Chủ Nhật, 12 tháng 5, 2024

Quan điểm của chủ nghĩa Mác-Lênin và Đảng Cộng sản Việt Nam về vị trí, vai trò của trí thức

Chủ nghĩa Mác-Lênin và Đảng Cộng sản Việt Nam luôn luôn quan tâm tới đội ngũ trí thức và đánh giá cao vị trí, vai trò của trí thức trong đời sống xã hội nói chung, trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc chủ nghĩa xã hội nói riêng.

Ảnh minh họa

Ảnh minh họa

Các nhà sáng lập chủ nghĩa Mác-Lênin đã phát hiện ra rằng trí thức ra đời gắn liền với sự phân công lao động xã hội và cụ thể là sự tách lao động sản xuất tinh thần ra khỏi lao động vật chất. Các ông viết: “Phân công lao động chỉ trở thành sự phân công lao động thực sự từ khi xuất hiện sự phân chia thành lao động vật chất và lao động tinh thần” và “ăn khớp với điều đó là hình thức đầu tiên của những nhà tư tưởng, tức là cha cố”. Như vậy, trí thức là những người lao động trí óc trong lĩnh vực sản xuất tinh thần. C.Mác và Ph.Ăngghen cũng chỉ ra rằng trong mỗi thời đại lịch sử khác nhau, vai trò của trí thức cũng khác nhau. Trí thức có vị trí, vai trò to lớn đối với sự phát triển xã hội. Song vai trò của họ được phát huy đến mức độ nào, phát huy vì mục tiêu gì thì lại bị chi phối bởi các điều kiện khách quan, chủ quan của mỗi giai đoạn lịch sử cụ thể. Trong chủ nghĩa tư bản, trí thức được các nhà tư bản sử dụng vì mục tiêu làm giàu của chính các nhà tư bản, bóc lột lao động của người lao động: “Bác sĩ, luật gia, tu sĩ, thi sĩ, bác học đều bị giai cấp tư sản biến thành những người làm thuê được trả lương của nó”.

Trong quá trình đấu tranh của giai cấp vô sản, một mặt được giai cấp vô sản giác ngộ, mặt khác bản thân nhiều trí thức đã tự giác ngộ giai cấp ra nhập vào đội ngũ những người vô sản. “Đó là bộ phận những nhà tư tưởng tư sản đã vươn lên nhận thức được, về mặt lý luận, toàn bộ quá trình vận động lịch sử”. C.Mác, Ph.Ăngghen cũng chỉ rõ chỉ có giai cấp công nhân mới là giai cấp có thể giải phóng trí thức khỏi mọi sự áp bức, bóc lột, tạo ra những điều kiện cần thiết cho hoạt động sáng tạo của trí thức đạt hiệu quả. C.Mác viết: “Chỉ có giai cấp công nhân mới có thể giải phóng họ khỏi sự bạo ngược của những linh mục, làm cho khoa học không còn là một công cụ chính trị giai cấp mà là một sức mạnh của nhân dân, làm cho bản thân những nhà bác học không còn là những tòng phạm của những thành kiến giai cấp, là những kẻ ăn bám nhà nước săn đuổi địa vị béo bở và là những kẻ đồng minh của tư bản, mà là những tác nhân tự do của tư duy! Khoa học chỉ có thể đóng vai chân chính của nó trong nền cộng hòa của lao động”. Khi trí thức của xã hội cũ được giác ngộ ý thức giai cấp của giai cấp công nhân, đi theo và thấm nhuần thế giới quan của giai cấp công nhân thì họ sẽ trở thành “giai cấp vô sản lao động trí óc”- trí thức mới của giai cấp công nhân.

Khi cách mạng xã hội chủ nghĩa thành công, cũng như các giai cấp lao động khác, trí thức cũng được giải phóng và trở thành những chủ thể mới cùng tham gia xây dựng xã hội xã hội chủ nghĩa. Trong chủ nghĩa xã hội, vai trò của trí thức càng trở nên quan trọng. Nói về điều này, Ph.Ăngghen viết: “Các cuộc cách mạng tư sản trước đây  đòi hỏi các trường đại học chỉ đào tạo ra các trạng sư làm nguyên liệu tốt nhất để hình thành nên những nhà hoạt động chính trị của chúng; ngoài đòi hỏi đó, sự nghiệp giải phóng giai cấp công nhân còn cần phải có những bác sĩ, kỹ sư, nhà hóa học, nông học và các chuyên gia khác, vì vấn đề là phải nắm lấy việc quản lý không phải chỉ bộ máy chính trị, mà còn cả toàn bộ nền sản xuất xã hội nữa, và ở đây cần đến những kiến thức vững chắc chứ không phải là những câu xuông xáo oang oang”.

Sau này, V.I. Lênin đã có những luận điểm bổ sung quan trọng về trí thức. Ông cho rằng trí thức là một “tầng lớp đặc biệt”. bởi lẽ, trí thức không phải là một giai cấp độc lập bởi vì họ không có quan hệ sở hữu riêng và trực tiếp đối với tư liệu sản xuất. Hơn nữa, trong xã hội có đối kháng giai cấp, trí thức luôn mang tính chất trung gian. Họ sẽ nghiêng về giai cấp nào mà đáp ứng lợi ích thiết thân cho họ. V.I.Lênin đã viết: “Tầng lớp này chiếm một địa vị độc đáo trong các giai cấp khác, một phần thì họ gắn với giai cấp tư sản xét về những mối liên hệ của họ, những quan điểm của họ… và một phần thì họ gần với những người lao động làm thuê”. Tất nhiên, tính trung gian, đặc biệt ở đây không phải là họ là lực lượng “siêu giai cấp”, “đứng trên mọi giai cấp” như các nhà tư tưởng tư sản thường khẳng định. Trong một thể chế chính trị-xã hội nhất định, trí thức luôn thuộc về giai cấp thống trị do hệ thống giáo dục của nhà nước, của thể chế chính trị ấy tạo ra. Chính vì vậy, trí thức dù tự giác hay không đều phục vụ cho chế độ thống trị và giai cấp thống trị. Bởi lẽ, “Nếu không nhập cục với một giai cấp thì giới trí thức chỉ là một con số không mà thôi”. Nhưng trong một chế độ áp bức, bóc lột trí thức không thể không nhập cục với giai cấp thống trị.

Một đặc điểm rất đáng lưu ý theo V.I.Lênin lao động của trí thức mang tính độc lập cao và đậm dấu ấn cá nhân. V.I.Lênin viết: “so với giai cấp vô sản thì giới trí thức bao giờ cũng có nhiều tính chất cá nhân chủ nghĩa hơn, ấy là do những điều kiện cơ bản của đời sống và công tác của họ không cho phép họ thống nhất lực lượng một cách trực tiếp và rộng rãi, không cho họ được giáo dục trực tiếp trong lao động tập thể có tổ chức”. Chính đặc điểm này của trí thức dễ làm cho họ thờ ơ với chính trị. Không phải ngẫu nhiên mà V.I.Lênin viết: “Người trí thức cấp tiến, người trí thức xã hội chủ nghĩa rất dễ biến thành quan lại của chính phủ nhà vua, thành một anh quan lại tự an ủi rằng ở trong nếp cũ quan trường, mình cũng “có ích” và viện “sự có ích” đó để bào chữa cho thái độ lãnh đạm của mình đối với chính trị”.

V.I.Lênin đánh giá vai trò to lớn của trí thức đối với quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội. Cũng giống như C.Mác và Ph.Ăngghen, V.I.Lênin khẳng định trí thức đóng một vai trò hết sức to lớn đối với phát triển xã hội. Khi xây dựng chủ nghĩa xã hội thì vai trò của trí thức càng được khẳng định. V.I.Lênin viết: “Không có sự chỉ đạo của các chuyên gia am hiểu các lĩnh vực khoa học, kỹ thuật và có kinh nghiệm thì không thể nào chuyển lên chủ nghĩa xã hội được”. Bởi lẽ, cách mạng xã hội chủ nghĩa là một cuộc cách mạng làm thay đổi sâu sắc mọi lĩnh vực của đời sống xã hội. Do vậy, muốn xây dựng chủ nghĩa xã hội thành công đòi hỏi phải dựa trên cơ sở một nền giáo dục và đào tạo, khoa học và kỹ thuật (công nghệ) hiện đại với một phương thức quản lý khoa học. Như vậy, vai trò của trí thức trong xây dựng chủ nghĩa xã hội là tất yếu khách quan.

V.I.Lênin cũng cho rằng để xây dựng chủ nghĩa xã hội, Đảng của giai cấp công nhân nhất thiết phải “phải nhờ đến sự giúp đỡ của các chuyên gia tư sản” và đào tạo trí thức của mình; thậm chí khi cần thiết phải “trả tiền công cao cho những chuyên gia giỏi nhất trong mỗi lĩnh vực” vì đó là một khoản học phí cần thiết để giai cấp công nhân có thể học những kinh nghiệm tổ chức, quản lý quá trình sản xuất từ các chuyên gia tư sản.

Đồng thời, Đảng của giai cấp công nhân phải biết “tạo ra tầng lớp trí thức riêng của mình”. V.I.Lênin cũng lưu ý rằng việc đào tạo đội ngũ trí thức mới không phải là một nhiệm dễ dàng, giai cấp công nhân sẽ “gặp muôn vàn khó khăn trong việc đào tạo đội ngũ trí thức của mình”. Để phát huy và sử dụng hiệu quả trí thức của chế độ cũ cũng như trí thức của mình, giai cấp công nhân phải “hết sức bớt ra mệnh lệnh… mà đối xử với các chuyên gia khoa học kỹ thuật… một cách thận trọng và khéo léo”. V.I.Lênin cũng căn dặn Đảng của giai cấp công nhân cần phải tìm cho mình ngày càng nhiều chuyên gia, trí thức, và biết tạo điều kiện cho họ làm việc, phát huy sức sáng tạo.

Hồ Chí Minh trên cơ sở kế thừa những tư tưởng của chủ nghĩa Mác-Lênin đã nhận thức rất rõ vị trí, vai trò của trí thức trong xã hội chủ nghĩa. Đặc biệt, trong tác phẩm "Sửa đổi lối làm việc", Người đã đưa ra định nghĩa: "Trí thức là hiểu biết. Trong thế giới chỉ có hai thứ hiểu biết: một là hiểu biết sự tranh đấu sinh sản. Khoa học tự nhiên do đó mà ra. Hai là hiểu biết tranh đấu dân tộc và tranh đấu xã hội. Khoa học xã hội do đó mà ra. Ngoài hai cái đó không có trí thức nào khác”. Trên cơ sở đó, Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định vai trò quan trọng của trí thức đối với cách mạng Việt Nam. Người coi “Trí thức là vốn liếng quý báu của dân tộc”; là “một phần tương lai của dân tộc”“có đầu óc dân tộc và đầu óc cách mạng”, “có học thức, dễ có cảm giác chính trị,… dễ tiếp thu sự giáo dục cách mạng và cùng đi với công nông”. Do vậy, Đảng là phải có biện pháp lôi kéo trí thức đi theo và ủng hộ để tăng sức mạnh cho mình. Người căn dặn: “Đảng phải hết sức liên lạc với tiểu tư sản, trí thức, thanh niên, Tân Việt,.. để kéo họ đi vào phe vô sản giai cấp”.

Vai trò to lớn của trí thức được thể hiện cả trong cách mạng giải phóng dân tộc, cả trong cách mạng xây dựng chủ nghĩa xã hội. Người xác định: "Lao động trí óc có nhiệm vụ rất quan trọng trong sự nghiệp kháng chiến, kiến quốc, trong công cuộc hoàn thành dân chủ mới để tiến lên chủ nghĩa xã hội". Trí thức trong cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân, có vai trò tuyên truyền, giáo dục, thuyết phục quần chúng những tư tưởng cách mạng, đấu tranh chống lại những luận điệu sai trái, thù địch.

Trong cách mạng xã hội chủ nghĩa, “Trí thức phục vụ nhân dân bây giờ cũng cần, kháng chiến kiến quốc cũng cần, tiến lên xã hội chủ nghĩa càng cần, tiến lên cộng sản chủ nghĩa lại càng cần”. Hồ Chủ tịch nhấn mạnh: “muốn phát triển văn hoá thì phải cần thầy giáo, muốn phát triển sức khoẻ của nhân dân thì phải cần thầy thuốc, muốn phát triển kỹ nghệ thì phảicần các kỹ sư”. Như vậy, vai trò của trí thức vô cùng to lớn trong cách mạng Việt Nam. Tất nhiên, đây là vai trò của những trí thức chân chính, một lòng, một dạ phục vụ Tổ quốc, phục vụ nhân dân.

Người trí thức chân chính theo Hồ Chí Minh phải là người trí thức hoàn toàn, nghĩa là phải biết vận dụng tri thức của mình phục vụ cuộc sống, phục vụ nhân dân, phục vụ cách mạng. Người viết: “Một người học xong đại học, có thể gọi là trí thức. Song y không biết cày ruộng, không biết làm công, không biết đánh giặc, không biết làm nhiều việc khác. Nói tóm lại: công việc thực tế, y không biết gì cả. Thế là y chỉ có trí thức một nửa. Trí thức của y là trí thức học sách, chưa phải trí thức hoàn toàn. Y muốn thành một người trí thức toàn toàn, thì phải biết đem trí thức đó áp dụng vào thực tế". Cho nên điều quan trọng là phải biết vận dụng ri thức vào cuộc sống, vào phục vụ Tổ quốc, phục vụ nhân dân.

Những tư tưởng này của Hồ Chí Minh làm cơ sở nền tảng cho Đảng ta nhận thức, đánh giá về vị trí, vai trò của trí thức.Tại Hội nghị lần thứ bảy Ban Chấp hành Trung ương khóa X về "Xây dựng đội ngũ trí thức thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước", Đảng Cộng sản Việt Nam đã đưa ra quan niệm về trí thức: "Trí thức là những người lao động trí óc, có trình độ học vấn cao về lĩnh vực chuyên môn nhất định, có năng lực tư duy độc lập, sáng tạo, truyền bá và làm giàu tri thức, tạo ra những sản phẩm tinh thần và vật chất có giá trị đối với xã hội". Từ quan niệm về trí thức như vậy, nên Đảng ta đánh giá cao vị trí, vai trò của đội ngũ trí thức. Vị trí, vai trò của trí thức nước nhà được thể hiện cụ thể trên các lĩnh vực sau:

Một là, cùng với sự phát triển của đất nước, đội ngũ trí thức đã tăng nhanh về số lượng, nâng lên về chất lượng; góp phần trực tiếp cùng toàn dân đưa nước ta ra khỏi khủng hoảng kinh tế - xã hội, từng bước xoá đói, giảm nghèo, phát triển đất nước, nâng cao chất lượng cuộc sống. Hiện nay, cơ cấu lao động theo trình độ được đào tạo đã có sự tăng cao. Tỷ lệ lao động có trình độ đại học, cao đẳng cũng tăng nhanh. Tỷ trọng lao động được đào tạo từ đại học trở lên trong những ngành dịch vụ cao hơn so với ngành sản xuất. Đội ngũ trí thức là nguồn nhân lực chất lượng cao đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế tri thức, kinh tế số, kinh tế xanh của đất nước. Đội ngũ trí thức Việt Nam còn là một thành tố thống nhất hữu cơ không thể tách rời trong khối liên minh công – nông – trí ở Việt Nam. Do vậy, đội ngũ trí thức Việt Nam không chỉ được Đảng Cộng sản Việt Nam đánh giá cao về phát triển kinh tế mà còn đánh giá cao về xây dựng, phát triển xã hội, thực hiện đại đoàn kết toàn dân tộc.

Hai là, đội ngũ trí thức đã đóng góp tích cực vào xây dựng những luận cứ khoa học cho việc hoạch định đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước, góp phần làm sáng tỏ con đường phát triển của đất nước và giải đáp những vấn đề mới phát sinh trong sự nghiệp đổi mới; trực tiếp đào tạo nguồn nhân lực, nâng cao dân trí và bồi dưỡng nhân tài; sáng tạo những công trình có giá trị về tư tưởng và nghệ thuật, nhiều sản phẩm chất lượng cao, có sức cạnh tranh; từng bước nâng cao trình độ khoa học và công nghệ của đất nước, vươn lên tiếp cận với trình độ của khu vực và thế giới. Đội ngũ trí thức Việt Nam cũng là một trong những lực lượng nòng cốt trong bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch. Đồng thời, chính họ là những người tham gia trực tiếp vào xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại rồi chuyển tải vào văn hóa Việt Nam. Họ là những người trực tiếp góp phần xây dựng đời sống văn hóa tinh thần nh mạnh cho nhân dân.

Ba là, bộ phận trí thức tham gia công tác lãnh đạo, quản lý đã phát huy tốt vai trò và khả năng, góp phần nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động của hệ thống chính trị, nâng cao năng lực lãnh đạo của Đảng, trình độ quản lý của Nhà nước. Chính đội ngũ trí thức Việt Nam trực tiếp góp phần vào xây dựng phong cách lãnh đạo khoa học, dân chủ, nhân văn.

Bốn là, đội ngũ trí thức trong lĩnh vực quốc phòng, an ninh là lực lượng nòng cốt xây dựng lực lượng vũ trang cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại. Chnhs họ là những người góp phần tổng kết, rút ra những bài học nghệ thuật quân sự giá trị của ông, cha để lưu truyền và gìn giữ cho các thế hệ ngày mai. Họ cũng là những người góp phần hình thành nên đường lối quân sự Việt Nam.

Năm là, nhiều trí thức trẻ thể hiện tính năng động, sáng tạo, thích ứng nhanh với kinh tế thị trường và hội nhập kinh tế quốc tế. Đa số trí thức Việt Nam ở nước ngoài luôn hướng về Tổ quốc; nhiều người đã về nước làm việc, hoạt động trong các lĩnh vực khác nhau, có những đóng góp thiết thực vào sự nghiệp phát triển đất nước.

Trên cơ sở quan niệm về vị trí, vai trò của đội ngũ trí thức Việt Nam như trên, Đại hội XIII của Đảng đề ra nhiệm vụ “Xây dựng đội ngũ trí thức ngày càng lớn mạnh, có chất lượng cao, đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong tình hình mới”. Để thực hiện được nhiệm vụ này, Đại hội XIII yêu cầu “Có cơ chế phát huy dân chủ, tự do sáng tạo và đề cao đạo đức, trách nhiệm trong nghiên cứu khoa học. Ưu tiên đầu tư phát triển hạ tầng, môi trường làm việc, nghiên cứu, đổi mới, sáng tạo của trí thức. Trọng dụng, đãi ngộ thỏa đáng đối với nhân tài, các nhà khoa học và công nghệ Việt Nam có trình độ chuyên môn cao ở trong nước và nước ngoài, […]. Thật sự tôn trọng, tạo điều kiện nâng cao hiệu quả hoạt động tư vấn, phản biện của chuyên gia, đội ngũ trí thức”. Những quan điểm này hoàn toàn đúng đắn. Quán triệt tốt chúng ta sẽ từng bước xây dựng được đội ngũ trí thức ngày càng lớn mạnh, có chất lượng cao, đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong tình hình mới.

Tóm lại, chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và Đảng Cộng sản Việt Nam luôn đánh giá cao vị trí, vai trò của trí thức trong công cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc cũng  như trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa. Do vậy, trong quá trình lãnh đạo cách mạng, Đảng và Nhà nước cần có cơ chế, chính sách phù hợp để lôi cuốn, thu hút và phát huy vai trò của trí thức./.

ST.

Vai trò của phương tiện công tác tư tưởng trong đấu tranh ngăn chặn quan điểm sai trái, thù địch

Trong công tác tư tưởng, phương tiện giữ vị trí, vai trò đặc biệt quan trọng. Nó không trừu tượng như các yếu tố khác cấu thành nên công tác tư tưởng, mà thường được biểu hiện dưới các dạng vật chất cụ thể trở thành cầu nối để chủ thể và đối tượng chuyển tải và tiếp thu nội dung của công tác tư tưởng. 

Đẩy mạnh công tác tuyên truyền rộng rãi trong cán bộ, chiến sĩ, nhân dân, nhất là trong giới trẻ về lịch sử dân tộc, lịch sử cách mạng và lịch sử Đảng, từ đó hình thành nhân sinh quan cách mạng, nâng cao bản lĩnh chính trị, năng lực phân biệt đúng  - sai, khả năng miễn nhiễm trước các thông tin xấu, độc _Ảnh: Tư liệu

Đẩy mạnh công tác tuyên truyền rộng rãi trong cán bộ, chiến sĩ, nhân dân, nhất là trong giới trẻ về lịch sử dân tộc, lịch sử cách mạng và lịch sử Đảng, từ đó hình thành nhân sinh quan cách mạng, nâng cao bản lĩnh chính trị, năng lực phân biệt đúng  - sai, khả năng miễn nhiễm trước các thông tin xấu, độc _Ảnh: Tư liệu

Trong đấu tranh ngăn chặn quan điểm sai trái, thù địch, các phương tiện công tác tư tưởng giữ một số vai trò chủ đạo sau đây:

Thứ nhất, nhận diện, phát hiện các quan điểm sai trái, thù địch.

Trong đấu tranh ngăn chặn quan điểm sai trái, thù địch (QĐSTTĐ), các phương tiện công tác tư tưởng (PTCTTT) có vai trò đặc biệt quan trọng trong việc phát hiện và nhận diện các QĐSTTĐ. Dưới sự lãnh đạo của Đảng mà trực tiếp là Bộ Chính trị, Ban Bí thư, Ban Chấp hành Trung ương và cấp ủy các cấp, trong đó nòng cốt là Ban Tuyên giáo, Ban Chỉ đạo 35 các cấp, các PTCTTT thực hiện chuyển tải những nội dung quan trọng về đặc điểm nhận diện QĐSTTĐ một cách toàn diện, trên mọi mặt của đời sống xã hội. Trên cơ sở đó, mỗi cán bộ, đảng viên và quần chúng nhân dân, tùy vào tình hình thực tiễn tại địa phương, cơ sở, cơ quan, đơn vị để tích cực phát hiện mầm mống của những QĐSTTĐ để kịp thời đấu tranh và phản ánh đến các cấp ủy có thẩm quyền.

Các PTCTTT là lực lượng vật chất trực tiếp tác động đến đông đảo các tầng lớp nhân dân trong xã hội, cung cấp những nội dung tư tưởng sâu sắc mang tính định hướng và tính chiến đấu cao. Những nội dung này sẽ được cấp ủy các cấp cụ thể hóa trong bối cảnh cụ thể của từng địa phương, cơ sở, cơ quan, đơn vị để đưa ra những cảnh báo đến mỗi cán bộ, đảng viên và quần chúng nhân dân. Từ đó thúc đẩy nhận thức, thái độ và hành động kiên quyết trong đấu tranh với các QĐSTTĐ.

Ở chiều ngược lại, các PTCTTT giống như một hệ thống “cảm biến thông minh”, sẵn sàng tiếp nhận mọi thông tin dù là nhỏ nhất về những vấn đề tư tưởng nảy sinh trong cán bộ, đảng viên và quần chúng nhân dân và đưa về trung tâm xử lý, mà trực tiếp là cấp ủy, Ban Tuyên giáo, Ban Chỉ đạo 35 các cấp. Các thế lực thù địch, phản động, các phần tử cơ hội chính trị, thoái hóa, biến chất, bất mãn luôn sẵn sàng có mặt ở mọi nơi, rình rập, bám sát và bằng mọi phương thức, thủ đoạn hòng vẽ ra con đường và dồn dập tấn công nền tảng tư tưởng của Đảng. Nếu không có “thế trận lòng dân”, không có các PTCTTT thường xuyên, liên tục tiếp nhận và phản ánh những biến động trong đời sống xã hội thì chắc chắn chúng ta khó tránh khỏi bị động, bất ngờ. Vì thế các PTCTTT còn có vai trò quan trọng trong việc nhanh chóng phát hiện mầm mống những QĐSTTĐ từ khi chúng mới manh nha hình thành.

Thứ hai, phân tích, dự báo xu hướng hình thành và phát triển của các quan điểm sai trái, thù địch.

Dữ liệu thu thập được từ quá trình hoạt động của các PTCTTT có vai trò rất quan trọng cho việc phân tích và dự báo các QĐSTTĐ. Chúng ta đều biết, những vấn đề nảy sinh trong đời sống xã hội là không kể xiết và bất kỳ sự việc, hiện tượng nào cũng có thể trở thành ngòi nổ cho các thế lực thù địch, phản động gieo rắc những QĐSTTĐ. Trong khi đó lực lượng của chúng ta thì không phải vô hạn. Do đó, ngoài vai trò tiến công, các PTCTTT còn phải tham gia phòng thủ, tức là đảm nhiệm vai trò phân tích và dự báo xu hướng hình thành và phát triển của các QĐSTTĐ.

Về mặt lý thuyết, PTCTTT được bố trí ở khắp mọi nơi, đó có thể cán bộ, đảng viên, quần chúng nhân dân với hoạt động tuyên truyền miệng; đó cũng có thể là các báo điện tử, tạp chí điện tử, fanpage, các tài khoản mạng xã hội... Ngoài việc truyền tải những nội dung tư tưởng của chủ thể công tác tư tưởng đến với đối tượng, các PTCTTT còn có thể tiếp nhận những thông tin phản hồi từ đối tượng truyền về chủ thể. Trong bối cảnh Cách mạng công nghiệp lần thứ tư đang diễn ra mạnh mẽ, các phương tiện cũng có những bước chuyển lớn trong ứng dụng công nghệ mới, tính năng tương tác hai chiều ngày càng phát triển.

Cũng như trong phát hiện và nhận diện, vai trò của các PTCTTT trong phân tích và dự báo xu hướng hình thành và phát triển của các QĐSTTĐ bao gồm hai giai đoạn có quan hệ mật thiết với nhau: Thứ nhất, giai đoạn các QĐSTTĐ cụ thể chưa nảy sinh. Thứ hai, giai đoạn các QĐSTTĐ hình thành và phát triển.

Trong giai đoạn thứ nhất, các PTCTTT vừa cung cấp thông tin về đời sống xã hội một cách nhanh chóng, kịp thời, khách quan, toàn diện và sâu sắc; vừa có nhiệm vụ phân tích làm rõ những khía cạnh mà các thế lực thù địch, phản động có thể lợi dụng để bóp méo, xuyên tạc, thổi phồng hòng lôi kéo cán bộ, đảng viên và quần chúng nhân dân về phía đối lập với Đảng, Nhà nước. Trên cơ sở đó, với từng bối cảnh cụ thể, các PTCTTT phải đưa ra được những dự báo, dự đoán về sự việc, hiện tượng dễ nảy sinh các QĐSTTĐ. Chúng ta có thể coi đây chính là giai đoạn tiêm “vắc xin tư tưởng” cho cán bộ, đảng viên và quần chúng nhân dân để hình thành ý thức trong đấu tranh ngăn chặn QĐSTTĐ.

Trong giai đoạn thứ hai, khi QĐSTTĐ của các thế lực thù địch, phản động đã hình thành và tìm cách thâm nhập vào đời sống xã hội, các PTCTTT phải nhanh chóng thu thập và xử lý những thông tin liên quan. Việc phân tích và dự báo về xu thế phát triển của các QĐSTTĐ lúc này vừa phục vụ cho chủ thể công tác tư tưởng ra các quyết định trong công tác ngăn chặn, vừa phục vụ cho quá trình tác chiến tư tưởng.

Hiện nay, trong bối cảnh Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, Cách mạng chuyển đổi số đang diễn ra hết sức mạnh mẽ, mau chóng, một số PTCTTT có khả năng tự động thu thập và xử lý thông tin, cung cấp thông tin tự động theo chủ đề, theo sở thích và nhu cầu đến từng đối tượng một cách chính xác. Đặc biệt, đơn vị cung cấp dịch vụ mạng xã hội có khả năng điều chỉnh, tăng hoặc giảm từng loại thông tin đến với từng loại đối tượng khác nhau. Ở Việt nam hiện có trên 70% dân số sử dụng interent, đây là một lượng rất lớn đối tượng của công tác tư tưởng. Bên cạnh đó, đối tượng sử dụng internet, mạng xã hội của công tác tư tưởng hiện nay có xu hướng chia nhỏ thời gian cho nhiều nội dung thông tin. Do đó, vai trò phân tích và dự báo thông tin, đặc biệt là dự báo xu hướng hình thành và sự phát triển của các QĐSTTĐ ở nước ta hiện nay, của các PTCTTT ngày càng chiếm vị trí quan trọng.

Thứ ba, tổ chức lực lượng, phương tiện để cô lập quan điểm sai trái, thù địch của các thế lực thù địch, phản động không để chúng lây lan và không để quan điểm sai trái, thù địch hình thành trong xã hội.

PTCTTT là vũ khí, là lực lượng tiên phong trong đấu tranh tư tưởng. Để ngăn chặn các QĐSTTĐ, chúng ta không thể có “vũ khí” nào khác ngoài các PTCTTT. Tuy nhiên để ngăn chặn một cách có hiệu quả các QĐSTTĐ, các PTCTTT phải được tổ chức chặt chẽ, có định hướng rõ ràng và phải bảo đảm tính thường xuyên, liên tục.

Mỗi PTCTTT đều có những ưu thế và hạn chế nhất định, đều có những đối tượng, nhóm đối tượng riêng, có những không gian thông tin riêng. Bên cạnh đó, mỗi đối tượng, nhóm đối tượng lại cùng lúc có thể tham gia nhiều không gian thông tin khác nhau. Mặt khác, các thế lực thù địch, phản động cũng không từ một thủ đoạn nào, sử dụng rất đa dạng các phương tiện phản cách mạng để tấn công nhận thức của cán bộ, đảng viên và quần chúng nhân dân ta. Vì thế, để bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, ngăn chặn các QĐSTTĐ, các PTCTTT cần phải tích cực, chủ động phối kết hợp với nhau để xây dựng lực lượng với đa dạng các phương tiện cùng tham gia. Có như vậy, chúng ta mới làm chủ không gian thông tin, ngăn chặn một cách có hiệu quả các QĐSTTĐ.

Khi được phối hợp chặt chẽ, các PTCTTT sẽ hình thành những chuỗi thông tin cùng hoạt động để tạo nên những “dòng chảy” thông tin chính thống, tích cực trong đời sống xã hội. Từ đó tạo nên những lớp lá chắn bảo vệ cán bộ, đảng viên và quần chúng nhân dân khỏi các QĐSTTĐ. Đồng thời, qua đó các PTCTTT có thể khoanh vùng, cô lập để hạn chế tối đa việc các QĐSTTĐ lây lan trong đời sống xã hội. Hoặc kể cả khi chúng có thể tiếp cận thì cũng vấp phải thái độ cự tuyệt của quần chúng nhân dân bởi đã được trang bị “vắc xin tư tưởng”.

Trong đấu tranh tư tưởng, việc các PTCTTT tích cực, chủ động phối hợp với nhau để tổ chức lực lượng và phương tiện giữ vai trò quan trọng và trực tiếp góp phần ngăn chặn các QĐSTTĐ, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng. Điều đó được thể hiện rất rõ trên thực tế. Bởi sự phối hợp các PTCTTT sẽ làm gia tăng khả năng tác động đến nhận thức của đối tượng khi thông tin xuất hiện trên nhiều loại hình PTCTTT khác nhau. Đồng thời, sự phối hợp đó sẽ làm tăng khả năng tác động rộng rãi đến đông đảo các tầng lớp trong xã hội. Một điều quan trọng là việc các PTCTTT phối hợp, cùng tổ chức lực lượng và phương tiện sẽ tạo ra một hệ sinh thái thông tin, qua đó hình thành điểm tựa tin cậy về thông tin, là địa chỉ kiểm chứng các thông tin trong đời sống xã hội.

Thứ tư, phối hợp kiểm tra, đánh giá hiệu quả ngăn chặn quan điểm sai trái, thù địch.

Ngăn chặn có hiệu quả các QĐSTTĐ là một phần quan trọng của cuộc chiến trên mặt trận tư tưởng. Và để bảo đảm đây là một quá trình thường xuyên, liên tục, có định hướng và có hỗ trợ lẫn nhau, ngoài việc cùng nhau tổ chức lực lượng, phương tiện để tác chiến, các PTCTTT còn phải phối hợp kiểm tra, đánh giá hiệu quả hoạt động lẫn nhau trong ngăn chặn QĐSTTĐ.

Việc các PTCTTT kiểm tra, đánh giá lẫn nhau là một hoạt động thường xuyên được quy định bởi những nguyên tắc tổ chức và sinh hoạt của Đảng. Dựa trên Cương lĩnh, Điều lệ, quan điểm, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước. Thông qua đó mỗi PTCTTT tự rút ra những kinh nghiệm, chia sẻ những đổi mới, sáng tạo; phát huy điểm mạnh, khắc phục, sửa chữa những yếu kém, bất cập và khiếm khuyết để ngày càng nâng cao hiệu quả trong quá trình ngăn chặn các QĐSTTĐ.

Hiện nay, các PTCTTT hầu hết đều có khả năng tương tác cao và có thể kết hợp với nhiều công cụ, phương tiện khác để đo đạc các chỉ số về nhận thức, thái độ, niềm tin và tâm thế sẵn sàng hành động của cán bộ, đảng viên và quần chúng nhân dân. Tuy nhiên, hiệu quả công tác tư tưởng thường khó đo đếm ngay lập tức mà phải trải qua một quá trình, có thể dài hoặc ngắn tùy vào sự việc, hiện tượng, vấn đề mà chủ thể nêu ra. Do đó, để đánh giá hiệu quả ngăn chặn QĐSTTĐ, chúng ta cần thu thập thông tin, thu thập số liệu từ nhiều PTCTTT khác nhau. Yêu cầu khách quan đó đòi hỏi các PTCTTT phải phối hợp trong kiểm tra, đánh giá hiệu qua ngăn chặn các QĐSTTĐ.

Thứ năm, duy trì hoạt động phối hợp trong tương lai, chủ động, tích cực ngăn chặn có hiệu quả từ sớm, từ xa các quan điểm sai trái, thù địch.

Chúng ta nhận thức rằng, cuộc chiến này luôn cam go, khốc liệt và tuyệt nhiên không có “hiệp định hòa bình”. Tính chất “một mất một còn” đó đã được các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác - Lênin nhiều lần khẳng định. Trong cuộc đấu tranh giữa giai cấp vô sản và giai cấp tư sản về mặt hệ tư tưởng, chỉ có hệ tư tưởng vô sản hay hệ tư tưởng tư sản, không có hệ tư tưởng trung gian, phi giai cấp. Vì tính chất căng thẳng và quyết liệt đó, các PTCTTT không những phải phối hợp với nhau để tổ chức lực lượng, phương tiện mà còn phải duy trì chặt chẽ mối liên hệ đó.

Một mặt, việc duy trì hoạt động phối hợp của các PTCTTT cũng chính là duy trì những dòng chảy thông tin chính thống, duy trì bảo vệ không gian thông tin và duy trì, củng cố mối quan hệ gắn bó của chủ thể công tác tư tưởng với đối tượng. Điều đó giúp cho chủ thể công tác tư tưởng không bị động, bất ngờ và không bị mất trận địa thông tin trước những QĐSTTĐ có thể xuất hiện bất cứ lúc nào. Để giữ vững vai trò này đòi hỏi các PTCTTT không những phải phối hợp chặt chẽ mà còn phải thường xuyên chủ động và tích cực cung cấp những nội dung tư tưởng quan trọng, những thông tin đáp ứng nhu cầu của cán bộ, đảng viên và nhân dân. Điều đó góp phần củng cố và tăng cường lá chắn bảo vệ đời sống tinh thần và nhận thức của mỗi người dân, giữ vững ổn định chính trị - xã hội.

Mặt khác, các thế lực thù địch, phản động bằng mọi phương thức, thủ đoạn không ngừng chĩa mũi nhọn vào nền tảng tư tưởng của Đảng Cộng sản Việt Nam. Do đó, việc bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng là đòi hỏi cấp bách, thường xuyên, liên tục. Quan điểm của Đại hội XIII của Đảng nhấn mạnh yêu cầu “bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa; giữ nước từ khi nước chưa nguy”. Điều kiện khách quan đó đặt ra cho công tác tư tưởng nói chung và các PTCTTT nói riêng yêu cầu rất cao về tính sẵn sàng chiến đấu và chiến thắng trước những QĐSTTĐ của các thế lực thù địch, phản động. Do đó, việc duy trì hoạt động phối hợp của các PTCTTT một cách thường xuyên, liên tục là hết sức cần thiết và là yêu cầu bắt buộc trong đấu tranh ngăn chặn các QĐSTTĐ./.

ST.

Đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trên các phương tiện truyền thông trong tình hình mới

Đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trên các phương tiện thông tin đại chúng là vấn đề mang tính quy luật, là nhiệm vụ vừa cấp bách trước mắt, vừa thường xuyên, cơ bản, lâu dài trong giai đoạn cách mạng mới.

Trong lịch sử nhân loại, chưa có một học thuyết chính trị - xã hội nào mà ngay từ khi mới xuất hiện lại thu hút sự quan tâm nghiên cứu, đấu tranh mạnh mẽ, quyết liệt của các lập trường tư tưởng đối lập nhau như sự ra đời của chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh. Điều đó không phải ngẫu nhiên, bởi chủ nghĩa Mác - Lênin là một khoa học chân chính, không chỉ giải thích thế giới mà còn đề cập con đường cải tạo thế giới; giải đáp được những vấn đề mà thực tiễn cuộc sống của toàn nhân loại đã và đang đặt ra; còn tư tưởng Hồ Chí Minh là ngọn cờ dẫn dắt sự nghiệp giải phóng dân tộc, xây dựng, bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.

Để thực hiện mưu đồ chính trị, cùng với nhiều chiêu trò, thủ đoạn, các thế lực thù địch đã, đang và sẽ triệt để lợi dụng các phương tiện thông tin đại chúng nhằm thực hiện sự chống phá. Có thể thấy, đây là thứ vũ khí lợi hại nhất vì nó thẩm thấu từ từ, lặng lẽ, tiến tới triệt tiêu hoàn toàn ảnh hưởng và giá trị của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh trong xã hội. Lịch sử cho thấy, không ít dân tộc bị mất dần các giá trị văn hóa, bản sắc ngay trên chính quê hương, tổ quốc mình. Chỉ có dân tộc nào có nội lực văn hóa mạnh mẽ mới vượt qua khỏi sự “bức tử văn hóa” từ các phương tiện truyền thông, các thủ đoạn, các phương tiện chống phá từ bên ngoài.

Hiện nay, từ bên ngoài lãnh thổ Việt Nam đã có gần 40 đài phát thanh, truyền hình có chương trình Tiếng Việt, gần 500 tờ báo, tạp chí, bản tin bằng tiếng Việt xuất bản ở nước ngoài, trong đó có không ít cơ quan báo chí liên tiếp đưa thông tin sai trái, thù địch, phản động nhằm chống phá nước ta về nhiều mặt, trong đó có chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh. Trong điều kiện hiện nay, nhiều người Việt ở cả trong nước và nước ngoài vẫn “mặc nhiên” nghe các bài tường thuật, bình luận “lạ tai” về những sự kiện đã, đang và sẽ diễn ra ở Việt Nam của các đài BBC, VOA, RFI,… Bên cạnh đó còn có các đài phát thanh của các tổ chức tôn giáo và tổ chức người Việt ở nước ngoài cũng thường xuyên “tung ra” những thông tin thiếu trung thực, bịa đặt, xuyên tạc về tình hình Việt Nam...

Trong những năm qua, công tác bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trên các phương tiện thông tin đại chúng của chúng ta đã đạt được nhiều thành tựu quan trọng, góp phần ngăn chặn và đẩy lùi các âm mưu phá hoại của các thế lực thù địch, giữ vững an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội, củng cố và tăng cường niềm của nhân dân đối với Đảng và Nhà nước. Tuy nhiên, bên cạnh đó vẫn còn những hạn chế, bất cập như: Chưa đa dạng hóa các hình thức thông tin theo hướng chuyên nghiệp, hiện đại, chất lượng, hiệu quả; chưa phù hợp với xu thế phát triển truyền thông thế giới và sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nước… Vẫn còn tình trạng thông tin thiếu cân đối, chưa đảm bảo sự đồng đều giữa các vùng, miền; còn hạn chế về tính tích cực, chủ động trong đấu tranh phản bác các thông tin, quan điểm sai trái, thù địch. Việc chủ động định hướng, cung cấp kịp thời để làm chủ thông tin, lấy thông tin tích cực, chính thống đấu tranh chống lại các thông tin sai trái, bịa đặt, vu cáo, phản động trên mạng xã hội, internet còn hạn chế. Việc kết hợp đưa thông tin ra nước ngoài và thông tin chính thống từ thế giới vào Việt Nam chưa chặt chẽ...

Có thể nói, đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trên các phương tiện thông tin đại chúng là vấn đề mang tính quy luật, là nhiệm vụ vừa cấp bách trước mắt, vừa thường xuyên, cơ bản, lâu dài. Theo đó, trước mắt cần thực hiện tốt một số giải pháp sau:

Một là, tạo sự chuyển biến mạnh mẽ về nhận thức, trách nhiệm của cán bộ, đảng viên, các tầng lớp nhân trong bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trên các phương tiện thông tin đại chúng.

Cuộc đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng ở nước ta hiện nay là cuộc đấu tranh đã, đang và sẽ tiếp tục là một trong những mặt trận nóng bỏng hàng đầu, diễn ra căng thẳng, gay go và phức tạp, trực tiếp liên quan đến mục tiêu, lý tưởng của Đảng, đến sự tồn vong của chế độ  vận mệnh của dân tộc. Vì thế, đòi hỏi cần thường xuyên làm tốt công tác tuyên truyền, tạo sự chuyển biến mạnh mẽ về nhận thức, trách nhiệm của cán bộ, đang viên, các tầng lớp nhân dân về vị trí, tầm quan trọng của nhiêm vụ này; về bản chất, âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch; mục đích, yêu cầu của cuộc đấu tranh chống quan điểm sai trái trên các phương tiện thông tin đại chúng. Khẳng định những giá trị bền vững của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh tiếp tục là nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho mọi hành động của cách mạng Việt Nam. Thực hiện thắng lợi cuộc vận động xây dựng, chỉnh đốn Đảng, gắn với thực hiện có hiệu quả việc học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh. Cần tiếp tục quán triệt sâu sắc tới toàn thể cán bộ, đảng viên và quần chúng nhân dân v Nghị quyết Trung ương 5 khóa X; Chỉ thị số 34-CT/TW của Ban Bí thư Trung ương về “Tăng cường cuộc đấu tranh chống âm mưu, hoạt động “diễn biến hòa bình” trên lĩnh vực tư tưởng - văn hóa”; Hướng dẫn s 77-HD/BTGTW của Ban Tuyên giáo Trung ương về Tăng cường cuộc đấu tranh chống âm mưu, hoạt động diễn biến hòa bình trên lĩnh vực tư tưởng - văn hóa”; Quy chế số 01-QC/TW của Ban chấp hành Trung ương về hoạt động của Ban Chỉ đạo 35Nghị quyết số 35-NQ/TW của Bộ Chính trị về “Tăng cường bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trong tình hình mới”...

Hai là, tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, hiệu quả quản lý của Nhà nước trong bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trên các phương tiện thông tin đại chúng.

Xuất phát từ nguyên tắc Đảng thống nhất, trực tiếp lãnh đạo công tác tư tưởng, lý luận và đấu tranh tư tưởng, lý luận. Do vậy, hoạt động đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trên các phương tiện thông tin đại chúng tất yếu phải đặt dưới sự lãnh đạo Đảng. Đây cũng là chức năng, nhiệm vụ, trách nhiệm thưng xuyên của các cơ quan quản lý nhà nướcTheo đó, tăng cường quản lý và phát triển các loại hình truyền thông, thông tin đại chúng. Kiên quyết đấu tranh, loại bỏ các sản phẩm, thông tin độc hại, xuyên tạc, phản động, ảnh hưởng xấu đến ổn định chính trị - xã hội, thuần phong mỹ tục và nền tảng tư tưởng của Đảng.

Các ngành, các cơ quan chức năng cần tiếp tục đẩy mạnh tuyên truyền, thực hiện nghiêm Luật An ninh mạng; đẩy mạnh công tác bảo vệ an ninh quốc gia, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trên các phương tiện thông tin đại chúng; nâng cao nhận thức của cán bộ, đảng viên và người dân trong việc tham gia các phương tiện thông tin đại chúng; tăng cường rà soát, kịp thời phát hiện và xử lý nghiêm minh những hành vi vi phạm pháp luật trên các phương tiện thông tin đại chúng.

Luôn luôn giữ vững sự lãnh đạo của Ðảng trong việc tăng cường vai trò của các phương tiện thông tin đại chúng với tư cách là công cụ để cán bộ, đảng viên và nhân dân tham gia đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng; không ngừng mở rộng tính công khai và dân chủ hoá đời sống xã hội, bảo đảm thực hiện quyền tiếp cận thông tin với tư cách là quyền cơ bản của công dân.

Cần đổi mới tư duy và cách thức quản lý của các cơ quan chức năng đối với các phương tiện thông tin đại chúng từ truyền thống sang hiện đại, để vừa đảm bảo sự phát triển của truyền thông mạnh mẽ và đúng hướng, phù hợp với sự phát triển xã hội trong xu thế mở cửa hội nhập quốc tế, vừa phải đảm bảo an ninh xã hội, đảm bảo chủ quyền quốc gia.

Học hỏi kinh nghiệm các nước trong công tác quản lý để vừa phát huy tốt nhất vai trò của các phương tiện thông tin truyền thông, đảm bảo quyền được tiếp cận thông tin của người dân, vừa quản lý các phương tiện thông tin truyền thông theo hướng chính quy, chặt chẽ và hiệu quả.

Ba là, tích cực, chủ động đấu tranh, ngăn chặn, xử lý hiệu quả các quan điểm sai trái, thù địch trên các phương tiện thông tin đại chúng.

Các cơ quan chức năng cần chủ động trao đổi thông tin, phối hợp trong tuyên truyền, thông tin về các vụ việc vi phạm để kịp thời định hướng dư luận, tranh thủ sự đồng tình, ủng hộ của nhân dân và bạn bè quốc tế; đấu tranh ngăn chặn các âm mưu và hoạt động lợi dụng các phương tiện thông tin truyền thông để chống phá Đảng, Nhà nước và chế độ, lợi dụng vấn đề tự do ngôn luận để kích động, bôi nhọ, nói xấu nền tảng tư tưởng của Đảng.

Làm tốt công tác vận động, định hướng thông tin dư luận. Phát huy vai trò tích cực, chủ động của đội ngũ cán bộ, đảng viên, sự tham gia của cả hệ thống chính trị và nhân dân, từng bước xây dựng được thế trận lòng dân trên các phương tiện thông tin đại chúng nhằm đấu tranh có hiệu quả với các luận điệu xuyên tạc, quan điểm sai trái, thù địch.

Nâng cao tinh thần trách nhiệm của các tổ chức, lực lượng, đặc biệt là lực lượng công an, Cục An ninh mạng và phòng chống tội phạm sử dụng công nghệ cao, Bộ Tư lệnh Tác chiến không gian mạng, lực lượng 47 trong quân đội… đẩy mạnh công tác đấu tranh với các đối tượng lợi dụng phương tiện thông tin để tuyên truyền, kích động, lôi kéo dư luận; triển khai đồng bộ các biện pháp công tác nghiệp vụ, thực hiện phương châm “an ninh chủ động”, kịp thời phát hiện, tấn công, vô hiệu hóa các âm mưu, thủ đoạn của các đối tượng.

Tăng cường các biện pháp đấu tranh với các loại tội phạm sử dụng công nghệ cao, lợi dụng phương tiện thông tin đại chúng để chống phá nền tảng tư tưởng của Đảng. Cung cấp thông tin đầy đủ, kịp thời, chính xác theo quy định của Luật. Tạo điều kiện thuận lợi cho người dân, cơ quan báo chí tác nghiệp - tiếp cận thông tin để đưa tin chính thống trên các phương tiện thông tin truyền thông.

Bốn là, hoàn thiện và ban hành các văn bản quy phạm pháp luật về quản lý, bảo mật thông tin trên các phương tiện thông tin đại chúng.

Các cơ quan quản lý nhà nước cần đẩy mạnh công tác hoàn thiện, thể chế hóa các văn bản quy phạm pháp luật và tổ chức thực hiện có hiệu quả các văn bản quản lý nhà nước đối với hoạt động trên các phương tiện thông tin đại chúng. Trước mắt, cần thực hiện nghiêm Nghị quyết số 35-NQ/TW của Bộ Chính trị về “Tăng cường bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trong tình hình mới”; tập trung triển khai thực hiện có hiệu quả Luật an toàn thông tin mạng và Luật an ninh mạng được Quốc hội khóa XIV thông qua tại kỳ họp thứ 5; tổ chức tập huấn, bồi dưỡng kỹ năng, nghiệp vụ, kiến thức pháp luật cho cán bộ, đảng viên, công chức làm công tác đấu tranh trên các phương tiện thông tin đại chúng; xây dựng các giải pháp kỹ thuật mang tính chủ động, kịp thời nhằm nâng cao hiệu quả, hiệu lực đấu tranh trên cơ sở các dự báo khoa học về sự phát triển của các phương tiện thông tin và phương châm khuyến khích mặt tích cực, hạn chế mặt tiêu cực của mạng xã hội.

Xây dựng hành lang pháp lý cho hoạt động báo chí, đồng thời quản lý mạng xã hội, các phương tiện truyền thông phi chính thống, phương tiện truyền thông nước ngoài trên Internet hoạt động tại Việt Nam. Kết hợp với tăng cường các biện pháp kỹ thuật nghiệp vụ để ngăn chặn các thông tin xấu độc, phản động thâm nhập vào Việt Nam. Kiên quyết xử lý các trang mạng xã hội truyền bá thông tin xấu độc, phản động, xâm hại đến sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.

Sửa đổi, bổ sung các quy định của pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực báo chí, thông tin điện tử cho phù hợp thực tế và phục vụ tốt công tác quản lý nhà nước. Bảo đảm kinh phí, cơ sở vật chất, phương tiện, thông tin, tài liệu... và xây dựng, thực hiện chính sách động viên, khen thưởng kịp thời đối với những tập thể, cá nhân tích cực tham gia đấu tranh và bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng.

Năm là, thường xuyên tổng kết thực tiễn, bổ sung, phát triển lý luận chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh.

Không ngừng đổi mới tư duy, tích cực nghiên cứu sâu sắc, toàn diện về chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, làm tăng thêm sức sống mới cho chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh trong giai đoạn cách mạng mới. Khẳng định mạnh mẽ và cụ thể hóa những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, chỉ rõ những giá trị cốt lõi, những giá trị lý luận có sức sống trường tồn, mà trước hết là thế giới quan, nhân sinh quan, phương pháp luận khoa học và cách mạng của chủ nghĩa duy vật biện chứng, chủ nghĩa duy vật lịch sử; học thuyết về giá trị thặng dư; học thuyết về hình thái kinh tế - xã hội; học thuyết về xây dựng Đảng Cộng sản cầm quyền, xây dựng Nhà nước xã hội chủ nghĩa; lý luận về xây dựng chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa cộng sản; tư tưởng về độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội; tư tưởng về đại đoàn kết toàn dân tộc, về giải phóng và phát triển toàn diện con người.

Phải luôn luôn xuất phát từ thực tiễn, tôn trọng và hành động theo quy luật khách quan, không bảo thủ, giáo điều, không chủ quan duy ý chí đốt cháy giai đoạn. Trên cơ sở đó, nghiên cứu, xây dựng và phát triển hệ thống lý luận về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội của Việt Nam trong giai đoạn cách mạng mới; làm rõ những vấn đề cần bổ sung, phát triển. Làm rõ một số vấn đề nảy sinh trong thực tiễn, cung cấp cơ sở khoa học cho việc hoạch định đường lối của Ðảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước.../.

ST.