Chủ Nhật, 12 tháng 5, 2024

 

PHÊ PHÁN LUẬN ĐIỆU XUYÊN TẠC QUAN ĐIỂM CỦA V.I.LÊNIN “MỘT CUỘC CÁCH MẠNG CHỈ CÓ GIÁ TRỊ KHI NÓ BIẾT TỰ VỆ”


Một trong những luận điểm khoa học cơ bản trong học thuyết của V.I.Lênin về bảo vệ Tổ quốc là: “Một cuộc cách mạng chỉ có giá trị khi nó biết tự vệ”. Tuy nhiên, sau khi Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa (XHCN) ở Đông Âu sụp đổ, các thế lực thù địch, phản động đã bóp méo, xuyên tạc quan điểm đúng đắn của Lênin.

Tỉnh táo trước âm mưu xuyên tạc không cần bảo vệ Tổ quốc XHCN

Ngay từ năm 1916, đêm trước của cuộc cách mạng vô sản ở nước Nga, Lênin chỉ rõ: “Không cầm vũ khí bảo vệ nước cộng hòa XHCN, thì chúng ta không thể tồn tại được. Giai cấp thống trị không bao giờ nhường chính quyền cho giai cấp bị trị. Nhưng giai cấp bị trị phải chứng minh trên thực tế rằng họ không những có khả năng lật đổ bọn bóc lột, mà còn có khả năng tự tổ chức, huy động hết thảy để tự bảo vệ lấy mình”; và: “Một cuộc cách mạng chỉ có giá trị khi nó biết tự vệ”. Bởi tự vệ là để bảo vệ chính quyền và bảo vệ các thành quả cách mạng đã giành được là một tất yếu khách quan, mang tính chính nghĩa, đó là một trong những vấn đề có tính quy luật của cách mạng vô sản. Lênin còn cho rằng, “không phải cách mạng có thể biết ngay được cách tự vệ”, vì “cách tự vệ là một khoa học và nghệ thuật của cách mạng, cách mạng chỉ có thể đi tới thành công đến nơi đến chốn khi biết cách tự vệ đúng".

Sau khi tư tưởng “Một cuộc cách mạng chỉ có giá trị khi nó biết tự vệ” của Lênin ra đời đã bị các thế lực thù địch, phản động chống phá quyết liệt. Chúng phủ nhận việc bảo vệ thành quả cách mạng của giai cấp vô sản khi tiến hành cách mạng thành công. Theo chúng, cách mạng vô sản giành thắng lợi xong không cần lập nên chính quyền nhà nước vì đã thành công rồi. Để đập tan luận điệu này, ngay sau khi Cách mạng Tháng Mười Nga thành công, Lênin chỉ rõ: “Kể từ ngày 25-10-1917, chúng ta là những người chủ trương bảo vệ tổ quốc. Chúng ta tán thành "bảo vệ tổ quốc", nhưng cuộc chiến tranh giữ nước mà chúng ta đang đi tới, là một cuộc chiến tranh bảo vệ tổ quốc XHCN, bảo vệ chủ nghĩa xã hội với tính cách là tổ quốc".

Thời gian qua, lợi dụng hệ thống XHCN thoái trào và sự biến động mau lẹ, khó lường của tình hình thế giới, các thế lực thù địch, phản động càng ra sức chống phá các nước XHCN còn lại, trong đó có Việt Nam. Chúng cho rằng hiện nay không cần phải bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN vì không còn kẻ thù xâm lược và nếu có bảo vệ thì chỉ bảo vệ Tổ quốc chứ không bảo vệ chế độ XHCN. Đây là luận điệu hết sức thâm độc, dễ gây sự ngộ nhận trong việc thực hiện nghĩa vụ quân sự bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN của công dân Việt Nam hiện nay.

Cả về phương diện lý luận và thực tiễn đã chứng minh rằng, mọi cuộc cách mạng nổ ra đều gắn với một giai cấp đứng ở vị trí trung tâm của thời đại và bao giờ vấn đề giành chính quyền cũng đều là vấn đề cơ bản của mọi cuộc cách mạng gắn với một quốc gia, dân tộc cụ thể. Như vậy, không bao giờ có Tổ quốc tách rời với một chế độ xã hội, mà bao giờ cũng gắn chặt với một chế độ xã hội nhất định như chế độ xã hội chiếm hữu nô lệ, chế độ xã hội phong kiến, chế độ xã hội tư bản chủ nghĩa, chế độ XHCN.

Nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc ở mỗi thời kỳ lịch sử đều gắn liền với chế độ ở giai đoạn lịch sử, quốc gia, dân tộc đó. Đáng tiếc là, ngoài sự chống phá của các thế lực phản động, thù địch, một số người trong nước vẫn ngộ nhận, chủ quan, không thấy hết các nguy cơ của đất nước và chế độ, không nhận thức được sự thống nhất giữa độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội ở nước ta nên có biểu hiện coi nhẹ nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc XHCN; không nhận thức đầy đủ mối quan hệ biện chứng giữa xây dựng và bảo vệ Tổ quốc XHCN. Thậm chí một số người Việt Nam tuy mang trong mình dòng máu Lạc Hồng và đang được hưởng thành quả cách mạng nhưng quay lưng lại với dân tộc, ra sức công kích, xuyên tạc đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, rắp tâm phá hoại thành tựu của công cuộc đổi mới đất nước, cuộc sống thanh bình của nhân dân.

Tăng cường sức mạnh tổng hợp, bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam XHCN

Việc trung thành, vận dụng sáng tạo tư tưởng của Lênin “Một cuộc cách mạng chỉ có giá trị khi nó biết tự vệ” có ý nghĩa rất quan trọng trong thời đại ngày nay. Vì vậy, chúng ta cần quán triệt, thực hiện hiệu quả Chiến lược bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới theo tinh thần Nghị quyết của Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng lần thứ 8, khóa XIII.

Thấm nhuần tư tưởng nêu trên của Lênin và kế thừa truyền thống, quy luật dựng nước đi đôi với giữ nước của dân tộc ta, ngay sau thắng lợi của cuộc Cách mạng Tháng Tám năm 1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã tuyên bố trước thế giới dứt khoát rằng: “Nước Việt Nam có quyền hưởng tự do và độc lập, và sự thật đã thành một nước tự do, độc lập. Toàn thể dân tộc Việt Nam quyết đem tất cả tinh thần và lực lượng, tính mạng và của cải để giữ vững quyền tự do, độc lập ấy”. Kể từ đó, xuyên suốt cuộc trường chinh 30 năm dưới sự lãnh đạo của Đảng và Bác Hồ, nhân dân ta đã tiến hành thắng lợi hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ xâm lược, thống nhất đất nước, thu non sông về một mối, cả nước cùng bước vào công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam XHCN.

Thực tiễn cho thấy, sự sụp đổ của chủ nghĩa xã hội ở Liên Xô và các nước Đông Âu cuối những năm 80, đầu những năm 90 của thế kỷ 20 đã chứng minh rằng việc giành chính quyền đã khó nhưng giữ gìn, sử dụng chính quyền để xây dựng và bảo vệ chế độ XHCN còn khó hơn nhiều. Một trong những nguyên nhân chủ yếu của sự sụp đổ đó là do sai lầm của các đảng cộng sản trong quá trình cải tổ, cải cách, sự mất cảnh giác và tự làm suy yếu, mất sức đề kháng từ bên trong của các đảng cộng sản và lực lượng cách mạng trước âm mưu, thủ đoạn thâm độc, xảo quyệt của các thế lực thù địch.

Đúng như Lênin đã từng cảnh báo: “Không ai có thể tiêu diệt được chúng ta ngoài những sai lầm của bản thân chúng ta nếu chúng ta không mắc sai lầm, tự đánh đổ mình”. Như vậy, bài học thành công và thất bại về công cuộc bảo vệ Tổ quốc XHCN từ sau Cách mạng Tháng Mười ở các nước XHCN không chỉ khẳng định tư tưởng của Lênin “Một cuộc cách mạng chỉ có giá trị khi nó biết tự vệ” mà còn là cơ sở để xác định ý chí, quyết tâm trong nâng cao ý thức trách nhiệm của mỗi chúng ta trong đấu tranh, phản bác quan điểm sai trái, thù địch hiện nay.

Giải pháp quan trọng hàng đầu là đẩy mạnh công tác tuyên truyền, giáo dục, nâng cao nhận thức cho cán bộ, đảng viên và nhân dân về sự cần thiết phải bảo vệ Tổ quốc gắn liền với bảo vệ chế độ XHCN, bảo vệ Đảng, Nhà nước và nhân dân. Đó là cơ sở để củng cố lập trường chính trị giai cấp, niềm tin và sự kiên định vào mục tiêu, lý tưởng của Đảng vào con đường đi lên chủ nghĩa xã hội của đất nước.

Bên cạnh đó, cần chú trọng giáo dục thống nhất nhận thức về đối tượng, đối tác và mục tiêu bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN. Sự phân định đối tác, đối tượng là rất cần thiết, tuy nhiên cần phải mềm dẻo, uyển chuyển trong nhận thức. Trong thực tế, ranh giới giữa đối tác và đối tượng đôi khi rất mong manh, có tính tương đối, nhận thức không phải dễ dàng, đơn giản. Do đó, cần xác định rõ những tiêu chí và quan điểm trong nhận thức và xử lý vấn đề này. Một trong những tiêu chí rất quan trọng để xác định đối tác đó là lợi ích. Bởi lợi ích (hiểu theo nghĩa đầy đủ của nó) phải được bảo đảm cho cả hai phía: Phía chúng ta và phía đối tác, làm sao để đôi bên cùng có lợi, phù hợp với pháp luật Việt Nam và thông lệ quốc tế. Tiêu chí “cùng có lợi” trở thành cơ sở của quan hệ giữa các đối tác. Trên cơ sở lợi ích chung của quốc gia, dân tộc, cần quán triệt sâu sắc quan điểm của Đảng và Nhà nước ta trong xác định đối tượng và đối tác là: Những ai chủ trương tôn trọng độc lập, chủ quyền, thiết lập và mở rộng quan hệ hữu nghị, hợp tác bình đẳng cùng có lợi với Việt Nam đều là đối tác của chúng ta. Bất kể thế lực nào có âm mưu và hành động phá mục tiêu của nước ta trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc đều là đối tượng đấu tranh.

Về mục tiêu bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN là toàn diện, bảo vệ cả phương diện tự nhiên-lịch sử và phương diện chính trị-xã hội trong chỉnh thể thống nhất bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN, theo tinh thần Nghị quyết Trung ương 8, khóa XIII đã chỉ ra: “Bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc, bảo vệ Đảng, Nhà nước, nhân dân, chế độ XHCN, nền văn hóa và lợi ích quốc gia, dân tộc; giữ vững môi trường hòa bình, ổn định chính trị, an ninh quốc gia, an ninh con người; xây dựng xã hội trật tự, kỷ cương, an toàn, lành mạnh để phát triển đất nước theo định hướng XHCN”.

Trong bối cảnh hiện nay, cần làm cho toàn Đảng, toàn dân, toàn quân nhận thức đúng phương châm bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN từ sớm, từ xa, giữ nước từ khi nước chưa nguy, với nhiều kế sách linh hoạt, mềm dẻo, kiên quyết tạo thành sức mạnh tổng hợp vững chắc trong công cuộc giữ nước.

Sức mạnh bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN là sức mạnh tổng hợp của khối đại đoàn kết toàn dân tộc, của cả hệ thống chính trị dưới sự lãnh đạo của Đảng, trong đó lực lượng vũ trang nhân dân giữ vai trò nòng cốt, trụ cột. Đó là sức mạnh tổng hợp của các yếu tố chính trị, quân sự, kinh tế, khoa học-công nghệ, văn hóa, đối ngoại, biểu hiện trong sức mạnh vật chất, tinh thần của khoảng 100 triệu dân Việt Nam trong nước và hơn 5 triệu người Việt Nam sinh sống, học tập, lao động, công tác ở nước ngoài luôn hướng về Tổ quốc. Đó là sức mạnh bên trong với sức mạnh bên ngoài, sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại trong bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN hiện nay./.

 

Bắt bệnh và trị bệnh “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”.

 

Có chuyện một cán bộ vừa bị kỷ luật do vi phạm nhưng không nhận thức rõ khuyết điểm cá nhân để tự sửa chữa, lại huênh hoang livestream, viết bài đăng lên tài khoản facebook cá nhân bày tỏ sự không vừa lòng và kêu gọi cộng đồng lên tiếng bảo vệ mình?! Nhiều người không hiểu nội dung vụ việc nên đã vô tư a dua, lớn tiếng đặt điều, lên án tập thể, cơ quan chức năng.

Rồi lại thêm chuyện một số cá nhân do phẩm chất, năng lực chưa đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ công tác, bị tổ chức thải loại, buộc phải nghỉ chế độ theo yêu cầu tinh giản biên chế, được hưởng các chế độ đãi ngộ theo đúng quy định... nhưng có vẻ trong lòng ấm ức nên cố tình “trở cờ” với tổ chức. Các vị này “hồn nhiên” mang những chuyện nội bộ, cả những việc có yếu tố bí mật (theo quy định của Nhà nước) để công khai trên diễn đàn xã hội. Tệ hơn, họ coi đó như một phương tiện hòng "câu like", "câu view" hoặc “nói cho bõ tức”...

Phải khẳng định ngay, những cá nhân nêu trên đã tự đánh mất mình, rơi vào “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”. Họ đã mặc nhiên quay lưng với chính hệ tư tưởng, quan điểm, lý tưởng cống hiến trong suốt quãng đời công tác trước đây của bản thân. Chính họ đã tự xúc phạm, giẫm đạp lên quá khứ của chính mình!

Vì sao lại thế? Có muôn nghìn câu trả lời. Cũng thấy rõ muôn vàn lý do, nguyên nhân đưa đến thực trạng đó. Nào là do những xích mích, mất lòng trong hàng ngũ lúc còn đương chức; do về hưu phải đối diện với sự cô đơn, cô độc, lại có nhiều thời gian nên “rảnh rỗi sinh nông nổi”; do thiếu thông tin, không tìm hiểu cặn kẽ sự việc... nên nhận thức phiến diện, cực đoan; do tác động từ âm mưu, thủ đoạn của kẻ thù, nhất là khi chúng xác định nhóm công dân này là một trong những đối tượng có thể tập trung lợi dụng, lôi kéo...

Thế nhưng, dù căn nguyên ra sao thì vấn đề cốt tử vẫn nằm ở bản lĩnh chính trị và bản chất của những người từng khoác lên mình màu áo đảng viên và danh dự, tư cách người cán bộ cách mạng. Thực tế cho thấy, một khi cán bộ thật sự có bản lĩnh, chí công, vô tư phục vụ tổ chức, cơ quan, đơn vị, sống chân thành, tử tế với đồng chí, đồng đội lúc đương chức thì khi nghỉ hưu, rời tổ chức, họ vẫn một lòng gắn bó với sự nghiệp của tập thể. Họ vẫn theo dõi, quan sát từng bước phát triển, trưởng thành của tổ chức, xem đó là nguồn hạnh phúc của mình. Thậm chí, nhiều người còn chủ động tham mưu, hiến kế, giúp đỡ thế hệ đi sau hoàn thành nhiệm vụ. Nhiều cán bộ khi nghỉ hưu hoặc luân chuyển đi nơi khác... vẫn nhận được sự quan tâm, động viên, kính trọng của đồng nghiệp, anh em nơi cơ quan cũ. Cấp trên đương chức, nhân viên, đồng nghiệp vẫn thường xuyên lui tới thăm hỏi, trò chuyện, giữ mối liên hệ mật thiết, sẻ chia vui buồn. Ngược lại, những kẻ đã, đang và sẽ hống hách, rao giảng, kêu than trên mạng xã hội thì lúc đương chức tâm địa có lẽ cũng có vấn đề...

Nói như vậy sẽ không hẳn là đúng với mọi trường hợp, mà câu chuyện này còn chịu sự chi phối đa chiều bởi các quy luật tâm lý-xã hội. Có nghĩa, bất cứ ai nghỉ hưu, bị thải loại, rời xa tổ chức cũ... cũng đều ít nhiều rơi vào các biểu hiện, vấn đề của tư tưởng, tâm lý. Con người ta sẽ không tránh khỏi những nỗi buồn khách quan và sự hẫng hụt về mặt tinh thần khi phải bắt đầu một nếp sống mới. Nói như vậy để thấy, việc quan tâm, làm tốt công tác tư tưởng cho đối tượng sắp nghỉ hưu, đối tượng tinh giản... cần phải được cấp ủy, lãnh đạo, chỉ huy các cấp tiến hành thường xuyên, liên tục. Bởi có một thực tế là, ở một số cơ quan, đơn vị hiện nay, việc tiến hành công tác tư tưởng cho cán bộ trước và sau khi nghỉ công tác vẫn bị coi nhẹ, ít có sự động viên, quan tâm thường xuyên.

Thế nhưng, dù các tác động khách quan có đến mức nào đi chăng nữa thì yếu tố chủ quan vẫn giữ vai trò quyết định. Nhiều cá nhân trước khi nghỉ hưu vẫn mưu toan giữ ghế, tham vọng bám trụ lại tổ chức vì quyền lợi riêng nên thật khó chiến thắng được sự xung đột tâm lý cá nhân. Và nhất là khi mưu cầu tư lợi không đạt được thì sinh ra bệnh tư tưởng, rồi “giận cá chém thớt”, làm những chuyện trái khoáy... khiến dư luận phải dị nghị, xem thường!

Nhiều chuyên gia tâm lý cho rằng: Trong khi toàn Đảng và cả hệ thống chính trị đang quyết liệt thực hiện chủ trương “có lên, có xuống, có vào, có ra” thì tinh thần này phải được thấu triệt đến mọi cấp, mọi ngành, mọi địa phương. Từng cấp ủy, tổ chức phải đẩy mạnh giáo dục để cán bộ lúc đương chức luôn thông suốt về tư tưởng, nhận thức rõ việc nghỉ hưu, rời tổ chức là việc đương nhiên, tất yếu. Từng cá nhân phải cố gắng duy trì quan điểm dù đang công tác hay nghỉ công tác thì đều giữ đúng chức phận của mình; là người đảng viên kiên định, kiên trung của Đảng. Có được tư duy và cách nghĩ đó thì chắc chắn việc nghỉ hưu, rời tổ chức sẽ tự nó trở nên thanh thản, nhẹ nhàng...

Còn xét dưới góc độ tổ chức, đối với những trường hợp vừa rời tập thể đã hòa vào đám đông một cách tiêu cực thì cần phải được cấp có thẩm quyền nhận diện, đấu tranh phê bình nghiêm khắc; thậm chí xử lý nghiêm minh theo quy định của pháp luật để giáo dục chung. Thực tế nhiều năm qua cho thấy, những trường hợp như đã nêu ở trên diễn ra khá phổ biến, ở nhiều cơ quan, đơn vị, nhưng việc xử lý vẫn chưa triệt để, nghiêm khắc. Có chăng chỉ là sự nhắc nhở, động viên, đối thoại, cảnh tỉnh... rồi “đâu lại vào đấy”. Do vậy, cùng với giáo dục, thuyết phục, các cơ quan chức năng cần có thái độ quyết liệt xử lý thực trạng này. Khi phát hiện các đối tượng lợi dụng mạng xã hội để nói xấu Đảng, chế độ, bôi nhọ tổ chức, cơ quan, đơn vị thì kiên quyết xử lý nghiêm minh đến cùng, đúng người, đúng mức độ vi phạm, “không có vùng cấm, không có ngoại lệ”...

Làm cán bộ, đảng viên của Đảng thì cần phải khắc ghi và hiểu sâu sắc lời dạy quý báu của Chủ tịch Hồ Chí Minh: "Một dân tộc, một đảng và mỗi con người, ngày hôm qua là vĩ đại, có sức hấp dẫn lớn, không nhất định hôm nay và ngày mai vẫn được mọi người yêu mến và ca ngợi, nếu lòng dạ không trong sáng nữa, nếu sa vào chủ nghĩa cá nhân".


 

 

KHÔNG MẮC MƯU CỦA ĐỊCH, KHÍ PHÁCH CỦA QUÂN ĐỘI ANH HÙNG


Trong bối cảnh quốc tế đặc biệt phức tạp hiện nay, Đảng ta, đứng đầu là đồng chí Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng và nhân dân ta vẫn nhất quán khẳng định lập trường, quan điểm, mục tiêu, con đường đi lên CNXH ở nước ta. Đó là quyết tâm chính trị rất lớn của Đảng, của đồng chí Tổng Bí thư; phản ánh tính đúng đắn, sáng tạo và sự nhất quán về đường lối đổi mới, đi lên CNXH mà Đảng ta đã khẳng định trong Văn kiện Đại hội XIII. Đồng thời, khẳng định rõ tình đoàn kết, sự chung sức, đồng lòng của toàn Đảng, toàn dân và toàn quân trong thực hiện thắng lợi các mục tiêu, chỉ tiêu mà Đảng ta đã xác định để xây dựng quốc gia Việt Nam hùng cường, thịnh vượng, phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc.

Thế nhưng, lợi dụng việc Đảng, Nhà nước ta tổ chức một số hội nghị bất thường để giải quyết các công việc phát sinh nhằm sớm ổn định tình hình, tiếp tục giữ vững ổn định chính trị, bổ sung, hoàn thiện đường lối đổi mới; ban hành các quyết sách về phát triển kinh tế - xã hội; một số người lại nghĩ sai trái về điều ấy, cố tình đồn thổi, đẩy tình hình đi sang hướng khác, gây bất lợi cho Đảng. Họ xuyên tạc rằng, “Việt Nam đã rơi vào khủng hoảng trầm trọng”, “chính trị rối ren”, “con đường đi lên CNXH chỉ còn lại lời nói”, “Việt Nam đã đổi hướng, đổi màu”, “không thể thực hiện mục tiêu, con đường đi lên CNXH, vì nội bộ Đảng đang đấu đá nhau”... Hơn thế, một số người còn cho rằng, “Việt Nam đã “quay xe”, quyết định đi theo Mỹ và phương Tây”, “đã lựa chọn con đường TBCN”, “sắp gia nhập EU và khối NATO để khắc phục nguy cơ tụt hậu xa hơn về kinh tế” và các nguy cơ khác.

Theo đó, Đảng Cộng sản Việt Nam sẽ từ bỏ chính sách quốc phòng “bốn không”, bởi “Việt Nam đã chọn phe”, “đi theo Mỹ và phương Tây”. Nhiều người còn cho rằng, quyết sách của Việt Nam là hợp lý vì Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã đích thân mời Tổng Mỹ J. Biden đến thăm Việt Nam vào nửa đầu tháng 9 năm 2023. Do đó, “Việt Nam đã quên quá khứ”; “chỉ hướng đến tương lai”, không còn coi Mỹ là “kẻ thù truyền kiếp”.

Những câu chuyện nêu trên thật khôi hài và nực cười, là sự bịa đặt xảo trá, mang tính chủ quan, chỉ là ý kiến của một số người có quan điểm đối lập với Đảng, Nhà nước ta. Nó chỉ dựa vào một vài sự kiện cụ thể có thật để đồn thổi, khuếch đại, biến “con muỗi thành con voi”, gieo rắc sự hoài nghi, bi quan, chán ngán về CNXH do Đảng ta lãnh đạo.

Điều nguy hiểm nhất là nó xuất hiện trước ngày Đảng ta tổ chức Hội nghị lần thứ chín Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII để bàn nhiều vấn đề quan trọng về bổ sung, hoàn thiện lý luận về đường lối đổi mới, chuẩn bị các Văn kiện trình Đại hội lần thứ XIV của Đảng. Đây là những quan điểm sai trái nhằm chỉ trích, xuyên tạc quan điểm, đường lối đổi mới của Đảng ta một cách cực đoan về CNXH, phủ nhận hệ giá trị tư tưởng của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh.

Qua đó, tạo ra dư luận xấu về CNXH mà nhân dân ta đang xây dựng, làm nhụt ý chí phấn đấu của quân và dân ta. Sự thâm thù, nguy hiểm của các luận điểm sai trái nêu trên là nó được tán phát vào trước và sau lúc Đảng, Nhà nước ta tổ chức các hội nghị thường niên để bàn luận và ban hành quyết sách mới nhằm thực hiện thắng lợi các chỉ tiêu, nhiệm vụ của năm 2024 - năm bản lề thực hiện Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng và chuẩn bị Đại hội lần thứ XIV của Đảng.

Lấy cớ và thổi phồng một số hạn chế, khuyết điểm trong quá trình thực hiện công cuộc đổi mới, đặc biệt là công tác nhân sự của Đảng, Nhà nước thời gian qua, các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị đang chĩa “nòng súng” vào việc xuyên tạc, phủ nhận chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh - nền tảng tư tưởng của Đảng ta; phủ nhận mục tiêu độc lập dân tộc và CNXH là sự lựa chọn duy nhất đúng đắn của của Đảng và nhân dân ta. Cùng với đó, họ lợi dụng sự kiện có thật là Tổng thống J. Biden đến thăm Việt Nam cũng như nâng cấp mối quan hệ đối tác chiến lược toàn diện giữa hai nước để đẩy mạnh chống phá Đảng, Nhà nước, chế độ XHCN ở nước ta.

Phải nói cho rõ rằng, ở Việt Nam không bao giờ có chuyện “quay xe”, “đổi hướng”, “đổi màu”; các thế lực thù địch đừng hòng lợi dụng sự kiện nêu trên để phá hoại niềm tin của nhân dân ta vào Đảng, Nhà nước và chế độ XHCN.

Rõ ràng, việc phủ nhận chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, phủ nhận lý luận về CNXH và con đường đi lên CNXH ở Việt Nam là sự thất bại cay đắng của các thế lực thù địch và bọn theo đuôi kẻ xấu. Nhân dân Việt Nam đã nhận diện rõ bộ mặt thật của các thế lực phản động. Đằng sau chiêu trò “ném đá giấu tay” là mưu đồ đen tối: chống phá, phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng; xuyên tạc, bóp méo tính ưu việt của CNXH ở Việt Nam; cản trở nhân dân ta thực hiện Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng; lái nước ta đi theo con đường TBCN có lợi cho kẻ xấu.

Cần nói cho rõ rằng, việc nâng cấp mối quan hệ từ đối tác toàn diện thành đối tác chiến lược toàn diện giữa hai nước Việt Nam - Hoa Kỳ có tính lịch sử và nguyên tắc của nó; có lợi cho hai nước, hai dân tộc. Đảng, Nhà nước và nhân dân ta không bao giờ từ bỏ mục tiêu độc lập dân tộc và CNXH mà Đảng, Bác Hồ và nhân dân ta đã lựa chọn. Chúng ta đã đổ máu, hy sinh qua hai cuộc kháng chiến chống thực dân, đế quốc xâm lược để bảo vệ vững chăc từng tấc đất thiêng liêng của Tổ quốc nên mới có được thành quả cách mạng ngày nay. Những việc làm của Đảng ta đều vì lợi ích quốc gia - dân tộc; vì hạnh phúc của nhân dân.

Ai đó cho rằng, việc nâng cấp mối quan hệ từ đối tác toàn diện thành đối tác chiến lược toàn diện giữa hai nước Việt Nam - Hoa Kỳ… là Việt Nam đã đổi hướng, đổi màu, đi theo con đường TBCN là vô căn cứ, hoàn toàn không đúng. Đó là mưu toan bóp méo sự thật đầy tính vu khống, cáo buộc cần phải loại bỏ.

Những người tuyên bố “giã từ CNXH” để đi theo CNTB, đi theo con đường của “các nước lớn”, “các nước phát triển” ở phương Tây đã trải qua với hy vọng Việt Nam mau chóng trở thành “con hổ, con rồng châu Á” chỉ là ý muốn chủ quan của họ; nó hoàn toàn sai lầm, xa lạ với Việt Nam. Đối với nhân dân ta, đi theo con đường CNXH mà Đảng, Bác Hồ và nhân dân ta đã lựa chọn là thực hiện chủ nghĩa nhân đạo hiện thực, bởi vì mục tiêu độc lập dân tộc gắn liền với CNXH là sự khái quát cao nhất cái đẹp của cuộc sống, hạnh phúc của con người, là sự chung đúc tất cả lý tưởng giải phóng giai cấp, giải phóng dân tộc và giải phóng xã hội.

Ai đó cố tình kiếm cớ, viện dẫn chuyến thăm Việt Nam của Tổng thống Mỹ cùng với việc hai nước nâng cấp từ đối tác toàn diện lên đối tác chiến lược toàn diện để xuyên tạc bản chất của CNXH và con đường đi lên CNXH ở Việt Nam, đương nhiên, họ đã đi ngược lại lợi ích của quốc gia - dân tộc Việt Nam.

Nhận thức rõ bối cảnh hiện thời là rất phức tạp, nhưng trước sau như một, Đảng, Nhà nước ta, Quân đội ta đã và đang làm mọi cách với nhiều biện pháp khả thi, tốt nhất, chắc chắn nhất để đưa đất nước ta vượt qua mọi khó khăn, thách thức để tiến lên. Vì vậy, cán bộ, chiến sĩ Quân đội và nhân dân Việt Nam không bao tin vào sự đồn nhảm, sự xuyên tạc, bôi đen sự thật của các thế lực thù địch và đương nhiên không giờ tha thứ cho “những kẻ chọc gậy bánh xe”, chống phá sự nghiệp đổi mới, xây dựng CNXH, phát triển đất nước vì hòa bình, phồn vinh, hạnh phúc của nhân dân ta.

Tán phát quan điểm sai trái, thù địch, xuyên tạc sự thật là vi phạm Hiến pháp, pháp luật của Việt Nam, kẻ xấu nhất định sẽ bị trừng trị đích đáng. Vượt lên trên hết thảy mọi khó khăn, phức tạp, quyền tối cao quyết định vận mệnh quốc gia, sự thành công của sự nghiệp đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN là của Đảng, Nhà nước và nhân dân ta, của cán bộ, chiến sĩ Quân đội ta dưới sự lãnh đạo sáng suốt, tài tình của Đảng, sự quản lý, điều hành tập trung, thống nhất của Nhà nước ta./.

Nguy hại từ những câu chuyện làm quà

 

Chuyện chẳng phải mới nhưng chưa bao giờ cũ. Liên tục trong thời gian qua, ở nhiều nơi diễn ra tình trạng cán bộ hưu trí, cán bộ nghỉ chế độ, cán bộ bị kỷ luật buộc phải rời khỏi tổ chức... có những phát ngôn thiếu chuẩn mực, tuyên bố “cạch mặt” tổ chức, bôi nhọ cơ quan, đơn vị cũ; nêu chính kiến đi ngược lại với quan điểm, đường lối, chủ trương của Đảng, Nhà nước.

Thậm chí, một số cá nhân còn chủ ý cổ xúy hoặc vô tình bị các lực lượng thù địch lợi dụng, lôi kéo tham gia vào các hoạt động tuyên truyền chống phá cách mạng Việt Nam.

Thực tế đáng lo ngại đó cần phải sớm được thẳng thắn nhận diện và có giải pháp đấu tranh quyết liệt, tẩy trừ dứt điểm.

Ông cán bộ nọ, từng công tác ở cơ quan trọng yếu hẳn hoi, nhưng khi vừa về hưu, trong câu chuyện trà nước đã lắc đầu tỏ vẻ ngao ngán, chê bai chính tổ chức mà mình từng gắn bó suốt quãng đời công tác. Ông cho rằng sở dĩ bản thân phải tá túc với “cái nơi ấy” là vì “cơm, áo, gạo, tiền” chứ nội bộ cơ quan "chẳng đẹp đẽ" gì. Và rồi ông chê trách cách ứng xử, cách sống của người đứng đầu đương chức; chế nhạo, nói xấu cả những đồng nghiệp cũ.

Lại có chuyện một cán bộ vừa bị kỷ luật do vi phạm nhưng không nhận thức rõ khuyết điểm cá nhân để tự sửa chữa, lại huênh hoang livestream, viết bài đăng lên tài khoản facebook cá nhân bày tỏ sự không vừa lòng và kêu gọi cộng đồng lên tiếng bảo vệ mình?! Nhiều người không hiểu nội dung vụ việc nên đã vô tư a dua, lớn tiếng đặt điều, lên án tập thể, cơ quan chức năng.

Rồi lại thêm chuyện một số cá nhân do phẩm chất, năng lực chưa đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ công tác, bị tổ chức thải loại, buộc phải nghỉ chế độ theo yêu cầu tinh giản biên chế, được hưởng các chế độ đãi ngộ theo đúng quy định... nhưng có vẻ trong lòng ấm ức nên cố tình “trở cờ” với tổ chức. Các vị này “hồn nhiên” mang những chuyện nội bộ, cả những việc có yếu tố bí mật (theo quy định của Nhà nước) để công khai trên diễn đàn xã hội. Tệ hơn, họ coi đó như một phương tiện hòng "câu like", "câu view" hoặc “nói cho bõ tức”...

Những câu chuyện như trên diễn ra khá phổ biến ở nhiều nơi, mà tính chất, mức độ nguy hại của nó thì thật khó lường. Vì tiếp nhận thông tin một chiều, không có điều kiện thẩm định thực-hư, không nắm chắc bản chất vấn đề, cũng không nhận rõ yếu tố chủ nghĩa cá nhân, chủ nghĩa vị kỷ của những người lớn tiếng “kêu oan”, bày tỏ bức xúc... nên dư luận xã hội, nhất là trên cộng đồng mạng được dịp a dua, theo đóm ăn tàn, like, share cảm tính, vô hình trung tạo nên làn sóng dư luận tiêu cực trong cộng đồng. Chính điều đó đã tác động không nhỏ đến đời sống tinh thần xã hội. Theo chiều tiêu cực, nhiều người dần dần hình thành cách nhìn phiến diện, thiếu thiện cảm đối với hệ thống chính trị và đội ngũ cán bộ. Nhiều người hiểu sai bản chất và không nhận rõ tính khoa học, khách quan từ những chủ trương, giải pháp của Đảng, Nhà nước về công tác tư tưởng, tổ chức và chính sách đối với cán bộ, đảng viên; không thấy hết nỗ lực của các cấp, các ngành trong hiện thực hóa chủ trương tinh giản biên chế, quyết tâm xây dựng hệ thống chính trị tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả; không nhận thức đủ tính ưu việt trong chính sách trọng dụng hiền tài và quyết tâm thải loại những thành phần yếu kém về năng lực, phẩm chất ra khỏi tổ chức... Những hành vi lệch lạc đó đã gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến nhận thức, tình cảm, ý chí, niềm tin của quần chúng đối với tổ chức đảng và bộ máy chính quyền Nhà nước.

Nguy hại hơn là từ những sự vụ, sự việc nêu trên, các lực lượng thù địch lấy đó làm nguyên cớ hòng đưa đẩy vấn đề theo hướng tiêu cực, rồi suy diễn, quy chụp về những tồn tại, hạn chế trong nội bộ Đảng và bộ máy Nhà nước. Từ một vài ví dụ trên mạng xã hội, chúng rêu rao rằng "nội bộ tổ chức đảng và chính quyền đang mất đoàn kết, phân chia bè cánh, kèn cựa, đấu đá hạ bệ lẫn nhau nên mới có chuyện thải loại và đẩy cán bộ tốt vào đường cùng"... Từ đó, chúng đề xuất, tự thúc đẩy trào lưu đấu tranh, kích động biểu tình, gây rối trên một số địa bàn. Sự việc diễn ra năm 2018 ở nhiều địa phương, nhất là ở Bình Thuận càng giúp chúng ta thấm, ngấm được bài học về việc cộng đồng xã hội và người dân bị các thế lực thù địch “dắt mũi” thông qua những bài viết trên mạng xã hội.

Nhận diện những luận điệu xuyên tạc về công tác cán bộ của Đảng ta

 

Hiện nay, khi Đảng Cộng sản Việt Nam và người đứng đầu Đảng Cộng sản Việt Nam, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đẩy mạnh công cuộc chỉnh đốn Đảng, trong đó có việc xử lý kỷ luật hàng loạt cán bộ, trong đó có những cán bộ giữ chức vụ cao, các thế lực thù địch lại đăng các bài viết, bài nói xuyên tạc công tác cán bộ của Đảng. Họ cho rằng thực chất công tác cán bộ của Đảng là sai lầm nên mới sinh ra nhiều cán bộ hư hỏng như vậy (!?)…

Các luận điệu xuyên tạc về công tác cán bộ cho rằng thực chất đội ngũ cán bộ hiện nay sai phạm nhiều là do sai lầm của Đảng trong lựa chọn cán bộ. Họ cho rằng việc lựa chọn cán bộ của Đảng chủ yếu là theo “cánh hẩu”, phe nhóm, con ông cháu cha mà đưa lên chứ không phải vì tài năng hay đạo đức. Các quan điểm sai trái, xuyên tạc ấy cho rằng để khắc phục tình trạng sai lầm này thì Đảng Cộng sản Việt Nam hãy để cho mọi người tranh cử công khai và không cần Đảng phải thực hiện công tác cán bộ…

Khi Đảng xử lý hàng loạt các cán bộ sai phạm, các luận điệu xuyên tạc lại rêu rao cho rằng đó chỉ là “phe cánh triệt hạ lẫn nhau”, là “thanh trừng phe phái”, là “loại người của bên thua cuộc” để đưa những người của “bên thắng cuộc” lên... Họ cũng trắng trợn xuyên tạc cho rằng thực chất Đảng dung dưỡng cho cán bộ tham nhũng để chính những người ấy sẽ bảo vệ sự tồn tại cho chế độ. Đặc biệt, trong công cuộc phòng, chống đại dịch Covid-19 vừa qua, khi một bộ phận người dân bị ảnh hưởng nặng nề bởi dịch bệnh và chịu nhiều mất mát, vất vả, khó khăn, chúng liền vin vào cớ này để xuyên tạc và cho rằng thực chất cán bộ, nhất là cán bộ cơ sở vô tài, bất đức, chỉ lo cho bản thân mình, phe nhóm mình mà không quan tâm đến người dân, để “sống chết mặc dân”… Trước những bất cập, nhất là yếu kém của một số cán bộ, nhất là cán bộ cơ sở trong phòng, chống dịch Covid-19, họ tung ra những bài viết, bài nói để khoét sâu vào những bức xúc của người dân để quy chụp, đánh giá phiến diện một chiều khi cho rằng tất cả những yếu kém, hạn chế ấy là do cán bộ và nguyên nhân của các yếu kém đó là do công tác cán bộ của Đảng sai lầm với mục đích cuối cùng là đổ tất cả các hạn chế, bất cập ấy là do… Đảng (?!).

Một sự thật là công tác cán bộ của Đảng trong những năm qua đã thu được nhiều kết quả rõ nét, một trong những kết quả rõ nét nhất chính là việc Đảng đã xây dựng được đội ngũ cán bộ đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ, ngày càng trưởng thành, lớn mạnh.

Đại dịch Covid-19 lần thứ 4 đã bộc lộ cả những điểm tốt và chưa tốt của đội ngũ cán bộ, trong đó rõ ràng những điểm tốt vẫn là chủ đạo. Chúng ta vẫn thấy báo chí đưa tin về người cán bộ chỗ này hiểu chưa đúng về các quy định phòng chống dịch, chỗ kia hiểu chưa đúng về mặt hàng thiết yếu, cũng có người trục lợi trong dịch bệnh… Thế nhưng, tất cả những câu chuyện buồn ấy chỉ đủ đếm trên bàn tay, cao hơn hết thảy vẫn là tinh thần, trách nhiệm của đại bộ phận cán bộ, đảng viên của Đảng, nhất là lực lượng tuyến đầu, các lực lượng cơ sở, dân phòng, quân đội, công an…

Công tác cán bộ của Đảng, nhất là từ sau Đại hội XII của Đảng đã có nhiều đổi mới. Đảng đã ban hành rất nhiều các chỉ thị, nghị quyết về công tác cán bộ. Việc đánh giá cán bộ đã gắn chặt với chức trách, nhiệm vụ được giao, được thực hiện liên tục, xuyên suốt, nhiều chiều, theo những tiêu chí và bằng các sản phẩm cụ thể. Đặc biệt, công tác kiểm soát quyền lực trong công tác cán bộ, chống chạy chức chạy quyền lần đầu tiên đã đưa ra được các tiêu chí cụ thể trong Quy định 205-QĐ/TW. Công tác nhân sự được chỉ đạo chặt chẽ, kỹ lưỡng bài bản. Từ Quy định 105-QĐ/TW của Đảng, các cấp ủy đã cụ thể hóa cho phù hợp với đặc điểm tình hình từng địa phương, đơn vị song vẫn đảm bảo quy trình chặt chẽ theo 5 bước, đảm bảo khách quan, công tâm, công khai, minh bạch. Công tác tạo nguồn cán bộ đã được thực hiện từ rất sớm và theo những lộ trình bài bản, khả thi.

Ở TP Hồ Chí Minh, ngay từ rất sớm đã có chương trình tạo nguồn cán bộ cho hệ thống chính trị từ sinh viên các khá giỏi ở các trường đại học, các chương trình đào tạo thạc sĩ ở nước ngoài… Rất nhiều sinh viên giỏi là con em của các gia đình nghèo từ nông thôn vào Thành phố học tập, nhờ học giỏi, phấn đấu tốt đã được lựa chọn, đào tạo và trưởng thành. Từ các chương trình này đã bổ sung một lực lượng lớn cho đội ngũ cán bộ và hiện nay có nhiều người đang đảm nhiệm các vị trí lãnh đạo chủ chốt trong hệ thống chính trị ở Thành phố.

Đánh giá về những thành tựu trong công tác cán bộ, Đại hội XIII của Đảng đã khẳng định: “Công tác cán bộ có nhiều đổi mới, được tập trung lãnh đạo, chỉ đạo toàn diện, đồng bộ và đạt một số kết quả quan trọng; về tổng thể, đội ngũ cán bộ đáp ứng ngày càng tốt hơn yêu cầu, nhiệm vụ trong tình hình mới (…) từng bước hoàn thiện thể chế về công tác cán bộ; xây dựng, bổ sung, sửa đổi và ban hành mới nhiều quy định, quy chế về đánh giá, quy hoạch, luân chuyển, bổ nhiệm, giới thiệu cán bộ ứng cử và kiểm soát quyền lực, chống chạy chức, chạy quyền…”.

Rõ ràng những hạn chế, khuyết điểm, thậm chí sai phạm của một số tập thể, cá nhân chỉ là cá biệt và không thể chủ quan, phiến diện dựa vào thiếu sót, khuyết điểm của một vài tập thể, cá nhân mà phủ nhận sạch trơn vai trò của đội ngũ cán bộ và công tác cán bộ của Đảng.


 

 

HỌC BÁC - XIN LẤY SỰ KHIÊM TỐN, GIẢN DỊ LÀM ĐẦU


Đức tính giản dị, khiêm tốn của Bác Hồ không xa lạ đối với nhân dân. Nó làm nên cốt cách, tâm hồn của vị lãnh tụ, làm người dân trong nước và bạn bè năm châu kính trọng.

Đó còn là bài học đầu tiên trong rất nhiều nội dung của cuộc vận động lớn “Học tập và làm theo đạo đức tư tưởng Hồ Chí Minh” được Đảng phát động trong suốt gần hai thập niên qua.

Cả cuộc đời thanh bạch, giản dị

Sự giản dị, khiêm tốn của Bác đã được nhà thơ Tố Hữu khái quát trong mấy câu thơ: “Một đời thanh bạch, chẳng vàng son/ Mong manh áo vải hồn muôn trượng/ Hơn tượng đồng phơi những lối mòn”.

Hình ảnh này về Người in đậm trong tâm trí mỗi người dân Việt: bộ quần áo ka ki bạc màu, trên ngực áo không một tấm huân chương và đôi dép cao su mòn quai gót.

Là Chủ tịch nước nhưng Bác cũng ăn cơm độn ngô, khoai, sắn giống như cán bộ, nhân dân bởi đất nước lúc bấy giờ đang có chiến tranh, cuộc sống của người dân và chiến sĩ còn muôn vàn khó khăn, gian khổ. Khi đi công tác, Bác mang theo cơm nắm với muối vừng vì không muốn phiền hà cơ sở.

Ngôi nhà của Bác ở Hà Nội chỉ là một ngôi nhà sàn gỗ lợp ngói, trên gác có hai phòng, mỗi phòng hơn 10m2, vậy mà Người vẫn cho là lãng phí.

Người không phải là nhà tu hành khổ hạnh. Tuy ở cương vị là Chủ tịch nước, Chủ tịch Đảng nhưng Người không cho phép mình được hưởng đặc quyền, đặc lợi, sống xa hoa, lãng phí. Bởi vì Người tâm niệm: “Người ta ai cũng muốn ăn ngon, mặc đẹp, nhưng phải đúng thời, đúng hoàn cảnh. Trong lúc nhân dân còn khó khăn, một người nào đó muốn sống hưởng ăn ngon, mặc đẹp thì không có đạo đức”. Bởi vì Người tự nhủ mình là công bộc dân, “một ngày mà Tổ quốc chưa thống nhất, đồng bào còn chịu khổ, là một ngày tôi ăn không ngon, ngủ không yên”.

Người dân Việt Nam từ già đến trẻ, từ miền xuôi đến miền ngược, từ thành thị đến nông thôn, ai cũng hiểu, cũng xúc động tận tâm can về hình ảnh lãnh tụ trọn cuộc đời hy sinh cho dân cho nước. Bài học mà Người để lại là chính cuộc đời mình, là những lời “non nước” thấm nhuần một cách tự nhiên vào lòng dân bởi Người là “Người nông dân Việt Nam trong sáng: Hồ Chí Minh,/ bảy mươi tám nǎm gần trọn cả đời mình tranh đấu,/ và người đã hy sinh từ bỏ mọi tên,/ để chỉ còn là một giọng nói, một hơi thở, một cái nhìn/ để chỉ còn là... có gì đâu khác.../ là đất nước, là máu xương Tổ quốc;”.

Bác bình dị, gần gũi làm sao!

Học Bác, người dân chẳng đòi hỏi gì nhiều ở cán bộ đảng viên, chỉ xin gói gọn trong hai chữ “giản dị” và “khiêm tốn”.

Đây là hai vấn đề thuộc phạm trù đạo đức của con người. Người bình thường thì chuyện giản dị, khiêm tốn là lẽ thường. Với cán bộ, đảng viên, nhất là người có chức quyền, giản dị, khiêm tốn mới là điều đáng quan tâm nhất bởi nó là thước đo tư cách, đạo đức của họ mà người dân dễ dàng nhận biết, đánh giá qua hành vi ứng xử hằng ngày.

Người giản dị thì quyết không xa hoa lãng phí, xa rời nhân dân. Người khiêm tốn thì quyết không kiêu căng, hách dịch.

Cán bộ, đảng viên ta phần lớn đều xuất thân từ giai cấp công nhân và nông dân, tính giản dị, khiêm tốn đã là một phần không thể thiếu trong phẩm chất đạo đức của mỗi người. Nhìn vào các thế hệ lãnh đạo tiền bối của Đảng, chúng ta thấy rất rõ điều ấy. Họ là những tấm gương sáng ngời đạo đức cách mạng. Cuộc đời họ có sức hấp dẫn lớn đối với bao thế hệ suốt những năm tháng chiến đấu đầy hy sinh, gian khổ vì độc lập, tự do của Tổ quốc.

Đất nước từ sau ngày đổi mới đã có những bước phát triển mạnh mẽ. Kinh tế phát triển, đời sống xã hội mọi mặt được nâng lên, thu nhập bình quân đầu người ngày càng tăng cao. Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng từng nhấn mạnh, "Chưa bao giờ đất nước ta có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín như ngày hôm nay".

Học Bác lòng ta trong sáng hơn

Tuy nhiên, những biến động trong nhận thức, tư tưởng, tình cảm và đạo đức của con người cũng đã biến động theo. Lối sống giản dị, khiêm tốn dường như ngày càng trở nên xa lạ giữa cuộc sống xô bồ, bon chen, giành giật ở cái thời được gọi là 4.0 này.

Có lẽ vì thế mà không ít cán bộ bây giờ sau vài ba năm hay một nhiệm kỳ giữ chức bỗng trở nên giàu có, sính xây biệt phủ, dinh thự, sắm xe sang; không ít người đi đến đâu thì ồn ào đến đấy, tiền hô hậu ủng, băng rôn, biểu ngữ đỏ chót.

Thử hỏi, có được mấy vị cán bộ lãnh đạo hết giờ làm việc, một mình tản bộ trên phố, tạt vào quán vỉa hè nhâm nhi ly cà phê trò chuyện với người lao động hay ghé chợ dân sinh xem giá cả bó rau, cân thịt để cảm nhận được nhịp sống đời thường và muôn nỗi nhọc nhằn của dân chúng trong cuộc mưu sinh hằng ngày?!

Họ diện com lê, cà vạt, áo sơ mi trắng toát và giày da bóng loáng đi “thăm” bà con nông dân làm ruộng hay đi chống lũ cứu dân. Khi trồng cây thì họ trồng “cây đa, cây đề” hàng chục năm tuổi, lại mặc sơ mi cổ cồn, dày bóng lộn, găng tay.

Khi nói về chuyện trồng cây dịp Tết 2018, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã phê phán: "Hôm trước chúng tôi nêu cái ý định là năm nay làm một cái Tết trồng cây bảo vệ rừng vì cái nạn phá rừng nhiều quá. Làm sao cho nó thiết thực, cứ cầm cái xẻng nghêu ngao, cầm ra lút cán, trông là người ta biết ông này không phải là trồng cây. Gẩy gẩy mấy tí đất, chân thì đi giày, xong lại đưa cái khăn với chậu nước, nó phản cảm quá”.

Ai chẳng muốn ăn ngon, mặc đẹp bởi đấy là ước mơ, là mục đích phấn đấu của con người. Bác Hồ cũng đã nói thế nhưng Người nhắc nhở ăn ngon, mặc đẹp “phải đúng thời, đúng hoàn cảnh”. Học Bác lối sống giản dị, khiêm tốn chính là ở cách ứng xử phù hợp với hoàn cảnh xung quanh mình. Dân còn vất vả, kham khổ thì cán bộ không thể sống đế vương trong dinh thự lộng lẫy của mình.

Trường học, bệnh viện còn thiếu thốn, trẻ vùng sâu, vùng cao còn đứt bữa, quần manh áo mỏng, chân trần đến lớp thì không thể phung phí tiền bạc để xây những công trình không thiết thực đối với quốc kế dân sinh.

Những cổng chào, những tượng đài ngốn hàng chục, hàng trăm tỉ mọc lên khắp nơi; hàng ngàn lễ hội núp bóng tâm linh lôi kéo con người vào vòng xoáy mê tín dị đoan; hàng trăm đại dự án tiêu tốn trăm ngàn tỉ nhưng lại đắp chiếu hoặc phơi nắng phơi mưa…

Học tập Bác Hồ - xin hãy lấy sự khiêm tốn, giản dị, thực chất và hiệu quả làm đầu. Đừng nói yêu nước thương dân khi chính mình vung tay quá trán tiền thuế của dân.

Lại nhắc thêm một lần nữa lời dạy của Người: “Trước mặt quần chúng, không phải ta cứ viết lên trán chữ “cộng sản” mà ta được họ yêu mến. Quần chúng chỉ quý mến những người có tư cách, đạo đức”./.

Đấu tranh chống các luận điệu sai trái, xuyên tạc về Chủ tịch Hồ Chí Minh

 

 Việc đấu tranh phòng, chống các luận điệu thù địch, xuyên tạc về Chủ tịch Hồ Chí Minh (cả ở khía cạnh cá nhân và tư tưởng của Người) là một công việc khó khăn, phức tạp, đòi hỏi phải thực sự nỗ lực và có nhiều giải pháp đồng bộ. Bởi các thế lực xấu luôn không từ bất kỳ thủ đoạn nào để công kích, bôi nhọ, hạ bệ Chủ tịch Hồ Chí Minh bằng những cách thức rất khó dự đoán trước. Trong khi đó, với môi trường không gian mạng đa chiều, có tính mở rất cao, những thông tin sai trái đó vẫn có thể âm thầm tồn tại và len lỏi, thâm nhập dần vào một bộ phận người thiếu thông tin nhưng cả tin, nhất là trong giới trẻ. Nếu không kịp thời và quyết liệt đấu tranh, có thể sự thẩm thấu, tán phát ngày càng sâu hơn, rộng hơn và hậu quả cũng khó lường hơn.

Đương nhiên, các giải pháp mang tính chất phòng ngừa là rất quan trọng, bởi đó là cách trang bị cho cán bộ, đảng viên, nhân dân những kiến thức, nhận thức phù hợp và mang tính nền tảng, đồng thời làm lan tỏa những thông tin đúng đắn, chính xác để tự nó có thể “đánh bạt” các thông tin sai trái, bịa đặt. Tuy nhiên, các thế lực xấu luôn có trăm phương ngàn kế để thực hiện âm mưu thâm độc của mình, do đó, không chỉ phòng mà còn phải chống, chống quyết liệt và thật sự hữu hiệu.

Hiện nay, trong việc đấu tranh các luận điệu sai trái, xuyên tạc về Chủ tịch Hồ Chí Minh phải gắn với việc tiếp tục thực hiện Chỉ thị số 23-CT/TW của Ban Bí thư khóa XII về “Tiếp tục đổi mới, nâng cao chất lượng, hiệu quả học tập, nghiên cứu, vận dụng và phát triển chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh trong tình hình mới" gắn với Nghị quyết số 35-NQ/TW của Bộ Chính trị khóa XII về “Tăng cường bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trong tình hình mới”. 

Do đó, cần thực hiện tốt việc quán triệt trong cán bộ, đảng viên về những vấn đề mang tính nguyên tắc, những thông tin, kiến thức mang tính chính thức liên quan đến Chủ tịch Hồ Chí Minh, tư tưởng, tấm gương, đạo đức của Người. Tùy theo đối tượng mà nên trang bị những nhóm kiến thức phù hợp, có thể bắt đầu từ trong nhà trường phổ thông với những nội dung và hình thức phù hợp. Quá trình đó, cần khéo léo dẫn lại những luận điệu sai trái, gợi ý các nội dung và cách thức bác bỏ. Trong hoạt động thông tin và phản bác cần có cách thức để làm người tiếp nhận có thể hình thành ý thức tự phản biện và tin tưởng bằng cách luận cứ khoa học, chứ không phải áp đặt.

Các cơ quan chức năng cần nắm chắc những ý kiến sai trái về Chủ tịch Hồ Chí Minh, cả về thân thế và sự nghiệp, tư tưởng, đạo đức Hồ Chí Minh, truy nguyên nguồn gốc của thông tin sai trái đó, xác định rõ dụng ý hoặc âm mưu của việc lan truyền các thông tin sai trái đó là gì, đánh giá mức độ lan tỏa và sự nguy hiểm của nó… để có phương thức đấu tranh hợp lý. Dĩ nhiên, có những thông tin sai trái không cần đấu tranh hoặc chưa cần đấu tranh thì không nhất thiết phải nhắc đến, tránh tạo sự hiếu kỳ mà làm lan rộng thêm đến nhiều người khác.

 BÁC BỎ LUẬN ĐIỆU XUYÊN TẠC CHÍNH SÁCH CỦA ĐẢNG, NHÀ NƯỚC TA ĐỐI VỚI NGƯỜI VIỆT NAM Ở NƯỚC NGOÀI


Trong những năm qua Đảng, Nhà nước đã nỗ lực thúc đẩy mạnh mẽ, đoàn kết, gắn kết công dân ở nước ngoài để phát triển đất nước đặc biệt Ngày 23/6/2004, Bộ Chính trị (khoá IX) đã ban hành Nghị quyết 36 về công tác đối với người Việt Nam ở nước ngoài. Gần 20 năm qua, Nghị quyết 36 đã lan tỏa mạnh mẽ, trở thành nhịp cầu góp phần gắn kết chặt chẽ người Việt Nam ở nước ngoài với Tổ quốc. 

Tuy nhiên, các thế lực thù địch, phản động, các phần tử cơ hội vẫn tìm cách đưa ra những luận điệu xuyên tạc, bôi nhọ chính sách của Đảng, Nhà nước ta đối với người Việt Nam ở nước ngoài, kích động chống phá, gây chia rẽ cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài với Tổ quốc. Chúng cố tình bóp méo, vu cáo chính sách của Đảng, Nhà nước ta đối với người Việt Nam ở nước ngoài. Các thế lực thù địch và các tổ chức phản động lưu vong cùng một số đối tượng chống đối cực đoan lập các trang web, facebook, youtube, twitter, tiktok, zalo… tuyên truyền bịa đặt, bôi nhọ các chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước với những luận điệu xuyên tạc như: Nhà nước không giúp gì, chỉ tìm cách khai thác nhân tài, vật lực của người Việt hải ngoại; việc thành lập các hội, đoàn trong cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài là cách cho thấy “Đảng Cộng sản Việt Nam đang tham vọng định hướng chính trị”; cộng sản xâm nhập, phá hoại và lũng đoạn các cộng đồng, các hội đoàn, các cơ sở thương mại, trường học của người Việt tại hải ngoại… Thậm chí các đối tượng còn rêu rao rằng, Việt Nam đang tìm cách “đảng hóa” với cả những hội, đoàn trong tương lai mà Đảng hậu thuẫn tại hải ngoại! Các đối tượng cố tình xuyên tạc, vu cáo rằng kể từ Nghị quyết 23-NQ/TW ngày 12/3/2003 về phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc đến Nghị quyết 36-NQ/TW ngày 26/3/2004 về công tác đối với người Việt Nam ở nước ngoài được triển khai “thực chất là những chiêu trò ru ngủ giả hiệu dân chủ”.

Đây là những luận điệu xuyên tạc xuất phát từ tư tưởng thù địch nhằm bóp méo bản chất, ý nghĩa các chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng, Nhà nước ta trong gắn kết người Việt Nam ở nước ngoài với Tổ quốc. Có thể khẳng định với truyền thống yêu nước, hướng về Tổ quốc, cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài luôn là một nguồn lực quan trọng, có nhiều đóng góp cho tiến trình xây dựng, bảo vệ và phát triển đất nước ta trong suốt chiều dài lịch sử. Hiện nay, với khoảng 6 triệu người sinh sống tại hơn 130 quốc gia và vùng lãnh thổ, trong đó 80% ở các nước phát triển, cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài ngày càng lớn mạnh, khẳng định được vai trò, vị thế, uy tín, không những đóng góp tích cực vào phát triển của nước sở tại mà còn góp phần quan trọng trong việc thúc đẩy quan hệ hợp tác, hữu nghị giữa Việt Nam với các nước cũng như công cuộc xây dựng và phát triển đất nước.

Gần 40 năm đổi mới đất nước, các chủ trương và chính sách đối với người Việt Nam ở nước ngoài của Đảng, Nhà nước ngày càng được bổ sung và hoàn thiện nhằm đáp ứng kịp thời các yêu cầu thực tiễn. Đảng, Nhà nước ta, khẳng định cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài là bộ phận không tách rời và là một nguồn lực của cộng đồng dân tộc Việt Nam; công tác đối với người Việt Nam ở nước ngoài là trách nhiệm của toàn bộ hệ thống chính trị và của toàn dân, thể hiện đầy đủ truyền thống đại đoàn kết toàn dân tộc. Trong 20 năm thực hiện Nghị quyết số 36-NQ/TW của Bộ Chính trị khóa IX đã chứng minh, mặc dù sống xa Tổ quốc nhưng đồng bào ta vẫn luôn nuôi dưỡng, phát huy tinh thần yêu nước, tự tôn dân tộc, giữ gìn truyền thống văn hóa và hướng về cội nguồn, dòng tộc, gắn bó với gia đình, quê hương. Trong các công cuộc chống ngoại xâm, bảo vệ Tổ quốc đã có rất nhiều người Việt Nam ở nước ngoài đóng góp về tinh thần, vật chất và cả xương máu cho sự nghiệp giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước.

Đi liền với đó là những thành tựu to lớn của đất nước sau giai đoạn đổi mới cùng với vị thế ngày càng tăng của đất nước ở khu vực và trên thế giới đã khích lệ cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài tự hào, tự tôn dân tộc, hướng về với cội nguồn, đóng góp cho quê hương. Đóng góp vào thành tựu chung của đất nước có công sức, trí tuệ của nhiều doanh nhân, trí thức người Việt Nam có trình độ cao ở nước ngoài, luôn tích cực tham gia hiến kế cho lãnh đạo Đảng, Nhà nước nhiều vấn đề quan trọng như nhân lực chất lượng cao, tài chính, thương mại, đầu tư, công nghệ, trí tuệ nhân tạo, khởi nghiệp, đổi mới sáng tạo, phòng chống dịch bệnh, các mô hình phát triển kinh tế… Hiện đã có 385 dự án của người Việt Nam ở nước ngoài đầu tư tại Việt Nam với tổng vốn đăng ký hơn 1,7 tỷ USD và có vốn góp vào hàng nghìn doanh nghiệp Việt Nam, góp phần tạo việc làm, chuyển giao công nghệ và phát triển kinh tế - xã hội. Lượng kiều hối chuyển về nước ta trong những năm qua ngày càng tăng mạnh, không chỉ giúp các ngân hàng gia tăng lợi nhuận từ hoạt động dịch vụ mà còn phục vụ chính sách thu hút nguồn ngoại tệ cho Việt Nam, bổ sung dự trữ ngoại hối. Cùng với đó, nguồn lực từ kiều hối góp phần giúp các doanh nghiệp đầu tư mở rộng sản xuất, kinh doanh, tạo động lực tích cực cho sự phát triển kinh tế-xã hội. Ngân hàng Nhà nước Việt Nam cho biết, theo số liệu báo cáo của các đơn vị làm dịch vụ chuyển tiền kiều hối, năm 2023, lượng kiều hối chuyển về nước ta đạt 16 tỷ USD, tăng 32,5% so với năm 2022. Trong đó, tổng lượng kiều hối về TP Hồ Chí Minh năm 2023 đạt 8,92 tỷ USD, tăng 35% so với năm 2022. Ngân hàng Nhà nước chi nhánh TP Hồ Chí Minh dự báo lượng kiều hối năm 2024 chuyển về qua các ngân hàng thương mại và tổ chức kinh tế trên địa bàn sẽ tăng khoảng 20% so với năm 2023.

Có thể khẳng định năm 2024 là năm bản lề cho công tác người Việt Nam ở nước ngoài chuẩn bị bước sang một trang mới. Việc tổng kết 20 năm thực hiện Nghị quyết số 36-NQ/TW, ngày 26/3/2004 của Bộ Chính trị (khóa IX) về công tác đối với người Việt Nam ở nước ngoài là dịp để các cấp, các ngành và cả hệ thống chính trị đánh giá một cách khách quan những ưu điểm, hạn chế, tìm ra nguyên nhân, rút ra bài học kinh nghiệm và đề ra các giải pháp thiết thực để phát huy hơn nữa nguồn lực người Việt Nam ở nước ngoài trong những năm tới; tiếp tục khẳng định người Việt Nam ở nước ngoài là một bộ phận không tách rời của cộng đồng dân tộc Việt Nam, là nguồn lực quan trọng trong sự nghiệp xây dựng và phát triển đất nước. Đây cũng là cơ sở để Đảng ta bổ sung, phát triển đường lối đối ngoại, chính sách đối với người Việt Nam ở nước ngoài trong nhiệm kỳ Đại hội XIV, tạo điều kiện phát huy nguồn lực kiều bào đóng góp cho quê hương, đất nước. Sự quan tâm của Đảng, Nhà nước và sự tin tưởng, đóng góp của cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài là minh chứng thực tiễn góp phần xóa bỏ những mối nghi hoặc, những luận điệu xuyên tạc, bóp méo của các thế lực thù địch.


Học tập Bác: Nêu cao Bổn phận công bộc trong giữ gìn "phương diện quốc gia"

 

Từ điển tiếng Việt giải thích “phương diện quốc gia” từ ý thơ của cụ Nguyễn Du trong “Truyện Kiều” là: “Vị quan đảm đương công việc một vùng đất nước”. Trong thời đại ngày nay, mỗi cán bộ, đảng viên trong hệ thống chính trị đều có một phần “phương diện quốc gia” trên cương vị, chức trách, nhiệm vụ được giao. Vì vậy, mọi việc làm, hành vi ứng xử của cán bộ, nhất là trong môi trường có yếu tố nước ngoài, đều có ảnh hưởng nhất định đến hình ảnh đất nước, vị thế quốc gia, dân tộc. Cán bộ giữ cương vị càng cao, sự ảnh hưởng càng lớn. Cán bộ tốt thì dân được nhờ, đất nước được tiếng thơm. Cán bộ tiêu cực, không biết giữ mình thì đất nước mang tiếng xấu. Sự lợi dụng của các thế lực thù địch, phần tử phản động nhằm mưu đồ chống phá Đảng, chống phá đất nước cũng từ những hành vi tiêu cực đó mà ra.

Chính vì vậy, để giữ “phương diện quốc gia”, mỗi cán bộ, đảng viên phải có sự thống nhất cao về mặt nhận thức, có thái độ đấu tranh kiên quyết, bài trừ những thông tin tiêu cực về tình hình đất nước trên không gian mạng, nêu gương và dẫn dắt quần chúng. Cần nhận thức một cách thấu đáo và khách quan, việc đấu tranh phát hiện, xử lý những vụ việc tiêu cực vừa qua là sự thể hiện thái độ kiên trì, kiên quyết, không có vùng cấm của Đảng, Nhà nước ta đối với tham nhũng, tiêu cực.

Việc các cơ quan chức năng điều tra, khám phá thành công những vụ án, vụ việc tiêu cực trong nội bộ, chính là kết quả, thành công của cuộc chiến chống tham nhũng, tiêu cực, góp phần nâng cao hiệu quả xây dựng, chỉnh đốn Đảng. Lấy những vụ việc, biểu hiện tiêu cực của một bộ phận cán bộ, đảng viên để quy kết, quy chụp, lên án cả hệ thống chính trị, bôi nhọ đất nước... là thủ đoạn võ đoán, quy chụp, thể hiện rõ ý đồ thù địch.

Để giữ “phương diện quốc gia”, bên cạnh tập trung các giải pháp đấu tranh phản bác, phủ nhận, làm thất bại âm mưu của các thế lực thù địch, cần đặc biệt coi trọng việc củng cố trận địa từ bên trong. Đó chính là ý thức trách nhiệm, bổn phận của đội ngũ công bộc trước lợi ích quốc gia, dân tộc. Phát biểu tại Hội nghị văn hóa toàn quốc năm 2021, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng nhấn mạnh: “Trọng tâm xây dựng và phát triển văn hóa là xây dựng con người có nhân cách và xây dựng môi trường văn hóa lành mạnh...; xây dựng văn hóa trong Đảng và trong hệ thống chính trị; xây dựng văn hóa công chức, văn hóa công vụ, đặc biệt là đạo đức công vụ, chú trọng sự nêu gương của cán bộ, đảng viên...”.

Như vậy, văn hóa công chức, văn hóa công vụ, đạo đức công vụ... chính là những nhân tố cốt lõi để cán bộ, đảng viên tu dưỡng, rèn luyện, xứng đáng là công bộc của dân, là đại diện cho vị thế quốc gia. Trong có ấm thì ngoài mới êm. Nếu mỗi công bộc của dân có ý thức, bổn phận giữ “phương diện quốc gia” đúng mực thì chúng ta sẽ hạn chế đến mức thấp nhất những tiêu cực trong bộ máy công quyền, các thế lực thù địch khó tìm cớ để chống phá Đảng, chống phá đất nước. Đó cũng là phương châm lấy xây để chống trong xây dựng, chỉnh đốn Đảng hiện nay.

Xây dựng văn hóa công chức, văn hóa công vụ, đạo đức công vụ phải gắn liền với xây dựng thương hiệu doanh nghiệp, văn hóa doanh nghiệp. Đó chính là phương châm của nhiều ngành, nhiều lĩnh vực, doanh nghiệp trong môi trường hội nhập quốc tế, nhất là cán bộ, doanh nhân trong các ngành liên quan đến ngoại giao, du lịch, thương mại... Trong từng môi trường, hoàn cảnh có yếu tố quốc tế, chính họ là cầu nối, là “sứ giả” của văn hóa dân tộc, thể hiện phong cách, thái độ, trình độ văn hóa, văn minh của đất nước, con người Việt Nam trong mắt bạn bè. Hiệu quả thu hút đầu tư, phát triển kinh tế cũng đến từ những ấn tượng về đất nước, con người Việt Nam thông qua những hình ảnh thân thiện ấy.

Văn kiện Đại hội XIII của Đảng nêu rõ: "Khơi dậy mạnh mẽ tinh thần yêu nước, ý chí tự cường dân tộc và khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc. Phát huy sức mạnh tổng hợp của cả hệ thống chính trị, của nền văn hóa và con người Việt Nam,... kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại; phát huy tối đa nội lực, tranh thủ ngoại lực, trong đó nguồn lực nội sinh, nhất là nguồn lực con người là quan trọng nhất".

Quan điểm của Đại hội XIII của Đảng và thông điệp từ Hội nghị văn hóa toàn quốc năm 2021 phải được thể hiện, tạo chuyển biến rõ nét trong đời sống xã hội. Chúng ta xây dựng môi trường văn hóa lành mạnh, văn minh gắn liền với đấu tranh không khoan nhượng với cái xấu, cái ác, phi văn hóa, phản văn hóa; bảo vệ những giá trị chân-thiện-mỹ của văn hóa Việt Nam, con người Việt Nam. Đó là cách thiết thực để giữ “phương diện quốc gia” trong ý thức, hành vi của mỗi cán bộ, đảng viên, để khi “quan trên trông xuống người ta trông vào” không hổ thẹn với lương tâm.

Sức mạnh và sự trường tồn quốc gia, dân tộc

 

Mỗi khi điệp khúc hào hùng, bi tráng trong bài hát “Tổ quốc gọi tên mình” do nhạc sĩ Đinh Trung Cẩn phổ nhạc từ bài thơ “Tổ quốc gọi tên” của Nguyễn Phan Quế Mai vang lên cũng là khi triệu triệu con tim người Việt Nam sục sôi, trào dâng niềm tự hào dân tộc, với tình yêu Tổ quốc thiêng liêng, với ý chí kiên cường, quật khởi; với tinh thần vệ quốc vô song trong công cuộc bảo vệ chủ quyền biển, đảo thiêng liêng của dân tộc.   “Tổ quốc của tôi, Tổ quốc của tôi. Mấy ngàn năm chưa bao giờ ngơi nghỉ. Ngọn đuốc hòa bình bao người đã ngã. Máu của người nhuộm mặn sóng biển đông… Tổ quốc linh thiêng Tổ quốc linh thiêng…” 

Trong dòng cảm xúc ấy, ai trong chúng ta cũng không khỏi bồi hồi, xúc động khi tưởng nhớ về sự hy sinh anh dũng của 64 cán bộ, chiến sĩ Hải quân Nhân dân Việt Nam để bảo vệ chủ quyền trên quần đảo Trường Sa của Việt Nam từ 34 năm về trước. Đó là vào ngày 14/3/1988, Trung Quốc đã dùng lực lượng quân sự hùng mạnh với sự xuất hiện của tàu chiến và nhiều loại vũ khí hiện đại tấn công nhằm đánh chiếm các đảo Gạc Ma, Cô Lin, Len Đao thuộc quần đảo Trường Sa của Việt Nam. Đáp lời sông núi, cán bộ, chiến sĩ các lực lượng Hải quân Nhân dân Việt Nam trên 03 con tàu HQ604, HQ505, HQ605 dù chỉ với những vũ khí thô sơ, dù phải giáp mặt với đối phương hùng mạnh, nhưng với truyền thống yêu nước, với khát vọng hòa bình của những người con mang dòng máu Lạc Hồng, với tinh thần “quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh”, các anh đã gan dạ, kiên cường, dũng cảm xông lên chiến đấu với kẻ thù để gìn giữ từng tấc biển, tấc đảo quý giá của quê hương, đất nước.

Trong cuộc chiến không cân sức ấy, các anh đã vĩnh viễn nằm lại dưới làn mưa đạn, máu của các anh đã lẫn vào vị mặn của biển, xương thịt của các anh đã ngấm sâu nơi lòng đảo và đại dương. Các anh mãi mãi đi xa, nhưng tên tuổi các anh sẽ luôn được Tổ quốc khắc ghi, sự hy sinh của các anh mãi được đời đời ơn nhớ; tinh thần chiến đấu can trường của các anh luôn là tấm gương sáng rọi vào tâm tưởng của các thế hệ Việt Nam hôm nay và mai sau. Hình ảnh các chiến sĩ siết chặt tay nhau, kết thành vòng tròn hiên ngang, sừng sững chiến đấu đến hơi thở cuối cùng để bảo vệ lá cờ Tổ quốc trên đảo Gạc Ma mãi là biểu tượng cao đẹp của chủ nghĩa anh hùng cách mạng Việt Nam, mãi là động lực để làm nên sức mạnh và sự trường tồn quốc gia, dân tộc.

Theo thời gian, sự kiện Gạc Ma dần lùi về quá khứ, thế nhưng phải khẳng định rằng cuộc chiến đấu bảo vệ chủ quyền biển, đảo và sự hy sinh quên mình của 64 cán bộ chiến sĩ Hải quân Nhân dân Việt Nam năm ấy vẫn còn nguyên giá trị đối với toàn dân tộc ở cả hiện tại và tương lai. Tất cả họ đã mãi yên nghĩ dưới lòng đại dương, cho Tổ quốc được sống, cho Đất nước được vẹn nguyên, cho Nhân dân được hưởng giá trị của hai tiếng hòa bình. Đó như là chân lý không thể phủ nhận.

Tuy vậy, trong tình hình hiện nay, khi chính trị khu vực và quốc tế có những diễn biến phức tạp, khó lường, lợi ích ở biển Đông ngày càng được “ưu tiên” trong quá trình xác lập địa chính trị của các quốc gia, kéo theo là các tranh chấp, xung đột liên quan đến vấn đề biển, đảo đã và đang trở thành “điểm nóng” trong chính sách đối ngoại cộng đồng quốc tế, trong đó Việt Nam có thể là thành viên hoặc đối tác. Thực tế đó, có thể dẫn đến những cứ liệu, thông tin lịch sử về chủ quyền biển, đảo của Việt Nam, trong đó có diễn biến, tính chân thực sự kiện 14/3/1988 bị hiểu sai lệch, gây bất lợi cho chúng ta trong thực hiện chính sách đối với vùng biển, đảo thuộc chủ quyền quốc gia. Cùng với đó là quá trình thực hiện chiến lược “diễn biến hòa bình”, chống phá sự nghiệp cách mạng Việt Nam, các thế lực thù địch, các phần tử cơ hội, chống đối chính trị luôn không ngừng tung ra những luận điệu có tính xuyên tạc, phủ định đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước ta trên tất cả các lĩnh vực, trong đó có vấn đề biển, đảo. Với chiêu bài “lật sử”, “xét lại”, sẽ xuất hiện và lan truyền những luận điệu sai trái, thù địch xuyên tạc, bóp méo, bôi đen lịch sử công cuộc bảo vệ chủ quyền biển đảo của dân tộc, hòng làm “lu mờ”, “thay đổi” bản chất, tính chính nghĩa của sự kiện 14/3/1988 và sự hy cao cả của các cán bộ, chiến sĩ Hải quân nhân dân Việt Nam.

Do đó, hơn ai hết, chúng ta – là người Việt Nam phải luôn ghi nhớ, luôn tôn trọng và không được phép lãng quên những giá trị lịch sử của dân tộc qua sự kiện này; mỗi chúng ta phải nhận thức sâu sắc, toàn diện về tính chính nghĩa cuộc chiến đấu bảo vệ Tổ quốc và bản chất cao đẹp, sự hy sinh cao cả của 64 chiến sĩ Hải quân nhân dân Việt Nam trên đảo Gạc Ma; tích cực tìm hiểu, nghiên cứu, thông suốt đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước trong nhận thức và giải quyết vấn đề biển Đông. Đó là cơ sở để nhận diện và “đề kháng” trước những quan điểm sai trái, các luận điệu xuyên tạc của các thế lực chống phá cách mạng. Cùng với đó, mỗi cán bộ, đảng viên và người dân phải là những “dư luận viên” nòng cốt, tích cực góp phần cùng toàn Đảng, toàn hệ thống chính trị, các ban, ngành, đoàn thể bảo vệ, gìn giữ vững chắc chủ quyền biển, đảo thiêng liêng của Tổ quốc.

“…Tổ quốc linh thiêng, Tổ quốc linh thiêng. Ngọn đuốc hòa bình trên tay rực lửa. Tôi lắng nghe, Tôi lắng nghe Tổ quốc gọi tên mình”…

 

 

TUYÊN TRUYỀN, BẢO VỆ ĐẢNG LÀ TRÁCH NHIỆM CHÍNH TRỊ

CỦA NHỮNG NGƯỜI LÀM BÁO


Sau 3 năm tổ chức, Cuộc thi viết “Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong tình hình mới” ngày càng nhận được sự hưởng ứng tích cực của các cơ quan báo chí Trung ương và địa phương, các chuyên gia, nhà khoa học và cộng tác viên. Số lượng hơn 600 tác phẩm của hơn 50 cơ quan báo chí tham dự đã minh chứng sức hút, sức lan tỏa của cuộc thi trong đời sống báo chí của nước nhà. Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng là lĩnh vực khó, đề tài không mới, nhưng qua thẩm định các tác phẩm ở vòng chung khảo, tôi nhận thấy khá nhiều tác phẩm được đầu tư công phu, nhất là khối báo địa phương. Điều đó cho thấy tâm huyết, trách nhiệm, công sức lao động báo chí của các báo địa phương đã được nâng lên so với hai lần thi trước. Bên cạnh đó, đội ngũ chuyên gia, nhà nghiên cứu tham gia với nhiều tác phẩm chính luận có sức thuyết phục đã góp phần nâng cao uy tín của cuộc thi.

Qua theo dõi tôi nhận thấy, Ban tổ chức đã có nhiều cách làm mới, sáng tạo để cuộc thi ngày càng có sức lan tỏa rộng rãi trong đời sống báo chí và đời sống chính trị của đất nước. Báo Quân đội nhân dân với vị thế, vai trò là cơ quan báo chí truyền thông chủ lực, đa phương tiện đã đưa các nội dung cuộc thi lên các nền tảng mạng xã hội để đo lường lượng tương tác của công chúng, qua đó thấy được hiệu quả của cuộc thi. Cuộc thi lần này thu hút nhiều cơ quan báo chí tham gia, nhiều tác giả mới xuất hiện với những góc nhìn mới về công tác đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng. Một số tác giả lần đầu tham dự song có cách tiếp cận sinh động, thể hiện rõ quan điểm cá nhân, lập luận sắc bén về vấn đề đưa ra. Những nhân tố mới đó đã tạo nên sự hấp dẫn, phong phú cho cuộc thi.

Hiện nay, cuộc đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng diễn biến phức tạp, ẩn chứa nhiều yếu tố phi truyền thống. Do vậy, trong công tác đấu tranh cần linh hoạt, có góc nhìn mới để nhận diện và đấu tranh hiệu quả. Ban tổ chức cần tiếp tục động viên nhiều lực lượng tham gia, trong đó khuyến khích những cây bút mới, tác giả trẻ ở các cơ quan báo chí trong cả nước, nhất là những báo Đảng ở địa phương, tạo nên sức mạnh tổng hợp của các cơ quan báo chí trong đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng.

Tham gia Cuộc thi “Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong tình hình mới” do Báo Quân đội nhân dân chủ trì tổ chức, chúng tôi có điều kiện học hỏi, tiếp thu kinh nghiệm thực hiện nhiệm vụ tuyên truyền về lĩnh vực xây dựng, bảo vệ Đảng hiện nay. Mặt khác, tham gia cuộc thi này còn góp phần nâng cao uy tín, vị thế của cơ quan báo Đảng ở địa phương.

Để nâng cao chất lượng cuộc thi, theo tôi, Ban tổ chức tiếp tục tăng cường tuyên truyền, quảng bá cuộc thi. Thực tế lâu nay, nhiều người e ngại khi viết bài về công tác xây dựng Đảng nói chung, nhất là viết bài về bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng. Cũng vì tâm lý cho rằng đây là lĩnh vực khô, khó, nhiều thông tin nhạy cảm nên chưa mạnh dạn tham gia. Hơn nữa, hiện nay có rất nhiều cuộc thi báo chí cấp Trung ương và địa phương. Do vậy, cùng với đẩy mạnh quảng bá rộng rãi cuộc thi trên các ấn phẩm của Báo Quân đội nhân dân và các nền tảng truyền thông xã hội, Ban tổ chức cần quan tâm mở rộng cơ cấu giải thưởng để tăng cơ hội đoạt giải cho các tác giả, từ đó thu hút đông đảo phóng viên, cộng tác viên trong cả nước gửi tác phẩm tham gia cuộc thi.

Cùng với các cơ quan báo chí trong cả nước, thời gian qua, Báo Cao Bằng tích cực tuyên truyền công tác xây dựng Đảng, đấu tranh chống tham nhũng, tiêu cực, phản bác quan điểm sai trái, xuyên tạc của các thế lực thù địch, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng. Báo đã duy trì các chuyên mục như: “Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng”, “Đưa nghị quyết của Đảng vào cuộc sống”, “Học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh” trên các ấn phẩm; có nhiều tin, bài, phóng sự định hướng dư luận xã hội trước các vấn đề phức tạp, vụ việc nổi cộm. Nhiều bài viết có hiệu ứng tốt trong xã hội, được cán bộ, đảng viên và nhân dân đón nhận. Tờ báo cũng đi đầu trong công tác tuyên truyền giáo dục lý tưởng cách mạng, giáo dục truyền thống, đạo đức, lối sống văn hóa cho nhân dân, qua đó nâng cao khả năng đề kháng của nhân dân, nhất là thế hệ trẻ trước những âm mưu, thủ đoạn xuyên tạc, chống phá của các thế lực thù địch, phản động.

Tới đây, Ban Biên tập Báo Cao Bằng tiếp tục triển khai đến toàn thể đội ngũ cán bộ, phóng viên, cộng tác viên tham gia các giải báo chí do Trung ương và địa phương phát động viết về xây dựng Đảng, thi viết chính luận bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái thù địch, trong đó có cuộc thi do Báo Quân đội nhân dân và Hội Nhà báo Việt Nam phối hợp tổ chức. Việc làm này cũng không ngoài mục đích xây dựng đội ngũ phóng viên báo Đảng ở địa phương “vừa hồng vừa chuyên”. /.

 

 

VỮNG BƯỚC DƯỚI LÁ CỜ VẺ VANG CỦA ÐẢNG


Đề cập đến bài viết “Tự hào và tin tưởng dưới lá cờ vẻ vang của Đảng, quyết tâm xây dựng một nước Việt Nam ngày càng giàu mạnh, văn minh, văn hiến và anh hùng” của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng, hầu hết cán bộ, đảng viên và nhân dân đều có chung nhận định: Bài viết đã khái quát những truyền thống vẻ vang của Đảng 94 năm qua trong lãnh đạo sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc và xây dựng, phát triển đất nước thời kỳ đổi mới. Từ đó, góp phần bồi đắp niềm tự hào cho mỗi cán bộ, đảng viên và nhân dân vững bước dưới lá cờ vẻ vang của Đảng.

Khẳng định thành tựu vẻ vang của Ðảng

Ông Bùi Văn Thiêm, Ủy viên Ban Thường vụ, Trưởng ban Tuyên giáo Đảng ủy Khối Cơ quan và Doanh nghiệp tỉnh nhận định: Bài viết của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng ra đời nhân kỷ niệm 94 năm Ngày thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam (3-2-1930 - 3-2-2024) đã tiếp thêm sức mạnh cho toàn Đảng, toàn dân, toàn quân nỗ lực phấn đấu hoàn thành mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”. Bài viết của Tổng Bí thư được xem như một văn kiện của Đảng ở mức khái quát nhất có thể. Bài viết bao quát quá trình Đảng ta ra đời, lãnh đạo đấu tranh giành độc lập, giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước và khắc phục hậu quả chiến tranh, tiến hành công cuộc đổi mới, hội nhập quốc tế.

Suốt 94 năm qua, trong sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc cũng như trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc ngày nay, Đảng Cộng sản Việt Nam luôn ý thức được vị trí, vai trò, trọng trách của mình trước vận mệnh dân tộc, tương lai của đất nước. Bài viết “Tự hào và tin tưởng dưới lá cờ vẻ vang của Đảng, quyết tâm xây dựng một nước Việt Nam ngày càng giàu mạnh, văn minh, văn hiến và anh hùng” của Tổng Bí thư đã thể hiện toàn bộ thành tựu vượt bậc do Đảng lãnh đạo đất nước đạt được. Với văn phong ngắn gọn, đơn giản, dễ hiểu, bài viết chuyển tải đầy đủ nội dung mà Tổng Bí thư muốn gửi gắm. Ngay từ phần mở đầu, bài viết thể hiện được Đảng ta đã cùng trải qua nhiều giai đoạn phát triển của thế giới và nhân loại. Từ đó, Đảng đã xác định đúng mục tiêu của từng giai đoạn và lãnh đạo đất nước phát triển phù hợp với từng thời kỳ phát triển của thế giới.

Đồng quan điểm với ông Bùi Văn Thiêm, Th.S Đoàn Văn Dương, Phó trưởng Khoa Xây dựng Đảng, Trường Chính trị tỉnh Bình Phước cho rằng: Bài viết của Tổng Bí thư ra đời đã củng cố vững chắc niềm tin của dân tộc ta về sự lựa chọn con đường đúng đắn “Độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội” của Chủ tịch Hồ Chí Minh cho sự nghiệp cách mạng dân tộc Việt Nam; vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với sự nghiệp cách mạng của dân tộc Việt Nam trong 94 năm qua. Những thắng lợi của sự nghiệp cách mạng nước ta trong 94 năm qua đã được bài viết đúc kết chỉ ra, càng khẳng định một cách sâu sắc hơn về sự lựa chọn con đường và vai trò lãnh đạo sự nghiệp cách mạng dân tộc Việt Nam của Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng ta.

Theo Th.S Đoàn Văn Dương, nội dung bài viết còn là những luận cứ, luận chứng thể hiện sự vận dụng, phát triển sáng tạo, phù hợp chủ nghĩa Mác - Lênin vào điều kiện cụ thể của cách mạng Việt Nam dưới sự lãnh đạo của Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng ta. Bên cạnh đó, bài viết còn là cơ sở lý luận và thực tiễn để chúng ta đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trước âm mưu phá hoại của thế lực thù địch đối với sự nghiệp cách mạng nước ta trong giai đoạn hiện nay.

Tiếp thêm niềm tin cho cán bộ, đảng viên

Trưởng ban Tuyên giáo Đảng ủy Khối Cơ quan và Doanh nghiệp tỉnh Bùi Văn Thiêm cho rằng, bên cạnh khẳng định những thành quả to lớn của Đảng ta trong 94 năm qua, bài viết của Tổng Bí thư cũng đã xác định những khó khăn, thách thức mà Đảng ta phải đối mặt, những thời cơ phải nắm bắt. Tổng Bí thư cũng đã chỉ rất rõ nhiệm vụ trọng tâm, cốt yếu; nhiệm vụ thường xuyên, liên tục và yêu cầu phải quyết tâm thực hiện tốt hơn nữa từ Trung ương tới từng tổ chức đảng, đảng viên và toàn dân để tiến tới Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XIV, đưa nước ta ngày càng phát triển.

“Bài viết không chỉ truyền đi những thông điệp để tiếp thêm sức mạnh cho toàn Đảng, toàn dân, toàn quân mà còn giúp mỗi người tự xác định rõ những mục tiêu, công việc cụ thể trong thực hiện nhiệm vụ được giao. Từ đó phát huy tinh thần đoàn kết, chung sức quyết tâm xây dựng đất nước, thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng” - ông Thiêm chia sẻ.

Th.S Đoàn Văn Dương cho rằng, nội dung bài viết đã cho chúng ta nhận thức sâu sắc về con đường cách mạng Việt Nam và vai trò của Đảng đối với những thắng lợi của sự nghiệp cách mạng. Càng nhận thức sâu sắc chúng ta càng vững tin vào chủ trương, đường lối của Đảng, từ đó mỗi cán bộ, đảng viên quyết tâm hành động, thực hiện thắng lợi mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội.

Bài viết đã chỉ ra cho chúng ta thấy, để “quyết tâm xây dựng một nước Việt Nam ngày càng giàu mạnh, văn minh, văn hiến và anh hùng”, mỗi cán bộ, đảng viên càng phải nhận thức sâu sắc và thực hiện tốt vai trò, nhiệm vụ của mình trong xây dựng và thực hiện đưa chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước trở thành hiện thực trong đời sống xã hội. Mỗi cán bộ, đảng viên trong giai đoạn hiện nay phải nhận thức sâu sắc và thực hiện tốt một số nội dung cụ thể trong chủ trương, đường lối của Đảng mà bài viết đã chỉ ra.

Th.S Đoàn Văn Dương cho rằng, bài viết của Tổng Bí thư được công bố trong thời điểm quan trọng đã tiếp tục khắc họa, góp phần lan tỏa sâu sắc hơn truyền thống vẻ vang của Đảng qua 94 năm ra đời và phát triển. Bài viết đã khẳng định: “Đảng ta thật là vĩ đại! Nhân dân ta thật là anh hùng! Đất nước ta chưa bao giờ có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế như ngày nay”. Qua đó nhân lên niềm tự hào, niềm tin, sự đồng lòng, quyết tâm của toàn dân tộc để hiện thực hóa khát vọng phát triển đất nước theo mục tiêu “Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”./.