Chủ Nhật, 12 tháng 5, 2024

TÌM HIỂU GIÚP BẠN: ĐẢNG LÃNH ĐẠO, NHÀ NƯỚC QUẢN LÝ, NHÂN DÂN LÀM CHỦ!

 Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, Nhân dân làm chủ là đặc điểm cơ bản nhất, thể hiện bản chất của chế độ ta, của hệ thống chính trị nước ta, là cơ chế vận hành của xã hội ta!


Mối quan hệ này được xuất phát từ tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh về xây dựng Đảng, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa (XHCN) của Nhân dân, do Nhân dân, vì Nhân dân.    

Đảng lãnh đạo - cái gốc thắng lợi của cách mạng Việt Nam
Trong những năm bôn ba tìm đường cứu nước, nhà cách mạng Nguyễn Ái Quốc (sau này là Chủ tịch Hồ Chí Minh) dành nhiều thời gian tìm hiểu về các cuộc cách mạng nổi tiếng thế giới là cách mạng Mỹ (1776) với bản “Tuyên ngôn Độc lập”, ly khai khỏi nước Anh và cách mạng tư sản Pháp (1789) với bản “Tuyên ngôn Nhân quyền và Dân quyền”. Người khâm phục tinh thần của các cuộc cách mạng này, nhưng không thể đi theo những con đường đó. Bởi vì, theo Người: “Cách mệnh Mỹ cũng như cách mệnh Pháp là cách mệnh tư bản, cách mệnh không đến nơi, tiếng là cộng hòa và dân chủ, kỳ thực trong thì nó tước đoạt công nông, ngoài thì nó áp bức thuộc địa”. Theo Người, tại Pháp và Mỹ thời điểm đó, “cách mệnh thành công đã hơn 150 năm nay, nhưng công nông vẫn cứ cực khổ, vẫn cứ lo tính cách mệnh lần thứ hai”. Như vậy, những người dân đứng lên, hy sinh xương máu làm các cuộc cách mạng do giai cấp tư sản lãnh đạo, đã bị phản bội.

Tháng 7-1920, Nguyễn Ái Quốc được đọc bản “Sơ thảo lần thứ nhất những Luận cương về vấn đề dân tộc và thuộc địa” của V.I.Lênin. Bản Luận cương như luồng ánh sáng, đem đến cho Người một nhãn quan chính trị mới. Người đến với Chủ nghĩa Mác-Lênin, tham gia sáng lập Đảng Cộng sản Pháp năm 1920 và trở thành người cộng sản Việt Nam đầu tiên. Từ đó, Người xác định mục tiêu của cách mạng Việt Nam là giành độc lập dân tộc, tiến lên chủ nghĩa xã hội (CNXH). Trong tác phẩm “Đường cách mệnh” xuất bản năm 1927, Người khẳng định: “Cách mệnh trước hết phải có cái gì? Trước hết phải có Đảng cách mệnh, để trong thì vận động và tổ chức dân chúng, ngoài thì liên lạc với dân tộc bị áp bức và vô sản giai cấp mọi nơi. Đảng có vững cách mệnh mới thành công, cũng như người cầm lái có vững thuyền mới chạy”. Vấn đề được Người quan tâm hàng đầu về mặt tổ chức là sớm lập ra Đảng Cộng sản Việt Nam, yếu tố quyết định thắng lợi của cách mạng Việt Nam.

Ngày 3-2-1930, Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời, với vai trò tích cực của Nguyễn Ái Quốc chuẩn bị về mặt tư tưởng, lý luận, chính trị và tổ chức. Sự ra đời của Đảng là kết quả của cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc và đấu tranh giai cấp ở nước ta trong những năm đầu thế kỷ 20, là sản phẩm của sự kết hợp Chủ nghĩa Mác-Lênin với phong trào công nhân và phong trào yêu nước Việt Nam.

Về bản chất của Đảng ta, tại Đại hội lần thứ II của Đảng (2-1951), Chủ tịch Hồ Chí Minh cho rằng: “Chính vì Đảng Lao động Việt Nam (tên Đảng ta thời điểm đó-PV) là Đảng của giai cấp công nhân và Nhân dân lao động, cho nên nó phải là Đảng của dân tộc Việt Nam”. Đảng lấy Chủ nghĩa Mác-Lênin làm nền tảng tư tưởng.

Ngay sau khi Cách mạng Tháng Tám năm 1945 thắng lợi, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ rõ Đảng ta trở thành Đảng cầm quyền, Đảng lãnh đạo cách mạng trong điều kiện đã có chính quyền. Đảng ta cầm quyền, nhưng Đảng không thay đổi bản chất, không thay đổi mục đích lý tưởng của mình. Đảng cầm quyền để mang lại lợi ích cho dân tộc, độc lập, tự do cho Tổ quốc, hạnh phúc cho Nhân dân. Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định, mục đích, tôn chỉ của Đảng là “tận tâm”, “tận lực”, “phụng sự” và “trung thành với lợi ích của dân tộc Việt Nam”.

Do đó, theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, Đảng cầm quyền, nhưng dân là chủ, Đảng phải lấy “dân làm gốc”. Trong Di chúc, Chủ tịch Hồ Chí Minh viết: "Phải giữ gìn Đảng ta thật trong sạch, phải xứng đáng là người lãnh đạo, là người đầy tớ thật trung thành của Nhân dân". Tuy nhiên, cũng theo Người, dân chỉ có thể làm chủ thực sự khi có sự lãnh đạo của Đảng. Mỗi người dân tham gia xây dựng Đảng, xây dựng chính quyền vững mạnh là để bảo đảm quyền làm chủ thực sự của mình.

Tất cả thành tựu của đất nước suốt từ khi Đảng thành lập cho tới nay đã cho thấy rõ, vai trò lãnh đạo của Đảng ta luôn quyết định mọi thắng lợi của cách mạng Việt Nam từ đấu tranh giành độc lập dân tộc, thống nhất đất nước, tới công cuộc đổi mới, xây dựng đất nước ngày càng phát triển, hội nhập sâu rộng với thế giới. Để thực hiện vai trò lãnh đạo của mình, Đảng luôn nắm bắt, lắng nghe mọi nguyện vọng, ý kiến, đề xuất chính đáng của quần chúng Nhân dân, từ đó đề ra những nghị quyết, chủ trương, đường lối, dẫn dắt dân tộc, dẫn dắt đất nước và Nhân dân đi tới thắng lợi. Chính vì Đảng luôn vì dân, dân tin yêu Đảng nên Việt Nam luôn được quốc tế ngưỡng mộ vì có một môi trường chính trị ổn định, an ninh, an toàn, là tiền đề rất thuận lợi cho phát triển.

Nhà nước của Nhân dân, do Nhân dân, vì Nhân dân
Giành chính quyền đã khó, giữ chính quyền khó hơn”, tổng kết ấy của V.I.Lênin đã được Chủ tịch Hồ Chí Minh và các đảng viên khắc cốt, ghi tâm từ những ngày đầu giành chính quyền sau Cách mạng Tháng Tám. Chủ tịch Hồ Chí Minh cho rằng, nếu vấn đề cơ bản của mọi cuộc cách mạng là vấn đề chính quyền nhà nước thì vấn đề cơ bản của một chính quyền là ở chỗ nó thuộc về ai, phục vụ cho quyền lợi của ai. Do đó, sau khi cách mạng thành công, phải thiết lập được chính quyền nhà nước của đại bộ phận Nhân dân trong xã hội. Bởi theo Người, “nước lấy dân làm gốc… gốc có vững cây mới bền, xây lầu thắng lợi trên nền Nhân dân”. Nhà nước vì dân là Nhà nước coi việc đem lại quyền lợi chính đáng cho Nhân dân là mục tiêu hoạt động của mình. Mọi hoạt động của Nhà nước đều phải hướng tới phục vụ Nhân dân. Một Nhà nước vì dân, theo Người đơn giản là: “Việc gì có lợi cho dân ta phải hết sức làm, việc gì có hại cho dân ta phải hết sức tránh”. Một Nhà nước vì dân phải là một Nhà nước trong sạch, luôn chống lại những tiêu cực từ trong bộ máy của Nhà nước ấy.

Khi Đảng ta là Đảng cầm quyền thì việc thực hiện luật pháp, chính sách của Nhà nước là thực hiện chủ trương, đường lối của Đảng. Thông qua Nhà nước và bằng Nhà nước, Đảng lãnh đạo hoạt động mọi mặt của đất nước, của xã hội. Nhà nước trong sạch, hoạt động hiệu lực, hiệu quả, có uy tín với Nhân dân, đất nước ổn định, phát triển thì Đảng có uy tín với Nhân dân, duy trì, củng cố được vai trò, vị trí cầm quyền của mình.

Đảng lựa chọn, giới thiệu những đảng viên ưu tú có đủ phẩm chất, đạo đức và năng lực vào trong các cơ quan lãnh đạo chính quyền theo đúng quy trình, thủ tục và pháp luật của Nhà nước. Đảng hoạt động trong khuôn khổ hiến pháp và pháp luật, liên hệ mật thiết với Nhân dân và luôn chịu sự giám sát của Nhân dân. Là lực lượng lãnh đạo Nhà nước và xã hội, Đảng chịu trách nhiệm trước lịch sử, trước Nhân dân về độc lập dân tộc, toàn vẹn lãnh thổ, về sự phát triển của đất nước, về hiệu lực và hiệu quả hoạt động của bộ máy nhà nước.

Tựu trung tư tưởng Hồ Chí Minh về một Nhà nước của Nhân dân, do Nhân dân, vì Nhân dân mang bản chất giai cấp công nhân và có tính chất của một Nhà nước pháp quyền, thể hiện ở những điểm sau: Một là, Nhà nước do dân làm chủ trên thực tế. Hai là, tất cả quyền lực nhà nước phải thuộc về Nhân dân, tuyệt đối không để cho các quyền đó nằm trong tay một nhóm cá nhân độc quyền và lũng đoạn. Ba là, để thực sự là Nhà nước của dân, do dân, vì dân, những người làm việc trong bộ máy nhà nước phải luôn luôn ý thức được họ vừa là người lãnh đạo, đồng thời là đầy tớ của Nhân dân, lãnh đạo bằng tài năng, trí tuệ, bằng tấm gương, phong cách làm việc “cần, kiệm, liêm, chính, chí công, vô tư”, chứ không phải là “ông quan cách mạng”. Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn giáo dục cán bộ, công chức phải thương yêu dân, dựa vào dân, gần gũi dân, lắng nghe học hỏi dân, tin tưởng dân. Bốn là, Nhà nước của Nhân dân, do Nhân dân, vì Nhân dân là Nhà nước mang bản chất giai cấp công nhân, do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo. Tính Nhân dân và bản chất giai cấp công nhân của Nhà nước XHCN Việt Nam là thống nhất tạo nên bản sắc riêng của Nhà nước XHCN Việt Nam.      

Theo tư tưởng Hồ Chí Minh, chính quyền từ Trung ương đến địa phương đều phải chịu trách nhiệm trước Nhân dân. Nhân dân sử dụng quyền lực của mình thông qua Quốc hội và HĐND các cấp do Nhân dân bầu ra và chịu trách nhiệm trước Nhân dân… Nhân dân không những là người bầu ra mà còn là người kiểm soát Nhà nước. Nhân dân có quyền bãi miễn đại biểu Quốc hội và đại biểu HĐND nếu đại biểu ấy tỏ ra không xứng đáng với sự tín nhiệm. Nhân dân còn là người có quyền bãi miễn không chỉ quan chức các cấp của Nhà nước mà còn có quyền bãi miễn toàn thể Chính phủ, như Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định: “Nếu Chính phủ làm hại dân, thì dân có quyền đuổi Chính phủ”.

Nhân dân làm chủ đất nước - quyền lợi và nghĩa vụ
63 năm trước đây, ngày 16-9-1961, Bác Hồ về thăm và nói chuyện với Đảng bộ, chính quyền và Nhân dân xã Nghĩa Dân, huyện Kim Động, tỉnh Hưng Yên. Tại đây, Bác dạy: "Nghĩa Dân là dân có nghĩa, phải tích cực tăng gia sản xuất, thực hành tiết kiệm tốt để làm gương cho các xã khác".

Nhân dân, con người trong tư tưởng, tình cảm Hồ Chí Minh không chung chung, trừu tượng mà rất cụ thể. Đó là người nông dân, người công nhân, nhà trí thức, các chiến sĩ bộ đội, công an, các cháu thanh niên, phụ nữ, thiếu nhi, học sinh, sinh viên, các bậc phụ lão, đồng bào các dân tộc, tôn giáo, kiều bào ta ở nước ngoài... Theo Người, Nhân dân bao gồm mọi tầng lớp người trong xã hội cùng có chung một vận mệnh, một cuộc sống, một tương lai, tiền đồ, một truyền thống lịch sử, một nền văn minh, văn hóa. Khi đất nước có ngoại xâm, Nhân dân có chung một kẻ thù, một nhiệm vụ là cùng đứng lên bảo vệ Tổ quốc. Khi hòa bình xây dựng đất nước, Nhân dân có chung một nhiệm vụ kiến quốc bảo vệ xây dựng giang sơn gấm vóc ngày càng đàng hoàng hơn, to đẹp hơn.

TRÁCH NHIỆM CỦA CÁN BỘ, ĐẢNG VIÊN TRONG VIỆC LAN TỎA THÔNG TIN TÍCH CỰC!

         Hầu hết chúng ta nghe và nói rất nhiều về việc lan tỏa thông tin tích cực, nhưng thế nào là thông tin tích cực hay trách nhiệm của cán bộ, đảng viên trong vấn đề này như thế nào thì không phải ai cũng hiểu rõ!
Thực tế, trước khi đặt ra vấn đề trách nhiệm của mình thì các cán bộ, đảng viên trong vai trò của một công dân cũng luôn quan tâm đến việc lan tỏa thông tin để góp phần làm cho cuộc sống tốt đẹp hơn.

Thế nào là thông tin tích cực?
Hiểu một cách phổ biến, thông tin tích cực là thông tin đúng đắn, chính xác về một sự việc, một nhân vật, một mô hình, một giải pháp hay, có ý nghĩa, có giá trị. Thông tin đó có thể gieo cho người đọc những nhận thức, tình cảm tốt đẹp; có thể thúc đẩy người tiếp nhận có suy nghĩ tích cực, từ đó có hành vi tích cực; cung cấp cho người đọc những kiến thức, nhận thức đúng đắn, phù hợp, có ý nghĩa thiết thực…
Có khi, đó là thông tin xác định rõ một vấn đề đang có nhiều ý kiến khác nhau hoặc bác bỏ một thông tin sai trái đang được lưu truyền; hoặc là thông tin giải đáp được thắc mắc, nghi vấn của nhiều người về một vấn đề nào đó.
Do đó, nhìn rộng ra, thông tin tích cực chính là các thông tin giúp củng cố lòng tin đối với tổ chức, cá nhân, dư luận xã hội...

Chọn thông tin tích cực để lan tỏa.
Mỗi cán bộ, đảng viên phải có trách nhiệm trong việc chia sẻ thông tin tích cực, cả ở khía cạnh phải chọn thông tin phù hợp và thường xuyên thực hiện việc lan tỏa các thông tin đó. Mỗi người trước khi chia sẻ phải tư duy phản biện, thẩm định, đánh giá, phân tích, đối chiếu, so sánh… khi tiếp nhận thông tin. Không phải thông tin nào được lan truyền rộng rãi, được nhiều người đọc và chia sẻ cũng là thông tin chính xác, đúng đắn. Do đó, cần thiết phải tìm cách khẳng định tính xác thực của thông tin chứ không dễ dàng tin theo và làm lan tỏa thông tin đó khi chưa biết rõ mức độ tin cậy của thông tin. Tuyệt đối không nên xác tín theo cách “thông tin do mạng A nói”, “do ông X trên mạng B nói”… mà phải căn cứ trên những nguồn thông tin chính thức, chính thống.
Đồng thời, phải chú ý chọn thông tin nào mà mình tin là đúng, cảm nhận được cái hay, cái đẹp, bản thân được truyền cảm hứng. Mỗi người phải luôn ý thức rằng thông tin của mình sẽ có người đọc và ít nhiều chịu tác động, nên chọn thông tin tốt nhất, hay nhất, có ích nhất, ý nghĩa nhất.
Không chỉ vậy, là cán bộ, đảng viên còn phải luôn nghĩ đến liệu thông tin có gây hiểu lầm hoặc thúc đẩy ai đó nhận thức sai lệch không; nếu cảm thấy có thì không chia sẻ.

Gợi ý cách lan tỏa thông tin tích cực.
Mỗi cán bộ, đảng viên sử dụng tài khoản mạng xã hội cá nhân của mình để chia sẻ, đăng tải, cung cấp, định hướng thông tin có ích cho người khác, cho xã hội và đất nước. Điều này hiện có thể được thực hiện dễ dàng bởi hầu hết chúng ta đều có ít nhất một tài khoản mạng xã hội; một số người còn có nhiều tài khoản đồng thời ở facebook, instagram, zalo, twitter…
Chúng ta cũng có thể đăng trên các trang diễn đàn (mạng internet hoặc các nền tảng mạng xã hội), trang cộng đồng (fanpage), nhóm (group)… những thông tin mà mình có căn cứ xác thực cho là đúng đắn, chính xác để có độ lan tỏa nhanh hơn, rộng hơn. Chẳng hạn, khi có căn cứ bác bỏ một thông tin chưa đúng, chúng ta có thể đưa thông tin đó vào các trang, nhóm có đông người theo dõi để tạo sự lan tỏa nhanh hơn, rộng hơn.
Trong điều kiện của mình, mỗi cán bộ, đảng viên nên tuyên truyền, động viên để nhiều người khác hiểu rõ và thực hiện các quy chuẩn, quy tắc ứng xử của cán bộ, đảng viên khi sử dụng mạng internet và mạng xã hội. Với các cơ quan có quy chuẩn thì nên khuyến khích mọi người thực hiện theo quy chuẩn đó; hoặc gợi ý mọi người những cách thức sử dụng đúng pháp luật, văn minh, tiến bộ, hợp lý bằng các hình thức dễ hiểu, dễ thực hiện.
Trên trang mạng xã hội của mình, mỗi cán bộ, đảng viên nên tích cực kêu gọi, động viên mọi người chấp hành tốt các quy định của pháp luật, các chủ trương, chính sách, các cuộc vận động, nhất là các nội dung có tính thời sự, đang cần sự tham gia của đông đảo người dân, các vấn đề đang có ý kiến khác nhau… Đồng thời, tích cực giới thiệu, quảng bá các hình ảnh, thông tin tốt, có ích về địa phương, cơ quan, đơn vị và đất nước…; làm lan tỏa những gương người tốt việc tốt, các điển hình tiên tiến, các câu chuyện có giá trị nhân văn… Việc góp phần lan tỏa những thông tin tốt, hình ảnh đẹp, câu chuyện hay đó không chỉ giúp người khác thưởng lãm mà còn có thể tác động đến suy nghĩ, tình cảm, hành động của họ, từ đó có thêm những hành động tích cực khác.
Sau cùng, chúng ta nên luôn gương mẫu, chuẩn mực khi phát ngôn, đăng tải hình ảnh, chia sẻ thông tin… trên mạng internet và mạng xã hội. Bản thân mỗi cán bộ, đảng viên nên luôn ý thức rằng mỗi thông tin, mỗi status mình đưa lên “có ích gì cho ai không”, chứ không phải nghĩ đến câu hỏi “có hại gì cho ai không”. Bởi trách nhiệm của chúng ta là đồng thời phải làm lan tỏa thông tin tích cực và tìm cách hạn chế, đẩy lùi các thông tin tiêu cực, thông tin xấu độc./.
Yêu nước ST.

TÌM HIỂU GIÚP BẠN: ĐẢNG LÃNH ĐẠO, NHÀ NƯỚC QUẢN LÝ, NHÂN DÂN LÀM CHỦ!

   Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, Nhân dân làm chủ là đặc điểm cơ bản nhất, thể hiện bản chất của chế độ ta, của hệ thống chính trị nước ta, là cơ chế vận hành của xã hội ta!


Mối quan hệ này được xuất phát từ tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh về xây dựng Đảng, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa (XHCN) của Nhân dân, do Nhân dân, vì Nhân dân.    

Đảng lãnh đạo - cái gốc thắng lợi của cách mạng Việt Nam
Trong những năm bôn ba tìm đường cứu nước, nhà cách mạng Nguyễn Ái Quốc (sau này là Chủ tịch Hồ Chí Minh) dành nhiều thời gian tìm hiểu về các cuộc cách mạng nổi tiếng thế giới là cách mạng Mỹ (1776) với bản “Tuyên ngôn Độc lập”, ly khai khỏi nước Anh và cách mạng tư sản Pháp (1789) với bản “Tuyên ngôn Nhân quyền và Dân quyền”. Người khâm phục tinh thần của các cuộc cách mạng này, nhưng không thể đi theo những con đường đó. Bởi vì, theo Người: “Cách mệnh Mỹ cũng như cách mệnh Pháp là cách mệnh tư bản, cách mệnh không đến nơi, tiếng là cộng hòa và dân chủ, kỳ thực trong thì nó tước đoạt công nông, ngoài thì nó áp bức thuộc địa”. Theo Người, tại Pháp và Mỹ thời điểm đó, “cách mệnh thành công đã hơn 150 năm nay, nhưng công nông vẫn cứ cực khổ, vẫn cứ lo tính cách mệnh lần thứ hai”. Như vậy, những người dân đứng lên, hy sinh xương máu làm các cuộc cách mạng do giai cấp tư sản lãnh đạo, đã bị phản bội.

Tháng 7-1920, Nguyễn Ái Quốc được đọc bản “Sơ thảo lần thứ nhất những Luận cương về vấn đề dân tộc và thuộc địa” của V.I.Lênin. Bản Luận cương như luồng ánh sáng, đem đến cho Người một nhãn quan chính trị mới. Người đến với Chủ nghĩa Mác-Lênin, tham gia sáng lập Đảng Cộng sản Pháp năm 1920 và trở thành người cộng sản Việt Nam đầu tiên. Từ đó, Người xác định mục tiêu của cách mạng Việt Nam là giành độc lập dân tộc, tiến lên chủ nghĩa xã hội (CNXH). Trong tác phẩm “Đường cách mệnh” xuất bản năm 1927, Người khẳng định: “Cách mệnh trước hết phải có cái gì? Trước hết phải có Đảng cách mệnh, để trong thì vận động và tổ chức dân chúng, ngoài thì liên lạc với dân tộc bị áp bức và vô sản giai cấp mọi nơi. Đảng có vững cách mệnh mới thành công, cũng như người cầm lái có vững thuyền mới chạy”. Vấn đề được Người quan tâm hàng đầu về mặt tổ chức là sớm lập ra Đảng Cộng sản Việt Nam, yếu tố quyết định thắng lợi của cách mạng Việt Nam.

Ngày 3-2-1930, Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời, với vai trò tích cực của Nguyễn Ái Quốc chuẩn bị về mặt tư tưởng, lý luận, chính trị và tổ chức. Sự ra đời của Đảng là kết quả của cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc và đấu tranh giai cấp ở nước ta trong những năm đầu thế kỷ 20, là sản phẩm của sự kết hợp Chủ nghĩa Mác-Lênin với phong trào công nhân và phong trào yêu nước Việt Nam.

Về bản chất của Đảng ta, tại Đại hội lần thứ II của Đảng (2-1951), Chủ tịch Hồ Chí Minh cho rằng: “Chính vì Đảng Lao động Việt Nam (tên Đảng ta thời điểm đó-PV) là Đảng của giai cấp công nhân và Nhân dân lao động, cho nên nó phải là Đảng của dân tộc Việt Nam”. Đảng lấy Chủ nghĩa Mác-Lênin làm nền tảng tư tưởng.

Ngay sau khi Cách mạng Tháng Tám năm 1945 thắng lợi, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ rõ Đảng ta trở thành Đảng cầm quyền, Đảng lãnh đạo cách mạng trong điều kiện đã có chính quyền. Đảng ta cầm quyền, nhưng Đảng không thay đổi bản chất, không thay đổi mục đích lý tưởng của mình. Đảng cầm quyền để mang lại lợi ích cho dân tộc, độc lập, tự do cho Tổ quốc, hạnh phúc cho Nhân dân. Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định, mục đích, tôn chỉ của Đảng là “tận tâm”, “tận lực”, “phụng sự” và “trung thành với lợi ích của dân tộc Việt Nam”.

Do đó, theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, Đảng cầm quyền, nhưng dân là chủ, Đảng phải lấy “dân làm gốc”. Trong Di chúc, Chủ tịch Hồ Chí Minh viết: "Phải giữ gìn Đảng ta thật trong sạch, phải xứng đáng là người lãnh đạo, là người đầy tớ thật trung thành của Nhân dân". Tuy nhiên, cũng theo Người, dân chỉ có thể làm chủ thực sự khi có sự lãnh đạo của Đảng. Mỗi người dân tham gia xây dựng Đảng, xây dựng chính quyền vững mạnh là để bảo đảm quyền làm chủ thực sự của mình.

Tất cả thành tựu của đất nước suốt từ khi Đảng thành lập cho tới nay đã cho thấy rõ, vai trò lãnh đạo của Đảng ta luôn quyết định mọi thắng lợi của cách mạng Việt Nam từ đấu tranh giành độc lập dân tộc, thống nhất đất nước, tới công cuộc đổi mới, xây dựng đất nước ngày càng phát triển, hội nhập sâu rộng với thế giới. Để thực hiện vai trò lãnh đạo của mình, Đảng luôn nắm bắt, lắng nghe mọi nguyện vọng, ý kiến, đề xuất chính đáng của quần chúng Nhân dân, từ đó đề ra những nghị quyết, chủ trương, đường lối, dẫn dắt dân tộc, dẫn dắt đất nước và Nhân dân đi tới thắng lợi. Chính vì Đảng luôn vì dân, dân tin yêu Đảng nên Việt Nam luôn được quốc tế ngưỡng mộ vì có một môi trường chính trị ổn định, an ninh, an toàn, là tiền đề rất thuận lợi cho phát triển.

Nhà nước của Nhân dân, do Nhân dân, vì Nhân dân
Giành chính quyền đã khó, giữ chính quyền khó hơn”, tổng kết ấy của V.I.Lênin đã được Chủ tịch Hồ Chí Minh và các đảng viên khắc cốt, ghi tâm từ những ngày đầu giành chính quyền sau Cách mạng Tháng Tám. Chủ tịch Hồ Chí Minh cho rằng, nếu vấn đề cơ bản của mọi cuộc cách mạng là vấn đề chính quyền nhà nước thì vấn đề cơ bản của một chính quyền là ở chỗ nó thuộc về ai, phục vụ cho quyền lợi của ai. Do đó, sau khi cách mạng thành công, phải thiết lập được chính quyền nhà nước của đại bộ phận Nhân dân trong xã hội. Bởi theo Người, “nước lấy dân làm gốc… gốc có vững cây mới bền, xây lầu thắng lợi trên nền Nhân dân”. Nhà nước vì dân là Nhà nước coi việc đem lại quyền lợi chính đáng cho Nhân dân là mục tiêu hoạt động của mình. Mọi hoạt động của Nhà nước đều phải hướng tới phục vụ Nhân dân. Một Nhà nước vì dân, theo Người đơn giản là: “Việc gì có lợi cho dân ta phải hết sức làm, việc gì có hại cho dân ta phải hết sức tránh”. Một Nhà nước vì dân phải là một Nhà nước trong sạch, luôn chống lại những tiêu cực từ trong bộ máy của Nhà nước ấy.

Khi Đảng ta là Đảng cầm quyền thì việc thực hiện luật pháp, chính sách của Nhà nước là thực hiện chủ trương, đường lối của Đảng. Thông qua Nhà nước và bằng Nhà nước, Đảng lãnh đạo hoạt động mọi mặt của đất nước, của xã hội. Nhà nước trong sạch, hoạt động hiệu lực, hiệu quả, có uy tín với Nhân dân, đất nước ổn định, phát triển thì Đảng có uy tín với Nhân dân, duy trì, củng cố được vai trò, vị trí cầm quyền của mình.

Đảng lựa chọn, giới thiệu những đảng viên ưu tú có đủ phẩm chất, đạo đức và năng lực vào trong các cơ quan lãnh đạo chính quyền theo đúng quy trình, thủ tục và pháp luật của Nhà nước. Đảng hoạt động trong khuôn khổ hiến pháp và pháp luật, liên hệ mật thiết với Nhân dân và luôn chịu sự giám sát của Nhân dân. Là lực lượng lãnh đạo Nhà nước và xã hội, Đảng chịu trách nhiệm trước lịch sử, trước Nhân dân về độc lập dân tộc, toàn vẹn lãnh thổ, về sự phát triển của đất nước, về hiệu lực và hiệu quả hoạt động của bộ máy nhà nước.

Tựu trung tư tưởng Hồ Chí Minh về một Nhà nước của Nhân dân, do Nhân dân, vì Nhân dân mang bản chất giai cấp công nhân và có tính chất của một Nhà nước pháp quyền, thể hiện ở những điểm sau: Một là, Nhà nước do dân làm chủ trên thực tế. Hai là, tất cả quyền lực nhà nước phải thuộc về Nhân dân, tuyệt đối không để cho các quyền đó nằm trong tay một nhóm cá nhân độc quyền và lũng đoạn. Ba là, để thực sự là Nhà nước của dân, do dân, vì dân, những người làm việc trong bộ máy nhà nước phải luôn luôn ý thức được họ vừa là người lãnh đạo, đồng thời là đầy tớ của Nhân dân, lãnh đạo bằng tài năng, trí tuệ, bằng tấm gương, phong cách làm việc “cần, kiệm, liêm, chính, chí công, vô tư”, chứ không phải là “ông quan cách mạng”. Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn giáo dục cán bộ, công chức phải thương yêu dân, dựa vào dân, gần gũi dân, lắng nghe học hỏi dân, tin tưởng dân. Bốn là, Nhà nước của Nhân dân, do Nhân dân, vì Nhân dân là Nhà nước mang bản chất giai cấp công nhân, do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo. Tính Nhân dân và bản chất giai cấp công nhân của Nhà nước XHCN Việt Nam là thống nhất tạo nên bản sắc riêng của Nhà nước XHCN Việt Nam.      

Theo tư tưởng Hồ Chí Minh, chính quyền từ Trung ương đến địa phương đều phải chịu trách nhiệm trước Nhân dân. Nhân dân sử dụng quyền lực của mình thông qua Quốc hội và HĐND các cấp do Nhân dân bầu ra và chịu trách nhiệm trước Nhân dân… Nhân dân không những là người bầu ra mà còn là người kiểm soát Nhà nước. Nhân dân có quyền bãi miễn đại biểu Quốc hội và đại biểu HĐND nếu đại biểu ấy tỏ ra không xứng đáng với sự tín nhiệm. Nhân dân còn là người có quyền bãi miễn không chỉ quan chức các cấp của Nhà nước mà còn có quyền bãi miễn toàn thể Chính phủ, như Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định: “Nếu Chính phủ làm hại dân, thì dân có quyền đuổi Chính phủ”.

Nhân dân làm chủ đất nước - quyền lợi và nghĩa vụ
63 năm trước đây, ngày 16-9-1961, Bác Hồ về thăm và nói chuyện với Đảng bộ, chính quyền và Nhân dân xã Nghĩa Dân, huyện Kim Động, tỉnh Hưng Yên. Tại đây, Bác dạy: "Nghĩa Dân là dân có nghĩa, phải tích cực tăng gia sản xuất, thực hành tiết kiệm tốt để làm gương cho các xã khác".

Nhân dân, con người trong tư tưởng, tình cảm Hồ Chí Minh không chung chung, trừu tượng mà rất cụ thể. Đó là người nông dân, người công nhân, nhà trí thức, các chiến sĩ bộ đội, công an, các cháu thanh niên, phụ nữ, thiếu nhi, học sinh, sinh viên, các bậc phụ lão, đồng bào các dân tộc, tôn giáo, kiều bào ta ở nước ngoài... Theo Người, Nhân dân bao gồm mọi tầng lớp người trong xã hội cùng có chung một vận mệnh, một cuộc sống, một tương lai, tiền đồ, một truyền thống lịch sử, một nền văn minh, văn hóa. Khi đất nước có ngoại xâm, Nhân dân có chung một kẻ thù, một nhiệm vụ là cùng đứng lên bảo vệ Tổ quốc. Khi hòa bình xây dựng đất nước, Nhân dân có chung một nhiệm vụ kiến quốc bảo vệ xây dựng giang sơn gấm vóc ngày càng đàng hoàng hơn, to đẹp hơn.

Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ, Đảng lãnh đạo Nhân dân làm cách mạng, nhưng cách mạng là sự nghiệp của quần chúng Nhân dân đông đảo. Người nhắc nhở, công tác dân vận của Đảng phải tìm mọi cách giải thích cho từng người dân hiểu rõ, việc mình làm là vì lợi ích của chính họ, nên họ phải hăng hái làm cho kỳ được. Người cũng chỉ rõ làm bất cứ việc gì cũng phải bàn với dân, hỏi ý kiến và kinh nghiệm của dân, cùng với dân đặt kế hoạch cho thiết thực với hoàn cảnh địa phương, rồi động viên và tổ chức toàn dân thi hành. Đảng phải lãnh đạo để Nhân dân đứng lên đấu tranh tự giải phóng và xây dựng xã hội mới do mình làm chủ. Sự nghiệp ấy chỉ có thể được thực hiện bằng sức mạnh của Nhân dân. Nhân dân mới chính là người sáng tạo ra lịch sử, là chủ thể của lịch sử, là người làm nên lịch sử. Theo Người, cá nhân dù có tài giỏi mấy cũng không thay thế được Nhân dân. Trong những cống hiến to lớn của Chủ tịch Hồ Chí Minh đối với cách mạng Việt Nam, tư tưởng về sức mạnh của Nhân dân là một cống hiến đặc sắc, có giá trị lý luận và giá trị thực tiễn rất quan trọng, lâu dài.

Thực hiện theo tư tưởng của Người trong suốt các giai đoạn lịch sử của cách mạng nước ta, Nhân dân luôn được đặt ở vị trí là chủ của đất nước. Hiến pháp 2013 tiếp tục khẳng định điều này: Nhà nước Cộng hòa XHCN Việt Nam là Nhà nước pháp quyền XHCN của Nhân dân, do Nhân dân, vì Nhân dân. Nước Cộng hòa XHCN Việt Nam do Nhân dân làm chủ; tất cả quyền lực nhà nước thuộc về Nhân dân mà nền tảng là liên minh giữa giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức.

Ngăn ngừa suy thoái từ lối sống sính ngoại, bài nội:

 Sự việc một trường quốc tế ở phía Nam cho học sinh đọc tài liệu tham khảo bằng truyện khiêu dâm đã gây xôn xao dư luận những ngày qua.

Hồi chuông báo động về tình trạng lệch chuẩn trong giáo dục có yếu tố quốc tế lại tiếp tục được gióng lên. Trên thực tế, tư duy và lối sống kiểu sính ngoại, bài nội đã gây ra nhiều hệ lụy, nhưng không phải ai cũng nhận ra...


Xin kể chuyện này...


17 năm trước, khi vừa chuyển công tác từ Cần Thơ về TP Hồ Chí Minh, tôi được một người anh trong nghề mời đến nhà chơi. Lúc bấy giờ, gia đình anh là một mẫu hình lý tưởng đối với chúng tôi. Anh chị có địa vị xã hội, kinh tế vững, hai con đều học trường quốc tế. Trong bữa cơm gia đình, anh chị khuyên chúng tôi nên cho con đi học trường quốc tế để các cháu có tương lai tươi sáng. “Ở đó họ dạy toàn bằng tiếng Anh, chương trình đào tạo theo chuẩn quốc tế.


Học sinh bước vào cổng trường là không được nói tiếng Việt. Em nào vi phạm sẽ bị thầy cô giáo nhắc nhở, kiểm điểm ngay. Nhờ đó mà kỹ năng tiếng Anh của các cháu phát triển rất nhanh. Về nhà, anh chị cũng khuyến khích các cháu giao tiếp bằng tiếng Anh. Mình học theo con nên kỹ năng sử dụng tiếng Anh của anh vào loại tốt nhất ở cơ quan đấy”-anh nói, đầy tự hào và hãnh diện!


Hai con của anh chị khi lớn lên lại tiếp tục được đầu tư cho đi du học, rồi ở lại nước ngoài làm việc, định cư, lấy vợ Tây, chồng Tây. Đến nay, anh chị đã có 4 cháu, cả nội lẫn ngoại. Mới đây, anh bị bệnh phải điều trị dài ngày ở bệnh viện. Chúng tôi vào thăm, anh chị buồn bã dốc bầu tâm sự rằng, đến bây giờ anh chị mới thấm thía và trả giá đắt cho lối suy nghĩ sính ngoại, bài nội của mình. Tuổi cao, sức yếu, bệnh tật, anh chị phải tự lo cho nhau.


Thuê người giúp việc thì cũng chỉ đỡ được phần nào. Con cháu định cư ở nước ngoài, vài ba năm mới lần lượt về quê thăm cha mẹ, ông bà được một lần. Mỗi lần về, chúng đều ở khách sạn. Tiếp cận với môi trường giáo dục bằng tiếng Anh từ nhỏ, nếp nghĩ và lối sống của các con, các cháu của anh chị đã “quốc tế hóa” hoàn toàn. Chúng xa lạ với phong tục, nền nếp gia phong, thậm chí 4 đứa cháu dù đã lớn nhưng không đứa nào nói được tiếng Việt.


Ông bà ngồi bên cháu mà như hai thế giới xa lạ, từ hình dáng bề ngoài đến bất đồng ngôn ngữ, khác biệt văn hóa. Tình cảm máu mủ ruột rà, vì thế, thật khó để gắn kết thân mật. Cái sự “mất gốc” của văn hóa do sính ngoại, bài nội đến từ rất sớm và hệ lụy của nó cứ âm ỉ, kiểu “mưa dầm thấm lâu”. Đến lúc nhận ra thì đã quá muộn, không còn cơ hội cứu vãn được nữa. “Tiền nhiều để làm gì? Con cái thành đạt để làm gì? Bây giờ tôi chỉ ước ao có được những khoảnh khắc bình yên, ấm áp bên con cháu, sum vầy không khí gia đình. Nhưng ước ao ấy giờ là xa xỉ rồi. Chú cứ lấy câu chuyện của nhà tôi ra mà viết, để giúp những người còn có tư tưởng sính ngoại, bài nội sớm tỉnh ngộ. Chú đừng bêu tên anh chị lên mặt báo là được!”. Lời tâm sự đẫm nước mắt của người ở tuổi ngấp nghé “cổ lai hy” khiến chúng tôi bùi ngùi...


Giáo dục “khai phóng” và bài học từ gia đình, nhà trường đến xã hội


Chuyện sính ngoại dẫn đến “mất gốc” nền nếp gia phong, truyền thống tiên tổ xảy ra không hiếm trong thời đại ngày nay. Nhưng vì nó thuộc yếu tố cảm tính nên một bộ phận không nhỏ trong đời sống xã hội cứ coi đó là chuyện của mỗi nhà. Sự chia sẻ, nếu có, cũng chỉ mang tính riêng tư. Tuy nhiên, trong mối quan hệ gia đình-nhà trường-xã hội, bất cứ một biểu hiện lệch chuẩn nào cũng đều có tác động qua lại lẫn nhau.


Tại Hội nghị văn hóa toàn quốc năm 2021, Đảng ta đã nhấn mạnh, cảnh báo về tình trạng một bộ phận cán bộ, đảng viên, người làm công tác văn hóa chưa coi trọng đúng mức và có biện pháp tích cực để giữ gìn, bảo vệ, phát huy những giá trị văn hóa tốt đẹp, đặc sắc của dân tộc. Nhiều khi bắt chước nước ngoài một cách nhố nhăng, phản cảm, không có chọn lọc... Đó cũng chính là những biểu hiện của lối sống sính ngoại, bài nội. Nó xuất phát từ chiếc nôi gia đình, ảnh hưởng từ môi trường giáo dục (đặc biệt là giáo dục ngoài công lập, hợp tác giáo dục có yếu tố nước ngoài).


Với việc hô hào những thứ được xưng tụng, khoa trương như là những “triết lý giáo dục”, kiểu: “Khai phóng”, “tự do”, “không giới hạn”... không ít đơn vị giáo dục quốc tế đã tuyệt đối hóa yếu tố quốc tế, coi nhẹ, sao nhãng, thậm chí là bỏ qua các tiêu chí, nội dung giáo dục quốc nội. Đơn cử như lễ khai giảng, tổng kết, bế giảng... nhiều trường không tổ chức cho giáo viên, học sinh hát Quốc ca; trang trí khánh tiết không có Quốc kỳ, tượng Bác Hồ; thay vào đó là những hình ảnh, biểu trưng của cái gọi là “khai phóng”, “tự do”, “không giới hạn”... theo văn hóa phương Tây.


Khi con em của chúng ta được giáo dục ngay trên chính quê hương mình mà lại khước từ tinh túy, tinh hoa của văn hóa truyền thống, thì hệ lụy đối với tương lai là rất khó lường. Nó không chỉ khiến cha mẹ “mất” con, gia đình mất nền nếp gia phong, mà vốn quý của đất nước, bản sắc văn hóa của dân tộc... cũng bị phai nhạt. Như vậy, sính ngoại, bài nội cũng là một dạng biểu hiện suy thoái phẩm chất đạo đức, lối sống. Nếu chúng ta không tỉnh ngộ, cứ để nó “mưa dầm thấm lâu” thì nguy cơ “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” là một bước ngắn, thậm chí rất ngắn, nguy hại cho Đảng, cho đất nước.


Thời gian gần đây, trên một số nền tảng mạng xã hội lan truyền video clip của một người trẻ tự xưng là du học sinh Việt Nam tại Mỹ. Trong video clip này, cô gái tự nhận mình là người đã được “mở mang” đầu óc, tầm nhìn khi ra nước ngoài du học, nghiên cứu. Bên cạnh ca ngợi hết lời cái hay, cái đẹp nơi xứ người, cô quay sang chỉ trích người Việt, chê bai văn hóa Việt, xuyên tạc chính sách hòa hợp dân tộc của Đảng, Nhà nước; phủ nhận công lao của thế hệ ông cha trong đấu tranh giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước...


Những gì cô gái nói đều là những luận điệu xuyên tạc cũ rích của các thế lực thù địch ở hải ngoại. Tuy nhiên, khi được thốt ra từ miệng của một người trẻ đi du học, tính chất của nó đã khác đi nhiều. Nhận thức chính trị mơ hồ, yếu bản lĩnh, dễ dao động, ngả nghiêng... là những biểu hiện của suy thoái trong một bộ phận người trẻ. Nó xuất phát từ kiểu sính ngoại, bài nội trong công tác giáo dục và tự giáo dục, từ gia đình đến nhà trường và xã hội...


Tô thắm phẩm chất Bộ đội Cụ Hồ: Trách nhiệm, nghĩa tình với nhân dân

     Những năm qua, các cơ quan, đơn vị thuộc LLVT Quân khu 4 không quản ngại gian khổ, khó khăn giúp nhân dân phòng, chống, khắc phục hậu quả thiên tai, dịch bệnh cũng như phát triển kinh tế, xóa đói, giảm nghèo... Nhiều việc làm thiết thực, hiệu quả của cán bộ, chiến sĩ LLVT Quân khu 4 đã để lại những dấu ấn tốt đẹp trong lòng nhân dân.

    Chúng tôi trở lại bản Làng thuộc xã Sơn Hà (Quan Sơn, Thanh Hóa) vào những ngày đầu hè năm 2024. Khác xa với nhiều năm trước đây, quang cảnh của xã miền núi bản Làng đã “thay da đổi thịt”, phong quang, sạch, đẹp; cờ Đảng, cờ Tổ quốc, cờ hội tung bay trong gió. Tại khu văn hóa thể thao ngoài trời, người đánh bóng chuyền, người luyện tập trên các dụng cụ như: Xoay eo, đẩy tay, đi bộ trên không... Dụng cụ thể dục-thể thao đa dạng, đáp ứng nhu cầu luyện tập đối với mọi lứa tuổi.

Tô thắm phẩm chất Bộ đội Cụ Hồ: Trách nhiệm, nghĩa tình với nhân dân
Cán bộ, chiến sĩ Trung đoàn 335 (Sư đoàn 324) giúp xã Xuân Cao (Thường Xuân, Thanh Hóa) đổ bê tông đường giao thông. 

    Trò chuyện với chúng tôi, đồng chí Lê Hồng Quang, Phó bí thư Huyện ủy, Chủ tịch UBND huyện Quan Sơn phấn khởi cho biết: “Công trình thể dục-thể thao ngoài trời này thuộc hạng mục khu văn hóa thể thao “thắm tình quân dân” tại bản Làng do Quân khu 4 hỗ trợ. Từ khi khánh thành đưa vào sử dụng (tháng 1-2024), khu văn hóa thể thao đã trở thành điểm hẹn lý tưởng, thu hút người dân đến luyện tập mỗi ngày, góp phần nâng cao đời sống tinh thần và sức khỏe cho bà con, đồng thời giúp bản Làng giữ vững các tiêu chí của bản nông thôn kiểu mẫu”.

    Không chỉ chung tay đồng hành với các địa phương trong xây dựng nông thôn mới, LLVT Quân khu 4 còn phát huy tốt vai trò nòng cốt trong giúp đỡ nhân dân xóa đói, giảm nghèo, phòng, chống, khắc phục hậu quả thiên tai, dịch bệnh. Nhắc lại trận lốc xoáy trong đêm 24-9-2023, ông Trần Dũng ở thôn Thành Trung, xã Quảng Thành (Quảng Điền, Thừa Thiên Huế) vẫn chưa hết bàng hoàng khi gia đình ông cùng hàng chục hộ dân trong xã rơi vào cảnh màn trời chiếu đất. Đúng lúc nguy cấp nhất thì bộ đội và dân quân huyện Quảng Điền có mặt, giúp đỡ gia đình ông và bà con khắc phục hậu quả. Ông Dũng chia sẻ: “May nhờ có các chú bộ đội và dân quân kịp thời đến giúp gia đình di chuyển, che chắn, bảo vệ tài sản, lợp lại mái, sửa chữa đồ dùng hư hỏng mà gia đình tôi sớm ổn định cuộc sống".

Tô thắm phẩm chất Bộ đội Cụ Hồ: Trách nhiệm, nghĩa tình với nhân dân
Quân y Lữ đoàn Tăng thiết giáp 206 (Quân khu 4) khám bệnh, cấp thuốc miễn phí cho nhân dân xã Nậm Nhoóng (Quế Phong, Nghệ An). 

    Thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia phát triển kinh tế-xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2021-2030 và Đề án nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác dân vận của LLVT Quân khu 4 giai đoạn 2023-2030 và những năm tiếp theo, hằng năm, hàng nghìn lượt cán bộ, chiến sĩ thuộc Quân khu 4 về với bà con vùng đồng bào dân tộc thiểu số, tôn giáo, miền núi, biên giới, vùng đặc biệt khó khăn, làm tốt công tác tuyên truyền, vận động quần chúng nhân dân. Các đơn vị đã có nhiều việc làm thiết thực giúp đỡ nhân dân xây dựng các công trình văn hóa, bê tông hóa cầu, đường dân sinh; củng cố, sửa chữa nhà cửa, vệ sinh môi trường, làm hệ thống đường giao thông nông thôn, kênh mương nội đồng; tổ chức dạy xóa mù chữ, khám bệnh, cấp phát thuốc miễn phí cho nhân dân; các đơn vị còn cấp hàng nghìn cây, con giống; tập huấn kỹ thuật, hướng dẫn bà con trồng trọt, chăn nuôi, phát triển kinh tế... góp phần củng cố, thắt chặt tình đoàn kết quân dân, xây dựng "thế trận lòng dân" ngày càng vững chắc.

TÌM HIỂU GIÚP BẠN: RẠNG RANH “BÁCH KHOA THƯ” VIỆT NAM THẾ KỶ 19!

         Những bản đúc nổi trên 9 đỉnh đồng ở Hoàng cung Huế vừa được Ủy ban Chương trình Ký ức thế giới khu vực châu Á-Thái Bình Dương thuộc Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa Liên hợp quốc (UNESCO), tại Kỳ họp thứ 10 đã ghi danh là Di sản tư liệu khu vực châu Á-Thái Bình Dương!

Đây là niềm tự hào của Việt Nam nói chung và của tỉnh Thừa Thiên Huế nói riêng, góp phần tăng thêm thương hiệu di sản Huế-một điểm đến 8 di sản; đồng thời góp phần thực hiện vượt mục tiêu của Chiến lược ngoại giao văn hóa đến năm 2030 của Việt Nam trong công tác bảo tồn và phát huy di sản văn hóa.

Khám phá Việt Nam trên cửu đỉnh
PGS, TS Nguyễn Tuấn Cường, Viện trưởng Viện Nghiên cứu Hán Nôm (Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam) khẳng định, những bản đúc trên 9 đỉnh đồng (còn gọi là cửu đỉnh) ở Hoàng cung Huế là nguồn tư liệu độc đáo, quý hiếm mang giá trị nội dung về lịch sử, văn hóa-giáo dục, địa lý, phong thủy, y dược, nghệ thuật thư pháp... cũng như nghệ thuật đúc đồng tài hoa của người Việt.

Cửu đỉnh được Vua Minh Mạng lệnh đúc vào mùa đông năm 1835 và khánh thành vào ngày 1-3-1837. Lấy Cao đỉnh làm chuẩn, bên trái lần lượt là Nhân đỉnh, Anh đỉnh, Thuần đỉnh, Dụ đỉnh; bên phải lần lượt là Chương đỉnh, Nghị đỉnh, Tuyên đỉnh, Huyền đỉnh. 

Trên mỗi đỉnh đều chạm khắc 17 bức họa tiết và một bức họa thư, gồm các chủ đề về vũ trụ, núi sông, chim thú, sản vật, vũ khí. Trải qua gần 200 năm, đi qua bao cuộc chiến tranh tàn khốc, song đến nay, 9 đỉnh đồng ở Hoàng cung Huế vẫn còn nguyên vẹn như ban đầu. Vì vậy, chúng có giá trị độc bản và không thể thay thế. Ngoài tính biểu trưng cho các vị vua, thể hiện quyền lực của vương triều nhà Nguyễn thì cửu đỉnh còn là “Bách khoa thư” về đất nước Việt Nam thống nhất, có chủ quyền được thể hiện dưới hình thức biểu trưng bằng hình ảnh với tổng cộng 162 họa tiết chạm nổi tinh xảo, có giá trị cao về mặt văn hóa và lịch sử của dân tộc Việt Nam, chứa đựng những nội dung tư tưởng của một thời đại, tâm tư và ý niệm của con người về đất nước, về vũ trụ và thiên nhiên.

PGS, TS Nguyễn Tuấn Cường chia sẻ: Những bản đúc nổi trên 9 đỉnh đồng lưu trữ nhiều giá trị về mối quan hệ giao thoa và tiếp xúc văn hóa xã hội của đất nước Việt Nam với các quốc gia trong khu vực Đông Á. Đặc biệt, có 3 đỉnh Vua Minh Mạng cho khắc hình tượng về biển để thể hiện bao quát về biển, đảo nước Việt: Biển Đông ở Cao đỉnh; biển Nam ở Nhân đỉnh và biển Tây ở Chương đỉnh. Như vậy, cùng với hàng loạt tài liệu Hán Nôm cổ, những hình ảnh biển, đảo được khắc trên bộ cửu đỉnh là một nguồn tư liệu quý về chủ quyền của Việt Nam đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, đồng thời còn cho đời sau thấy được rằng, các vị vua triều Nguyễn đều một lòng ra sức bảo vệ và thực thi chủ quyền biển, đảo của đất nước.

Bước tiến mới của ngoại giao văn hóa
Những bản đúc nổi trên 9 đỉnh đồng ở Hoàng cung Huế của Việt Nam chính thức được ghi danh vào Danh mục di sản tư liệu khu vực châu Á-Thái Bình Dương của UNESCO. Như vậy, đến nay, nước ta đã có 10 di sản tư liệu (gồm 3 di sản tư liệu thế giới và 7 di sản tư liệu khu vực châu Á-Thái Bình Dương) đã được UNESCO ghi danh.

Bà Lê Thị Hồng Vân, Tổng thư ký Ủy ban Quốc gia UNESCO Việt Nam cho rằng, đây không chỉ là niềm vui riêng với tỉnh Thừa Thiên Huế mà còn là niềm vinh dự và tự hào của người dân Việt Nam. Trên thế giới, hiếm có trường hợp trong cùng một khu di tích như ở Huế lại được UNESCO ghi danh nhiều danh hiệu cao quý. Hồ sơ di sản lần này được ghi danh đã nâng tổng số các danh hiệu, di sản UNESCO mà Việt Nam sở hữu lên 68 danh hiệu, góp phần thực hiện vượt mục tiêu của Chiến lược ngoại giao văn hóa đến năm 2030. Điều này cũng là sự thúc đẩy cho việc hoàn thiện hành lang pháp lý để quản lý, bảo vệ và phát huy giá trị di sản tư liệu của Việt Nam; đánh dấu bước triển khai hiệu quả quá trình nội luật hóa các điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên.

Theo PGS, TS Lê Thị Thu Hiền, Chủ tịch Ủy ban Quốc gia Chương trình Ký ức thế giới (Memory of the World-MOW) của Việt Nam, Cục trưởng Cục Di sản văn hóa (Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch), việc các di sản văn hóa tư liệu của Việt Nam lần lượt được UNESCO vinh danh chính là cơ sở thực tiễn để Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch kiến nghị hoạt động quản lý, bảo vệ và phát huy giá trị di sản tư liệu trở thành một chương mới trong Luật Di sản văn hóa (sửa đổi), dự kiến được Quốc hội thông qua vào cuối năm 2024. Dự thảo Luật Di sản văn hóa (sửa đổi) gồm 9 chương 102 điều, tăng 2 chương 29 điều so với Luật Di sản văn hóa hiện hành (7 chương 73 điều).

Trong đó, có riêng một chương về bảo vệ và phát huy giá trị di sản tư liệu gồm 11 điều (từ Điều 50 đến Điều 60). Việc ban hành Luật Di sản văn hóa (sửa đổi) nhằm tiếp tục thể chế hóa chủ trương, đường lối của Đảng và Nhà nước về văn hóa, di sản văn hóa; sửa đổi, hoàn thiện các quy định của pháp luật về di sản văn hóa hiện hành, khắc phục những hạn chế, bất cập về thể chế, tạo cơ sở pháp lý cho bước phát triển mới trong các hoạt động bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hóa; bảo đảm tính kế thừa, thống nhất, đồng bộ giữa Luật Di sản văn hóa với các luật khác có liên quan.

8 di sản của Thừa Thiên Huế được UNESCO ghi danh, gồm: Quần thể di tích cố đô Huế-Di sản văn hóa thế giới (năm 1993); Di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại-Nhã nhạc cung đình Huế (năm 2003) và 3 di sản tư liệu thuộc Chương trình Ký ức thế giới: Mộc bản triều Nguyễn (năm 2009), Châu bản triều Nguyễn (năm 2014), Thơ văn trên kiến trúc cung đình Huế (năm 2016); 2 di sản chung với các địa phương khác là: Thực hành tín ngưỡng thờ Mẫu Tam phủ (2016), nghệ thuật bài chòi Trung Bộ (2017) và mới nhất là những bản đúc nổi trên 9 đỉnh đồng ở Hoàng cung Huế./.

Ảnh: Đỉnh đồng tại Hoàng cung Huế được UNESCO ghi danh là Di sản tư liệu khu vực châu Á -Thái Bình Dương.
Yêu nước ST.

LLVT Quân khu 1: Tham gia xây dựng 428 cơ sở chính trị địa phương vững mạnh

     Thấm nhuần tư tưởng Hồ Chí Minh về công tác dân vận và quán triệt các chỉ thị, nghị quyết của Đảng về “Tăng cường và đổi mới sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác dân vận trong tình hình mới”, những năm qua, LLVT Quân khu 1 đã cụ thể hóa bằng nhiều việc làm thiết thực, tạo sức lan tỏa sâu rộng, góp phần tỏa sáng hình ảnh Bộ đội Cụ Hồ thời kỳ mới.

    Thực hiện tốt vai trò “đội quân công tác”, Quân khu đã đưa hàng trăm đại đội, tổ công tác, hàng chục vạn lượt cán bộ, chiến sĩ, kết hợp với triển khai thực hiện nhiều dự án của các đoàn kinh tế-quốc phòng (338 và 799) đến các địa bàn vùng sâu, vùng xa, vùng biên giới, vùng đặc biệt khó khăn để giúp nhân dân xóa đói, giảm nghèo.

LLVT Quân khu 1: Tham gia xây dựng 428 cơ sở chính trị địa phương vững mạnh
Cán bộ, chiến sĩ Tiểu đoàn 3, Trung đoàn 2, Sư đoàn 3 cùng đoàn viên địa phương phát quang đường giao thông liên thôn. Ảnh: Báo Quân khu 1 

    Chủ động tham mưu, phối hợp với cấp ủy, chính quyền, các ban, ngành, đoàn thể địa phương xây dựng cơ sở chính trị vững mạnh, củng cố quốc phòng, an ninh vững chắc. Riêng năm 2023, LLVT Quân khu 1 đã tham gia xây dựng 428 cơ sở chính trị địa phương vững mạnh; 56 tổ chức chính trị-xã hội; 62 cán bộ quân sự cấp huyện, tỉnh tham gia cấp ủy, chính quyền địa phương; kết nạp 37 đảng viên mới là người dân tộc thiểu số; tổ chức dạy nghề cho gần 1.500 người... Những việc làm cụ thể, thiết thực trong công tác dân vận của cán bộ, chiến sĩ LLVT Quân khu 1 đã trực tiếp góp phần giúp nhân dân nâng cao đời sống, yên tâm phát triển kinh tế, giữ vững an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội, tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân tộc trên địa bàn chiến lược, “phên giậu” của Tổ quốc.


Ngăn ngừa suy thoái từ lối sống sính ngoại, bài nội:


Sự việc một trường quốc tế ở phía Nam cho học sinh đọc tài liệu tham khảo bằng truyện khiêu dâm đã gây xôn xao dư luận những ngày qua.

Hồi chuông báo động về tình trạng lệch chuẩn trong giáo dục có yếu tố quốc tế lại tiếp tục được gióng lên. Trên thực tế, tư duy và lối sống kiểu sính ngoại, bài nội đã gây ra nhiều hệ lụy, nhưng không phải ai cũng nhận ra...


Xin kể chuyện này...


17 năm trước, khi vừa chuyển công tác từ Cần Thơ về TP Hồ Chí Minh, tôi được một người anh trong nghề mời đến nhà chơi. Lúc bấy giờ, gia đình anh là một mẫu hình lý tưởng đối với chúng tôi. Anh chị có địa vị xã hội, kinh tế vững, hai con đều học trường quốc tế. Trong bữa cơm gia đình, anh chị khuyên chúng tôi nên cho con đi học trường quốc tế để các cháu có tương lai tươi sáng. “Ở đó họ dạy toàn bằng tiếng Anh, chương trình đào tạo theo chuẩn quốc tế.


Học sinh bước vào cổng trường là không được nói tiếng Việt. Em nào vi phạm sẽ bị thầy cô giáo nhắc nhở, kiểm điểm ngay. Nhờ đó mà kỹ năng tiếng Anh của các cháu phát triển rất nhanh. Về nhà, anh chị cũng khuyến khích các cháu giao tiếp bằng tiếng Anh. Mình học theo con nên kỹ năng sử dụng tiếng Anh của anh vào loại tốt nhất ở cơ quan đấy”-anh nói, đầy tự hào và hãnh diện!


Hai con của anh chị khi lớn lên lại tiếp tục được đầu tư cho đi du học, rồi ở lại nước ngoài làm việc, định cư, lấy vợ Tây, chồng Tây. Đến nay, anh chị đã có 4 cháu, cả nội lẫn ngoại. Mới đây, anh bị bệnh phải điều trị dài ngày ở bệnh viện. Chúng tôi vào thăm, anh chị buồn bã dốc bầu tâm sự rằng, đến bây giờ anh chị mới thấm thía và trả giá đắt cho lối suy nghĩ sính ngoại, bài nội của mình. Tuổi cao, sức yếu, bệnh tật, anh chị phải tự lo cho nhau.


Thuê người giúp việc thì cũng chỉ đỡ được phần nào. Con cháu định cư ở nước ngoài, vài ba năm mới lần lượt về quê thăm cha mẹ, ông bà được một lần. Mỗi lần về, chúng đều ở khách sạn. Tiếp cận với môi trường giáo dục bằng tiếng Anh từ nhỏ, nếp nghĩ và lối sống của các con, các cháu của anh chị đã “quốc tế hóa” hoàn toàn. Chúng xa lạ với phong tục, nền nếp gia phong, thậm chí 4 đứa cháu dù đã lớn nhưng không đứa nào nói được tiếng Việt.


Ông bà ngồi bên cháu mà như hai thế giới xa lạ, từ hình dáng bề ngoài đến bất đồng ngôn ngữ, khác biệt văn hóa. Tình cảm máu mủ ruột rà, vì thế, thật khó để gắn kết thân mật. Cái sự “mất gốc” của văn hóa do sính ngoại, bài nội đến từ rất sớm và hệ lụy của nó cứ âm ỉ, kiểu “mưa dầm thấm lâu”. Đến lúc nhận ra thì đã quá muộn, không còn cơ hội cứu vãn được nữa. “Tiền nhiều để làm gì? Con cái thành đạt để làm gì? Bây giờ tôi chỉ ước ao có được những khoảnh khắc bình yên, ấm áp bên con cháu, sum vầy không khí gia đình. Nhưng ước ao ấy giờ là xa xỉ rồi. Chú cứ lấy câu chuyện của nhà tôi ra mà viết, để giúp những người còn có tư tưởng sính ngoại, bài nội sớm tỉnh ngộ. Chú đừng bêu tên anh chị lên mặt báo là được!”. Lời tâm sự đẫm nước mắt của người ở tuổi ngấp nghé “cổ lai hy” khiến chúng tôi bùi ngùi...


Giáo dục “khai phóng” và bài học từ gia đình, nhà trường đến xã hội


Chuyện sính ngoại dẫn đến “mất gốc” nền nếp gia phong, truyền thống tiên tổ xảy ra không hiếm trong thời đại ngày nay. Nhưng vì nó thuộc yếu tố cảm tính nên một bộ phận không nhỏ trong đời sống xã hội cứ coi đó là chuyện của mỗi nhà. Sự chia sẻ, nếu có, cũng chỉ mang tính riêng tư. Tuy nhiên, trong mối quan hệ gia đình-nhà trường-xã hội, bất cứ một biểu hiện lệch chuẩn nào cũng đều có tác động qua lại lẫn nhau.


Tại Hội nghị văn hóa toàn quốc năm 2021, Đảng ta đã nhấn mạnh, cảnh báo về tình trạng một bộ phận cán bộ, đảng viên, người làm công tác văn hóa chưa coi trọng đúng mức và có biện pháp tích cực để giữ gìn, bảo vệ, phát huy những giá trị văn hóa tốt đẹp, đặc sắc của dân tộc. Nhiều khi bắt chước nước ngoài một cách nhố nhăng, phản cảm, không có chọn lọc... Đó cũng chính là những biểu hiện của lối sống sính ngoại, bài nội. Nó xuất phát từ chiếc nôi gia đình, ảnh hưởng từ môi trường giáo dục (đặc biệt là giáo dục ngoài công lập, hợp tác giáo dục có yếu tố nước ngoài).


Với việc hô hào những thứ được xưng tụng, khoa trương như là những “triết lý giáo dục”, kiểu: “Khai phóng”, “tự do”, “không giới hạn”... không ít đơn vị giáo dục quốc tế đã tuyệt đối hóa yếu tố quốc tế, coi nhẹ, sao nhãng, thậm chí là bỏ qua các tiêu chí, nội dung giáo dục quốc nội. Đơn cử như lễ khai giảng, tổng kết, bế giảng... nhiều trường không tổ chức cho giáo viên, học sinh hát Quốc ca; trang trí khánh tiết không có Quốc kỳ, tượng Bác Hồ; thay vào đó là những hình ảnh, biểu trưng của cái gọi là “khai phóng”, “tự do”, “không giới hạn”... theo văn hóa phương Tây.


Khi con em của chúng ta được giáo dục ngay trên chính quê hương mình mà lại khước từ tinh túy, tinh hoa của văn hóa truyền thống, thì hệ lụy đối với tương lai là rất khó lường. Nó không chỉ khiến cha mẹ “mất” con, gia đình mất nền nếp gia phong, mà vốn quý của đất nước, bản sắc văn hóa của dân tộc... cũng bị phai nhạt. Như vậy, sính ngoại, bài nội cũng là một dạng biểu hiện suy thoái phẩm chất đạo đức, lối sống. Nếu chúng ta không tỉnh ngộ, cứ để nó “mưa dầm thấm lâu” thì nguy cơ “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” là một bước ngắn, thậm chí rất ngắn, nguy hại cho Đảng, cho đất nước.


Thời gian gần đây, trên một số nền tảng mạng xã hội lan truyền video clip của một người trẻ tự xưng là du học sinh Việt Nam tại Mỹ. Trong video clip này, cô gái tự nhận mình là người đã được “mở mang” đầu óc, tầm nhìn khi ra nước ngoài du học, nghiên cứu. Bên cạnh ca ngợi hết lời cái hay, cái đẹp nơi xứ người, cô quay sang chỉ trích người Việt, chê bai văn hóa Việt, xuyên tạc chính sách hòa hợp dân tộc của Đảng, Nhà nước; phủ nhận công lao của thế hệ ông cha trong đấu tranh giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước...


Những gì cô gái nói đều là những luận điệu xuyên tạc cũ rích của các thế lực thù địch ở hải ngoại. Tuy nhiên, khi được thốt ra từ miệng của một người trẻ đi du học, tính chất của nó đã khác đi nhiều. Nhận thức chính trị mơ hồ, yếu bản lĩnh, dễ dao động, ngả nghiêng... là những biểu hiện của suy thoái trong một bộ phận người trẻ. Nó xuất phát từ kiểu sính ngoại, bài nội trong công tác giáo dục và tự giáo dục, từ gia đình đến nhà trường và xã hội...


Ngăn ngừa bằng cách nào?


Ở đâu, môi trường nào dễ xuất hiện mầm mống suy thoái thì phải có các hình thức, giải pháp phòng ngừa, ngăn chặn ngay ở nơi đó. Trước hết, cần phải khẳng định, việc đẩy mạnh hợp tác giáo dục, trong đó có mô hình các trường quốc tế, là một tất yếu trong xu thế hội nhập. Giáo dục quốc tế không có lỗi. Lỗi là ở những hạn chế, bất cập trong phương thức quản lý, điều hành.


Câu chuyện ở một trường quốc tế cấp cho học sinh tài liệu tham khảo là truyện khiêu dâm khiến dư luận xôn xao, phụ huynh bất bình vừa qua là một ví dụ. Nó thể hiện những “khoảng trắng”, “khoảng trống” trong công tác quản lý, giám sát của cơ quan có thẩm quyền và tư duy giáo dục của hội đồng quản trị, ban giám hiệu, đội ngũ giáo viên của đơn vị giáo dục đó. Nếu chúng ta tiếp tục coi nhẹ, buông lỏng trong quản lý, giám sát, chấn chỉnh... thì cái “sảy” sẽ nảy cái “ung”. Mầm mống suy thoái trong môi trường giáo dục sẽ nảy nở, phát sinh từ những “việc nhỏ”, tích tụ dần thành hệ lụy khó lường.


Văn kiện Đại hội XIII của Đảng đã xác định rõ chiến lược phát triển giáo dục, đào tạo là: Chú trọng giáo dục phẩm chất, năng lực sáng tạo và các giá trị cốt lõi, nhất là giáo dục tinh thần yêu nước, tự hào, tự tôn dân tộc, khơi dậy khát vọng phát triển, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc... Như vậy, cho dù là giáo dục công lập hay ngoài công lập, các nhà quản lý và các đơn vị giáo dục đều phải có trách nhiệm, bổn phận thấm nhuần phương châm, định hướng giáo dục.


Đặc biệt, cái gốc của vấn đề vẫn là từ gia đình. Tại Hội nghị văn hóa toàn quốc năm 2021, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng trong bài phát biểu chỉ đạo hội nghị đã nhấn mạnh yêu cầu cán bộ, đảng viên phải giữ lấy “nếp nhà”, giữ lấy “chân quê”! Đó là cách tu từ để nói về tầm quan trọng của việc giữ gìn nền nếp gia phong, truyền thống, bản sắc văn hóa dân tộc trong giáo dục, bồi dưỡng thế hệ cách mạng cho đời sau. Khi một bộ phận phụ huynh, nhất là những gia đình có điều kiện về kinh tế vẫn cứ sính ngoại, bài nội trong định hướng, giáo dục con cái, thì những câu chuyện buồn như trên vẫn còn phổ biến. Mầm mống suy thoái cũng từ đó mà ra./.

St. Trường Tồn 

Phản bác một số quan điểm sai trái, thù địch trên lĩnh vực tư tưởng, lý luận chống phá Đại hội XIV của Đảng:

 


Quân đội tham gia đấu tranh, phản bác các quan điểm sai trái thù địch trên lĩnh vực tư tưởng, lý luận góp phần bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong tình hình mới.


Nhận diện và đấu tranh phản bác một số quan điểm sai trái, thù địch trên lĩnh vực tư tưởng, lý luận hiện nay là biện pháp quan trọng hàng đầu trong bảo vệ nền tảng tư tưởng, đường lối, chủ trương của Đảng, đặc biệt chỉ rõ nội dung, âm mưu, thủ đoạn của chúng tập trung chống phá vào thời điểm Đại hội Đảng các cấp tiến tới Đại hội XIV của Đảng là vấn đề cấp thiết hiện nay. Trên cơ sở đó xác định một số nhiệm vụ Quân đội tham gia đấu tranh, phản bác các quan điểm sai trái thù địch trên lĩnh vực tư tưởng, lý luận góp phần bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong tình hình mới.


Kiên quyết vạch trần âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch


Hiện nay, tình hình thế giới và khu vực có nhiều diễn biến phức tạp, khó lường, bên cạnh những thời cơ, thuận lợi, nhân loại cũng phải đối mặt với không ít khó khăn, thách thức cần phải hợp tác giải quyết.


Trong nước, kinh tế có nhiều khởi sắc song còn khó khăn về nhiều mặt, chưa thể kịp thời tháo gỡ. Hạn chế, yếu kém cũ chưa được khắc phục triệt để. Khó khăn mới nảy sinh; công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng; cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng, lãng phí, nhóm lợi ích, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ đã đạt được nhiều kết quả quan trọng.


Tuy nhiên, cuộc đấu tranh chống “giặc nội xâm” vẫn còn diễn biến rất phức tạp, ngày càng tinh vi, khó nhận diện hơn; nhiệm vụ quân sự, quốc phòng, bảo vệ Tổ quốc đứng trước nhiều thách thức mới… Các thế lực phản động, cơ hội chính trị đã lợi dụng những khó khăn, yếu kém còn tồn tại để đẩy mạnh thực hiện âm mưu, thủ đoạn “diễn biến hòa bình”, chống phá Đảng, Nhà nước và chế độ ta trên tất cả các lĩnh vực, nhất là thời điểm từ nay cho đến đại hội Đảng các cấp, tiến tới Đại hội XIV của Đảng.


Trong lĩnh vực tư tưởng, lý luận, chúng tập trung vào xuyên tạc, phủ nhận chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh trên những nguyên lý, lý luận nền tảng, như: Hình thái kinh tế - xã hội cộng sản chủ nghĩa, thời đại ngày nay và thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân, đấu tranh giai cấp, dân chủ xã hội chủ nghĩa, nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa...


Lật sử, bôi xấu lãnh tụ, xuyên tạc thân thế, sự nghiệp, tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh; xuyên tạc, vu cáo lãnh đạo cấp cao của Đảng, Nhà nước, Chính phủ, Quốc hội và các lực lượng vũ trang. Tạo dựng, bịa đặt, xuyên tạc lịch sử đấu tranh cách mạng Việt Nam trong thời đại Hồ Chí Minh, nhất là lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam, lịch sử đấu tranh giải phóng dân tộc, bảo vệ Tổ quốc, bảo vệ biên giới, chủ quyền lãnh thổ, biển đảo của Việt Nam.


Xuyên tạc, bóp méo chủ trương, của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước với chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, nhằm mục đích phủ nhận hoàn toàn nền tảng tư tưởng và cương lĩnh, đường lối, vai trò lãnh đạo của Đảng, luật pháp và vai trò quản lý của Nhà nước Việt Nam, phủ nhận, hướng lái, làm chệch hướng chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam.


Lợi dụng các vấn đề dân chủ, nhân quyền, dân tộc, tôn giáo, môi trường; các vấn đề kinh tế, văn hóa, xã hội, quốc phòng, an ninh và đối ngoại lớn mà Đảng, Nhà nước, Quốc hội, dư luận xã hội và nhân dân đang quan tâm nghiên cứu, tháo gỡ và giải quyết để xuyên tạc tình hình, phủ nhận thành tựu của công cuộc đổi mới, gây mâu thuẫn, bất hòa, xung đột, phá vỡ khối đại đoàn kết toàn dân tộc.


Tuyên truyền, hướng lái, thẩm thấu các tư tưởng dân chủ tư sản, nhất là tư tưởng đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập, pháp quyền tư sản, kinh tế thị trường tư bản chủ nghĩa; truyền bá, áp đặt các giá trị “dân sinh”, “dân chủ”, “dân quyền”, “nhân quyền” tư sản; kích động chủ nghĩa dân túy, xã hội dân sự, phong trào “bất tuân dân sự” ở Việt Nam.


Xuyên tạc tình hình đấu tranh bảo vệ nền độc lập, thống nhất, toàn vẹn chủ quyền lãnh thổ, biên giới, biển đảo của Đảng, Nhà nước và lực lượng vũ trang; phủ nhận đấu tranh bằng phương pháp hòa bình...


Xuyên tạc, phủ nhận vai trò, cơ chế lãnh đạo của Đảng đối với Quân đội và Công an; vai trò quản lý của Nhà nước đối với quốc phòng, an ninh. Bôi nhọ truyền thống, bản chất cách mạng của Quân đội; chuyển hóa, lôi kéo cán bộ, chiến sĩ và Quân đội từ bỏ nguyên tắc Đảng lãnh đạo quân đội, thực hiện âm mưu, thủ đoạn “phi chính trị hóa” quân đội, kích động “Quân đội chỉ phục tùng Hiến pháp, pháp luật, không phục tùng sự lãnh đạo của Đảng”.


Đặc biệt, chúng sẽ tập trung chống phá công tác chuẩn bị và tiến hành Đại hội Đảng các cấp, tiến tới Đại hội XIV của Đảng như xuyên tạc các quan điểm, mục tiêu, chủ trương, định hướng lớn nêu tại dự thảo các văn kiện Đại hội XIV của Đảng và Đại hội Đảng các cấp; xuyên tạc quan điểm, phương hướng và tình hình thực hiện chủ trương về công tác nhân sự. Tập trung tung tin sai sự thật, bôi nhọ, xuyên tạc phẩm chất, đạo đức, năng lực của các nhân sự bầu vào Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư, nhất là người đứng đầu Đảng, Nhà nước, Quốc hội, Chính phủ.


Trong công tác thông tin, tuyên truyền, chúng lợi dụng các sơ hở trong phát ngôn, báo chí, truyền thông của cá nhân, tổ chức trong nước… hòng phủ nhận, xuyên tạc, phát tán, thẩm thấu các tư tưởng, quan điểm sai trái, gây bất an, phân tâm về tư tưởng, gieo rắc sự hoài nghi, giảm sút niềm tin của nhân dân đối với Đảng, tăng thêm sự bất mãn và tinh thần chống phá Đảng, Nhà nước và chế độ xã hội chủ nghĩa ở nước ta.


Sử dụng các hình thức, thể loại văn học, bài chính luận, nghị luận, bình luận, phóng sự kết hợp với các loại công bố, tuyên bố, tuyên ngôn, thư ngỏ, thư kiến nghị, thơ văn, cắt xén hình ảnh, sử dụng trí tuệ nhân tạo (AI), video clip, nhạc chế; lấy Internet làm nền tảng, sử dụng các blog, website, dịch vụ điện tử (e-mail), các trang mạng xã hội Facebook, Zalo, các dịch vụ chat, nhắn tin, hội thoại, truyền thoại (VoIP), Twitter, Youtube, MySpace... để đăng tải, phát tán thông tin xấu độc, phản động. Chúng mở các chuyên trang, chuyên mục của tổ chức, cá nhân lập diễn đàn (forum) lôi kéo, tập hợp lực lượng; lấy các báo đài phát thanh, truyền hình ở nước ngoài làm phương tiện tiến công nhằm tạo ra các các luồng tư tưởng tiêu cực trên không gian mạng và trong xã hội, kích động các hành động biểu tình, gây rối, chống đối Đảng, Nhà nước, “bất tuân dân sự” , gây mất ổn định chính trị, trật tự, an toàn xã hội.


Những việc cần làm ngay để bảo vệ nền tảng tư tưởng, đường lối, quan điểm của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch


Tiếp tục quán triệt sâu sắc đường lối, quan điểm của Đảng, Quân ủy Trung ương, nhất là Nghị quyết số 35-NQ/TW của Bộ Chính trị “về tăng cường bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trong tình hình mới”, nâng cao nhận thức, trách nhiệm của các cấp ủy, người chỉ huy, cơ quan chức năng các cấp, đơn vị đối với với nhiệm vụ tăng cường đấu tranh tư tưởng, lý luận trong tình hình mới.


Nhanh chóng kiện toàn, quán triệt sâu sắc chức năng, nhiệm vụ, đưa hoạt động của Ban Chỉ đạo 35, bộ phận giúp việc của các cơ quan, đơn vị vào nền nếp và có hiệu quả cao; tập trung triển khai các chủ trương, biện pháp toàn diện, đồng bộ, thống nhất, kịp thời đạt hiệu quả thiết thực. Chủ động tham mưu với cấp ủy, tổ chức đảng cấp trên các chủ trương, giải pháp lãnh đạo, chỉ đạo tăng cường bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trong tình hình mới.


Giữ vững, tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, vai trò quản lý của Nhà nước, giữ vững sự ổn định về chính trị, tư tưởng trong Quân đội; ban hành các văn bản chỉ đạo, thực hiện có hiệu quả các đề án, kế hoạch, hướng dẫn về tổ chức các hoạt động thông tin tuyên truyền trước, trong, sau các sự kiện chính trị quan trọng, nhất là Đại hội Đảng các cấp, tiến tới Đại hội XIV của Đảng, các vấn đề dư luận trong nước và quốc tế quan tâm; tình hình an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội trên các địa bàn chiến lược; một số vụ án, vụ việc vi phạm pháp luật, kỷ luật của cán bộ, đảng viên; kịp thời định hướng tư tưởng, dư luận trong cán bộ, chiến sĩ và nhân dân, giữ vững trận địa tư tưởng của Đảng trong Quân đội.


Tập trung làm tốt công tác giáo dục chính trị, lãnh đạo tư tưởng, giữ vững sự ổn định trong đơn vị; chủ động thông tin tích cực, đẩy mạnh tuyên truyền đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước, nhiệm vụ quân sự, quốc phòng, kịp thời phê phán các quan điểm sai trái, thù địch, cơ hội chính trị, thông tin xấu độc.


Các cơ quan chức năng và các đơn vị tăng cường quán triệt, thực hiện nghiêm các văn bản lãnh đạo, chỉ đạo, hướng dẫn của cấp trên về đấu tranh tư tưởng, lý luận; duy trì hoạt động đấu tranh có nền nếp, hiệu quả; chủ động nhạy bén nắm tình hình, tập trung tham mưu và chỉ đạo giải quyết kịp thời các vấn đề nảy sinh; tích cực đẩy mạnh công tác thông tin, tuyên truyền trên mặt trận tư tưởng, lý luận.


Các cơ quan báo chí, phát thanh, truyền hình các cấp trong quân đội cần bám sát hơn nữa nhiệm vụ chính trị của mình, phối hợp chặt chẽ với các cơ quan báo, đài Trung ương, địa phương mở rộng các chuyên trang, chuyên mục; đa dạng hóa các hình thức thông tin, tuyên truyền, định hướng tư tưởng, dư luận kịp thời, hiệu quả.


Các nhà trường, viện, cơ quan nghiên cứu khoa học trong toàn quân nêu cao tinh thần chủ động, sáng tạo trong nghiên cứu nắm bắt âm mưu thủ đoạn chống phá mới của các thế lực thù địch, tham mưu đề xuất, triển khai đấu tranh có hiệu quả, đồng thời tích cực đổi mới, nâng cao chất lượng giáo dục, đào tạo và học tập lý luận chính trị, kiên định chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối, quan điểm của Đảng; tăng cường liên kết, phối hợp với các cơ quan chức năng của Quân đội, đẩy mạnh công tác tuyên truyền, bảo vệ vững chắc nền tảng tư tưởng của Đảng, kịp thời đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trong tình hình mới./.

St. Trường Tồn 

MỜI CHUYÊN GIA THẨM ĐỊNH BỘ TRANG PHỤC GẮN HUY HIỆU LẠ CỦA ÔNG HUỲNH MINH HƯNG


💫 Tại đêm nhạc "Ngày em thắp sao trời", diễn ra vào tối 4/5 vừa qua ở TPHCM, ông Huỳnh Minh Hưng (hành nghề ca sĩ, nghệ danh tự gọi là Đàm Vĩnh Hưng) đã mặc trang phục có gắn huy hiệu lạ.


📝 Về vấn đề này, Sở Văn hóa và Thể thao TPHCM đã mời các tổ chức, cá nhân, đơn vị để làm việc về nội dung phản ánh, thu thập hiện vật liên quan.


Tại cuộc họp, đại diện Công ty TNHH Tiếng Hát Việt - đơn vị tổ chức chương trình đã có báo cáo cụ thể về quá trình chuẩn bị, công tác tổ chức. 


Nhà thiết kế cũng như ca sĩ Đàm Vĩnh Hưng đã có tường trình về thiết kế trang phục cho đêm diễn, trong đó bộ trang phục theo phản ánh nêu trên được sử dụng trong 4 bài hát. 


Theo như nội dung tường trình thì bộ trang phục và các phụ kiện chỉ mang tính chất trang trí, tạo hiệu ứng về mỹ thuật, không nhằm mục đích gì khác.


Đại diện Công TNHH Tiếng Hát Việt, ca sĩ Đàm Vĩnh Hưng, nhà thiết kế cũng đã tiếp thu ý kiến phản ánh của báo chí, ý kiến của đại diện các cơ quan có liên quan trong cuộc họp và sẽ rút kinh nghiệm trong các buổi biểu diễn tiếp theo.


Sở đã có biên bản ghi nhận các ý kiến của đại diện cho các cơ quan liên quan dự họp cũng như các nội dung phản hồi của Công TNHH Tiếng Hát Việt, ca sĩ Đàm Vĩnh Hưng và nhà thiết kế.


🛑 Sở cũng đã nhắc nhở, đề nghị các đơn vị tổ chức sự kiện, các cá nhân tham gia biểu diễn nghệ thuật cần nâng cao hơn nữa ý thức trách nhiệm, nhận thức, chú ý đến vấn đề trang phục, hình thức trình bày, tránh gây phản cảm và có tác động tiêu cực đến dư luận xã hội.


Để có căn cứ cho việc đề ra giải pháp xử lý phù hợp, Sở sẽ mời một số chuyên gia về các lĩnh vực có liên quan để cho ý kiến thẩm định. Sau khi có kết luận, sẽ tiến hành các bước tiếp theo.


  ( Thông tin Chính phủ )

St. Trường Tồn 

TÌM HIỂU GIÚP BẠN: ĐẢNG LÃNH ĐẠO, NHÀ NƯỚC QUẢN LÝ, NHÂN DÂN LÀM CHỦ!

     Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, Nhân dân làm chủ là đặc điểm cơ bản nhất, thể hiện bản chất của chế độ ta, của hệ thống chính trị nước ta, là cơ chế vận hành của xã hội ta!

Mối quan hệ này được xuất phát từ tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh về xây dựng Đảng, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa (XHCN) của Nhân dân, do Nhân dân, vì Nhân dân.    

Đảng lãnh đạo - cái gốc thắng lợi của cách mạng Việt Nam
Trong những năm bôn ba tìm đường cứu nước, nhà cách mạng Nguyễn Ái Quốc (sau này là Chủ tịch Hồ Chí Minh) dành nhiều thời gian tìm hiểu về các cuộc cách mạng nổi tiếng thế giới là cách mạng Mỹ (1776) với bản “Tuyên ngôn Độc lập”, ly khai khỏi nước Anh và cách mạng tư sản Pháp (1789) với bản “Tuyên ngôn Nhân quyền và Dân quyền”. Người khâm phục tinh thần của các cuộc cách mạng này, nhưng không thể đi theo những con đường đó. Bởi vì, theo Người: “Cách mệnh Mỹ cũng như cách mệnh Pháp là cách mệnh tư bản, cách mệnh không đến nơi, tiếng là cộng hòa và dân chủ, kỳ thực trong thì nó tước đoạt công nông, ngoài thì nó áp bức thuộc địa”. Theo Người, tại Pháp và Mỹ thời điểm đó, “cách mệnh thành công đã hơn 150 năm nay, nhưng công nông vẫn cứ cực khổ, vẫn cứ lo tính cách mệnh lần thứ hai”. Như vậy, những người dân đứng lên, hy sinh xương máu làm các cuộc cách mạng do giai cấp tư sản lãnh đạo, đã bị phản bội.

Tháng 7-1920, Nguyễn Ái Quốc được đọc bản “Sơ thảo lần thứ nhất những Luận cương về vấn đề dân tộc và thuộc địa” của V.I.Lênin. Bản Luận cương như luồng ánh sáng, đem đến cho Người một nhãn quan chính trị mới. Người đến với Chủ nghĩa Mác-Lênin, tham gia sáng lập Đảng Cộng sản Pháp năm 1920 và trở thành người cộng sản Việt Nam đầu tiên. Từ đó, Người xác định mục tiêu của cách mạng Việt Nam là giành độc lập dân tộc, tiến lên chủ nghĩa xã hội (CNXH). Trong tác phẩm “Đường cách mệnh” xuất bản năm 1927, Người khẳng định: “Cách mệnh trước hết phải có cái gì? Trước hết phải có Đảng cách mệnh, để trong thì vận động và tổ chức dân chúng, ngoài thì liên lạc với dân tộc bị áp bức và vô sản giai cấp mọi nơi. Đảng có vững cách mệnh mới thành công, cũng như người cầm lái có vững thuyền mới chạy”. Vấn đề được Người quan tâm hàng đầu về mặt tổ chức là sớm lập ra Đảng Cộng sản Việt Nam, yếu tố quyết định thắng lợi của cách mạng Việt Nam.

Ngày 3-2-1930, Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời, với vai trò tích cực của Nguyễn Ái Quốc chuẩn bị về mặt tư tưởng, lý luận, chính trị và tổ chức. Sự ra đời của Đảng là kết quả của cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc và đấu tranh giai cấp ở nước ta trong những năm đầu thế kỷ 20, là sản phẩm của sự kết hợp Chủ nghĩa Mác-Lênin với phong trào công nhân và phong trào yêu nước Việt Nam.

Về bản chất của Đảng ta, tại Đại hội lần thứ II của Đảng (2-1951), Chủ tịch Hồ Chí Minh cho rằng: “Chính vì Đảng Lao động Việt Nam (tên Đảng ta thời điểm đó-PV) là Đảng của giai cấp công nhân và Nhân dân lao động, cho nên nó phải là Đảng của dân tộc Việt Nam”. Đảng lấy Chủ nghĩa Mác-Lênin làm nền tảng tư tưởng.

Ngay sau khi Cách mạng Tháng Tám năm 1945 thắng lợi, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ rõ Đảng ta trở thành Đảng cầm quyền, Đảng lãnh đạo cách mạng trong điều kiện đã có chính quyền. Đảng ta cầm quyền, nhưng Đảng không thay đổi bản chất, không thay đổi mục đích lý tưởng của mình. Đảng cầm quyền để mang lại lợi ích cho dân tộc, độc lập, tự do cho Tổ quốc, hạnh phúc cho Nhân dân. Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định, mục đích, tôn chỉ của Đảng là “tận tâm”, “tận lực”, “phụng sự” và “trung thành với lợi ích của dân tộc Việt Nam”.

Do đó, theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, Đảng cầm quyền, nhưng dân là chủ, Đảng phải lấy “dân làm gốc”. Trong Di chúc, Chủ tịch Hồ Chí Minh viết: "Phải giữ gìn Đảng ta thật trong sạch, phải xứng đáng là người lãnh đạo, là người đầy tớ thật trung thành của Nhân dân". Tuy nhiên, cũng theo Người, dân chỉ có thể làm chủ thực sự khi có sự lãnh đạo của Đảng. Mỗi người dân tham gia xây dựng Đảng, xây dựng chính quyền vững mạnh là để bảo đảm quyền làm chủ thực sự của mình.

Tất cả thành tựu của đất nước suốt từ khi Đảng thành lập cho tới nay đã cho thấy rõ, vai trò lãnh đạo của Đảng ta luôn quyết định mọi thắng lợi của cách mạng Việt Nam từ đấu tranh giành độc lập dân tộc, thống nhất đất nước, tới công cuộc đổi mới, xây dựng đất nước ngày càng phát triển, hội nhập sâu rộng với thế giới. Để thực hiện vai trò lãnh đạo của mình, Đảng luôn nắm bắt, lắng nghe mọi nguyện vọng, ý kiến, đề xuất chính đáng của quần chúng Nhân dân, từ đó đề ra những nghị quyết, chủ trương, đường lối, dẫn dắt dân tộc, dẫn dắt đất nước và Nhân dân đi tới thắng lợi. Chính vì Đảng luôn vì dân, dân tin yêu Đảng nên Việt Nam luôn được quốc tế ngưỡng mộ vì có một môi trường chính trị ổn định, an ninh, an toàn, là tiền đề rất thuận lợi cho phát triển.

Nhà nước của Nhân dân, do Nhân dân, vì Nhân dân
Giành chính quyền đã khó, giữ chính quyền khó hơn”, tổng kết ấy của V.I.Lênin đã được Chủ tịch Hồ Chí Minh và các đảng viên khắc cốt, ghi tâm từ những ngày đầu giành chính quyền sau Cách mạng Tháng Tám. Chủ tịch Hồ Chí Minh cho rằng, nếu vấn đề cơ bản của mọi cuộc cách mạng là vấn đề chính quyền nhà nước thì vấn đề cơ bản của một chính quyền là ở chỗ nó thuộc về ai, phục vụ cho quyền lợi của ai. Do đó, sau khi cách mạng thành công, phải thiết lập được chính quyền nhà nước của đại bộ phận Nhân dân trong xã hội. Bởi theo Người, “nước lấy dân làm gốc… gốc có vững cây mới bền, xây lầu thắng lợi trên nền Nhân dân”. Nhà nước vì dân là Nhà nước coi việc đem lại quyền lợi chính đáng cho Nhân dân là mục tiêu hoạt động của mình. Mọi hoạt động của Nhà nước đều phải hướng tới phục vụ Nhân dân. Một Nhà nước vì dân, theo Người đơn giản là: “Việc gì có lợi cho dân ta phải hết sức làm, việc gì có hại cho dân ta phải hết sức tránh”. Một Nhà nước vì dân phải là một Nhà nước trong sạch, luôn chống lại những tiêu cực từ trong bộ máy của Nhà nước ấy.

Khi Đảng ta là Đảng cầm quyền thì việc thực hiện luật pháp, chính sách của Nhà nước là thực hiện chủ trương, đường lối của Đảng. Thông qua Nhà nước và bằng Nhà nước, Đảng lãnh đạo hoạt động mọi mặt của đất nước, của xã hội. Nhà nước trong sạch, hoạt động hiệu lực, hiệu quả, có uy tín với Nhân dân, đất nước ổn định, phát triển thì Đảng có uy tín với Nhân dân, duy trì, củng cố được vai trò, vị trí cầm quyền của mình.

Đảng lựa chọn, giới thiệu những đảng viên ưu tú có đủ phẩm chất, đạo đức và năng lực vào trong các cơ quan lãnh đạo chính quyền theo đúng quy trình, thủ tục và pháp luật của Nhà nước. Đảng hoạt động trong khuôn khổ hiến pháp và pháp luật, liên hệ mật thiết với Nhân dân và luôn chịu sự giám sát của Nhân dân. Là lực lượng lãnh đạo Nhà nước và xã hội, Đảng chịu trách nhiệm trước lịch sử, trước Nhân dân về độc lập dân tộc, toàn vẹn lãnh thổ, về sự phát triển của đất nước, về hiệu lực và hiệu quả hoạt động của bộ máy nhà nước.

Tựu trung tư tưởng Hồ Chí Minh về một Nhà nước của Nhân dân, do Nhân dân, vì Nhân dân mang bản chất giai cấp công nhân và có tính chất của một Nhà nước pháp quyền, thể hiện ở những điểm sau: Một là, Nhà nước do dân làm chủ trên thực tế. Hai là, tất cả quyền lực nhà nước phải thuộc về Nhân dân, tuyệt đối không để cho các quyền đó nằm trong tay một nhóm cá nhân độc quyền và lũng đoạn. Ba là, để thực sự là Nhà nước của dân, do dân, vì dân, những người làm việc trong bộ máy nhà nước phải luôn luôn ý thức được họ vừa là người lãnh đạo, đồng thời là đầy tớ của Nhân dân, lãnh đạo bằng tài năng, trí tuệ, bằng tấm gương, phong cách làm việc “cần, kiệm, liêm, chính, chí công, vô tư”, chứ không phải là “ông quan cách mạng”. Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn giáo dục cán bộ, công chức phải thương yêu dân, dựa vào dân, gần gũi dân, lắng nghe học hỏi dân, tin tưởng dân. Bốn là, Nhà nước của Nhân dân, do Nhân dân, vì Nhân dân là Nhà nước mang bản chất giai cấp công nhân, do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo. Tính Nhân dân và bản chất giai cấp công nhân của Nhà nước XHCN Việt Nam là thống nhất tạo nên bản sắc riêng của Nhà nước XHCN Việt Nam.      

Theo tư tưởng Hồ Chí Minh, chính quyền từ Trung ương đến địa phương đều phải chịu trách nhiệm trước Nhân dân. Nhân dân sử dụng quyền lực của mình thông qua Quốc hội và HĐND các cấp do Nhân dân bầu ra và chịu trách nhiệm trước Nhân dân… Nhân dân không những là người bầu ra mà còn là người kiểm soát Nhà nước. Nhân dân có quyền bãi miễn đại biểu Quốc hội và đại biểu HĐND nếu đại biểu ấy tỏ ra không xứng đáng với sự tín nhiệm. Nhân dân còn là người có quyền bãi miễn không chỉ quan chức các cấp của Nhà nước mà còn có quyền bãi miễn toàn thể Chính phủ, như Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định: “Nếu Chính phủ làm hại dân, thì dân có quyền đuổi Chính phủ”.

Nhân dân làm chủ đất nước - quyền lợi và nghĩa vụ
63 năm trước đây, ngày 16-9-1961, Bác Hồ về thăm và nói chuyện với Đảng bộ, chính quyền và Nhân dân xã Nghĩa Dân, huyện Kim Động, tỉnh Hưng Yên. Tại đây, Bác dạy: "Nghĩa Dân là dân có nghĩa, phải tích cực tăng gia sản xuất, thực hành tiết kiệm tốt để làm gương cho các xã khác".

Nhân dân, con người trong tư tưởng, tình cảm Hồ Chí Minh không chung chung, trừu tượng mà rất cụ thể. Đó là người nông dân, người công nhân, nhà trí thức, các chiến sĩ bộ đội, công an, các cháu thanh niên, phụ nữ, thiếu nhi, học sinh, sinh viên, các bậc phụ lão, đồng bào các dân tộc, tôn giáo, kiều bào ta ở nước ngoài... Theo Người, Nhân dân bao gồm mọi tầng lớp người trong xã hội cùng có chung một vận mệnh, một cuộc sống, một tương lai, tiền đồ, một truyền thống lịch sử, một nền văn minh, văn hóa. Khi đất nước có ngoại xâm, Nhân dân có chung một kẻ thù, một nhiệm vụ là cùng đứng lên bảo vệ Tổ quốc. Khi hòa bình xây dựng đất nước, Nhân dân có chung một nhiệm vụ kiến quốc bảo vệ xây dựng giang sơn gấm vóc ngày càng đàng hoàng hơn, to đẹp hơn.

Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ, Đảng lãnh đạo Nhân dân làm cách mạng, nhưng cách mạng là sự nghiệp của quần chúng Nhân dân đông đảo. Người nhắc nhở, công tác dân vận của Đảng phải tìm mọi cách giải thích cho từng người dân hiểu rõ, việc mình làm là vì lợi ích của chính họ, nên họ phải hăng hái làm cho kỳ được. Người cũng chỉ rõ làm bất cứ việc gì cũng phải bàn với dân, hỏi ý kiến và kinh nghiệm của dân, cùng với dân đặt kế hoạch cho thiết thực với hoàn cảnh địa phương, rồi động viên và tổ chức toàn dân thi hành. Đảng phải lãnh đạo để Nhân dân đứng lên đấu tranh tự giải phóng và xây dựng xã hội mới do mình làm chủ. Sự nghiệp ấy chỉ có thể được thực hiện bằng sức mạnh của Nhân dân. Nhân dân mới chính là người sáng tạo ra lịch sử, là chủ thể của lịch sử, là người làm nên lịch sử. Theo Người, cá nhân dù có tài giỏi mấy cũng không thay thế được Nhân dân. Trong những cống hiến to lớn của Chủ tịch Hồ Chí Minh đối với cách mạng Việt Nam, tư tưởng về sức mạnh của Nhân dân là một cống hiến đặc sắc, có giá trị lý luận và giá trị thực tiễn rất quan trọng, lâu dài.

Thực hiện theo tư tưởng của Người trong suốt các giai đoạn lịch sử của cách mạng nước ta, Nhân dân luôn được đặt ở vị trí là chủ của đất nước. Hiến pháp 2013 tiếp tục khẳng định điều này: Nhà nước Cộng hòa XHCN Việt Nam là Nhà nước pháp quyền XHCN của Nhân dân, do Nhân dân, vì Nhân dân. Nước Cộng hòa XHCN Việt Nam do Nhân dân làm chủ; tất cả quyền lực nhà nước thuộc về Nhân dân mà nền tảng là liên minh giữa giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức.

Trước tác động của bối cảnh hiện nay, cần có sự đổi mới, tiếp tục hoàn thiện mối quan hệ Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, Nhân dân làm chủ, trước hết thể hiện ở mấy khía cạnh như:
Một là, tiếp tục đổi mới sự lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước và xã hội; nội dung và phương thức lãnh đạo của Đảng phù hợp với điều kiện mới theo định hướng tạo lập điều kiện và môi trường thuận lợi hơn để bộ máy nhà nước năng động, sáng tạo, làm đúng, làm đủ nhiệm vụ, quyền hạn của mình, không dựa dẫm, ỷ lại. Đồng thời, tăng cường công tác kiểm soát quyền lực nhà nước để kịp thời phòng, chống sự thao túng quyền lực của những người đứng đầu các cơ quan nhà nước, các tổ chức đảng.

Hai là, tiếp tục xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền XHCN của Nhân dân, do Nhân dân và vì Nhân dân thực sự là một Nhà nước dân chủ, pháp quyền, tất cả quyền lực nhà nước thuộc về Nhân dân. Tiếp tục nâng cao nhận thức, thực hiện đúng đắn nguyên tắc phân công, phối hợp và kiểm soát giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp để sửa đổi, bổ sung các luật về tổ chức bộ máy nhà nước nhằm hình thành một bộ máy nhà nước tinh gọn, hiệu lực, hiệu quả. Xây dựng một Quốc hội mạnh và thực quyền về lập pháp, giám sát tối cao và quyết định các vấn đề trọng đại của đất nước; một Chính phủ năng động, liêm chính, kiến tạo, hành động vì người dân và doanh nghiệp, quản lý nhà nước có hiệu lực và hiệu quả; một nền tư pháp vì công lý, vì quyền con người, quyền công dân.

Ba là, Đảng và Nhà nước phải thực sự tạo điều kiện và môi trường để Nhân dân thực hiện quyền làm chủ của mình bằng các chủ trương, chính sách, pháp luật cởi mở, thân thiện, dễ dàng. Trong đó sớm xây dựng và hoàn thiện các đạo luật về các quyền làm chủ trực tiếp của công dân. Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các đoàn thể chính trị-xã hội nâng cao nhận thức, thực hiện mạnh mẽ, thực chất chức năng giám sát và phản biện xã hội, coi đó là phương tiện của những tổ chức đại diện Nhân dân kiểm soát trước và sau đối với đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước.

Bốn là, tiếp tục tuyên truyền để Nhân dân hiểu về đường lối, chủ trương của Đảng, hiểu về vai trò làm chủ của Nhân dân đối với các công việc của đất nước, từ đó chủ động, tự giác tham gia, đóng góp vào công việc chung./.
Môi trường ST.