Chủ Nhật, 12 tháng 5, 2024

Phát huy vai trò của sinh viên trong phản bác quan điểm sai trái, thù địch trên mạng xã hội

Theo Bộ Giáo dục Đào tạo, hiện cả nước có khoảng gần 2 triệu sinh viên trong các trường đại học, cao đẳng. Đây là lực lượng đông đảo, có trình độ, nhiệt huyết, thường xuyên tham gia mạng xã hội, nếu được phát huy đây sẽ là binh chủng xung kích trên mặt trận tư tưởng, đấu tranh phản biện các luận điệu sai trái trên, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng.

KIÊN QUYẾT LOẠI BỎ CÁC QUAN ĐIỂM SAI TRÁI, THÙ ĐỊCH TRÊN MẠNG XÃ HỘI

Quan điểm sai trái, thù địch là quan điểm không đúng, sai sự thật, lừa bịp, thường được viết và đăng tải trên các phương tiện truyền thông đặc biệt là mạng xã hội với mục đích đánh lừa nhằm gây thiệt hại cho một cơ quan, tổ chức hoặc một người nào đó hoặc để đạt được về mặt tài chính hoặc chính trị. Dạng quan điểm này thường được thể hiện dưới lối viết giật gân, không trung thực hoặc dùng các tiêu đề bịa đặt để tăng lượng công chúng theo dõi. Mục đích của việc thông tin sai lệch làm cho niềm tin của công chúng vào Đảng, Nhà nước, vào xã hội… bị nghi ngờ, giảm sút, công chúng bức xúc, hoang mang.

Trên thế giới, hiện nay, xuất hiện nhiều vấn đề mới phức tạp, khó lường. Ở trong nước, tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống quan liêu, nạn tham nhũng, lãng phí cũng những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong một bộ phận cán bộ, đảng viên đang diễn biến ngày một tinh vi... Lợi dụng tình hình này, các thế lực thù địch đã đẩy mạnh thực hiện “diễn biến hòa bình”, liên tiếp tung ra các quan điểm sai trái, luận điệu xuyên tạc, hòng phá hoại nền tảng tư tưởng của Đảng là chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng, làm cho cán bộ, đảng viên và nhân dân hoang mang, mất phương hướng để từ đó chúng dễ dàng thực hiện chiến lược “diễn biến hòa bình”, thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” nội bộ, từ đó nhằm mục tiêu xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam.

Để thực hiện được mục tiêu này, các thế lực phản động đã sử dụng nhiều kênh thông tin khác nhau đó là các tờ báo, các chương trình phát thanh, truyền hình như đài phát thanh VOA, RFI, BBC… liên tục đăng tải những tài liệu, những cuộc phỏng vấn các phần tử người Việt lưu vong ở nước ngoài để xuyên tạc một số sự kiện ở trong nước. Đặc biệt là trước, trong và sau thời điểm có nhiều những sự kiện quan trọng của đất nước như, các kỳ Đại hội Đảng, các cuộc họp Quốc hội; hay gần đây nhất là trước dịch Covid -19… thì sự “hoành hành” của các thế lực thù địch càng mạnh mẽ, tinh vi. 

Khi công nghệ phát triển, việc phát tán quan điểm sai trái không chỉ trong tay những cơ quan, tổ chức nhà nước hay các tập đoàn sở hữu công nghệ đắt tiền nữa mà tin tức sai lệch, giả tạo đã trở nên phổ biến đặc biệt trên nền tảng truyền thông mạng xã hội như Youtube, Twitter, Facebook, Zalo, Tiktok… Trên những nền tảng này, thông tin sai lệch được nhanh chóng, dễ dàng “khuếch tán”. Với thế mạnh là có tính lan toả rộng, nhanh và khó kiểm soát, mạng xã hội trở thành một trong những yếu tố tiềm năng nhất trong lan truyền quan điểm sai trái, thù địch. Việc sử dụng hình thức này của các thế lực thù địch nhằm gây khó khăn cho sự thống nhất về tư tưởng trong Đảng, đồng thuận trong xã hội.

Việc loại bỏ những quan điểm sai trái, thù địch trên mạng xã hội là trách nhiệm của tất cả mọi tầng lớp nhân dân. Trong đó, có trách nhiệm của thanh niên – đặc biệt là sinh viên – thế hệ tương lai của đất nước, thế hệ đang được trang bị tri thức hiện đại, thế hệ nhiều đam mê và rất thành thạo trong việc khai thác, sử dụng công nghệ trong mọi lĩnh vực với việc phản bác quan điểm sai trái, thù địch.

SINH VIÊN THAM GIA GÓP PHẦN PHẢN BÁC CÁC QUAN ĐIỂM SAI TRÁI, THÙ ĐỊCH TRÊN MẠNG XÃ HỘI

Để góp phần phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trên mạng xã hội, sinh viên cần quan tâm tới một số nội dung sau:

Thứ nhất, cần hiểu bản chất, mục đích của  các quan điểm sai trái, thù địch; ý nghĩa của việc phản bác lại các quan điểm này từ đó tích cực trau dồi nhận thức, bản lĩnh chính trị, và tham gia đấu tranh phản bác.

Để có thể phản bác được các quan điểm sai trái, thù địch trên mạng xã hội, thì người phản bác phải hiểu bản chất của vấn đề và mục đích, nhiệm vụ mà mình cần thực hiện, như vậy việc phản bác mới đúng, trúng và thuyết phục. Cần phải hiểu rằng các quan điểm sai trái, thù địch trên mạng xã hội là những thông tin sai sự thật được viết ra có chủ đích nhằm chống phá lại Đảng, nhà nước đăng trên các nền tảng mạng xã hội nhằm làm mất niềm tin, xáo trộn, mất ổn định trong xã hội. Nếu không phản biện, đập tan âm mưu này của bọn phản động thì sẽ rất nguy cho tư tưởng và sự phát triển bền vững về mọi mặt của xã hội. 

Cùng với đó, cũng cần nhận thức các thủ đoạn lan truyền các quan điểm sai trái của các thế lực rất tinh vi, xảo quyệt, việc đấu tranh, phản bác các quan điểm này không của riêng một tổ chức nào mà là công việc của tất cả những người dân chân chính, yêu nước trong một đất nước, trong đó có thế hệ thanh niên, sinh viên  thế hệ có sức khoẻ, tri thức; đây là công việc khó, cần có chiến lược, nhiệt huyết và sự bền bỉ… 

Ngoài nhận thức những quan điểm sai trái được đưa trên các nền tảng mạng xã hội; mỗi sinh viên cần nhìn rõ các âm mưu và thủ đoạn của các thế lực thù địch trong chiến lược “diễn biến hòa bình” mà chúng đã sử dụng thời gian vừa qua để cảnh giác và từ đó có những phản bác hiệu quả. Một số thủ đoạn đó là, các thế lực phản động tìm cách thâm nhập vào tổ chức Đoàn ở các nhà trường, các cơ quan đơn vị với mục đích phá vỡ các tổ chức này; lợi dụng tín ngưỡng, mê tín dị đoan để thực hiện chiến lược “diễn biến hòa bình”; hoặc là tìm cách đưa các ấn phẩm văn hóa đồi trụy, phản động vào trong đời sống tinh thần của sinh viên; hoặc một số thành phần đã len lỏi vào các ký túc xá sinh viên, giảng đường, đến các hội thảo khoa học, thông qua các chương trình học bổng, thông qua mạng xã hội... lôi kéo, kích động, xuyên tạc, mua chuộc sinh viên phát ngôn, đăng tải các dòng trạng thái trên trang mạng cá nhân… chống lại Nhà nước, chế độ, đi ngược lại lợi ích quốc gia, dân tộc nhằm tạo ra sự bất ổn về chính trị tư tưởng, làm cơ sở cho những vụ gây rối trật tự an ninh trong đời sống sinh viên và trong xã hội…

Để nhận thức được những chiêu trò và kịp thời phản bác được các quan điểm sai trái, sinh viên cần không ngừng tiếp nhận thông tin từ sách vở, từ báo chí truyền thông chính thống nhằm hiểu được thực trạng xã hội; không ngừng trau rồi bản lĩnh chính trị (tỉnh táo, kiên cường trước mọi cám dỗ, nhất quán giữ vững lập trường tư tưởng, lý tưởng đã chọn…).

Thứ hai, chủ động và nhất quán trong phản bác các luận điệu sai trái.

Đấu tranh, phản bác đối với các quan điểm sai trái, luận điệu xuyên tạc của các thế lực thù địch, Đảng ta xác định đây luôn là nhiệm vụ cấp bách thường xuyên của toàn bộ hệ thống chính trị, của mỗi cán bộ, đảng viên, của mọi công dân trong đó có sinh viên. Ðể thực hiện tốt nhiệm vụ này, các sinh viên cần tiến hành một cách chủ động và nhất quán trong đấu tranh. Quán triệt phương châm “xây đi đôi với chống”, lấy “xây” là trọng tâm. Chủ động lan tỏa thông tin tích cực, đấu tranh phản bác quyết liệt, khôn khéo trước các quan điểm sai trái, thù địch. Có thể, tận dụng mọi kênh đặc biệt là mạng xã hội để có thể đăng tải, truyền bá, lập luận phản bác những quan điểm sai trái một cách trực tiếp. Nhưng cũng có thể gián tiếp phản bác quan điểm sai trái, thù địch bằng việc khẳng định những quan điểm, những việc làm phù hợp, đúng đắn mà Đảng, Nhà nước đã cân nhắc, lựa chọn. Luôn kiên quyết, kiên trì quan điểm nhất quán của Đảng đó là tính tất yếu của con đường đi lên CNXH; tính ưu việt mà CNXH đem tới cho xã hội; nhất quán quan điểm bảo vệ độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ, đấu tranh vạch trần bản chất các quan điểm sai trái, luận điệu xuyên tạc; vạch trần chân tướng những tổ chức, cá nhân núp dưới chiêu bài dân chủ, nhân quyền nhằm tiến công vào chế độ xã hội ta, vu cáo Nhà nước Việt Nam; đưa ra các luận chứng, cung cấp thông tin làm sáng tỏ một số vấn đề, sự kiện, hiện tượng đã bị các thế lực thù địch xuyên tạc và lợi dụng để vu cáo. Để làm tốt, mỗi sinh viên cần luôn nhận thức cần chủ động trong sự tỉnh táo để chắt lọc thông đúng, đủ, thời sự và không bị cuốn vào “ma trận phản động” của các luồng thông tin đặc biệt là trên mạng xã hội. 

Thứ ba, cần nhận thức lợi bất cập hại - mặt trái của từng cách thức phản biện, đấu tranh với các luận điệu sai trái, xuyên tạc của kẻ thù.

Việc phản bác chỉ có hiệu quả khi sử dụng đúng cách. Thực tế hiện nay, sinh viên có nhiều diễn đàn để tham gia truyền thông và với khả năng am hiểu công nghệ, sinh viên có thể tham gia truyền thông trên nhiều diễn đàn ví dụ như: Youtube, Facebook, Fanpage, Zalo, Twiter… Những diễn đàn này có khả năng lan tỏa nhanh, rộng, vì vậy việc lựa chọn ngôn từ nào, luận điểm, luận cứ, ý tưởng nào để phản biện những quan điểm sai trái rất quan trọng, cấp thiết, bởi nếu không cân nhắc, không sắc bén có thể trở nên hời hợt, nhạt nhòa, thậm chí phản tác dụng, là cái “loa” để tuyên truyền cho kẻ địch. Ví dụ nêu tên của các tổ chức chống phá Đảng, Nhà nước ta cùng những việc mà bọn phản động đang tuyên truyền… Vì phải nêu đi nêu lại tên những tổ chức, cá nhân, cùng các luận điệu sai trái nên đã vô tình quảng bá cho cá nhân phản động và các luận điệu đó; đồng thời gây sự tò mò cho những người kém bản lĩnh. 

Thứ tư, khai thác, sử dụng phương thức phản bác phù hợp.

Để phản bác, phản biện với các quan điểm sai trái thì thường phải dùng tới các lập luận, lý lẽ, ngôn từ; cách viết ngắn, dài tùy điều kiện, khả năng của mỗi người; tuy nhiên, với từng nhóm sinh viên của từng ngành nghề cụ thể có thể lựa chọn, khai thác sâu những cách thức, chuyên môn mình đang học tập để phản bác các quan điểm sai trái một cách hiệu quả. Ví dụ, sinh viên báo chí, truyền thông có thể sử dụng khả năng viết lách của mình cùng hiểu biết về công nghệ để viết tin, bài, làm các video hoặc các podcast đăng trên các tờ báo, các diễn đàn để phản biện lại những luận điệu sai trái; sinh viên mỹ thuật có thể sử dụng cách vẽ tranh biếm họa, đả kích; sinh viên thuộc khối văn hoá nghệ thuật có thể xây dựng kịch bản và diễn xuất những tiểu phẩm, những bộ phim ngắn... 

PHÁT HUY VAI TRÒ CỦA ĐOÀN THANH NIÊN TRONG TỔ CHỨC, ĐỊNH HƯỚNG CHO SINH VIÊN TRONG PHẢN BÁC CÁC QUAN ĐIỂM SAI TRÁI, THÙ ĐỊCH

Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ XIII khẳng định, cần: “Tăng cường giáo dục thế hệ trẻ về lý tưởng cách mạng, đạo đức, lối sống văn hóa, nâng cao lòng yêu nước, tự hào dân tộc, nuôi dưỡng hoài bão, khát vọng vươn lên; nêu cao tinh thần trách nhiệm đối với đất nước, với xã hội; xây dựng môi trường, điều kiện học tập, lao động, giải trí, rèn luyện để phát triển lành mạnh, toàn diện, hài hòa cả về trí tuệ, thể chất và giá trị thẩm mỹ. Tạo động lực cho thanh niên xung kích trong học tập, lao động sáng tạo, khởi nghiệp, lập nghiệp; làm chủ các kiến thức khoa học – công nghệ hiện đại, phát huy vai trò quan trọng trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc”.

Ảnh minh hoạ

Ảnh minh hoạ

Để hiện thực hóa Nghị quyết này của Đảng vào cuộc sống, để giúp thanh niên ngày càng trưởng thành, là lực lượng đi đầu trong việc thực hiện khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc; để đấu tranh, phản bác các luận điệu sai trái, thù địch góp phần ổn định tư tưởng, phát triển đất nước hiệu quả, việc phát huy vai trò của các tầng lớp xã hội, nhất là của Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh là rất quan trọng. Để thực hiện tốt trọng trách của mình, Đoàn thanh niên có thể nghiên cứu một số gợi mở dưới dây:

Một là, với tư cách là "đội dự bị tin cậy của Đảng", là "cánh tay đắc lực của Đảng", Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh trên cả nước nói chung và đoàn thanh niên ở mỗi trường đại học, cao đẳng nói riêng luôn cần xem việc bảo vệ vững chắc nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh với những luận điệu sai trái là nội dung cơ bản, là nhiệm vụ hàng đầu, đồng thời là công việc tự giác, thường xuyên của mình.

Hai là, Đoàn thanh niên cần luôn nhận thức, cùng với sự lãnh đạo của Đảng ủy nhà trường, cùng với quá trình đào tạo của các khoa, phòng và sự nỗ lực tự rèn luyện của mỗi sinh viên, Đoàn Thanh niên chính là nơi góp phần quan trọng bồi đắp tư tưởng, tạo ra sức đề kháng mạnh mẽ để sinh viên đủ sức “miễn dịch” trước âm mưu và thủ đoạn nham hiểm của các thế lực thù địch. Để làm được điều này, Đoàn thanh niên cần phải giáo dục cho mọi sinh viên làm sao để thấm nhuần tư tưởng đạo đức cách mạng, có tinh thần đấu tranh tự phê bình và phê bình cao. Trong đó, đặc biệt chú trọng bồi dưỡng, xây dựng lực lượng nòng cốt, đào tạo, giúp họ trở thành những sinh viên có bản lĩnh chính trị vững vàng, năng động, tích cực, khách quan, gần gũi giúp đỡ với bạn bè cùng lứa. Lực lượng nòng cốt này sẽ là lực lượng trực tiếp truyền lửa làm công tác tư tưởng cho các sinh viên khác tích cực tham gia loại bỏ các âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch khi chúng xâm nhập, tác động vào môi trường sống của sinh viên.

Ba là, Đoàn Thanh niên cần nghiêm túc, trách nhiệm trong tổ chức quán triệt, triển khai các chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước trong cán bộ, đoàn viên, thanh niên. Việc quán triệt, học tập cần được triển khai với nhiều hình thức sáng tạo, thu hút ngày càng nhiều đoàn viên, thanh niên tham gia học tập, tu dưỡng. Không ngừng sáng tạo trong tìm cách thúc đẩy, phát huy vai trò của đoàn viên, tổ chức Đoàn tham gia thực hiện Nghị quyết của Đảng; đồng thời tổ chức thi đua hoàn thành tốt nhiệm vụ chính trị của từng đơn vị. Và đó chính là cơ hội, môi trường thuận lợi để đoàn viên, thanh niên rèn luyện, trưởng thành và phấn đấu trở thành đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam. 

Ảnh minh hoạ

Ảnh minh hoạ

Bốn là, Đoàn thanh niên cần tạo lập môi trường thúc đẩy sự tích cực sáng tạo, hội nhập trong sinh viên. Tạo môi trường để sinh viên rèn luyện các kỹ năng, sự nhiệt huyết đóng góp sức lực vào sự phát triển bền vững của đất nước. Đồng thời, Đoà thanh niên cũng định hướng, gợi mở những cách thức, hình thức giáo dục phong phú, phù hợp với tâm sinh lý lứa tuổi và điều kiện sinh hoạt, học tập. Các hình thức giáo dục có thể thực hiện đó là thông qua các hội nghị, tọa đàm, hội thi, hội diễn văn nghệ, các phong trào thiện nguyện, thông qua các sinh hoạt tại các câu lạc bộ của các nhà trường lập nên... Thực hiện sáng tạo những điều này nghĩa là Đoàn thanh niên đã góp phần thực hiện có hiệu quả Chỉ thị số42-CT/TW ngày 24/3/2015 của Ban Bí thư Trung ương Đảng về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác giáo dục lý tưởng cách mạng, đạo đức, lối sống văn hóa cho thế hệ trẻ giai đoạn 2015 – 2030. 

Năm là, Đoàn thanh niên cần quan tâm nắm bắt tình hình tư tưởng trong thanh niên trước những diễn biến phức tạp, từ đó, định hướng dư luận và hướng dẫn sinh viên cách thức phù hợp để đấu tranh với những luận điệu chống phá, âm mưu, hành động "diễn biến hòa bình" của các thế lực thù địch nhằm vào sinh viên. Đây là cơ sở kịp thời uốn nắn nhận thức, hành động của sinh viên.

Sáu là, Đoàn thanh niên cần liên tục đăng tải, chia sẻ các thông tin tích cực trên mạng xã hội; tạo môi trường giáo dục, rèn luyện tốt cho đoàn viên, thanh niên. Đồng thời, thực hiện đầy đủ, nghiêm túc, có hiệu quả Chỉ thị số 05-CT/TW của Bộ Chính trị về "Đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh" gắn với việc thực hiện Nghị quyết Trung ương 4 khóa XI, XII, XIII về "Tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng, ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng, chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện "tự diễn biến", "tự chuyển hóa" trong nội bộ". 

Bảy là, Đoàn thanh niên ở các nhà trường luôn cần có những hình thức, phương pháp truyền cảm hứng, động lực phù hợp cho thanh niên. Có thể, thông qua các kênh truyền thông, các diễn đàn tăng cường tuyên truyền, truyền cảm hứng, động lực, khơi dậy khát vọng, ý chí quyết tâm của tuổi trẻ thông qua những tấm gương thực sự tiêu biểu của cán bộ, đảng viên, của các cá nhân tiêu biểu, những câu chuyện đẹp. Khi được truyền cảm hứng, thế hệ trẻ có có thêm động lực hành động với quyết tâm để thực hiện được những mục tiêu xây dựng đất nước giàu mạnh, nhân dân ấm no, hạnh phúc. Và đó cũng là động lực, cơ sở khích lệ mỗi đoàn viên, thanh niên là một tuyên truyền viên tích cực không để các thế lực xấu tác động, lôi kéo, kích động. Cùng với đó, nhanh chóng, kịp thời tuyên truyền dưới nhiều hình thức phù hợp những câu chuyện đẹp, nhân văn, những tấm gương tốt, yếu tố tích cực trong cuộc sống.

Tóm lại, sau nhiều năm thực hiện chính sách thù địch, chống phá không đạt hiệu quả, các thế lực thù địch đang thay đổi phương thức hoạt động. Mục tiêu nhất quán của chúng vẫn là tìm mọi cách nhằm xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, vô hiệu hóa quân đội, loại bỏ chế độ XHCN ở Việt Nam. Để thực hiện âm mưu đó, các tổ chức phản động lưu vong và số phản động, chống đối, bất mãn chế độ, cơ hội chính trị trong nước đã sử dụng nhiều chiêu bài khác nhau, đặc biệt là lợi dụng những “ưu trội” của mạng xã hội để chống phá. Mục tiêu này đã đi ngược lại với mục tiêu mà Đảng và nhân dân Việt Nam đang nỗ lực xây dựng. Vì vậy, cần nhận thức đây là cuộc chiến lâu dài; đặc biệt khi công nghệ phát triển, mạng xã hội không ngừng lan tỏa thì việc phản biện, chặn đứng các luận điệu sai trái trên không gian ảo này càng phải quyết liệt, khôn khéo. Việc đối phó với các luận điệu sai trái này không phải của riêng ai mà là của tất cả xã hội trong đó có sinh viên – thế hệ trẻ của đất nước nói riêng. Mỗi sinh viên làm tốt điều này là thể hiện bản lĩnh chính trị, góp phần khẳng định trách nhiệm của bản thân với xã hội./.

ST.

Khuyến nghị xử lý thông tin sai lệch, xuyên tạc trong bối cảnh hiện nay

Cùng với những thách thức của sự phát triển xã hội thông tin, yêu cầu cấp bách của việc bảo vệ nền tảng lý luận, tư tưởng của Đảng, đấu tranh chống các thế lực thù địch đòi hỏi cần phải nghiên cứu cơ sở lý luận và thực tiễn, tìm kiếm giải pháp và mô hình tối ưu hóa xử lý thông tin sai lệch, xuyên tạc ở nước ta hiện nay.

Hiện nay, chúng ta đang sống trong một xã hội thông tin, “thông tin đang trở thành vấn đề trung tâm, từ đó, dẫn dắt, hình thành một dạng xã hội mới”(1), nơi thông tin luôn được xem ở vị trí trung tâm chiến lược trong mọi hoạt động, với cơ chế và phương thức tác động đặc thù (khác với các công cụ thông tin truyền thống). Trong xã hội thông tin, các dòng chảy thông tin tác động trực tiếp đến thể chế chính trị, đến hoạt động xây dựng Nhà nước pháp quyền và xây dựng Đảng, đến sự phát triển của lĩnh vực khoa học - công nghệ, đến sự phát triển của nền kinh tế quốc gia - nền kinh tế dựa vào thông tin- tri thức, tác động đến nền văn hoá cũng như lĩnh vực giáo dục, phát triển nguồn nhân lực và cơ cấu nghề nghiệp ở Việt Nam. Và ngược lại, chính bối cảnh phát triển xã hội thông tin của một quốc gia, cơ chế, chính sách và hệ thống quy phạm pháp luật của một quốc gia về thông tin, truyền thông và quản lý thông tin truyền thông, - với một nền tảng kiến thức, kỹ năng, văn hoá và đặc thù tâm lý, lại là những yếu tố gây ảnh hưởng đến việc tham gia và tiếp cận, tiếp nhận thông tin của công chúng. Công chúng khó thẩm định thông tin trên môi trường truyền thông số hơn so với môi trường báo chí truyền thông truyền thống. Đó chính là vấn đề đặt ra cho việc đề xuất các giải pháp, khuyến nghị xử lý thông tin sai lệch, xuyên tạc ở Việt Nam hiện nay.

Để góp phần xử lý thông tin sai lệch, xuyên tạc trong bối cảnh hiện nay, xin đề xuất một số kiến nghị khoa học như sau:

Thứ nhất, xây dựng Chiến lược quốc gia về xử lý thông tin sai lệch, xuyên tạc.

Từ việc triển khai thực hiện Nghị quyết số 35-NQ/TW của Bộ Chính trị về tăng cường bảo vệ nền tảng tư tưởng của Ðảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trong tình hình mới và thực tiễn hiện nay, Chính phủ, các cơ quan chức năng cần xây dựng hệ thống chiến lược mang tầm quốc gia về vấn đề xử lý thông tin sai lệch, xuyên tạc trong thời gian tiếp theo. Trong đó, cần có lộ trình rõ ràng về mục tiêu, giai đoạn, cách thức, kết quả… để đảm bảo vấn đề này có hiệu quả thực sự và phù hợp với thực tiễn.

Thứ hai, cần hoàn thiện cơ sở pháp lý, bảo đảm cho việc xử lý chính xác, kịp thời thông tin sai lệch, xuyên tạc.

Xử lý thông tin sai lệch, xuyên tạc có liên quan đến quyền lợi, sinh mệnh chính trị của từng tổ chức, cá nhân. Vì vậy, rất cần một hệ thống quy định pháp lý để đủ sức răn đe và không để bỏ lọt tội phạm, đồng thời không để xảy ra tình trạng oan sai, tùy tiện. Vấn đề đặt ra hiện nay đó là phải nhanh chóng xây dựng các văn bản hướng dẫn thi hành để tạo sự thống nhất trong mọi trường hợp và trong phạm vi toàn quốc, tránh mỗi nơi vận dụng xử lý một kiểu khác nhau. Bên cạnh đó, các cơ quan chuyên trách cần tập hợp các văn bản quy phạm pháp luật có liên quan đến xử lý thông tin sai lệch thành một tài liệu có hệ thống để khi thực thi không mất nhiều thời gian tra cứu, viện dẫn quá nhiều văn bản.
Qua khảo sát cho thấy thực tiễn đòi hỏi phải có văn bản mang tính pháp lý quy định cụ thể chức năng, nhiệm vụ, trách nhiệm, quyền hạn, tổ chức, biên chế của các cơ quan trên trong xử lý thông tin sai lệch, xuyên tạc. Việc phối hợp xử lý hành vi vi phạm cũng cần phải được quy định rõ trong công tác quản lý nhà nước. Cần quy định rõ hành vi vi phạm nào thuộc phạm vi quản lý, xử lý của lực lượng công an, hành vi nào thuộc phạm vi quản lý, xử lý của cơ quan thông tin, truyền thông, hành vi nào thuộc phạm vi quản lý, xử lý của cơ quan văn hóa, thể thao, du lịch… 
Trong thời gian tới, cần chỉ đạo nâng cao hiệu quả trao đổi thông tin tội phạm về công nghệ cao, công nghệ thông tin, đáp ứng tốt hơn yêu cầu thực tiễn của cuộc đấu tranh phòng, chống tội phạm xuyên quốc gia. Trên cơ sở các mối quan hệ đã thiết lập, cần có cơ chế, quy định việc tiếp nhận, xử lý và trao đổi thông tin liên quan đến tình hình phát tán thông tin giả, thông tin xấu, độc do các nước cung cấp và trao đổi, từ đó phát hiện, điều tra làm rõ nguồn phát tán thông tin sai lệch, xuyên tạc để đấu tranh triệt phá tận gốc. Đồng thời, thúc đẩy các quốc gia, tổ chức quốc tế liên quan ban hành quy ước pháp lý quốc tế về phòng chống tội phạm công nghệ cao, về an ninh mạng. Bên cạnh đó, cần ban hành các chính sách thúc đẩy việc nghiên cứu, phát triển các mạng xã hội nội địa để cạnh tranh và kiềm chế hoạt động độc quyền của các mạng nước ngoài.
Thứ ba, kiện toàn bộ máy tổ chức, đổi mới hoạt động và tăng cường nguồn lực của Ban chỉ đạo 35 các cấp.

Hiện nay, hoạt động của ban chỉ đạo 35 các cấp thường gặp nhiều khó khăn do hầu hết cán bộ kiêm nhiệm, lực lượng chuyên trách rất mỏng, phân tán ở nhiều cơ quan khác nhau và quan trọng là không đủ quyền lực để quyết định những vấn đề hệ trọng kịp thời. Trên thực tế, nhiều ban chỉ đạo ở cơ sở hoạt động không hiệu quả, mang tính hình thức, tham mưu là chính chứ chưa phải là cơ quan trực tiếp tác chiến nên không có hoạt động cụ thể hoặc chỉ tập trung vào một vài cơ quan nào đó như tuyên giáo, công an, quân đội, còn các lực lượng khác tham gia rất mờ nhạt.
Quan tâm đầu tư xây dựng cơ sở vật chất, phương tiện, kinh phí, điều kiện làm việc cho các lực lượng, đơn vị chức năng.

Thứ tư, xây dựng đội ngũ cán bộ chuyên trách, sử dụng đội ngũ chuyên gia có chất lượng cao và phát triển lực lượng có tính toàn dân rộng rãi.

Xây dựng, phát triển đội ngũ những cán bộ nghiên cứu và giảng dạy lý luận chính trị, cán bộ tuyên giáo, cán bộ chuyên trách từ các ban Đảng, nhất là Ban Tuyên giáo các cấp, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, các Học viện trực thuộc, các trường chính trị cấp tỉnh, các bộ, ngành, đoàn thể có liên quan. Trong đội ngũ cán bộ nòng cốt này, cần chú trọng đặc biệt việc xây dựng, phát triển đội ngũ  chuyên gia có trình độ cao, am hiểu sâu sắc chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối, quan điểm của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước ta và pháp luật quốc tế, hiểu sâu một số lĩnh vực khoa học công nghệ, khoa học xã hội, nhân văn, khoa học tâm lý và các lý thuyết truyền thông, am hiểu lịch sử dân tộc và cách mạng, nắm vững lý luận và thực tiễn đời sống văn học nghệ thuật, có trình độ ngọai ngữ, trình độ sử dụng công nghệ thông tin và truyền thông trong tác chiến trên không gian mạng, có năng lực quản lý truyền thông, quản trị khủng hoảng... Cần có quy định bắt buộc phải tham vấn chuyên gia trong xử lý thông tin sai lệch, xuyên tạc. Quy định rõ trong quy trình xử lý bắt buộc phải tổ chức các hội thảo, tọa đàm, trao đổi, tham vấn để tiếp thu được những ý kiến đúng đắn nhất.
Xây dựng lực lượng tham gia xử lý thông tin sai lệch, xuyên tạc có tính toàn dân rộng rãi, đều khắp. Nhân dân tham gia vào việc phát hiện, nhận diện nội dung, tính chất, bản chất thông tin, xác định nguồn thông tin. Nhân dân tham gia viết bài phê phán, viết các bình luận phản bác thông tin sai lệch, xuyên tạc, bảo vệ nền tảng tư tưởng. Nhân dân tham gia giám sát quy trình xử lý thông tin. Nhân dân chủ động trên không gian mạng, trở thành những chiến binh thông thái, có trách nhiệm trên không gian mạng…

Thứ năm, tiếp tục hoàn thiện qui trình xử lý thông tin sai lệch, xuyên tạc.

Việc xử lý thông tin sai lệch xuyên tạc cần trải qua bốn giai đoạn cơ bản: (1) Giai đoạn nghiên cứu và nhận diện; (2) Giai đoạn lập phương án xử lý và chuẩn bị; (3) Giai đoạn thực thi các giải pháp xử lý; (4) Giai đoạn phục hồi và rút kinh nghiệm.
Đi liền và gắn bốn giai đoạn (mỗi giai đoạn lại bao gồm các công việc có tính bắt buộc tương ứng) trong xử lý thông tin thông tin sai lệch, xuyên tạc là một quy trình với các bước xử lý thông tin sai lệch xuyên tạc cụ thể 9 bước cơ bản: (1) Nhận diện ban đầu thông tin sai lệch, xuyên tạc; Báo cáo cấp trên; (2) Chủ trì thảo luận, kết luận về nhận diện thông tin sai lệch, xuyên tạc; (3) Tiến hành thẩm định nguồn tin và xác định các chiều tác động, ảnh hưởng; xin tư vấn Tổ chuyên gia và đề xuất hướng xử lý và kế hoạch xử lý thông tin sai lệch, xuyên tạc; 4) Ra các quyết định xử lý thông tin sai lệch, xuyên tạc; (5) Tiến hành các biện pháp xử lý thông tin sai lệch, xuyên tạc; (6) Truyền thông sau khủng hoảng (nếu cần); (7) Lưu, bổ sung, cập nhật hồ sơ, dữ liệu; (8) Đánh giá tác động và đánh giá hiệu quả, phản hồi; (9) Rút kinh nghiệm, Lên kế hoạch hoặc điều chỉnh kế hoạch cho tương lai.

Thứ sáu, thảo luận và xây dựng một bộ nguyên tắc xử lý thông tin sai lệch, xuyên tạc: lợi ích tốt nhất vì lợi ích quốc gia, dân tộc và nhân dân.

Xử lý thông tin sai lệch, xuyên tạc là một phương diện, một nội dung của công cuộc bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, bảo vệ Nhà nước và Nhân dân. Nói cách khác, xử lý thông tin sai lệch, xuyên tạc không có mục đích tự thân mà nó phải nhằm mục đích tối cao là bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng. Đó là, bảo vệ chủ nghĩa Mác – Lênin, Cương lĩnh, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; là bảo vệ Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam, bảo vệ Nhân dân, bảo vệ sự toàn vẹn lãnh thổ và sự thống nhất của quốc gia – dân tộc. Việc xử lý thông tin sai lệch, xuyên có mục đích trực tiếp là loại bỏ những thông tin đó ra khỏi đời sống tinh thần xã hội, không để chúng ảnh hưởng tiêu cực đến tư tưởng cán bộ, đảng viên và Nhân dân, chống lại tác động trái chiều của chúng đến an ninh chính trị và trật tự an toàn xã hội, là tạo lập, tăng cường sự đoàn kết, thống nhất trong Đảng, sự đồng thuận trong xã hội, củng cố, nâng cao lòng tin của cán bộ, đảng viên, nhân dân với Đảng, với chế độ và với con đường cách mạng xã hội chủ nghĩa mà nhân dân ta, bằng trí tuệ và nhãn quan chính trị, kinh nghiệm lịch sử, đã lựa chọn. Nhưng mục đích trực tiếp này, xét đến cùng, chỉ là mục đích mang tính phương tiện, mục đích “chống”, còn mục đích tối cao của việc xử lý thông tin sai lệch, xuyên tạc chính là nằm ở mặt “xây” của nó, tức là nhằm bảo vệ, phát triển nền tảng tư tưởng của Đảng.

Thứ bảy, đổi mới và áp dụng có hiệu quả các giải pháp về phương tiện kỹ thuật - công nghệ.

Dựa trên tỉ lệ đánh giá cơ sở vật chất, công nghệ của chủ thể xử lý thông tin sai lệch xuyên tạc thì hạ tầng công nghệ ở các cơ quan chức năng trong diện nghiên cứu chỉ đáp ứng được khoảng 50% yêu cầu thực hiện công tác này. Các giải pháp kỹ thuật - công nghệ nhằm quản lý và kiểm soát thông tin thường sử dụng là: kỹ thuật lọc nội dung, kỹ thuật lọc theo từ khoá...
Bài toán giải pháp kỹ thuật - công nghệ đặt ra với các cơ quan quản lý nhà nước trong việc ngăn chặn, xử lý các thông tin thù địch, sai trái:

Một là, phát hiện và cảnh báo các xu hướng xã hội đang diễn ra trên các trang báo mạng điện tử, truyền thông xã hội, trang thông tin điện tử chính thống và phi chính thống.

Hai là, dự báo các nội dung hoặc thảo luận có nguy cơ bùng phát.

Ba là, tự động rà quét và phát hiện sớm các trang web, tài khoản mạng xã hội, nhóm, fanpage… về các chủ đề cần quản lý thông qua cơ sở dữ liệu danh sách lọc.
Bốn là, có khả năng tự động can thiệp và làm giảm kịp thời số lượng bài viết theo hướng tiêu cực (có thể sử dụng bot: các bot này thường có thể xử lý nhiều tác vụ. Một vai trò bổ sung của các IRC bot có thể ẩn sau nền của một kênh hội thoại, bình luận về một số cụm từ mà người tham gia thốt ra dựa trên việc so trùng mẫu (pattern matching). Điều này đôi khi được dùng để kiểm duyệt những lời lẽ mang tính chất tiêu cực, phỉ báng…).

Bên cạnh đó, cần đẩy mạnh thực hiện các giải pháp kỹ thuật- công nghệ như: bảo vệ tốt thông tin cá nhân; kỹ thuật chống phát tán thông tin sai trái, thù địch trên không gian mạng; kỹ thuật phân tích điều tra, ngăn chặn, bóc gỡ, khóa tài khoản của các thế lực phản động... Điều này có ý nghĩa vô cùng quan trọng, góp phần quyết định thắng lợi trong đấu tranh, xử lý thông tin sai lệch, xuyên tạc trên không gian mạng hiện nay. 

Một trong những biện pháp cơ bản của vấn đề này là ngắt kết nối internet hoặc cấm truy cập những trang web liên quan. Chặn kết nối là giải pháp cứng nhắc có thể gây khó khăn cho điều tra, đánh giá tình trạng bất ổn và tìm nguồn gốc dấu vết việc phát tán thông tin xấu, độc và nguồn hỗ trợ tài lực, vật lực từ các quốc gia, tổ chức thù địch. Thay vì đó, đội ngũ nhân sự chuyên về kỹ thuật công nghệ có thể thực hiện việc kiểm soát thông tin một cách hợp lý hơn như hạn chế một số hoạt động trực tuyến, thu thập thông tin chính xác về nguồn phát tán, kích động tư tưởng thù địch của các phần tử/nhóm phần tử phản động.../.

ST.

Phản bác quan điểm “Đảng không nên lãnh đạo kinh tế”

Thực tiễn cách mạng Việt Nam từ ngày có Đảng đến nay đã chứng minh sự lãnh đạo đúng đắn và sáng suốt của Đảng là nhân tố hàng đầu quyết định mọi thắng lợi của cách mạng nước ta, trong đó có lĩnh vực kinh tế. Vậy mà gần đây lại xuất hiện quan điểm cho rằng “Đảng không nên lãnh đạo kinh tế”.

Phản biện hay phản bội?

Từ lúc chuẩn bị Đại hội XIII của Đảng, lợi dụng việc góp ý văn kiện, một số người đã “phản biện” quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam cho rằng: “Đảng Cộng sản Việt Nam chỉ nên tập trung lãnh đạo chính trị, không nên lãnh đạo kinh tế”; “Đảng chỉ nên tự khuôn mình trong phạm vi “chính trị”, còn kinh tế là địa hạt của giới kinh doanh”...

Hai năm gần đây, do ảnh hưởng nghiêm trọng của đại dịch Covid-19, tốc độ tăng trưởng tổng sản phẩm quốc nội (GDP) của Việt Nam chững lại, một số người lại đổ lỗi cho “Đảng Cộng sản Việt Nam không biết lãnh đạo kinh tế”, họ lại tiếp tục “phản biện” trên các mạng xã hội, trả lời báo chí nước ngoài rằng: “Đảng không nên “lấn sân” của Quốc hội, Chính phủ trong lĩnh vực kinh tế” và “khuyến nghị”: “Trong lĩnh vực kinh tế, đã có Quốc hội ban hành pháp luật và giám sát tối cao, đã có Chính phủ quản lý điều hành, không cần Đảng lãnh đạo”... Đó là những quan điểm sai lầm, lợi dụng phản biện để phản bội Tổ quốc, phản bội nhân dân.

Thực tiễn đã khẳng định kinh tế và chính trị có mối quan hệ biện chứng, tác động qua lại, quy định và chế ước lẫn nhau. Trên thế giới hiện nay, không có đảng phái chính trị nào không gắn kết với kinh tế. Lênin đã từng chỉ ra rằng, chính trị là biểu hiện tập trung của kinh tế, là kinh tế cô đọng lại.

Phản bác quan điểm “Đảng không nên lãnh đạo kinh tế”
 Ảnh minh họa: tuyengiao.vn

Kinh tế quyết định chính trị, chính trị phản ánh kinh tế, nhưng chính trị không thụ động trước kinh tế, mà có vai trò tác động trở lại với kinh tế hoặc tích cực, thúc đẩy kinh tế phát triển, nếu là chính trị đúng đắn, sáng suốt; hoặc tiêu cực, kìm hãm sự phát triển kinh tế và xã hội, nếu là chính trị sai lầm.  

Các đảng lớn của các nước tư bản phát triển đều đưa ra đường lối chính trị, dẫn dắt sự phát triển xã hội theo lý tưởng, mục tiêu đã lựa chọn. Trong đường lối chính trị đó đều có đường lối phát triển kinh tế.

Thực tiễn tại Việt Nam trong thế kỷ qua cho thấy, sự lãnh đạo đúng đắn và sáng suốt của Đảng là nhân tố hàng đầu quyết định mọi thắng lợi của cách mạng nước ta, trong đó có lĩnh vực kinh tế. Cũng có lúc Đảng ta có sai lầm, khuyết điểm trong quá trình lãnh đạo kinh tế, nhưng trong suốt 92 năm qua, chưa bao giờ Đảng ta xem nhẹ, buông lỏng vấn đề lãnh đạo kinh tế.

Nhờ chú trọng lãnh đạo kinh tế, bảo đảm sự đúng đắn và nhất quán về quan điểm chính trị trong lãnh đạo kinh tế mà Đảng ta đã nhanh chóng sửa chữa được khuyết điểm, giải quyết thành công nhiều nhiệm vụ xây dựng và phát triển kinh tế quan trọng, nhất là hơn 35 năm qua thực hiện đường lối đổi mới do Đảng Cộng sản Việt Nam khởi xướng và lãnh đạo. 

Khắc phục những khuyết tật của kinh tế thị trường

Để “chứng minh” rằng “Đảng Cộng sản Việt Nam không nên lãnh đạo kinh tế”, một số người xuyên tạc đường lối phát triển kinh tế của Đảng ta, họ cho rằng “không có nền kinh tế nào là nền kinh tế thị trường (KTTT) định hướng xã hội chủ nghĩa (XHCN)”; “KTTT, các quy luật của KTTT và định hướng XHCN là những yếu tố đối lập nhau, loại trừ nhau; ghép định hướng XHCN vào KTTT là sự gán ghép chủ quan, duy ý chí, không có cơ sở khoa học, không thuyết phục, làm nảy sinh nhiều mâu thuẫn”...

Có lẽ những người nói trên đã không hiểu hoặc cố tình không hiểu bản chất của cơ chế thị trường và những khuyết tật của KTTT. Nguồn gốc và bản chất của KTTT là kinh tế hàng hóa; các phạm trù giá trị, giá cả, hàng hóa, tiền tệ, các quy luật cạnh tranh, quy luật cung-cầu, quy luật giá trị của kinh tế hàng hóa cũng là các phạm trù và quy luật của KTTT.

Các phạm trù, quy luật này có trước chủ nghĩa tư bản (CNTB), được CNTB nắm lấy, sử dụng để phát triển thành KTTT tư bản chủ nghĩa. Trải qua thời gian, KTTT tư bản chủ nghĩa cũng có nhiều biến đổi. Thời kỳ đầu khi mới ra đời, KTTT tư bản chủ nghĩa là KTTT tự do cạnh tranh, chưa có sự can thiệp của nhà nước.

Sự điều tiết của “bàn tay vô hình” của thị trường đã đưa đến nhiều hệ quả tiêu cực, đặc biệt là các cuộc khủng hoảng kinh tế chu kỳ, nảy sinh ra nhiều khuyết tật của cơ chế thị trường, đòi hỏi phải có bàn tay quản lý của nhà nước.

Ngày nay, nền KTTT hiện đại của các nước tư bản phát triển trên thế giới đều là nền KTTT có sự quản lý của nhà nước, vừa có điều tiết bởi “bàn tay vô hình” của thị trường, vừa có điều tiết bằng “bàn tay hữu hình” của nhà nước; trong đó, điều tiết của thị trường là cơ sở, nền tảng và điều tiết của nhà nước trên cơ sở tôn trọng điều tiết của thị trường (công cụ quản lý, điều tiết kinh tế của nhà nước là luật pháp, chính sách và các nguồn lực kinh tế của nhà nước).

Thực tế cho thấy, KTTT có sự quản lý của nhà nước ở các nước trên thế giới không phải hoàn toàn giống nhau, mà có nhiều mô hình khác nhau, tùy thuộc vào mức độ can thiệp và nội dung, định hướng can thiệp của nhà nước.

Có mô hình KTTT tự do ở những nước mức độ can thiệp của nhà nước vào kinh tế thấp; nhà nước chỉ bảo vệ quyền sở hữu, quyền tài sản, tự do kinh doanh, bảo đảm trật tự, ổn định xã hội, còn để phạm vi điều tiết của thị trường lớn, điều tiết mọi hoạt động kinh tế.

Có mô hình KTTT xã hội, nhà nước can thiệp vào nền kinh tế để tạo cơ hội như nhau cho mọi người tham gia phát triển và hưởng thành quả phát triển, chống lại độc quyền, phát triển kinh tế theo định hướng xã hội (như ở Đức).

Có mô hình KTTT phúc lợi xã hội, nhà nước can thiệp vào nền kinh tế để điều tiết thu nhập, phát triển các dịch vụ xã hội công, bảo đảm phúc lợi cho người dân, đặc biệt là những người cần được trợ giúp là trẻ em, người già, người thất nghiệp... (như ở các nước Bắc Âu). Có mô hình KTTT nhà nước phát triển, nhà nước không chỉ tạo thể chế, môi trường cho các chủ thể kinh tế hoạt động, mà còn có chiến lược, chính sách và sử dụng các nguồn lực kinh tế của nhà nước để định hướng và thúc đẩy sự phát triển của nền kinh tế (như ở Nhật Bản, Hàn Quốc)...

Phát triển KTTT định hướng XHCN là sự lựa chọn đúng đắn và sáng tạo của Đảng Cộng sản Việt Nam nhằm hạn chế những khuyết tật của KTTT. Định hướng XHCN của nền KTTT được bảo đảm bởi vai trò quản lý của Nhà nước pháp quyền XHCN do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo, được thể hiện ở hệ thống pháp luật, chính sách, các chiến lược, quy hoạch, kế hoạch để tạo ra môi trường kinh doanh công khai, minh bạch, thuận lợi, tạo động lực phát triển kinh tế nhanh, bền vững; gắn kết phát triển kinh tế với phát triển văn hóa, thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội phù hợp với trình độ phát triển kinh tế; thể hiện ở quan hệ phân phối để mọi người đều được hưởng thành quả phát triển đất nước.

Theo Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng, mô hình kinh tế mà chúng ta xây dựng là mô hình KTTT định hướng XHCN. Đây là nền kinh tế thị trường hiện đại, hội nhập quốc tế, vận hành đầy đủ, đồng bộ theo các quy luật của kinh tế thị trường, có sự quản lý của nhà nước pháp quyền XHCN, do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo; bảo đảm định hướng XHCN, nhằm mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”.

Đảng lãnh đạo nhưng không làm thay

Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo Nhà nước và xã hội đã được hiến định trong Hiến pháp, văn bản pháp lý cao nhất của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Hiến pháp cũng hiến định Đảng Cộng sản Việt Nam gắn bó mật thiết với nhân dân, phục vụ nhân dân, chịu sự giám sát của nhân dân, chịu trách nhiệm trước nhân dân về những quyết định của mình.

Trong đó có lĩnh vực kinh tế. Các tổ chức của Đảng và đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật. Đảng không làm thay các cơ quan Nhà nước. Đảng lãnh đạo kinh tế bằng cách tạo ra bảo đảm chính trị cho hoạt động kinh tế, xác định phương hướng chính trị cho hoạt động kinh tế đúng đắn và lành mạnh .

Chăm lo dân sinh, nâng cao dân trí, bảo đảm dân quyền để thực hiện dân chủ và phát huy quyền làm chủ thực chất của nhân dân là định hướng mục tiêu lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam. Để đạt được mục tiêu đó, Đảng chủ trương “phát triển kinh tế-xã hội là trung tâm”. Lãnh đạo kinh tế của Đảng đã trở thành mắt xích chủ yếu, quan trọng, thiết thực và quyết định nhất trong toàn bộ đường lối lãnh đạo, trong chiến lược phát triển kinh tế-xã hội của Đảng Cộng sản Việt Nam.

Dưới sự lãnh đạo của Đảng, kinh tế Việt Nam trong thời gian qua đã vượt qua bao gian nan, thử thách, được cả thế giới ngưỡng mộ, đặc biệt là trong thời kỳ phải đối mặt với đại dịch Covid-19. Ngân hàng Standard Chartered mới đây đã đưa ra dự báo, nền kinh tế Việt Nam sẽ phục hồi mạnh mẽ trong năm 2022, với tốc độ tăng trưởng 6,7%, tăng trưởng năm 2023 là 7% và Việt Nam tiếp tục có triển vọng tích cực trong trung hạn.

Trong bản Cập nhật kinh tế vĩ mô Việt Nam tháng 2, Ngân hàng Thế giới nhấn mạnh khởi đầu năm 2022, nền kinh tế Việt Nam có nhiều tín hiệu tích cực. Fitch Ratings là một trong những tổ chức có cái nhìn lạc quan nhất về kinh tế Việt Nam với dự báo kinh tế Việt Nam sẽ tăng trưởng 7,9% trong năm nay và 6,5% vào năm 2023.

Báo chí quốc tế trong thời gian gần đây đã có nhiều bài đánh giá tích cực triển vọng kinh tế Việt Nam nhờ chính sách ứng phó linh hoạt với Covid-19, hoạt động sản xuất, kinh tế đang ghi nhận sự phục hồi mạnh mẽ. Chuyên trang tư vấn đầu tư ở châu Á Vietnam Briefing của công ty Dezan Shira nhận định, các Hiệp định thương mại tự do (FTA) mới mà Việt Nam tham gia sẽ đóng vai trò quan trọng trong hỗ trợ tăng trưởng kinh tế khi Việt Nam mở cửa biên giới, tăng tốc phục hồi.

Các FTA không chỉ giúp phát triển kinh tế, mạng lưới sản xuất, mà còn góp phần nâng cao các tiêu chuẩn lao động. Tờ Reuters cũng có bài viết khẳng định: Nhờ các chính sách linh hoạt của Chính phủ Việt Nam, các hoạt động kinh doanh đã được khôi phục, đặc biệt là từ quý IV năm trước, nhờ đó, ngành dệt may Việt Nam đã hạn chế đáng kể sự gián đoạn chuỗi cung ứng, kỳ vọng tăng mạnh xuất khẩu trong năm nay.

Thực tiễn đã trả lời rõ ràng cho câu hỏi Đảng Cộng sản Việt Nam có nên lãnh đạo kinh tế hay không. Thực tiễn cũng đã khẳng định những luận điệu tuyên truyền “Đảng không nên lãnh đạo kinh tế" là xuyên tạc, kích động. Chúng ta cần cảnh giác và kiên quyết đấu tranh, bác bỏ quan điểm sai trái này./.

ST.

Sự phi lý của luận điệu “Không thể có độc lập, tự chủ trong hội nhập quốc tế ở Việt Nam”

Chính sách đối ngoại độc lập, tự chủ trong hội nhập quốc tế là chính sách nhất quán trong đường lối đối ngoại của Đảng và Nhà nước ta. Những thành tựu to lớn trong hội nhập quốc tế nói riêng, trong công cuộc đổi mới của Việt Nam nói chung chính là những luận cứ xác đáng, hữu hiệu để bác bỏ luận điệu “Không thể có độc lập, tự chủ trong hội nhập quốc tế ở Việt Nam”.

Sự phi lý của một luận điệu

Độc lập, tự chủ là ý chí sắt đá được hun đúc qua hàng nghìn năm dựng nước và giữ nước, trở thành giá trị cốt lõi thiêng liêng trong truyền thống quý báu của dân tộc ta. Chính vì thế, độc lập, tự chủ là vấn đề mang tính nguyên tắc, nhất quán trong hệ thống các quan điểm của Đảng ta, có tầm quan trọng đặc biệt và có ý nghĩa sống còn đối với sự nghiệp cách mạng Việt Nam.

Trong điều kiện của thế giới hiện nay, Đảng ta đã xác định hội nhập quốc tế là định hướng chiến lược lớn trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc; chủ động, tích cực hội nhập quốc tế là phương châm chỉ đạo và tổ chức thực hiện; chủ động, tích cực hội nhập quốc tế với giữ vững độc lập, tự chủ đất nước là một trong những mối quan hệ quan trọng đặc biệt cần giải quyết trong quá trình xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

Tuy nhiên, với bản chất thâm độc, các thế lực thù địch cho rằng, chính sách đối ngoại giữ vững độc lập, tự chủ trong hội nhập quốc tế của Đảng Cộng sản Việt Nam là hão huyền, phi thực tế. Chúng cho rằng "không thể có độc lập, tự chủ trong hội nhập quốc tế được"; "đã độc lập, tự chủ thì không thể hội nhập quốc tế và ngược lại, đã hội nhập quốc tế thì không thể có độc lập, tự chủ". Đồng thời, chúng còn cho rằng thể chế chính trị của Việt Nam là khác biệt, không phù hợp với chuẩn mực chung của quốc tế, với một đảng duy nhất cầm quyền càng không thể hội nhập quốc tế.

Toàn cầu hóa là tất yếu khách quan kéo theo quá trình cả thế giới theo dòng thời cuộc hội nhập quốc tế. Đó cũng là quá trình nước nào cũng phải tìm mọi cách thức để tự bảo vệ mình. Vậy nên hội nhập quốc tế là xu thế khách quan thì việc mỗi nước phải giữ được tố chất của mình cũng là một nhu cầu và nhiệm vụ tất yếu. Nhưng nếu xem xét một cách sâu xa hơn thì có thể thấy ngay được luận điệu “Không thể có độc lập tự chủ trong hội nhập quốc tế ở Việt Nam” thực chất là sự hằn học của thế lực thù địch. Chúng ta có đủ luận cứ về lý luận và chứng cứ về thực tiễn để bác bỏ hoàn toàn luận điệu phi lý này.

Sự phi lý của luận điệu “Không thể có độc lập, tự chủ trong hội nhập quốc tế ở Việt Nam”
 Ảnh minh họa: tapchicongsan

Hiệu quả hội nhập quốc tế hiện diện trên mọi mặt đời sống xã hội

Sau hơn 30 năm thực hiện “Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội”, từ nhận thức lý luận và hoạt động thực tiễn, Đảng ta đã xác nhận nhiều mối quan hệ đan xen nhau rất phức tạp đòi hỏi phải xử lý đúng đắn, hiệu quả, trong đó có mối quan hệ “giữa độc lập tự chủ và chủ động, tích cực hội nhập quốc tế”.

Trong Nghị quyết số 22-NQ/TW của Bộ Chính trị về hội nhập quốc tế, Đảng ta đã chỉ rõ mục tiêu của hội nhập quốc tế là: “Củng cố môi trường hòa bình, tranh thủ tối đa các điều kiện quốc tế thuận lợi để phát triển đất nước nhanh và bền vững, nâng cao đời sống nhân dân; giữ vững độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Quảng bá hình ảnh Việt Nam, bảo toàn và phát huy bản sắc dân tộc, tăng cường sức mạnh tổng hợp quốc gia, nâng cao vị thế, uy tín quốc tế của đất nước; góp phần tích cực vào sự nghiệp hòa bình, độc lập, dân chủ và tiến bộ xã hội trên thế giới”.

Quan điểm và chủ trương của Đảng nêu bật việc chủ động, tích cực hội nhập quốc tế sẽ tạo ra cơ hội, tiền đề để giữ độc lập, tự chủ trên mọi mặt đời sống xã hội, từ chính trị, kinh tế, văn hóa, đến quốc phòng, an ninh, đối ngoại. Quán triệt và xử lý mối quan hệ giữa độc lập, tự chủ và chủ động, tích cực hội nhập quốc tế trong công tác đối ngoại, những năm qua, chúng ta đã thu được những thành quả khả quan.

Trong lĩnh vực chính trị. Chúng ta đã đẩy mạnh và làm sâu sắc hơn quan hệ với các đối tác, nhất là các đối tác quan trọng đối với sự phát triển của đất nước, đưa khuôn khổ quan hệ đã xác lập vào thực chất: Chủ động tham gia phát huy vai trò tại các cơ chế đa phương, đặc biệt là ASEAN và Liên hợp quốc. Hội nhập quốc tế về chính trị được thực hiện tương đối nhanh, sâu rộng và thực chất cả trong kênh song phương và đa phương. Hội nhập song phương tạo tiền đề để Việt Nam phát huy vai trò trên diễn đàn đa phương, qua đó tạo thuận lợi cho quá trình hội nhập quốc tế sâu rộng hơn.

Hội nhập khu vực và hội nhập toàn cầu đã góp phần cải thiện đáng kể tiềm lực trong nước, nâng cao vị thế địa chiến lược của Việt Nam tại khu vực Đông Nam Á, Đông Á, châu Á-Thái Bình Dương và trên phạm vi toàn cầu. Từ một quốc gia hội nhập sau, Việt Nam đã trở thành nhân tố tích cực tham gia tiến trình hội nhập khu vực, chủ động đề xuất những sáng kiến, thúc đẩy các liên kết. Việt Nam cũng tích cực hội nhập sâu rộng vào trật tự kinh tế, chính trị toàn cầu, trở thành thành viên có trách nhiệm và uy tín trên cộng đồng quốc tế.

Trong lĩnh vực kinh tế. Chúng ta đã xúc tiến mạnh thương mại và đầu tư quốc tế, mở rộng thị trường, khai thác hiệu quả các cơ chế hợp tác quốc tế, các nguồn lực về vốn, khoa học-công nghệ, trình độ quản lý tiên tiến; khai thác hiệu quả các thỏa thuận được ký kết, đặc biệt là các khu vực mậu dịch tự do song phương và đa phương.

Ngoài ra, nước ta còn nhận được vốn ODA từ hơn 600 tổ chức phi chính phủ quốc tế. Thành công của hội nhập kinh tế quốc tế góp phần tăng cường nguồn lực, tạo điều kiện vật chất-kỹ thuật thuận lợi cho việc bảo vệ độc lập, tự chủ của đất nước, tạo nền tảng để hội nhập về chính trị và hội nhập các lĩnh vực khác. Kinh tế đất nước phát triển, sức mạnh tổng hợp của đất nước tăng lên là nhân tố quan trọng để giữ vững độc lập, tự chủ của đất nước.

Trong lĩnh vực văn hóa-xã hội. Đến nay, Việt Nam đã ký hơn 100 thỏa thuận, điều ước quốc tế song phương có nội dung văn hóa. Hội nhập văn hóa xã hội đi vào chiều sâu đã thu hút bạn bè quốc tế đến với Việt Nam ngày càng nhiều hơn.

Từ thành công của hội nhập trong lĩnh vực này đưa tới việc hình thành nhiều dự án, nhiều công trình văn hóa ngay tại Việt Nam với quy mô ngày càng được mở rộng, tạo điều kiện để nhân dân ta có cơ hội tiếp cận và thưởng thức những giá trị văn hóa tiêu biểu của nhiều quốc gia trên thế giới, từ đó thúc đẩy tiềm năng sáng tạo của nhân dân và khuyến khích giao lưu với cộng đồng quốc tế. Nguồn lực và động lực về văn hóa-xã hội được tăng cường sẽ là yếu tố quan trọng để chúng ta giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc Việt Nam, để ánh sáng văn hóa Việt Nam là ngôi sao lấp lánh trên bầu trời văn hóa các dân tộc trên thế giới.

Trong lĩnh vực quốc phòng, an ninh. Hội nhập trên lĩnh vực quốc phòng, an ninh là một trong những nhiệm vụ quan trọng để phục vụ và hỗ trợ cho chính sách chủ động, tích cực hội nhập quốc tế toàn diện của Đảng và Nhà nước ta, vừa phục vụ cho sự nghiệp phát triển của đất nước, vừa bảo vệ độc lập, tự chủ, chủ quyền quốc gia trong bối cảnh môi trường quốc phòng, an ninh trên thế giới và khu vực có những diễn biến phức tạp. Việt Nam đã từng bước mở rộng hợp tác quốc phòng, an ninh với các nước lớn và các nước trong khu vực, đã có quan hệ quốc phòng chính thức với gần 70 nước, đặt văn phòng tùy viên quân sự tại hơn 30 nước và có hơn 40 nước có văn phòng tùy viên quân sự tại Việt Nam. Việt Nam cũng đã tham gia tích cực vào các diễn đàn an ninh, quốc phòng khu vực và từng bước tham gia vào những hoạt động hợp tác quốc tế về an ninh, quân sự toàn cầu.

Tiếp tục kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại

Tình hình thế giới ngày càng có những biến động phức tạp, nhanh chóng, khó lường, trong khi hội nhập là quá trình vừa hợp tác, vừa đấu tranh dẫn tới những thách thức to lớn trong quá trình bảo vệ độc lập, tự chủ, bảo đảm lợi ích quốc gia, dân tộc. Trước những vấn đề mới đặt ra, Đảng ta đã xác định rõ những nguyên tắc, phương châm, mục tiêu, nhiệm vụ và phương hướng lớn cho quá trình hội nhập quốc tế.

Để bảo vệ, giữ vững độc lập, tự chủ trong quá trình hội nhập quốc tế, trước hết cần xác định rõ và luôn kiên định lợi ích quốc gia là mục tiêu cao nhất trong quá trình hội nhập quốc tế. Tăng cường sức mạnh tổng hợp quốc gia về chính trị-đối ngoại, kinh tế, văn hóa-xã hội, quốc phòng, an ninh. Nâng cao sức mạnh tổng hợp quốc gia là yếu tố quyết định thành công của quá trình hội nhập quốc tế.

Đó là sức mạnh được tạo nên từ sự lãnh đạo sáng suốt của Đảng, hiệu lực quản lý của Nhà nước, của khối đoàn kết toàn dân tộc và của văn hóa, con người Việt Nam; sức mạnh của nền quốc phòng toàn dân, thế trận quốc phòng toàn dân gắn với nền an ninh nhân dân và thế trận an ninh nhân dân vững chắc.

Trong bối cảnh quốc tế hiện nay, cần chủ động phát hiện, ngăn chặn “từ sớm, từ xa” các nguy cơ đối với đời sống chính trị, kinh tế, văn hóa-xã hội, quốc phòng, an ninh của đất nước. Phòng, chống một cách chủ động mọi âm mưu, hoạt động lợi dụng hội nhập quốc tế để chuyển hóa nội bộ; phát hiện ngăn chặn kịp thời các đối tác nước ngoài lợi dụng các kẽ hở về luật pháp và sơ hở, yếu kém của ta để gây sức ép, trốn thuế, thao túng thị trường trong nước; đấu tranh với các loại tội phạm có tổ chức xuyên quốc gia như rửa tiền, buôn lậu, sản xuất và tiêu dùng hàng giả, gian lận thương mại, tín dụng đen, tội phạm sử dụng công nghệ cao.

Tăng cường quản lý hoạt động trên mạng xã hội và internet, có biện pháp ngăn chặn các thế lực thù địch xâm nhập vào những mạng nội bộ gây thiệt hại về kinh tế, phá hoại tư tưởng. Ngăn chặn việc nhập các ấn phẩm văn hóa độc hại từ bên ngoài để bảo đảm an ninh văn hóa.

Cùng với đó, cần nâng cao năng lực dự báo tình hình quốc tế, khu vực phục vụ đắc lực yêu cầu bảo vệ an ninh quốc gia, giữ vững độc lập, tự chủ trong hội nhập quốc tế. Đổi mới tư duy, nghiên cứu có chiều sâu, nhạy bén bám sát tình hình để có những dự báo xác đáng. Tập trung nghiên cứu những biến động mới của tình hình thế giới, khu vực, những điều chỉnh chiến lược và chính sách của các nước lớn, những mối quan hệ giữa các nước lớn. Nghiên cứu đánh giá và xác định đúng đắn quan hệ đối tác, đối tượng trong từng tình huống cụ thể để có những ứng phó phù hợp, hiệu quả.

Giải pháp có ý nghĩa căn cơ là tăng cường sự lãnh đạo trực tiếp, tuyệt đối về mọi mặt của Đảng, nâng cao hiệu quả quản lý của Nhà nước, phát huy vai trò của các tổ chức chính trị-xã hội và phát huy quyền làm chủ của nhân dân đối với sự nghiệp bảo vệ an ninh quốc gia, giữ vững độc lập, tự chủ trong quá trình hội nhập quốc tế. Đảng ta đã xác định nâng cao bản lĩnh chính trị và trí tuệ của Đảng, kiên định Chủ nghĩa Mác-Lênintư tưởng Hồ Chí Minh, mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, vận dụng và phát triển sáng tạo trong thực tiễn hoạt động của Đảng.

Có thể khẳng định rằng, chính sách đối ngoại độc lập, tự chủ trong hội nhập quốc tế là chính sách nhất quán trong đường lối đối ngoại của Đảng và Nhà nước ta, nhằm góp phần hiện thực hóa phương châm kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc hiện nay.

Trong những năm đổi mới vừa qua, chúng ta đã thể hiện nhất quán và từng bước cụ thể hóa nội dung của chính sách đối ngoại độc lập, tự chủ trong hội nhập quốc tế cho từng giai đoạn, phù hợp với bối cảnh tình hình thế giới và khu vực. Những thành tựu to lớn trong hội nhập quốc tế nói riêng, trong công cuộc đổi mới của Việt Nam nói chung chính là những luận cứ, bằng chứng xác đáng nhất để bác bỏ những luận điệu sai trái, thù địch về vấn đề này./.

ST.