Thứ Bảy, 11 tháng 5, 2024

Ngăn ngừa suy thoái từ lối sống sính ngoại, bài nội

Sự việc một trường quốc tế ở phía Nam cho học sinh đọc tài liệu tham khảo bằng truyện khiêu dâm đã gây xôn xao dư luận những ngày qua. Hồi chuông báo động về tình trạng lệch chuẩn trong giáo dục có yếu tố quốc tế lại tiếp tục được gióng lên. Trên thực tế, tư duy và lối sống kiểu sính ngoại, bài nội đã gây ra nhiều hệ lụy, nhưng không phải ai cũng nhận ra...

Xin kể chuyện này...

17 năm trước, khi vừa chuyển công tác từ Cần Thơ về TP Hồ Chí Minh, tôi được một người anh trong nghề mời đến nhà chơi. Lúc bấy giờ, gia đình anh là một mẫu hình lý tưởng đối với chúng tôi. Anh chị có địa vị xã hội, kinh tế vững, hai con đều học trường quốc tế. Trong bữa cơm gia đình, anh chị khuyên chúng tôi nên cho con đi học trường quốc tế để các cháu có tương lai tươi sáng. “Ở đó họ dạy toàn bằng tiếng Anh, chương trình đào tạo theo chuẩn quốc tế.

Học sinh bước vào cổng trường là không được nói tiếng Việt. Em nào vi phạm sẽ bị thầy cô giáo nhắc nhở, kiểm điểm ngay. Nhờ đó mà kỹ năng tiếng Anh của các cháu phát triển rất nhanh. Về nhà, anh chị cũng khuyến khích các cháu giao tiếp bằng tiếng Anh. Mình học theo con nên kỹ năng sử dụng tiếng Anh của anh vào loại tốt nhất ở cơ quan đấy”-anh nói, đầy tự hào và hãnh diện!

Hai con của anh chị khi lớn lên lại tiếp tục được đầu tư cho đi du học, rồi ở lại nước ngoài làm việc, định cư, lấy vợ Tây, chồng Tây. Đến nay, anh chị đã có 4 cháu, cả nội lẫn ngoại. Mới đây, anh bị bệnh phải điều trị dài ngày ở bệnh viện. Chúng tôi vào thăm, anh chị buồn bã dốc bầu tâm sự rằng, đến bây giờ anh chị mới thấm thía và trả giá đắt cho lối suy nghĩ sính ngoại, bài nội của mình. Tuổi cao, sức yếu, bệnh tật, anh chị phải tự lo cho nhau.

Thuê người giúp việc thì cũng chỉ đỡ được phần nào. Con cháu định cư ở nước ngoài, vài ba năm mới lần lượt về quê thăm cha mẹ, ông bà được một lần. Mỗi lần về, chúng đều ở khách sạn. Tiếp cận với môi trường giáo dục bằng tiếng Anh từ nhỏ, nếp nghĩ và lối sống của các con, các cháu của anh chị đã “quốc tế hóa” hoàn toàn. Chúng xa lạ với phong tục, nền nếp gia phong, thậm chí 4 đứa cháu dù đã lớn nhưng không đứa nào nói được tiếng Việt.

Ông bà ngồi bên cháu mà như hai thế giới xa lạ, từ hình dáng bề ngoài đến bất đồng ngôn ngữ, khác biệt văn hóa. Tình cảm máu mủ ruột rà, vì thế, thật khó để gắn kết thân mật. Cái sự “mất gốc” của văn hóa do sính ngoại, bài nội đến từ rất sớm và hệ lụy của nó cứ âm ỉ, kiểu “mưa dầm thấm lâu”. Đến lúc nhận ra thì đã quá muộn, không còn cơ hội cứu vãn được nữa. “Tiền nhiều để làm gì? Con cái thành đạt để làm gì? Bây giờ tôi chỉ ước ao có được những khoảnh khắc bình yên, ấm áp bên con cháu, sum vầy không khí gia đình. Nhưng ước ao ấy giờ là xa xỉ rồi. Chú cứ lấy câu chuyện của nhà tôi ra mà viết, để giúp những người còn có tư tưởng sính ngoại, bài nội sớm tỉnh ngộ. Chú đừng bêu tên anh chị lên mặt báo là được!”. Lời tâm sự đẫm nước mắt của người ở tuổi ngấp nghé “cổ lai hy” khiến chúng tôi bùi ngùi...

Giáo dục “khai phóng” và bài học từ gia đình, nhà trường đến xã hội

Chuyện sính ngoại dẫn đến “mất gốc” nền nếp gia phong, truyền thống tiên tổ xảy ra không hiếm trong thời đại ngày nay. Nhưng vì nó thuộc yếu tố cảm tính nên một bộ phận không nhỏ trong đời sống xã hội cứ coi đó là chuyện của mỗi nhà. Sự chia sẻ, nếu có, cũng chỉ mang tính riêng tư. Tuy nhiên, trong mối quan hệ gia đình-nhà trường-xã hội, bất cứ một biểu hiện lệch chuẩn nào cũng đều có tác động qua lại lẫn nhau.

Tại Hội nghị văn hóa toàn quốc năm 2021, Đảng ta đã nhấn mạnh, cảnh báo về tình trạng một bộ phận cán bộ, đảng viên, người làm công tác văn hóa chưa coi trọng đúng mức và có biện pháp tích cực để giữ gìn, bảo vệ, phát huy những giá trị văn hóa tốt đẹp, đặc sắc của dân tộc. Nhiều khi bắt chước nước ngoài một cách nhố nhăng, phản cảm, không có chọn lọc... Đó cũng chính là những biểu hiện của lối sống sính ngoại, bài nội. Nó xuất phát từ chiếc nôi gia đình, ảnh hưởng từ môi trường giáo dục (đặc biệt là giáo dục ngoài công lập, hợp tác giáo dục có yếu tố nước ngoài).

Với việc hô hào những thứ được xưng tụng, khoa trương như là những “triết lý giáo dục”, kiểu: “Khai phóng”, “tự do”, “không giới hạn”... không ít đơn vị giáo dục quốc tế đã tuyệt đối hóa yếu tố quốc tế, coi nhẹ, sao nhãng, thậm chí là bỏ qua các tiêu chí, nội dung giáo dục quốc nội. Đơn cử như lễ khai giảng, tổng kết, bế giảng... nhiều trường không tổ chức cho giáo viên, học sinh hát Quốc ca; trang trí khánh tiết không có Quốc kỳ, tượng Bác Hồ; thay vào đó là những hình ảnh, biểu trưng của cái gọi là “khai phóng”, “tự do”, “không giới hạn”... theo văn hóa phương Tây.

Khi con em của chúng ta được giáo dục ngay trên chính quê hương mình mà lại khước từ tinh túy, tinh hoa của văn hóa truyền thống, thì hệ lụy đối với tương lai là rất khó lường. Nó không chỉ khiến cha mẹ “mất” con, gia đình mất nền nếp gia phong, mà vốn quý của đất nước, bản sắc văn hóa của dân tộc... cũng bị phai nhạt. Như vậy, sính ngoại, bài nội cũng là một dạng biểu hiện suy thoái phẩm chất đạo đức, lối sống. Nếu chúng ta không tỉnh ngộ, cứ để nó “mưa dầm thấm lâu” thì nguy cơ “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” là một bước ngắn, thậm chí rất ngắn, nguy hại cho Đảng, cho đất nước.

Thời gian gần đây, trên một số nền tảng mạng xã hội lan truyền video clip của một người trẻ tự xưng là du học sinh Việt Nam tại Mỹ. Trong video clip này, cô gái tự nhận mình là người đã được “mở mang” đầu óc, tầm nhìn khi ra nước ngoài du học, nghiên cứu. Bên cạnh ca ngợi hết lời cái hay, cái đẹp nơi xứ người, cô quay sang chỉ trích người Việt, chê bai văn hóa Việt, xuyên tạc chính sách hòa hợp dân tộc của Đảng, Nhà nước; phủ nhận công lao của thế hệ ông cha trong đấu tranh giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước...

Những gì cô gái nói đều là những luận điệu xuyên tạc cũ rích của các thế lực thù địch ở hải ngoại. Tuy nhiên, khi được thốt ra từ miệng của một người trẻ đi du học, tính chất của nó đã khác đi nhiều. Nhận thức chính trị mơ hồ, yếu bản lĩnh, dễ dao động, ngả nghiêng... là những biểu hiện của suy thoái trong một bộ phận người trẻ. Nó xuất phát từ kiểu sính ngoại, bài nội trong công tác giáo dục và tự giáo dục, từ gia đình đến nhà trường và xã hội...

Ngăn ngừa bằng cách nào?

Ở đâu, môi trường nào dễ xuất hiện mầm mống suy thoái thì phải có các hình thức, giải pháp phòng ngừa, ngăn chặn ngay ở nơi đó. Trước hết, cần phải khẳng định, việc đẩy mạnh hợp tác giáo dục, trong đó có mô hình các trường quốc tế, là một tất yếu trong xu thế hội nhập. Giáo dục quốc tế không có lỗi. Lỗi là ở những hạn chế, bất cập trong phương thức quản lý, điều hành.

Câu chuyện ở một trường quốc tế cấp cho học sinh tài liệu tham khảo là truyện khiêu dâm khiến dư luận xôn xao, phụ huynh bất bình vừa qua là một ví dụ. Nó thể hiện những “khoảng trắng”, “khoảng trống” trong công tác quản lý, giám sát của cơ quan có thẩm quyền và tư duy giáo dục của hội đồng quản trị, ban giám hiệu, đội ngũ giáo viên của đơn vị giáo dục đó. Nếu chúng ta tiếp tục coi nhẹ, buông lỏng trong quản lý, giám sát, chấn chỉnh... thì cái “sảy” sẽ nảy cái “ung”. Mầm mống suy thoái trong môi trường giáo dục sẽ nảy nở, phát sinh từ những “việc nhỏ”, tích tụ dần thành hệ lụy khó lường.

Văn kiện Đại hội XIII của Đảng đã xác định rõ chiến lược phát triển giáo dục, đào tạo là: Chú trọng giáo dục phẩm chất, năng lực sáng tạo và các giá trị cốt lõi, nhất là giáo dục tinh thần yêu nước, tự hào, tự tôn dân tộc, khơi dậy khát vọng phát triển, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc... Như vậy, cho dù là giáo dục công lập hay ngoài công lập, các nhà quản lý và các đơn vị giáo dục đều phải có trách nhiệm, bổn phận thấm nhuần phương châm, định hướng giáo dục.

Đặc biệt, cái gốc của vấn đề vẫn là từ gia đình. Tại Hội nghị văn hóa toàn quốc năm 2021, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng trong bài phát biểu chỉ đạo hội nghị đã nhấn mạnh yêu cầu cán bộ, đảng viên phải giữ lấy “nếp nhà”, giữ lấy “chân quê”! Đó là cách tu từ để nói về tầm quan trọng của việc giữ gìn nền nếp gia phong, truyền thống, bản sắc văn hóa dân tộc trong giáo dục, bồi dưỡng thế hệ cách mạng cho đời sau. Khi một bộ phận phụ huynh, nhất là những gia đình có điều kiện về kinh tế vẫn cứ sính ngoại, bài nội trong định hướng, giáo dục con cái, thì những câu chuyện buồn như trên vẫn còn phổ biến. Mầm mống suy thoái cũng từ đó mà ra...

Sưu tầm

Vận dụng tư tưởng của V.I.Lênin trong đấu tranh phản bác quan điểm sai trái, thù địch

Bằng những luận cứ khoa học sắc bén và tinh thần không khoan nhượng, V.I.Lênin đã đấu tranh chống lại các loại cơ hội, thù địch để bảo vệ bản chất khoa học, cách mạng của chủ nghĩa Mác, đưa phong trào cộng sản và công nhân phát triển trong thực tiễn. Lênin đã để lại cho giai cấp công nhân và những người cộng sản thế giới hệ thống tư tưởng và phong cách, phương pháp luận chiến phong phú, mẫu mực.

TƯ TƯỞNG LÊNIN VỀ ĐẤU TRANH CHỐNG CÁC LOẠI CƠ HỘI, THÙ ĐỊCH

Ngay từ khi mới ra đời và trong suốt quá trình tồn tại, học thuyết khoa học và cách mạng của giai cấp công nhân - chủ nghĩa Mác - Lênin, đã luôn bị các thế lực thù địch, những phần tử cơ hội ra sức chống phá quyết liệt. Điều này đã ảnh hưởng rất lớn đến hoạt động của các chính đảng cũng như phong trào công nhân trên thế giới, đến việc hiện thực hóa khát vọng giải phóng giai cấp, giải phóng xã hội, giải phóng con người của giới cần lao.

Sau khi C.Mác và Ph.Ăngghen qua đời, Quốc tế II đứng trước những mối nguy lớn khi chủ nghĩa cơ hội hoành hành, đe dọa vai trò lãnh đạo, tập hợp và thống nhất các đảng. Trong phong trào cộng sản và công nhân quốc tế lúc bấy giờ, đã có những người rời bỏ hàng ngũ cộng sản của mình để nhân nhượng, thỏa hiệp và thậm chí phản bội lại sứ mệnh của giai cấp công nhân. Những người này đã “khoác áo Mác để chống Mác”, mặc dù bên ngoài không công khai phủ nhận chủ nghĩa Mác nhưng thực chất lại đang quay lưng với những nguyên lý cách mạng và linh hồn sống của chủ nghĩa Mác.

Khi chủ nghĩa cơ hội đã được hình thành và phát triển với những tư tưởng, quan điểm có tính hệ thống, thậm chí trở thành một học thuyết chính trị - xã hội thì ảnh hưởng rất tiêu cực đến phong trào công nhân, làm lung lay niềm tin, “làm hư hỏng phong trào công nhân”, “biến nhiệm vụ giành chính quyền từ quan trọng thành không quan trọng; biến hình thức đấu tranh nghị trường là thứ yếu sang hình thức đấu tranh chủ yếu; biến đấu tranh kinh tế từ thứ yếu thành chủ yếu dẫn tới quá coi trọng và đề cao đấu tranh kinh tế, hạ thấp vai trò đấu tranh chính trị”. Họ dễ dàng thỏa hiệp với giai cấp tư sản, phủ nhận sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân, phủ nhận cách mạng vô sản và cố gắng đưa phong trào công nhân nằm trong “giới hạn có thể chấp nhận được” đối với giai cấp tư sản, khiến cho phong trào công nhân chỉ như “giậm chân tại chỗ”. Điều này đã tạo nên tâm lý hoài nghi về thắng lợi của phong trào công nhân cũng như “làm suy giảm năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của các Đảng Cộng sản, kéo lùi phong trào công nhân ở các nước”.

Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, Ban Tuyên giáo Trung ương, Hội đồng Lý luận Trung ương, Tạp chí Cộng sản, Báo Nhân dân và Hội Nhà báo Việt Nam phối hợp tổ chức họp báo phát động Cuộc thi viết chính luận về bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch lần thứ hai, năm 2022 _Ảnh: TTXVN

Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, Ban Tuyên giáo Trung ương, Hội đồng Lý luận Trung ương, Tạp chí Cộng sản, Báo Nhân dân và Hội Nhà báo Việt Nam phối hợp tổ chức họp báo phát động Cuộc thi viết chính luận về bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch lần thứ hai, năm 2022 _Ảnh: TTXVN

Đến những năm 1914 - 1915, chủ nghĩa cơ hội biến thành chủ nghĩa cơ hội sôvanh phản động khi công khai ủng hộ giai cấp tư sản gây chiến tranh đế quốc để phân chia lại thị trường và thuộc địa, tiếp tay cho việc đàn áp các phong trào đấu tranh của giai cấp vô sản. Những tác hại mà chủ nghĩa cơ hội cũng như các trào lưu tư tưởng cực đoan đối với phong trào cộng sản và công nhân quốc tế là rất lớn.

V.I.Lênin đã kiên quyết phê phán các luận điểm của chủ nghĩa cơ hội với các đại biểu như E. Bécxtanh, C. Cauxky, chủ nghĩa dân túy với những đại biểu tiêu biểu như Mikhailốpxki, Crivencô, Giacốp; quan điểm cơ hội chủ nghĩa của phái kinh tế với các gương mặt như Cuxcôva, A. Máctưnốp, X.N. Prôcôpôvích; quan điểm cơ hội chủ nghĩa của phái Mensêvích do Máctốp đứng đầu, hay đấu tranh chống bệnh ấu trĩ “tả khuynh” trong phong trào cộng sản đem đến nguy cơ làm chệch hướng phong trào giải phóng của giai cấp vô sản.

Với thái độ kiên quyết, dứt khoát, triệt để, V.I.Lênin đã không chỉ công khai đấu tranh trên lĩnh vực lý luận mà còn thẳng thừng loại bỏ những đối tượng này ra khỏi hàng ngũ của Đảng và xem đó như việc “tẩy rửa chất mủ” trong chính “cơ thể” của phong trào cộng sản, mặc dù có chịu đau đớn nhưng “Điều rất cần thiết hiện nay, về mặt tổ chức, phải hoàn toàn tách hẳn những phần tử cơ hội chủ nghĩa ấy ra khỏi các đảng công nhân”(4). Đồng thời, V.I.Lênin còn luôn chú trọng việc giữ vững tính đảng, không nhân nhượng về mặt lý luận trong cuộc đấu tranh với chủ nghĩa cơ hội và các loại hình thù địch. Muốn vậy, lý luận phải thật sự sắc bén, thật sự am tường và không còn cách nào khác là phải nâng cao trình độ, tăng cường hệ tư tưởng XHCN cho giai cấp công nhân. Bên cạnh đó, Người cũng đã chỉ ra cần xác định những nội dung, phương pháp và hình thức đấu tranh phù hợp, có hiệu quả.

THỰC TIỄN VẬN DỤNG TƯ TƯỞNG LÊNIN TRONG ĐẤU TRANH CHỐNG CÁC LOẠI CƠ HỘI, THÙ ĐỊCH Ở NƯỚC TA

Mặc dù ở Việt Nam chưa có thời kỳ nào xuất hiện chủ nghĩa cơ hội với tư cách là một lực lượng hay một phong trào có khả năng ảnh hưởng đến cách mạng, nhưng vẫn còn tồn tại những tư tưởng hay những biểu hiện hữu khuynh và tả khuynh dưới những mức độ khác nhau. Ngoài ra, việc các thế lực thù địch phản động câu kết gia tăng sự chống phá đã khiến chúng ta phải thường xuyên, kiên quyết đấu tranh phản bác, ngăn chặn các loại cơ hội, các quan điểm sai trái, thù địch. Đặc biệt, từ sau khi CNXH hiện thực ở Đông Âu và Liên Xô sụp đổ, nhiều luận điệu xảo trá đã được tung  với những thủ đoạn, hình thức khác nhau nhằm tấn công vào nền tảng tư tưởng của Đảng ta. Trước tình thế đó, việc đấu tranh trực diện, không khoan nhượng, thật sự kiên quyết được đặt ra cấp bách nhằm bảo vệ Đảng, bảo vệ nhân dân, bảo vệ chế độ và những thành quả của công cuộc đổi mới.

Một dấu mốc quan trọng trong công tác đấu tranh chống các quan điểm sai trái thù địch là ngày 22/10/2018, Bộ Chính trị khoá XII đã ban hành Nghị quyết số 35-NQ/TW về “Tăng cường bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trong tình hình mới”, đưa việc bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng đã được thực hiện một cách bài bản, đồng bộ hơn với nhiều kết quả khả quan. Từ đó, làm thất bại nhiều âm mưu, thủ đoạn hòng việc xóa bỏ nền tảng tư tưởng của Đảng cũng như các âm mưu, hoạt động “diễn biến hòa bình”; làm thất bại các hoạt động lợi dụng đổi mới để gây chia rẽ dân tộc, tôn giáo; lợi dụng các vấn đề dân tộc, tôn giáo, dân chủ, nhân quyền để chống phá cách mạng.

Công tác tổng kết, nghiên cứu lý luận được chú trọng, góp phần giải quyết những vấn đề thực tiễn đặt ra, nhất là trong công cuộc đổi mới, xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng XHCN, xây dựng nền dân chủ XHCN và nhà nước pháp quyền XHCN; công tác thông tin, tuyên truyền có nhiều đổi mới, sáng tạo về nội dung, hình thức, phát huy tốt vai trò định hướng dư luận, nhất là trên mạng xã hội. Qua đó, kịp thời tuyên truyền, khẳng định chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, những thông tin tích cực, thuyết phục, có sức lan tỏa, giáo dục, đẩy lùi các thông tin xấu, độcgóp phần giữ vững ổn định chính trị, củng cố niềm tin của nhân dân với Đảng, Nhà nước và chế độ.

Tuy nhiên, hiện nay, hoạt động chống phá của các thế lực thù địch vẫn diễn ra với tính chất ngày càng tinh vi, thâm độc hơn; hệ thống internet, mạng xã hội phát triển đã trở thành công cụ hữu hiệu để chúng lợi dụng triệt để xuyên tạc, phủ nhận giá trị chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối, chính sách của Đảng, Nhà nước; gây nên sự hoài nghi trong xã hội...

Mặt khác, thực tiễn đổi mới, hội nhập đang đặt ra nhiều vấn đề mới cần nghiên cứu, giải đáp thấu đáo về lý luận. Công tác “đấu tranh, phản bác, ngăn chặn các thông tin xấu độc, quan điểm sai trái, thù địch có lúc, có nơi còn bị động, thiếu sắc bén, tính chiến đấu chưa cao”; việc lôi cuốn sự tham gia đông đảo của cán bộ, nhân dân chưa nhiều; đội ngũ làm công tác đấu tranh còn chưa đủ về số lượng và mạnh về chất lượng; tính chiến đấu, tính khoa học, tính sắc bén trong lập luận chưa cao nên tính thuyết phục còn hạn chế; công tác quản lý thông tin trên mạng chưa theo kịp tình hình... Đó là những khoảng trống cần sự bù đắp kịp thời để phát huy tốt hơn công tác bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh chống lại các quan điểm sai trái, thù địch trong giai đoạn hiện nay.

TIẾP TỤC VẬN DỤNG SÁNG TẠO TƯ TƯỞNG LÊNIN TRONG TÌNH HÌNH MỚI

Trong quá trình hoạt động cách mạng, V.I. Lê-nin luôn kiên quyết đấu tranh chống những trào lưu tư tưởng phi mác-xít chống phá phong trào cách mạng _Tranh: Tư liệu

Trong quá trình hoạt động cách mạng, V.I. Lê-nin luôn kiên quyết đấu tranh chống những trào lưu tư tưởng phi mác-xít chống phá phong trào cách mạng _Tranh: Tư liệu

Thứ nhất, cần tiếp tục nhận diện và đấu tranh trực diện, kiên quyết, không khoan nhượng với những tư tưởng, quan điểm sai trái, thù địch.

Nghị quyết 37-NQ/TW ngày 9/10/2014 của Bộ Chính trị khóa XI về “Công tác lý luận và định hướng nghiên cứu đến năm 2030” xác định: Công tác nghiên cứu lý luận có nhiệm vụ “kiên quyết đấu tranh chống chủ nghĩa giáo điều, chủ nghĩa xét lại, chủ nghĩa cơ hội và các tư tưởng thù địch dưới mọi màu sắc”. Trong các văn kiện Đại hội Đảng thời kỳ đổi mới, Đảng ta đều nhấn mạnh nhiệm vụ đấu tranh chống chiến lược “diễn biến hòa bình”, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng. Đại hội XIII của Đảng cũng đã chỉ rõ: “Tăng cường bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, kiên quyết và thường xuyên đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch, cơ hội chính trị”.

Thứ hai, coi trọng tổng kết thực tiễn, nghiên cứu lý luận; phân biệt rõ quan điểm khác, quan điểm lệch lạc với quan điểm sai trái, thù địch…

Trước đây, sự hình thành chủ nghĩa cơ hội tả khuynh một phần cũng chính từ sự non kém về lý luận và thiếu bản lĩnh về chính trị, khiến cho một số đảng viên là lãnh đạo rơi vào chủ quan, duy ý chí, không nắm vững quy luật khách quan... Do vậy, trang bị và nắm vững lý luận chính trị là nhiệm vụ vừa cấp bách, vừa thường xuyên, lâu dài đặt ra đối với đội ngũ cán bộ, đảng viên hiện nay để không bị hoang mang, dao động. Việc không ngừng bổ sung, phát triển lý luận cần gắn liền với việc đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái thù địch, bởi lẽ sau khi Liên Xô và Đông Âu sụp đổ thì “vấn đề đi lên chủ nghĩa xã hội lại được đặt ra và trở thành tâm điểm thu hút mọi sự bàn thảo, thậm chí tranh luận gay gắt” từ các nhà tư tưởng. Và hơn ai hết, chúng ta hiểu rằng chủ nghĩa Mác - Lênin mà các nhà kinh điển đã xây dựng “chỉ đặt nền móng cho môn khoa học mà những người xã hội chủ nghĩa cần phải phát triển hơn nữa về mọi mặt, nếu họ không muốn trở thành lạc hậu đối với cuộc sống”. Vậy nên cần “nâng cao năng lực khoa học phục vụ phát triển công tác lý luận, đảm bảo cung cấp các luận cứ khoa học, lý luận vững chắc cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc”.

Với những quan điểm lệch lạc do chưa nhận thức đầy đủ thì cần có biện pháp thuyết phục, trao đổi, chỉ ra những lỗ hng, thiếu tính khoa học, thiếu cơ sở thực tiễn trong lập luận của họ, tránh áp đặt ý muốn chủ quan và cũng không nên “đao to búa lớn”. Với những những quan điểm sai trái do cố tình “không hiểu” hay là “đánh tráo khái niệm” thì cần kiên quyết bác bỏ, lên án và đấu tranh không khoan nhượng bằng cơ sở, căn cứ vững chắc về lý luận, thực tiễn và chính trị, pháp lý. Đặc biệt, trong quần chúng nhân dân hay trong đội ngũ cán bộ, đảng viên đôi khi cũng có những quan điểm khác, nhận thức khác với quan điểm của Đảng và Nhà nước - điều này cũng không phải khó hiểu bởi vì nhận thức là một quá trìnhcần “đối thoại thẳng thắn... trên tinh thần khoa học, dân chủ, xây dựng, thuyết phục lẫn nhau”.

Thứ ba, phòng chống suy thoái về chính trị tư tưởng, nghiêm khắc xử lý với những sai phạm trong nội bộ.

Nếu như trước đây, nguồn gốc của sự suy thoái, cơ hội diễn ra trong đội ngũ những người cộng sản được V.I. Lênin chỉ ra là “các lãnh tụ  tầng lớp trên của giai cấp công nhân bị hủ hóa, bị mua chuộc, chạy theo giai cấp tư sản” và sự “thỏa mãn với tình thế nhất thời, ánh sáng chói lọi” của CNTB thì hiện nay, dù cách diễn đạt có khác nhưng chung quy vẫn như 27 biểu hiện mà Nghị quyết Hội nghị Trung ương 4 khóa XII đã chỉ ra. Bởi vậy, các thế lực thù địch luôn lợi dụng tình trạng “suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống của một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên chưa bị đẩy lùi, có mặt, có bộ phận còn diễn biến tinh vi, phức tạp hơn; tham nhũng, lãng phí, tiêu cực vẫn còn nghiêm trọng” cùng với đó là những “hạn chế, khuyết điểm mà Đảng ta đã tự đánh giá” nhằm gây sự hoài nghibất bình trong nhân dân, chia rẽ nhân dân với Đảng, Nhà nước.

Từ những biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sốngcó thể xác định những phần tử cơ hội thuộc các “nhóm” sauThứ nhất, là những kẻ ra mặt chống lại chủ trương, đường lối của Đảng, dễ nhận biết và phát hiện; Thứ hai, là những kẻ không ra mặt chống đối nhưng lại có ý đồ rất xa, rất dài, mưu đồ “chui sâu, leo cao” để thực hiện tham vọng; Thứ ba, là những cán bộ, đảng viên thiếu hiểu biết về lý luận chính trị, phai nhạt lý tưởng, dễ ngả nghiêng, dao động, thiếu niềm tin. Theo đó, cần nhận diện đúng các “cấp độ” của biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong đội ngũ cán bộ đảng viên để có biện pháp thuyết phục, đấu tranh phù hợp, hiệu quả, tránh “vơ đũa cả nắm”; chú trọng kết hợp “xây” và “chống”.

Trong đấu tranh, có những trường hợp và thời điểm phải kiên quyết thực hiện giải pháp như V.I. Lênin đã từng nhấn mạnh là đuổi bọn thoái hóa, biến chất, cơ hội, thù địch, tham ô, không trung thực, xu nịnh... ra khỏi hàng ngũ của Đảng để làm cho uy tín của Đảng được tăng lên, chấp nhận “thà ít mà tốt”. Dù đau xót nhưng phải kiên quyết “cắt bỏ một vài cành cây sâu mọt để cứu cả cây”, “xử một số người để cứu muôn người”dù người đó là ai, giữ chức vụ gì, như Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã nhiều lần chỉ đạo.

Thứ tư, tiếp tục đẩy mạnh việc “đưa chủ nghĩa xã hội vào cuộc sống hàng ngày” như cách nói của Lênin, “đưa chính trị vào giữa dân gian” như cách nói của Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Trong tình hình mới, mọi đường lối, chính sách của chúng ta đều nhằm thực hiện 8 phương hướng để hiện thực hóa 8 đặc trưng mà mục tiêu cao nhất và toàn diện là Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh. Theo đó, đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước phải xuất phát từ thực tiễn và những nhu cầu chính đáng, hợp pháp, thiết thực của nhân dân. Giá trị đích thực của CNXH ở Việt Nam, mục tiêu tối thượng mà Đảng và Nhà nước ta hướng đến là đời sống của nhân dân, để nhân dân được thụ hưởng mọi thành quả của sự phát triển và đây cũng là bản chất ưu việt của chế độ XHCN.

Được thụ hưởng, được thỏa mãn lợi ích hợp pháp, chính đáng sẽ tạo động lực mạnh mẽ thúc đẩy người dân cống hiến, đóng góp cho sự phát triển của đất nước. Đây là cơ sở để mỗi cán bộ, đảng viên, mỗi người dân thấy đúng phải bảo vệ, thấy sai phải kiên quyết phê phán, đấu tranh.

Thứ năm, thường xuyên củng cố, xây dựng đội ngũ chuyên gia sâu sắc về lý luận, am tường thực tiễn; không ngừng nâng cao nhận thức của quần chúng.

Cần có cơ chế để xây dựng đội ngũ cán bộ làm công tác lý luận đáp ứng yêu cầu giai đoạn mới là “lý luận phải gắn chặt với thực tiễn, xuất phát từ thực tiễn, đáp ứng và phục vụ yêu cầu phát triển đất nước, bảo đảm hài hòa giữa trước mắt với lâu dài, giữa nghiên cứu cơ bản với nghiên cứu ứng dụng”. Xây dựng “đội ngũ cán bộ đầu đàn và các lớp cán bộ kế tiếp, đáp ứng nhiệm vụ trước mắt và lâu dài” và “có chính sách khuyến khích, đãi ngộ thích đáng, bảo đảm đời sống vật chất và tinh thần của các nhà khoa học” theo tinh thần Nghị quyết số 37-NQ/TW của Bộ Chính trị.

Coi trọng việc xây dựng môi trường dân chủ đi đôi với nêu cao trách nhiệm chính trị của tổ chức và cá nhân hoạt động lý luận. Kết hợp chặt chẽ nghiên cứu lý luận với tổng kết thực tiễn; nâng cao năng lực và chất lượng dự báo, định hướng nghiên cứu trong từng thời kỳ.

Tăng cường công tác tuyên truyền nâng cao nhận thức của quần chúng nhân dân, để nhân dân biết rõ các hành vi, hình thức chống phá của các thế lực thù địch; có bản lĩnh vững vàng để không bị lôi kéo vào những hoạt động chống phá, đồng thời có trách nhiệm hơn khi tham gia sử dụng mạng xã hội. Với sức đề kháng của hàng triệu quần chúng thì mọi sự lừa mị, xuyên tạc của các thế lực phản động, thù địch đều trở nên vô nghĩa, lạc lõng.

Trong bất kỳ giai đoạn nào của cách mạng, đấu tranh chống lại chủ nghĩa cơ hội và những trào lưu phản cách mạng, sai trái là một hoạt động cần thiết và vô cùng quan trọng nhằm bảo vệ nền tảng tư tưởng, giữ vững vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản và sự tồn tại của chế độ XHCN. Trong suốt cuộc đời hoạt động của mình, V.I.Lênin đã không chỉ tiếp nối sự nghiệp của C.Mác và Ph.Ăngghen mà còn liên tục đấu tranh với nhng phần tử, trào lưu cơ hội, dân túy, thù địch để bảo vệ tính đúng đắn, khoa học và cách mạng của chủ nghĩa Mác. Tư tưởng và những quan điểm đó vẫn luôn chứa đựng những giá trị lý luận và thực tiễn to lớn trong bối cảnh hiện nay./.

ST.

Phê phán thói vô cảm, “vì dân suông” của một bộ phận cán bộ, đảng viên

Một trong những biểu hiện suy thoái cả về tư tưởng chính trị và đạo đức, lối sống của một bộ phận cán bộ, đảng viên đã được Nghị quyết Hội nghị Trung ương 4 (khóa XII) chỉ ra là: “Không còn ý thức hết lòng vì nước, vì dân”; “thờ ơ, vô cảm, thiếu trách nhiệm trước những khó khăn, bức xúc và đòi hỏi chính đáng của nhân dân”. Không chỉ vậy, một số cán bộ, đảng viên thời nay còn có biểu hiện mị dân, “vì dân suông”, từ đó tạo khoảng cách với dân, gây mất niềm tin trong nhân dân. Do đó, chúng ta phải đấu tranh, phòng ngừa, ngăn chặn những biểu hiện vô cảm, “vì dân suông” để góp phần xây dựng đội ngũ cán bộ, đảng viên trung thành, mẫn cán, thật sự vì dân, vì nước.

(HÌnh minh họa)

(HÌnh minh họa)

TINH VI NHỮNG BIỂU HIỆN MỊ DÂN, "VÌ DÂN SUÔNG"

Phê phán thói tiền hậu bất nhất, nói nhiều làm ít, dân ta có câu ca dao: “Nói chín thì phải làm mười/ Nói mười làm chín, kẻ cười người chê”. Hàm ý sâu sắc hơn, câu ca dao muốn nhắn nhủ, nhắc nhở con người phải luôn coi trọng giữ gìn chữ “tín”, nói đi đôi với làm; còn nếu ai mà nói nhiều hơn làm, dù làm chỉ kém nói một chút thôi thì cũng đáng coi thường, chê trách.

Thời nay, một số cán bộ, đảng viên có biểu hiện chỉ nói mà không làm, chỉ hứa rồi để đấy, chỉ thề thốt mà không hành động, người dân gọi đó là những kẻ nói suông, hứa suông, thề suông.

Cách đây 8 năm, ngày 27/5/2016, phát biểu tại Hội nghị triển khai Chương trình hành động thực hiện Nghị quyết Đại hội XII của Đảng và các chỉ thị, kết luận của Bộ Chính trị, Ban Bí thư về công tác dân vận, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng không chỉ cảnh báo một số cán bộ, đảng viên có thái độ coi thường quần chúng, không lắng nghe ý kiến, không học hỏi người lao động, mà còn có biểu hiện “vì dân suông”, tức là chỉ nói mà không làm, hay hô hào, kêu gọi vì dân, nhưng lại không có những việc làm cụ thể, thiết thực để mang lại quyền, lợi ích chính đáng cho nhân dân.

Những biểu hiện “vì dân suông” trong một bộ phận cán bộ, đảng viên diễn ra khá tinh vi. Có cán bộ gần dân mà vẫn không hiểu lòng dân. Những cán bộ này tuy đến với dân, nhưng chỉ tuyên truyền, vận động, giải thích cho dân theo ý chỉ đạo áp đặt của mình mà không thành tâm lắng nghe tâm tư, nguyện vọng của dân. Giả sử nếu có lắng nghe thì cũng “nghe để biết”, nhưng thực chất là bỏ ngoài tai, không tìm cách giải quyết thấu đáo những ý kiến, băn khoăn, vướng mắc của dân và cả những mong muốn chính đáng của bà con. Trong cuộc tiếp xúc cử tri ngày 14/10/2023 tại Hà Nội trước kỳ họp thứ sáu, Quốc hội khóa XV, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng nhắc nhở cán bộ, đảng viên nói chung, đại biểu Quốc hội và HĐND nói riêng cần khắc phục bệnh hình thức, khi tiếp xúc, đối thoại với dân thì phải “tuyệt đối tránh tình trạng hình thức, ngồi ra vẻ chú ý lắng nghe nhưng lại không nghe”.

Ngoài ra còn có những cán bộ tuy bề ngoài gần dân mà thực chất lại sống xa dân. Số cán bộ này khi gặp dân thì vẫn “mồm năm miệng mười”, cố gắng không làm mếch lòng người khác, nhưng bản thân và gia đình lại có một cuộc sống biệt lập, khác xa người dân. Nhờ các mối quan hệ “bôi trơn” và biết kiếm chác mà họ có nhà to, xe đẹp, thu nhập khủng, gia đình ung dung hưởng thụ một cuộc sống đề huề trong nhung lụa, mặc cho bao người dân lao động vẫn quanh năm tảo tần, lam lũ vì miếng cơm, manh áo. Với họ, tiếp xúc với dân chỉ là nghĩa vụ đơn thuần chứ không thực sự tâm huyết với dân, chung sức đồng lòng gánh vác bao nỗi lo toan hằng ngày của người dân. Bởi nếu thương yêu quần chúng cần lao, họ đâu lợi dụng kẽ hở pháp luật, đục nước béo cò để nhăm nhăm vun vén lợi lộc cho cá nhân, cốt để vinh thân phì gia.

Điều đáng nói, những động thái “vì dân suông” thường được bao bọc một lớp hào nhoáng, tinh vi mà không phải người dân nào cũng dễ nhận diện. Hơn nữa, để dễ bề che mắt thiên hạ, bên ngoài thì bao giờ họ cũng đề cao quan điểm “dĩ dân vi bản” (lấy dân làm gốc) và luôn chủ định làm một vài việc bề nổi nào đó nhằm vừa tránh bị mang tiếng là không thân thiện với dân, vừa phần nào lấy lòng dân. Suy cho cùng, một khi cán bộ coi việc gần dân chỉ là tấm bình phong, là màn kịch để che giấu những mục đích, động cơ thiếu trong sáng của mình thì đó là một thứ gần dân hình thức, giả dối, thực chất là mị dân.

TÁC HẠI CỦA THÓI VÔ CẢM, "VÌ DÂN SUÔNG"

Thói vô cảm, “vì dân suông” là một trong những biểu hiện suy thoái đáng báo động đối với một bộ phận cán bộ, đảng viên. Đề cập vấn đề này, Đảng ta cho rằng, trong điều kiện hiện nay, nếu không chăm lo một cách cụ thể, thiết thực đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân thì dù có nói bao nhiêu về quan điểm quần chúng, về quyền làm chủ của nhân dân cũng đều là vô nghĩa và không có sức thuyết phục.

Sau khi Liên Xô vừa sụp đổ, một số học giả nước này đã làm cuộc điều tra xã hội học rất đáng suy ngẫm. Trong phiếu điều tra, trả lời câu hỏi “Đảng Cộng sản Liên Xô đại diện cho ai?", thì có tới 85% ý kiến cho là đại diện của giới cán bộ quan chức nhà nước quan liêu, chỉ có 11% cho là đại diện của giai cấp công nhân và nhân dân lao động. Một đảng cộng sản cầm quyền mà tỷ lệ giới chức quan liêu, xa rời quần chúng, vô cảm với dân lớn đến mức nghiêm trọng như vậy, thế nên lúc gặp sóng gió không được nhân dân ủng hộ và bị các thế lực khác tước quyền lãnh đạo cũng không có gì khó hiểu!

Đâu chỉ có chuyện cán bộ sống quan liêu, “vì dân suông” xảy ra bên Liên Xô, mà ngay ở nước ta cũng cần nhắc lại vụ việc một bộ phận cán bộ, đảng viên vô cảm, sống xa dân nên để lại một bài học xương máu về mối quan hệ giữa Đảng, chính quyền và nhân dân. Năm 1997, một bộ phận không nhỏ nông dân tỉnh Thái Bình tụ tập đông người phản đối cấp ủy, chính quyền có nguyên nhân chủ yếu là do quyền làm chủ của người dân đã bị vi phạm nghiêm trọng, chính quyền cơ sở huy động quá sức dân, thậm chí lạm thu nhiều khoản bất chính, trong khi đó một số cán bộ chủ chốt ở địa phương giàu lên một cách bất minh và lại có lối sống xa hoa, kệch cỡm, nên càng gây bất bình trong nhân dân. Sau sự kiện đáng buồn này đã có hơn 2.000 cán bộ, đảng viên vi phạm bị xử lý kỷ luật, hơn 70% số tổ chức cơ sở đảng phải thay từ một nửa đến hai phần ba cấp ủy.

Nhắc lại những ví dụ nêu trên để thấy rằng, quần chúng nhân dân nhìn nhận, đánh giá Đảng chủ yếu là thông qua phẩm chất, tư cách, đạo đức, lối sống của cán bộ, đảng viên. Nói quần chúng giảm sút lòng tin đối với Đảng không phải là giảm sút lòng tin đối với lý tưởng, sự nghiệp của Đảng, mà là đối với những cán bộ, đảng viên đã thoái hóa, hư hỏng và không còn ý thức hết lòng vì nước, vì dân, nói nhiều làm ít, nói một đằng làm một nẻo, chỉ biết lo vun vén lợi lộc cho bản thân, gia đình mà không có hành động thiết thực để góp phần chăm lo cuộc sống ấm no, hạnh phúc cho nhân dân.

CÁN BỘ, ĐẢNG VIÊN CẦN TRỌNG DÂN THỰC TÂM, CHĂM LO CHO DÂN THỰC LÒNG

Từ những thăng trầm, hưng vong của các vương triều phong kiến Việt Nam trong lịch sử, từ những thành bại trong việc huy động lòng dân, phát huy sức dân trong các cuộc đấu tranh dựng nước và giữ nước, ông cha đã đúc kết những lời thấm thía và trở thành bài học nhắc nhở muôn đời cho con cháu hôm nay và mai sau, đó là: “Chở thuyền cũng là dân, lật thuyền cũng là dân” và “Việc nhân nghĩa cốt ở yên dân” (Nguyễn Trãi); “Khoan thư sức dân làm kế sâu rễ bền gốc là thượng sách giữ nước” (Trần Hưng Đạo); nước phải lấy dân làm gốc, vì “Gốc có vững, cây mới bền/ Xây lầu thắng lợi trên nền nhân dân” (Hồ Chí Minh).

Cách đây 12 năm, ngày 7/6/2012, Ban Bí thư Trung ương Đảng khóa XI ban hành Quy định số 101-QĐ/TW về "Trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ lãnh đạo chủ chốt các cấp”, đã quy định 7 nội dung cán bộ, đảng viên phải có trách nhiệm nêu gương, trong đó có 2 nội dung liên quan đến ý thức, tác phong, phong cách ứng xử của cán bộ với nhân dân, gồm: “Nêu gương về tác phong sâu sát thực tế, gần gũi để thấu hiểu tâm tư, nguyện vọng chính đáng của quần chúng”; “Nêu gương về ý thức phục vụ nhân dân, lắng nghe tâm tư, nguyện vọng của quần chúng, làm việc với thái độ khách quan, công tâm, tập trung sức giải quyết những lợi ích chính đáng của nhân dân”. Thực chất của những quy định này là yêu cầu cán bộ, đảng viên không vô cảm, không “nói suông” với nhân dân, không sống xa dân.

Hơn ai hết, đội ngũ cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức thời nay phải khắc cốt ghi tâm lời Bác Hồ chỉ dẫn: “Được lòng dân, thì việc gì cũng làm được, trái ý dân, thì chạy ngược chạy xuôi”. Nếu cấp ủy đảng, chính quyền nói chung, cán bộ, đảng viên nói riêng mà cứ phải tất ta tất tưởi “chạy ngược chạy xuôi” bởi lòng dân phân tâm, ly tán thì nguy cơ tan rã niềm tin của dân với Đảng, với chế độ ta là khó tránh khỏi. Đó là bài học không thể xem thường.

Muốn được lòng dân thì cán bộ, đảng viên phải thực tâm nói đi đôi với làm, nói cho dân hiểu, làm cho dân tin, tuyệt đối tránh những biểu hiện vô cảm, mị dân, “vì dân suông”. Khi được nhân dân hết lòng tin yêu, ủng hộ, nhất định khối sức mạnh đại đoàn kết toàn dân sẽ được củng cố, tăng cường và trở thành sức mạnh dời non lấp biển, từ đó chúng ta có thể đạp bằng mọi chông gai, vượt qua mọi khó khăn, thử thách trên con đường xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Đúng như nguyên Chủ tịch nước Trương Tấn Sang từng nhấn mạnh: “Chúng ta không sợ bất cứ kẻ thù nào dù là hung bạo nhất, chỉ sợ mất lòng dân. Lòng dân, đó là quốc bảo dựng nước và giữ nước Việt Nam”./.

ST.