọi phương diện, sự kết hợp giữa chính trị – quân sự đã được Việt Minh tiến hành với một sự khéo léo bậc thầy”. Tướng 4 sao Raoul Salan, Tổng chỉ huy quân viễn chinh Pháp nhiều năm ở Đông Dương cũng đưa ra nhận xét: “Quân đội Việt Minh, từ nhân dân mà ra, hòa với nhân dân làm một, tìm sức sống trong nhân dân… có khả năng tiến hành chiến tranh du kích và làm công tác tuyên truyền, đánh cơ động cũng giỏi mà đánh công kiên cũng giỏi… Quân đội này là một quân đội quên mình vì họ có lý tưởng… Đây là một đội quân ưu việt”. Nói về ý chí chiến đấu của Quân đội nhân dân Việt Nam, Tư lệnh quân dù Pháp ở Điện Biên Phủ Piere Langlais đánh giá: “Không ai có thể ngờ rằng, trong 50 ngày bộ binh Việt Minh lại đào được tới 400km hào giao thông ở lớp đất ruộng của Điện Biên Phủ. Và bộ chỉ huy quân ta đã phát hiện ra rằng lưỡi xẻng và lưỡi cuốc của họ cũng là những vũ khí mạnh mẽ như xe tăng và máy bay”. Tiến sĩ Ivan Cadeau, một nhà nghiên cứu lịch sử người Pháp cho rằng, trận Điện Biên Phủ “là thất bại không thể phủ nhận của quân đội Pháp trước một đối thủ dũng cảm”.

Từ những vấn đề trên cho thấy, truyền thông của Việt Nam tuyên truyền về chiến thắng Điện Biên Phủ là hoàn toàn đúng đắn, phản ánh đúng diễn biến trận Điện Biên Phủ. Điều này được các kênh truyền hình, báo chí quốc tế đưa tin khẳng định về ý nghĩa chiến thắng và được chính những người trong cuộc – những người lãnh đạo, tướng lĩnh Pháp thừa nhận sự thất bại và đánh giá cao nghệ thuật quân sự đặc sắc của Việt Nam. Cho nên, những luận điệu xuyên tạc cho rằng: Chiến thắng Điện Biên Phủ chỉ là sự “tung hô của truyền thông cộng sản”, “không có gì đáng bàn về nghệ thuật quân sự” là hoàn toàn sai trái, bịa đặt, không có căn cứ lịch sử cần lên án, bác bỏ kịp thời./.

 

LỢI DỤNG DÂN CHỦ ĐỂ CHỐNG PHÁ ĐẢNG, NHÀ NƯỚC TA CẦN VẠCH TRẦN BẢN CHẤT THÂM ĐỘC NÀY

          Chiến thắng 30/4/1975 là mốc son chói lọi trong lịch sử cách mạng Việt Nam, đánh dấu sự thắng lợi hoàn toàn của cuộc chiến tranh giải phóng dân tộc thống nhất đất nước, đưa giang sơn thu về một mối. Vậy mà, các thế lực thù địch vẫn cố tình xuyên tạc, truyền bá những tư tưởng hận thù, chống phá cách mạng Việt Nam. Điển hình như: trang Facebook: những người cầm bút can đảm, tác giả Vũ Hoàng Anh đăng tải bài viết “nhìn lại cuộc đấu tranh dân chủ cho Việt Nam”. Nội dung bài viết kêu gọi tập hợp lực lượng đòi Việt Nam phải thực thi thứ “dân chủ” của họ đặt ra. Nhằm cổ súy các phần tử cơ hội, bất mãn, các đối tượng chống đối chế độ lợi dụng dân chủ để tăng cường các hoạt động chống phá Đảng, Nhà nước và nhân dân Việt Nam. Vì vậy, mỗi cán bộ, đảng viên và người dân Việt Nam phải luôn tỉnh táo, đề cao tinh thần cảnh giác cách mạng, không bị mắc mưu của bọn phản động.

1. Thực chất những luận điệu đòi “dân chủ” ở Việt Nam của các thế lực thù địch. Điều mà mọi người dễ nhận thấy đó là họ đã tung hô, cổ súy quyết liệt đòi Việt Nam phải thực hiện đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập để “có dân chủ và phát triển”. Các thế lực thù địch ra sức xuyên tạc Đảng ta không chịu đổi mới về chính trị và đồng nhất giữa“đa nguyên, đa đảng” với “đổi mới chính trị”  Chúng cho rằng: Độc tài, đảng trị là cái gốc, cái sai chính của nhà cầm quyền Việt Nam và đưa ra “lời khuyên” rằng, “Đảng chỉ nên giữ vai trò lãnh đạo chính trị, không nên và không thể lãnh đạo toàn diện và tuyệt đối”. Đòi Việt Nam phải xóa bỏ Điều 4 trong Hiến pháp quy định Đảng Cộng sản Việt Nam là lực lượng lãnh đạo Nhà nước và xã hội. Chúng cho rằng, độc đảng không có dân chủ.

Lợi dụng khuyết điểm của một bộ phận cán bộ, đảng viên suy thoái, tham nhũng, tiêu cực bị xử lý kỷ luật chúng thổi phồng sự việc, bôi đen chế độ, phủ nhận thành tựu công cuộc đổi mới và minh chứng cho sự cần thiết phải “chấm dứt vai trò lịch sử của Đảng”, rằng như thế mới có “dân chủ” và “phát triển”. Ra sức hậu thuẫn cho xây dựng các lực lượng phản động chống phá cách mạng Việt Nam như “trong ngoài hiệp lực”, “Dân chủ trên nền tảng dân Chủ với nền văn hóa Nhân Bản”…, mưu toan hình thành lực lượng đối lập để từng bước thực thi thứ “dân chủ” của chúng ở Việt Nam.

2. Việt Nam không thể chấp nhận thứ “dân chủ” mà các thế lực thù địch đang muốn áp đặt. Dân chủ là phạm trù lịch sử, xuất hiện khi có nhà nước và mỗi nền dân chủ phải gắn với một nhà nước nhất định, được pháp luật quy định. Trong xã hội có giai cấp, tuyệt đối không thể có thứ dân chủ chung chung, phi giai cấp. Dân chủ tùy thuộc vào sự phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội và trình độ dân trí trong từng giai đoạn lịch sử nhất định.

Xét trên phương diện thực tiễn, dân chủ là bản chất của chế độ ta, vừa là mục tiêu, vừa là động lực phát triển đất nước. Việt Nam đã và đang hoàn thiện nền dân chủ xã hội chủ nghĩa, bảo đảm tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân. Trên thực tế, thể chế nhất nguyên một đảng lãnh đạo hoàn toàn không đồng nghĩa với mất dân chủ, kém phát triển và kém dân chủ; dân chủ không đồng nghĩa với đa nguyên, đa đảng. Trên thế giới hiện nay, có không ít nước đa đảng nhưng vẫn mất dân chủ, vẫn là những nước nghèo, kém phát triển. Ngược lại, có những nước chỉ có một đảng lãnh đạo, nhưng dân chủ được bảo đảm, kinh tế – xã hội phát triển, đời sống nhân dân sung túc. Lịch sử cách mạng Việt Nam cho thấy, Đảng Cộng sản Việt Nam – Đảng của giai cấp công nhân, đồng thời của nhân dân lao động và của dân tộc Việt Nam, đại biểu cho lợi ích của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và toàn dân tộc ra sức hy sinh, phấn đấu cho nền dân chủ cao đẹp nhất mà loài người từ xưa đến nay khát khao vươn tới – nền dân chủ xã hội chủ nghĩa. Hơn chín mươi năm qua, với tư cách một đảng mác-xít chân chính, Đảng Cộng sản Việt Nam đã lãnh đạo toàn dân thực hiện thắng lợi sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc, đưa nhân dân từ thân phận nô lệ trở thành người làm chủ đất nước, xây dựng chủ nghĩa xã hội và nền dân chủ xã hội chủ nghĩa.

Việc các thế lực thù địch đã lợi dụng chiêu bài “dân chủ” đòi thực hiện chế độ đa đảng, phủ nhận vai trò lãnh đạo, tiến tới loại bỏ Đảng Cộng sản Việt Nam ra khỏi tiến trình phát triển của dân tộc là mưu đồ hết sức thâm độc, nham hiểm và trắng trợn cần phải lên án vạch trần, phản bác và đập tan những luận điệu đó./.

 

GÓC NHÌN MÉO MÓ VỀ CÔNG TÁC PHÒNG, CHỐNG THAM NHŨNG Ở VIỆT NAM CỦA JOSHUA KULANTZICK

          Gần đây, trên trang “Vietnamthoibao” Joshua Kulantzick có bài viết cho rằng: Việt Nam “ngày càng rạn nứt và tham nhũng” nguyên nhân là do một đảng lãnh đạo và mục đích của cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng là nhằm “đấu đá trong nội bộ đảng”. Thực tiễn cho thấy:

Thứ nhất, tệ tham nhũng ở Việt Nam hiện nay không phải ngày càng tăng lên và cũng không phải do một đảng lãnh đạo, bởi lẽ:

Tham nhũng là vấn nạn mang tính toàn cầu, xuất hiện và tồn tại ở các nước trên thế giới, không phụ thuộc vào thể chế chính trị (Mỹ, Nhật, Trung Quốc, Hàn Quốc, Iraq. Syria, Somalia…), vì thế, mới có sự tồn tại của tổ chức Minh bạch thế giới (TI) và hoạt động xếp hạng hàng năm về chỉ số nhận thức tham nhũng (CPI) của tổ chức này.

Nguyên nhân dẫn đến tham nhũng không phải do chế độ một hay nhiều đảng lãnh đạo đất nước, mà do nhiều nguyên nhân khác nhau như: Hệ thống chính trị và hành chính thiếu cơ chế kiểm soát quyền lực; Thể chế thiếu minh bạch, dân chủ, tạo ra nhiều “vùng tối”; Chính sách đãi ngộ không đủ bảo đảm mức sống tối thiểu, cần thiết; Hệ thống pháp luật thiếu nghiêm minh; Văn hóa chính trị và công vụ thiếu chú trọng danh dự, liêm sỉ, thiếu đề cao sự trung thực; Hệ thống báo chí, truyền thông thiếu dũng khí, không trở thành công cụ hữu hiệu để giám sát, tố cáo hành vi tham nhũng và đủ khả năng gây áp lực với đấu tranh chống tham nhũng…

Ở Việt Nam, cuộc đấu tranh phòng chống tham nhũng không phải bây giờ mới thực hiện mà đã có từ lâu, kể cả trong thời chiến hay thời bình, đó là công việc thường xuyên, trọng yếu của cả hệ thống chính trị và toàn dân. Trước đây, chúng ta cũng đã làm nhưng chưa thành phong trào hoặc chưa công khai ra. Còn giờ đã thành phong trào, thành xu thế trong toàn xã hội, không ai có thể cưỡng lại và đứng ngoài cuộc được nên số vụ tham nhũng bị xử lý ngày càng nhiều hơn là lẽ bình thường.

Thứ hai, mục đích của cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng ở Việt nam không phải là “chuyện đấu đá trong nội bộ đảng” nên không hề có sự “rạn nứt”

Kết quả chống tham nhũng ở Việt Nam cho thấy, các đối tượng có xuất thân khác nhau, gồm các quan chức từ Trung ương đến địa phương nếu tham nhũng thì  đều bị xử lý nghiêm minh và công bằng, bình đẳng trước pháp luật, “không có vùng cấm, không có ngoại lệ”. Đảng chống tham nhũng không vì động cơ cá nhân, không vì lợi ích nhóm, không phải vì lợi ích phe phái, không phải là “đánh nhau về chính trị, không phải ai đánh ai trong nội bộ, không phải để gây bất mãn trong xã hội”… Vì thế, công cuộc phòng, chống tham nhũng của Việt Nam được nhân dân trong nước và thế giới ủng hộ. Tạo được sự đoàn kết, đồng thuận, nhất trí cao trong toàn Đảng, toàn dân, toàn quân nên không hề có sự “rạn nứt” như Joshua Kulantzick nhận định và xuyên tạc.

Tham nhũng sinh ra ở tất cả các chế độ nhà nước, dù nhà nước đó được lãnh đạo bởi một đảng hay nhiều đảng. Ở Việt Nam, Đảng và Nhà nước ta không bao giờ bao che, dung túng, mà luôn tích cực, chủ động phòng, chống tham nhũng nhằm làm trong sạch bộ máy điều hành đất nước, đoàn kết hơn trong nội bộ, chứ không phải là “chuyện đấu đá trong nội bộ đảng” khiến cho Việt Nam “ngày càng rạn nứt và tham nhũng”  như Joshua Kulantzick đã cố tình xuyên tạc. Mục đích của việc xuyên tạc là nhằm làm suy giảm niềm tin của nhân dân, hạ thấp uy tín, tiến tới xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng đối với Đất nước. Đó, là mưu đồ phản động, phải được nhận diện, đấu tranh bác bỏ và làm cho thất bại.

 

CẢNH GIÁC VỚI NHỮNG LUẬN ĐIỆU XUYÊN TẠC CÔNG TÁC CÁN BỘ TRONG LỰC LƯỢNG VŨ TRANG CỦA ĐẢNG

 

Mới đây, trên một số trang mạng phản động, Đào Tăng Dực tiếp tục tung tin vu cáo, xuyên tạc chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước, chia rẽ tình đoàn kết, phối hợp chiến đấu giữa Quân đội nhân dân và Công an nhân dân. Y cho rằng tình trạng công tác cán bộ ở Công an nhân dân làm “lu mờ” và “kiểm soát” Quân đội nhân dân. Y đã lợi dụng, khoét sâu những bức xúc của nhân dân trước tình trạng một bộ phận cán bộ tham nhũng, tiêu cực; suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống… để tung ra những bài viết mang tính suy diễn, phiến diện một chiều, quy chụp mọi sai lầm, khuyết điểm, yếu kém trong các lĩnh vực của đời sống xã hội cho đội ngũ cán bộ và công tác cán bộ của Đảng, cần phải được nghiêm trị.

Thực tế cho thấy: Ngày 22/12/1944, Đội Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng quân, tiền thân của Quân đội nhân dân Việt Nam, được thành lập. Kế thừa, phát huy và vận dụng sáng tạo nghệ thuật quân sự của dân tộc, kết hợp với nghệ thuật quân sự hiện đại, Quân đội nhân dân Việt Nam đã lập nên nhiều chiến công vang dội trở thành đội quân “quyết chiến, quyết thắng” chống kẻ thù xâm lược và gần một năm sau đó Ngày 19/8/1945, Cách mạng Tháng Tám thành công ở Hà Nội cũng là ngày truyền thống của Công an nhân dân Việt Nam. Công an nhân dân được lập ra để thực hiện nhiệm vụ trấn áp phản cách mạng, giữ gìn an ninh, trật tự, bảo vệ Đảng, bảo vệ chính quyền cách mạng, bảo vệ tính mạng và tài sản của Nhân dân. Ngay từ khi thành lập, Quân đội nhân dân và Công an nhân dân đã phối hợp thực hiện nhiệm vụ chống thù trong, giặc ngoài. Lực lượng Công an nhân dân và Quân đội nhân dân cùng với các đoàn thể quần chúng, các tầng lớp Nhân dân đã bảo vệ tuyệt đối an toàn cuộc mít tinh lớn vào ngày 2/9/1945 tại Quảng trường Ba Đình, Thủ đô Hà Nội, nơi Chủ tịch Hồ Chí Minh công bố bản Tuyên ngôn Độc lập, khai sinh nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Hai lực lượng phối hợp chặt chẽ trong đấu tranh chống phản cách mạng bên trong và sự can thiệp của các thế lực thù địch bên ngoài, bảo vệ Đảng, bảo vệ chính quyền non trẻ và Nhân dân. Hưởng ứng “Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến” của Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Chúng ta thà hy sinh tất cả, chứ nhất định không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô lệ”, Quân đội nhân dân cùng Công an nhân dân và Nhân dân cả nước nhất tề đứng lên chống thực dân Pháp xâm lược. Thắng lợi của Chiến dịch Điện Biên Phủ lịch sử, gây “chấn động địa cầu”, là một nét son tô thắm truyền thống phối hợp, hiệp đồng giữa Quân đội nhân dân và Công an nhân dân trong cuộc kháng chiến trường kỳ của dân tộc. Quân đội nhân dân và Công an nhân dân là hai lực lượng vũ trang trọng yếu của Đảng, Nhà nước, làm nòng cốt trong sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Gần 80 năm qua, kể từ khi ra đời đến nay, trải qua các giai đoạn cách mạng, được Đảng và Bác Hồ giáo dục, rèn luyện, được nhân dân đùm bọc, giúp đỡ, trong bất cứ hoàn cảnh nào, dù khó khăn, gian khổ đến đâu, Quân đội nhân dân và Công an nhân dân luôn kề vai, sát cánh, đoàn kết, hiệp đồng chiến đấu, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ được giao; bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc, an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội; bảo vệ Đảng, bảo vệ Nhà nước và Nhân dân.

Vừa qua, Ngày 05/02/2024, tại Hà Nội, Bộ Quốc phòng phối hợp với Bộ Công an tổ chức Hội nghị giao ban thực hiện Nghị định số 03/2019/NĐ-CP của Chính phủ về “Phối hợp giữa Bộ Công an và Bộ Quốc phòng trong thực hiện nhiệm vụ bảo vệ an ninh quốc gia, bảo đảm trật tự, an toàn xã hội, đấu tranh phòng, chống tội phạm và nhiệm vụ quốc phòng” năm 2023 do Thượng tướng Nguyễn Tân Cương, Ủy viên Trung ương Đảng, Ủy viên Thường vụ Quân ủy Trung ương, Tổng Tham mưu trưởng Quân đội nhân dân Việt Nam, Thứ trưởng Bộ Quốc phòng và Thượng tướng Trần Quốc Tỏ, Ủy viên Trung ương Đảng, Thứ trưởng Bộ Công an đồng chủ trì hội nghị đã thành công và khẳng định: Năm 2023, dưới sự lãnh đạo, chỉ đạo của Đảng, Nhà nước, trực tiếp là của Quân ủy Trung ương, Đảng ủy Công an Trung ương, lãnh đạo Bộ Quốc phòng và Bộ Công an, sự giúp đỡ tích cực, hiệu quả của cấp ủy, chính quyền và Nhân dân, lực lượng Quân đội nhân dân và Công an nhân dân đã phối hợp triển khai thực hiện nghiêm túc, hiệu quả Nghị định của Chính phủ; phối hợp tham mưu với Đảng, Nhà nước kịp thời xử lý các tình huống phức tạp về quốc phòng, an ninh; đấu tranh làm thất bại âm mưu, hoạt động chống phá của các thế lực thù địch, phản động. Hai lực lượng đã chủ động phối hợp nắm tình hình, phát hiện từ sớm, từ xa, đấu tranh, vô hiệu hóa âm mưu, hoạt động chống phá của các thế lực thù địch, phản động và số cực đoan chống đối trong nội địa, đặc biệt là âm mưu, hoạt động tình báo, gián điệp nhằm tác động chuyển hóa nội bộ; hoạt động tuyên truyền phá hoại tư tưởng, kích động biểu tình, gây rối an ninh trật tự, bạo loạn, khủng bố; bảo vệ tuyệt đối an toàn 2.595 cuộc, lượt hoạt động của các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước, 154 sự kiện chính trị quan trọng, 80 đoàn khách quốc tế, bảo đảm an ninh, an toàn các cơ quan đại diện Việt Nam ở nước ngoài… Trong thời gian tới, hai Bộ tiếp tục phối hợp cụ thể hóa và tổ chức triển khai toàn diện, về nhiệm vụ quốc phòng, an ninh trong tình hình mới. Hai lực lượng tăng cường phối hợp đấu tranh làm thất bại mọi âm mưu, hoạt động chống phá của các thế lực thù địch, phản động, đặc biệt là đối với âm mưu, hoạt động tình báo, gián điệp, tác động chuyển hóa nội bộ, tuyên truyền phá hoại tư tưởng; triển khai các giải pháp bảo đảm an ninh mạng, an ninh thông tin, kịp thời phát hiện, vô hiệu hóa hoạt động sử dụng không gian mạng để xâm phạm an ninh quốc gia. Các cơ quan, đơn vị Quân đội, Công an phối hợp triển khai quyết liệt các biện pháp phòng ngừa, đấu tranh trấn áp các loại tội phạm, nhất là đấu tranh với tội phạm có tổ chức, xuyên quốc gia, tội phạm ma túy, buôn lậu, gian lận thương mại.

Từ khẳng định trên, toàn xã hội cần đề cao cảnh giác, nhận diện, vạch trần, nghiêm trị, đấu tranh đập tan mọi âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch; kiên quyết bác bỏ những luận điệu sai trái, phản động hòng phá hoại sự đoàn kết, hiệp đồng cùng chiến đấu của Quân đội nhân dân và Công an nhân dân trong sự nghiệp cách mạng của Đảng và Nhân dân ta./.

 

VẠCH TRẦN BẢN CHẤT LỢI DỤNG DÂN CHỦ ĐỂ CHỐNG PHÁ ĐẢNG, NHÀ NƯỚC TA

          Chiến thắng 30/4/1975 là mốc son chói lọi trong lịch sử cách mạng Việt Nam, đánh dấu sự thắng lợi hoàn toàn của cuộc chiến tranh giải phóng dân tộc thống nhất đất nước, đưa giang sơn thu về một mối. Vậy mà, các thế lực thù địch vẫn cố tình xuyên tạc, truyền bá những tư tưởng hận thù, chống phá cách mạng Việt Nam. Điển hình như: trang Facebook: những người cầm bút can đảm, tác giả Vũ Hoàng Anh đăng tải bài viết “nhìn lại cuộc đấu tranh dân chủ cho Việt Nam”. Nội dung bài viết kêu gọi tập hợp lực lượng đòi Việt Nam phải thực thi thứ “dân chủ” của họ đặt ra. Nhằm cổ súy các phần tử cơ hội, bất mãn, các đối tượng chống đối chế độ lợi dụng dân chủ để tăng cường các hoạt động chống phá Đảng, Nhà nước và nhân dân Việt Nam. Vì vậy, mỗi cán bộ, đảng viên và người dân Việt Nam phải luôn tỉnh táo, đề cao tinh thần cảnh giác cách mạng, không bị mắc mưu của bọn phản động.

1. Thực chất những luận điệu đòi “dân chủ” ở Việt Nam của các thế lực thù địch. Điều mà mọi người dễ nhận thấy đó là họ đã tung hô, cổ súy quyết liệt đòi Việt Nam phải thực hiện đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập để “có dân chủ và phát triển”. Các thế lực thù địch ra sức xuyên tạc Đảng ta không chịu đổi mới về chính trị và đồng nhất giữa“đa nguyên, đa đảng” với “đổi mới chính trị”  Chúng cho rằng: Độc tài, đảng trị là cái gốc, cái sai chính của nhà cầm quyền Việt Nam và đưa ra “lời khuyên” rằng, “Đảng chỉ nên giữ vai trò lãnh đạo chính trị, không nên và không thể lãnh đạo toàn diện và tuyệt đối”. Đòi Việt Nam phải xóa bỏ Điều 4 trong Hiến pháp quy định Đảng Cộng sản Việt Nam là lực lượng lãnh đạo Nhà nước và xã hội. Chúng cho rằng, độc đảng không có dân chủ.

Lợi dụng khuyết điểm của một bộ phận cán bộ, đảng viên suy thoái, tham nhũng, tiêu cực bị xử lý kỷ luật chúng thổi phồng sự việc, bôi đen chế độ, phủ nhận thành tựu công cuộc đổi mới và minh chứng cho sự cần thiết phải “chấm dứt vai trò lịch sử của Đảng”, rằng như thế mới có “dân chủ” và “phát triển”. Ra sức hậu thuẫn cho xây dựng các lực lượng phản động chống phá cách mạng Việt Nam như “trong ngoài hiệp lực”, “Dân chủ trên nền tảng dân Chủ với nền văn hóa Nhân Bản”…, mưu toan hình thành lực lượng đối lập để từng bước thực thi thứ “dân chủ” của chúng ở Việt Nam.

2. Việt Nam không thể chấp nhận thứ “dân chủ” mà các thế lực thù địch đang muốn áp đặt. Dân chủ là phạm trù lịch sử, xuất hiện khi có nhà nước và mỗi nền dân chủ phải gắn với một nhà nước nhất định, được pháp luật quy định. Trong xã hội có giai cấp, tuyệt đối không thể có thứ dân chủ chung chung, phi giai cấp. Dân chủ tùy thuộc vào sự phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội và trình độ dân trí trong từng giai đoạn lịch sử nhất định.

Xét trên phương diện thực tiễn, dân chủ là bản chất của chế độ ta, vừa là mục tiêu, vừa là động lực phát triển đất nước. Việt Nam đã và đang hoàn thiện nền dân chủ xã hội chủ nghĩa, bảo đảm tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân. Trên thực tế, thể chế nhất nguyên một đảng lãnh đạo hoàn toàn không đồng nghĩa với mất dân chủ, kém phát triển và kém dân chủ; dân chủ không đồng nghĩa với đa nguyên, đa đảng. Trên thế giới hiện nay, có không ít nước đa đảng nhưng vẫn mất dân chủ, vẫn là những nước nghèo, kém phát triển. Ngược lại, có những nước chỉ có một đảng lãnh đạo, nhưng dân chủ được bảo đảm, kinh tế – xã hội phát triển, đời sống nhân dân sung túc. Lịch sử cách mạng Việt Nam cho thấy, Đảng Cộng sản Việt Nam – Đảng của giai cấp công nhân, đồng thời của nhân dân lao động và của dân tộc Việt Nam, đại biểu cho lợi ích của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và toàn dân tộc ra sức hy sinh, phấn đấu cho nền dân chủ cao đẹp nhất mà loài người từ xưa đến nay khát khao vươn tới – nền dân chủ xã hội chủ nghĩa. Hơn chín mươi năm qua, với tư cách một đảng mác-xít chân chính, Đảng Cộng sản Việt Nam đã lãnh đạo toàn dân thực hiện thắng lợi sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc, đưa nhân dân từ thân phận nô lệ trở thành người làm chủ đất nước, xây dựng chủ nghĩa xã hội và nền dân chủ xã hội chủ nghĩa.

Việc các thế lực thù địch đã lợi dụng chiêu bài “dân chủ” đòi thực hiện chế độ đa đảng, phủ nhận vai trò lãnh đạo, tiến tới loại bỏ Đảng Cộng sản Việt Nam ra khỏi tiến trình phát triển của dân tộc là mưu đồ hết sức thâm độc, nham hiểm và trắng trợn cần phải lên án vạch trần, phản bác và đập tan những luận điệu đó./.

BÁC BỎ NHỮNG LUẬN ĐIỆU XUYÊN TẠC, PHỦ NHẬN GIÁ TRỊ TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH!

     Cùng với Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh đã trở thành nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động cách mạng của Đảng. Tuy nhiên, thời gian qua, vẫn còn một số người có nhận thức chưa đúng, thậm chí những kẻ cơ hội, bất mãn chính trị đã phê phán, phủ nhận giá trị của tư tưởng Hồ Chí Minh trong bối cảnh hiện nay. Vì vậy, chúng ta cần nhận diện, bác bỏ những luận điệu sai trái này!

Thứ nhất, cho rằng Hồ Chí Minh không phải là nhà tư tưởng.
Một số người bị dao động về lập trường tư tưởng, hùa theo luận điệu xuyên tạc của các thế lực thù địch, phản động khi cho rằng “không có tư tưởng Hồ Chí Minh”. 

Sinh thời, tuy Chủ tịch Hồ Chí Minh khiêm tốn tự nhận mình không phải là nhà tư tưởng, nhưng trên thực tế, trong quá trình hoạt động cách mạng, tư tưởng của Người đã dần được hình thành và được bạn bè thế giới công nhận. Đảng ta khẳng định: “Tư tưởng Hồ Chí Minh là một hệ thống quan điểm toàn diện và sâu sắc về những vấn đề cơ bản của cách mạng Việt Nam”(1). Trong đó tiêu biểu là tư tưởng về độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội với nội dung cốt lõi là giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp và giải phóng con người. Trước khi khái niệm tư tưởng Hồ Chí Minh xuất hiện thì thế giới đã thừa nhận có tư tưởng Hồ Chí Minh.

Tổ chức UNESCO khẳng định: “Tư tưởng Hồ Chí Minh là hiện thân khát vọng của các dân tộc trong việc bảo vệ bản sắc dân tộc của mình và tiêu biểu cho sự thúc đẩy hiểu biết lẫn nhau”(2). Nhiều nhà khoa học, nhà lãnh đạo, các tổ chức tiến bộ trên thế giới đã thừa nhận Chủ tịch Hồ Chí Minh là một nhà tư tưởng. Thực tiễn những thành tựu to lớn mà cách mạng Việt Nam đạt được nhờ vận dụng sáng tạo Chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh qua từng giai đoạn cách mạng đã củng cố vững chắc điều này.

Thứ hai, cố tình đối lập tư tưởng Hồ Chí Minh với Chủ nghĩa Mác-Lênin và đường lối của Đảng.
Một số người có nhận thức lệch lạc khi một mặt họ cho rằng, tư tưởng Hồ Chí Minh khác và đối lập với Chủ nghĩa Mác-Lênin về bản chất; mặt khác, họ lại “tôn vinh” tư tưởng Hồ Chí Minh và hạ thấp giá trị, vai trò của Chủ nghĩa Mác-Lênin đối với cách mạng Việt Nam.

Hai quan điểm này đều không đúng cả về lịch sử và logic. Về mặt lịch sử, Chủ nghĩa Mác-Lênin chính là nguồn gốc quan trọng dẫn tới hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh. Về mặt logic, tư tưởng Hồ Chí Minh chính là sự vận dụng sáng tạo, phát triển và làm phong phú Chủ nghĩa Mác-Lênin trong điều kiện lịch sử mới. Vì thế, tư tưởng Hồ Chí Minh thống nhất với Chủ nghĩa Mác-Lênin về bản chất chứ không hề có sự mâu thuẫn, đối lập như suy luận, xuyên tạc của một số người.

Về quan điểm thứ nhất, một số người đã hùa theo các luận điệu xuyên tạc, nhận thức lệch lạc khi cho rằng, Hồ Chí Minh là người theo chủ nghĩa dân tộc chứ không theo chủ nghĩa cộng sản, chỉ nhấn mạnh đến đoàn kết chứ không nhấn mạnh đến đấu tranh. Luận điệu này đã làm dư luận hoài nghi về bản chất khoa học, cách mạng của Chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, gây ra tâm lý hoang mang, dao động, chia rẽ sự thống nhất về chính trị, tư tưởng, tổ chức trong Đảng, làm giảm sút niềm tin của cán bộ, đảng viên và các tầng lớp nhân dân vào sự lãnh đạo của Đảng.

Về quan điểm thứ hai, một số người cho rằng, Chủ nghĩa Mác-Lênin từng có giá trị nhưng đã bị lịch sử vượt qua. Những người này còn ngụy biện rằng, cho dù chưa bị lịch sử vượt qua thì Chủ nghĩa Mác-Lênin cũng chỉ phù hợp với các nước phương Tây, còn tư tưởng Hồ Chí Minh mới phù hợp với Việt Nam. Do đó, họ ra sức kêu gọi “chỉ cần theo tư tưởng Hồ Chí Minh, bỏ qua Chủ nghĩa Mác-Lênin”.

Từ đó họ cho rằng, nên đưa Chủ nghĩa Mác-Lênin ra khỏi nền tảng tư tưởng của Đảng, chỉ nên giữ lại tư tưởng Hồ Chí Minh là đủ. Đây là quan điểm nhân danh đề cao tư tưởng Hồ Chí Minh, song thực chất nhằm phủ nhận cả Chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, bởi trong tư tưởng Hồ Chí Minh đã có Chủ nghĩa Mác-Lênin. Nếu tách tư tưởng Hồ Chí Minh khỏi cội nguồn lý luận quan trọng nhất là Chủ nghĩa Mác-Lênin thì bản thân tư tưởng Hồ Chí Minh cũng không còn những đặc tính khoa học, cách mạng, nhân văn như vốn có.

Bên cạnh đó, một số người đã cố tình vin vào cớ hiện nay “một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên, trong đó có những đảng viên giữ vị trí lãnh đạo, quản lý, kể cả một số cán bộ cao cấp, suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống” như trong Nghị quyết Hội nghị Trung ương 4, khóa XII của Đảng đã chỉ ra để thổi phồng những khuyết điểm của một số cán bộ thoái hóa, biến chất mà bỏ qua những ưu điểm mang tính bản chất của đa số cán bộ, đảng viên trong hệ thống chính trị.

Từ đó, họ cho rằng, Đảng Cộng sản Việt Nam ngày nay cũng đã thoái hóa, biến chất, khác xa với lý tưởng, khát vọng trong tư tưởng Hồ Chí Minh. Họ yêu cầu phải bỏ Điều 4 trong Hiến pháp năm 2013, tức là xóa bỏ quyền lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với Nhà nước và xã hội.

Xây dựng, chỉnh đốn Đảng gắn với đấu tranh tự phê bình và phê bình là việc làm thường xuyên, mang bản chất cách mạng của Đảng ta. Chủ tịch Hồ Chí Minh từng khẳng định: “Một Đảng mà giấu giếm khuyết điểm của mình là một Đảng hỏng. Một Đảng có gan thừa nhận khuyết điểm của mình, vạch rõ những cái đó, vì đâu mà có khuyết điểm đó, xét rõ hoàn cảnh sinh ra khuyết điểm đó, rồi tìm kiếm mọi cách để sửa chữa khuyết điểm đó. Như thế là một Đảng tiến bộ, mạnh dạn, chắc chắn, chân chính”(3).

Vậy mà, khi Đảng kiên quyết đẩy mạnh cuộc đấu tranh chống tham nhũng, loại trừ các vấn nạn trong công tác cán bộ nhằm làm trong sạch Đảng, lấy lại niềm tin của nhân dân với Đảng, với chế độ thì một số người lại có nhận thức lệch lạc, cố tình vu khống, quy kết là Đảng ta “đấu đá nội bộ”, “đấu tranh giữa các phe phái vì quyền lực”. Họ làm ra vẻ khách quan khi dùng tư tưởng, đạo đức Hồ Chí Minh làm “hệ quy chiếu” để đánh giá, phán xét Đảng.

Danh nghĩa là họ đề cao Hồ Chí Minh nhưng thực chất lại đang hạ thấp tư tưởng Hồ Chí Minh, từ đó phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng trong giai đoạn hiện nay. Điều này gây hoang mang, mất niềm tin, chia rẽ nội bộ, đặc biệt, nó có thể làm một bộ phận dân chúng, thậm chí ngay cả một số ít văn nghệ sĩ, trí thức từng tin tưởng và kính trọng Hồ Chí Minh cũng có thể trở nên lung lay tư tưởng, rệu rã niềm tin vào Đảng, vào chế độ xã hội chủ nghĩa. 

Thứ ba, phủ nhận giá trị thực tiễn và sức sống của tư tưởng Hồ Chí Minh trong giai đoạn hiện nay.
Một số người đã có nhận thức rất lệch lạc khi cho rằng, Hồ Chí Minh là “nhà dân tộc chủ nghĩa chứ không phải là nhà mác-xít”, “không thể lấy tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng” vì tư tưởng Hồ Chí Minh không phù hợp với điều kiện mới của kinh tế thị trường và hội nhập quốc tế. Những người này ra sức phủ nhận sự cần thiết và hiệu quả của việc học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh. Lý do họ đưa ra là Hồ Chí Minh là bậc thánh nhân trong khi chúng ta là người bình thường; Hồ Chí Minh là người đi theo chủ nghĩa khổ hạnh trong khi chúng ta đang có cuộc sống bình thường ở thế giới hiện đại.

Thực tế, Chủ tịch Hồ Chí Minh không phải là người theo chủ nghĩa khổ hạnh và cũng chưa bao giờ tỏ ra mình là bậc thánh nhân, mà Người luôn yêu cầu cán bộ góp ý cho mình, rằng: “Nếu tôi có vết nhọ trên trán, các đồng chí trông thấy, lại lấy cớ “nể Cụ” không nói, là tôi mang nhọ mãi”(4).

Những người này đã cố tình không hiểu rằng, học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh là học tinh thần tinh túy trong tư tưởng, phương pháp, phong cách của Người để vận dụng linh hoạt, sáng tạo vào trong thực tiễn như sinh thời Người đã học tập, vận dụng sáng tạo thành công Chủ nghĩa Mác-Lênin vào hoàn cảnh cụ thể của cách mạng Việt Nam, chứ không phải học rồi “làm theo” một cách máy móc để cho giống hoặc thành một “Hồ Chí Minh thứ hai”. Do đó, đẩy mạnh việc học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh trong giai đoạn hiện nay là chủ trương đúng đắn của Đảng, hợp với lòng dân và có giá trị thiết thực trong việc giáo dục, rèn luyện đội ngũ cán bộ, đảng viên.

Chủ tịch Hồ Chí Minh là một trong số rất ít nhân vật trong lịch sử đã trở thành một phần của huyền thoại ngay từ khi còn sống. Cho đến nay, tư tưởng của Người vẫn còn nguyên giá trị lý luận và thực tiễn sâu sắc. Giá trị đó không chỉ đối với dân tộc Việt Nam mà còn đối với nhân loại; không chỉ được khẳng định trong thế kỷ 20, mà còn được thể hiện trong hiện tại và tương lai. Đấu tranh chống các nhận thức lệch lạc, luận điệu xuyên tạc, phủ nhận tư tưởng Hồ Chí Minh chính là nhằm bảo vệ nội dung và giá trị của tư tưởng Hồ Chí Minh, góp phần vào bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong bối cảnh hiện nay.

Để việc đấu tranh chống các luận điệu xuyên tạc tư tưởng Hồ Chí Minh thực sự thuyết phục, chúng ta phải có cái nhìn khách quan, tôn trọng sự thật lịch sử, không được chủ quan, áp đặt, thiên kiến hoặc máy móc trong việc nhận định, đánh giá, phản bác các luận điệu xuyên tạc tư tưởng của Người. Bên cạnh đó, chúng ta cũng cần quán triệt, thực hiện nghiêm túc Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng, đó là: “Kiên định và không ngừng vận dụng, phát triển sáng tạo Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh phù hợp với thực tiễn Việt Nam trong từng giai đoạn”./.
-----------------------
(1) Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, NXB Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2011, tr.88
(2) Phạm Ngọc Anh, Tư tưởng Hồ Chí Minh-không thể phủ nhận, Tạp chí Lý luận chính trị, số 11-2013, tr.60
(3) Hồ Chí Minh, Toàn tập, NXB Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2011, t.5, tr.301
(4) Hồ Chí Minh, Toàn tập, NXB Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2011, t.5, tr.260.
Yêu nước ST.

Thứ Sáu, 10 tháng 5, 2024

TÌM HIỂU GIÚP BẠN: TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ THI ĐUA YÊU NƯỚC!

     Ngày 11- 6- 1948, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ra Lời kêu gọi Thi đua ái quốc, mở đầu cho phong trào hành động cách mạng mới của toàn dân!
Nhìn lại chặng đường 75 năm qua, có thể khẳng định mọi thành quả của cách mạng trong sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc của nhân dân ta đều gắn liền với việc tổ chức có hiệu quả phong trào thi đua yêu nước.

Trong các bài nói, bài viết, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã phân tích một cách sâu sắc những vấn đề liên quan đến thi đua yêu nước, từ bản chất thi đua, nội dung thi đua, cách thức thi đua, mức thi đua, ý nghĩa thi đua, lực lượng thi đua, động lực thi đua, bản chất của thi đua, tính chất của thi đua yêu nước. Đồng thời, bằng chính cuộc đời hoạt động cách mạng của mình, Chủ tịch Hồ Chí Minh là một tấm gương sáng cho toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta học tập trong phong trào thi đua yêu nước.

Thi đua yêu nước do đích thân Chủ tịch Hồ Chí Minh phát động không phải là một áp lực chủ quan mà bắt nguồn từ sự ra đời của chế độ mới. Chủ tịch Hồ Chí Minh nói: Trong chế độ cũ, nhân dân lao động bị áp bức bóc lột, nai lưng làm việc cho chủ để mình và gia đình mình không bị chết đói, “chỉ có dưới chế độ dân chủ nhân dân và xã hội chủ nghĩa, dưới chế độ và nhân dân lao động làm chủ nước nhà, thì mới có phong trào thi đua”(1). Mỗi người lao động, dù là lao động trí óc, lao động sản xuất, hay lao động quản lý có lòng yêu nước, yêu chế độ đều nhận thức được “Thi đua ái quốc là ích lợi cho mình, ích lợi cho gia đình mình và lợi ích cho làng cho nước, cho dân tộc”(2).

Tuy thi đua có tính khách quan như vậy nhưng để có phong trào và đạt được những thành tích cao, không hình thức, lãng phí sức người sức của, không đầu voi đuôi chuột, thì “một mặt là vì mọi người lao động đều tư tưởng thông suốt, hăng hái thi đua”, nhưng một mặt nữa phải có sự lãnh đạo chặt chẽ, “sự lãnh đạo thiết thực và toàn diện”(3). Sự thiết thực và toàn diện của lãnh đạo là ở chỗ tính toán đầy đủ điều kiện khách quan và chủ quan để định mục tiêu, chỉ tiêu thi đua theo yêu cầu phát triển và tiềm năng của địa phương, đơn vị, cơ quan, được cụ thể hóa cho mọi đối tượng lao động trong các lĩnh vực hoạt động khác nhau, vừa quan tâm lãnh đạo chính trị tư tưởng, không để chủ nghĩa thành tích chi phối, vừa tạo điều kiện thuận lợi cho người lao động thực hiện kế hoạch thi đua cá nhân và tập thể.

Tìm hiểu tư tưởng Hồ Chí Minh về thi đua yêu nước không chỉ thuần túy nghiên cứu trong Lời kêu gọi Thi đua ái quốc năm 1948, cũng không chỉ nghiên cứu trong các bài nói bài viết của Người về thi đua yêu nước, mà còn cần phải nghiên cứu hoạt động thực tiễn lãnh đạo, chỉ đạo, tổ chức thực hiện các phong trào thi đua trong quá trình cách mạng Việt Nam do Người và Đảng ta lãnh đạo. Có như thế mới có thể hiểu được tư tưởng Hồ Chí Minh về thi đua yêu nước.

Nội dung cốt lõi, cũng như bản chất tư tưởng Hồ Chí Minh về thi đua yêu nước là khơi dậy, phát huy tinh thần yêu nước của mọi tầng lớp nhân dân vào hành động yêu nước, làm cho tinh thần yêu nước của tất cả mọi người đều được thực hành vào công việc yêu nước, công việc cách mạng, thực hiện tốt hơn công việc hằng ngày. Tư tưởng của Hồ Chí Minh nêu trên xuất phát và biểu hiện trên vấn đề cơ bản là: Hồ Chí Minh hiểu rất sâu sắc về truyền thống yêu nước của dân tộc Việt Nam và tầm quan trọng của thi đua yêu nước; Hồ Chí Minh chỉ rõ yêu cầu về tính thực tiễn, cụ thể, thiết thực của thi đua yêu nước phải được thực hành vào công việc yêu nước mà thực chất là làm tốt hơn những công việc hằng ngày.

Mục đích của thi đua yêu nước là làm cho nước nhà nhanh giành được độc lập, tự do, xây dựng đất nước giàu mạnh, phồn vinh, đời sống nhân dân được ấm no, hạnh phúc. Vì vậy, theo Hồ Chí Minh lực lượng của phong trào thi đua yêu nước là toàn thể nhân dân “Mỗi người dân Việt Nam, bất kỳ già, trẻ, gái trai; bất kỳ giàu nghèo, lớn, nhỏ đều phải trở nên một người chiến sĩ tranh đấu trên mặt trận: Quân sự, Kinh tế, Chính trị, Văn hóa”(4).

Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, cánh mạng là sự nghiệp của quần chúng, do đó phong trào thi đua yêu nước cần phát huy sức mạnh của toàn dân, tạo được sự tham gia tích cực của nhân dân, làm cho thi đua yêu nước trở thành phong trào hành động cách mạng của nhân dân, của mọi tầng lớp xã hội. Người chỉ rõ: “Với lòng nồng nàn yêu nước và lực lượng vô cùng tận của nhân dân ta, cuộc thi đua ái quốc nhất định sẽ thành công to”(5).

Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn khẳng định lực lượng có sức mạnh vô địch trong công cuộc kháng chiến và kiến quốc đó là do nhân dân. Thi đua yêu nước có trở thành phong trào cách mạng hay không, có mang lại lợi ích thiết thực cho cánh mạng hay không phụ thuộc vào quần chúng nhân dân, không có sự đồng tình hưởng ứng của nhân dân, không được nhân dân tự giác, tự nguyện tham gia thì thi đua yêu nước không thể tồn tại và phát triển.

Thi đua, theo quan điểm của Hồ Chí Minh, gắn liền với công tác khen thưởng, khen thưởng là kết quả của phong trào thi đua. Chính vì vậy, Người vừa khởi xướng phong trào thi đua yêu nước, vừa quan tâm đến công tác, khen thưởng, tổng kết, rút kinh nghiệm, biểu dương người tốt, việc tốt. Tư tưởng Hồ Chí Minh về thi đua yêu nước có sức lôi cuốn mạnh mẽ, bởi nó vừa thiết thực, dễ hiểu, dễ đi sâu vào cuộc sống, lại vừa sâu sắc, toàn diện và hệ thống. Người cho rằng, muốn tổ chức tốt phong trào thi đua yêu nước, trước hết phải hiểu rõ bản chất, mục đích, nội dung, cách thức, mức độ và ý nghĩa của thi đua. Nội dung thi đua phải gắn với nhiệm vụ của từng thời kỳ, giai đoạn cách mạng, đó là thi đua tăng gia sản xuất, thi đua thực hành tiết kiệm… thi đua khắc phục khó khăn để hoàn thành tốt nhiệm vụ. Cách thức thi đua phải phong phú, đa dạng nhằm gom góp sáng kiến, rút ra kinh nghiệm, tổng kết kinh nghiệm, trao đổi và phổ biến kinh nghiệm. Mức độ thi đua là phải nâng cao dần mãi mãi.

Như vậy, thi đua yêu nước theo Hồ Chí Minh là một trong những biện pháp của quá trình vận động cách mạng, có ý nghĩa sâu sắc, rộng lớn, thi đua không chỉ khơi dậy tiềm năng sáng tạo của con người, mà quan trọng hơn là cải tạo bản thân con người, nêu cao tinh thần yêu nước, tinh thần quốc tế, làm cho già, trẻ, gái, trai và tất cả các tầng lớp nhân dân, không phân biệt dân tộc, tôn giáo, địa vị xã hội đều hướng tới mục đích chung. Thi đua để mọi người đều là việc tốt hơn, nhiều hơn và “thi đua là yêu nước, yêu nước thì phải thi đua. Và những người thi đua là những người yêu nước nhất”(6).

Chủ tịch Hồ Chí Minh cho rằng, thi đua yêu nước là một phong trào cách mạng rộng lớn, diễn ra trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội, liên quan đến tất cả các thành phần, các tầng lớp xã hội. Thi đua cần có sự lãnh đạo, chỉ đạo và tổ chức một cách chặt chẽ, thông suốt, liên tục và bền bỉ. Tư tưởng Hồ Chí Minh về phong trào thi đua yêu nước đã có tác dụng to lớn, thiết thực động viên khích lệ toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ra sức đoàn kết, phấn đấu, không quản hy sinh gian khổ, đem hết tài năng trí tuệ và sức lực phục vụ sự nghiệp giải phóng dân tộc, giành thắng lợi trong hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ xâm lược, cũng như trong sự nghiệp xây dựng đất nước và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.

Ngày nay, trong bối cảnh tình hình thế giới, khu vực có những diễn biến phức tạp, khó lường, công cuộc đổi mới của đất nước đang đứng trước cả những thuận lợi và khó khăn. Thấm nhuần tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh, chúng ta thấy tư tưởng của Người về thi đua yêu nước vẫn giữ nguyên giá trị lý luận và thực tiễn. Việc vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về thi đua yêu nước trong giai đoạn cách mạng hiện nay, cần chú ý một số nội dung sau:
Một là, tiếp tục nâng cao nhận thức cho toàn thể cán bộ, đảng viên và nhân dân về ý nghĩa, tác dụng của phong trào thi đua yêu nước; tiếp tục đẩy mạnh phong trào thi đua yêu nước, phát hiện, bồi dưỡng, tổng kết và nhân điển điển hình tiên tiến tạo nên phong trào rộng khắp ở các ngành, các cấp trong cả nước từ Trung ương đến cơ sở.

Hai là, tăng cường giáo dục tinh thần yêu nước, lòng tự hào dân tộc, ý thức tự lực tự cường, gắn với giáo dục chính trị, tư tưởng, đạo đức, lối sống… tạo nên sự đồng thuận trong toàn xã hội, tạo điều kiện thuận lợi cho việc tổ chức phát động các phong trào thi đua.

Ba là, tiếp tục đẩy mạnh cải cách hành chính, tiếp tục phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tạo ra môi trường lành mạnh, trong sạch để nhân dân yên tâm phấn khởi, hăng hái tham gia các phong trào thi đua, đồng thời tích cực gắn phong trào thi đua yêu nước với việc phát động toàn dân tăng cường đoàn kết, tương trợ, giúp đỡ lẫn nhau trong cuộc sống, trong phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội.

Bốn là, đổi mới, nâng cao hiệu quả công tác thi đua-khen thưởng, thường xuyên đấu tranh phê phán, lên án những hành vi không lành mạnh, góp phần thúc đẩy phong trào thi đua trong cả nước thực hiện thắng lợi mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội dân chủ, công bằng, văn minh./.
Ảnh: Chủ tịch Hồ Chí Minh với các đại biểu dự Đại hội liên hoan Anh hùng, Chiến sĩ thi đua Công-Nông-Binh toàn quốc lần thứ II tại Hà Nội (7-7-1958).

Ảnh: Chủ tịch Hồ Chí Minh đến thăm Sở Nông Lâm Hà Nội và sử dụng thử chiếc máy cấy tại ruộng thí nghiệm của Sở (7-1960).

Ảnh: Chủ tịch Hồ Chí Minh với các đại biểu được tuyên dương tại Đại hội Liên hoan Anh hùng, Chiến sĩ thi đua toàn quốc lần thứ III, ngày 6-5-1962, tại Phủ Chủ tịch.
--------------------------
(1) Hồ Chí Minh, Toàn tập, Nxb CTQG, H, Tập 9, tr198.
(2) Hồ Chí Minh, Toàn tập, Nxb CTQG, H, Tập 5, tr659.
(3) Hồ Chí Minh, Toàn tập, Nxb CTQG, H, Tập 9, tr199.
(4) Hồ Chí Minh, Toàn tập, Nxb CTQG, H, Tập 5, tr444.
(5) Hồ Chí Minh, Toàn tập, Nxb CTQG, H, Tập 5, tr441.
(6) Hồ Chí Minh, Toàn tập, Nxb CTQG, H, Tập 6, tr473.
Yêu nước ST.

TÌM HIỂU GIÚP BẠN: PHÁT TRIỂN LÝ LUẬN, TỔNG KẾT THỰC TIỄN, CHÚNG QUAN ĐIỂM SAI TRÁI BẢO VỆ GIÁ TRỊ TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH TRONG TÌNH HÌNH MỚI!

     Trong cuộc đấu tranh để bảo vệ giá trị tư tưởng Hồ Chí Minh-hệ thống tư tưởng mang ý nghĩa và giá trị thời đại, thì việc đẩy mạnh nghiên cứu lý luận, tổng kết thực tiễn là một trong những giải pháp quan trọng góp phần bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng hiện nay. Vấn đề này luôn là cốt yếu nhằm thống nhất những nhận thức chưa đúng, đồng thời phản bác sự xuyên tạc nhằm hạ thấp, phủ nhận những giá trị của tư tưởng Hồ Chí Minh trong tình hình mới!

Ý nghĩa và giá trị thời đại của tư tưởng Hồ Chí Minh
Tư tưởng Hồ Chí Minh là linh hồn, ngọn cờ thắng lợi của cách mạng Việt Nam trong suốt hơn nửa thế kỷ qua. Cùng với Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh là nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động của Đảng ta, nhân dân ta. Tư tưởng Hồ Chí Minh mãi mãi soi sáng con đường cách mạng Việt Nam, con đường tiến lên chủ nghĩa xã hội của toàn dân tộc ta dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam.

Dù vậy, vẫn còn những nhận thức chưa đúng, hiểu chưa thấu đáo, nhất là việc các thế lực thù địch lợi dụng tự do, dân chủ, lợi dụng sự phát triển của internet, mạng xã hội để xuyên tạc, bóp méo tư tưởng Hồ Chí Minh. Thậm chí, một số cán bộ, đảng viên thoái hóa, biến chất đã vào hùa với sự xuyên tạc này.

Họ tìm mọi cách, dùng mọi lý lẽ khi nói và viết: Hồ Chí Minh du nhập những tư tưởng ngoại lai vào Việt Nam; tư tưởng Hồ Chí Minh là tư biện, lý thuyết, giáo điều; tư tưởng Hồ Chí Minh là sự sao chép, máy móc Chủ nghĩa Mác-Lênin, không phù hợp với thực tiễn hiện nay, cần từ bỏ nó để kịp đi với con đường chung mà thế giới hiện nay đang đi-con đường tư bản chủ nghĩa...

Họ xuyên tạc rằng, Chủ tịch Hồ Chí Minh không có tư tưởng của riêng mình hoặc tư tưởng của Người không được coi là một hệ thống. Dựa vào những luận điểm của Người có tính bổ sung, phát triển Chủ nghĩa Mác-Lênin và bao hàm sự kế thừa những giá trị tư tưởng tiến bộ của nền cộng hòa Pháp và Mỹ, họ quy kết rằng, Chủ tịch Hồ Chí Minh là một người theo chủ nghĩa cộng hòa và chủ nghĩa hòa bình hơn là một người theo chủ nghĩa cộng sản.

Họ đưa ra một góc nhìn phiến diện rằng tư tưởng Hồ Chí Minh chỉ là tư tưởng về cách mạng giải phóng dân tộc, không có tư tưởng về đấu tranh giai cấp, về cách mạng xã hội chủ nghĩa, không mang bản chất mác-xít, thậm chí đối lập với Chủ nghĩa Mác-Lênin. Từ quan điểm chống phá sai trái ấy, họ đã sử dụng nhiều thủ đoạn để cố tình khiến dư luận có cái nhìn sai bản chất.

Những ý kiến trên là nhận thức rất sai trái và là sự xuyên tạc vô căn cứ. Cả về lý luận và thực tiễn đã chứng minh, tư tưởng Hồ Chí Minh là sự vận dụng sáng tạo Chủ nghĩa Mác-Lênin vào điều kiện lịch sử của Việt Nam, là sự kết hợp nhuần nhuyễn Chủ nghĩa Mác-Lênin với giá trị truyền thống của dân tộc và tinh hoa văn hóa của nhân loại.

Chính Chủ nghĩa Mác-Lênin trong tư tưởng Hồ Chí Minh đã được chuyển hóa thành hệ thống thế giới quan, phương pháp luận, nhân sinh quan khoa học, cách mạng, sinh động, giàu tính thực tiễn, có giá trị dẫn đường cho thành công của cách mạng Việt Nam. Giá trị thời đại của tư tưởng Hồ Chí Minh còn thể hiện rất rõ “trong khi giải quyết những vấn đề của cách mạng Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã góp phần phát triển Chủ nghĩa Mác-Lênin trên nhiều vấn đề quan trọng, đặc biệt là lý luận về cách mạng giải phóng dân tộc và tiến lên chủ nghĩa xã hội ở các nước thuộc địa và phụ thuộc...” như Nghị quyết số 09-NQ/TW ngày 18-2-1995 của Bộ Chính trị khóa VII đã khẳng định.

Phát triển lý luận gắn với tổng kết thực tiễn
Trong cuộc đấu tranh quyết liệt bảo vệ giá trị tư tưởng Hồ Chí Minh, chúng ta đã đạt được những thành tựu không thể phủ nhận, tiếp tục khẳng định bản chất cách mạng, khoa học của tư tưởng Hồ Chí Minh, đồng thời phát triển và làm cho tư tưởng Hồ Chí Minh giữ vai trò chủ đạo trong đời sống tinh thần xã hội Việt Nam; bảo vệ uy tín của Đảng cũng như các quan điểm, đường lối của Đảng trong tiến trình cách mạng. Bởi thế, đẩy mạnh nghiên cứu lý luận, tổng kết thực tiễn là một trong những giải pháp quan trọng để bảo vệ giá trị tư tưởng Hồ Chí Minh trong tình hình mới hiện nay.

Đến nay, công tác nghiên cứu và việc tuyên truyền, giáo dục tư tưởng Hồ Chí Minh đã đạt được những kết quả quan trọng, góp phần động viên các tầng lớp nhân dân sống, chiến đấu, lao động và học tập theo tấm gương Bác Hồ vĩ đại. Tuy vậy, công tác tuyên truyền, giáo dục tư tưởng Hồ Chí Minh vẫn còn một số hạn chế, yếu kém. Việc đưa tư tưởng Hồ Chí Minh vào học trong các trường đại học, cao đẳng, trung cấp chuyên nghiệp, dạy nghề chưa đạt hiệu quả cao, chưa tạo được sự hưởng ứng nhiệt tình của đông đảo học sinh, sinh viên và chưa có chương trình thích hợp trong các bậc học phổ thông.

Riêng trong hệ thống giáo dục phổ thông và cao đẳng, đại học, việc giáo dục tư tưởng Hồ Chí Minh chưa gây được ấn tượng sâu sắc cho học sinh, sinh viên. Chương trình giáo dục tư tưởng Hồ Chí Minh ở một số trường học, bậc học còn có sự lồng ghép với các môn học khác... Hệ thống giáo trình, tài liệu phục vụ việc giảng dạy tư tưởng Hồ Chí Minh ở các bậc học sau chương trình giáo dục phổ thông tuy có giáo trình song chưa có sự thống nhất giữa các cơ sở đào tạo...

Do tính chất học tập, giáo dục và phát triển tư tưởng Hồ Chí Minh ở các bậc học có ý nghĩa quan trọng, bởi thế cần xác định đúng vị trí, vai trò các nội dung học tập về tư tưởng Hồ Chí Minh, không được cắt xén chương trình học tập. Giáo trình học tập phải giúp học sinh, sinh viên có thể tự nghiên cứu được, phải đầy đủ và sâu sắc về kiến thức, nội dung, giải đáp được những điều còn chưa rõ, chưa hiểu và học hỏi lẫn nhau.

Để bảo vệ giá trị tư tưởng Hồ Chí Minh trong tình hình mới, chúng ta cần rất coi trọng việc đào tạo, bồi dưỡng, xây dựng và phát huy vai trò đội ngũ cán bộ lý luận, nhất là các chuyên gia đầu ngành trong hoạt động đấu tranh tư tưởng, lý luận.

Bản thân những nhà nghiên cứu mác-xít, những người làm công tác lý luận cũng phải nghiên cứu nghiêm túc và kỹ lưỡng lý luận mác-xít, những tác phẩm nguyên bản của C.Mác, Ph.Ăng-ghen, V.I.Lênin... từ đó phát hiện những vấn đề mới, cách tiếp cận mới để giải quyết bài toán thực tiễn của xã hội hiện đại đang đặt ra; tránh lối nghiên cứu “tầm chương trích cú”, kinh viện, áp dụng lý luận vào thực tiễn một cách máy móc, thiếu sáng tạo, làm cho tư tưởng Hồ Chí Minh ngày càng bị xơ cứng, xa rời thực tiễn.

Nghiên cứu lý luận, tổng kết thực tiễn không chỉ tập trung trực diện vào các nội dung trong tư tưởng Hồ Chí Minh mà cần chú ý tới những vấn đề vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh trong quá trình đấu tranh và xây dựng xã hội mới.

Trong mục tiêu xuyên tạc, phủ định giá trị tư tưởng Hồ Chí Minh, các thế lực phản động, cơ hội không chỉ trực diện hướng tới phủ định nền tảng tư tưởng của Đảng mà họ còn thông qua hình thức, biện pháp gián tiếp để thực hiện ý đồ của mình. Họ tập trung phủ định vai trò lãnh đạo của Đảng, bôi xấu lãnh đạo, phủ định đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước...

Bên cạnh đó, họ “ca tụng” các giá trị dân chủ, nhân quyền, văn hóa theo lối sống phương Tây... Tất cả những chiêu bài đó nhằm cố minh chứng việc chúng ta lựa chọn sai con đường, sai mô hình do xuất phát từ học thuyết và tư tưởng lỗi thời, ảo tưởng. Thực chất mục tiêu của họ suy cho cùng là phủ định nền tảng tư tưởng của Đảng, kêu gọi theo con đường mới, từ bỏ vai trò của tư tưởng Hồ Chí Minh.

Bởi vậy, song song với việc đẩy mạnh nghiên cứu lý luận như trên thì cũng rất cần việc thường xuyên đánh giá, tổng kết thực tiễn để chứng minh tính đúng đắn, đồng thời có phương cách bảo vệ tư tưởng Hồ Chí Minh trong tình hình mới. Thực tế hiện nay cũng cho thấy, những nhận thức sai trái, sự chống phá của các thế lực thù địch đối với tư tưởng Hồ Chí Minh cũng ngày càng tinh vi. Họ liên kết, tán phát thông tin sai trái hòng phủ định tư tưởng Hồ Chí Minh.

Họ thông qua các phương thức như: Gửi đơn thư góp ý, khiếu nại, tố cáo đến các cơ quan Đảng, chính quyền, cơ quan dân cử và các cơ quan ngôn luận; thông qua các tổ chức dưới dạng tài liệu, sách truyền tay, thông tin truyền miệng; thông qua hội nghị, hội thảo, tổ chức các sự kiện chuyên đề; lập các trang web của nhiều tổ chức, cá nhân để đăng thông tin; thông qua mạng xã hội tán phát các thông tin và liên kết tạo thành đợt tấn công theo chuyên đề, theo các sự kiện.

Từ thực tiễn đó, để bảo vệ tư tưởng Hồ Chí Minh, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đòi hỏi chúng ta cũng phải vận dụng các phương thức thông tin phù hợp, sáng tạo để phản bác lại những quan điểm xuyên tạc, sai trái, đồng thời chủ động, kịp thời định hướng thông tin, đưa thông tin chính thống đến dư luận, người dân, góp phần giữ vững an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội, bảo đảm môi trường ổn định cho phát triển./.
Tư tưởng Hồ Chí Minh mãi mãi soi sáng con đường cách mạng Việt Nam, con đường tiến lên chủ nghĩa xã hội của toàn dân tộc ta dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam.
Yêu nước ST.