Chủ Nhật, 12 tháng 5, 2024

TÌM HIỂU GIÚP BẠN: TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ XÂY DỰNG NHÀ NƯỚC PHÁP QUYỀN CỦA DÂN, DO DÂN, VÌ DÂN!

     Chủ tịch Hồ Chí Minh là Người khai sinh nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa, từng bước đưa nước ta bước vào thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội. Hồ Chí Minh là người sáng lập Nhà nước kiểu mới ở Việt Nam!

Đặc tính cơ bản nhất của Nhà nước pháp quyền là thượng tôn pháp luật và bảo đảm dân chủ. Có Nhà nước pháp quyền tư sản và Nhà nước pháp quyền kiểu mới xã hội chủ nghĩa. Chủ tịch Hồ Chí Minh là Người khai sinh nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa, từng bước đưa nước ta bước vào thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội. Hồ Chí Minh là người sáng lập Nhà nước kiểu mới ở Việt Nam. Giữ cương vị Chủ tịch nước đầu tiên trong 24 năm, đồng thời là Chủ tịch Đảng Cộng sản Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã để lại những tư tưởng quý báu và hành động tỏa sáng về xây dựng Nhà nước Việt Nam pháp quyền xã hội chủ nghĩa của dân, do dân, vì dân. 

Kế thừa, phát triển tinh hoa nhà nước của dân tộc ta, lý luận nhà nước pháp quyền tư sản, sáng lập nhà nước kiểu mới ở Việt Nam theo định hướng xã hội chủ nghĩa
Trong kiên cường dựng nước và giữ nước, cha ông ta đã đúc rút được nhiều kinh nghiệm quý về Nhà nước. Hồ Chí Minh đã chú ý kế thừa và phát triển những tinh hoa của các Nhà nước thân dân những khi quốc gia hưng thịnh và hùng mạnh. Như kế thừa, phát triển truyền thống đoàn kết, tư tưởng lấy dân làm gốc thời Lý-Trần: chú trọng luật pháp và đạo đức trong xây dựng bộ máy nhà nước thời Lê trung hưng,...

Để có thể đánh đổ chế độ thực dân phong kiến thối nát, từ năm 1911, Hồ Chí Minh đã đi ra thế giới tìm đường cách mạng. Qua khảo sát chế độ nhà nước ở Pháp, Anh, Mỹ và một số nước khác, Hồ Chí Minh phát hiện ra chính quyền ở đó nằm trong tay một số ít người. Tuy cách mạng Mỹ thành công đã hơn 150 năm, nhưng công nông vẫn cực khổ, vẫn cứ lo tính cách mạng lần thứ hai. Chế độ nhà nước tư sản của Mỹ hoặc của Pháp “Tiếng là Cộng hòa và dân chủ, kỳ thực trong thì nó tước lục công nông, ngoài thì nó áp bức thuộc địa. Cách mệnh đã 4 lần rồi, mà nay công nông Pháp hãy còn phải mưu cách mệnh lần nữa mới hòng thoát khỏi vòng áp bức. Cách mệnh An Nam nên nhớ những điều ấy”. Người xác định: Cách mạng Việt Nam sau khi thành công sẽ không lập loại nhà nước này. Song, khi xây dựng nhà nước kiểu mới, Người vẫn kế thừa, phát triển những yếu tố hợp lý trong lý luận về nhà nước, pháp luật ở các bản Tuyên ngôn độc lập năm 1776 và bản Hiến pháp nước Mỹ, trong Bản Tuyên ngôn nhân quyền và dân quyền năm 1789 của Pháp và tác phẩm Tinh thần pháp luật của Mông-téc-xki-ơ - Một nhà lý luận tiêu biểu của Pháp về nhà nước pháp quyền. (Tác phẩm tiếng Pháp đầu tiên mà Hồ Chí Minh dịch ra tiếng Việt là Tinh thần pháp luật của Mông-téc-xki-ơ).

Từ năm 1923, khi đến Liên Xô, Người đã nghiên cứu kiểu Nhà nước “Đảng Cộng sản cầm quyền, tổ chức ra Chính phủ công, nông, binh, phát đất ruộng cho dân cày, giao công xưởng cho thợ thuyền, không bắt dân đi chết cho tư bản và đế quốc chủ nghĩa nữa, ra sức tổ chức kinh tế mới, để thực hành chủ nghĩa thế giới đại đồng”. Đó là Nhà nước Xô viết ra đời sau Cách mạng Tháng Mười Nga 1917. Người quyết định chọn con đường Cách mạng Tháng Mười với Nhà nước kiểu mới xã hội chủ nghĩa. Tuy vậy, Hồ Chí Minh không sao chép máy móc hình thức nhà nước Xô viết. Người vận dụng một cách sáng tạo những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác-Lênin về bản chất nền dân chủ vô sản, về chủ thể quyền lực phải thuộc về đa số, về bản chất giai cấp công nhân của nhà nước xã hội chủ nghĩa để sáng lập ra nhà nước pháp quyền kiểu mới ở Việt Nam. 

Nhà nước pháp quyền Việt Nam là Nhà nước dân chủ của dân, do dân, vì dân. Quyền lực Nhà nước thuộc về nhân dân. Nhân dân tổ chức và kiểm soát quyền lực Nhà nước
Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: “Nước ta là nước dân chủ. Bao nhiêu lợi ích đều vì dân. Bao nhiêu quyền hạn đều của dân…Chính quyền từ xã đến Chính phủ Trung ương do dân cử ra. Đoàn thể từ Trung ương đến xã do dân tổ chức nên. Nói tóm lại, quyền hành và lực lượng đều ở nơi dân”. Mọi quyền hành Nhà nước đều thuộc về nhân dân, bắt nguồn từ nhân dân, nhân dân tổ chức ra quyền lực nhà nước từ xã đến Trung ương là đặc điểm đầu tiên của Nhà nước pháp quyền kiểu mới ở Việt Nam. Nhà nước kiểu mới sinh ra để phục vụ nhân dân, chứ không phải nhân dân phục vụ nhà nước.

Nhà nước của dân hàm ý dân có quyền giám sát hoạt động của Nhà nước. Nhà nước phải có các thiết chế dân chủ để thực thi quyền làm chủ của người dân. Người luôn trăn trở để thực hiện tư tưởng: “Làm sao cho nhân dân biết hưởng quyền dân chủ, biết dùng quyền dân chủ của mình, dám nói, dám làm”. Trong chế độ phong kiến trước đây, vua là chủ. Nay chế độ dân chủ, nhà nước của dân thì dân là chủ. Chủ tịch Hồ Chí Minh vạch rõ: “Dân chủ là thế nào? Là dân làm chủ. Dân làm chủ thì Chủ tịch, Bộ trưởng, Thứ trưởng, Ủy viên này khác là làm gì? Làm đầy tớ. Làm đầy tớ cho nhân dân, chứ không phải làm quan cách mạng”. Cán bộ công chức từ Trung ương đến cơ sở đều phải làm công bộc phục vụ nhân dân. Việc gì lợi cho dân, ta phải hết sức làm. Việc gì hại đến dân, ta phải hết sức tránh. 

Dân có quyền phê bình, xây dựng, giúp đỡ Nhà nước. Quyết định nào của Nhà nước mà dân cho là không hợp thì cũng phải sửa chữa. Dựa vào ý kiến của nhân dân mà sửa chữa cán bộ và tổ chức của Nhà nước. Nhân dân có quyền giám sát công việc của Nhà nước. Nhân dân có quyền bãi miễn các đại biểu và không tín nhiệm các quan chức Chính phủ. 

Xây dựng Nhà nước hợp hiến, hợp pháp, quản lý xã hội bằng pháp luật. Nhà nước hoạt động trên cơ sở Hiến pháp, pháp luật. Pháp luật là tối thượng
Có hợp hiến, nhà nước mới có hiệu lực pháp lý mạnh mẽ. Một ngày sau khi đọc Tuyên ngôn Độc lập, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nêu nhiệm vụ soạn thảo Hiến pháp dân chủ. Và, mặc dù có vô vàn khó khăn do nạn đói, thù trong giặc ngoài, cuộc Tổng tuyển cử toàn quốc đã được tiến hành chỉ bốn tháng sau ngày độc lập. Đây là cuộc phổ thông đầu phiếu được tổ chức thành công nhanh nhất, sớm nhất. Một kỷ lục chưa quốc gia nào đạt được, vừa lật đổ ách thống trị thực dân, đã đưa ngay lực lượng chính trị của nhân dân lên cầm quyền một cách hợp hiến. Ngay sau khi Tổng tuyển cử thành công, Quốc hội được thành lập, ngày 9/11/1946, bản Hiến pháp dân chủ đầu tiên ở vùng Đông Nam Á do Chủ tịch Hồ Chí Minh chủ trì soạn thảo đã ra đời. Nó quy định các nguyên tắc tổ chức, hoạt động, hình thức và cơ cấu nhà nước Dân chủ nhân dân Việt Nam.

Một Nhà nước pháp quyền có hiệu lực mạnh là nhà nước quản lý đất nước bằng pháp luật và làm cho pháp luật có hiệu lực trong thực tế. Tư tưởng này nảy sinh rất sớm ở Nguyễn Ái Quốc. Ngay từ năm 1919, khi đưa ra bản Yêu sách đòi các quyền tự do, dân chủ cho nhân dân Việt Nam, Người đã đòi thực dân Pháp phải cải cách nền pháp lý ở Đông Dương, bãi bỏ chế độ cai trị bằng các sắc lệnh và thay thế bằng các đạo luật. Tư tưởng về nhà nước pháp quyền rất rõ trong Việt Nam yêu cầu ca. Ở điều thứ 7, Nguyễn Ái Quốc khẳng định rõ: “Trăm đều phải có thần linh pháp quyền”. “Trăm đều” ở đây có nghĩa là mọi mối quan hệ căn bản trong xã hội đều phải được điều chỉnh bằng pháp luật. Nhà nước phải hoạt động theo Hiến pháp. Pháp luật là tối thượng. Chủ tịch Hồ Chí Minh là người có công lớn nhất trong sự nghiệp lập hiến và lập pháp ở Việt Nam. Trên cương vị Chủ tịch nước, Người đã hai lần đứng đầu Ủy ban soạn thảo Hiến pháp (Hiến pháp 1946 và Hiến pháp 1959), đã ký Lệnh công bố 16 đạo luật, 613 sắc lệnh và nhiều văn bản dưới luật khác. Người đã mở đầu xây dựng một nền pháp chế xã hội chủ nghĩa nhằm đảm bảo thực hiện quyền lực của nhân dân.

Mối quan tâm suốt đời của Chủ tịch Hồ Chí Minh là đưa pháp luật vào đời sống, tạo ra cơ chế bảo đảm cho pháp luật được thi hành, xây dựng cơ chế kiểm tra, giám sát việc thi hành đó trong các cơ quan Nhà nước và trong nhân dân. Người rất coi trọng việc giáo dục pháp luật cho toàn dân, nâng cao dân trí, bồi dưỡng ý thức làm chủ, phát triển văn hóa chính trị và tính tích cực công dân, khuyến khích nhân dân tham gia vào các công việc của Nhà nước, khắc phục mọi thứ dân chủ hình thức. 

Người chú trọng dùng pháp luật ngăn chặn việc biến quyền lực của dân thành quyền lực cá nhân, chống bệnh quan liêu, nạn tham nhũng. Đứng đầu Đảng và Nhà nước, ở đỉnh cao quyền lực, Hồ Chí Minh đã nêu gương sáng về tư tưởng và phong cách lãnh đạo dân chủ, khuyến khích nhân dân phê bình, giám sát công việc của nhà nước và cán bộ, công chức để đảm bảo nhà nước phục vụ nhân dân.

Kết hợp pháp luật và đạo đức trong hoạt động nhà nước, xây dựng nhà nước trong sạch, vững mạnh, hiệu quả
Chủ tịch Hồ Chí Minh là mẫu mực của sự kết hợp đạo đức và pháp luật trong xây dựng, điều hành bộ máy Nhà nước. Chỉ ra vai trò tối thượng của pháp luật trong xã hội, đồng thời Người cũng chỉ ra rằng, luật pháp phải dựa vào đạo đức và bảo vệ đạo đức. Đạo đức là một nhân tố quyết định sự phát triển bền vững của xã hội và của người cách mạng. Người dành hết tâm sức giáo dục cán bộ, công chức về phẩm chất đạo đức, tính cần, kiệm, liêm, chính; chí công, vô tư. Và chính Người là tấm gương mẫu mực của một lãnh tụ suốt đời cần, kiệm, liêm chính, chí công, vô tư, là người công bộc hết sức tận tụy phục vụ nhân dân.

Đi đôi với giáo dục đạo đức, Người kịp thời ban hành pháp luật và thực hiện rất nghiêm minh. Ngày 27/11/1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh ký Sắc lệnh ấn định hình phạt tội Đưa và Nhận hối lộ. Ngày 26/1/1946, Người ký “Quốc lệnh” khép tội Tham ô, Trộm cắp của công vào tội tử hình. 

Việc xét xử nghiêm minh và y án tử hình với Đại tá Trần Dụ Châu, Cục trưởng Cục Quân nhu về tội Tham nhũng trong thời kỳ kháng chiến chống Pháp, việc tử hình với Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp Trương Việt Hùng về tội Cặp bồ nhí rồi giết vợ thời kỳ đầu xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc, cho thấy rõ Hồ Chí Minh là người kết hợp nhuần nhuyễn truyền thống pháp trị và đức trị trong thực tế xây dựng, điều hành hoạt động của Nhà nước ta. Để xây dựng Nhà nước trong sạch, vững mạnh, xây phải đi đôi với chống. Xây là ra sức giáo dục, bồi dưỡng, nâng cao đạo đức cách mạng đi đôi với chống chủ nghĩa cá nhân và dùng pháp luật nghiêm trị những kẻ vi phạm pháp luật và thoái hoá đạo đức trầm trọng. “Đức trị” phải đi đôi với “pháp trị”. Cùng với việc đề cao đạo lý làm người, thương yêu, quý trọng con người, Chủ tịch Hồ Chí Minh kiên quyết dùng pháp trị. “Pháp luật phải thẳng tay trừng trị những kẻ bất liêm, bất kỳ kẻ ấy ở địa vị nào, làm nghề nghiệp gì”. Người coi Tham ô, lãng phí, quan liêu là “giặc nội xâm”. Phải đánh thắng giặc nội xâm, làm cho bộ máy Đảng, Nhà nước trong sạch, vững mạnh mới có thể đánh thắng giặc ngoại xâm, phát triển đất nước giàu mạnh, hùng cường.

Xây dựng Nhà nước có bản chất giai cấp công nhân, đồng thời có tính chất dân tộc và nhân dân dưới sự lãnh đạo của Đảng
Trong xã hội có giai cấp, không có nhà nước phi giai cấp. Sự khác nhau giữa các kiểu nhà nước cũ với kiểu nhà nước mới là ở chỗ nhà nước đó của giai cấp nào? Ở nước ta, Đảng của giai cấp công nhân lãnh đạo cách mạng tháng Tám thành công, lật đổ chế độ thực dân phong kiến, thì nhất định dẫn tới Đảng xây dựng chính quyền kiểu mới của xã hội mới theo hệ tư tưởng của giai cấp công nhân là chủ nghĩa Mác - Lê nin. Việc xây dựng nhà nước pháp quyền kiểu mới mang bản chất giai cấp công nhân, dưới sự lãnh đạo của Đảng ở nước ta từ năm 1945 cho đến nay theo tư tưởng Hồ Chí Minh là một tất yếu lịch sử. Nhà nước đó tất yếu phải quản lý, xây dựng đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa.

Tại Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ II năm 1951, Chủ tịch nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa Hồ Chí Minh được bầu làm Chủ tịch Đảng Lao động Việt Nam. Đảng ta khẳng định: “Chính quyền của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa là chính quyền dân chủ của nhân dân”. Chính quyền đó mang tính chất nhân dân, đồng thời có tính chất dân tộc sâu sắc. Bởi chính quyền đó là kết quả của cuộc cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân. Chính quyền đó đã phát huy sức mạnh toàn dân tộc trong đấu tranh xây dựng, bảo vệ Tổ quốc và tồn tại, phát triển trên cơ sở khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Chính phủ do Hồ Chí Minh đứng đầu luôn luôn là Chính phủ đại đoàn kết toàn dân tộc, có chính sách dân tộc đúng đắn, có nhân tài ở cả Bắc - Trung - Nam. Chính quyền đó dựa vào Mặt trận dân tộc thống nhất, lấy liên minh công nhân, nông dân và trí thức làm nền tảng và do giai cấp công nhân lãnh đạo.  

Quyền lực nhà nước được phân công rành mạch: Quốc hội - lập pháp, Chính phủ - hành pháp liêm chính, Tư pháp độc lập

Hai bản Hiến pháp do Hồ Chí Minh chủ trì soạn thảo đều thể hiện rõ mối quan hệ giữa Quốc hội có chức năng lập pháp và Chính phủ có chức năng hành pháp. Đây là mối quan hệ cơ bản tạo nên chính thể quốc gia. Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định rõ: “Quốc hội là cơ quan duy nhất có quyền lập pháp. Những vấn đề quan trọng nhất của Nhà nước trong phạm vi toàn quốc đều do Quốc hội quyết định”. 

Người chủ trương xây dựng một Chính phủ hành pháp mạnh. Một Chính phủ kiến tạo, liêm chính, hành động, phục vụ nhân dân có hiệu quả. Được Quốc hội nhất trí giao trách nhiệm thành lập Chính phủ mới, tại phiên họp ngày 31/10/1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: "Tuy trong quyết nghị không nói đến, không nêu lên hai chữ liêm khiết, tôi cũng xin tuyên bố trước Quốc hội, trước quốc dân và trước thế giới: Chính phủ sau đây phải là một Chính phủ liêm khiết. Theo lời quyết nghị của Quốc hội, Chính phủ sau đây phải là một Chính phủ biết làm việc, có gan góc, quyết tâm đi vào mục đích trong thì kiến thiết, ngoài thì tranh thủ độc lập và thống nhất của nước nhà".

Chủ tịch Hồ Chí Minh có sáng tạo và công lao lớn trong việc xây dựng và định hướng hoạt động độc lập của các cơ quan tư pháp - Bộ phận quan trọng cấu thành Nhà nước pháp quyền kiểu mới ở Việt Nam. Người chủ trì việc soạn thảo Hiến pháp 1946, Hiến pháp 1959 và ký các sắc lệnh thành lập hệ thống tòa án cách mạng. Tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng một nền tư pháp độc lập thể hiện trong việc ký các sắc lệnh thiết lập các tòa án được tổ chức và hoạt động độc lập với các cơ quan Nhà nước khác. Các tòa án ở địa phương không tổ chức theo đơn vị hành chính lãnh thổ, các thẩm phán và việc xét xử đều phải phụng công, thủ pháp, chí công, vô tư.

Ngày 26/7/1960, Chủ tịch Hồ Chí Minh ký Lệnh số 20-LCT công bố Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 1960. Kể từ đó, ngày 26/7 hàng năm trở thành ngày truyền thống của ngành Kiểm sát nhân dân. Lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh đối với cán bộ Kiểm sát: “Công minh, chính trực, khách quan, thận trọng, khiêm tốn” mãi mãi được các thế hệ cán bộ ngành Kiểm sát nhân dân ghi nhớ và làm theo.

Theo định hướng tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng Nhà nước pháp quyền kiểu mới ở Việt Nam, ngày nay Đảng ta khẳng định rõ: “Nhà nước ta là Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân. Tất cả quyền lực Nhà nước thuộc về nhân dân mà nền tảng là liên minh giữa giai cấp công nhân, giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức, do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo”.

Cần tiếp tục xây dựng, hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân do Đảng lãnh đạo là nhiệm vụ trọng tâm trong đổi mới hệ thống chính trị theo hướng tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả. Xây dựng Nhà nước pháp quyền phải tiến hành đồng bộ cả lập pháp, hành pháp, tư pháp; gắn với đổi mới chính trị kinh tế, văn hóa, xã hội./.
Yêu nước ST.

VẤN ĐỀ XÃ HỘI QUAN TÂM: “HUY HIỆU LẠ”!

     Mới đây, ca sĩ Đàm Vĩnh Hưng trong đêm nhạc “Ngày em thắp sao trời” đã mặc bộ trang phục biểu diễn gắn “huy hiệu lạ”, khiến dư luận cho rằng rất phản cảm!

Chỉ sau đêm nhạc diễn ra ít ngày, Sở Văn hóa và Thể thao TP Hồ Chí Minh đã có ý kiến: “Sẽ mời chuyên gia các lĩnh vực thẩm định, sau khi có kết luận, sẽ tiến hành các bước tiếp theo...”. Người phát ngôn Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch cho biết đã nắm bắt dư luận liên quan đến trang phục biểu diễn của ca sĩ Đàm Vĩnh Hưng, nếu có vi phạm sẽ xử lý nghiêm.

“Huy hiệu lạ” là gì vậy? Một số khán giả cho rằng các huy hiệu trên mô phỏng “Biệt công bội tinh”, là một loại huy chương của chế độ cũ trước năm 1975, cùng các dòng chữ tiếng Anh có nội dung rời rạc và xa lạ.

Trong bối cảnh văn hóa, nghệ thuật ngày càng phát triển và đa dạng, việc quản lý và thẩm duyệt các chương trình cần được thực hiện chặt chẽ và minh bạch hơn. Điều này không chỉ giúp bảo đảm tính pháp lý và đạo đức trong nghệ thuật mà còn góp phần bảo vệ hình ảnh và giá trị văn hóa của quốc gia.

Cơ quan chức năng cần có những quy định rõ ràng và cụ thể kiểm soát chất lượng nội dung, tránh để xảy ra tình trạng sót lọt những yếu tố có thể gây phản cảm hoặc hiểu lầm. Bên cạnh đó, mỗi nghệ sĩ cũng cần phải ý thức được trách nhiệm của mình đối với công chúng và quốc gia. Họ cần tự giác trong việc lựa chọn nội dung và hình ảnh biểu diễn sao cho phù hợp, tôn trọng giá trị đạo đức, văn hóa. Nghệ sĩ không chỉ là người truyền tải nghệ thuật mà còn đại diện cho tinh thần và bản sắc của dân tộc.

Cuối cùng, cần có sự phê bình mạnh mẽ đối với những hành động lợi dụng yếu tố phản cảm hoặc chính trị để thu hút sự chú ý một cách không lành mạnh. Việc lợi dụng quyền tự do biểu đạt để lan truyền nội dung tiêu cực cần được nhìn nhận một cách nghiêm túc và xử lý kịp thời, nhằm bảo vệ giá trị văn hóa và đạo đức xã hội. Trách nhiệm này không chỉ thuộc về các cơ quan quản lý mà còn là của mỗi cá nhân trong xã hội, để cùng nhau xây dựng một môi trường văn hóa lành mạnh và phát triển bền vững.

Dư luận rất kịp thời phản hồi về “huy hiệu lạ” là một tín hiệu tích cực cho thấy cộng đồng đang nâng cao ý thức về việc bảo vệ giá trị văn hóa và đạo đức. Sự quan tâm và phản ứng mạnh mẽ từ cơ quan chức năng cũng là một bước đi quan trọng trong việc bảo đảm tuân thủ và thúc đẩy các chuẩn mực về nghệ thuật và văn hóa.

Đồng thời, việc thúc đẩy thảo luận công cộng và sự tinh tế trong quản lý văn hóa, nghệ thuật là cần thiết, giúp chúng ta hiểu rõ hơn về các giá trị và quan điểm đa dạng trong xã hội, là các yếu tố quan trọng để xây dựng một môi trường thân thiện với nghệ sĩ, khuyến khích sự sáng tạo và đổi mới mà không làm tổn thương giá trị cốt lõi của văn hóa./.
Theo Báo QĐND.
Yêu nước ST.

ÔNG CHA TA ĐÁNH GIẶC: LẦN MẤT LIÊN LẠC NHỚ ĐỜI!

     Tại lễ ra mắt bộ sách kỷ niệm 70 năm Chiến thắng Điện Biên Phủ do Nhà xuất bản Quân đội nhân dân chủ trì tổ chức ngày 16-4-2024, chúng tôi được nghe câu chuyện về một thời quân ngũ đáng nhớ của Đại tá Nguyễn Văn Thụ, nguyên Phó trưởng phòng Quân lực, Bộ Tham mưu Binh chủng Thông tin liên lạc!

Chưa đầy 16 tuổi, Nguyễn Văn Thụ (sinh năm 1933, ở xã Đại Đồng, huyện Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh) xung phong nhập ngũ và được biên chế vào Đại đội 42, Tiểu đoàn 84, Trung đoàn 36, Đại đoàn 308. Qua nhiều chiến dịch, trận đánh, ông liên tiếp lập thành tích nên được cấp trên chọn đi học khóa 7 Trường Lục quân Việt Nam (nay là Trường Sĩ quan Lục quân 1) bấy giờ đang đứng chân tại Trung Quốc. Hoàn thành khóa học, năm 1953, ông về nước, đảm nhiệm cương vị Trung đội trưởng thuộc Đại đội 269, Tiểu đoàn 54, Trung đoàn 102, Đại đoàn 308 và cùng đồng đội tham gia đợt 2, đợt 3 của Chiến dịch Điện Biên Phủ.

Ông kể: “Tôi nhớ khoảng ngày 10-4-1954, 16 người của trung đội do tôi chỉ huy được điều lên thay quân chiến đấu chốt giữ một phần trận địa trên đồi A1. Chúng tôi được trang bị 2 khẩu trung liên, 4 khẩu tiểu liên, còn lại là súng trường, bảo đảm đạn mỗi đồng chí 2 đến 3 cơ số và 1 máy thông tin 2W. Thời gian này, trung đội tôi đã chiến đấu nhiều trận rất ác liệt. Do tiếng nổ từ đạn pháo của ta bắn mãnh liệt vào phía địch ở đồi A1 và pháo binh địch đánh phá vị trí của ta nên tai chúng tôi hầu như điếc đặc. Chúng tôi chủ yếu hiệp đồng và chỉ huy chiến đấu bằng ký hiệu, tín hiệu qua quan sát ánh lửa đầu nòng súng của người chỉ huy. Ngay sau đêm đầu tiên giữ trận địa, trung đội tôi chỉ còn 5 đồng chí lành lặn, đủ sức chiến đấu, còn lại là hy sinh và bị thương. Trong đó, đồng chí chiến sĩ thông tin hy sinh, máy 2W bị đạn địch bắn hỏng. Vì vậy, trung đội mất liên lạc với sở chỉ huy. Cầm cự một ngày trời, nước uống và lương khô cũng hết, khát đến cháy cổ nhưng chúng tôi vẫn động viên nhau chiến đấu đến cùng, quyết tâm bảo vệ trận địa”.

Sang ngày thứ hai, các chiến sĩ ta đang chăm chú quan sát phía trước với tâm thế sẵn sàng đánh giáp lá cà nếu quân địch tấn công, bỗng họ vỡ òa sung sướng khi thấy khoảng 10 cán bộ, chiến sĩ do Trung đoàn trưởng Trung đoàn 102 Hùng Sinh dẫn đầu mang theo cả vũ khí, máy thông tin đang tiến lên trận địa. Trung đội trưởng Nguyễn Văn Thụ báo cáo nhanh tình hình và chờ chỉ đạo của Trung đoàn trưởng do địch đã bắt đầu mở lại đợt phản kích tiếp theo. Lúc này, vì đã có thông tin liên lạc về sở chỉ huy nên pháo binh ta kịp thời phối hợp, bắn phá ác liệt vào vị trí chuẩn bị phản kích của địch, buộc chúng phải tháo chạy.

“Đến khoảng 19 giờ hôm ấy, Trung đoàn trưởng Hùng Sinh giao nhiệm vụ cho lực lượng mới lên thay giữ trận địa. Ông dặn dò tỉ mỉ cách xử trí một số tình huống có thể xảy ra, còn chúng tôi thì được phép rời khỏi trận địa, rút về tuyến sau để củng cố. Trong hội nghị rút kinh nghiệm tôi mới được biết, khi chúng tôi mất liên lạc với Trung đoàn, Trung đoàn trưởng phán đoán: Có lẽ trận địa của ta đã bị địch chiếm. Từ suy nghĩ đó, đồng chí định đề nghị pháo binh của chiến dịch bắn trực tiếp vào trận địa ta vừa mất. Nhưng nhờ sự tỉnh táo và sáng suốt của người chỉ huy, trước khi quyết định hành động, đồng chí Trung đoàn trưởng đã cử chiến sĩ liên lạc bò lên kiểm tra. Thấy quân ta vẫn giữ được trận địa, Trung đoàn trưởng đã trực tiếp lên nghiên cứu tình hình, tìm hiểu vì lý do gì mà ta chưa giải quyết được A1. Thật may mắn, nếu lúc đó pháo binh ta bắn vào trận địa thì chúng tôi đã hy sinh cách đây 70 năm rồi”, Đại tá Nguyễn Văn Thụ bồi hồi nhớ lại...

Chiến dịch Điện Biên Phủ kết thúc, đồng chí Nguyễn Văn Thụ được điều về làm giảng viên, rồi Trưởng khoa Giáo viên địa hình quân sự của Trường Sĩ quan Lục quân 1. Năm 1992, sau 43 năm quân ngũ, ông nhận quyết định nghỉ công tác theo chế độ khi đang là Phó trưởng phòng Quân lực, Bộ Tham mưu Binh chủng Thông tin liên lạc. Về nghỉ hưu nhưng ông vẫn tích cực tham gia công tác xã hội tại nơi cư trú là phường Trương Định, quận Hai Bà Trưng, TP Hà Nội.

Phát huy truyền thống chiến sĩ Điện Biên năm xưa, ông đã cùng Đảng bộ, chính quyền và nhân dân phường Trương Định hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ cấp trên giao, xây dựng địa phương phát triển toàn diện, đạt nhiều thành tích. “Nay tôi đã 91 tuổi, sức khỏe, trí tuệ còn minh mẫn. Tôi vẫn dành thời gian viết báo, làm thơ. Qua những tác phẩm về người lính ấy, tôi mong muốn góp phần để con cháu thấy rằng để có cuộc sống hòa bình hôm nay, thế hệ cha ông đã phải đổi bằng cái giá rất đắt, từ đó mà ra sức học tập, công tác, cống hiến xây dựng đất nước”, Đại tá Nguyễn Văn Thụ chia sẻ./.
Yêu nước ST.

TÌM HIỂU GIÚP BẠN: VẬN DỤNG TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ “NƯỚC LẤY DÂN LÀM GỐC” TRONG XÂY DỰNG NỀN QUỐC PHÒNG TOÀN DÂN!

         “Nước lấy dân làm gốc” là một nội dung cốt lõi trong tư tưởng Hồ Chí Minh, có giá trị lý luận sâu sắc và định hướng thực tiễn đặc biệt quan trọng trong quá trình lãnh đạo cách mạng của Đảng. Hiện nay, trước yêu cầu mới của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, tư tưởng này cần tiếp tục được nghiên cứu, vận dụng vào xây dựng nền quốc phòng toàn dân, củng cố quốc phòng, bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới!

Kế thừa, phát huy truyền thống dựng nước đi đôi với giữ nước của dân tộc và quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin về vai trò của quần chúng nhân dân trong lịch sử, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn coi trọng, đề cao vai trò, sức mạnh của nhân dân đối với sự nghiệp cách mạng. Người chỉ rõ: “Trong bầu trời không gì quý bằng nhân dân. Trong thế giới không gì mạnh bằng lực lượng đoàn kết của nhân dân”. Trong lĩnh vực quân sự, quốc phòng, nội hàm tư tưởng “nước lấy dân làm gốc” được Chủ tịch Hồ Chí Minh nêu rất rõ, rất cụ thể trong Chỉ thị thành lập Đội Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng quân: “cuộc kháng chiến của ta là cuộc kháng chiến của toàn dân cần phải động viên toàn dân, vũ trang toàn dân,...”. Theo Người, mọi người dân đều có thể tham gia kháng chiến, không phân biệt giới tính, độ tuổi; tất cả các tầng lớp nhân dân đều tham gia đánh giặc bằng mọi thứ vũ khí, từ thô sơ đến hiện đại, bằng nhiều cách đánh khác nhau: “Bất kỳ đàn ông, đàn bà, bất kỳ người già, người trẻ, không chia tôn giáo, đảng phái, dân tộc. Hễ là người Việt Nam thì phải đứng lên đánh thực dân Pháp để cứu Tổ quốc. Ai có súng dùng súng. Ai có gươm dùng gươm, không có gươm thì dùng cuốc, thuổng, gậy gộc”. Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, Chủ tịch Hồ Chí Minh kêu gọi: “31 triệu đồng bào ta ở cả hai miền, bất kỳ già trẻ, gái trai, phải là 31 triệu chiến sĩ anh dũng diệt Mỹ, cứu nước, quyết giành thắng lợi cuối cùng”. Đây là lời hiệu triệu, khích lệ tinh thần của nhân dân, của toàn dân tộc đồng lòng đứng lên đánh đuổi giặc ngoại xâm, thà hy sinh tất cả chứ nhất định không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô lệ. Có thể khẳng định tư tưởng “nước lấy dân làm gốc” của Chủ tịch Hồ Chí Minh chính là cơ sở, nền tảng để Đảng ta vận dụng hình thành đường lối chiến tranh nhân dân, kháng chiến toàn dân, toàn diện, phát huy sức mạnh tổng hợp của toàn dân tộc để đánh bại mọi kẻ thù xâm lược.

Thấm nhuần tư tưởng “nước lấy dân làm gốc” của Chủ tịch Hồ Chí Minh, Đảng ta đề ra đường lối lãnh đạo cách mạng đúng đắn, lấy lợi ích của quốc gia - dân tộc, lợi ích chính đáng của nhân dân làm mục tiêu cao nhất để tập hợp lực lượng, tiến hành công cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Đặc biệt, trong sự nghiệp đổi mới đất nước, Đảng ta khẳng định: “Trong điều kiện lịch sử mới, khi đã có chính quyền thống nhất quản lý cả nước tiến hành hai nhiệm vụ chiến lược bảo vệ và xây dựng Tổ quốc xã hội chủ nghĩa, bài học “lấy dân làm gốc” được nêu lên trong Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ VI chẳng những vẫn giữ nguyên giá trị mà còn có ý nghĩa đặc biệt”. Trên cơ sở tổng kết thực tiễn 35 năm đổi mới, 10 năm thực hiện Chiến lược phát triển kinh tế xã hội 2011 - 2020 và 05 năm thực hiện Nghị quyết Đại hội XII, Đảng ta rút ra 05 bài học kinh nghiệm; trong đó, bài học thứ hai đã chỉ rõ: “...phải luôn quán triệt sâu sắc quan điểm “dân là gốc”; thật sự tin tưởng, tôn trọng và phát huy quyền làm chủ của nhân dân, kiên trì thực hiện phương châm “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng”. Nhân dân là trung tâm, là chủ thể của công cuộc đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc”. Như vậy, trong suốt quá trình lãnh đạo cách mạng, Đảng ta luôn quán triệt, vận dụng sáng tạo tư tưởng Hồ Chí Minh về “nước lấy dân làm gốc”, nhờ đó thu được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử: “Đất nước ta chưa bao giờ có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế như ngày nay”.

Hiện nay, cùng với xu thế hòa bình, hợp tác và phát triển, tình hình thế giới, khu vực tiếp tục có biến chuyển nhanh, diễn biến phức tạp,... tác động nhiều chiều đến sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc của nước ta, với cả thời cơ, thuận lợi và khó khăn, thách thức đan xen. Ở trong nước, tình hình trên các vùng biển, đảo tiếp tục tiềm ẩn nguy cơ mất ổn định; các thế lực thù địch, phản động tiếp tục đẩy mạnh hoạt động chống phá Đảng, Nhà nước với thủ đoạn ngày càng tinh vi, thâm độc hơn, đe dọa đến sự tồn vong của Đảng, chế độ, cuộc sống bình yên của nhân dân, v.v. Vì vậy, hơn bao giờ hết đòi hỏi chúng ta phải luôn quán triệt sâu sắc, vận dụng sáng tạo tư tưởng “nước lấy dân làm gốc” của Chủ tịch Hồ Chí Minh, quan tâm chăm lo, bồi dưỡng sức dân, khơi dậy, động viên và phát huy sức mạnh của toàn dân tộc trong tăng cường sức mạnh quốc phòng, trọng tâm là xây dựng nền quốc phòng toàn dân vững mạnh, đáp ứng yêu cầu bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới; tập trung vào thực hiện tốt một số nội dung giải pháp chủ yếu sau.

Một là, tăng cường tuyên truyền, giáo dục nâng cao nhận thức, trách nhiệm của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân trong vận dụng tư tưởng “nước lấy dân làm gốc” của Người vào xây dựng nền quốc phòng toàn dân. Đây là giải pháp quan trọng hàng đầu, tạo sự thống nhất cao về nhận thức, trách nhiệm và hành động của các cấp, ngành, địa phương, lực lượng, đội ngũ cán bộ, đảng viên và toàn dân trong nghiên cứu, vận dụng sáng tạo tư tưởng Hồ Chí Minh và các nghị quyết, chỉ thị của Đảng về “nước lấy dân làm gốc” vào xây dựng nền quốc phòng toàn dân vững mạnh. Vì vậy, trước hết, cần tăng cường tuyên truyền, giáo dục những vấn đề cốt lõi của tư tưởng Hồ Chí Minh và của Đảng về “nước lấy dân làm gốc” trong xây dựng nền quốc phòng toàn dân. Trong đó, tập trung vào những vấn đề về vai trò, sức mạnh của nhân dân, của khối đại đoàn kết toàn dân tộc trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc; về đường lối, chủ trương, chính sách quốc phòng của Đảng, Nhà nước, nhất là đường lối xây dựng nền quốc phòng toàn dân, đường lối tiến hành chiến tranh nhân dân; những tư duy mới của Đảng về bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa trong Nghị quyết Đại hội XIII, Nghị quyết số 44-NQ/TW, ngày 24/11/2023 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa XIII) về Chiến lược bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới, v.v. Trên cơ sở đó, tiếp tục khẳng định sức mạnh quốc phòng bảo vệ Tổ quốc là sức mạnh của toàn dân; lực lượng bảo vệ Tổ quốc là lực lượng toàn dân; trong đó, lực lượng vũ trang nhân dân giữ vai trò nòng cốt. Bên cạnh đó, chú trọng giáo dục chủ nghĩa yêu nước, lòng tự hào, tự tôn dân tộc; âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch; quyền lợi, trách nhiệm và nghĩa vụ của công dân đối với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Qua đó, nâng cao nhận thức, trách nhiệm của cấp ủy, tổ chức đảng, các cấp, các ngành, đội ngũ cán bộ, đảng viên, các tầng lớp nhân dân và cán bộ, chiến sĩ toàn quân trong vận dụng tư tưởng trên của Người vào sự nghiệp cách mạng; củng cố, tăng cường niềm tin với Đảng, Nhà nước và chế độ xã hội chủ nghĩa, tích cực tham gia xây dựng nền quốc phòng toàn dân vững mạnh. Để đạt hiệu quả cao, cấp ủy, chính quyền, các ban, ngành, đoàn thể, các cơ quan, đơn vị chú trọng phát huy vai trò của các tổ chức, lực lượng, phương tiện thông tin đại chúng; thường xuyên đổi mới nội dung, hình thức, phương pháp tuyên truyền, giáo dục; kết hợp chặt chẽ giữa giáo dục thường xuyên với giáo dục theo chuyên đề. Đồng thời, nâng cao chất lượng công tác giáo dục, bồi dưỡng kiến thức quốc phòng và an ninh cho các đối tượng và toàn dân, nhất là đội ngũ cán bộ chủ chốt các cấp, các ngành.

Hai là, chăm lo bồi dưỡng sức dân, tạo nền tảng, động lực mạnh mẽ xây dựng các tiềm lực của nền quốc phòng toàn dân vững mạnh. Quán triệt tư tưởng “nước lấy dân làm gốc” của Chủ tịch Hồ Chí Minh, Đảng ta luôn chú trọng phát huy vai trò của nhân dân, của nhân tố con người trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc và luôn coi đó vừa là mục tiêu, vừa là động lực của sự phát triển. Thực hiện mục tiêu đó, cùng với đẩy mạnh phát triển kinh tế - xã hội, Đảng, Nhà nước tiếp tục chăm lo bồi dưỡng sức dân, nâng cao dân trí, bồi dưỡng, trọng dụng nhân tài cho đất nước. Trước hết, trên cơ sở tăng cường đổi mới, nâng cao hiệu quả mô hình tăng trưởng của nền kinh tế, Đảng và Nhà nước ta tập trung lãnh đạo, chỉ đạo đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa trên nền tảng khoa học và công nghệ, đổi mới sáng tạo và nguồn nhân lực chất lượng cao; xây dựng, hoàn thiện đồng bộ thể chế phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa; nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý, điều hành của Nhà nước; giải quyết tốt mối quan hệ giữa nhà nước, thị trường và xã hội; giữa nhà nước, doanh nghiệp và người dân. Trong đó, hết sức chú trọng phát triển sản xuất, tạo việc làm, nâng cao thu nhập, mức sống của nhân dân. Đặc biệt, cần có chủ trương, cơ chế, chính sách phù hợp, ưu tiên vùng đặc biệt khó khăn, vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo, vùng đồng bào dân tộc thiểu số,... thông qua các chương trình, dự án phát triển kinh tế - xã hội gắn với củng cố quốc phòng, an ninh; thực hiện mỗi bước phát triển kinh tế - xã hội là một bước tăng cường quốc phòng, an ninh. Đồng thời, thực hiện tốt chính sách an sinh xã hội, an ninh con người, thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội; nâng cao chất lượng cuộc sống và hạnh phúc của nhân dân. Trong quá trình thực hiện, cần khéo vận dụng những chỉ dẫn của Chủ tịch Hồ Chí Minh, các nghị quyết, chỉ thị của Đảng,... để tích cực đổi mới cách tiếp cận xã hội, nhất là đối với những người yếu thế, người nghèo; tăng cường phối hợp, lồng ghép, ưu tiên các nguồn lực, đẩy mạnh xã hội hóa trong trợ giúp xã hội, v.v. Đây là vấn đề rất quan trọng, thể hiện tính ưu việt của chế độ xã hội chủ nghĩa; từ đó, tạo đồng thuận cao, huy động sức mạnh tổng hợp của toàn dân tộc trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc; trong đó có xây dựng các tiềm lực của nền quốc phòng toàn dân vững mạnh.

Ba là, tiếp tục khơi dậy, động viên toàn dân xây dựng thế trận quốc phòng toàn dân gắn với thế trận an ninh nhân dân, trọng tâm là xây dựng “thế trận lòng dân” vững chắc. Đây vừa là một trong những nội dung trọng tâm, bao trùm, yêu cầu khách quan, vừa là mục tiêu xây dựng nền quốc phòng toàn dân vững mạnh trong tình hình mới. Vì thế, việc xây dựng thế trận quốc phòng toàn dân gắn với thế trận an ninh nhân dân, nhất là xây dựng “thế trận lòng dân” phải huy động sự vào cuộc của các cấp, ngành, lực lượng, địa phương, của cả hệ thống chính trị và toàn dân; trong đó, dựa vào dân, dân là gốc, phát huy sức mạnh của toàn dân là vấn đề rất quan trọng, mang tính nền tảng. Để làm được điều đó, trước hết cần phát huy mạnh mẽ dân chủ xã hội chủ nghĩa, sự tham gia đóng góp của toàn dân trong xây dựng thế trận quan trong này. Trước mắt, cần tập trung nâng cao hiệu lực, hiệu quả công tác quản lý nhà nước về quốc phòng ở tất cả các cấp từ Trung ương đến địa phương. Tăng cường huy động các tiềm lực, sức mạnh của toàn dân xây dựng phòng thủ quân khu, khu vực phòng thủ các tỉnh, thành phố ngày càng vững chắc, có chiều sâu, tạo thế phòng thủ chung thống nhất trên từng khu vực, địa bàn và cả nước. Chú trọng huy động, tận dụng các nguồn lực, các tiềm năng, lợi thế trên từng khu vực, địa bàn để quy hoạch, xây dựng thế trận quân sự trong khu vực phòng thủ, các công trình trong căn cứ chiến đấu, căn cứ hậu phương, các công trình phòng thủ; phòng thủ dân sự; phòng, chống thiên tai, cứu hộ, cứu nạn,… gắn với phương châm “4 tại chỗ”, v.v. Đồng thời, động viên, khuyến khích, phát huy vai trò của nhân dân tham gia thực hiện công tác quốc phòng, quân sự ở địa phương, cơ sở và các phong trào, cuộc vận động do Quân đội phát động cũng như phong trào “Toàn dân tham gia bảo vệ an ninh Tổ quốc”; làm tốt công tác phối hợp giữa lực lượng Quân đội với Công an trong thực hiện nhiệm vụ quốc phòng, an ninh, giữ gìn an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội.

Bên cạnh đó, cần nghiên cứu, đề xuất và triển khai nhiều giải pháp đồng bộ, mang tính đột phá trong thực hiện công tác dân vận, tuyên truyền đặc biệt,... để huy động “tài dân, sức dân, của dân làm lợi cho dân”, xây dựng “thế trận lòng dân” vững chắc ngay từ cơ sở, tạo nền tảng xây dựng nền quốc phòng toàn dân, nền an ninh nhân dân vững mạnh như Chủ tịch Hồ Chí Minh đã căn dặn: “Chúng ta phải ra sức bảo vệ Tổ quốc, bảo vệ hòa bình, cho nên chúng ta phải củng cố quốc phòng,…”.

Bốn là, phát huy sức mạnh của toàn dân trong xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân vững mạnh, làm nòng cốt trong xây dựng nền quốc phòng toàn dân, bảo vệ Tổ quốc. Lực lượng vũ trang nhân dân được ra đời từ phong trào cách mạng của quần chúng, dưới sự lãnh đạo của Đảng; là lực lượng từ nhân dân mà ra, vì nhân dân mà chiến đấu, luôn mang trong mình bản chất giai cấp công nhân, tính nhân dân và tính dân tộc sâu sắc. Vì thế, muốn xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân vững mạnh, đáp ứng yêu cầu bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới, đòi hỏi phải phát huy sức mạnh của toàn Đảng, toàn quân, toàn dân, các cấp, ngành, địa phương và cả hệ thống chính trị; trong đó, sức mạnh của lòng dân, sức dân,... là vấn đề có tính nền tảng. Để xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân vững mạnh theo Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng, chúng ta phải tuyên truyền, giáo dục cho các cấp, ngành, lực lượng và toàn dân nắm vững quan điểm, đường lối quốc phòng toàn dân, đường lối xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân của Đảng cùng sự cần thiết và vai trò của lực lượng vũ trang nhân dân đối với sự trường tồn, phát triển của đất nước, dân tộc, v.v. Trên cơ sở đó, động viên, huy động mọi nguồn lực trong dân; kết hợp sức mạnh dân tộc và sức mạnh thời đại trong xây dựng lực lượng quan trọng này. Trước mắt, tập trung xây dựng lực lượng Quân đội, Công an thường trực, chính quy theo hướng “tinh, gọn, mạnh”, vững mạnh về chính trị, tư tưởng, đạo đức, tổ chức và cán bộ; xây dựng lực lượng dự bị động viên hùng hậu; lực lượng dân quân, tự vệ vững mạnh, rộng khắp, có cơ cấu thành phần hợp lý, chất lượng cao. Cùng với đó, không ngừng nâng cao chất lượng huấn luyện, sẵn sàng chiến đấu, xây dựng chính quy, rèn luyện kỷ luật; phát huy dân chủ quân sự, tăng cường đoàn kết cán binh,... góp phần nâng cao chất lượng tổng hợp, sức mạnh chiến đấu, thực sự là lực lượng chính trị, lực lượng chiến đấu tuyệt đối trung thành, tin cậy của Đảng, Nhà nước và Nhân dân, làm nòng cốt trong thực hiện nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc. Tích cực huy động mọi nguồn lực (cả về vật chất và trí tuệ) của Nhà nước, các tổ chức và cá nhân để nghiên cứu, sửa chữa, sản xuất và mua sắm các loại vũ khí, trang bị kỹ thuật tiên tiến, hiện đại cho lực lượng vũ trang. Đồng thời, sớm hoàn thiện, ban hành cơ chế, chính sách thu hút nguồn nhân lực chất lượng cao vào phục vụ trong Quân đội, Công an, góp phần xây dựng nền quốc phòng toàn dân vững mạnh.

Trước yêu cầu nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới, đòi hỏi toàn Đảng, toàn dân, toàn quân cần thấm nhuần sâu sắc, vận dụng sáng tạo tư tưởng Hồ Chí Minh về “nước lấy dân làm gốc” vào xây dựng, củng cố quốc phòng, phát huy hơn nữa sức mạnh khối đại đoàn kết toàn dân tộc dưới sự lãnh đạo của Đảng, xây dựng nền quốc phòng toàn dân, thế trận quốc phòng toàn dân gắn với thế trận an ninh nhân dân vững mạnh, bảo vệ vững chắc Tổ quốc “từ sớm, từ xa”./.
Yêu nước ST.

LÀM THEO LỜI BÁC DẠY “ĐỐI VỚI TỰ MÌNH”!

         Trong đời sống xã hội, mỗi người có nhiều mối quan hệ nhưng hàng đầu, xuyên suốt và quan trọng nhất là “mình đối với mình”, “đối với tự mình”, “tự mình phải”. Mình xử sự tốt với mình thì mới xử sự tốt với các đối tượng khác!

Trước hết phải đánh thắng lòng tà là kẻ thù trong mình

“Tự mình” là một cách tiếp cận sâu sắc, có hàm lượng khoa học cao về văn hóa với ý nghĩa văn hóa có vai trò to lớn tạo khả năng suy xét bản thân. Nhờ văn hóa mà con người tự thể hiện, tự ý thức, tự biết mình là một “công trình” chưa hoàn thiện. Nhận thức và thực hành văn hóa làm cho bản thân mỗi người trở thành một con người đặc biệt nhân bản, lý tính, có óc phê phán, dấn thân một cách đạo lý, chính tâm. Mỗi người tự tìm tòi những ý nghĩa mới mẻ, tạo nên một công trình mới sáng tạo, vượt lên chính bản thân để trở thành một con người “hoàn toàn” như cách nói của Bác Hồ. Với nhận thức đó, “tự mình” được xem xét trên hai phương diện chủ yếu: tự mình gương mẫu làm việc tốt cho mọi người noi theo và mình tự phê bình, có gan thừa nhận khuyết điểm theo lời dạy “Tiên trách kỷ, hậu trách nhân” để cho dân tin, dân phục, dân yêu.

Trong di sản của mình, Bác nhiều lần đề cập tới các mối quan hệ. Trong tác phẩm “Đường cách mệnh” (1927), khi viết về tư cách của người cách mệnh, Bác đề cập tới 3 mối quan hệ: “Tự mình phải, đối người phải, làm việc phải”. Trong “Bài nói chuyện với cán bộ tỉnh Thanh Hóa” (2-1947), Người đề cập 5 mối quan hệ: Mình đối với mình; Đối với đồng chí mình; Đối với công việc; Đối với Nhân dân; Đối với Đoàn thể. Trong bài “Tư cách người công an cách mệnh” (3-1948), Bác đề cập 6 mối quan hệ: Đối với tự mình; Đối với đồng sự; Đối với Chính phủ; Đối với Nhân dân; Đối với công việc; Đối với địch. Trong ba lần, mỗi lần Bác đề cập tới một đối tượng khác nhau. Năm 1927 là người cách mệnh nói chung; năm 1947 là cán bộ; năm 1948 là người công an cách mệnh.

Điều đặc biệt là cả ba trường hợp, dù với các đối tượng khác nhau, Bác luôn đề cập với “tự mình” (tự mình phải, mình đối với mình, đối với tự mình) lên hàng đầu. Xét dưới góc độ phẩm chất, chuẩn mực đạo đức thì đối tượng với Nước, với Dân là hàng đầu, quan trọng nhất. Đó là phẩm chất, chuẩn mực “trung với nước, hiếu với dân” hay ở cách tiếp cận khác là “chí công vô tư” tức đặt quyền lợi chung (Tổ quốc và Nhân dân) lên trên, lên trước lợi ích cá nhân.

Vậy tại sao Bác lại đặt mối quan hệ với “tự mình” lên trước? Đây là hai cách tiếp cận khác nhau, không được lẫn. Với “tự mình” là cách tiếp cận quan hệ đạo đức chứ không phải chuẩn mực đạo đức, còn “trung và hiếu” là cách tiếp cận chuẩn mực đạo đức. Mà nói đến chuẩn mực đạo đức thì phải đặt lợi ích của Tổ quốc và Nhân dân lên trên hết, trước hết. Còn khi bàn về các mối quan hệ thì lại phải xử lý với “tự mình” trước hết; trước hết mình phải xử sự với mình cho tốt thì mới có thể xử sự tốt với các đối tượng khác. Đây là vấn đề thuộc ý thức, tư tưởng liên quan tới “tri kỷ” (biết mình), tự phê bình, đồng thời cũng là câu chuyện nêu gương qua việc làm hằng ngày.

Ở góc độ tự phê bình và sửa chữa khuyết điểm, phải xác định đây là một cuộc đấu tranh chống giặc trong lòng trường kỳ, gian khổ để giải quyết mâu thuẫn giữa hai phe: phe thiện và phe ác ở trong mình. Theo Bác, đấu tranh để phe thiện thắng, thì phe ác phải bại. Nếu không đấu tranh mà để cho phe thiện bại, thì là hỏng. Giặc trong lòng đáng sợ hơn giặc bên ngoài vì nó vô hình, vô ảnh, không dàn thành trận, luôn luôn lẩn lút trong mình ta, phá từ trong phá ra và là đồng minh với giặc bên ngoài. Nó khó thấy, khó biết, nên khó tránh. Bác nhấn mạnh: “Muốn đánh thắng chủ nghĩa đế quốc là kẻ thù trên thế giới, muốn đánh thắng chủ nghĩa thực dân và phong kiến, địa chủ là kẻ thù trong nước thì trước hết phải đánh thắng lòng tà là kẻ thù trong mình. Phải chính tâm tu thân mới có thể “trị quốc bình thiên hạ” (Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2011, t.8, tr.142). “Chính tâm tu thân” nghĩa là tâm mình phải chín chắn, đứng đắn, trong sáng, tu dưỡng hằng ngày, suốt đời, việc gì cũng phải làm kiểu mẫu. “Trị quốc bình thiên hạ” là làm những việc ích quốc, lợi dân như kháng chiến, kiến quốc, xây dựng chủ nghĩa xã hội, bảo vệ hòa bình thế giới. Muốn cải tạo xã hội thì lòng mình phải cải tạo. Nếu lòng mình không cải tạo thì đừng nói đến cải tạo xã hội. Lòng mình còn tham ô, lãng phí thì cải tạo xã hội sao được. “Tự mình không đánh thắng được khuyết điểm của mình, mà muốn thắng kẻ địch, tự mình không cải tạo được mình, mà muốn cải tạo xã hội, thì thật là vô lý” (Hồ Chí Minh, Toàn tập, Sđd, t.7, tr.82).

Bác Hồ thường dẫn Khổng Tử, Mạnh Từ, Tăng Tử là những nhà tư tưởng lớn, những vị đại hiền, những kiểu mẫu cho chúng ta noi theo. Khổng Tử cho rằng tự mình phải chính trước, phải siêng năng, trong sạch, mới giúp được người khác chính. Mình không liêm, không chính mà muốn người khác liêm, chính là vô lý. Theo tinh thần của Tăng Tử, mỗi ngày phải tự kiểm điểm mấy lần: đối với người có thẳng thắn không? Đối với việc có chuyên cần không? Bác Hồ nhấn mạnh mỗi cán bộ, đảng viên, mỗi ngày phải tự kiểm điểm, tự phê bình, tự sửa chữa như mỗi ngày phải rửa mặt. Được như thế thì trong Đảng sẽ không có bệnh mà Đảng sẽ mạnh khỏe vô cùng.

Tự mình phải nêu gương

Ở góc độ nêu gương, vấn đề “tự mình” hết sức quan trọng, nhiều khi có ý nghĩa quyết định toàn bộ công việc. Nhiều việc làm cụ thể được Bác dẫn ra cho thấy sức mạnh to lớn của nêu gương. Bác nói: “Trong việc cứu nạn đói, mình bảo người ta 10 ngày nhịn ăn một bữa mà chính đến ngày nhịn mình lại cứ chén tỳ tỳ thì nghe sao được. Đáng lý dân nhịn một bữa mình nhịn hai bữa mới phải. Về việc khuyến nông cũng vậy, bảo người ta đào đất trồng ngô, trồng khoai mà lúc người ta làm mình lại ngủ thì sao được. Miệng nói tay phải làm mới được” (Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.4, tr.117). Với quan điểm “nói thì dễ, làm thì khó. Nói miệng thì ai cũng nói được, ta phải thực hành. Ta không cần nói nhiều mà phải làm cho thật nhiều, phải thực hành”, Bác nói tự mình phải cần, kiệm, liêm, chính trước đã. Trước hết mình phải làm gương, gắng làm gương trong bộ đội, cơ quan, đặc biệt trước Nhân dân cả ba mặt vật chất, tinh thần và văn hóa với tinh thần “quyết tâm, tín tâm, đồng tâm”. Có như vậy dân mới tin, được lòng dân.

Theo Hồ Chí Minh, tất cả mọi lĩnh vực hoạt động từ đấu tranh cách mạng, kiến thiết đất nước, chỉnh đốn Đảng, xây đạo đức, v.v.. đều cần cán bộ, đảng viên làm gương, nêu gương để cho người khác làm theo. Người nói cán bộ phải thực hành chữ Liêm trước, để làm kiểu mẫu cho dân. Cán bộ thi đua thực hành liêm khiết, thì sẽ gây nên tính liêm khiết trong Nhân dân. Ngược lại cán bộ không thực hành chữ liêm mà lại bất liêm thì không những uy tín cá nhân bị giảm mà mất cả danh dự, thanh danh của Đảng, của dân tộc, làm giảm lòng tin của Nhân dân đối với Đảng, liên quan tới sự tồn vong của Đảng và chế độ.

Mỗi cán bộ, đảng viên, người cách mạng, nhất là người đứng đầu tự mình phải làm tốt các đức như Bác nêu trong tác phẩm Đường cách mệnh: “Cần kiệm. Hòa mà không tư. Cả quyết sửa lỗi mình. Cẩn thận mà không nhút nhát. Hay hỏi. Nhẫn nại (chịu khó). Hay nghiên cứu, xem xét. Vị công vong tư. Không hiếu danh, không kiêu ngạo. Nói thì phải làm. Giữ chủ nghĩa cho vững. Hy sinh. Ít lòng tham muốn về vật chất. Bí mật” (Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.2, tr.280) hay trong 6 điều Bác dạy người công an cách mệnh: “Đối với tự mình: phải cần, kiệm, liêm, chính”, sẽ có tác dụng truyền cảm hứng lớn, lôi cuốn Nhân dân và làm cho công tác tuyên truyền, giáo dục chính trị, tư tưởng có sức sống mãnh liệt, hiệu quả thiết thực. Ngược lại, “nếu miệng thì tuyên truyền, bảo người ta siêng làm, mà tự mình thì ăn trưa, ngủ trễ, bảo người ta tiết kiệm mà tự mình thì xa xỉ, lung tung thì tuyên truyền một trăm năm cũng vô ích” (Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.5, tr.126).

Trong công cuộc đổi mới, Đảng ta kiên định, vận dụng và phát triển sáng tạo tư tưởng Hồ Chí Minh, trong đó chú trọng những lời dạy và tấm gương của Bác về sự nêu gương và tự mình tu thân chính tâm. Cơ sở lý luận và thực tiễn của sự vận dụng xuất phát từ lời dạy của Bác: “Vô luận việc gì, đều do người làm ra, và từ nhỏ đến to, từ gần đến xa, đều thế cả” (Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.5, tr.281). Tổng Bí thư Đảng ta cho rằng “xét đến ngọn ngành mọi sự trên đời này cũng đều là vấn đề con người, do con người, vì con người mà ra. Bởi vậy để phòng, chống tham nhũng, tiêu cực có hiệu quả, thì trước tiên mỗi cán bộ chúng ta hãy nêu cao tinh thần trách nhiệm và dũng khí trước Đảng, trước Nhân dân; gương mẫu, đi đầu trong lãnh đạo, chỉ đạo, triển khai thực hiện và chấp hành thật tốt các quy định về phòng, chống tham nhũng, tiêu cực” (Nguyễn Phú Trọng: Kiên quyết, kiên trì đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực, góp phần xây dựng Đảng và Nhà nước ta ngày càng trong sạch, vững mạnh, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2023, tr.51).

Trong nhiều văn kiện của Đảng và phát biểu của người đứng đầu Đảng, quan điểm “cán bộ, đảng viên tự soi, tự sửa” là trở về với những chỉ huấn của Bác. Trước đây cũng như hiện nay, chỉ khi cán bộ, đảng viên, nhất là người đứng đầu tiên phong, gương mẫu, tự soi, tự sửa, nói đi đôi với làm, nói là làm thì mới lôi cuốn được quần chúng Nhân dân. Mình đối với mình, một mặt phải tu thân chính tâm, để trở thành một con người tử tế, chính ngôi, “đúng vai, thuộc bài”, có tâm, có tầm cho Nhân dân noi theo; mặt khác phải có gan tự phê bình và phê bình, dám nghĩ, dám nói, dám làm, dám chịu trách nhiệm, không giấu giếm khuyết điểm, không sợ trách nhiệm. Theo tinh thần lời dạy của Bác, nếu hiện nay một bộ phận cán bộ, đảng viên, trong đó có cả cán bộ diện Trung ương quản lý, đứng đầu còn tham nhũng, tiêu cực, lãng phí, quan liêu, vô trách nhiệm, thiếu trách nhiệm, sợ trách nhiệm thì làm sao cải tạo được xã hội. Muốn có một nước Việt Nam hùng cường, phồn vinh, Nhân dân hạnh phúc, dân giàu, nước mạnh, văn minh thì “cán bộ, đảng viên, trước hết là người lãnh đạo phải biết trọng liêm sỉ, giữ danh dự, biết xấu hổ khi bản thân và người thân có hành vi tham nhũng và tiêu cực” (Nguyễn Phú Trọng: Kiên quyết, kiên trì đấu tranh phòng, chống tham nhũng…, Sđd, tr.136). Quan trọng nhất là chữ “Tâm”, chính tâm tu thân. Tránh tình trạng: “Chân mình còn lấm bê bê/Lại cầm bó đuốc đi rê chân người”; “Thượng bất chính, hạ tắc loạn!”; “Cấp trên ở chẳng chính ngôi/Cho nên ở dưới chúng tôi hỗn hào!” (Nguyễn Phú Trọng: Kiên quyết, kiên trì đấu tranh phòng, chống tham nhũng…, Sđd, tr.136).

Mỗi cán bộ, đảng viên, nhất là người đứng đầu, đối với tự mình phải xây dựng văn hóa liêm chính, kiệm cần, có bổn phận, trách nhiệm với nước, với dân sẽ được Nhân dân ủng hộ, tin tưởng. Mà có được lòng tin và sự ủng hộ của Nhân dân là có tất cả./.
Môi trường ST.

Học Bác từ tấm gương tự học và tác phong làm việc hiệu quả, chuẩn mực

Bác Hồ thăm đảo Tuần Châu, tỉnh Quảng Ninh. (Tranh: Đào Thế Am. Nguồn: Cục Mỹ thuật, Nhiếp ảnh và Triển lãm).

Bác Hồ thăm đảo Tuần Châu, tỉnh Quảng Ninh. (Tranh: Đào Thế Am. Nguồn: Cục Mỹ thuật, Nhiếp ảnh và Triển lãm).

SỬ DỤNG HIỆU QUẢ THỜI GIAN ĐỂ HỌC TẬP VÀ LÀM VIỆC

Học Bác, chúng ta học tập cách quý trọng thời gian, sử dụng hiệu quả thời gian để học tập và làm việc, bởi theo Người: “Của cải nếu hết, còn có thể làm thêm. Khi thời giờ đã qua rồi, không bao giờ kéo nó trở lại được(2). Đó là kinh nghiệm Bác đúc rút ra từ quá trình tự học, làm việc và trong cả cuộc đời làm cách mạng của Người.

Trên hành trình 30 năm bôn ba nước ngoài tìm đường cứu nước, Hồ Chí Minh đã vượt lên hoàn cảnh, luôn tranh thủ thời gian, khai thác tối đa quỹ thời gian eo hẹp và tạo ra thời gian để kiên trì học tập, trau dồi kiến thức. Theo tác giả Trần Dân Tiên trong sách “Những mẩu chuyện về đời hoạt động của Hồ Chủ tịch”, khi làm phụ bếp trên tàu Amiral Latouche Trêville: “Mỗi ngày 9 giờ tối công việc mới xong. Anh Ba mệt lử. Nhưng trong khi chúng tôi (những người Việt Nam làm công trên chuyến tàu) ngủ hoặc đánh bài, anh Ba đọc hay viết đến 11 giờ hoặc nửa đêm”. Những ngày làm vườn cho ông chủ tàu ở Saint Adresse “anh học tiếng Pháp với cô sen”. Những ngày sống ở Anh, “hàng ngày buổi sáng sớm và buổi chiều anh Ba ngồi trong vườn hoa Hayden, tay cầm một quyển sách và một cái bút chì. Hàng tuần, vào ngày nghỉ, anh đi học tiếng Anh với một giáo sư người Ý”. Hồ Chí Minh còn tham gia vào Hội Du lịch đưa khách đi thăm nước Pháp và những nước lân cận với giá tiền rất rẻ bởi như Người đã nói với bạn rằng: “Trong những ngày nghỉ, không nên tiêu phí tiền bạc, mất thì giờ ở bãi bể để nhìn những người đàn bà đi tắm, mà nên đi du lịch, học hỏi được nhiều”(3). Nhờ vậy, Người có dịp đi thăm nhiều nơi ở Pháp, Ý, Thụy Sĩ, Đức và cả Tòa thánh Vatican… để mở rộng tầm nhìn và cơ hội học hỏi. Khi bắt đầu đi tìm đường cứu nước, trình độ học vấn mà Người được đào tạo ở nhà trường chẳng được là bao. Trong lý lịch tự khai tại Đảng Cộng sản Pháp cũng như tại một số hội nghị, Đại hội của Quốc tế Cộng sản mà Người tham dự, Người thường khiêm tốn ghi ở phần trình độ học vấn là Tự học. Năm 1961, tại Hội nghị chuyên đề sinh viên quốc tế họp tại Việt Nam, Người cũng đã tự kể rằng: “Về văn hóa tôi chỉ học hết lớp tiểu học... Về hiểu biết phổ thông: Năm 17 tuổi, tôi mới thấy ngọn đèn điện lần đầu tiên, 29 tuổi mới nghe rađiô lần đầu tiên...”(4). Có thể khẳng định, cuộc đời hoạt động cách mạng của Hồ Chí Minh chính là cuộc đời tự học bền bỉ, và cả thế giới đã phải thừa nhận và khâm phục về sự thông minh, về tầm hiểu biết rộng lớn của Người (danh hiệu nhà văn hóa kiệt xuất mà tổ chức UNESCO trao tặng Người chính là minh chứng).

Trở thành Chủ tịch Đảng, Chủ tịch nước, Hồ Chí Minh vẫn tranh thủ mọi lúc, mọi nơi để học. Năm 1961, nói chuyện với các cán bộ đảng viên ở Nghệ An hoạt động lâu năm, Người tâm sự: “Tôi năm nay 71 tuổi, ngày nào cũng phải học. Việc lớn, việc nhỏ, tôi phải tham gia. Công việc cứ tiến mãi. Không học thì không theo kịp, công việc nó sẽ gạt mình lại phía sau(5). Với các đảng viên mới, Người cũng căn dặn: “Bác đã 76 tuổi nhưng vẫn cố gắng học thêm. Chúng ta phải học và hoạt động cách mạng suốt đời. Còn sống thì còn phải học, còn phải hoạt động cách mạng(6).

Các đồng chí phục vụ Bác sinh thời kể lại rằng, ngày nào Bác cũng dành thời gian để bổ sung và nâng cao tri thức cho mình bằng đọc sách, báo, nghe tin tức thời sự và rút kinh nghiệm từ những công việc thực tiễn hàng ngày. Người thường xem báo ngay đầu giờ buổi sáng và thường xuyên nhắc cán bộ, nhất là cán bộ phụ trách, cần phải sắp xếp thời gian đọc báo hằng ngày để nắm bắt thông tin phục vụ cho công việc. Ngoài báo chí trong nước, Chủ tịch Hồ Chí Minh còn đọc báo nước ngoài gửi đến bằng con đường ngoại giao. Vừa đọc, Người vừa ghi chép hết sức cẩn thận, tỉ mỉ từ những vấn đề của các địa phương trong nước cho đến những biến động trên thế giới, từ những cuộc đấu tranh biểu tình cho đến những vấn đề về tài chính tiền tệ v.v... Rất cụ thể và thiết thực, đây chính là một trong những hình thức tự học tập để bổ sung tri thức hiệu quả và cần thiết. Trên cơ sở đó, giúp Người đưa ra chỉ đạo phù hợp với từng lĩnh vực và những chính sách đối nội, đối ngoại sát với thực tiễn.

Như lời Bác đã dạy: “Muốn tiết kiệm có kết quả tốt, thì phải khéo tổ chức”, hằng tuần, hằng ngày, có khi cả hằng giờ nữa, Bác đều có chương trình làm việc rõ ràng, khoa học, cụ thể. Một ngày làm việc của Bác bắt đầu từ rất sớm: “Khi Đài Tiếng nói Việt Nam mở nhạc hiệu thì Bác cũng bật đèn phòng ngủ. Bác làm suốt cả ngày, nhiều hôm đến tận đêm khuya(7). Trong một ngày Bác giải quyết rất nhiều công việc, từ tiếp cán bộ, tiếp khách ngoại giao, đi thăm cơ sở, họp Bộ Chính trị, nghiên cứu tài liệu, viết báo, viết thư v.v.. Trong khi bộ máy giúp việc cho Bác tại Văn phòng ở Phủ Chủ tịch cũng rất ít. Ngoài bốn cán bộ làm công tác văn phòng (kể cả đồng chí Vũ Kỳ là thư ký riêng của Bác), còn có một số đồng chí nấu ăn, cần vụ, lái xe, làm vườn, có tất cả hơn mư­ời người. Nhưng sự phân bổ thời gian hợp lý khoa học và phong cách làm việc thiết thực cụ thể đã giúp Bác tiết kiệm nhiều thời gian và giải quyết hiệu quả một khối lượng công việc đồ sộ, phức tạp trên cương vị một người lãnh đạo đất nước. Khi cần nắm rõ công việc của ngành nào, địa ph­ương nào, Bác cho gọi đồng chí Trung ư­ơng, Bộ trưởng phụ trách ngành đó, địa phương đó, nếu cần thì đem theo cả chuyên viên đặc trách đến báo cáo với Bác. Người thường bố trí thời gian tiếp cán bộ đến làm việc hoặc tiếp khách vào đầu các buổi sáng sớm để sau đó dành nhiều thời gian cho công việc. Công việc xong mà chưa đến giờ ngủ, Bác lại đọc sách, báo. Chủ nhật, ngày lễ cũng có chương trình. Vì vậy, không mấy khi Bác có thời gian rảnh. Thủ tướng Phạm Văn Đồng là người có nhiều thời gian sống gần Bác trong những năm Người sống và làm việc tại Phủ Chủ tịch đã nhận định: “Theo tôi biết… thật sự Bác không có ngày nghỉ và ngày nào cũng như ngày nào, bao giờ cũng có chương trình làm việc với những giờ giấc rất nghiêm ngặt, mà Hồ Chí Minh là người gương mẫu trong việc tuân thủ kỷ luật đó(8).

Bác Hồ tiếp đoàn đại biểu các dân tộc Hà Giang (15.11.1965). Ảnh: TƯ LIỆU

Bác Hồ tiếp đoàn đại biểu các dân tộc Hà Giang (15.11.1965). (Ảnh: Tư liệu)

CÓ QUYẾT TÂM THÌ VIỆC GÌ LÀM CŨNG ĐƯỢC

Năm 1945, mở đầu bài nói chuyện tại buổi lễ tốt nghiệp khóa 5 trường Huấn luyện cán bộ Việt Nam, Bác đã thẳng thắn góp ý: “Trong giấy mời tới đây nói 8 giờ bắt đầu, bây giờ 8 giờ 10 phút rồi mà nhiều người chưa đến. Cách tôi làm việc đúng giờ. Tôi khuyên anh em làm việc phải cho đúng giờ, vì thời gian quý báu lắm(9). Một câu chuyện nhỏ về thời gian, về kỷ luật nhưng Bác lại dạy chúng ta biết bao điều. Bác quý trọng thời gian của mình bao nhiêu, thì cũng quý thời gian của người khác bấy nhiêu. Vì thế, Bác không để bất cứ ai phải đợi mình bao giờ. Bác đã hẹn là đến, Bác đã hứa là làm, hẹn đồng chí nào giờ nào đến gặp, đến đúng giờ ấy là thấy Bác đã chờ sẵn. Thu Đông năm 1952, Bác đến với Hội nghị chuẩn bị chiến dịch Tây Bắc. Nhiều đồng chí cán bộ dự chiến dịch Tây Bắc năm đó vẫn còn nhớ, Bác đã đến hội nghị với một hình ảnh không ai có thể quên được. Mấy hôm ấy trời mưa to, nước lũ từ các đầu nguồn tràn về cắt đứt cả đường sá nhưng Bác đã vượt suối lũ, tới hội nghị. Bà con địa phương đi đến đấy gặp lũ phải đứng lại, thấy thế cũng hăng hái theo Bác và đều lội qua được. Tất cả các đồng chí dự hội nghị đều biết rằng mùa mưa vượt suối nước lũ không phải là việc dễ, cho nên khi thấy Bác đã tới hội nghị rất đúng giờ, chẳng những cảm động trước sự săn sóc chu đáo của Bác với quân đội, mà còn là một bài học cần ngay cho họ trước khi ra trận. Bài học ấy, như Bác thường nói, là: “Quyết tâm, có quyết tâm thì việc gì làm cũng được(10).

Quý trọng thời gian, Bác không muốn anh em giúp việc, cán bộ ngồi chơi không và luôn căn dặn anh em phải “học ở trường, ở sách vở, học lẫn nhau và học ở nhân dân(11), học trong việc làm hàng ngày, trong việc lớn cũng như việc nhỏ. Đồng chí Hoàng Hữu Kháng, người trực tiếp bảo vệ Bác từ năm 1946 đến năm 1951 kể lại: Có những lần hết giờ gác, chúng tôi nằm tán chuyện với nhau. Lúc giải lao Bác đi thăm anh em. Một hôm, Bác gặp chúng tôi đang nằm chơi, Bác nói: “Các chú không có việc gì làm à? Nếu không có việc thì mang chiếc giư­ờng dỡ ra rồi lắp lại, nếu còn thì giờ nữa thì ra ngoài kia vật nhau hay tăng gia”. Ý Bác muốn nói là phải tìm việc mà làm, không nên ngồi tán gẫu...(12). Đồng chí lái xe ít xem sách báo. Những buổi anh rỗi việc, Bác gọi lên, bảo ngồi ở buồng bên, rồi đưa sách báo cho đọc. Thỉnh thoảng, Bác qua kiểm tra. Có lần Bác vào, thấy tờ báo mở trên bàn, đồng chí lái xe tựa lưng vào ghế ngủ. Bác nhẹ nhàng đi ra. Lúc khác, Bác nói: "Mới đọc chưa hiểu, dễ buồn ngủ. Đọc ít lâu, hiểu rồi sẽ ham. Ham rồi sẽ không buồn ngủ nữa"(13). Cũng với ý đó, Bác đã từng nói với những cán bộ phục vụ thật thấm thía: “Cái gì cũng quen đi thôi các chú ạ. Chăm cũng quen đi, mà lười cũng quen đi, quen nhanh thôi chứ không lâu đâu. Thế nào là khó khăn? Khó khăn là cái chưa quen. Rèn luyện cho quen đi thì khó cũng không còn khó nữa. Kiên trì rèn luyện, sẽ đến một lúc làm cỏi khó thấy rằng không khó”.

VẬN DỤNG NHỮNG CHUẨN MỰC VÀO PHONG CÁCH LÀM VIỆC

Hội nghị trực tuyến toàn quốc nghiên cứu, học tập chuyên đề toàn khóa về

Hội nghị trực tuyến toàn quốc nghiên cứu, học tập chuyên đề toàn khóa về "Học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh" nhiệm kỳ Đại hội XIII của Đảng, chuyên đề năm 2021.

Từ thực tiễn cuộc sống và hoạt động cách mạng, đặc biệt là những năm Người sống và làm việc tại Phủ Chủ tịch, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã để lại những chuẩn mực về phong cách sống, phong cách làm việc. Đây là những bài học thực tiễn sâu sắc đối với mọi tầng lớp nhân dân, nhất là cán bộ đảng viên trong giai đoạn cách mạng hiện nay, khi đất nước đang đẩy mạnh mở cửa hội nhập với thế giới, đòi hỏi mỗi người dân Việt Nam phải có một phong cách làm việc khoa học, hiện đại và hiệu quả để góp phần đưa đất nước phát triển.

Thực trạng hiện nay cho thấy, việc quản lý lao động trong các cơ quan hành chính, đơn vị sự nghiệp nhà nước vẫn còn nhiều hạn chế, dẫn đến lãng phí thời gian lao động, làm cho năng suất, chất lượng hiệu quả công tác chưa cao. Một bộ phận không nhỏ cán bộ, công chức, viên chức Nhà nước chưa đề cao trách nhiệm trong thực hiện nhiệm vụ, công vụ; ý thức kỷ luật lao động kém; vi phạm các quy định của pháp luật về sử dụng thời giờ làm việc, ảnh hưởng đến hiệu quả, chất lượng công tác và tác phong, uy tín của cán bộ, công chức, viên chức.

Để thực hiện mục tiêu hội nhập sâu, rộng vào nền kinh tế thế giới, phấn đấu đưa nước ta phát triển theo hướng công nghiệp hiện đại, mỗi cá nhân, mỗi tập thể cần phải học tập và làm theo tấm gương của Bác, đặc biệt là thực hiện lời dạy của Bác về tiết kiệm và sử dụng hiệu quả thời gian. Các cơ quan hành chính, đơn vị sự nghiệp nhà nước cần tăng cường áp dụng các biện pháp tổ chức lao động một cách khoa học, sử dụng hợp lý thời giờ làm việc của cán bộ, công chức, viên chức nhằm hoàn thành tốt nhiệm vụ của cơ quan, tổ chức, đơn vị. Mỗi cá nhân cần sử dụng hiệu quả thời gian bằng cách sắp xếp kế hoạch cụ thể, chi tiết; cần tích cực thi đua trong lao động, học tập, sản xuất; cần xây dựng phong cách làm việc chuyên nghiệp; rèn luyện tác phong công nghiệp, thể hiện trước nhất ở việc tuân thủ và biết quý trọng thời gian; phát triển khả năng độc lập và tự chủ trong công việc; không ngừng học hỏi và nâng cao kiến thức chuyên môn, ý thức trách nhiệm và tinh thần cầu tiến. Đây cũng chính là biện pháp để chúng ta rèn luyện phẩm chất tốt đẹp của con người mới xã hội chủ nghĩa như Chủ tịch Hồ Chí Minh hằng quan tâm xây dựng: “Từ Chủ tịch Chính phủ cho đến người chạy giấy, người quét dọn trong một cơ quan nhỏ, đều là những người ăn lương của dân, làm việc cho dân, phải được dân tin cậy. Vì vậy, những người làm trong các công sở càng phải làm gương đời sống mới cho dân bắt chước... Làm việc phải đến đúng giờ, chớ đến trễ, về sớm. Làm cho chóng, cho chu đáo. Việc ngày nào, nên làm xong ngày ấy, chớ để chờ ngày mai. Phải nhớ rằng: dân đã lấy tiền mồ hôi nước mắt để trả lương cho ta trong những thì giờ đó. Ai lười biếng tức là lừa gạt dân(14)./.

Để thực hiện mục tiêu hội nhập sâu, rộng vào nền kinh tế thế giới, phấn đấu đưa nước ta phát triển theo hướng công nghiệp hiện đại, mỗi cá nhân, mỗi tập thể cần phải học tập và làm theo tấm gương của Bác, đặc biệt là thực hiện lời dạy của Bác về tiết kiệm và sử dụng hiệu quả thời gian. Các cơ quan hành chính, đơn vị sự nghiệp nhà nước cần tăng cường áp dụng các biện pháp tổ chức lao động một cách khoa học, sử dụng hợp lý thời giờ làm việc của cán bộ, công chức, viên chức nhằm hoàn thành tốt nhiệm vụ của cơ quan, tổ chức, đơn vị. Mỗi cá nhân cần sử dụng hiệu quả thời gian bằng cách sắp xếp kế hoạch cụ thể, chi tiết; cần tích cực thi đua trong lao động, học tập, sản xuất; cần xây dựng phong cách làm việc chuyên nghiệp; rèn luyện tác phong công nghiệp, thể hiện trước nhất ở việc tuân thủ và biết quý trọng thời gian; phát triển khả năng độc lập và tự chủ trong công việc; không ngừng học hỏi và nâng cao kiến thức chuyên môn, ý thức trách nhiệm và tinh thần cầu tiến.

 

ThS. VŨ KIM YẾN
Khu Di tích Chủ tịch Hồ Chí Minh tại Phủ Chủ tịch

_____________________   

(1) Xã luận báo Gơ-ran-ma, La Ha-ba-na, ngày 14/9/1969 “Hồ Chí Minh một nhân cách lớn”, Nxb. Văn hoá thông tin, H, 2005, tr.97-98.

(2) (11) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, H, 2011, t.6, tr.123, 361.

(3) Hoàng Kỳ: Học tập ý chí và phương pháp tự học của Bác Hồ, Báo Giáo dục và Thời đại (Online), tháng 2/2010.

(4) (5) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.13, tr.187, 273.

(6) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.15, tr.113.

(7) Thư ký Bác Hồ kể chuyện, Nxb. Chính trị Quốc gia, H, 2005, tr.303.

(8) Phạm Văn Đồng: Một con Người, một dân tộc, một thời đại, một sự nghiệp, Nxb. Sự thật, H, 1990, tr. 73.

(9) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t. 4, tr.115.

(10) (13) Bác Hồ sống mãi với chúng ta, Nxb. Chính trị Quốc gia, H, 2005, t.1, tr.221-222, 732-736.

(12) Chuyện kể của những người giúp việc Bác Hồ, Nxb. Thông tấn, H, 2013, tr.127-141.

(14) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.5, tr.122.

Nguồn: Tuyên giáo- Tạp chí của ban tuyên giáo trung ương