Thứ Bảy, 11 tháng 5, 2024

Xây dựng nền quốc phòng toàn dân trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045

Xây dựng nền quốc phòng toàn dân là chủ trương chiến lược, xuyên suốt của Đảng và Nhà nước ta trong sự nghiệp đổi mới nhằm tăng cường sức mạnh quốc phòng, khả năng phòng thủ, bảo vệ Tổ quốc trong mọi tình huống. Sau gần 40 năm đổi mới đất nước, việc xây dựng nền quốc phòng toàn dân đạt nhiều kết quả quan trọng, góp phần tăng cường sức mạnh quốc phòng cả về tiềm lực, lực lượng và thế trận, bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.

Ủy viên Bộ Chính trị, Thường trực Ban Bí thư, Trưởng Ban Tổ chức Trung ương Trương Thị Mai thăm hỏi nhân dân xã miền núi Dân Hóa, huyện Minh Hóa, tỉnh Quảng Bình_Nguồn: thanhnien.vn

Xây dựng nền quốc phòng toàn dân là quan điểm cơ bản chỉ đạo việc xây dựng nền quốc phòng của nước ta, thuộc trách nhiệm của toàn dân, của cả hệ thống chính trị, trong đó lực lượng vũ trang nhân dân là nòng cốt. Thực tiễn sự nghiệp đổi mới gần 40 năm qua cho thấy, tiềm lực của nền quốc phòng toàn dân được xây dựng khá toàn diện, lòng tin của nhân dân với Đảng, Nhà nước, chế độ xã hội chủ nghĩa được giữ vững, tăng cường; công tác giáo dục quốc phòng và an ninh được chú trọng; kinh tế, văn hóa, xã hội, khoa học - công nghệ phát triển mạnh mẽ, tạo tiền đề huy động các nguồn lực thực hiện nhiệm vụ quốc phòng, bảo vệ Tổ quốc. Lực lượng vũ trang được xây dựng vững mạnh về chính trị, sức chiến đấu ngày càng cao, từng bước tiến lên hiện đại, phát huy tốt vai trò nòng cốt trong sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc. Khu vực phòng thủ các tỉnh, thành phố được xây dựng ngày càng vững chắc; hệ thống công trình phòng thủ biển, đảo, biên giới, địa bàn chiến lược trọng yếu từng bước hoàn thiện; việc kết hợp phát triển kinh tế - xã hội với tăng cường quốc phòng, an ninh, xây dựng cơ sở chính trị được chú trọng; thế trận quốc phòng toàn dân, thế trận an ninh nhân dân được gắn kết khá chặt chẽ, phát huy sức mạnh tổng hợp của các lực lượng trong từng ngành, địa bàn và cả nước. Tuy nhiên vẫn còn những hạn chế, đó là: Nhận thức của một bộ phận cán bộ, đảng viên và nhân dân về xây dựng nền quốc phòng toàn dân, bảo vệ Tổ quốc còn hạn chế; việc kết hợp kinh tế với quốc phòng tại các địa bàn chiến lược, biển, đảo còn có mặt chưa chặt chẽ; sự phối hợp giữa các lực lượng vũ trang trong khu vực phòng thủ có lúc, có nơi hiệu quả chưa cao; việc nắm, dự báo, xử lý tình huống về quốc phòng, an ninh ở một số địa phương, cơ sở có lúc còn bị động, bất ngờ, thậm chí có nội dung chưa đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ.

Dự báo trong thời gian tới, tình hình an ninh, chính trị thế giới, khu vực diễn biến nhanh chóng, phức tạp, diễn biến nhanh, khó đoán định. Cạnh tranh chiến lược giữa các nước lớn, xung đột vũ trang, chiến tranh cục bộ gia tăng, khó kiểm soát. Biển Đông tiềm ẩn nhiều nguy cơ làm gia tăng xung đột. Trong nước, “Bốn nguy cơ mà Đảng ta đã từng cảnh báo vẫn còn hiện hữu, có mặt sẽ còn diễn biến phức tạp và gay gắt hơn. Những biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ; sự xuống cấp về các giá trị văn hóa, đạo đức, lối sống; những mâu thuẫn, bức xúc trong xã hội sẽ còn diễn biến phức tạp; phân cực giàu - nghèo có xu hướng ngày càng gia tăng”, nếu không được ngăn chặn, đẩy lùi, sẽ trở thành nhân tố trực tiếp đe dọa sự tồn vong của Đảng, Nhà nước và chế độ. Cùng với đó, các thế lực thù địch, phản động tiếp tục tăng cường chống phá Đảng, Nhà nước, sự nghiệp đổi mới; chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân tộc, chia rẽ nhân dân với Đảng, Nhà nước, quân đội, ảnh hưởng đến sức mạnh tổng hợp của đất nước.

Để đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trước bối cảnh, tình hình mới, cần tiếp tục đẩy mạnh xây dựng nền quốc phòng toàn dân theo định hướng sau:

Về mục tiêuPhát huy sức mạnh tổng hợp của toàn dân tộc, của cả hệ thống chính trị, tranh thủ tối đa sự đồng tình, ủng hộ của cộng đồng quốc tế; không ngừng nâng cao sức mạnh phòng thủ đất nước, ngăn ngừa, phòng, chống, sẵn sàng ứng phó hiệu quả các thách thức an ninh truyền thống và an ninh phi truyền thống; bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc; bảo vệ Đảng, Nhà nước, nhân dân, chế độ xã hội chủ nghĩa; nền văn hóa và lợi ích quốc gia - dân tộc; giữ vững môi trường hòa bình, ổn định để xây dựng và phát triển đất nước; thực hiện thành công sự nghiệp xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.

Về quan điểm:

Một là, giữ vững và tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, quản lý, điều hành của Nhà nước đối với xây dựng nền quốc phòng toàn dân. Đây là quan điểm lớn, nhất quán, chủ đạo trong quá trình lãnh đạo cách mạng Việt Nam. Đảng đề ra đường lối và quyết định các vấn đề liên quan đến quốc phòng, bảo vệ Tổ quốc. Đảng lãnh đạo, đề ra chủ trương, đường lối, mục tiêu, nhiệm vụ, phương hướng và giải pháp xây dựng nền quốc phòng toàn dân, bảo vệ Tổ quốc. Nhà nước quản lý quốc phòng theo quy định của Hiến pháp và pháp luật; Nhà nước quản lý, điều hành xây dựng nền quốc phòng toàn dân đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa trong tình hình mới.

Hai là, xây dựng nền quốc phòng toàn dân toàn dân, toàn diện, độc lập, tự chủ, tự lực, tự cường, hiện đại, chủ động hội nhập quốc tế. Đây là quan điểm chỉ đạo xuyên suốt trong quá trình xây dựng và phát triển nền quốc phòng toàn dân. Xây dựng nền quốc phòng toàn dân toàn dân, toàn diện, độc lập, tự chủ, tự lực, tự cường, hiện đại, không ngừng tăng cường tiềm lực đất nước; đặc biệt coi trọng xây dựng tiềm lực chính trị, tinh thần, văn hóa; xây dựng cơ sở chính trị - xã hội; xây dựng “thế trận lòng dân” vững chắc nhằm phát huy sức mạnh tổng hợp của đất nước; tập trung xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân, nòng cốt là quân đội nhân dân cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại. Phát huy mọi tiềm năng, trí tuệ sáng tạo của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân; khai thác tối đa và tận dụng có hiệu quả mọi tiềm năng lao động, thành tựu của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, thành tựu công nghiệp hóa, hiện đại hóa, cơ sở vật chất kỹ thuật của cả nư­ớc, của quân đội; đồng thời, tranh thủ sự hợp tác của các tổ chức quốc tế, khu vực và của các n­ước; sử dụng có hiệu quả nhất mọi nguồn lực từ bên ngoài và các điều kiện quốc tế thuận lợi cho sự nghiệp củng cố quốc phòng, bảo vệ Tổ quốc.

Ba là, xây dựng nền quốc phòng toàn dân bằng sức mạnh tổng hợp của đất nước, sức mạnh khối đại đoàn kết toàn dân tộc dưới sự lãnh đạo của Đảng. Đây là quan điểm chỉ đạo cơ bản trong xây dựng sức mạnh tổng hợp của nền quốc phòng toàn dân, là nhân tố quyết định thành công của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Nắm vững mục tiêu phát huy cao nhất sức mạnh tổng hợp của toàn dân tộc, của cả hệ thống chính trị kết hợp với sức mạnh thời đại, tranh thủ tối đa sự đồng tình, ủng hộ của cộng đồng quốc tế để bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc, bảo vệ Đảng, Nhà nước, nhân dân và chế độ xã hội chủ nghĩa, nền văn hóa và lợi ích quốc gia - dân tộc... Xây dựng sức mạnh tổng hợp của đất nước về chính trị, tư tưởng, kinh tế, văn hóa, xã hội, quốc phòng, an ninh, đối ngoại; của khối đại đoàn kết toàn dân tộc, của cả hệ thống chính trị dưới sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý của Nhà nước, lực lượng vũ trang là nòng cốt; tăng cường tiềm lực quốc phòng, xây dựng thế trận quốc phòng toàn dân gắn với xây dựng “thế trận lòng dân” vững chắc, đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ tăng cường quốc phòng, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

Bốn là, ngăn ngừa, đẩy lùi nguy cơ xung đột vũ trang và chiến tranh, sẵn sàng đánh thắng chiến tranh xâm lược, bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa trong mọi tình huống. Đây là quan điểm chỉ đạo bảo đảm sự chủ động trong các tình huống chiến lược, bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa, từ khi nước chưa nguy; giữ vững môi trường hòa bình, ổn định để xây dựng và phát triển đất nước, sẵn sàng đánh thắng mọi cuộc chiến tranh xâm lược của kẻ thù. Chủ động phòng ngừa, phát huy cao nhất sức mạnh tổng hợp của toàn dân tộc, của cả hệ thống chính trị tạo sức mạnh “nội lực” bảo vệ và giữ vững bên trong là chính; chủ động, tích cực đẩy mạnh đối ngoại, tranh thủ tối đa sự đồng tình, ủng hộ của cộng đồng quốc tế để tạo sức mạnh “ngoại lực” bảo đảm quốc phòng, bảo vệ Tổ quốc. Phát hiện sớm và triệt tiêu các nhân tố, nhất là các nhân tố bên trong có thể dẫn đến những đột biến bất lợi; không để bị động, bất ngờ trong mọi tình huống. Chủ động, tích cực ngăn ngừa và đẩy lùi nguy cơ xung đột vũ trang và chiến tranh là một trong các nhiệm vụ quốc phòng trọng yếu trong thời bình; nhằm thực hiện Chiến lược bảo vệ Tổ quốc tối ưu là bảo vệ được chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ, chế độ xã hội chủ nghĩa và các lợi ích quốc gia - dân tộc. Xây dựng sức mạnh tổng hợp của nền quốc phòng toàn dân trên các lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, quân sự, quốc phòng, an ninh, đối ngoại... nhằm triệt tiêu các nguyên nhân dẫn đến xung đột vũ trang và chiến tranh; đồng thời, chuẩn bị đầy đủ về tiềm lực, lực lượng, thế trận dưới sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý của Nhà nước do toàn thể nhân dân thực hiện, trong đó lực lượng vũ trang làm nòng cốt. Xây dựng ngay từ thời bình, sẵn sàng chuyển thành thế trận chiến tranh nhân dân đánh thắng mọi hình thái chiến tranh của kẻ thù trong mọi tình huống.

Về nội dung:

Một là, xây dựng tiềm lực quốc phòng, tập trung vào những nội dung sau:

(i) Xây dựng tiềm lực chính trị, tinh thần. Tập trung xây dựng niềm tin và sự đồng thuận của mọi tầng lớp nhân dân với Đảng, Nhà nước và chế độ xã hội chủ nghĩa; xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc; tinh thần cảnh giác cách mạng; xây dựng nền văn hóa, các giá trị đạo đức; tăng cường các mối quan hệ quốc tế. Xây dựng Đảng, Nhà nước, hệ thống chính trị các cấp thực sự trong sạch, vững mạnh. Tăng cường công tác tuyên truyền, giáo dục quốc phòng cho lực lượng vũ trang và toàn dân; bồi dưỡng kiến thức quốc phòng cho đội ngũ cán bộ các cấp. Giữ vững ổn định chính trị, an ninh, trật tự, an toàn xã hội; thực hiện tốt chính sách tôn giáo, dân tộc của Đảng, Nhà nước; phát huy dân chủ rộng rãi, công bằng, văn minh; tạo sự đồng thuận xã hội trong thực hiện nhiệm vụ quốc phòng; chủ động ngăn ngừa, phòng, chống, làm thất bại mọi âm mưu, hoạt động chống phá của các thế lực thù địch.

(ii) Xây dựng tiềm lực kinh tế. Xây dựng tiềm lực kinh tế của nền quốc phòng toàn dân theo định hướng xã hội chủ nghĩa, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Nâng cao hiệu quả kết hợp phát triển kinh tế với tăng cường quốc phòng; kết hợp từ chiến lược đến quy hoạch, kế hoạch của quốc gia, ngành nghề, vùng, miền. Phát huy kinh tế nội lực, kinh tế số, tăng cường dự trữ cơ sở vật chất, đầu tư có trọng điểm cho quốc phòng, nhất là việc đầu tư sản xuất, mua sắm vũ khí, trang bị hiện đại cho lực lượng vũ trang. Gắn xây dựng kết cấu hạ tầng, chuyển đổi số của nền kinh tế với xây dựng hạ tầng, chuyển đổi số của nền quốc phòng toàn dân. Phát huy thế mạnh kinh tế của từng vùng, miền, địa phương và liên kết kinh tế giữa các vùng, ngành, lĩnh vực kinh tế. Phát triển kinh tế gắn với coi trọng bảo đảm an sinh xã hội, bảo vệ môi trường, phòng thủ dân sự, tăng cường củng cố quốc phòng. Nâng cao hiệu quả xây dựng các khu kinh tế - quốc phòng, xây dựng các đoàn kinh tế - quốc phòng trên một số vùng chiến lược, biên giới, biển, đảo. Phát triển công nghiệp quốc phòng chủ động, tự lực, tự cường, lưỡng dụng, hiện đại, trở thành mũi nhọn của công nghiệp quốc gia, đáp ứng yêu cầu bảo đảm vũ khí, trang bị, sản xuất được một số loại vũ khí, trang bị hiện đại, vũ khí chiến lược cho quân đội, dân quân tự vệ...

(iii) Xây dựng tiềm lực khoa học - công nghệ. Kết hợp phát triển khoa học - công nghệ quốc gia với xây dựng tiềm lực khoa học - công nghệ quốc phòng. Nghiên cứu, ứng dụng các thành tựu khoa học - công nghệ, nhất là công nghệ mới, hiện đại và công nghệ số trong sản xuất, bảo đảm vũ khí trang bị, phương tiện kỹ thuật; khoa học quân sự; nghệ thuật quân sự, tổng kết chiến tranh... Đào tạo, bồi dưỡng, trọng dụng nhân tài, sử dụng đội ngũ trí thức, cán bộ khoa học, kỹ thuật cho phát triển kinh tế và củng cố quốc phòng. Tăng cường đầu tư, hiện đại hóa kết cấu hạ tầng, cơ sở nghiên cứu khoa học - công nghệ hiện đại, lưỡng dụng, đáp ứng yêu cầu nghiên cứu, phát triển khoa học - công nghệ quân sự, quốc phòng. Mở rộng hợp tác quốc tế để tiếp thu khoa học - công nghệ tiên tiến phù hợp với điều kiện Việt Nam, đáp ứng phát triển khoa học - công nghệ quốc gia, khoa học - công nghệ quân sự, quốc phòng.

(iv) Xây dựng tiềm lực quân sự. Xây dựng quân đội nhân dân cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại; lực lượng dự bị động viên hùng hậu; lực lượng dân quân tự vệ vững mạnh, rộng khắp trên các vùng, miền. Chú trọng xây dựng nguồn nhân lực chất lượng cao trong các lĩnh vực quân sự, quốc phòng. Gắn quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước với quá trình xây dựng tiềm lực quân sự; bảo đảm cơ sở vật chất kỹ thuật, vũ khí, trang bị, phương tiện cho các lực lượng vũ trang, nhất là quân đội nhân dân. Gắn xây dựng tiềm lực quân sự với quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và xây dựng các tiềm lực khác bảo đảm huy động tạo thành sức mạnh quân sự, bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.

Hai là, xây dựng lực lượng quốc phòng. Nền quốc phòng toàn dân Việt Nam dựa vào sức mạnh tổng hợp, toàn diện của quốc gia, dân tộc, nên lực lượng quốc phòng bao gồm lực lượng toàn dân và lực lượng vũ trang nhân dân. Theo đó, cần tập trung xây dựng, củng cố vững chắc hệ thống chính trị, bao gồm: Đảng, Nhà nước, Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức chính trị - xã hội; trong đó trọng tâm là xây dựng và tăng cường vai trò lãnh đạo của Đảng, hiệu lực, hiệu quả quản lý, điều hành của Nhà nước và chính quyền các cấp. Tăng cường giáo dục, bồi dưỡng kiến thức quốc phòng, nâng cao nhận thức, trách nhiệm, nghĩa vụ và quyền lợi của nhân dân, của cán bộ, công chức, viên chức trong hệ thống chính trị các cấp. Xây dựng lực lượng dự bị động viên hùng hậu; xây dựng lực lượng dân quân tự vệ vững mạnh, rộng khắp trên các vùng, miền, trên biển, đảo; đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ quốc phòng, bảo vệ Tổ quốc cả trong thời bình và thời chiến.

Ba là, xây dựng thế trận quốc phòng toàn dân gắn với xây dựng “thế trận lòng dân” vững chắc. Cần tập trung xây dựng “thế trận lòng dân” làm nền tảng gắn với xây dựng thế trận quốc phòng toàn dân vững chắc thành một thể thống nhất để phát huy sức mạnh tổng hợp của toàn dân tộc trong xây dựng nền quốc phòng toàn dân, sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Quy hoạch, xây dựng thế trận quốc phòng toàn dân luôn gắn với quy hoạch tổng thể quốc gia, quy hoạch vùng và các quy hoạch khác; kết hợp chặt chẽ giữa phân vùng kinh tế với phân vùng chiến lược quốc phòng và xây dựng hậu phương chiến lược. Xây dựng thế trận phòng thủ quân khu, xây dựng các tỉnh, thành phố thành khu vực phòng thủ vững chắc. Xây dựng hệ thống chính trị các cấp vững mạnh, xây dựng kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội, phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội, nâng cao đời sống vật chất, tinh thần cho nhân dân, tạo “thế trận lòng dân” vững chắc.

Bộ đội Biên phòng Trường Sa hỗ trợ ngư dân vươn khơi bám biển_Nguồn: vietnamplus.vn

Để tiếp tục xây dựng nền quốc phòng toàn dân, góp phần bảo vệ vững chắc Tổ quốc Viêt Nam xã hội chủ nghĩa, cần tập trung thực hiện đồng bộ một số giải pháp sau:

Thứ nhất, tăng cường sự lãnh đạo của Đảng và hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước đối với quốc phòng.

Quốc phòng là lĩnh vực hoạt động liên quan trực tiếp đến sự an - nguy, thịnh - suy, mất - còn của Đảng, Nhà nước và chế độ xã hội chủ nghĩa, nên cần thực hiện đúng nguyên tắc Đảng lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt, Nhà nước quản lý, điều hành tập trung, thống nhất đối với sự nghiệp quốc phòng, bảo vệ Tổ quốc. Xây dựng thống nhất, đồng bộ cơ cấu tổ chức đảng trong lãnh đạo công tác quốc phòng từ Trung ương đến địa phương. Bổ sung các nội dung lãnh đạo về quốc phòng, cơ chế hoạt động và trách nhiệm phối hợp của từng cấp, ngành, địa phương liên quan đến hoạt động quốc phòng, đặc biệt khi xử lý các tình huống phức tạp. Nhà nước cụ thể hóa đường lối, chính sách của Đảng về quốc phòng, bảo vệ Tổ quốc thành pháp luật, nghị định và tổ chức chỉ đạo thực hiện các kế hoạch về quốc phòng gắn với chương trình, kế hoạch xây dựng, phát triển kinh tế - xã hội, đối ngoại. Tiếp tục hoàn thiện các văn bản quy phạm pháp luật và giáo dục, tuyên truyền, phổ biến các văn bản quy phạm pháp luật về quốc phòng, bảo vệ Tổ quốc. Đẩy mạnh công tác quy hoạch về quốc phòng và phổ biến tới các bộ, ngành, địa phương tạo sự thống nhất thực hiện quản lý nhà nước về quốc phòng.

Thứ hai, tăng cường giáo dục, bồi dưỡng kiến thức quốc phòng, nâng cao ý thức trách nhiệm của toàn dân, cả hệ thống chính trị về thực hiện nhiệm vụ củng cố quốc phòng, bảo vệ Tổ quốc.

Cần đẩy mạnh tuyên truyền, giáo dục phổ biến nâng cao nhận thức và tổ chức thực hiện các chủ trương, chính sách, nghị quyết, chỉ thị của Đảng, Nhà nước về quốc phòng, bảo vệ Tổ quốc. Tăng cư­­ờng sự lãnh đạo, chỉ đạo của cấp ủy, chính quyền, phát huy vai trò của các ban, ngành, đoàn thể, tạo sức mạnh tổng hợp và sự thống nhất, đồng bộ trong triển khai thực hiện công tác giáo dục, bồi dưỡng kiến thức quốc phòng. Tiếp tục đổi mới chương trình, giáo trình, tài liệu giáo dục, bồi dưỡng kiến thức quốc phòng phù hợp với từng đối t­­ượng, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc. Chú trọng kiện toàn tổ chức, nâng cao hiệu quả hoạt động của hội đồng giáo dục quốc phòng và an ninh các cấp. Phát huy tốt vai trò tham m­­ưu, tư­­­ vấn giúp các cấp ủy, chính quyền lãnh đạo, chỉ đạo, tổ chức thực hiện công tác giáo dục, bồi dưỡng kiến thức quốc phòng, bảo vệ vững chắc Tổ quốc trong tình hình mới.

Thứ ba, củng cố khối đại đoàn kết toàn dân tộc, tạo nền tảng vững chắc xây dựng “thế trận lòng dân” gắn với xây dựng thế trận quốc phòng toàn dân vững chắc.

Củng cố khối đại đoàn kết toàn dân tộc, tạo nền tảng xây dựng “thế trận lòng dân” vững chắc sẽ tạo nên sức mạnh chính trị, quân sự, quốc phòng, làm thất bại mọi âm mưu, hoạt động chống phá của các thế lực thù địch và chiến tranh xâm lược của kẻ thù. Xây dựng “thế trận lòng dân” vững chắc chính là quy tụ lòng người, tạo đồng thuận, tin tưởng tuyệt đối của nhân dân vào sự lãnh đạo của Đảng, quản lý của Nhà nước và chế độ xã hội chủ nghĩa; quy tụ được lực lượng vật chất và tinh thần to lớn của nhân dân, tạo nền tảng xây dựng “thế trận lòng dân” gắn với thế trận quốc phòng toàn dân vững chắc trong xây dựng nền quốc phòng toàn dân. Nhân dân là lực lượng đông đảo, được tổ chức chặt chẽ tham gia xây dựng, quản lý, bảo vệ các công trình quân sự, quốc phòng, an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội của các địa phương, trên các vùng, miền của đất nước.     

Thứ tư, kết hợp phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội, khoa học - công nghệ, đối ngoại với tăng cường tiềm lực, thế trận quốc phòng.

Trong từng chiến lược, quy hoạch, kế hoạch phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội, khoa học - công nghệ, đối ngoại của quốc gia, từng ngành và từng địa phương phải luôn kết hợp chặt chẽ và hiệu quả với quốc phòng, an ninh và giữa quốc phòng, an ninh với kinh tế, văn hóa, xã hội, khoa học - công nghệ và đối ngoại; chú trọng trên hướng chiến lược, địa bàn trọng điểm, vùng sâu, vùng xa, biên giới, biển, đảo; hình thành các khu vực chiến lược vững về chính trị, giàu về kinh tế, mạnh về quốc phòng, an ninh. Trong quá trình xây dựng và phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội, khoa học - công nghệ..., việc triển khai xây dựng kết cấu hạ tầng, bố trí các công trình kinh tế, kỹ thuật, văn hóa... có quan hệ rất lớn đến thế trận quốc phòng toàn dân. Do vậy, việc quy hoạch, kế hoạch phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội, khoa học - công nghệ... phải luôn chú trọng kết hợp chặt chẽ với xây dựng thế trận quốc phòng toàn dân gắn với xây dựng “thế trận lòng dân” vững chắc; củng cố, tăng cường quốc phòng, bảo vệ Tổ quốc.

Thứ năm, nâng cao chất lượng tổng hợp, sức mạnh chiến đấu của lực lượng vũ trang nhân dân đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc cả thời bình và khi có chiến tranh.

Quán triệt và tổ chức thực hiện tốt chủ trương, đường lối của Đảng, nghị quyết của Quân ủy Trung ương, nhất là nghị quyết của Trung ương về nhiệm vụ chiến lược  bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới, nhằm xây dựng quân đội nhân dân, công an nhân dân cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại; ưu tiên hiện đại hóa một số quân, binh chủng, lực lượng... Đến năm 2025, cơ bản xây dựng quân đội, công an tinh, gọn, mạnh, tạo tiền đề vững chắc, phấn đấu năm 2030 xây dựng quân đội nhân dân, công an nhân dân cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại, làm nòng cốt trong sự nghiệp quốc phòng, an ninh, bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới. Xây dựng lực lượng dự bị động viên hùng hậu, chất lượng ngày càng cao, phù hợp với khả năng của nền kinh tế và của các địa phương. Xây dựng lực lượng dân quân tự vệ vững mạnh, rộng khắp trên các vùng, miền, trên biển; nâng cao năng lực thực thi pháp luật của các lực lượng làm nhiệm vụ ở biên giới, biển, đảo. Xây dựng và phát triển công nghiệp quốc phòng chủ động, tự chủ, tự cường, lưỡng dụng và hiện đại để bảo đảm tự chủ và tăng cường vũ khí trang bị, cơ sở vật chất, kỹ thuật hiện đại cho quân đội nhân dân, dân quân tự vệ.

Thứ sáu, đẩy mạnh hoạt động đối ngoại, chủ động tạo môi trường hòa bình, ổn định và lợi thế cho xây dựng, củng cố quốc phòng.

Quán triệt và tổ chức thực hiện tốt chủ trương, đường lối đối ngoại của Đảng; phát huy hiệu quả hoạt động đối ngoại của Đảng, ngoại giao nhà nước và đối ngoại nhân dân, trong đó có đối ngoại quốc phòng. Xây dựng tiềm lực và thế trận đối ngoại gắn kết với thiết lập thế trận quốc phòng liên hoàn bên trong với bên ngoài biên giới quốc gia và trên không gian mạng. Đẩy mạnh hoạt động đối ngoại, kết hợp chặt chẽ đối ngoại với quốc phòng, an ninh và quốc phòng, an ninh với đối ngoại để thực hiện tốt phương châm chỉ đạo chiến lược “trong ấm, ngoài êm” bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa; tạo môi trường hòa bình, ổn định và thuận lợi cho công cuộc đổi mới, phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội, tăng cường sức mạnh quốc phòng.

Việc đề xuất định hướng về mục tiêu, quan điểm, nội dung, nhiệm vụ, giải pháp là nhằm tiếp tục nâng cao hiệu quả và hướng tới xây dựng một nền quốc phòng toàn dân vững mạnh cả về tiềm lực, lực lượng và thế trận, đáp ứng yêu cầu của thực tiễn từ nay đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045./.

ST.

TÌM HIỂU GIÚP BẠN: BỘ Y TẾ THÔNG TIN CHÍNH THỨC VỀ TÁC DỤNG PHỤ CỦA VÁC XIN ARTRAZENECA!

     Sáng 10-5, Bộ Y tế đã thông tin chính thức về tác dụng phụ của vắc xin AstraZeneca!
Theo Cục Y tế dự phòng, Bộ Y tế, tính đến nay, Việt Nam đã triển khai tiêm hơn 266 triệu liều vắc xin phòng Covid-19 cho người dân từ 5 tuổi trở lên, trong đó có 70 triệu liều vắc xin AstraZeneca đã được sử dụng cho các mũi tiêm đầu tiên và các mũi nhắc lại cho người từ 18 tuổi trở lên.

Tại Việt Nam, vắc xin AstraZeneca đã được Bộ Y tế cấp phép sử dụng có điều kiện từ ngày 1-2-2021 để đáp ứng nhu cầu cấp bách trong công tác phòng, chống dịch Covid-19. Đây là loại vắc xin Covid-19 đầu tiên được Việt Nam nhập khẩu và triển khai tiêm chủng. Quá trình tiêm chủng diễn ra theo quy trình nghiêm ngặt do Bộ Y tế xây dựng. Các tiêu chuẩn chỉ định đối tượng tiêm và các mũi tiêm cũng được cập nhật liên tục theo khuyến cáo của Tổ chức Y tế Thế giới và kinh nghiệm từ các quốc gia phát triển.

Nhờ chiến dịch tiêm chủng rộng rãi và đạt tỷ lệ cao, vắc xin AstraZeneca cùng các loại vắc xin Covid-19 khác đã giúp Việt Nam kiểm soát hiệu quả đại dịch, giảm thiểu đáng kể tỷ lệ mắc bệnh và tử vong do Covid-19, góp phần đưa cuộc sống trở lại bình thường.

Bộ Y tế cho biết, vì huyết khối kèm theo hội chứng giảm tiểu cầu liên quan đến vắc xin AstraZeneca là tác dụng phụ rất hiếm gặp và thường chỉ xuất hiện trong khoảng thời gian ngắn sau tiêm. Kể từ tháng 7-2023, Việt Nam đã sử dụng hết loại vắc xin này, nên hiện tại không còn rủi ro phát triển hội chứng giảm tiểu cầu sau khi tiêm vắc xin AstraZeneca. Do vậy, đối với những người đã tiêm vắc xin này không cần thực hiện xét nghiệm D-dimer hay bất kỳ xét nghiệm đông máu do không còn nguy cơ gây huyết khối và giảm tiểu cầu ở những người đã tiêm vắc xin AstraZeneca từ gần một năm trước.

Vắc xin AstraZeneca là 1 trong 14 loại vắc xin Covid-19 được Tổ chức Y tế Thế giới cấp phép sử dụng khẩn cấp. Vắc xin này hiện là một trong những vắc xin được sử dụng phổ biến nhất trên thế giới, với hơn 170 quốc gia đã cấp phép sử dụng khẩn cấp và hơn 2 tỷ liều đã được tiêm chủng toàn cầu.

WHO khuyến cáo, sử dụng vắc xin AstraZeneca là an toàn và hiệu quả cho tất cả mọi người từ 18 tuổi trở lên. Nghiên cứu thống kê cho thấy, tỷ lệ huyết khối giảm tiểu cầu sau tiêm vắc xin là thấp hơn nhiều so với tỷ lệ mắc phải hội chứng này sau khi nhiễm Covid-19. Bên cạnh đó, cục máu đông có thể xuất phát từ việc mắc Covid-19, thậm chí xảy ra đến tận 6 tháng sau khi mắc Covid-19. Với tỷ lệ rất hiếm gặp của huyết khối kèm giảm tiểu cầu, WHO và EMA đều khẳng định lợi ích của việc tiêm chủng vắc xin AstraZeneca trong việc bảo vệ chống lại Covid-19 vượt xa so với rủi ro./.
Môi trường ST.

Việt Nam mục tiêu có 10 tỷ phú, 5 doanh nhân quyền lực nhất châu Á

 Đến năm 2030, Việt Nam phấn đấu có ít nhất 10 tỷ phú, 5 doanh nhân quyền lực nhất châu Á, theo Nghị quyết vừa ban hành của Chính phủ.

Chính phủ ngày 9/5 ban hành Nghị quyết về chương trình hành động thực hiện Nghị quyết 41 của Bộ Chính trị về xây dựng và phát huy vai trò của đội ngũ doanh nhân Việt Nam trong thời kỳ mới.

Tại Nghị quyết 41 ban hành tháng 10/2023, Bộ Chính trị đặt mục tiêu tới 2030, Việt Nam phát triển đội ngũ doanh nhân có quy mô, năng lực và trình độ; nhiều doanh nghiệp đạt tầm khu vực, thế giới. Trong đó, một số doanh nghiệp lớn có vai trò dẫn dắt trong các ngành, lĩnh vực then chốt, chuỗi cung ứng giá trị toàn cầu và làm chủ một số chuỗi giá trị công - nông nghiệp.

Tại Nghị quyết vừa ban hành, Chính phủ nêu mục tiêu cụ thể, đến năm 2030, có ít nhất 10 doanh nhân lọt vào danh sách tỷ phú USD thế giới, 5 doanh nhân quyền lực nhất châu Á, do tổ chức uy tín bình chọn.

6 tỷ phú Việt Nam trong danh sách của Forbes năm 2024. Đồ họa: Tạ Lư

6 tỷ phú Việt Nam trong danh sách của Forbes năm 2024.

Theo danh sách tỷ phú thế giới năm 2024 Forbes công bố hồi tháng 4, Việt Nam vẫn giữ nguyên số lượng với 6 đại diện là Chủ tịch Vingroup Phạm Nhật Vượng, Chủ tịch VietJet Air Nguyễn Thị Phương Thảo, Chủ tịch Hòa Phát Trần Đình Long, Chủ tịch Techcombank Hồ Hùng Anh, Chủ tịch Thaco Trần Bá Dương và Chủ tịch Masan Nguyễn Đăng Quang.

Theo báo cáo Thịnh vượng do hãng tư vấn bất động sản Knight Frank (Anh) phát hành hồi tháng 3, năm 2023 Việt Nam ước có khoảng 752 người siêu giàu, tăng 2,4% so với 2022. Knight Frank dự báo đến 2028, dân số siêu giàu tại Việt Nam sẽ đạt 978, cao hơn khoảng 30% so với năm 2023 và nằm trong top 5 tăng nhanh tại châu Á - Thái Bình Dương, dẫn trước Hàn Quốc, Hong Kong, và Singapore.

Nghị quyết của Chính phủ cũng đặt mục tiêu từ nay đến năm 2030 có ít nhất 2 triệu doanh nghiệp, trong đó tập trung phát triển nhiều doanh nhân lãnh đạo các tập đoàn kinh tế mạnh nhằm mở đường dẫn dắt các ngành. Hơn nữa, cả nước cũng phấn đấu khu vực doanh nghiệp góp 65-70% GDP cả nước, khoảng 32-38% tổng việc làm trong nền kinh tế.

Về tỷ lệ giới, cả nước phấn đấu có khoảng 20-25% số doanh nghiệp do phụ nữ làm chủ, trong đó phải có trên 30% doanh nghiệp do nữ giới làm giám đốc. Hơn nữa, Chính phủ cũng đặt ra nhiệm vụ số lượng doanh nghiệp được xếp vào danh sách có giá trị thương hiệu cao nhất tăng 10% mỗi năm.

Dài hạn đến 2045, Việt Nam phấn đấu một số doanh nhân làm chủ các tập đoàn có khả năng dẫn dắt chuỗi giá trị công nghiệp, nông nghiệp. Ngoài ra, ở các lĩnh vực sẽ hình thành và phát triển đội ngũ doanh nhân có năng lực, trình độ, đáp ứng mục tiêu quốc gia phát triển.

Để làm được những việc trên, Chính phủ yêu cầu thời gian tới các bộ ngành, địa phương, hiệp hội nâng cao nhận thức về vị trí, vai trò của doanh nhân trong mục tiêu phát triển đất nước. Nhà chức trách cũng cần hoàn thiện chính sách pháp luật để tạo ra môi trường đầu tư, kinh doanh bình đẳng cho doanh nghiệp.

phao

Quảng Ninh lần thứ 7 đứng đầu năng lực cạnh tranh cấp tỉnh

 Quảng Ninh lần thứ bảy liên tiếp giữ ngôi đầu, Long An, Đồng Tháp có tiến bộ vượt bậc, PCI của hai đầu tàu kinh tế TP HCM, Hà Nội vẫn giảm.

Sáng 9/5, Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) công bố bảng xếp hạng Chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh (PCI) năm 2023. Chỉ số này được thực hiện định kỳ từ năm 2005, là một trong những chỉ báo đánh giá khả năng xây dựng môi trường kinh doanh, thu hút đầu tư của chính quyền các địa phương.

Kết quả PCI 2023 được đưa ra dựa trên khảo sát từ 11.000 doanh nghiệp, trong đó hơn 9.100 công ty tư nhân trong nước và 1.500 doanh nghiệp FDI.

Tương tự năm ngoái, PCI 2023 chỉ đề cập 30 địa phương có điểm số cao nhất, nhằm khuyến khích sự tập trung, nỗ lực thay đổi của các tỉnh, thành dẫn đầu.

Quảng Ninh duy trì vị trí quán quân năm thứ bảy liên tiếp với 71,25 điểm. Địa phương này từ 2017 đến nay luôn giành vị trí dẫn đầu về chất lượng điều hành kinh tế với nhiều sáng kiến thu hút đầu tư và cải cách hành chính.

Tỉnh này vượt kỷ lục 6 năm liên tiếp đứng đầu bảng xếp hàng PCI trước đó của Đà Nẵng. Địa phương này ghi dấu trong giảm thiểu gánh nặng hành chính cho doanh nghiệp, khi chỉ số thành phần chi phí thời gian cao nhất cả nước. Cùng đó, Quảng Ninh đứng thứ hai về chỉ số hỗ trợ doanh nghiệp; thứ 3 cả nước về nỗ lực cắt giảm gánh nặng chi phí không chính thức cho doanh nghiệp.

Tuy nhiên, các địa phương đứng đầu như Quảng Ninh đang có xu hướng chững lại. So với năm ngoái, điểm tổng của tỉnh này giảm 1,7 điểm, từ mức 72,95 năm ngoái.

Một góc thành phố Hạ Long, Quảng Ninh. Ảnh: Ngọc Thành

Một góc thành phố Hạ Long, Quảng Ninh

Long An là địa phương đứng thứ hai, với 70,94 điểm, khi ghi nhận bước tiến về điểm số và tăng 8 bậc so với 2022. Các doanh nghiệp đánh giá cao địa phương này về nỗ lực cắt giảm chi phí không chính thức, chất lượng, hiệu quả cải cách thủ tục hành chính.

Ngoài Quảng Ninh, Long An, các tỉnh nằm trong top 5 địa phương dẫn đầu còn có Hải Phòng (70,34 điểm); Bắc Giang (69,75 điểm) và Đồng Tháp (69,66 điểm).

phao

Lý do Hà Nội, TP HCM vẫn tụt hạng năng lực cạnh tranh cấp tỉnh

 Vướng mắc đất đai, thủ tục kéo dài là những điểm chậm chuyển đổi khiến TP HCM "dậm chân tại chỗ", còn Hà Nội tụt hạng về năng lực cạnh tranh cấp tỉnh.

Chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh (PCI) được Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) thực hiện định kỳ từ 2005, như một trong những chỉ báo đánh giá khả năng xây dựng môi trường kinh doanh, thu hút đầu tư của chính quyền các địa phương.

Năm nay, Quảng Ninh tiếp tục dẫn đầu, Long An tăng 8 bậc vươn lên vị trí thứ hai. Trong khi đó, hai thành phố lớn nhất cả nước là Hà Nội và TP HCM đều không có tên trong top 20.

Sau khi rơi 13 bậc năm ngoái, TP HCM duy trì vị trí 27. Hà Nội rớt 8 bậc, xuống thứ 28. Đây là năm thứ hai liên tiếp Thủ đô không góp mặt trong top 10 PCI và năm thứ 4 tụt hạng.

Các vướng mắc về thủ tục đất đai, thời gian giải quyết thủ tục kéo dài hay vấn đề pháp lý, an ninh trật tự... vẫn là những điểm doanh nghiệp đánh giá "chậm chuyển đổi" của Hà Nội, TP HCM.

Với Hà Nội, một nửa chỉ số PCI thành phần giảm điểm so với 2022. So với các địa phương khác, Thủ đô ở vị trí thứ 61 về tiếp cận đất đai. Doanh nghiệp tại đây phải chờ trung bình 30 ngày để được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, trong khi nhiều địa phương là 10-15 ngày. Có tới 35% đơn vị được hỏi cho biết họ gặp khó khăn về thiếu quỹ đất sạch, cao nhất trong các địa phương.

Thành phố này cũng đứng áp chót về thể chế pháp lý và an ninh trật tự. Tỷ lệ doanh nghiệp tin rằng pháp luật có cơ chế giúp họ được bảo vệ khi thực thi hợp đồng, đều dưới mức trung bình.

Còn TP HCM, hai chỉ số kém cạnh tranh nhất gồm tiếp cận đất đai đứng chót bảng và gia nhập thị trường xếp thứ 55. Trên 90% công ty trong diện khảo sát nói phải trì hoãn hoặc hủy kế hoạch kinh doanh do gặp khó về thủ tục hành chính đất đai.

Theo ông Đậu Anh Tuấn, Phó tổng thư ký VCCI, điều khó với các thành phố lớn là lượng công việc cần giải quyết nhiều, trong khi doanh nghiệp tại đây "khó tính hơn".

"Phòng đăng ký kinh doanh của TP HCM, Hà Nội có khối lượng công việc một ngày bằng cả tháng của địa phương khác", ông nói.

Cùng quan điểm, TS Nguyễn Minh Thảo, Trưởng ban nghiên cứu môi trường kinh doanh và năng lực cạnh tranh, Viện Nghiên cứu quản lý kinh tế trung ương (CIEM) cho rằng, lượng doanh nghiệp tại hai đầu tàu kinh tế chiếm hơn một nửa cả nước, đa dạng về loại hình kinh doanh và lĩnh vực hoạt động.

Áp lực với chính quyền, độ phức tạp của thủ tục cần giải quyết vì thế cũng gấp nhiều lần các địa phương khác. Cộng đồng doanh nghiệp có những "cảm nhận chưa tốt" trong cách giải quyết, thực thi của bộ máy chính quyền, song theo bà Thảo, nó không đồng nghĩa môi trường kinh doanh tại đây thiếu hấp dẫn.

Ở khía cạnh này, ông Tuấn cũng nhìn nhận, chỉ số PCI đo chất lượng thực thi của bộ máy, mức độ tương tác doanh nghiệp với chính quyền địa phương, nhưng từ chính sách, chỉ đạo đến thực thi là "khoảng cách dài". Khoảng cách này với Hà Nội, TP HCM lớn hơn, khi chuyển biến giữa các bộ phận chưa đồng bộ.

"Nhiều khi một địa phương khác biệt không phải nhờ chính sách tốt, thông thoáng hơn mà là khoảng cách thực thi gần lại", ông Tuấn nói, thêm rằng Hà Nội và TP HCM đều có quyết tâm lớn, nhưng cần thời gian thay đổi, chuyển biến.

Lý do khiến thứ hạng của hai thành phố lớn "dậm chân tại chỗ" còn vì nhóm địa phương top dưới đang bứt tốc. "Các tỉnh đi sau đã học hỏi kinh nghiệm của địa phương đi trước, cải thiện chất lượng điều hành kinh tế, bứt phá", ông Phạm Tấn Công, Chủ tịch VCCI nói.

Phân tích thêm, Phó tổng thư ký VCCI Đậu Anh Tuấn đề cập tới "động lực để cải thiện môi trường kinh doanh" của các địa phương. Hiện, xu hướng này diễn ra đồng đều, khiến khoảng cách giữa các tỉnh, thành thu hẹp.

Theo ông Tuấn, các địa phương lớn như TP HCM, Đồng Nai hay Bình Dương ít động lực biến chuyển do có nhiều lựa chọn. Trong khi gần đây Tây Ninh, Long An đột phá do "muốn kéo nhà đầu tư họ sẽ có sách kiến, chính sách mới". Nhờ đó, năm nay Long An giữ ngôi á quân, còn Phú Thọ lần đầu góp mặt trong top 10 địa phương có chất lượng cạnh tranh năng lực cấp tỉnh tốt nhất.

phao

Mỹ thành đối tác thương mại lớn nhất của Đức

 

Trung Quốc là đối tác thương mại lớn nhất của Đức 8 năm liên tiếp, nhưng đã phải nhường lại vị trí này cho Mỹ trong quý I.

Tính toán của Reuters dựa trên số liệu chính thức của Văn phòng Thống kê Đức cho thấy trong quý I, tổng kim ngạch xuất nhập khẩu của Đức với Mỹ là 63 tỷ euro (68 tỷ USD). Trong khi đó, số liệu này với Trung Quốc chỉ là hơn 60 tỷ euro. Như vậy, Mỹ đã vượt Trung Quốc để trở thành đối tác thương mại lớn nhất của Đức.

Năm 2023, Trung Quốc vẫn là đối tác thương mại hàng đầu của Đức năm thứ 8 liên tiếp, với kim ngạch song phương đạt 253 tỷ euro. Tuy nhiên, con số này chỉ cao hơn Mỹ vài trăm triệu euro.

"Xuất khẩu của Đức sang Mỹ đang tăng lên, nhờ kinh tế Mỹ sôi động. Trong khi đó, cả xuất khẩu và nhập khẩu với Trung Quốc lại giảm sút", Vincent Stamer - nhà kinh tế học tại Commerzbank giải thích về sự thay đổi của quý I.

Tàu container của Cosco (Trung Quốc) tại cảng Hamburg (Đức) tháng 10/2022. Ảnh: Reuters

Tàu container của Cosco (Trung Quốc) tại cảng Hamburg (Đức)

Sự chuyển dịch về cấu trúc cũng là một nguyên nhân. "Trung Quốc đang tiến lên trong chuỗi giá trị và ngày càng tự sản xuất các sản phẩm phức tạp mà họ từng nhập khẩu từ Đức. Bên cạnh đó, các doanh nghiệp Đức cũng đang ngày càng sản xuất để phục vụ trong nước, thay vì bán sang Trung Quốc", ông cho biết thêm.

Năm ngoái, Đức tuyên bố muốn giảm phụ thuộc vào thị trường Trung Quốc, do sự khác biệt về chính trị và các động thái của Trung Quốc mà nước này cáo buộc là "cạnh tranh không công bằng". Dù vậy, Berlin chưa đưa ra nhiều chính sách rõ ràng để giảm phụ thuộc.

Trong quý I, hàng Trung Quốc xuất khẩu sang Đức giảm 12% so với cùng kỳ năm ngoái. Trong khi đó, hàng Đức xuất sang Trung Quốc chỉ giảm 1%, Juergen Matthes tại viện nghiên cứu kinh tế IW (Đức) cho biết trên Reuters.

"Kinh tế Trung Quốc đang diễn biến tệ hơn dự báo. Trong khi đó, kinh tế Mỹ lại tốt hơn. Thực tế đó phần nào dẫn đến điều này"

Khoảng 10% hàng xuất khẩu của Đức là sang Mỹ. Trong khi đó, chỉ khoảng 6% là sang Trung Quốc.

"Với việc mô hình kinh tế Đức hiện gặp nhiều thách thức trên toàn cầu, việc tái định hướng dường như đang diễn ra. Họ dần giảm phụ thuộc vào Trung Quốc và tăng cường quan hệ với Mỹ"

Dù vậy, xu hướng này chưa chắc kéo dài. "Nếu Nhà Trắng đổi chủ sau cuộc bầu cử Tổng thống cuối năm nay, và tăng cường bảo hộ thương mại, quá trình dịch chuyển mô hình kinh tế của Đức sẽ chững lại", Dirk Jandura - Chủ tịch BGA (tổ chức đại diện cho các doanh nghiệp ngoại thương, bán buôn của Đức) cảnh báo.

phao

TÌM HIỂU GIÚP BẠN: TỈNH QUẢNG NINH - HỌC VIỆN QUỐC PHÒNG "TỌA ĐÀM CÔNG TÁC QUỐC PHÒNG - QUÂN SỰ"!

         Ngày 8/5, Tại thành phố Móng Cái, tỉnh Quảng Ninh phối hợp với Học viện Quốc phòng tổ chức tọa đàm về công tác quốc phòng - quân sự!

Tham dự buổi tọa đàm có các đồng chí: Trung tướng Bùi Huy Biết, Phó Chính ủy Học viện Quốc phòng; Thiếu tướng Vũ Kim Hà, Phó Giám đốc Học viện Quốc phòng; các đồng chí lãnh đạo Bộ CHQS tỉnh, Bộ Chỉ huy Bộ đội biên phòng tỉnh, TP Móng Cái và học viên lớp đào tạo dài hạn chỉ huy tham mưu cao cấp Chiến dịch - Chiến lược khóa 12 Học viện Quốc phòng.

Tại buổi tọa đàm, các đại biểu xem báo cáo bằng video clip về tình hình phát triển kinh tế - xã hội, xây dựng hệ thống chính trị trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh; công tác quân sự, quốc phòng địa phương, kết quả xây dựng khu vực phòng thủ tỉnh; kết quả kết hợp giữa phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội, đối ngoại với tăng cường quốc phòng - an ninh, gắn quốc phòng - an ninh với kinh tế, xây dựng “Thế trận lòng dân”. Trong những năm qua, Bộ CHQS tỉnh, Bộ Chỉ huy Bộ đội biên phòng tỉnh Quảng Ninh đã chủ động xây dựng các đề án, kế hoạch, tham mưu cho Tỉnh ủy, HĐND, UBND tỉnh lãnh đạo, chỉ đạo toàn diện nhiệm vụ quốc phòng, quân sự địa phương, bảo đảm tốt tình hình an ninh, chính trị, trật tự an toàn xã hội trên địa bàn, kinh tế - xã hội không ngừng tăng trưởng góp phần củng cố niềm tin của nhân dân trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, xây dựng thế trận lòng dân vững chắc trong khu vực phòng thủ.

Các đại biểu trao đổi, chia sẻ kinh nghiệm trong công tác quốc phòng, quân sự như: Công tác lãnh đạo, chỉ đạo, tổ chức, triển khai thực hiện chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật Nhà nước về công tác quốc phòng, quân sự và phát triển kinh tế - xã hội trên địa bàn tỉnh; kết quả xây dựng các thành phần, thế trận trong khu vực phòng thủ; kết quả, kinh nghiệm trong công tác quản lý xuất, nhập cảnh tại các cửa khẩu,...

Phát biểu tại buổi tọa đàm, lãnh đạo Học viện Quốc phòng đánh giá cao kết quả thực hiện công tác quốc phòng, quân sự và xây dựng khu vực phòng thủ của tỉnh Quảng Ninh, trong đó có nhiều nội dung được Bộ Quốc phòng chọn làm trước để rút kinh nghiệm trong toàn quân được các cấp, các ngành đánh giá cao. Thông qua tọa đàm cũng là kinh nghiệm thực tiễn để Học viện Quốc phòng đưa vào công tác giảng dạy đáp ứng yêu cầu kết hợp lý luận với thực tiễn, đồng thời bổ sung những kiến thực đã được nghiên cứu, nâng cao tư duy về chiến lược quân sự và chiến lược quốc phòng cho học viên đào tạo dài hạn Chỉ huy - Tham mưu Chiến dịch, Chiến lược khóa 12, qua đó đúc rút những kinh nghiệm thực tế, áp dụng vào quá trình học tập cũng như thực hiện nhiệm vụ ở địa phương, đơn vị./.



Yêu nước ST.

 

THỜI CƠ CỦA CHIẾN THẮNG 30 – 4 – 1975 VÀ BÀI HỌC CHO HÔM NAY

          Cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân 1975 giải phóng hoàn toàn Miền Nam, thống nhất đất nước, kết thúc vẻ vang cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước của nhân dân ta là chiến thắng oanh liệt nhất, vĩ đại nhất trong lịch sử dân tộc Việt Nam. Chiến thắng 30 – 4 – 1975 là kết quả hội tụ của nhiều yếu tố, trong đó vấn đề nắm vững thời cơ cách mạng để giành thắng lợi là yếu tố đặc biệt quan trọng làm nên chiến thắng.

          1. Thời cơ của chiến thắng 30 – 4 – 1975 không hoàn toàn đến từ những yếu tố khách quan, cũng không hoàn toàn đến từ những yếu tố chủ quan mà là sự hội tụ của cả yếu tố khách quan và chủ quanTrong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, Đảng ta luôn sáng suốt, nhạy bén đánh giá đúng tình hình thực tế, dự đoán chính xác thời cơ chiến lược, chủ động thúc đẩy tình thế mau chín muồi để giành thắng lợi quyết định.

          Đó là sự chín muồi về thế trận và vai trò chỉ đạo của Đảng về liên tục tạo lập thế trận, liên tục phát triển thời cơ. Để đối phó với một kẻ thù lớn mạnh bậc nhất thế giới lúc bấy giờ, Đảng ta chủ trương một chiến lược cách mạng mà ở đó có sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa nghệ thuật tác chiến và nghệ thuật chỉ đạo chiến lược. Với tương quan lực lượng của ta lúc bấy giờ chưa thể so sánh được với địch nên phải có một chiến lược quân sự phù hợp dựa trên cơ sở tiềm lực tổng hợp của đất nước, đồng thời tìm ra một phưong thức chuyển hoá lực lượng quân sự hợp lý để từ yếu dần dần trở thành mạnh. Để tạo ra thời cơ có lợi cho việc kết thúc cuộc chiến, Đảng ta đã chủ động chỉ đạo tiến hành nhiều cuộc tiến công với các quy mô và mục tiêu chiến lược khác nhau, như: Chiến dịch Ấp Bắc 1965 để thử nghiệm khả năng tác chiến của quân đội ta với quân Mỹ; Tổng tấn công và nổi dậy Tết Mậu thân 1968 nhằm tạo thế và lực trên mặt trận chính trị, ngoại giao hay Chiến dịch Phước Long tháng 12-1974 để thăm dò thái độ của Mỹ sau Hiệp định Paris…Các chiến thắng đó có ý nghĩa đặc biệt quan trọng để Đảng ta dự báo, đánh giá chính xác tình hình thực tế và so sánh thế và lực giữa ta và địch để từ đó hoạch định kế hoạch và đề ra quyết tâm chiến lược giải phóng miền Nam.

          Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử là điểm chín muồi của thời cơ, thế trận, và lực lượng. Đó là lúc đế quốc Mỹ đã tan rã ý chí xâm lược, còn bọn tay sai ngụy quân, ngụy quyền thì hoang mang dao động, sụp đổ. Thời cơ đại thắng mùa Xuân 1975 là thời cơ nảy sinh do sự nỗ lực chủ quan của ta nhằm tạo ra những thay đổi cơ bản có lợi cho ta trong cán cân so sánh lực lượng giữa ta và Mỹ. Một cuộc chiến tranh sẽ kết thúc khi kẻ thù bị đập tan tiềm lực kinh tế và quân sự, ý chí bị tan rã. Kháng chiến chống Mỹ của chúng ta không đập tan tiềm lực kinh tế và quân sự của Mỹ mà là nhằm đập tan ý chí xâm lược Mỹ. Để đập tan ý chí xâm lược của Mỹ, cuộc kháng chiến của quân dân ta phải trải qua đấu tranh lâu dài, gian khổ mới tạo được thời cơ kết thúc chiến tranh. Thời cơ đại thắng mùa Xuân 1975 được tạo ra do chính máu xương của bao người con Việt Nam trên cả hai miền đất nước trong suốt cuộc chiến tranh tạo nên. Và trên thực tế, Mỹ đã xoay đủ cách, từ chiến lược này đến chiến lược khác, từ “chiến tranh đặc biệt” đến “chiến tranh cục bộ” đến “chiến tranh Việt Nam hoá” và cuối cùng Mỹ chỉ chịu thua khi thua trên bầu trời Hà Nội.

          Đó là sự chín muồi về chuẩn bị lực lượng quân sự và vai trò chỉ đạo của Đảng về sử dụng hợp lý và liên tục chuyển hoả lực lượng trong toàn bộ chiến dịch. Trong đại thắng mùa Xuân năm 1975, Đảng ta đã vận dụng sáng tạo lý luận về bạo lực cách mạng, đưa hình thức khởi nghĩa, nổi dậy của quần chúng vào trong chiến tranh, làm cho sức mạnh của chiến tranh cách mạng tăng lên gấp bội, yếu tố chiến tranh toàn dân, toàn diện đã phát triển lên một trình độ mới. Đó còn là sự chín muồi về thế trận và vai trò chỉ đạo của Đảng về liên tục tạo lập thế trận, liên tục tạo lập thời cơ. Việc lựa chọn điểm đột phá Buôn Ma Thuột đã thể hiện sự sáng suốt của Trung ương Đảng và Bộ Tư lệnh chiến dịch về tạo lập thế trận, vì khi ta chiếm được cử điểm này ta sẽ bẻ gãy được xương sống phòng thủ của địch là Tây Nguyên. Tiếp đó, ta thắng ở Huế – Đà Nẳng làm cho ý đồ “tử thủ” của địch bị phá sản nghiêm trọng. Trên cơ sở liên tục tạo lập được thế trận có lợi cùng với sự phát triển của phong trào kháng chiến toàn dân, sự trưởng thành của các lực lượng vũ trang cách mạng, thời cơ giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước đã tới điểm chín muồi.

Khi thời cơ đã chín muồi, Bộ Chính trị đã yêu cầu toàn Đảng, toàn dân, toàn quân quyết tâm giải phóng miền Nam trong tháng tư năm 1975. Thực hiện tư tưởng chỉ đạo chiến lược “Thần tốc, táo bạo, bất ngờ, chắc thắng”, 5 cánh quân chủ lực hùng mạnh của ta tiến hành tổng tiến công vào Sài Gòn cùng với sự phối hợp chiến đấu của lực lượng vũ trang địa phương và phong trào nổi dậy mạnh mẽ của quần chúng Nhân dân, chúng ta đã đập tan sự kháng cự của địch, buộc nội các chính quyền Sài Gòn phải tuyên bố đầu hàng vô điều kiện. Đúng 11h30 ngày 30/4/1975, lá cờ của Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam tung bay trên nóc Dinh Độc lập, Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử kết thúc thắng lợi. Lời căn dặn của Chủ tịch Hồ Chí Minh kính yêu trước lúc Người đi xa “Chúng ta phải quyết tâm đánh giặc Mỹ đến thắng lợi hoàn toàn” đã được quân và dân ta thực hiện trọn vẹn.

          2. Bài học cho hôm nay. Đại thắng Mùa xuân 1975 đã trôi qua 42 năm nhưng bài học về thời cơ chiến thắng 30 – 4 – 1975 vẫn còn nguyên giá trị đối với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc hiện nay. Nhất là, trong giai đoạn hiện nay, khi chúng ta đang đẩy mạnh sự nghiệp đổi mới, công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, hội nhập sâu rộng quốc tế, khi tình hình an ninh, chính trị trong khu vực đang có những diễn biến phức tạp nhất là những tranh chấp liên quan đến vấn đề chủ quyền biển đảo, sự cạnh tranh ảnh hưởng của một số nước lớn ở nhiều khu vực đang diễn ra khá mạnh mẽ thì vấn đề thời cơ của chiến thắng 30 – 4 -1975 để lại cho ta nhiều bài học sâu sắc.

          Thứ nhất, đó là bài học về tạo thời cơ, tranh thủ thời cơ, đẩy lùi nguy cơ  để xây dựng và bảo vệ tổ quốc trong tình hình mới; luôn nêu cao tinh thần độc lập, tự chủ, phát huy cao độ nội lực, tranh thủ cơ hội thuận lợi từ tình hình chính trị, an ninh thế giới, các phong trào đấu tranh đòi hòa bình của nhân loại tiến bộ để tạo thêm nguồn sức mạnh đẩy mạnh sự nghiệp đổi mới, công nghiệp hóa, hiện đại hóa, sớm đạt mục tiêu trở thành nước công nghiệp hiện đại.

          Thứ hai, bài học về sự kiên định tuyệt đối vào sự lãnh đạo của Đảng, nâng cao năng lực lãnh đạo, bản lĩnh trí tuệ, sức chiến đấu của Đảng trong giai đoạn mới, xây dựng Đảng trong sách vững mạnh, thực hiện có hiệu quả Nghị quyết Trung ương 4 khóa XII và chị thị 05 của BCT.

          Thứ babài học về chủ động dự báo, xây dựng và hoạch định những chiến lược dài hơi trong phát triển đất nước, chuẩn bị lực, thời, thế cho nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ đất nước đáp ứng yêu cầu của tình hình thực tiễn.

          Thứ tư, bài học về xây dựng thế trận lòng dân, tạo nền tảng vững chắc để xây dựng nền quốc phòng toàn dân và nền an ninh nhân đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ bảo vệ tổ quốc trong tình mới.

          Thứ năm, bài học về xây dựng sức mạnh quân sự, quốc phòng, phát huy ý chí tự lực, tự cường trong xây dựng sức mạnh quân sự, quốc phòng, đủ sức đánh bại mọi âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch và chiến tranh công nghệ cao trong tình hình mới.

          Bốn mươi hai năm đã trôi qua nhưng dường như thời gian càng lùi xa, chúng ta càng thấm thía nhiều bài học quí giá của chiến thắng 30 – 4 – 1975, rất nhiều bài học được rút ra từ cuộc tổng tấn công và nổi dậy mùa Xuân năm 1975, trong đó có bài học về tạo thời cơ và chớp thời cơ để giành chiến thắng. Bài học quý báu đó đã, đang và sẽ tiếp tục là hành trang, là sức mạnh, là cẩm nang cho sự nghiệp đổi mới, công nghiệp hóa, hiện đại hóa, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa hôm nay và mai sau./.

 

 

LIÊN MINH CÔNG – NÔNG – TRÍ THỨC LÀ MỘT TẤT YẾU KHÁCH QUAN

          Thời gian gần đây JB Nguyễn Hữu Vinh viết tại trang “Rfavietnam”: “Chấn hưng văn hóa hay mở cửa cho tham nhũng văn hóa?”. Thông qua bài viết Y đã cố tình xuyên tạc khối liên minh công – nông – trí thức, khi lu loa rằng “đưa giai cấp công nhân được gọi là tiên tiến, giai cấp bần cố nông liên minh lên lãnh đạo xã hội, thực chất là phá vỡ hoàn toàn quy luật kinh tế xã hội và tiêu diệt những mầm mống tinh hoa của nền kinh tế đất nước”.

          Luận bàn về vấn đề này, chỉ rõ cho Nguyễn Hữu Vinh biết rằng: Cả về mặt lý luận và thực tiễn đều cho thấy, liên minh giữa giai cấp công nhân với nông dân và đội ngũ trí thức luôn là vấn đề có tính chiến lược của cách mạng Việt Nam, kể cả trong cách mạng dân tộc, dân chủ cũng như cách mạng xã hội chủ nghĩa. Đó là lực lượng nòng cốt của khối đại đoàn kết toàn dân trong mặt trận dân tộc thống nhất, nguồn sức mạnh và động lực to lớn của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc hiện nay. Bằng luận cứ khoa học, khẳng định rõ: Liên minh công – nông – trí thức là một tất yếu khách quan, được chế định bởi các cơ sở xã hội hiện thực và được hiện thực hóa qua đường lối tập hợp lực lượng của Đảng Cộng sản; là nhu cầu tồn tại và phát triển của cả công nhân, nông dân và trí thức.

          Trong khối liên minh, giai cấp công nhân là giai cấp lãnh đạo. Thông qua chính đảng của mình để đề ra đường lối cách mạng, những chủ trương lớn nhằm thực hiện cách mạng giải phóng dân tộc và xây dựng chủ nghĩa xã hội. Nhưng để thực hiện đường lối đó cần phải có lực lượng. Bằng hành động và chính sách thực tiễn, giai cấp công nhân thu hút mọi tầng lớp lao động, trước hết là nông dân và trí thức về phía mình, cùng với họ xây dựng chủ nghĩa xã hội. Đây là điều kiện để giai cấp công nhân củng cố vai trò chính trị tiên phong của mình. Về phía nông dân, do địa vị kinh tế – xã hội và bản chất giai cấp của mình, nông dân tự nguyện tìm đến với giai cấp công nhân. Nếu không liên kết với công nhân, trí thức thì họ sẽ bị các giai cấp bóc lột lợi dụng, lôi kéo trở lại cuộc sống nô lệ, bị áp bức, bóc lột.

          Ngày nay, sự tiến bộ của nông dân đã ngày càng gắn bó hơn với công nhân và trí thức. Để đẩy nhanh sản xuất nông sản hàng hóa, làm cho nông nghiệp phát triển bền vững, nông dân rất cần tới sự hỗ trợ của công nghiệp và những tri thức khoa học kỹ thuật. Đây là nhu cầu thiết thực để nông dân tìm đến và gắn bó với các cơ quan nghiên cứu, các cơ sở dịch vụ kỹ thuật. Công nghiệp và khoa học góp phần đắc lực vào quá trình giải phóng người nông dân, giúp họ tiếp xúc với nền văn hóa và văn minh nhân loại hiện đại, đồng thời có dịp để phát huy các giá trị văn hóa được tích tụ trong quá trình lao động, xây dựng ở nông thôn. Về phía tầng lớp trí thức, là một tầng lớp xã hội đặc biệt có đặc trưng nổi bật là lao động trí óc sáng tạo. Trong công cuộc đấu tranh giải phóng, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, công nhân, nông dân rất cần trí thức. Công nhân và nông dân tạo nên những cơ sở vật chất, điều kiện sinh hoạt và làm việc cần thiết, đặt ra các nhu cầu làm động lực cho sự tìm tòi sáng tạo, hoạt động nghiên cứu của trí thức. Ngược lại, các lĩnh vực hoạt động của công nhân, nông dân sẽ là môi trường để trí thức đem khoa học kỹ thuật vào phục vụ cuộc sống.

          Sau hơn 37 năm thực hiện đường lối đổi mới, Đảng đã lãnh đạo phát huy hiệu quả vai trò liên minh công – nông – trí thức trong xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Mọi thành tựu của đất nước đều có vai trò to lớn của giai cấp công nhân, nông dân và đội ngũ trí thức. Trong đó, nền tảng liên minh công – nông – trí thức đan xen lẫn nhau, thâm nhập vào nhau, chuyển hóa lẫn nhau, thúc đẩy nhau cùng phát triển và đã đạt được những thành tựu phát triển rất ấn tượng: Quy mô kinh tế tăng gấp 12 lần, thu nhập bình quân đầu người tăng 8,3 lần, kim ngạch xuất – nhập khẩu tăng 29,5 lần, vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài tăng 22 lần, tỷ lệ hộ nghèo từ 58% năm 1993 xuống chỉ còn 2,23% năm 2021 tính theo chuẩn mới. Từ một nước nghèo nàn, lạc hậu và còn thiếu ăn, nước ta đã vươn lên trở thành nước xuất khẩu nông sản lớn trên thế giới. Việt Nam có quan hệ ngoại giao với 193/200 quốc gia trên toàn thế giới, quan hệ đối tác chiến lược và đối tác toàn diện với 30 nước. Theo Báo cáo chỉ số hạnh phúc của Liên Hợp Quốc năm 2023, Việt Nam đứng thứ 79/150 quốc gia và vùng lãnh thổ.

          Bằng những con số biết nói nêu trên, đã chỉ rõ Nguyễn Hữu Vinh là tên phản động, cố tình xuyên tạc sự thật, bịa đặt một cách trơ trẽn, vô căn cứ, hòng gây hoang mang, hoài nghi trong xã hội, đánh lừa những người kém hiểu biết, hướng lái dư luận theo những luận điệu sai trái của bọn chúng. Mỗi người dân cần hiểu và nhận diện đúng hành vi chống phá của các thế lực thù địch; nâng cao cảnh giác cách mạng, đấu tranh làm thất bại mưu đồ chống phá của những kẻ như Nguyễn Hữu Vinh. Đồng thời, tin tưởng vào sự lãnh đạo của Đảng, quản lý của Nhà nước, đoàn kết thực hiện thắng lợi mục tiêu phát triển kinh tế xã hội đã xác định, vì cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc của chính mỗi người dân.

 

SỐNG VÀ LÀM VIỆC THEO HIẾN PHÁP, PHÁP LUẬT

          Để hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ của mình, mỗi cán bộ, chiến sĩ phải gương mẫu thực hiện pháp luật của Nhà nước, kỷ luật của quân đội, quy định của địa phương, đơn vị, thực hiện tốt 10 lời thề danh dự của quân nhân; 12 điều kỷ luật. Nói cách khác, nếu buông lỏng kỷ luật, xa rời hoặc vi phạm nguyên tắc, quân đội không thể hoàn thành nhiệm vụ mà Đảng, Nhà nước và nhân dân giao phó.

          Để hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ của mình, quân đội nói chung, mỗi cán bộ, chiến sĩ Quân đội nhân dân Việt Nam nói riêng phải luôn nêu cao tinh thần trách nhiệm trong thực thi và bảo vệ Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam; đồng thời, xung kích, đi đầu trong tuyên truyền, phổ biến Hiến pháp, pháp luật trong nhân dân, cùng nhân dân, người thân, gia đình nghiêm túc thực thi Hiến pháp, pháp luật; trước hết là Luật Nghĩa vụ quân sự, Luật Giáo dục quốc phòng – an ninh vừa được Quốc hội khóa XIII thông qua.

          Các hoạt động cứu hộ, cứu nạn nhân đạo, góp phần gìn giữ hòa bình ở khu vực và trên thế giới của Quân đội nhân dân Việt Nam hiện nay. Lần này, trong bản Hiến pháp năm 2013, Quốc hội bổ sung cụm từ mới và khẳng định rõ vai trò của lực lượng vũ trang nhân dân là: “cùng toàn dân xây dựng đất nước và thực hiện nghĩa vụ quốc tế”[1] (Điều 65). Đây là cơ sở để quân đội nhân dân và công an nhân dân triển khai các công việc tham gia một số hoạt động gìn giữ hòa bình, cứu hộ, cứu nạn nhân đạo, “góp phần bảo vệ hòa bình ở khu vực và trên thế giới”2 (khoản 2, Điều 64). Cần khẳng định rõ hơn quan điểm, lập trường của Đảng, Nhà nước ta về vấn đề này: Quân đội nhân dân Việt Nam kiên quyết chống chiến tranh, cực lực phản đối xâm lược và không cho phép bất cứ thế lực thù địch nào can thiệp vào công việc nội bộ của mình hoặc có hành vi xâm lược độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ quốc gia dân tộc Việt Nam, đe dọa nền hòa bình thế giới. Tuy nhiên, trong điều kiện cho phép, quân đội ta có thể tham gia một số hoạt động gìn giữ hòa bình, cứu hộ, cứu nạn mang tính nhân đạo với mục đích góp phần bảo vệ hòa bình ở khu vực và trên thế giới, củng cố, phát triển tình đoàn kết, hợp tác, hữu nghị vì lợi ích chung; không tham gia, không can thiệp vào các công việc nội bộ của các nước khác.

Để làm tốt việc này phải có bước đi, lộ trình thích hợp, bắt đầu từ việc nghiên cứu, có hiểu biết luật pháp quốc tế, các vấn đề có liên quan, học tập ngoại ngữ, chuẩn bị cơ sở vật chất, các điều kiện bảo đảm và sau đó phải huấn luyện thật kỹ chuyên môn nghiệp vụ. Về điều này, “Sách trắng quốc phòng Việt Nam” đã khẳng định rất rõ. Đối với nhân dân ta, việc trải qua hai cuộc chiến tranh thần thánh chống quân xâm lược, hy sinh gần hàng triệu người để có giang sơn gấm vóc ngày nay, chúng ta thiết tha yêu chuộng hòa bình, độc lập, tự do. Vì vậy, sẽ làm hết sức mình để bảo vệ độc lập, chủ quyền của đất nước và góp phần bảo vệ nền hòa bình thế giới, bảo vệ giá trị Việt Nam./.