Thứ Bảy, 11 tháng 5, 2024

 

NHỮNG LUẬN ĐIỆU CHỐNG PHÁ CHỦ NGHĨA MÁC – LÊNIN CỦA CÁC THẾ LỰC THÙ ĐỊCH CẦN ĐƯỢC LÊN ÁN

          Trong lịch sử nhân loại, hiếm có học thuyết, tư tưởng nào mà trong suốt quá trình hình thành và phát triển lại chịu nhiều sự đả kích, xuyên tạc, bóp méo của các thế lực thù địch như chủ nghĩa Mác – Lênin. Hành trình gần hai thế kỷ kể từ khi C.Mác, Ph.Ăngghen đặt nền móng đầu tiên tại Đức, V.I.Lênin kế tục và phát triển tại Nga, Chủ tịch Hồ Chí Minh vận dụng sáng tạo vào hoàn cảnh cụ thể của cách mạng Việt Nam, cho đến nay, chủ nghĩa Mác – Lênin vẫn là nền tảng tư tưởng vững chắc của các Đảng Cộng sản cầm quyền, trong đó có Việt Nam.

          Vừa qua, trên trang “thongluan-rdp” có đăng tải nội dung “Văn hóa Marx – Lenin độc tài và lừa đảo còn kìm kẹp dân tộc ta bao lâu nữa” của đối tượng Âu Dương Thệ với những luận điệu xuyên tạc chủ nghĩa Mác – Lênin, cho rằng “văn hóa Mác – Lênin rủ ngủ, làm ngu dân”; đồng thời tôn vinh cái gọi là “văn hóa chính trị dân chủ đa nguyên”. Mục đích của chúng nhằm xóa bỏ chủ nghĩa Mác – Lênin, đòi “đa nguyên, đa đảng”. Thực chất đây là những luận điệu xuyên tạc trắng trợn về chủ nghĩa Mác – Lênin. Do đó, cần có nhận thức đúng đắn về những giá trị trường tồn của chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh đối với cách mạng Việt Nam, là cơ sở để vạch trần những luận điệu sai trái của những kẻ thù địch như Âu Dương Thệ.

          Lịch sử dân tộc Việt Nam và lịch sử thế giới đương đại ghi nhận rằng: Không có sự lựa chọn con đường cứu nước đúng đắn theo những bài học kinh nghiệm của Cách mạng tháng Mười Nga năm 1917 của Nguyễn Ái Quốc; không có việc truyền bá chủ nghĩa Mác – Lênin vào Việt Nam những năm thập niên 1920 thì tất yếu cũng không có một Đảng cách mạng để tập hợp, quy tụ, lãnh đạo các tầng lớp nhân dân đấu tranh và giành thắng lợi trong Cách mạng tháng Tám năm 1945. Và nếu không có thắng lợi của cuộc Tổng khởi nghĩa giành chính quyền của nhân dân Việt Nam vào mùa Thu năm 1945 thì cũng không có một cuộc đổi đời lịch sử của những người nô lệ trở thành chủ nhân một nước Việt Nam độc lập, tự do trong thế kỷ XX. Bởi rằng, thắng lợi có ý nghĩa thời đại đó đã đưa đất nước Việt Nam trở lại bản đồ chính trị thế giới; đồng thời đưa nhân dân Việt Nam trở thành những người có quyền tự quyết định con đường phát triển của dân tộc mình và thụ hưởng những giá trị đích thực của độc lập, tự do, quyền con người mà trước đó họ chưa bao giờ có được…

          Đặc biệt, sau gần 40 năm đổi mới và hội nhập quốc tế sâu rộng, những thành tựu đạt được của đất nước về chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, an ninh, quốc phòng và đối ngoại; kiên định con đường đi lên chủ nghĩa xã hội dưới ánh sáng chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh được cộng đồng quốc tế đánh giá cao, được nhân dân ghi nhận, tin tưởng và kỳ vọng chính là minh chứng sinh động nhất khẳng định ý nghĩa, giá trị của chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh. Cộng đồng quốc tế bày tỏ ấn tượng trước tốc độ phát triển ngoạn mục của Việt Nam. Quỹ Tiền tệ quốc tế (IMF) ghi nhận, kể từ năm 1986 tới nay, tổng sản phẩm quốc nội (GDP) của Việt Nam đã tăng gấp 50 lần, đạt 434 tỷ USD. Các tổ chức quốc tế cũng đánh giá cao việc Việt Nam phát triển kinh tế luôn gắn liền với cải thiện đời sống người dân. Ngân hàng Credit Suisse (Thụy Sỹ) chỉ ra, giá trị tài sản bình quân của một người trưởng thành ở Việt Nam đã đạt 14.569 USD vào năm 2022, vượt xa mốc 1.595 USD hồi năm 2000. Cũng theo truyền thông quốc tế, Việt Nam đang chi khoảng 6% GDP hằng năm cho cải thiện hạ tầng, cao hơn nhiều so với trung bình 2,3% trong khu vực. Trong khi đó, báo cáo “Bước tiến mới: Giảm nghèo và thịnh vượng chung tại Việt Nam” của Ngân hàng Thế giới (WB) cho thấy, đói nghèo ở Việt Nam tiếp tục giảm, đặc biệt là trong các dân tộc thiểu số, với tỷ lệ giảm mạnh tới 13%. Đây là mức giảm lớn nhất trong thập niên vừa qua. Cùng với những điểm sáng về kinh tế, Việt Nam tiếp tục có những đóng góp quan trọng vào đời sống chính trị và quan hệ quốc tế. Việt Nam đã và đang đảm nhiệm cương vị thành viên một số cơ quan của tổ chức quốc tế quan trọng như Ủy viên không thường trực Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc (hai nhiệm kỳ 2008-2009 và 2020-2021); thành viên Hội đồng nhân quyền Liên hợp quốc (hai nhiệm kỳ 2014-2016 và 2023-2025); thành viên Hội đồng chấp hành Tổ chức Y tế thế giới – WHO (nhiệm kỳ 2016-2019).

          Thực tế, những luận điệu của Âu Dương Thệ và các thế lực thù địch, phản động xuyên tạc chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh luôn nhằm hướng tới mục tiêu xóa bỏ hệ tư tưởng, sự lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước và xã hội. Do đó, chúng ta cần luôn đề cao cảnh giác, tỉnh táo nhận diện rõ bản chất xấu xa và mục đích đen tối của các thế lực thù địch, kiên quyết đấu tranh, phản bác các quan điểm sai trái, thù địch, tăng cường bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, bảo vệ công cuộc xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam trong tình hình mới./.

 

SỰ THẬT VỀ NHÓM HỖ TRỢ NGƯỜI THƯỢNG (MSGI) VÀ NHÓM NGƯỜI THƯỢNG VÌ CÔNG LÝ (MSFJ)

          Lợi dụng vấn đề dân chủ, dân tộc, tôn giáo, các thế lực thù địch đã thành lập và đưa vào hoạt động các hội, nhóm trái pháp luật nhằm hô hào, vận động những kẻ bất mãn, cực đoan tham gia. Thông qua mạng xã hội, chúng kích động những người thiếu hiểu biết hiểu sai về việc chính quyền xử lý một số đối tượng vi phạm pháp luật. Sau đó, chúng đưa ra những thông tin sai lệch để vu cáo, xuyên tạc Việt Nam phân biệt đối xử, đàn áp người người dân tộc thiểu số. Nguy hiểm hơn, chúng còn lu loa đến các tổ chức quốc tế hòng lôi kéo sự ủng hộ và chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân tộc, chống phá Đảng, Nhà nước, chế độ xã hội chủ nghĩa ở nước ta. Bài viết “CSW phản đối việc Việt Nam liệt hai nhóm người Thượng là tổ chức khủng bố” của Đài VOA đăng trên  Voatiengviet xuyên tạc Bộ Công an Việt Nam đưa “ Nhóm hỗ trợ người Thượng (MSGI)” và “Người Thượng vì công lý (MSFJ)” vào danh sách các tổ chức khủng bố là một điển hình. Song, sự thật ở Việt Nam đã hoàn toàn bác bỏ bài viết sai trái, bịa đặt này, bởi lẽ:

          1 Tổ chức “Nhóm Hỗ trợ người Thượng” có tên tiếng Anh là “Montagnard Support Group, Inc.” viết tắt MSGI do các đối tượng Y Mut Mlô và Y Duen Bdăp (nguyên là thành viên tổ chức “Quỹ người Thượng – MFI” ở Mỹ) tuyên bố thành lập năm 2011. Tổ chức “Người Thượng vì công lý” có tên tiếng Anh là (Montagnards Stand For Justice) viết tắt MSFJ được thành lập vào năm 2019 bởi các đối tượng phản động: Y Phic Hdok (sinh sống tại Mỹ), Y Quynh Bdăp (sinh sống tại Thái Lan) cùng 15 đối tượng phản động, lưu vong khác. Hai Tổ chức, MSGI và MSFJ hoạt động theo phương thức bạo động, chủ trương lôi kéo, tuyển mộ thành viên ở trong nước, chủ yếu là người dân tộc thiểu số để kích động biểu tình, bạo loạn vũ trang; tài trợ tiền, vũ khí, phương tiện, huấn luyện, chỉ đạo tiến hành tấn công khủng bố, giết hại cán bộ và người dân, phá hoại tài sản của Nhà nước và nhân dân, đòi li khai, tự trị, thành lập “Nhà nước Đêga” ở Tây Nguyên.

          2. Các thành viên của tổ chức “Nhóm hỗ trợ người Thượng (MSGI)” ở Hoa Kỳ và Tổ chức “Người Thượng vì công lý (MSFJ)” ở Thái Lan đã thường xuyên móc nối, dụ dỗ, lôi kéo các phần tử bất mãn, cùng một bộ phận đồng bào dân tộc thiểu số kém hiểu biết trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk và các địa phương lân cận thành lập tổ chức khủng bố “Lính Đêga”, thực hiện các hoạt động tấn công, khủng bố gây ảnh hưởng đến tình hình an ninh, trật tự trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk. Điển hình là rạng sáng ngày 11.6.2023, các đối tượng của MSFJ và MSGI chia thành 2 nhóm mang theo 4 khẩu súng AR15, 1 khẩu AK, 2 khẩu CKC, 2 khẩu Klip, 5 khẩu súng thể thao, 2 khẩu CPC, 1 khẩu súng ngắn Klip; 1 quả lựu đạn, 40 viên đạn AK, 400 viên đạn AR15 và một số loại đạn khác tấn công trụ sở Uỷ ban nhân dân 2 xã Ea Tiêu và Ea Ktur, giết hại 4 cán bộ công an, 1 bí thư xã, 1 chủ tịch xã và 3 người dân, làm bị thương 2 cán bộ công an xã, bắt cóc 3 người dân làm con tin, đốt trụ sở xã và đập phá tài sản của người dân, gây thiệt hại hơn 2,5 tỉ đồng.

          Không lâu sau khi vụ việc xảy ra, hầu hết các đối tượng tham gia vụ việc đã bị lực lượng chức năng bắt, điều tra và khởi tố theo quy định của pháp luật. Đến ngày 16/01/2024, Tòa án Nhân dân tỉnh Đắk Lắk mở phiên tòa xét xử sơ thẩm vụ án “Khủng bố nhằm chống chính quyền nhân dân”; “Khủng bố”; “Tổ chức cho người khác xuất cảnh, nhập cảnh trái phép”; “Che giấu tội phạm” đối với 100 bị cáo. Trong đó, 53 bị cáo bị xét xử về tội “Khủng bố nhằm chống chính quyền nhân dân”; 39 bị cáo về tội “Khủng bố”; 01 bị cáo về tội “Tổ chức cho người khác xuất cảnh, nhập cảnh trái phép; 01 bị cáo về tội “Che giấu tội phạm”; 06 bị cáo ở nước ngoài (gồm: Y Mút Mlô, Y Bút Êban, Y Niên Êya, Y Cik Niê, Y Chanh Byă, Y Quynh Bdap) bị xét xử về tội “Khủng bố”. Qua lời khai nhận của các bị cáo, đặc biệt các đối tượng cầm đầu, tất cả đã đồng ý với cáo trạng mà Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Đắk Lắk công bố và thành khẩn khai nhận. Đây là bản án nghiêm minh, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật nhưng cũng đầy tính nhân văn của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa dành cho các bị cáo.

          Cần khẳng định rằng, vụ việc nhóm đối tượng dùng vũ khí tấn công trụ sở Uỷ ban nhân dân hai xã Ea Tiêu và Ea Ktur, huyện Cư Kuin, tỉnh Đắk Lắk xảy ra vào rạng sáng 11/6/2023, là vụ khủng bố chống chính quyền nhân dân với tính chất manh động, liều lĩnh, vô nhân tính, bất chấp đạo lý và luật pháp. Hành vi của nhóm đối tượng này đã bị xử lý nghiêm trước pháp luật để cảnh tỉnh và răn đe đối với những đối tượng đang có âm mưu làm phức tạp tình hình an ninh trật tự ở vùng Tây Nguyên nói riêng và Việt Nam nói chung.

          Như vậy, việc Bộ Công an Việt Nam đưa Tổ chức “Nhóm hỗ trợ người Thượng (MSGI)” và Tổ chức “Người Thượng vì công lý (MSFJ)” vào danh sách các tổ chức khủng bố là hoàn toàn có căn cứ chính xác, đúng với quy định của pháp luật Việt Nam và Luật pháp quốc tế. Việc các thế lực thù địch lợi dụng sự kiện này, để nói xấu chế độ chính trị ở Việt Nam là đi ngược lại chủ trương, đường lối, quan điểm của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước và lợi ích nguyện vọng chính đáng của nhân dân ta. Do đó, việc chúng ta kiên quyết đấu tranh vạch rõ bộ mặt xảo trá của chúng là cần thiết và hợp với lòng dân./

 

 

Luận điệu sai trái, phủ nhận thành tựu của nền công nghiệp quốc phòng và khả năng bảo vệ Tổ quốc của Quân đội nhân dân Việt Nam cần được lên án

 

          Một trong những âm mưu và hoạt động “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch, phản động là xuyên tạc chính sách của Nhà nước ta về ngân sách hoạt động quốc phòng, phủ nhận thành tựu của nền công nghiệp quốc phòng, hạ thấp vị trí, vai trò và khả năng bảo vệ tổ quốc của Quân đội nhân dân Việt Nam, gây tâm lý hoang mang trong nhân dân. Mới đây trang Rfavietnam.org, Đài RFA đã tán phát bài “Việt Nam không đặt thêm đơn hàng lớn nào về vũ khí trong năm 2023”. Đây là luận điệu sai trái, xuyên tạc hết sức nguy hiểm cần phải lên án và bác bỏ, bởi vì:

          1. Nâng cao năng lực quốc phòng để bảo vệ Tổ quốc, bảo vệ hòa bình thực sự là đòi hỏi tất yếu khách quan của mỗi quốc gia, dân tộc. Xây dựng và phát triển công nghiệp quốc phòng, an ninh vững mạnh về mọi mặt được Đảng ta xác định là “nhiệm vụ cơ bản, vừa có ý nghĩa cấp bách trước mắt, vừa là nhiệm vụ chiến lược lâu dài; là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị và toàn Đảng, toàn dân, toàn quân”. Xây dựng và bảo vệ Tổ quốc luôn là sự nghiệp sống còn của mỗi quốc gia. Việt Nam đã trải qua nhiều thập kỷ chiến tranh tự vệ nên thấu hiểu sự tàn phá và hậu quả của chiến tranh. Vì vậy, Việt Nam luôn chủ trương chi ngân sách nhà nước cho quốc phòng ở mức hợp lý, xây dựng quân đội, xây dựng tiềm lực quốc phòng đủ mạnh để tăng cường khả năng bảo vệ Tổ quốc, bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ, lợi ích quốc gia, dân tộc. Hiện nay, Quân đội nhân dân Việt Nam tiếp tục phát huy vai trò nòng cốt trong xây dựng nền quốc phòng toàn dân, xung kích ứng phó với nhiều thách thức an ninh phi truyền thống, đặc biệt là công tác cứu hộ, cứu nạn, phòng chống thiên tai, ứng phó với đại dịch Covid-19; cử lực lượng tham gia các hoạt động gìn giữ hòa bình Liên hợp quốc, bước đầu đạt nhiều thành tựu nổi bật, được cộng đồng quốc tế tôn vinh, ghi nhận.

          2. Tăng cường khả năng quốc phòng, đương nhiên không thể thiếu hiện đại hóa vũ khí, trang thiết bị quân sự. Tuy nhiên, Việt Nam luôn chủ trương chỉ tập trung hiện đại hóa vũ khí, trang bị quân sự để phục vụ mục đích bảo vệ Tổ quốc. Nền quốc phòng của Việt Nam là nền quốc phòng mang tính chất hòa bình và tự vệ. Tăng cường tiềm lực quốc phòng để bảo vệ Tổ quốc, cho nên, Việt Nam chủ trương tăng cường khả năng quốc phòng bằng nội lực trong điều kiện, khả năng của mình, không tham gia liên minh quân sự, không liên kết với nước này để chống lại nước kia, không cho nước ngoài đặt căn cứ quân sự hoặc sử dụng lãnh thổ Việt Nam để chống lại nước khác, không sử dụng vũ lực hoặc đe dọa sử dụng vũ lực trong quan hệ quốc tế. Theo đánh giá của các tổ chức quốc tế, thì trong hơn 10 năm gần đây, sức mạnh của Quân đội Nhân dân Việt Nam đã có sự thay đổi căn bản, đã hình thành khả năng triển khai quân sự để bảo vệ Tổ quốc. Đến nay, công nghiệp quốc phòng Việt Nam cơ bản bảo đảm tốt nhu cầu của lực lượng vũ trang, nhất là về vũ khí thông thường và một số loại vũ khí công nghệ cao.

          Trong bối cảnh Việt Nam hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng, toàn diện như hiện nay, đặc biệt hội nhập quốc tế về công nghiệp quốc phòng được xác định là một kênh không tách rời của quá trình hội nhập quốc tế, thì xây dựng, phát triển công nghiệp quốc phòng hiện đại là tất yếu khách quan, phù hợp với xu hướng phát triển công nghiệp quốc phòng thế giới. Để sẵn sàng đối phó thắng lợi với vũ khí công nghệ cao của địch nếu xảy ra chiến tranh trong tương lai, bên cạnh yếu tố chính trị, tinh thần, con người và các yếu tố khác cấu thành sức mạnh tổng hợp của quốc gia, việc làm chủ các loại vũ khí, trang bị kỹ thuật mới, tiên tiến, hiện đại là yêu cầu cấp thiết, khách quan. Chính vì vậy, ngay trong các nghị quyết chuyên đề của Bộ Chính trị về xây dựng và phát triển công nghiệp quốc phòng ở các giai đoạn trước đây cũng đã xác định chủ trương và nhiệm vụ phát triển tiềm lực khoa học – công nghệ của công nghiệp quốc phòng Việt Nam, phấn đấu thực hiện một số nhiệm vụ trọng điểm mang tính đột phá, mũi nhọn để tiếp cận và làm chủ được các ngành công nghệ mới liên quan tới chế tạo vũ khí. Tập trung đầu tư sản xuất thành công các chủng loại vũ khí, trang bị, khí tài hiện đại và chiến lược, trong đó có những chủng loại “Made in Việt Nam” đạt trình độ tiên tiến, hiện đại tương đương so với thế giới và khu vực để đáp ứng yêu cầu hiện đại hóa Quân đội. Chúng ta cần ưu tiên ứng dụng hiệu quả các công nghệ nền tảng, các thành tựu của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ Tư, thực hiện “đi tắt, đón đầu” trong một số lĩnh vực công nghệ quân sự đặc thù để tạo chuyển biến bước ngoặt về năng lực thiết kế – chế tạo các sản phẩm có tính đột phá về tính năng chiến thuật – kỹ thuật. Ứng dụng công nghệ mới, tiên tiến, lưỡng dụng, tiến tới làm chủ công nghệ nền, công nghệ lõi trong nghiên cứu, thử nghiệm, sản xuất vũ khí, trang bị kỹ thuật có hàm lượng công nghệ cao.

          3. Phát triển công nghiệp quốc phòng theo hướng lưỡng dụng, ngày càng hiện đại

Công nghiệp quốc phòng là một bộ phận của công nghiệp quốc gia, vừa sản xuất phục vụ nhu cầu tiêu dùng quân sự, vừa tham gia sản xuất phục vụ nhu cầu tiêu dùng dân dụng. Đẩy mạnh ứng dụng các công nghệ mới vào nghiên cứu, thiết kế, chế tạo sản phẩm quốc phòng, đồng thời sản xuất các sản phẩm dân sinh cũng như đẩy mạnh phát triển, chuyển giao một số công nghệ cho công nghiệp dân sinh. Phát triển công nghiệp quốc phòng theo hướng lưỡng dụng sẽ khai thác tốt tiềm năng, phát huy tốt nội lực trong xây dựng, phát triển công nghiệp quốc phòng để đáp ứng đồng thời các yêu cầu của quốc phòng – an ninh và yêu cầu của công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Qua đó, giảm bớt sự phụ thuộc, đa dạng hóa việc tiếp cận công nghệ, nguồn lực trong quá trình thực hiện các mục tiêu chiến lược đã đề ra. Tăng cường chuyển giao công nghệ, liên doanh, liên kết, hợp tác cùng nghiên cứu phát triển mẫu vũ khí mới, hợp tác về đào tạo nhân lực, phát triển thị trường quốc tế và xây dựng thương hiệu, xuất khẩu sản phẩm quân sự, lưỡng dụng và sản phẩm kinh tế. Tham gia các chuỗi giá trị toàn cầu trong phân công chuyên môn hóa sản xuất, trước hết là các sản phẩm kinh tế và lưỡng dụng. Như thế, vừa đáp ứng yêu cầu tăng cường khả năng quốc phòng để làm tròn nghĩa vụ bảo vệ Tổ quốc, vừa góp phần phát triển kinh tế-xã hội, phục vụ đời sống nhân dân.

 Như vậy, chúng ta có thể thấy chính sách quốc phòng nói chung và định hướng chi tiêu cho quốc phòng, hiện đại hóa trang bị của quân đội; thành tựu của nền công nghiệp quốc phòng và khả năng bảo vệ Tổ quốc của Quân đội nhân dân Việt Nam là hết sức rõ ràng và hiệu quả. Sự hiệu quả ấy là minh chứng xác đáng phản bác mọi luận điệu xuyên tạc, vu cáo, phủ nhận thành tựu của nền công nghiệp quốc phòng và khả năng bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa của Quân đội nhân dân Việt Nam của các thế lực thù địch./.

 

 

CẢNH GIÁC VỚI ÂM MƯU “PHI CHÍNH TRỊ HÓA” QUÂN ĐỘI

          Như một thông lệ, cứ vào dịp kỷ niệm Ngày thành lập Quân đội nhân dân Việt Nam, các thế lực thù địch, phản động, phần tử cơ hội chính trị lại ra sức tung ra những điệp khúc xuyên tạc quen thuộc, hòng chống phá Đảng, Nhà nước và Quân đội. Mới đây, trên trang “Hung-viet” đã phát tán bài viết “Quân đội nhân dân Việt Nam: Hãy trở về đúng tên gọi của mình” với những luận điệu xuyên tạc nhằm chia rẽ, phủ nhận sự lãnh đạo của Đảng đối với Quân đội, thúc đẩy “phi chính trị hóa” quân đội. Bởi vậy, cảnh giác, nhận rõ và chủ động đấu tranh, bác bỏ các luận điệu đó là vấn đề quan trọng, cấp thiết.

Vẫn luận điệu cũ, Nguyên Anh rêu rao rằng: “Quân đội nhân dân Việt Nam là lực lượng đang bảo vệ đảng cầm quyền, họ hoàn toàn không bảo vệ người dân, bởi vì toàn bộ cấu trúc hệ thống đều do hệ thống đảng ủy chỉ đạo”. Đây là luận điểm vô căn cứ, phản khoa học nhằm tách quân đội ra khỏi sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam hòng thực hiện mưu đồ “phi chính trị hóa” quân đội.

Về bản chất, quân đội bao giờ cũng là công cụ bạo lực của một giai cấp, nhà nước và do nhà nước, giai cấp đó thành lập, nuôi dưỡng, sử dụng để tiến hành đấu tranh vũ trang, thực hiện mục đích chính trị của giai cấp, nhà nước đã tổ chức và nuôi dưỡng nó. Ở một số quốc gia, quân đội còn tuyên thệ trung thành với người đứng đầu nhà nước (đương nhiên cũng là người đứng đầu đảng chính trị cầm quyền). Điều II, khoản 2 Hiến pháp Mỹ ghi rõ: “Tổng thống là Tổng Tư lệnh các lực lượng Lục quân và Hải quân Hoa Kỳ và lực lượng dự bị ở một số bang”[1]. Rõ ràng, không có và không thể có bất kỳ một quân đội nào lại không gắn với một đảng chính trị cầm quyền, không bảo vệ lợi ích của giai cấp nào trong một chế độ xã hội nhất định.

Quân đội nhân dân Việt Nam là quân đội kiểu mới của giai cấp công nhân do Đảng Cộng sản Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh tổ chức, lãnh đạo, giáo dục và rèn luyện. Sự lãnh đạo của Đảng đã trở thành nguyên tắc căn bản trong xây dựng quân đội, quyết định bản chất giai cấp, mục tiêu lý tưởng chiến đấu, sự trưởng thành, lớn mạnh và chiến thắng của Quân đội ta trong mọi thời kỳ cách mạng. Điều đó được khẳng định rõ tại Điều 25, Chương VI, Điều lệ Đảng Cộng sản Việt Nam: “Đảng lãnh đạo Quân đội nhân dân Việt Nam và Công an nhân dân Việt Nam tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt”. Sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng đối với Quân đội và sự trung thành tuyệt đối của Quân đội đối với Đảng là hai mặt thống nhất của một chủ thể; hai mặt đó có mối quan hệ biện chứng, không tách rời, được thực tiễn kiểm nghiệm trong suốt quá trình xây dựng, chiến đấu và trưởng thành của Quân đội ta. Mối quan hệ giữa Đảng với Quân đội là mối quan hệ lãnh đạo và phục tùng, Đảng giữ vai trò lãnh đạo đối với Quân đội bằng một cơ chế đặc thù, bảo đảm cho Đảng thường xuyên giữ vững sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt.

Thực tiễn gần 80 năm xây dựng, chiến đấu và trưởng thành, Quân đội ta không chỉ là công cụ, lực lượng chính trị tin cậy, trung thành của Đảng, Nhà nước mà còn là của nhân dân, của dân tộc, chiến đấu cho lý tưởng giải phóng dân tộc, giải phóng hoàn toàn và triệt để quần chúng nhân dân lao động, phấn đấu không mệt mỏi cho mục tiêu, lý tưởng của Đảng và cũng là vì độc lập, tự do, hạnh phúc của nhân dân. Trong quá trình xây dựng, chiến đấu và trưởng thành, dù công tác ở đâu, đi đến đâu, làm những nhiệm vụ gì, trong điều kiện chiến tranh hay hòa bình, ở đất liền hay trên biển đảo, cán bộ, chiến sĩ Quân đội đều ra sức bảo vệ, giúp đỡ, tuyên truyền, hướng dẫn nhân dân thực hiện chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; tham gia xây dựng phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội, xóa đói giảm nghèo, phòng, chống, khắc phục hậu quả thiên tai, phấn đấu vì tự do, hạnh phúc của nhân dân. Đó là biểu hiện sự thống nhất giữa trung thành với Đảng và trung hiếu với nhân dân với đất nước, dân tộc trong thực hiện chức năng, nhiệm vụ của Quân đội nhân dân Việt Nam, xứng đáng với lời khen tặng của Bác Hồ: “Quân đội ta trung với Đảng, hiếu với dân, sẵn sàng chiến đấu hy sinh vì độc lập, tự do của Tổ quốc, vì chủ nghĩa xã hội. Nhiệm vụ nào cũng hoàn thành, khó khăn nào cũng vượt qua, kẻ thù nào cũng đánh thắng”

Do đó, luận điệu của Nguyên Anh chỉ là chiêu trò đánh lừa dư luận, hòng phủ nhận sự độc tôn lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với Quân đội nhân dân Việt Nam, nhằm phá vỡ nền tảng chính trị của Quân đội, làm cho Quân đội mất phương hướng, mục tiêu chiến đấu, không còn khả năng làm nòng cốt cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Vì thế, chúng ta cần kiên quyết đấu tranh bác bỏ.

 

 

BẢO VỆ VỮNG CHẮC TỔ QUỐC VIỆT NAM XÃ HỘI CHỦ NGHĨA TRONG TÌNH HÌNH MỚI

          Quan điểm về bảo vệ Tổ quốc là bộ phận đặc biệt quan trọng trong hệ thống quan điểm của Đảng. Đảng ta khẳng định trong khi đặt lên hàng đầu nhiệm vụ xây dựng đất nước, không được một phút lơi lỏng nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc. Quan điểm này thể hiện sự trung thành, vận dụng sáng tạo lý luận chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về mối quan hệ giữa xây dựng và bảo vệ thành quả cách mạng, kế thừa, phát huy truyền thống dựng nước đi đôi với giữ nước của dân tộc ta.

Sau 10 năm thực hiện Nghị quyết Trung ương 8 khóa XI về Chiến lược bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới, toàn Đảng, toàn dân, toàn quân đã nhận thức rõ hơn yêu cầu, nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới; phát huy truyền thống yêu nước, đoàn kết, chủ động nắm bắt thuận lợi, thời cơ, vượt qua khó khăn, thách thức, nỗ lực phấn đấu và đạt được nhiều kết quả, thành tựu rất quan trọng, toàn diện. Kinh tế tăng trưởng khá, chính trị ổn định, trật tự an toàn xã hội được bảo đảm, quốc phòng, an ninh tiếp tục được giữ vững và tăng cường; quan hệ đối ngoại, hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng, đạt nhiều thành tựu nổi bật. Sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc được củng cố; dân chủ xã hội chủ nghĩa tiếp tục được phát huy. Xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa có nhiều tiến bộ, hoạt động hiệu lực và hiệu quả hơn; tổ chức bộ máy lập pháp, hành pháp và tư pháp tiếp tục được hoàn thiện. Công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị được đẩy mạnh toàn diện, đồng bộ, quyết liệt, có hiệu quả rõ rệt. Việt Nam đang ngày càng chứng tỏ uy tín và tiếng nói có trọng lượng của mình trong cộng đồng chính trị quốc tế, thúc đẩy vị thế chiến lược mới của nước ta trong khu vực và trên thế giới.

Tuy nhiên, việc thể chế hóa chủ trương, đường lối của Đảng về xây dựng và bảo vệ Tổ quốc có nội dung còn chậm. Kinh tế – xã hội phát triển chưa tương xứng với tiềm năng, lợi thế của đất nước. Việc phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc và dân chủ xã hội chủ nghĩa có lúc, có nơi chưa được quan tâm đúng mức. Xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam có mặt chưa đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế – xã hội và quản lý đất nước trong tình hình mới.

Hiện nay, thế giới đang trải qua những biến động to lớn, diễn biến rất nhanh chóng, phức tạp, khó dự báo. Cục diện thế giới đa cực, đa trung tâm hình thành ngày càng rõ nét hơn; cạnh tranh chiến lược giữa các nước lớn ngày càng gay gắt, toàn diện, thậm chí đối đầu. Sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa, bên cạnh thời cơ, thuận lợi cũng gặp không ít những khó khăn, thách thức. Bốn nguy cơ mà Đảng ta đã từng cảnh báo vẫn còn hiện hữu, có mặt diễn biến phức tạp và gay gắt hơn. Các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị trong và ngoài nước cấu kết, tăng cường chống phá công khai và trực diện, với âm mưu, thủ đoạn ngày càng tinh vi. Trước bối cảnh đó, để tiếp tục thực hiện tốt hai nhiệm vụ chiến lược của cách mạng Việt Nam, Ban Chấp hành trung ương (Khóa XIII) đã kịp thời ban hành Nghị quyết số 44- NQ/TW ngày 24 /11/2023, Về chiến lược bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới. Nghị quyết chỉ rõ, phải: Bảo đảm cao nhất lợi ích quốc gia – dân tộc trên cơ sở bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc; bảo vệ Đảng, Nhà nước, Nhân dân, chế độ xã hội chủ nghĩa; bảo vệ thành quả cách mạng, sự nghiệp đổi mới, công nghiệp hoá, hiện đại hoá; bảo vệ nền văn hoá và uy tín, vị thế quốc tế của đất nước; bảo vệ an ninh quốc gia, an ninh con người, an ninh kinh tế, an ninh mạng; giữ vững an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội; triệt tiêu các nhân tố gây mất ổn định chính trị từ bên trong, kiên quyết không để hình thành các tổ chức chính trị đối lập ở trong nước, dập tắt nguy cơ xung đột quân sự, chiến tranh; giữ vững, củng cố, tăng cường môi trường hoà bình để xây dựng, phát triển đất nước; đóng góp tích cực vào gìn giữ hoà bình khu vực, thế giới.

Để thực hiện tốt Nghị quyết của Trung ương, cấp ủy, chính quyền các cấp, ngành cần tổ chức nghiêm túc việc nghiên cứu, quán triệt và xây dựng chương trình, kế hoạch thực hiện Nghị quyết phù hợp với chức năng, nhiệm vụ của từng địa phương, cơ quan, đơn vị; định kỳ kiểm tra, đánh giá kết quả thực hiện Nghị quyết, đồng thời, chú trọng một số nội dung sau:

Một là, kiên định và vận dụng, phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới. Kiên định mục tiêu độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội và đường lối đổi mới, tăng cường bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng. Đẩy mạnh học tập, làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh và thực hiện các quy định về trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên. Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng với nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới.

Hai là, nâng cao hiệu quả xây dựng, hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân. Nâng cao năng lực thể chế hoá đường lối, chủ trương của Đảng và lãnh đạo, chỉ đạo, tổ chức thực hiện hiệu quả. Phát huy tốt vai trò giám sát, phản biện của Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị – xã hội, tăng cường sức mạnh đại đoàn kết dân tộc, dân chủ xã hội chủ nghĩa và quyền làm chủ của nhân dân trong xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

Ba là, tiếp tục hoàn thiện toàn diện, đồng bộ thể chế phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Bảo đảm ổn định kinh tế vĩ mô, nâng cao chất lượng mô hình tăng trưởng, cơ cấu lại nền kinh tế. Đẩy mạnh chuyển đổi số quốc gia, phát triển kinh tế số, xã hội số, kinh tế xanh, kinh tế tuần hoàn. Gắn kết hài hoà, hiệu quả thị trường trong nước và ngoài nước.

Bốn là, xây dựng Quân đội nhân dân, Công an nhân dân cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại, một số quân chủng, binh chủng, lực lượng tiến thẳng lên hiện đại. Đến năm 2025, cơ bản xây dựng Quân đội, Công an tinh, gọn, mạnh, tạo tiền đề vững chắc, phấn đấu năm 2030 xây dựng Quân đội nhân dân, Công an nhân dân cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại; bảo đảm chất lượng tổng hợp và sức mạnh chiến đấu cao, đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ trong mọi tình huống.

Năm là, thực hiện nhất quán đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, hoà bình, hữu nghị, hợp tác và phát triển, đa phương hóa, đa dạng hóa quan hệ đối ngoại; chủ động và tích cực hội nhập quốc tế sâu rộng, hiệu quả. Ưu tiên quan hệ với các nước láng giềng có chung biên giới. Tích cực tham gia củng cố, xây dựng, định hình các cơ chế đa phương, luật pháp quốc tế. Tham gia các cơ chế đa phương về quốc phòng, an ninh theo tư duy mới về bảo vệ Tổ quốc.

Cùng với quán triệt sâu sắc và tổ chức thực hiện thắng lợi những chủ trương, quan điểm, mục tiêu, nhiệm vụ, giải pháp của Đảng về nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới, chúng ta cần nêu cao cảnh giác, đấu tranh làm thất bại những âm mưu, thủ đoạn “diễn biến hòa bình” chống phá cách mạng Việt Nam của các thế lực thù địch. Gắn kết chặt chẽ “ý Đảng” với “lòng dân”, phát huy truyền thống yêu nước, lòng tự hào, tự tôn, tinh thần đoàn kết của dân tộc Việt Nam là con đường duy nhất đúng đắn để bảo vệ vững chắc Tổ quốc và “xây dựng một nước Việt Nam hòa bình, thống nhất, độc lập, dân chủ và giàu mạnh” theo Di nguyện của Chủ tịch Hồ Chí Minh./.

 

KIÊN ĐỊNH VÀ VẬN DỤNG SÁNG TẠO CHỦ NGHĨA MÁC – LÊNIN, TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH LÀ SỰ LỰA CHỌN ĐÚNG ĐẮN, SÁNG SUỐT CỦA ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM

          Đảng Cộng sản Việt Nam do Chủ tịch Hồ Chí Minh sáng lập và rèn luyện. Ngay từ khi ra đời, Đảng ta xác định: Đảng lấy chủ nghĩa Mác – Lênin làm nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động. Đây là quan điểm xuyên suốt của Đảng trong quá trình lãnh đạo cách mạng giải phóng dân tộc, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa. Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển năm 2011), Đảng ta cũng khẳng định rõ: “Đảng lấy chủ nghĩa Mác – Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động”; tại Đại hội XIII, Đảng ta tiếp tục khẳng định: “tiếp tục kiên định chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, không ngừng vận dụng và phát triển sáng tạo phù hợp với thực tiễn Việt Nam trong từng giai đoạn”, đây là sự lựa chọn đúng đắn, sáng suốt của Đảng ta, bởi vì:

Thứ nhất, Chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh là lý luận cách mạng chân chính, khoa học nhất, chỉ ra con đường đấu tranh giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp, giải phóng con người của cách mạng Việt Nam. Chúng ta đều biết, chủ nghĩa Mác – Lênin là một hệ thống hoàn chỉnh những quan điểm triết học, kinh tế chính trị, xã hội, là học thuyết khoa học về sự phát triển lịch sử tự nhiên của nhân loại. Sự ra đời của chủ nghĩa Mác – Lênin là một chuyển biến cách mạng vĩ đại trong đời sống chính trị của nhân loại. Chủ nghĩa Mác – Lênin là thế giới quan, phương pháp luận khoa học về các quy luật của tự nhiên và xã hội, khoa học về thắng lợi của chủ nghĩa xã hội và xây dựng xã hội cộng sản. Đó là học thuyết duy nhất từ trước đến nay bàn về mục tiêu, điều kiện và phương pháp giải phóng con người khỏi ách áp bức bóc lột, bất công và đói nghèo trên thế giới. Mặt khác, chủ nghĩa Mác – Lênin là một hệ thống mở, có khả năng hấp thu tinh hoa trí tuệ của nhân loại, gắn bó và phát triển cùng với thực tiễn phong trào cách mạng đã, đang và sẽ tiếp tục phát triển trong thời đại cách mạng khoa học, công nghệ và toàn cầu hóa.

Tư tưởng Hồ Chí Minh là kết quả của sự vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác – Lênin vào hoàn cảnh cụ thể Việt Nam. Tổng hợp tri thức văn hóa phương Đông và phương Tây. Tư tưởng Hồ Chí Minh đạt tới tầm cao trí tuệ của thời đại, thấm đậm bản sắc văn hóa và bản lĩnh của dân tộc, có sức sống mạnh mẽ, góp phần làm phong phú thêm kho tàng lý luận chủ nghĩa Mác – Lênin. Tư tưởng Hồ Chí Minh ngày càng được hoàn thiện, phát triển cùng với những thắng lợi và những bước tiến lên của cách mạng nước ta, của sự nghiệp đổi mới và hội nhập quốc tế của đất nước.

Thứ hai, Chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh là cơ sở khoa học để Đảng ta nghiên cứu, đánh giá đúng tình hình, bản chất, âm mưu, thủ đoạn của chủ nghĩa đế quốc và các thế lực thù địch, đề ra đường lối cách mạng đúng đắn trong mọi thời kỳ. Chỉ có dựa trên cơ sở phương pháp luận khoa học của chủ nghĩa Mác – Lênin, với phương pháp xem xét khách quan, toàn diện, lịch sử, cụ thể và phát triển, được vận dụng sáng tạo vào thực tiễn cách mạng Việt Nam, gắn chặt lý luận với thực tiễn theo tư tưởng Hồ Chí Minh mới bảo đảm cho Đảng ta đánh giá đúng tình hình, bản chất, âm mưu, thủ đoạn của chủ nghĩa đế quốc và các thế lực thù địch đối với cách mạng nước ta, đề ra được đường lối cách mạng đúng đắn, sáng tạo, sát với thực tiễn, dẫn dắt cách mạng giành thắng lợi.

Thực tiễn lịch sử đã chứng minh, vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác – Lênin vào tình hình cách mạng Việt Nam, Đảng ta đã đề ra đường lối cách mạng đúng đắn, chấm dứt khủng hoảng đường lối cách mạng ở đầu thế kỷ XX. Nhờ đó, Đảng ta đã lãnh đạo nhân dân tiến hành đấu tranh cách mạng, theo con đường cách mạng vô sản; đỉnh cao là cuộc Tổng khởi nghĩa giành chính quyền thắng lợi tháng Tám năm 1945, lập ra nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, chấm dứt gần 100 năm thuộc địa của thực dân Pháp. Dựa trên bản chất cách mạng, khoa học của chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, Đảng ta đã nhận thức đúng bản chất của chủ nghĩa đế quốc, thực dân, kiên trì mục tiêu, con đường cách mạng vô sản, phát huy sức mạnh đoàn kết toàn dân tộc, giành thắng lợi trọn vẹn trong sự nghiệp cách mạng giải phóng dân tộc. Cũng nhờ kiên định chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, nước ta đạt được những thành tựu hết sức to lớn và có ý nghĩa lịch sử. Chính trị ổn đinh, văn hóa phát triển, đối ngoại được mở rộng, quốc phòng, an ninh vững chắc, đặc biệt kinh tế không ngừng phát triển, đời sống của nhân dân được nâng cao, cộng đồng các dân tộc Việt Nam đoàn kết chặt chẽ, có cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc…

Trong tình hình hiện nay, thế giới và khu vực vẫn có những diễn biến nhanh chóng, phức tạp, khó lường. Toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế vẫn đang là xu hướng lớn, diễn ra ngày càng sâu rộng; khoa học và công nghệ tiếp tục phát triển mạnh mẽ, đánh dấu bằng sự ra đời của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư tác động sâu sắc đến mọi quốc gia, dân tộc; các thế lực thù địch đẩy mạnh “diễn biến hòa bình” chống phá cách mạng nước ta… Để vượt qua những khó khăn, thách thức trong tình hình mới, nhằm thực hiện thắng lợi mục tiêu dâu giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh, xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa, việc giữ vững độc lập, tự chủ và định hướng xã hội chủ nghĩa là vấn đề có tính nguyên tắc. Thể hiện tập trung nhất của giữ vững độc lập, tự chủ và định hướng xã hội chủ nghĩa là sự kiên định chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh. Như vậy, kiên định và vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh là sự lựa chọn đúng đắn, sáng suốt của Đảng./.

 

TỰ DO TÍN NGƯỠNG TÔN GIÁO Ở VIỆT NAM LUÔN ĐẶT DƯỚI SỰ LÃNH ĐẠO CỦA ĐẢNG, SỰ QUẢN LÝ CỦA NHÀ NƯỚC

 

          Tôn giáo du nhập, hình thành ở Việt Nam từ rất sớm, được người dân đón nhận bởi những giá trị nhân văn mà tôn giáo mang lại phù hợp với đạo lý, văn hóa truyền thống tốt đẹp của người Việt. Trải qua chiều dài lịch sử dân tộc, tôn giáo luôn gắn kết chặt chẽ, đồng hành cùng dân tộc, biểu hiện rõ nét nhất là các giá trị đạo đức, văn hóa. Việt Nam đã công bố Sách trắng “Tôn giáo và chính sách tôn giáo ở Việt Nam”, minh bạch hóa quan điểm, chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước Việt Nam và thành tựu bảo đảm quyền tự do tôn giáo ở nước ta trong thời gian qua. Như vậy, khẳng định rằng, tôn trọng quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của nhân dân là chủ trương, chính sách nhất quán, xuyên suốt của Đảng, Nhà nước Việt Nam và được thể chế hóa bằng Hiến pháp, pháp luật. Điều 24, Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 2013 đã khẳng định: “(1). Mọi người có quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, theo hoặc không theo một tôn giáo nào. Các tôn giáo bình đẳng trước pháp luật; (2). Nhà nước tôn trọng và bảo hộ quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo; (3). Không ai được xâm phạm tự do tín ngưỡng, tôn giáo hoặc lợi dụng tín ngưỡng, tôn giáo để vi phạm pháp luật”. Cùng với Hiến pháp năm 2013, việc thông qua Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016 và hai Nghị định thực thi Luật Tín ngưỡng, tôn giáo đã tạo khuôn khổ pháp lý vững chắc để bảo đảm tốt hơn quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo cho người dân.

  Thế nhưng, gần đây nhất, trên trang Doithoainoline.com Phạm Trần có bài viết “Có tự do tôn giáo ở Việt Nam không?”…. Họ tự cho mình quyền được khuyến khích, cổ vũ các hoạt động tôn giáo trái pháp luật, không cần xin phép, đăng ký chính quyền, thúc đẩy các hoạt động “tà đạo, đạo lạ” ở các vùng sâu, vùng xa, gia tăng hoạt động mê tín dị đoan, trái thuần phong mỹ tục, trái pháp luật, gây bức xúc trong xã hội và nhân dân. Họ xuyên tạc rằng “cả Hiến pháp và Luật Tín ngưỡng, tôn giáo của Việt Nam đều có những quy định nhằm hạn chế quyền tự do tôn giáo”. Họ cho rằng “Luật tín ngưỡng, tôn giáo của Việt Nam bao gồm: các điều khoản mơ hồ cho phép tự do tôn giáo vì lợi ích an ninh quốc gia và đoàn kết xã hội là “bước thụt lùi”, “bóp nghẹt tôn giáo” không phù hợp với công ước quốc tế về quyền con người”. Họ lợi dụng triệt để quan điểm “quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo trong khuôn khổ pháp luật” để cho rằng “tự do tôn giáo của Việt Nam chỉ là hình thức”.. Họ dựa vào việc các tổ chức đội lốt tôn giáo, có những hoạt động vi phạm pháp luật, như: tổ chức bất hợp pháp Dương Văn Mình (Tây Bắc), Hà Mòn (Tây Nguyên), tịnh thất Bồng Lai (Long An),… bị chính quyền xử lý để vu khống Việt Nam “vi phạm tự do tôn giáo, cấm đoán tôn giáo, đàn áp tôn giáo”, v.v.

Sau gần 40 năm tiến hành công cuộc Đổi mới, công tác tôn giáo ở Việt Nam ngày càng tốt hơn. Nghị quyết số 24-NQ/TW ngày 16/10/1990 của Bộ Chính trị khoá VI về “Tăng cường công tác tôn giáo trong tình hình mới” và Nghị quyết số 25-NQ/TW ngày 12/3/2003, Hội nghị lần thứ bảy Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khoá IX) về công tác tôn giáo đã có những bước đổi mới có tính đột phá, thừa nhận “tôn giáo là vấn đề còn tồn tại lâu dài; tín ngưỡng, tôn giáo là nhu cầu tinh thần của một bộ phận Nhân dân; đạo đức tôn giáo có nhiều điều phù hợp với công cuộc xây dựng xã hội mới” và “tôn giáo đang và sẽ tồn tại cùng dân tộc trong quá trình đi lên chủ nghĩa xã hội”. Đây là những vấn đề có ý nghĩa hết sức quan trọng, thể hiện một cách rõ ràng quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về vấn đề tôn giáo trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, không chỉ khẳng định sự “tồn tại lâu dài” của tôn giáo, mà còn phát triển lên mức cao hơn, làm rõ mối quan hệ giữa tôn giáo với dân tộc và chủ nghĩa xã hội ở nước ta. Với quan điểm đó, công tác quản lý nhà nước trong lĩnh vực tôn giáo, tín ngưỡng vừa quan tâm giải quyết hợp lý nhu cầu tín ngưỡng của quần chúng, vừa kịp thời đấu tranh việc chống lợi dụng tôn giáo để chống phá Đảng, Nhà nước và nhân dân ta.

Hòa trong dòng chảy lịch sử mấy ngàn năm của dân tộc Việt Nam, với sức mạnh được hun đúc từ mạch nguồn văn hóa: lòng yêu nước nồng nàn, ý thức độc lập dân tộc, tự chủ, tự cường, đoàn kết xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, “thương người như thể thương thân”, các tôn giáo ở Việt Nam đều có đóng góp nhất định trong những mức độ khác nhau vào sự nghiệp giải phóng dân tộc, bảo vệ Tổ quốc và công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội. Không chỉ đóng góp vào sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc, tôn giáo còn là một bộ phận cấu thành của văn hoá Việt Nam. Những giá trị văn hóa tốt đẹp, tiến bộ của tôn giáo đã góp phần tạo nên sự phong phú, đặc sắc của nền văn hóa dân tộc Việt Nam. Bằng những giáo lý nhân văn, bác ái của mình, các tôn giáo ở Việt Nam đã phát huy, lan toả các giá trị văn hóa, đạo đức nhân văn, bác ái ấy vào đời sống xã hội, góp phần tạo nên những chuẩn mực đạo đức, văn hóa, ứng xử nhân văn, nhân ái của dân tộc ta, đóng góp vào sự nghiệp xây dựng đất nước, cụ thể hóa thành những hành động thiết thực, cứu người, giúp đời, chung tay cùng đồng bào tôn giáo và đồng bào không có tôn giáo xây dựng đất nước.

Dưới sự lãnh đạo của Đảng, sự đoàn kết dân tộc, đồng lòng đồng sức của toàn thể nhân dân Việt Nam, kiều bào ở nước ngoài, chúng ta tin tưởng rằng, sự tương đồng trong mục tiêu phấn đấu vì con người, vì sự phồn vinh của đất nước, tín đồ các tôn giáo, trước hết là con dân Việt, công dân Việt, sẽ sống “tốt đời, đẹp đạo”, mãi tiếp bước trên con đường “đồng hành với dân tộc”, vượt lên mọi thách thức và đập tan mọi âm mưu đen tối của các thế lực thù địch lợi dụng vấn đề tôn giáo để chống phá cách mạng Việt Nam. Đưa đất nước vững bước đi lên, thực hiện thắng lợi mục tiêu: “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”./.

 

BỔN CŨ SOẠN LẠI” CỦA CÁC THẾ LỰC THÙ ĐỊCH

          Hàng năm, mỗi dịp đất nước kỷ niệm Ngày giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước thì các tổ chức phản động, các phần tử cực đoan chính trị lại rêu rao những luận điệu cũ rích, lạc hậu, nhưng với tần suất chống phá ngày một gia tăng, nhất là trên không gian mạng. Mục đích của chúng nhằm kích động gây chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân. Bằng chứng là gần đây ngày 14/4/2024, trên trang mạng “Voatiengviet” Thiện Ý, đã phát tán bài viết có tựa đề: “Quốc hận, hận ai, hận cái gì, hận để làm gì”, bài viết đã đưa các luồng thông tin sai trái không đúng sự thật lịch sử, nhằm xuyên tạc phủ nhận chiến thắng vĩ đại 30-4, khi cho rằng “30-4 là ngày quốc hận”, “Tháng tư đen”, “cuộc nội chiến”, “huynh đệ tương tàn”…

Chúng còn xây dựng các công cụ thăm dò ý kiến trên mạng rồi dùng thủ thuật để nâng khống số người tham gia nhằm tạo niềm tin cho người đọc, chúng mượn danh các bạn trẻ để bình luận, đưa ra các quan điểm trái chiều nhằm nhiễu loạn thông tin…cần phải khẳng định rằng:

Thứ nhất, những luận điệu mà các tổ chức phản động, kẻ cơ hội chính trị rêu rao hàng năm vào dịp này đều là những luận điệu sai trái phản động được thể hiện lại bằng hình thức khác để phù hợp hơn với sự phát triển của khoa học công nghệ, đặc biệt là mạng xã hội. Biết không thể lôi kéo hầu hết các tầng lớp nhân dân, chúng tập trung vào một bộ phận thanh thiếu niên còn hạn chế về nhận thức để dễ bề lôi kéo dụ dỗ…. Nhưng dù có “khua môi múa mép” bao nhiêu đi nữa thì ánh sáng của sự thật, chính nghĩa và lịch sử đã đập tan mọi âm mưu xảo quyệt của chúng.

Thứ hai, thực tế là, lớp lớp thế hệ cha anh đã đoàn kết một lòng, sẵn sàng hy sinh tất cả để đánh đuổi đế quốc Mỹ xâm lược, đập tan ngụy quân, ngụy quyền, thống nhất đất nước, non sông thu về một mối. Chiến thắng vĩ đại 30/4/1975 đi vào lịch sử dân tộc như một chân lý rạng ngời. Đó hoàn toàn không phải là cuộc “nội chiến” hai miền hay “chiến tranh mang tính ý thức hệ”. Đó là kết quả tất yếu của cuộc kháng chiến trường kỳ chống Mỹ, cứu nước của nhân dân Việt Nam nhằm giành lại độc lập, tự do, thống nhất Tổ quốc. Chiến thắng đó mãi được ghi vào lịch sử dân tộc ta như một trong những trang chói lọi nhất, một biểu tượng sáng ngời về sự toàn thắng của chủ nghĩa anh hùng cách mạng và trí tuệ con người, và đi vào lịch sử thế giới như một chiến công vĩ đại của thế kỷ 20, một sự kiện có tầm quan trọng quốc tế to lớn và có tính thời đại sâu sắc.

Thứ ba, với chiến thắng 30/4/1975, Việt Nam một lần nữa chứng tỏ trước lịch sử và thế giới về một đất nước kiên cường, bất khuất với tinh thần “Không có gì quý hơn độc lập, tự do”. Tinh thần đó được toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta tiếp nối, phát huy tinh và biến thành hành động trong quá trình đổi mới, đưa đất nước phát triển nhanh và bền vững; tạo nên một Việt Nam với cơ đồ mới, vị thế lớn, uy tín cao trên trường quốc tế. Nhiều thập kỷ qua, khối đại đoàn kết toàn dân thường xuyên được vun đắp và phát triển. Đảng, Nhà nước, nhân dân ta luôn sẵn sàng chào đón tất cả kiều bào trở về đóng góp cho quê hương, đất nước. Những chuyến bay đón kiều bào về quê tránh dịch đã thể hiện tinh thần dân tộc, nghĩa đồng bào được tiếp nối từ thế hệ này qua thế hệ khác. Việt Nam được thế giới ghi nhận, thực hiện thắng lợi “mục tiêu kép” vừa khống chế, ngăn chặn đại dịch Covid-19; vừa phục hồi, phát triển kinh tế, bảo đảm đời sống và an toàn cho người dân.

Thực tế đó là ánh sáng vạch trần những kẻ đang cố tình chia rẽ mối đoàn kết, xuyên tạc, phủ nhận lịch sử chiến thắng 30.4, kích động hận thù, phá hoại công cuộc xây dựng đất nước của nhân dân ta. Qua đó, để thấy rằng, chẳng luận điệu nào có thể làm lu mờ chân lý mà Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đúc kết: “Nước Việt Nam là một, dân tộc Việt Nam là một. Sông có thể cạn, núi có thể mòn, song chân lý ấy không bao giờ thay đổi”./.

 

 

MƯU ĐỒ “LẬT SỬ” CỦA CÁT LINH CẦN VẠCH TRẦN

          Mới đây, trên trang “Rfavietnam”  kẻ có bút danh Cát Linh đăng tải bài viết 49 năm sau ngày 30/4/1975 qua cái nhìn của người trẻ. Cát Linh cố tình bóp méo sự thật lịch sử với luận điệu xuyên tạc, qua cái gọi là “cái nhìn của người trẻ” bằng cách dẫn lời của Sỹ Bình, Sao Mai, Nguyễn Khang …nào đó, rồi chủ quan cho là nhận thức, quan điểm của thế hệ trẻ ngày nay. Theo Cát Linh“30 tháng 4 là ngày buồn của dân tộc Việt Nam. Là một ngày gọi là thấm máu, nhuộm máu quê hương. Là Tháng Tư đen”. “Là một ngày đen tối, ngày đáng buồn”. Nguy hiểm hơn Cát Linh còn cho rằng: “Cộng sản Bắc Việt đã vào cướp, giết đất quê hương của người Miền Nam” và không chấp nhận 30/4 là Ngày giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước, “vì không thể nào một thằng nghèo đi giải phóng một thằng giàu” 

Đây là mưu đồ “lật sử” hết sức thâm độc, nguy hiểm của Cát Linh với thủ đoạn “ném đá giấu tay”- mượn danh các bạn trẻ phát ngôn mà cũng không ai kiểm chứng cái gọi là “bạn trẻ phát ngôn” ấy. Những luận diệu lạc lõng, sai trái, bịa đặt, phủ nhận sự thật lịch sử một cách trắng trợn; phủ nhận sạch trơn mọi sự hy sinh của thế hệ cha ông để đất nước có được hòa bình, độc lập, thống nhất và phát triển như hôm nay. Tư tưởng, quan điểm đó nếu không phải là sự nuôi dưỡng, kích động thù hằn, chia rẽ dân tộc một cách có chủ đích thì cũng là một nhận thức mơ hồ về sự thật lịch sử, trực tiếp tiếp tay cho kẻ thù phá hoại khối đoàn kết dân tộc, chống phá Đảng, Nhà nước ta.

Khẳng định, thắng lợi của dân tộc ta trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước mà đỉnh cao là Đại thắng mùa Xuân 1975 “… mãi mãi được ghi vào lịch sử dân tộc ta như một trong những trang chói lọi nhất, một biểu tượng sáng ngời về sự toàn thắng của chủ nghĩa anh hùng cách mạng và trí tuệ con người, và đi vào lịch sử thế giới như một chiến công vĩ đại của thế kỷ XX, một sự kiện có tầm quan trọng quốc tế to lớn và có tính thời đại sâu sắc”. Để có ngày toàn thắng, non sông thu về một mối, quân và dân ta đã phải trải qua 21 năm trường kỳ kháng chiến, hy sinh, gian khổ, có những thời điểm tình thế cách mạng như “ngàn cân treo sợi tóc”. Với sự lãnh đạo sáng suốt, tài tình của Đảng Cộng sản Việt Nam, tinh thần chiến đấu ngoan cường, dũng cảm, mưu trí, sáng tạo của Quân đội và nhân dân cả nước, cùng tinh thần đoàn kết, triệu người như một “thà hy sinh tất cả chứ nhất định không chịu mất nước, không chịu làm nô lệ”, “quyết tử để Tổ quốc quyết sinh”, “tất cả cho tiền tuyến, tất cả để chiến thắng”, lớp lớp thế hệ cha anh đã đoàn kết một lòng, sẵn sàng hy sinh tất cả để thống nhất đất nước, non sông thu về một mối. Chiến thắng vĩ đại 30/4/1975 đi vào lịch sử dân tộc như một chân lý rạng ngời. Đó hoàn toàn không phải là cuộc “nội chiến” hai miền hay “chiến tranh mang tính ý thức hệ” như luận điệu sai trái, thù địch. Bản chất cuộc chiến vệ quốc của Việt Nam là sự thật lịch sử không thể xuyên tạc. Bởi, đây là chiến thắng của chính nghĩa và sức mạnh của sự đoàn kết toàn dân tộc dưới sự lãnh đạo của Đảng quang vinh, Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại. Là thắng lợi trọn vẹn nhất, vững chắc nhất của sự nghiệp giải phóng dân tộc, của độc lập, tự do, đi lên chủ nghĩa xã hội. Việc kết hợp được sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại, sự ủng hộ của dư luận quốc tế, với đường lối kháng chiến tài ba, quân và dân ta đã làm nên chiến thắng 30/4/1975 vĩ đại. Chiến thắng của chủ nghĩa anh hùng cách mạng, sức sống mãnh liệt của văn hóa và con người Việt Nam. Không chỉ dân tộc Việt Nam mà nhân loại tiến bộ trên thế giới đều thừa nhận, trân trọng, tự hào và ngưỡng mộ.

Thực tiễn trên là minh chứng sống động, khẳng định đanh thép nhất, đập tan những luận điệu xuyên tạc phủ nhận các giá trị cốt lõi của lịch sử dân tộc Việt Nam, vạch trần mưu đồ “lật sử” của những kẻ phản động, cơ hội chính trị hòng chia rẽ mối quan hệ đại đoàn kết dân tộc, kích động hận thù, phá hoại công cuộc xây dựng đất nước của nhân dân ta. Hơn ai hết, thế hệ trẻ – những người gắn bó mật thiết với sự phát triển của khoa học, công nghệ cần tỉnh táo, tiên phong trong việc phản bác lại những quan điểm sai trái, hằn học, đi ngược lại giá trị của dân tộc Việt Nam. Mỗi cán bộ, đảng viên và các tầng lớp Nhân dân phải kiên quyết, kịp thời nhận diện đấu tranh phản bác những luận điệu sai trái, thù địch, phản động của những kẻ cố tình xuyên tạc, bóp méo ý nghĩa của sự kiện lịch sử 30/4, làm thất bại âm mưu “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch, góp phần bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng./.

 

ÂM MƯU XUYÊN TẠC CHÍNH SÁCH KINH TẾ TẠI VIỆT NAM

          Kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa được Đảng ta xác định là mô hình tổng quát của nước ta trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (CNXH). Mượn cớ “ sự quan tâm”, “phản biện xã hội” nhiều kẻ cơ hội, thù địch đưa ra những luận điệu sai trái, xuyên tạc, nhằm chống phá Đảng, Nhà nước và nhân dân ta. Chúng thường xuyên tạc về tình hình kinh tế ở Việt Nam, bài viết “Thành quả của chính sách “Kinh tế thị trường theo định hướng Xã hội Chủ nghĩa” của Nguyễn Văn Chử đăng trên “doithoaionline” gần đây cho thấy sự trơ trẽn, lố bịch của một kẻ thù địch với giọng điệu hằn học, thù địch, chống phá nước nhà. Bbài viết đã xuyên tạc trắng trợn nền kinh tế tại Việt Nam như “tài nguyên quốc gia qua chính sách công hữu đã bị cạn kiệt”, “tham nhũng, bất công xã hội đầy rẫy và khủng khiếp”… Qua đó, cho thấy tính chất nguy hiểm trong âm mưu và hoạt động chống phá của các thế lực thù địch. Nếu không nâng cao cảnh giác và chủ động ngăn chặn, đối phó có hiệu quả với hoạt động chống phá của các thế lực thù địch sẽ gây ảnh hưởng nghiêm trọng đối với sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta. Thử hỏi lại Nguyễn Văn Chử , nếu tham nhũng, bất công xã hội đầy rẫy và khủng khiếp như Y nói thì việc Việt Nam có được cơ đồ, tiềm lực và vị thế, uy tín quốc tế như ngày nay không?

Sau gần 40 năm đổi mới, Việt Nam đạt được những thành tựu rất quan trọng, khá toàn diện, tạo nhiều dấu ấn nổi bật. Tuy nhiên, các thế lực thù địch không ngừng tuyên truyền những luận điệu sai trái, xuyên tạc bác bỏ KTTT định hướng XHCN của Việt Nam. Vấn đề này, đòi hỏi cần tỉnh táo nhận diện và kiên quyết đấu tranh phản bác những quan điểm sai trái, xuyên tạc đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước ta.

Kinh tế thị trường XHCN là sự tìm tòi, thể hiện cả về lý luận và thực tiễn của CNXH trong thời đại ngày nay. Đây cũng là bước đột phá trong tư duy lý luận của Đảng ta trong thời kỳ đổi mới, là sự lựa chọn khách quan, phù hợp với xu thế vận động chung của nền kinh tế thế giới. Tuy nhiên, khi đề cập đến mô hình kinh tế này, một số luận điểm cho rằng KTTT và định hướng XHCN như “nước và lửa”, không thể kết hợp với nhau. Họ khẳng định: KTTT là của chủ nghĩa tư bản (CNTB), rằng KTTT không dung hợp với CNXH, việc chuyển sang KTTT là chuyển sang CNTB, rằng đó chỉ là “tấm áo khoác CNXH” cho nội dung TBCN, rằng đó là “râu ông nọ cắm cằm bà kia”, là “đầu Ngô mình Sở”. Có người còn ví von bằng hình ảnh rằng nền KTTT như con “hổ đói”, còn định hướng XHCN là “con thỏ non”, nếu thả chung với nhau, KTTT sẽ ăn thịt định hướng XHCN.

Thực tiễn cho thấy những quan niệm nêu trên, nếu không phải là những luận điệu ác ý của các thế lực thù địch thì cũng là những quan niệm phiến diện của những người ít tiếp nhận thông tin. Phải chăng, các quan điểm này có cội nguồn lý luận từ thuyết xã hội hậu công nghiệp nêu ra từ những năm 60 của thế kỷ XX. Đây là sự xuyên tạc thiếu căn cứ bởi lẽ, thực tế lịch sử cho thấy, kể từ khi xã hội phân chia thành giai cấp cùng với sự xuất hiện của nhà nước thì nền kinh tế ở bất kỳ quốc gia nào cũng đều chịu sự định hướng chính trị của một giai cấp nhất định trong xã hội. Đó là giai cấp nắm trong tay quyền lực nhà nước, thông qua nhà nước, giai cấp cầm quyền đề ra những chủ trương, chính sách để bảo vệ lợi ích của mình, trước hết là lợi ích kinh tế. Thật vậy, nếu kinh tế thị trường TBCN được định hướng bởi nền chính trị, nhà nước của giai cấp tư sản, nhằm đạt mục tiêu tăng trưởng tối đa phục vụ tốt nhất cho lợi ích của giai cấp tư sản thì KTTT, định hướng XHCN được định hướng bởi nền chính trị của giai cấp công nhân – giai cấp có lợi ích cơ bản thống nhất với lợi ích của Nhân dân lao động và toàn thể dân tộc. Bởi thế, một trong những nét đặc sắc mang bản chất của KTTT định hướng XHCN là tăng trưởng kinh tế phải gắn liền với thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội trong từng bước đi, từng chính sách và suốt quá trình phát triển, không hy sinh tiến bộ, công bằng xã hội, môi trường để chạy theo tăng trưởng kinh tế đơn thuần.

Lịch sử hình thành và phát triển của xã hội loài người cho thấy: KTTT không đồng nhất hoặc là sản phẩm riêng có của CNTB, đó là thành tựu phát triển cao của nền văn minh nhân loại, không thể và chưa bao giờ là độc quyền của CNTB. Điều này đồng nghĩa với sự bình đẳng của mọi quốc gia có thể chế chính trị khác nhau, trong đó các nước XHCN có thể sử dụng mô hình kinh tế này để thúc đẩy kinh tế – xã hội phát triển theo mục đích của mình. Mặc dù sự phát triển của KTTT có gắn bó chặt chẽ với các giai đoạn phát triển của CNTB, nhưng nó không đồng nghĩa với CNTB. Kinh tế thị trường tồn tại và phát triển khi sản xuất và trao đổi hàng hóa phát triển một cách phổ biến trong nền kinh tế trên các nguyên tắc của thị trường tức là quan hệ hàng hóa – tiền tệ, giá cả hình thành trên thị trường và được quyết định bởi quan hệ cung – cầu trên thị trường… Kinh tế thị trường tồn tại và phát triển trong CNTB và cả trong CNXH. Vì lẽ đó, KTTT không chỉ dung hợp với CNTB mà còn dung hợp được với CNXH. Không nên quan niệm chỉ là “mượn” hoặc sử dụng KTTT như là một yếu tố ngoại lai, đứng bên ngoài mô hình phát triển kinh tế. Cần nhấn mạnh rằng: KTTT còn là phương thức phát triển kinh tế dựa trên những nguyên tắc của thị trường có sự điều tiết của nhà nước. Nó không thể quyết định bản chất và định hướng phát triển của một chế độ xã hội. Bản chất của chế độ chính trị – xã hội quyết định bản chất của nền KTTT.

Thực tế, những quan điểm của các thế lực thù địch, phản động, xuyên tạc tình hình kinh tế tại Việt Nam luôn nhằm hướng tới mục tiêu xóa bỏ hệ tư tưởng, sự lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước. Do đó, chúng ta cần luôn đề cao cảnh giác, tỉnh táo nhận diện rõ bản chất xấu xa và mục đích đen tối của các thế lực thù địch và kiên quyết đấu tranh, phản bác các quan điểm sai trái, thù địch, tăng cường bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, bảo vệ công cuộc xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam trong tình hình mới./.

 

CẢNH GIÁC VỚI THỦ ĐOẠN “ ĐẠO TRÍCH ” CỦA PHẠM TRẦN

          Mới đây, trên trang “Doithoaionline” đăng tải bài viết với tựa đề “Hiện tượng chống Đảng từ bên trong”. Đây là bài viết có rất nhiều thông tin sai trái, phản động, nói xấu, bôi nhọ, hạ thấp uy tín, vai trò lãnh đạo của Đảng, kích động “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, gây chia rẽ nội bộ, tạo sự hoài nghi trong cán bộ, đảng viên và nhân dân trước thềm Đại hội XIV của Đảng.

1. Phạm Trần đã lợi dụng báo Nhân dân để cắt xén xuyên tạc, phản ánh sai sự thật về đội ngũ cán bộ, đảng viên.

Trước hết, chúng ta khẳng định, đây là cách làm rất ấu trĩ của Phạm Trần khi sử dụng chiêu trò “đạo trích” nội dung bài viết đăng trên báo Nhân dân số ra ngày 19/3/2024 để chống phá Đảng Cộng sản Việt Nam, rồi cắt xén, gán ghép sai lệch dưới góc nhìn phiến diện méo mó, to vẽ với mục đích xấu xa, đê hèn phá hoại Đảng, Nhà nước xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam. Các thế lực thù địch, phần tử cơ hội, phản động đã và đang tiến hành các hoạt động phá hoại tư tưởng với các biểu hiện như: Bóp méo, phủ nhận những giá trị bền vững của chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh. Xuyên tạc chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước ta trong công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Chúng đẩy mạnh sự xâm nhập của các sản phẩm văn hóa độc hại gây hủy hoại đạo đức xã hội; lợi dụng các vấn đề dân chủ, nhân quyền, dân tộc, tôn giáo xâm phạm an ninh quốc gia; xuyên tạc đời tư, bôi nhọ, nói xấu lãnh đạo Đảng và Nhà nước qua các thời kỳ. Xuyên tạc công tác nhân sự của Đảng, Nhà nước; và cho rằng, Việt Nam sử dụng chống tham nhũng là phương tiện để trấn áp bất đồng chính kiến trong hàng ngũ của Đảng. Những vấn đề trên ít nhiều tác động đến tâm lý của cán bộ, đảng viên. Đã xuất hiện một số ít cán bộ, công chức nhà nước, trong đó có cả người đứng đầu thiếu bản lĩnh sợ sai, sợ trách nhiệm không dám làm, dám chịu trách nhiệm. Thậm trí có cán bộ còn cho rằng “Làm nhiều sai nhiều, làm ít sai ít, không làm không sai”. Thấy rõ được tác hại của “căn bệnh” này, Đảng, Nhà nước, các tổ chức chính trị xã hội đã chủ động đấu tranh, ngăn chặn bệnh né tránh, sợ trách nhiệm, đùn đẩy, sợ sai của một bộ phận cán bộ, công chức nhằm loại bỏ nó khỏi đời sống xã hội. Qua đó để giáo dục thức tỉnh đội ngũ cán bộ, đảng viên nêu cao trách nhiệm, bổn phận thực thi, giải quyết công việc thuộc phạm vi, thẩm quyền, trách nhiệm được giao, không trốn tránh trách nhiệm, không được tìm cách đẩy trách nhiệm cho người khác, đẩy lên cho cấp trên, đẩy cho cấp dưới…

Lợi dụng sự công khai, minh bạch, dám phản ánh đúng sự thật của Báo Nhân dân về những hạn chế, yếu kém của một số ít cán bộ, đảng viên, Phạm Trần đã vội vàng đưa ra nhận định rằng “nội bộ Đảng Cộng sản Việt Nam lộ ra vấn đề đảng viên tiếp tay tuyên truyền chống Đảng”, hay “báo Nhân dân đã lên án cán bộ, đảng viên…”. Thực chất, đây vẫn là chiêu trò “rượu cũ” nhưng “bình mới” hay “nhai lại” của của Phạm Trần với mục đích là hạ uy tín cán bộ, nhất là cán bộ lãnh đạo cấp cao của Đảng, Nhà nước, gây chia rẽ nội bộ, tạo thị phi trong xã hội, làm giảm lòng tin của nhân dân. Đây là chiêu trò rất nguy hiểm, cần sớm nhận diện và đấu tranh loại bỏ.

2. Phạm Trần đã cố tình xuyên tạc mối quan hệ biện chứng giữa tư tưởng Hồ Chí Minh với chủ nghĩa Mác – Lênin.

Trong bài viết, Phạm Trần đã bộc lộ rõ bản chất của một kẻ phản động, bất mãn chính trị, giọng điệu hằn học ra sức chống phá nền tảng tư tưởng của Đảng, trong đó Y tiếp tục suy diễn cố tình lý giải sai bản chất về mối quan hệ giữa tư tưởng Hồ Chí Minh và Chủ nghĩa Mác-Lênin.

Đây là nhận định mang tính phản động cực đoan, bởi lẽ chủ nghĩa Mác – Lênin là nguồn gốc lý luận chủ yếu quyết định sự hình thành và phát triển tư tưởng Hồ Chí Minh. Trước hết, chủ nghĩa Mác – Lênin đã cung cấp cho Chủ tịch Hồ Chí Minh thế giới quan, phương pháp luận khoa học, những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử; đồng thời, đặt “hòn đá tảng” những vấn đề có tính nguyên tắc về lập trường quan điểm, về tinh thần xử lý mọi việc. Những phạm trù cơ bản của tư tưởng Hồ Chí Minh cũng nằm trong những phạm trù cơ bản của chủ nghĩa Mác – Lênin. Tư tưởng Hồ Chí Minh là sự vận dụng sáng tạo và phát triển chủ nghĩa Mác – Lênin vào điều kiện cụ thể của cách mạng Việt Nam. Những cống hiến đó có được trước hết do Người đã nắm được bản chất cốt lõi, “linh hồn sống” trong tư tưởng của các nhà kinh điển Mác – Lênin là phép biện chứng duy vật.

Bản chất của chủ nghĩa Mác – Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh là khoa học và cách mạng. Vì thế, không thể tách rời mối quan hệ vốn có giữa tư tưởng Hồ Chí Minh với chủ nghĩa Mác – Lênin; không thể lấy tư tưởng Hồ Chí Minh để thay thế cho chủ nghĩa Mác – Lênin và ngược lại. Cũng không thể đề cao hoặc tuyệt đối hóa tư tưởng Hồ Chí Minh, cũng như bằng cách này hay cách khác lại phủ nhận chủ nghĩa Mác – Lênin.

Trước luận điểm trên, mỗi cán bộ, đảng viên cần có sự nhạy cảm chính trị để thấy rõ mục đích muốn cô lập, tách rời tư tưởng Hồ Chí Minh ra khỏi nguồn gốc lý luận chủ yếu của chủ nghĩa Mác – Lênin, làm suy yếu và tiến tới phủ định chính tư tưởng Hồ Chí Minh của Phạm Trần. Đây là âm mưu hết sức nguy hiểm vì đích cuối cùng mà phạm Trần và các thế lực thù địch hướng đến đó là phủ nhận chủ nghĩa Mác – Lênin; phủ nhận tư tưởng Hồ Chí Minh; tiến tới phủ nhận nền tảng tư tưởng, cương lĩnh, đường lối của Đảng, làm suy yếu và đi đến xoá bỏ sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam./.