Thứ Bảy, 11 tháng 5, 2024

Chủ nghĩa Mác - Lênin tiếp tục soi sáng con đường đi lên chủ nghĩa xã hội

V.I.Lênin - nhà tư tưởng vĩ đại, nhà lý luận chính trị kiệt xuất, lãnh tụ lỗi lạc của phong trào cộng sản toàn thế giới đã có những đóng góp lớn lao cho sự nghiệp đấu tranh vì hòa bình, độc lập, tự do cho các dân tộc, vì hạnh phúc của toàn thể nhân loại. Những di sản mà Lênin để lại cho toàn thể nhân loại tiến bộ là vô cùng to lớn trên cả phương diện lý luận và từ chính thực tiễn hoạt động cách mạng của Người. Ðối với cách mạng Việt Nam, tư tưởng của V.I.Lênin không chỉ là ngọn đuốc soi đường cho cách mạng giải phóng dân tộc đi đến thắng lợi cuối cùng mà vẫn đang tiếp tục chỉ dẫn cho mỗi bước đi trong chặng đường xây dựng và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong tình hình mới.

Nhiều hoạt động tại thủ đô Moskva (Liên bang Nga) nhân dịp kỷ niệm 100 năm ngày mất của V.I.Lenin, 21/1/2024. (Ảnh: nhandan.vn)

Nhiều hoạt động tại thủ đô Moskva (Liên bang Nga) nhân dịp kỷ niệm 100 năm ngày mất của V.I.Lenin, 21/1/2024. (Ảnh: nhandan.vn)

Hòng thực hiện âm mưu làm chệch hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam hiện nay, một trong những mục tiêu các thế lực thù địch tập trung thực hiện chính là đòi xóa bỏ sự lãnh đạo duy nhất, trực tiếp, toàn diện, tuyệt đối, mọi mặt của Ðảng Cộng sản Việt Nam với cách mạng Việt Nam.

Ðể thực hiện mục tiêu này, các đối tượng tuyên truyền luận điệu: Ðảng Cộng sản Việt Nam lấy chủ nghĩa Mác - Lênin làm nền tảng tư tưởng mà theo quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin thì chính trị nảy sinh trên cơ sở kinh tế, phản ánh kinh tế và chính trị do kinh tế quyết định. Bởi vậy theo họ, ở Việt Nam thời kỳ đổi mới đang thực hiện chủ trương phát triển kinh tế nhiều thành phần, nhiều hình thức sở hữu cho nên theo quy luật kinh tế quyết định chính trị thì Việt Nam phải tiến hành đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập; chỉ có thực hiện đa nguyên, đa đảng đại diện cho lợi ích của các giai cấp, lực lượng khác nhau trong xã hội thì mới thật sự bảo đảm dân chủ, phát huy quyền làm chủ của nhân dân. Ðây là sự xuyên tạc vô căn cứ và cũng không đúng với quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin về mối quan hệ giữa kinh tế và chính trị.

Xuất phát từ lập trường duy vật biện chứng, chủ nghĩa Mác - Lênin khẳng định, trong mối quan hệ giữa kinh tế và chính trị, đúng là chính trị là sự phản ánh kinh tế, kinh tế quyết định chính trị, sự biến đổi của đời sống chính trị suy cho cùng bắt nguồn từ sự biến đổi của đời sống kinh tế.

Tuy nhiên, về vấn đề này V.I.Lênin khẳng định: "Chính trị là sự biểu hiện tập trung của kinh tế"; "chính trị tức là kinh tế được cô đọng lại".

Ở đây, V.I.Lênin đã chỉ rõ rằng: chính trị phản ánh kinh tế và xét đến cùng do kinh tế quyết định nhưng chính trị không phải là tấm gương soi của kinh tế theo nghĩa kinh tế có gì thì chính trị phải có cái đó. Nghĩa là chính trị không phản ánh tất cả những quan hệ vô cùng phong phú, đa dạng, phức tạp của kinh tế mà chỉ phản ánh những quan hệ đặc trưng cốt lõi nhất của kinh tế, đó chính là quan hệ sản xuất mà trung tâm nhất là quan hệ sở hữu về tư liệu sản xuất. Do đó, khi nhìn vào bất kỳ một quốc gia, dân tộc nào thì căn cứ vào quan hệ sản xuất thống trị và quan hệ sở hữu thống trị, chi phối trong kinh tế, chúng ta có thể nhận diện rõ bản chất chế độ chính trị của quốc gia đó là như thế nào. Theo đó, một nền kinh tế do chế độ sở hữu tư nhân thống trị và chi phối (thiểu số giai cấp thống trị nắm trong tay những tư liệu sản xuất vật chất chủ yếu trong xã hội) thì tất yếu không thể có một nền chính trị thật sự dân chủ dành cho mọi giai cấp tầng lớp trong xã hội mà đó chỉ là nền dân chủ dành cho thiểu số giai cấp thống trị. Ngược lại chỉ khi nào chế độ công hữu giữ vai trò chủ đạo, chi phối trong nền kinh tế (mọi giai tầng cùng nhau sở hữu những tư liệu sản xuất vật chất chủ yếu) thì mới có cơ sở để xây dựng một chế độ chính trị thật sự dân chủ cho tất cả mọi giai cấp, tầng lớp, mọi người dân trong xã hội.

Từ đây, C.Mác, Ph.Ăngghen, V.I.Lênin đã luận chứng cho việc muốn có một nền dân chủ thật sự tiến bộ dành cho tất cả mọi giai tầng trong xã hội thì nhất định phải dựa trên chế độ công hữu về tư liệu sản xuất, chừng nào chưa làm được điều này thì sẽ không làm thay đổi bản chất của chế độ chính trị dù nó có tồn tại dưới hình thức nào đi chăng nữa.

Từ luận điểm của V.I.Lênin soi chiếu vào thực tiễn Việt Nam thời kỳ đổi mới có thể thấy: bước sang thời kỳ đổi mới Ðảng ta chủ trương khôi phục lại cơ cấu kinh tế nhiều thành phần, nhiều hình thức sở hữu và coi đây là đặc trưng xuyên suốt thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam. Ðiều này được khẳng định ngay từ Ðại hội VI (1986) - Ðại hội đánh dấu đường lối đổi mới sâu sắc và toàn diện trên tất cả các lĩnh vực của Ðảng: "coi nền kinh tế có cơ cấu nhiều thành phần là một đặc trưng của thời kỳ quá độ".

Tuy nhiên, điểm cần lưu ý ở đây là các thành phần kinh tế Việt Nam không phát triển tự do mà phát triển theo định hướng chung - định hướng xã hội chủ nghĩa với sự chi phối của chế độ công hữu về những tư liệu sản xuất chủ yếu và vị trí chủ đạo của kinh tế nhà nước. Chủ trương này được thể hiện nhất quán ngay từ những nhiệm kỳ Ðại hội đầu của thời kỳ đổi mới: Ðại hội VII: "thực hiện nhất quán chính sách kinh tế nhiều thành phần theo định hướng xã hội chủ nghĩa"; Ðại hội VIII: "phát triển nền kinh tế nhiều thành phần, vận hành theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa". Và ngay tại Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội được Ðảng ta thông qua tại Ðại hội VII năm 1991 cũng chỉ rõ một trong 6 đặc trưng của chủ nghĩa xã hội mà Việt Nam xây dựng đó là: "Có một nền kinh tế phát triển cao dựa trên lực lượng sản xuất hiện đại và chế độ công hữu về các tư liệu sản xuất chủ yếu".

Do đó, mô hình kinh tế tổng quát mà Việt Nam lựa chọn trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội là kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa với đặc trưng cơ bản: gắn tăng trưởng kinh tế với thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội trong từng bước đi, từng chính sách và trong suốt quá trình phát triển, bảo đảm kết quả tăng trưởng kinh tế phải phục vụ cho lợi ích của toàn thể nhân dân vì những mục tiêu của chủ nghĩa xã hội - dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh.

Ðiều này được Ðảng khẳng định rõ trong Văn kiện Ðại hội XIII tổng kết sau 35 năm tiến hành công cuộc đổi mới đất nước: "Kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa là mô hình kinh tế tổng quát của nước ta trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội. Ðó là nền kinh tế thị trường hiện đại, hội nhập quốc tế, vận hành đầy đủ, đồng bộ theo các quy luật của kinh tế thị trường, có sự quản lý của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, do Ðảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo; bảo đảm định hướng xã hội chủ nghĩa vì mục tiêu "dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh" phù hợp với từng giai đoạn phát triển của đất nước".

Như vậy, với một nền kinh tế chung phát triển thống nhất theo định hướng xã hội chủ nghĩa với sự chi phối của chế độ công hữu về những tư liệu sản xuất chủ yếu và vị trí chủ đạo của kinh tế nhà nước thì việc có một Ðảng duy nhất cầm quyền, lãnh đạo Nhà nước, cách mạng và xã hội - Ðảng Cộng sản Việt Nam - "Ðội tiên phong của giai cấp công nhân, đồng thời là đội tiên phong của nhân dân lao động và của dân tộc Việt Nam, đại biểu trung thành lợi ích của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và của cả dân tộc" - tất yếu vẫn đi theo quy luật kinh tế quyết định bản chất của chế độ chính trị như các nhà kinh điển chủ nghĩa Mác - Lênin đã chỉ ra và cũng hoàn toàn đúng với quan điểm của V.I.Lênin.

Ðồng thời cần phải nhận thức sâu sắc một sự thật rằng, đa nguyên, đa đảng không đồng nhất với dân chủ và nhất nguyên chính trị, một đảng cầm quyền không đồng nhất với phản dân chủ như những gì mà các thế lực thù địch vẫn rêu rao, tuyên truyền. Dân chủ hay không, dân chủ đến đâu và nền dân chủ đó dành cho ai, cho một giai cấp hay toàn thể xã hội xét đến cùng vẫn phụ thuộc vào chính bản chất của chế độ kinh tế nhất là chế độ sở hữu như V.I.Lênin đã chỉ rõ.

Từ thực tế có thể thấy, tại nhiều nước tư bản hiện nay đang thực hiện chế độ đa đảng, song ở các nước này, quan hệ sản xuất thống trị vẫn là quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa và chế độ sở hữu chi phối vẫn là sở hữu tư nhân tư bản chủ nghĩa về tư liệu sản xuất, nghĩa là thiểu số giai cấp tư sản thống trị vẫn nắm trong tay những tư liệu sản xuất vật chất chủ yếu trong xã hội. Do đó, tương ứng với chế độ sở hữu tư nhân về tư liệu sản xuất thì nền chính trị ở các nước tư bản không thể trở thành nền chính trị dân chủ dành cho các giai tầng trong xã hội mà đó chỉ là nền dân chủ tư sản dành cho giai cấp cầm quyền trong xã hội, và tất yếu dù có nhiều đảng phái chính trị cùng tồn tại nhưng đảng cầm quyền, nắm quyền quyết định vẫn là đảng của giai cấp tư sản. Và tất yếu, trên cơ sở của chế độ sở hữu tư nhân về tư liệu sản xuất, nhà nước tư sản cũng không có cơ sở trở thành nhà nước của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân như nhiều học giả tư sản hiện nay vẫn khẳng định mà suy cho cùng nhà nước đó cũng chỉ chủ yếu đại diện cho quyền, lợi ích của giai cấp tư sản.

Ðối với Việt Nam, mặc dù chúng ta phát triển kinh tế nhiều thành phần, nhiều hình thức sở hữu nhưng trong đó, kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo dẫn dắt các thành phần kinh tế khác phát triển theo định hướng xã hội chủ nghĩa và chế độ công hữu giữ vai trò chi phối, do đó, tương ứng với chế độ sở hữu như vậy, Việt Nam mới có cơ sở để xây dựng nền dân chủ thật sự tiến bộ cho tất cả mọi người - nền dân chủ xã hội chủ nghĩa, có cơ sở để xây dựng nhà nước thật sự của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân.

Từ những phân tích trên có thể khẳng định tư tưởng của chủ nghĩa Mác - Lênin nói chung, tư tưởng của V.I.Lênin nói riêng vẫn đang tiếp tục đồng hành cùng toàn Ðảng và toàn thể nhân dân Việt Nam trong sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội, tiếp tục soi sáng, dẫn lối cho cuộc đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch, bảo vệ Ðảng, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa./.

ST.

Cảnh giác với chiêu trò mới của các thế lực thù địch trên không gian mạng

Những ngày gần đây, mạng xã hội dậy sóng nhiều tin đồn xuyên tạc sự thật, với tần suất lan truyền chóng mặt, gây tác hại đến công chúng tiếp nhận thông tin. Thực chất thì những thông tin xấu độc dạng tin đồn lan truyền trên không gian mạng xã hội không có gì mới, vẫn chỉ là “bình cũ, rượu mới”.

Kiên quyết đấu tranh với các âm mưu, thủ đoạn chống phá Đảng, Nhà nước trên không gian mạng.
Kiên quyết đấu tranh với các âm mưu, thủ đoạn chống phá Đảng, Nhà nước 
trên không gian mạng.

Chỉ có điều, tin đồn gần đây được các thế lực thù địch, cơ hội chính trị nhào nặn gắn với những vụ án tham nhũng, đang được dư luận quan tâm, kết hợp với những phương thức truyền thông mới hiện đại, nhất là ứng dụng công nghệ AI, đưa giọng nói “thổi” vào các hình ảnh, video cắt ghép. Chiêu trò mới này tạo cảm giác cho người đọc, người xem dễ phân tâm, lung lạc giữa đúng - sai, thật - giả. Vì thế, với các chiêu trò mới của các phần tử phản động, cơ hội chính trị, làm cho các dạng tin đồn được lan truyền, nhân bản rất nhanh, tạo tâm lý đám đông, a dua vào những sự kiện vốn không có thật trên mạng.

Phương thức thông tin của tin đồn có nhiều dạng thức mới, nhưng về bản chất vẫn chủ yếu xung quanh ở các dạng thức.

Thứ nhất, tin đồn kiểu thật - giả lẫn lộn. Sử dụng thông tin có thật về các vụ án tham nhũng đã, đang, sẽ được xem xét, xử lý từ các nguồn thông tin chính thống của các báo, tạp chí trong nước, rồi thêm “gia vị’, nhào nặn để bôi nhọ, xuyên tạc cá nhân lãnh đạo, từ đó quy chụp, nói xấu chế độ.

Thứ hai, tin đồn kiểu giả mạo 100%. Đây là những tin giả, không có thật, do một số phần tử phản động, cơ hội chính trị tưởng tượng ra kịch bản như thật để lừa bịp người nhẹ dạ cả tin, nhằm kích động, hoặc tôn thờ, ca tụng một cá nhân, nhưng lại nói xấu một hay vài cá nhân lãnh đạo khác. Mục tiêu của chúng là kích động, gây mất đoạn kết nội bộ lãnh đạo nhằm chia giẽ nội bộ, dựng lên cái gọi là phe, nhóm lãnh đạo cấp cao tỉnh A, tỉnh B hay miền Trung, miền Nam, miền Bắc...

Đáng chú ý là chủ của các thông tin xấu độc này là những phần tử phản động, cơ hội chính trị ngoài nước. Họ là những kẻ phản động, bất mãn chế độ, chuyên “cạo chữ trên bàn phím”, ngồi cách xa Việt Nam hàng vạn cây số nhưng lại có vẻ như “người trong nội bộ”, ngụy tạo lên những chuyện hoang đường, hoàn toàn không có thật, suy diễn, thậm chí gắp lửa bỏ tay người, chọc gậy bánh xe để kích động, chia giẽ, lý gián nội bộ lãnh đạo...

Nguy hiểm hơn là lợi dụng tâm lý tò mò của không ít người sử dụng các nền tảng mạng xã hội trong nước, chúng sẻ chia thông tin giả trên nhiều nền tảng mạng xã hội, nhất là tiktok, facebok, youtube... len lỏi đưa lên nhiều nhóm facebook có số lượng thành viên rất đông để nhân rộng, lan tỏa nhanh thông tin. Từ một vài người đến nhiều nhóm sử dụng các nền tảng mạng xã hội ở trong nước, hàng vạn người chia sẻ, bình luận, từ đó hình thành làn sóng tin đồn, gây tâm lý bán tín, bán nghi, hoang mang trong dân chúng, cộng đồng mạng. Từ mạng ảo, các dạng tin đồn được các faceboker, tiktoker ra đời sống thực, rỉ tai nhau, lan truyền các tin đồn, gây tâm lý hoang mang, lo lắng trong xã hội.

Chính vì thế, hệ lụy, tác động từ các dạng tin đồn đã, đang gây hậu quả xấu, tác động đến tâm trạng, tư tưởng, an ninh tư tưởng trên không gian mạng. Ngoài tâm lý tò mò của cộng đồng mạng làm cho tin đồn - thông tin xấu độc lâu nay vẫn có đất sống, có nguyên nhân chủ quan từ chính chúng ta. Chúng ta thiếu tính chủ động, kịp thời ngăn chặn, để cho các tin đồn có thời gian dài có đất sinh sôi, nảy nở, lan truyền, tạo thành làn sóng tin giả tán phát mạnh mẽ trên mạng xã hội. Vẫn xảy ra tình trạng tắc trách, thờ ơ, thiếu tính đồng bộ, hiệp đồng tác chiến giữa các cấp, các cơ quan, đơn vị trong xử lý các tình huống tư tưởng và ngăn chặn tin đồn. Chúng ta còn để khoảng trống, thiếu các thông tin chính thống, dẫn dắt, chi phối trận địa tư tưởng trên không gian mạng, do các thông tin chính thống đăng tải để phủ định các tin đồn, tin giả, từ các cơ quan báo chí không kịp thời.

Để kịp thời ngăn chặn, đẩy lùi hiệu quả các thông tin xấu độc, nhất là các dạng tin đồn thất thiệt, góp phần giữ vững an ninh tư tưởng trên không gian mạng, rất cần triển khai một số giải pháp sau:

Một là, tuyên truyền nâng cao nhận thức của cán bộ, đảng viên và nhân dân, cộng đồng mạng trước âm mưu, thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch, cơ hội chính trị trên không gian mạng. Trong đó, cần tiếp tục đẩy mạnh tuyên truyền để mỗi cán bộ, đảng viên và nhân dân nhận thức và thực hiện tốt các nghị quyết, chỉ thị của Đảng và pháp luật của Nhà nước về bảo vệ an ninh quốc gia trong tình hình mới, nhất là Nghị quyết số 35-NQ/TW của Bộ Chính trị, về tăng cường bảo vệ nền tảng tư tưởng của Ðảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trong tình hình mới và Luật An ninh mạng.

Trong đó, cần đa dạng hóa các phương thức tuyên truyền, bao gồm cả tuyên truyền miệng và tuyên truyền trên các phương tiện thông tin đại chúng. Hằng tháng hoặc đột xuất, các cấp ủy Đảng, hệ thống báo cáo viên, tuyên truyền viên cần quan tâm lồng ghép, đưa thông tin chuyên đề đấu tranh phản bác quan điểm sai trái, thù địch, vạch trần âm mưu, thủ đoạn, bản chất của các tin đồn thất thiệt trong các cuộc họp chi bộ và các hội nghị báo cáo viên.

Để ngăn chặn tin đồn thật thiệt, không để lan truyền các thông tin xấu độc trên không gian mạng, các cơ quan báo chí cần đẩy mạnh tuyên truyền, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch; kịp thời phản bác các tin đồn thất thiệt trên mạng interet và các nền tảng xã hội.

Hai là, tổ chức đấu tranh thường xuyên, kịp thời với các thông tin xấu độc, các tin đồn lan truyền trên mạng xã hội. Khơi dậy ý thức cảnh giác cao độ của mỗi công dân, nhóm sử dụng và cộng đồng mạng, nhất là cán bộ, đảng viên, đoàn viên, hội viên... khi tham gia các mạng xã hội. Các cấp ủy Đảng, các đoàn thể chính trị - xã hội và hệ thống các trường từ trung học phổ thông đến các trường đại học cần thường xuyên tổ chức các hội nghị, các cuộc họp chuyên đề về đấu tranh, phản bác các quan điểm sai trái, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, để mỗi công dân mạng nâng cao ý thức đấu tranh, tự tạo cho mình sức đề kháng, nhận thức rõ bản chất đúng - sai của thông tin xấu độc, không bị mắc bẫy khi chia sẻ, lan truyền các tin đồn, vi phạm Luật an ninh mạng.

Ba là, tăng cường phối hợp có hiệu quả giữa các cơ quan, đơn vị chức năng trong đấu tranh tranh, phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trên không gian mạng. Đấu tranh kịp thời với các hành vi, vi phạm của các mạng xã hội facebok, google, tiktok... Yêu cầu các mạng xã hội phải tuân thủ pháp luật, bóc gỡ các tin đồn thất thiệt gây ảnh hưởng đạo đức xã hội và vi phạm luật pháp của Việt Nam.../.

ST.

Chống tham nhũng là kiên quyết cắt bỏ những 'cành cây sâu mọt'

Đảng Cộng sản Việt Nam được nhân dân tin yêu gọi là “Đảng ta”. Bởi lợi ích, mục tiêu của Đảng là “lợi ích của dân tộc, của Tổ quốc”. Các đảng viên phải luôn lấy phụng sự Tổ quốc, phục vụ Đảng, phục vụ nhân dân làm lý tưởng phấn đấu. Càng là cán bộ cấp cao, lại càng cần giữ gìn phẩm cách, cần, kiệm, liêm, chính.

Ngay từ lễ kết nạp Đảng, mỗi đảng viên đã thề suốt đời phấn đấu hy sinh vì lý tưởng của Đảng, vì hạnh phúc của nhân dân. Điều ấy đã được Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: “Ngoài lợi ích của Tổ quốc, của giai cấp, của dân tộc, Đảng ta không có lợi ích nào khác”.

Chính lý tưởng của Đảng và phẩm cách của những người cộng sản chân chính đã tạo được sự tin yêu, gắn bó, quy tụ cả dân tộc dưới cờ Đảng. Đó cũng là một trong những nguyên nhân chính giúp Đảng ta đã đưa đất nước băng qua những gập ghềnh, gian nan để tới những chiến thắng vĩ đại và thành tựu to lớn, để có cơ đồ và vị thế hôm nay.

Nhưng thật xót xa, cùng với quá trình đất nước đổi mới, đi lên thì một bộ phận cán bộ, đảng viên lại không giữ gìn phẩm cách, nhiễm thói hư, tật xấu. Không ít người, trong đó có cả cán bộ cấp cao “nói không đi đôi với làm”, xem lợi ích của cá nhân, gia đình lớn hơn lợi ích tập thể, quốc gia. “Vì dân” không còn là mục tiêu của họ. Thay vào đó, là xa lánh nhân dân, quan liêu, giáo điều, hách dịch.

Phai nhạt lý tưởng đương nhiên dẫn đến suy thoái về đạo đức, lối sống và tham nhũng, lãng phí. Thời gian gần đây, công tác đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực được Đảng ta đẩy mạnh. Nhiều cán bộ, đảng viên đã bị xử lý kỷ luật nghiêm khắc vì suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống; vi phạm nghiêm trọng quy định của Đảng, pháp luật của Nhà nước trong thực hiện chức trách, nhiệm vụ được giao, vi phạm Quy định những điều đảng viên không được làm và trách nhiệm nêu gương. Nhiều cán bộ giữ trọng trách còn có những hành vi tiêu cực, nhận hối lộ, gây hậu quả rất nghiêm trọng khiến dư luận bức xúc, ảnh hưởng rất xấu đến uy tín của tổ chức đảng và chính quyền địa phương.

Từ đầu nhiệm kỳ khóa XIII đến nay, Đảng ta đã phải thi hành kỷ luật trên 100 cán bộ diện Trung ương quản lý, một số cán bộ đã bị xử lý hình sự. Không ít tướng lĩnh trong lực lượng vũ trang cũng bị bắt giam, phạt tù do vi phạm pháp luật. Mới đây, Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư tiếp tục thi hành kỷ luật một số lãnh đạo, nguyên lãnh đạo các tỉnh Vĩnh Phúc, Phú Yên, Quảng Ngãi, Hà Giang, Gia Lai...

Còn tại địa phương, năm 2023, các cơ quan chức năng đã khởi tố mới 763 vụ án, 2.079 bị can về tham nhũng, tăng gần gấp đôi so với năm 2022.

Tại Hội nghị toàn quốc tổng kết 10 năm công tác phòng chống tham nhũng, tiêu cực, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã nhắc nhở cán bộ, đảng viên, trước hết là người lãnh đạo phải biết trọng liêm sỉ, giữ danh dự, biết xấu hổ.

Do đó, việc xử lý nghiêm cán bộ, trong đó có cán bộ cấp cao sai phạm là vì sự nghiệp chung, vì sự nghiêm minh về kỷ luật của Đảng, thượng tôn pháp luật của Nhà nước, sự trong sạch và uy tín của Đảng, Nhà nước, ý nguyện của Nhân dân; góp phần quan trọng giữ vững ổn định chính trị, phát triển kinh tế - xã hội, tăng cường quốc phòng, an ninh, đối ngoại, xây dựng Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh.

Tỉnh táo nhìn sâu vào việc xử lý cán bộ, đảng viên vi phạm, không khó để nhận thấy, đây là quyết tâm chính trị rất lớn nhằm xây dựng, chỉnh đốn đội ngũ cán bộ của Đảng hiện nay. Công cuộc ấy đang diễn ra hết sức quyết liệt, mạnh mẽ và chưa từng có. Không chỉ trong phạm vi Đảng, trong mỗi cán bộ, đảng viên và tổ chức đảng các cấp, công cuộc đó có phạm vi rộng lớn hơn, trong toàn Đảng và hệ thống chính trị với sự đồng thuận cao trong xã hội.

Không chỉ chống lại những thứ đã “cũ kỹ, hư hỏng”, mà đó còn nhằm giữ gìn những thứ “mới mẻ, tốt tươi”, giữ đạo đức cách mạng và trọng trách của mỗi cán bộ, đảng viên phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân, phục vụ Đảng.

Chính vì lẽ ấy, đây là cuộc đấu tranh mang tính chất sinh - tử, sự tồn vong của chế độ!

Quyết tâm chính trị ấy, như Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã chia sẻ: Việc xử lý nghiêm nhiều cán bộ, kể cả cán bộ cấp cao sai phạm là điều không ai mong muốn, thậm chí rất đau xót, rất đau lòng. Nhưng vì sự nghiệp chung, vì sự nghiêm minh về kỷ luật của Đảng, thượng tôn pháp luật của Nhà nước, sự trong sạch, vững mạnh và uy tín của Đảng, Nhà nước và ý nguyện của Nhân dân, chúng ta phải làm và kiên quyết làm.

Thế nên, kỷ luật một vài người để cứu muôn người và sẽ còn phải tiếp tục làm quyết liệt, mạnh mẽ hơn nữa trong thời gian tới theo tinh thần Bác Hồ đã dạy: "Cắt bỏ một vài cành cây sâu mọt để cứu cả cái cây"./.

ST.

Những giá trị không thể xuyên tạc, phủ nhận của lý luận hình thái kinh tế - xã hội và học thuyết giá trị thặng dư

Với mưu đồ chính trị xấu, thái độ thù địch, nhãn quan phiến diện, phản khoa học, các thế lực phản động và những phần tử cơ hội không ngừng xuyên tạc, bôi nhọ, phủ nhận các giá trị đích thực của chủ nghĩa Mác - Lênin. Hầu hết luận điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin đều bị chúng tìm mọi cách xuyên tạc, bóp méo, hòng phủ nhận tính khoa học, cách mạng, nhân văn, nhân đạo; trong đó, những nội dung bị tập trung công kích, xuyên tạc nhiều nhất là lý luận hình thái kinh tế - xã hội và học thuyết giá trị thặng dư.

Chủ nghĩa Mác - Lênin luận giải khách quan, khoa học về sự ra đời tất yếu và bản chất tốt đẹp, ưu việt của chế độ xã hội chủ nghĩa.
Chủ nghĩa Mác - Lênin luận giải khách quan, khoa học về sự ra đời tất yếu và
 bản chất tốt đẹp, ưu việt của chế độ xã hội chủ nghĩa.

Chủ nghĩa Mác - Lênin là hệ thống lý luận khoa học và cách mạng triệt để; cung cấp thế giới quan, phương pháp luận khoa học cho quá trình nhận thức của con người về tự nhiên, xã hội một cách đúng đắn, giúp con người nắm bắt được các quy luật và tiến trình vận động, biến đổi, phát triển tất yếu khách quan của lịch sử. Chủ nghĩa Mác - Lênin đã trở thành nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam soi đường, chỉ lối, hướng dẫn các dân tộc bị áp bức và toàn thể nhân dân lao động cách thức để giải phóng khỏi mọi sự áp bức, bóc lột, xây dựng một xã hội tốt đẹp, ấm no, hạnh phúc, tiến bộ, văn minh. Những khẳng định của chủ nghĩa Mác - Lênin về tính tất yếu của sự ra đời chế độ xã hội chủ nghĩa (XHCN) ưu việt, hay về bản chất thực sự không tốt đẹp của chế độ tư bản chủ nghĩa (TBCN),... đều dựa trên căn cứ khoa học và được phân tích, lập luận lô-gíc chứ không phải là những suy luận ảo tưởng, viển vông, chủ quan, cảm tính, như các thế lực thù địch và những phần tử cơ hội thường rêu rao.

CHỦ NGHĨA MÁC - LÊNIN LUẬN GIẢI KHÁCH QUAN, KHOA HỌC VỀ SỰ RA ĐỜI TẤT YẾU VÀ BẢN CHẤT TỐT ĐẸP, ƯU VIỆT CỦA CHẾ ĐỘ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA  

Các thế lực phản động và phần tử cơ hội thường rêu rao rằng: Chủ nghĩa Mác - Lênin là thứ lý luận ảo tưởng viển vông khi tự tưởng tượng, vẽ ra một chế độ xã hội tương lai tốt đẹp không có thực, rồi tin rằng đó là mục tiêu lý tưởng, đích hướng tới của nhân loại(!?). Những quốc gia nào tin theo lý luận ảo tưởng đó, xây dựng chế độ XHCN, thì hoặc là bị vỡ mộng, sụp đổ nhanh chóng, như Liên Xô và các nước Đông Âu trước đây, hoặc là luôn chìm trong khủng hoảng, suy thoái, đời sống nhân dân nghèo đói, thiếu thốn, xã hội không có dân chủ, văn minh, như Việt Nam, Cu-ba,... (!?).

Quan niệm duy vật về lịch sử - phát hiện vĩ đại mang tính vượt thời đại của chủ nghĩa Mác - Lênin - đã luận giải một cách khoa học về sự ra đời của chế độ XHCN như một tất yếu lịch sử - tự nhiên. Lý luận hình thái kinh tế - xã hội (HTKTXH) của chủ nghĩa Mác - Lênin đã phân tích, chỉ rõ, toàn bộ tiến trình vận động, biến đổi, phát triển của lịch sử nhân loại là một quá trình lịch sử - tự nhiên tuân theo những quy luật khách quan, tất yếu, bắt nguồn từ chính sự thay đổi về trình độ của lực lượng sản xuất (LLSX), trước hết là của công cụ lao động, dẫn đến sự thay đổi về quan hệ giữa người với người trong quá trình lao động, sản xuất; từ đó hình thành các HTKTXH tiếp nối, thay thế nhau trong tiến trình phát triển của lịch sử nhân loại; HTKTXH sau bao giờ cũng ra đời trên cơ sở kế thừa những giá trị của HTKTXH trước đó và có sự phát triển cao hơn, tiến bộ, văn minh hơn.

Quá trình tiếp nối, thay thế nhau giữa các HTKTXH làm nên tiến trình vận động, phát triển của lịch sử nhân loại tuân theo những quy luật khách quan vốn có của bản thân mỗi chế độ xã hội, cũng như là kết quả của quá trình giải quyết những mâu thuẫn nội tại hiện thực của các xã hội ở những giai đoạn khác nhau (mâu thuẫn giữa LLSX và quan hệ sản xuất (QHSX); giữa cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng; mâu thuẫn giữa các giai cấp đối kháng nhau về lợi ích trong xã hội) chứ không phải là sự sắp đặt, chi phối bởi bất kỳ một ý chí chủ quan nào hay do sự mong muốn của bất kỳ ai. Lịch sử đã chứng minh, các HTKTXH đã và đang tồn tại trong lịch sử nhân loại đều ra đời, xuất hiện “tự nhiên” theo cách ấy, cùng với sự phát triển không ngừng của LLSX. Xã hội chiếm hữu nô lệ là sự tiếp nối, thay thế xã hội cộng sản nguyên thủy và có sự phát triển tiến bộ, văn minh hơn. Tương tự, xã hội phong kiến, rồi đến xã hội TBCN cũng là sự tiếp nối, thay thế, tiến bộ, văn minh hơn xã hội trước nó.

Theo quy luật khách quan ấy, xã hội cộng sản chủ nghĩa, mà giai đoạn đầu là xã hội XHCN, sẽ tất yếu ra đời, thay thế xã hội TBCN, và lẽ tất nhiên, nó sẽ là HTKTXH phát triển cao hơn, tiến bộ, dân chủ, văn minh hơn HTKTXH TBCN và mọi chế độ xã hội trước đó. Điều đó cũng có nghĩa là, theo quy luật khách quan tất yếu như là “một quá trình lịch sử - tự nhiên”, mọi quốc gia đều sẽ tiến đến CNXH.

Như vậy, quan niệm duy vật về lịch sử của chủ nghĩa Mác - Lênin khẳng định rõ, chính sự phát triển của LLSX đã dẫn tới sự thay đổi của những QHSX và tiếp đó là sự thay đổi toàn bộ kiến trúc thượng tầng xã hội, từ đó hình thành nên các HTKTXH phát triển nối tiếp nhau của lịch sử nhân loại. Vì thế, cũng giống như sự phát triển của LLSX trong xã hội phong kiến là tiền đề cho sự ra đời chế độ TBCN tốt đẹp hơn nó, thì sự phát triển LLSX trong xã hội TBCN cũng chính là cơ sở, tiền đề thúc đẩy sự ra đời chế độ XHCN tốt đẹp hơn chế độ TBCN.

Chủ nghĩa Mác - Lênin cũng khẳng định, với việc thiết lập QHSX dựa trên chế độ công hữu về tư liệu sản xuất phù hợp với trình độ phát triển xã hội hóa cao của LLSX, chế độ XHCN sẽ thủ tiêu được căn nguyên của mọi tình trạng áp bức, bóc lột, bất công, bất bình đẳng... của chế độ tư hữu trong các chế độ xã hội trước, xây dựng một xã hội tốt đẹp tiến bộ, văn minh, không còn áp bức, bóc lột, bất công. Nhân dân lao động được sở hữu mọi tư liệu sản xuất cơ bản, được làm chủ mọi lĩnh vực của đời sống xã hội, được lao động, cống hiến và hưởng thụ thành quả tương xứng với đóng góp của mình cho xã hội, được bảo đảm quyền công dân, có cuộc sống ấm no, hạnh phúc, có điều kiện, cơ hội phát triển toàn diện bản thân,... Thực tế, một số quốc gia đã nhận thức, vận dụng sáng tạo lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, thực hiện xây dựng chế độ XHCN và từng bước đã đạt những thành tựu phát triển tốt đẹp đáng ghi nhận.

Việt Nam, từ một đất nước nghèo nàn, lạc hậu, chịu tổn thất nặng nề bởi chiến tranh và thường xuyên phải chống đỡ sự cản phá mạnh mẽ của các thế lực thù địch trên mọi phương diện, đến nay, sau gần 40 năm đổi mới, trở thành nền kinh tế có tốc độ phát triển tương đối cao, với mức tăng trưởng GDP trung bình khoảng 6% mỗi năm. Quy mô nền kinh tế tăng từ 6,3 tỷ USD (năm 1989) lên 409 tỷ USD (năm 2022), đứng thứ 37 nền kinh tế lớn nhất thế giới, đứng thứ năm trong ASEAN và trong nhóm 14 nước hàng đầu châu Á. Đời sống nhân dân được cải thiện đáng kể với thu nhập bình quân đầu người tăng từ khoảng 250 USD/năm (trong những năm 1990) lên 4.110 USD/năm (năm 2022), đứng thứ năm trong ASEAN. Tỷ lệ hộ nghèo trung bình đến năm 2020 chỉ còn dưới 3%; được Liên hợp quốc công nhận là một trong những nước đi đầu trong việc hiện thực hóa các Mục tiêu phát triển Thiên niên kỷ; chỉ số phát triển con người (HDI) của Việt Nam cũng được xếp hạng khá cao trên thế giới.... Trong mọi thời kỳ, dù khó khăn đến đâu, Việt Nam vẫn luôn kiên định và nỗ lực hết sức để thực hiện mục tiêu xây dựng chế độ XHCN dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh; chú trọng bảo đảm các quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của nhân dân, tạo điều kiện để mọi tầng lớp nhân dân được đóng góp công sức và được hưởng thụ thành quả phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, không để ai bị bỏ rơi trong tiến trình phát triển ấy. Mọi thành tựu phát triển kinh tế, bảo đảm dân chủ, công bằng, ấm no, hạnh phúc cho nhân dân mà Việt Nam đã đạt được trong hiện thực là minh chứng sống động phản bác, đập tan những luận điệu xuyên tạc của những quan điểm thù địch, phản động phủ nhận bản chất tốt đẹp và những giá trị hiện thực của chế độ XHCN. Những nỗ lực không ngừng của Việt Nam trên cơ sở sự định hướng, soi đường của chủ nghĩa Mác - Lênin đã giúp Việt Nam gặt hái những thành tựu phát triển to lớn, đất nước ta “chưa bao giờ có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế như ngày nay”.

Tương tự, công cuộc xây dựng CNXH ở Trung Quốc thời gian qua cũng thu nhận những thành tựu phát triển kinh tế - xã hội mạnh mẽ. Hay như Cuba, dù phải đương đầu bao khó khăn vất vả từ hậu quả chiến tranh và chính sách bao vây, cấm vận khắc nghiệt, vẫn đạt những thành tựu phát triển đáng ngưỡng mộ trong quá trình xây dựng CNXH, nhất là trong thực hiện chính sách an sinh xã hội, chăm sóc y tế, giáo dục... Hoặc như Lào, dù xuất phát điểm thấp, song nhờ kiên định theo định hướng của chủ nghĩa Mác - Lênin và nỗ lực của cả dân tộc, đến nay đã đạt những thành tựu phát triển kinh tế - xã hội to lớn, đời sống nhân dân được cải thiện đáng kể, diện mạo đất nước thay đổi từng ngày trên con đường tiến lên CNXH, kinh tế phát triển với tốc độ tăng trưởng bình quân giai đoạn 2016 - 2020 đạt khoảng 5,8%; trong đại dịch COVID-19, tăng trưởng của Lào vẫn đạt dương, thu nhập bình quân năm 2020 đạt khoảng 2.664 USD.

Về những thất bại, sụp đổ của mô hình CNXH hiện thực tại Liên Xô hay Đông Âu, bất cứ ai quan tâm tìm hiểu sẽ thấy nguyên nhân chủ yếu là do sự vận dụng sai lầm, giáo điều lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, cộng thêm sự chống phá mạnh mẽ của các thế lực thù địch phản động trong và ngoài nước,... Ngày nay, khi nhắc đến những thành tựu tươi đẹp, ưu việt của chế độ XHCN ở Liên Xô trước đây, rất nhiều người dân vẫn tỏ rõ sự tiếc nuối, luyến tiếc.

CHỦ NGHĨA MÁC - LÊNIN CHỈ RÕ BẢN CHẤT BÓC LỘT, BẤT CÔNG THỰC SỰ CỦA CHẾ ĐỘ TƯ BẢN CHỦ NGHĨA

Các thế lực thù địch và phần tử cơ hội xuyên tạc rằng lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin mang nặng tính chủ quan, cảm tính, phản khoa học khi luôn gán cho chế độ TBCN bản chất xấu xa không có thực, như bóc lột, áp bức, bất công,...; rằng chế độ TBCN mới thực sự là chế độ xã hội tốt đẹp, tiến bộ, văn minh(!?).

Trong tiến trình phát triển mang tính lịch sử - tự nhiên của nhân loại, chế độ TBCN tất yếu tốt đẹp, tiến bộ, văn minh hơn chế độ phong kiến và các chế độ xã hội trước đó, song nó đương nhiên không tiến bộ, văn minh bằng chế độ XHCN tiếp sau đó, càng không phải là chế độ xã hội tốt đẹp nhất, ưu việt nhất.

Học thuyết giá trị thặng dư - một phát hiện vĩ đại của chủ nghĩa Mác - Lênin đã phân tích, chỉ rõ bản chất bóc lột của nền kinh tế TBCN. CNTB luôn phơi bày bản chất bóc lột, bất công thực sự của chế độ TBCN - một chế độ xã hội luôn bảo vệ lợi ích và tạo điều kiện cho sự bóc lột ngày càng gia tăng của giai cấp tư sản đối với người lao động, làm gia tăng tình trạng bất công, bất bình đẳng trong việc cống hiến và hưởng thụ giữa những ông chủ tư bản và những người công nhân,...

Tuy nhiên, các nhà tư tưởng tư sản, các thế lực thù địch và phần tử cơ hội luôn cố tình ra sức phủ nhận, xuyên tạc rằng, lý luận của chủ nghĩa Mác - Lê-nin là chủ quan cảm tính, phản khoa học, trước đây đã không đúng, nay càng lỗi thời, không có giá trị. Bởi lẽ, hiện nay CNTB đã thay đổi, không còn mang bản chất bóc lột nữa; người lao động hiện nay cũng được sở hữu cổ phần, tham gia quản lý sản xuất, được lao động, cống hiến, hưởng thụ theo sự đóng góp của mình, được chăm lo an sinh xã hội, phúc lợi xã hội tốt, được hưởng đầy đủ các quyền dân chủ, quyền con người... chứ không hề bị bóc lột, áp bức, bị đối xử bất công(!?); rằng CNTB đã và đang chứng minh nó thực sự là chế độ dân chủ, tiến bộ, văn minh, ấm no, hạnh phúc mà ai cũng mong muốn, kể cả những người mác-xít, những người cộng sản(!?)...

Nhưng bất luận các nhà tư tưởng tư sản, các thế lực thù địch và phần tử cơ hội có ra sức phủ nhận, xuyên tạc chủ nghĩa Mác - Lênin, biện bạch cho CNTB, thì bản chất bóc lột, bất công của chế độ TBCN ngay từ khi ra đời và đến nay vẫn không thay đổi. Trong bối cảnh hiện nay, mặc dù CNTB đã thực hiện điều chỉnh và thực tế không thể phủ nhận là có nhiều quốc gia TBCN đã “tươi đẹp” hơn, tiến bộ hơn, văn minh hơn, dân chủ hơn so với trước, song như đã phân tích, đó chính là những chỉ dấu về một chế độ xã hội tốt đẹp hơn đang dần hiện hữu trong lòng chế độ TBCN, và đó cũng là minh chứng cho quá trình lịch sử - tự nhiên tất yếu sẽ xảy ra đúng như chủ nghĩa Mác - Lênin đã dự báo. Mặt khác, “hiện thực tươi đẹp” đó của CNTB thực chất cũng là kết quả của quá trình đấu tranh bền bỉ bao năm qua của những người lao động trên con đường đòi tự do, dân chủ, công bằng mà các nhà tư bản buộc phải thỏa hiệp, thực hiện nếu không muốn bị sụp đổ, bị thay thế nhanh hơn. Hơn nữa, cũng không phải mọi quốc gia TBCN đều có sự “tươi đẹp” hơn như vậy, thay vào đó, người ta lại thấy ngày càng nhiều hơn, rõ hơn sự phân hóa giàu nghèo, bất bình đẳng, khủng hoảng, biểu tình, bạo động, chiến tranh, xung đột phe phái, tranh giành lợi ích giữa các tập đoàn, quốc gia tư bản trong hệ thống các nước TBCN...

Thực tế, xét trên phạm vi rộng của chế độ TBCN, bản chất bóc lột, bất công, bất bình đẳng không hề thay đổi, có chăng chỉ là có thay đổi diện mạo, hình thức với cách thức bóc lột khôn khéo hơn, tinh vi hơn, che đậy kỹ hơn mà thôi. Những con số thực tế được chính các tổ chức quốc tế ở các quốc gia TBCN công bố những năm qua chỉ rõ mức độ bóc lột trong nền kinh tế TBCN không hề giảm đi mà còn gia tăng đáng sợ.

Con số lợi nhuận 300%, mà thời Mác thấy rất lớn, thì từ năm 2010 đã bị nhiều tập đoàn tư bản bỏ xa. Nền kinh tế TBCN ngày nay vẫn đang tìm mọi cách để vắt kiệt sức lực của người lao động để thu về những khoản lợi nhuận kếch sù cho các nhà tư bản. Theo báo cáo của Tổ chức Oxfarm, 82% của cải được tạo ra trong năm 2017 thuộc về 1% những người giàu có nhất. Năm 2019, khoảng hơn 2.000 tỷ phú của thế giới sở hữu khối tài sản nhiều hơn 4,6 tỷ người. 1% người giàu nhất sở hữu lượng tài sản gấp hơn hai lần 6,9 tỷ người còn lại. Trên toàn thế giới, nền kinh tế phục vụ 1% dân số giàu nhất được xây dựng trên những tấm lưng còng và mồ hôi của những người công nhân bị trả lương thấp và bị khước từ ngay cả các quyền cơ bản của con người.

Chế độ TBCN vẫn đã, đang bảo vệ cho lợi ích của 1% các nhà tư bản và “miệt mài” tạo điều kiện, cơ hội cho các nhà tư bản bóc lột giá trị thặng dư, làm giàu, hưởng lợi trên mồ hôi, công sức của những người lao động. Lợi nhuận của các tập đoàn tư bản và lương của các chủ tư bản trong hơn một thế kỷ qua liên tục tăng không ngừng cùng với tốc độ phát triển mạnh mẽ của LLSX, của khoa học - công nghệ trong khi thu nhập thực tế của người lao động chỉ tăng không đáng kể. Khoảng cách thu nhập giữa các CEO tư bản và người lao động vẫn tiếp tục giãn rộng cùng với sự gia tăng không ngừng mức độ bóc lột giá trị thặng dư của các ông chủ tư bản. Nếu ở thời của Mác, sự chênh lệch đó chỉ khoảng 20 lần thì đến năm 2020, chênh lệch lương của lãnh đạo và nhân viên ở các tập đoàn lớn thuộc các doanh nghiệp S&P 500, như Nike, Coca Cola, Microsoft, Gap,... khoảng 300 lần; lương của CEO tập đoàn Amazon cao gấp 741 lần nhân viên; thu nhập của CEO tập đoàn công nghệ Aptiv cao gấp 5.000 lần một người lao động; lương của CEO công ty Google năm 2022 là 226 triệu USD, trong khi thu nhập bình quân của nhân viên chỉ là 279.802 USD/người. Tất nhiên, con số chênh lệch đó sẽ không dừng lại mà sẽ tiếp tục gia tăng không ngừng.

Lợi dụng quá trình hội nhập quốc tế, các tập đoàn tư bản còn gia tăng mở rộng đầu tư ra các nước chưa phát triển, kém phát triển để thực hiện bóc lột kép nhiều tầng nấc đối với người lao động trên phạm vi toàn cầu, không chỉ là bóc lột siêu giá trị thặng dư, mà còn bóc lột cả nhân công giá rẻ, khai thác kiệt quệ tài nguyên của các nước nghèo, trả về cho họ là sự ô nhiễm môi trường, là những bãi rác thải công nghiệp và nhiều vấn nạn xã hội tiêu cực... Đó là chưa kể, vì lợi nhuận, nhiều quốc gia TBCN sẵn sàng tạo cớ, tìm cách can thiệp thô bạo, kích động mâu thuẫn, xung đột, gây nên nhiều cuộc chiến giữa các quốc gia nhằm để bán được nhiều vũ khí, thu về những khoản lợi nhuận lớn cho các tập đoàn tư bản, phớt lờ những mất mát, đau thương của hàng triệu người dân vô tội,... Chứng kiến hiện thực đó, nhiều học giả ở chính các quốc gia TBCN đã phải thốt lên rằng chế độ tư bản không phải là của dân, do dân và vì dân như họ vẫn quảng bá, tuyên truyền, mà thực chất chỉ là của 1%, do 1% và vì 1% những chủ tư bản, những người giàu có. Xem ra, những nhận định của chủ nghĩa Mác - Lênin về bản chất bóc lột, bất công của chế độ TBCN ở thế kỷ trước, hay nhận định gần đây của học giả nổi tiếng người Anh, GS Terry Eagleton (Trường Đại học Tổng hợp Lancaste): “Những nước tư bản hiện đại là kết quả của một lịch sử nô dịch, diệt chủng, bạo lực và bóc lột một cách ghê tởm”(9), đến nay vẫn vẹn nguyên giá trị.

Cả lý luận và thực tiễn đều chứng minh tính đúng đắn, khách quan, khoa học trong những phân tích, dự báo của chủ nghĩa Mác - Lênin về bản chất bóc lột và xu thế tất yếu bị thay thế của chế độ TBCN chứ không hề áp đặt ý chí chủ quan thù địch hay có thái độ hằn học, ghen ghét, cố tình bôi xấu chế độ TBCN. Ngược lại, một số người đã sử dụng nhãn quan và lối suy luận chủ quan cảm tính, thù địch để đánh giá sai, xuyên tạc, phủ nhận tính khoa học của chủ nghĩa Mác - Lê-nin, phủ nhận chân giá trị đích thực của chủ nghĩa Mác - Lê-nin, phủ nhận những dự báo khoa học của chủ nghĩa Mác - Lênin về sự ra đời tất yếu và bản chất ưu việt, tốt đẹp, dân chủ, tiến bộ, văn minh của chế độ XHCN.

Cũng dễ hiểu vì sao họ phải tìm mọi cách để tiêu diệt, xóa bỏ chủ nghĩa Mác - Lênin đến vậy, bởi lẽ, chủ nghĩa Mác - Lê-nin không chỉ là hệ thống lý luận mang tính khoa học đã phân tích, vạch trần bản chất bóc lột, bất công của chế độ TBCN, mà hơn thế còn trang bị cho giai cấp công nhân và nhân dân lao động trên toàn thế giới phương pháp, cách thức để xóa bỏ chế độ người bóc lột người, xây dựng chế độ XHCN tốt đẹp, đòi lại tự do, công bằng, bình đẳng, dân chủ thực sự cho con người, đưa nhân loại từng bước tiến đến kỷ nguyên mới tiến bộ, văn minh, ấm no, hạnh phúc. Vì vậy, lẽ tất nhiên, họ không bao giờ dễ dàng từ bỏ công cuộc chống phá, xuyên tạc, bôi nhọ nhằm hạ bệ, xóa sổ chủ nghĩa Mác - Lênin.

Các quan điểm sai trái, thù địch, với nhiều giọng điệu, nhiều chiêu bài, cách thức khác nhau, ra sức công kích, xuyên tạc rằng: Chủ nghĩa Mác - Lênin không phải là hệ thống lý luận khoa học, cách mạng, càng không mang tính nhân văn, nhân đạo, và vì thế nó không đáng được coi trọng, càng không thể xứng với vai trò là nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam dẫn dắt nhân loại đến kỷ nguyên tươi đẹp ấm no, hạnh phúc; nếu cứ mù quáng tin theo, làm theo thứ lý luận lạc hậu, phản khoa học ấy thì chỉ chuốc lấy thất bại, sẽ kéo lùi tiến trình phát triển tiến bộ, văn minh của nhân loại, đẩy nhân loại đi vào ngõ cụt đói nghèo, tăm tối, không có tương lai (!?). Không khó để nhận ra mục đích chính của các thế lực thù địch, phản động, cơ hội cực đoan là muốn hạ bệ, xóa bỏ chủ nghĩa Mác - Lênin, gây hoang mang, dao động về tư tưởng trong nhân dân, quấy nhiễu, chống phá các đảng mác-xít và đích cuối cùng là ngăn cản, thủ tiêu chế độ XHCN, cổ xúy, bảo vệ đến cùng chế độ TBCN. Điều nguy hại là, trước sự tấn công, bôi nhọ, xuyên tạc mạnh mẽ của các thế lực thù địch, phản động, cơ hội cực đoan, đã có một số người hoang mang, dao động, hoài nghi tính đúng đắn của chủ nghĩa Mác - Lê-nin, nghe theo các luận điệu sai trái, thù địch.

Những người cộng sản chân chính và các dân tộc đi theo con đường XHCN, trong đó có Việt Nam cần tăng cường chủ động, tích cực, nâng cao cảnh giác và quyết tâm ngăn chặn hiệu quả mọi sự chống phá, bảo vệ chân giá trị của chủ nghĩa Mác - Lênin, cũng là bảo vệ công cuộc xây dựng chế độ XHCN trong hiện thực vì tương lai tốt đẹp, tiến bộ, văn minh của dân tộc mình và của cả nhân loại./.

ST.

“Lấy dân làm gốc” - nguyên tắc nhất quán của Đảng, Nhà nước Việt Nam

Xây dựng thành công chế độ xã hội chủ nghĩa dân chủ, tiến bộ, văn minh là mong muốn, khát vọng, mục tiêu của Đảng, Nhà nước và nhân dân Việt Nam. Để thực hiện được mục tiêu, khát vọng đó, Đảng, Nhà nước ta luôn xác định cần phải dựa vào dân, “lấy dân làm gốc”, bởi lẽ nhân dân chính là lực lượng to lớn, là chủ thể quan trọng quyết định mọi sự thành công hay thất bại của sự nghiệp xây dựng, bảo vệ, phát triển đất nước.

Buổi tiếp công dân định kỳ tháng 3/2024 tại Trụ sở Tiếp công dân tỉnh Kon Tum. (Nguồn: UBND tỉnh Kon Tum)

Buổi tiếp công dân định kỳ tháng 3/2024 tại Trụ sở Tiếp công dân tỉnh Kon Tum. (Nguồn: UBND tỉnh Kon Tum)

Trong suốt quá trình lãnh đạo công cuộc đổi mới, phát triển đất nước, "lấy dân làm gốc" đã trở thành quan điểm, nguyên tắc nhất quán trong nhận thức và hành động của Đảng, Nhà nước Việt Nam.

Đảng ta luôn nhận thức rất rõ vai trò quan trọng, to lớn của nhân dân, đồng thời quán triệt sâu sắc tư tưởng “lấy dân làm gốc” trong toàn hệ thống chính trị, ở mọi cấp, ngành, địa phương, đơn vị để tổ chức triển khai thực hiện trong thực tế.

Tại Đại hội VI, Đảng ta đã xác định rõ: “phải quán triệt tư tưởng “lấy dân làm gốc”, xây dựng và phát huy quyền làm chủ của nhân dân lao động”; “Mọi chủ trương, chính sách của Đảng phải xuất phát từ lợi ích, nguyện vọng và khả năng của nhân dân lao động, phải khơi dậy được sự đồng tình, hưởng ứng của quần chúng”.

Các Đại hội tiếp theo, quan điểm của Đảng vẫn luôn nhất quán khẳng định vai trò quan trọng của nhân dân, rằng, nhân dân là lực lượng quyết định mọi thắng lợi của tiến trình xây dựng, phát triển đất nước, do đó, cần phải dựa vào dân, tin tưởng và phát huy vai trò, sức mạnh của nhân dân.

Đại hội XIII của Đảng tiếp tục nhấn mạnh: “Nhân dân là trung tâm, là chủ thể của công cuộc đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc”; do đó, “mọi chủ trương, chính sách phải thực sự xuất phát từ yêu cầu, nguyện vọng, quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của nhân dân”, “lấy hạnh phúc, ấm no của nhân dân làm mục tiêu phấn đấu”; phải luôn “thắt chặt mối quan hệ mật thiết với nhân dân, dựa vào nhân dân”; phải để “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng”, đồng thời nhân dân phải được “quyết định những vấn đề lớn và hệ trọng của đất nước”. Trong mọi quyết sách và mọi công việc của Đảng và Nhà nước, phải luôn “lấy nhân dân làm trung tâm”, phải “trọng dân, gần dân, hiểu dân, vì dân”, “tôn trọng, bảo đảm, bảo vệ quyền làm chủ của nhân dân; đề cao vai trò chủ thể, vị trí trung tâm của nhân dân trong chiến lược phát triển đất nước, trong toàn bộ quá trình xây dựng và bảo vệ Tổ quốc”,…

Cùng với các Văn kiện, Nghị quyết, Chỉ thị của Đảng, Nhà nước cũng ban hành hàng loạt văn bản, pháp luật khẳng định vai trò quan trọng của nhân dân, đồng thời chỉ đạo các cấp, ngành, địa phương phải thực sự coi trọng nhân dân, luôn lắng nghe ý kiến của nhân dân, thấu hiểu tâm tư, nguyện vọng của nhân dân, phát huy vai trò của nhân dân, bảo đảm, bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng của nhân dân.

Song song đó, việc xây dựng, ban hành các văn kiện, nghị quyết của Đảng, Hiến pháp, pháp luật… của Nhà nước đều thực hiện lấy ý kiến góp ý của đông đảo tầng lớp nhân dân bằng nhiều hình thức để lắng nghe tâm tư, nguyện vọng của nhân dân, tiếp nhận ý kiến đóng góp của nhân dân, từ đó sửa chữa, bổ sung hoàn thiện hệ thống văn kiện, chính sách, pháp luật cho phù hợp, bảo đảm quyền và lợi ích của các tầng lớp nhân dân.

Tại các tổ chức, cơ quan Nhà nước đều có bộ phận tiếp công dân, có hòm thư, sổ ghi qua đó tiếp nhận ý kiến đóng góp, phản ánh, tố giác,… của nhân dân.

Đặc biệt, chúng ta có Ban Dân nguyện của Quốc hội phụ trách tiếp nhận, xử lý đơn thư phản ánh, kiến nghị, khiếu nại, tố cáo của công dân từ các bộ phận tiếp dân ở cơ sở, ban ngành… trên cơ sở đó xem xét, kiến nghị các cơ quan nhà nước có thẩm quyền giải quyết kịp thời nhằm bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp, chính đáng của nhân dân.

Theo Báo cáo của Ban Dân nguyện, tính đến ngày 5/10/2023 đã có 2.474/2.765 kiến nghị đã được giải quyết, trả lời cử tri, đạt 89,5%, trong đó có nhiều vấn đề liên quan đến đời sống và các quyền lợi thiết thực của người dân.

Quá trình tổ chức triển khai thực hiện các chủ trương, chính sách phát triển kinh tế-xã hội đất nước, Đảng và Nhà nước cũng tích cực chỉ đạo các tổ chức, lực lượng, cơ quan, ban, ngành, địa phương phải luôn quán triệt tốt quan điểm “lấy dân làm gốc”, luôn đặt nhân dân ở vị trí trung tâm, lấy quyền và lợi ích của đông đảo tầng lớp nhân dân làm căn cứ để thực hiện các chính sách theo hướng bảo đảm, bảo vệ tốt nhất quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của nhân dân, bảo đảm toàn bộ tiến trình xây dựng, phát triển đất nước đều là của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân, không để ai bị bỏ lại phía sau, hay bị gạt ra khỏi quỹ đạo phát triển của đất nước.

Mọi chính sách phát triển kinh tế-xã hội của Nhà nước đều được xây dựng, tổ chức thực hiện trên cơ sở nhu cầu, nguyện vọng, lợi ích của nhân dân, bảo đảm cân đối, hài hòa lợi ích giữa các giai tầng trong xã hội, giữa các chủ thể, thành phần kinh tế, đồng thời có sự hỗ trợ, tạo điều kiện hơn cho những chủ thể kinh tế ở những địa bàn khó khăn, nông thôn, miền núi, vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo.

Đảng và Nhà nước cũng thường xuyên chỉ đạo tổ chức tổng kết, đánh giá, tiếp nhận ý kiến phản ánh của nhân dân để kịp thời có những thay đổi, điều chỉnh các chính sách phát triển kinh tế-xã hội cho phù hợp với tâm tư, nguyện vọng của nhân dân, bảo đảm đáp ứng tốt hơn quyền và lợi ích của đông đảo tầng lớp nhân dân; đồng thời thực hiện nhiều biện pháp, cách thức để tạo điều kiện cho các tầng lớp nhân dân được tham gia vào các công việc của các cơ quan Nhà nước theo đúng nguyên tắc phải để dân được “biết”, được “bàn”, được “làm”, được “kiểm tra”, được “giám sát” việc ban hành và tổ chức thực hiện các chủ trương, chính sách phát triển kinh tế-xã hội của đất nước, nhất là tham gia vào những công việc lớn, hệ trọng liên quan đến vận mệnh quốc gia, an ninh lãnh thổ, đường lối phát triển kinh tế-xã hội của đất nước, đồng thời được “thụ hưởng” những thành quả của tiến trình phát triển đất nước.

Như vậy, “lấy dân làm gốc” không chỉ là quan điểm nhất quán trong nhận thức và hành động của Đảng, Nhà nước và cả hệ thống chính trị mà hơn thế còn là phương thức, cách thức hữu hiệu để thực hiện tốt dân chủ, bảo đảm, bảo vệ quyền và lợi ích của nhân dân trong thực tế.

Tuy nhiên, với thái độ thù địch và mưu đồ chính trị đen tối, các thế lực phản động thường xuyên công kích, bôi nhọ, xuyên tạc Đảng và Nhà nước Việt Nam tuyên bố “lấy dân làm gốc” chỉ là khẩu hiệu được ghi trong văn kiện của Đảng để làm màu, tô vẽ ca ngợi Đảng, chứ không hề được thực hiện trong thực tế.

Các đối tượng chống phá bịa đặt rằng mọi chủ trương, chính sách của Việt Nam đều xuất phát từ ý Đảng, ý chí của quan chức và phục vụ cho lợi ích của nhóm các lãnh đạo có chức quyền chứ thực sự không hề vì dân, quan tâm đến dân, chăm lo cho dân.

Thậm chí, người dân còn bị bỏ rơi, bị gạt ra khỏi tiến trình phát triển, cho nên dù đất nước đã có nhiều khởi sắc nhưng đại bộ phận nhân dân phải chịu cuộc sống rất khó khăn, thiếu thốn, nhiều quyền công dân, quyền con người bị vi phạm…

Không khó để nhận thấy mưu đồ chính trị đen tối đằng sau những lời xuyên tạc, bịa đặt trắng trợn đó của các thế lực thù địch, phản động là nhằm công kích, bôi xấu Đảng, Nhà nước, phủ nhận những nỗ lực và thành tựu tốt đẹp của Đảng và Nhà nước Việt Nam bao năm qua trong việc thực hiện dân chủ, luôn trọng dân, gần dân, luôn coi nhân dân là trung tâm của mọi chủ trương, chính sách, coi việc bảo đảm, bảo vệ quyền và lợi ích của nhân dân, đem lại hạnh phúc cho đông đảo tầng lớp nhân dân là khát vọng, mục tiêu, động lực của toàn bộ tiến trình xây dựng, phát triển đất nước.

Thực tế cho thấy, chính nhờ luôn kiên định và thực hiện tốt nguyên tắc “lấy dân làm gốc” cho nên Đảng và Nhà nước ta đã lãnh đạo, chỉ đạo công cuộc xây dựng, phát triển đất nước Việt Nam những năm qua đạt những thành tựu rất đáng tự hào không chỉ về tốc độ tăng trưởng kinh tế, bảo đảm ổn định chính trị-xã hội, giữ vững an ninh chủ quyền lãnh thổ, nâng cao vị thế, tầm vóc, uy tín đất nước,… mà quan trọng hơn là những thành tựu về thực hiện dân chủ, đem đến cho người dân Việt Nam cuộc sống ngày càng ấm no, hạnh phúc, tiến bộ, văn minh.

Chỉ tính riêng những thành tựu mà Việt Nam đạt được năm 2023 vừa qua như: Áp dụng mọi biện pháp để thúc đẩy tăng trưởng kinh tế đem lại thu nhập bình quân cho người dân đạt 4.284 USD (tăng gấp hơn 40 lần so với năm 1990); nỗ lực thực hiện các chính sách xóa đói giảm nghèo để hạ tỷ lệ hộ nghèo chỉ còn dưới 3%; cân đối các nguồn lực để bảo đảm trợ cấp hằng tháng cho 100% đối tượng bảo trợ xã hội; hỗ trợ cho 100% người dân bị thiệt hại do thiên tai, thiếu đói, trợ giúp, chăm sóc trên 90% người khuyết tật, người cao tuổi...; hay việc Đảng và Nhà nước tìm mọi cách huy động mọi lực lượng, nguồn lực thậm chí chấp nhận thiệt hại về kinh tế tạm thời để hỗ trợ người dân, bảo vệ sức khỏe người dân, đồng hành cùng nhân dân vượt qua những năm đại dịch COVID-19, những đợt thiên tai, bão lũ, không để ai bị đói, khát, thiếu chỗ ở,… tất cả đều là những minh chứng sống động về sự trọng dân, vì dân, coi dân là gốc, luôn lấy dân làm gốc của Đảng và Nhà nước Việt Nam, đồng thời giúp phản bác mọi luận điệu xuyên tạc, công kích của các thế lực thù địch, khẳng định bản chất dân chủ ưu việt tốt đẹp của chế độ xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân của Việt Nam./.

ST.

Karl Marx đấu tranh chống chủ nghĩa cơ hội và những vấn đề đặt ra hiện nay

Đã gần 180 năm kể từ khi còn là “bóng ma ám ảnh châu Âu” và trong suốt quá trình phát triển của mình, Chủ nghĩa Mác luôn vấp phải sự chống phá quyết liệt của những quan điểm phi mác-xít nói chung, của chủ nghĩa cơ hội trong phong trào cộng sản và công nhân quốc tế nói riêng.

Khách tham quan ngôi nhà nơi Karl Marx sinh ra tại Trier, Đức. Nguồn: THX/TTXVN

Khách tham quan ngôi nhà nơi Karl Marx sinh ra tại Trier, Đức. Nguồn: THX/TTXVN

Do vậy, Karl Marx và những người đồng chí của mình đã phải tiến hành cuộc đấu tranh quyết liệt chống lại các chủ nghĩa cơ hội dưới mọi màu sắc. Cuộc đấu tranh đó có ý nghĩa lý luận và thực tiễn to lớn, đồng thời đã để lại những bài học kinh nghiệm quý báu cho Đảng ta trong cuộc đấu tranh chống lại những biểu hiện cơ hội chủ nghĩa hiện nay.

Cuộc "đấu tranh sống mái"

Chủ nghĩa cơ hội ra đời đã gây ra những tác hại rất lớn đối với sự nghiệp cách mạng của giai cấp công nhân. Chính những tác động tiêu cực của chủ nghĩa cơ hội nên Karl Marx và những người đồng chí của mình đã phải tiến hành cuộc “đấu tranh sống mái” chống lại chủ nghĩa cơ hội dưới nhiều màu sắc khác nhau như: Chủ nghĩa Proudhon, Lassalle, Bakunin... để phong trào công nhân quốc tế mau chóng hồi phục và phát triển.

Thứ nhất, đấu tranh chống Chủ nghĩa Proudhon. Chủ nghĩa Proudhon là chủ nghĩa cải lương và trào lưu vô chính phủ lưu hành trong phong trào công nhân Pháp từ những năm 40 đến những năm 90 của thế kỷ 19, đại biểu là P.J.Proudhon. Đứng trên lập trường của tầng lớp tiểu tư sản, Proudhon kịch liệt phản đối các cuộc đấu tranh của giai cấp công nhân chống lại chế độ tư bản. Ông đã ảo tưởng cải tạo xã hội một cách hòa bình và đưa ra tư tưởng cải cách dần dần từ bên trên. Với những quan điểm của mình, Chủ nghĩa Proudhon đã gây trở ngại nghiêm trọng cho sự truyền bá chủ nghĩa xã hội khoa học trong phong trào cộng sản, công nhân quốc tế lúc bấy giờ. Trước tình hình đó, Karl Marx đã viết nhiều tác phẩm: "Bản thảo kinh tế-triết học" (1844), "Hệ tư tưởng Đức" (1846), "Sự khốn cùng của triết học" (1847), "Bàn về Proudhon" (1865)... phê phán nghiêm khắc lý luận vô sách lược của Chủ nghĩa Proudhon. Karl Marx trình bày những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa xã hội khoa học, phê phán lý luận “cách mạng xã hội” của Chủ nghĩa Proudhon. Karl Marx đã chỉ ra sự ảo tưởng trong việc cải tạo xã hội một cách hòa bình và chứa đầy mâu thuẫn về mặt lý luận của Proudhon. Trong khi phê phán Proudhon, Karl Marx đã lập luận học thuyết đấu tranh giải phóng giai cấp vô sản, đó là sự thống nhất giữa đấu tranh kinh tế và đấu tranh chính trị nhằm cải thiện đời sống sinh hoạt vật chất tiến tới giải phóng bản thân, lật đổ nền thống trị của giai cấp tư sản. Cuộc đấu tranh của những người sáng lập Chủ nghĩa Mác chống chủ nghĩa vô chính phủ của Proudhon kéo dài suốt mấy chục năm, tới khi Công xã Paris thất bại mới triệt để xóa bỏ được nó. Và từ đây, chủ nghĩa cơ hội Proudhon đã không còn ảnh hưởng gì trong phong trào cộng sản và công nhân quốc tế.

Thứ hai, đấu tranh chống Chủ nghĩa Lassalle. Chủ nghĩa Lassalle hình thành ở nước Đức vào những năm 60 của thế kỷ 19, là trào lưu cơ hội chủ nghĩa mà đứng đầu là F.Lassalle (1825-1864). Đây là một trào lưu cơ hội chủ nghĩa có ảnh hưởng xấu đến sự phát triển của phong trào công nhân Đức và phong trào công nhân quốc tế. Bên cạnh việc tuyên truyền cái gọi là “quy luật sắt về tiền công”, Lassalle cổ vũ cho quan điểm duy tâm chủ nghĩa về nhà nước, kêu gọi thực hiện chủ nghĩa xã hội thông qua quyền phổ thông đầu phiếu, biến nhà nước chuyên chế Phổ thành “nhà nước tự do”, sau đó, nhà nước ấy sẽ đem tiền của dùng vào chiến tranh để xây dựng các hợp tác xã, làm cho công nhân thoát khỏi nghèo khổ. Tư tưởng của F.Lassalle thực tế là thỏa hiệp và theo đuôi giai cấp tư sản. Karl Marx đã viết tác phẩm "Phê phán Cương lĩnh Gotha"(1875), phê phán những sai lầm thỏa hiệp, hữu khuynh vô nguyên tắc của những người lãnh đạo Đảng Dân chủ xã hội Đức, vạch trần bản chất cơ hội, cải lương của phái Lassalle. Karl Marx đã vạch trần tính chất sai lầm và phản động của F.Lassalle trên nhiều vấn đề; trong đó, ông phê phán luận điểm nhảm nhí về “nhà nước tự do” dựa theo quan điểm siêu giai cấp của Lassalle. Cũng thông qua cuộc đấu tranh này, Karl Marx đã phát triển lý luận về hình thái kinh tế-xã hội cộng sản chủ nghĩa, làm nổi bật tính tất yếu, vai trò lịch sử của chuyên chính vô sản và phát triển thêm một bước học thuyết về nhà nước.

Thứ ba, đấu tranh chống chủ nghĩa vô chính phủ Bakunin. Chủ nghĩa Bakunin là một trào lưu tư tưởng chính trị tiểu tư sản và chủ nghĩa vô chính phủ có ảnh hưởng rộng rãi nhất trong phong trào cộng sản và công nhân quốc tế vào những năm 70 của thế kỷ 19. Bakunin đòi xóa bỏ mọi hình thức chính quyền, kể cả chuyên chính vô sản bằng các cuộc bạo động có tính chất âm mưu; khước từ mọi hoạt động chính trị của giai cấp công nhân... Cuộc đấu tranh của Karl Marx chống lại tư tưởng cơ hội tiểu tư sản và vô chính phủ của Bakunin được đưa lên hàng đầu trong Quốc tế I. Karl Marx đã chỉ ra tư tưởng của Bakunin là “sai lầm về mặt lý luận và phản động về mặt thực tiễn”, dẫn giai cấp công nhân đi theo chủ nghĩa cải lương. Ông chỉ ra rằng không thể thủ tiêu chủ nghĩa tư bản bằng việc xóa bỏ quyền thừa kế mà phải sử dụng chuyên chính vô sản. Thông qua sự đấu tranh quyết liệt của mình, Karl Marx đã đánh bại Chủ nghĩa Bakunin và năm 1872 khai trừ Bakunin ra khỏi Quốc tế I, đồng thời đưa Chủ nghĩa Mác phát triển lên một tầm cao mới trong lý luận về nhà nước chuyên chính vô sản.

Có thể nói, Karl Marx đã tiến hành cuộc đấu tranh triệt để chống lại chủ nghĩa cơ hội trong những năm 1844-1873 và đã bác bỏ gần như toàn bộ học thuyết cơ hội trong giai đoạn đầu của phong trào cộng sản và công nhân quốc tế. Cuộc đấu tranh này có ý nghĩa lý luận và thực tiễn sâu sắc, góp phần đưa phong trào công nhân quốc tế phát triển đúng hướng. Đồng thời còn tạo ra một bước phát triển vượt bậc của hệ tư tưởng vô sản, ngày càng khẳng định tính đúng đắn, khoa học của học thuyết này, tạo cơ sở vững chắc cho những thắng lợi của các cuộc cách mạng vô sản sau này.

Những vấn đề đặt ra đối với đấu tranh chống tư tưởng, biểu hiện cơ hội chủ nghĩa ở Việt Nam hiện nay

Trong Đảng ta hiện nay chưa có chủ nghĩa cơ hội như thời của Karl Marx, tức là chưa có những trào lưu tư tưởng, học thuyết hay một tổ chức công khai đối lập với Đảng, tuy nhiên, những tư tưởng, biểu hiện cơ hội chủ nghĩa xuất hiện dưới những mức độ, tính chất khác nhau. Biểu hiện cơ hội chủ nghĩa ở trong Đảng ta thể hiện dưới những dạng cơ hội chính trị và cơ hội thực dụng mà Hội nghị lần thứ tư Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa XII) chỉ ra đó là 27 biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, các biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ. Những t­ư t­ưởng, biểu hiện cơ hội chủ nghĩa đã và đang làm giảm sút năng lực lãnh đạo, năng lực cầm quyền, sức chiến đấu của các tổ chức đảng, đe dọa tới sự tồn vong của chế độ. Do vậy, kế thừa những bài học, kinh nghiệm từ cuộc đấu tranh của Karl Marx chống chủ nghĩa cơ hội, để có thể ngăn chặn, đẩy lùi những biểu hiện cơ hội chủ nghĩa ở nước ta hiện nay, cần phải tập trung giải quyết những vấn đề sau:

Một là, cần giáo dục, nâng cao nhận thức, trách nhiệm cho đội ngũ cán bộ, đảng viên và quần chúng nhân dân trong đấu tranh chống những tư tưởng, biểu hiện cơ hội chủ nghĩa. Cho dù các phần tử cơ hội chủ nghĩa dưới nhiều màu sắc, song chúng đều có một trong 27 biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”. Do đó, cần tuyên truyền, giáo dục để đội ngũ cán bộ, đảng viên và nhân dân phát hiện ra những phần tử cơ hội chủ nghĩa trong Đảng, thấy rõ tác hại của chúng, trên cơ sở đó, nâng cao trách nhiệm trong đấu tranh phòng, chống những phần tử cơ hội chủ nghĩa, góp phần xây dựng Đảng và hệ thống chính trị trong sạch vững mạnh.

Hai là, phải có thái độ đấu tranh dứt khoát, kiên quyết, triệt để, không khoan nhượng với những tư tưởng, biểu hiện cơ hội chủ nghĩa. Các phần tử cơ hội chủ nghĩa như những “ung nhọt”, “vi trùng rất độc”, “khối u ác tính”; là một tai họa hiển nhiên, do vậy, toàn Đảng cần đấu tranh chống lại chúng ở mọi nơi, mọi lúc; trên tất cả lĩnh vực; không cho chúng cơ hội trở thành một chủ nghĩa, một trào lưu tư tưởng có ảnh hưởng lớn tới sự nghiệp cách mạng. Cần phải có thái độ rõ ràng, đấu tranh một cách kịp thời, triệt để, dứt khoát, không cho chúng có “mảnh đất” để tồn tại. Kiên quyết xử lý, loại bỏ chúng dù ở bất cứ vị trí nào, cần “tẩy rửa chất mủ ấy đi càng nhanh và càng kỹ chừng nào càng tốt chừng nấy, dù cho việc mổ xẻ ấy có làm cho ta phải tạm thời chịu đau đớn kịch liệt đi nữa”.

Ba là, xác định nội dung, phư­ơng pháp, hình thức phù hợp để đấu tranh hiệu quả với các biểu hiện cơ hội chủ nghĩa. Cuộc đấu tranh chống các phần tử cơ hội chủ nghĩa phải đư­ợc tiến hành trên mọi mặt trận, ở mọi nơi, từ đấu tranh lý luận đến đấu tranh thực tiễn. Nâng cao chất lượng công tác tư tưởng lý luận, đẩy mạnh tổng kết thực tiễn, nghiên cứu lý luận. “Tăng cường bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, kiên quyết và thường xuyên đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch, cơ hội chính trị; đấu tranh, ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ”. Kết hợp chặt chẽ giữa nâng cao chất lượng giáo dục, rèn luyện đội ngũ đảng viên với thực hiện nghiêm túc các khâu, các bước trong công tác cán bộ, thực hiện tốt công tác bảo vệ chính trị nội bộ. Kết hợp chặt chẽ giữa tự phê bình và phê bình trong nội bộ với công tác kiểm tra, giám sát của cấp ủy, ủy ban kiểm tra các cấp, sự giám sát của các phương tiện thông tin đại chúng, của quần chúng nhân dân và công tác thanh tra, điều tra, xét xử của các cơ quan chức năng. Qua đó kịp thời phát hiện, ngăn chặn, loại bỏ những phần tử cơ hội chủ nghĩa “luồn sâu, leo cao” vào trong bộ máy của Đảng.

Nói tóm lại, cuộc đấu tranh chống chủ nghĩa cơ hội của Karl Marx đã để lại những ý nghĩa cả về lý luận và thực tiễn hết sức sâu sắc, trong đó chỉ dẫn cho cuộc đấu tranh phòng, chống những tư tưởng, biểu hiện cơ hội chủ nghĩa trong Đảng ta hiện nay. Để đấu tranh chống các phần tử cơ hội chủ nghĩa đòi hỏi cần phải xây dựng Đảng trong sạch vững mạnh cả về chính trị, tư tưởng, đạo đức, tổ chức và cán bộ, không ngừng nâng cao năng lực lãnh đạo, năng lực cầm quyền và sức chiến đấu của Đảng. Có như vậy, Đảng mới tăng cường “sức đề kháng” và đủ sức loại bỏ được những phần tử cơ hội chủ nghĩa ra khỏi bộ máy./.

ST.