Chủ Nhật, 12 tháng 5, 2024
BÁC BỎ LUẬN ĐIỆU PHỦ NHẬN CÔNG BẰNG XÃ HỘI TRONG NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG ĐỊNH HƯỚNG XÃ HỘI CHỦ NGHĨA Ở VIỆT NAM HIỆN NAY!
HỌC AI? AI HỌC?
Không thể phủ nhận giá trị, sức sống tư tưởng Hồ Chí Minh
Cứ vào dịp cả nước kỷ niệm Ngày sinh
Chủ tịch Hồ Chí Minh (ngày 19/5) trên một số diễn đàn, trang mạng xã hội của
các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị lại tung ra những luận điệu
sai trái, xuyên tạc về thân thế, sự nghiệp, tư tưởng của Người.
Do vậy,
việc nhận diện, phản bác luận điệu sai trái, xuyên tạc không chỉ góp phần bảo
vệ nền tảng tư tưởng của Đảng mà còn khẳng định sức sống, giá trị tư tưởng Hồ
Chí Minh. Đồng thời, đó còn là trách nhiệm, lương tâm, tình cảm đối với lãnh tụ
vĩ đại của Đảng và dân tộc Việt Nam.
Luận điệu sai trái, xuyên
tạc
Một số
hội nhóm, tổ chức, cá nhân phản động, bất mãn lấy danh nghĩa là “nghiên cứu
cuộc đời, sự nghiệp và tư tưởng Hồ Chí Minh” đưa ra luận điệu: “thực chất Hồ
Chí Minh là người theo chủ nghĩa dân tộc”, “chủ nghĩa dân tộc trong tư tưởng Hồ
Chí Minh là chủ nghĩa dân tộc hẹp hòi”. Họ giải thích tư tưởng Hồ Chí Minh chỉ
là tư tưởng cách mạng giải phóng dân tộc, không có tư tưởng đấu tranh giai cấp,
không có tư tưởng về cách mạng xã hội chủ nghĩa. Từ đó, họ ngụy biện rằng, Hồ
Chí Minh không phải là người theo chủ nghĩa cộng sản; tư tưởng Hồ Chí Minh đối
lập với chủ nghĩa Mác-Lênin, đối lập với đường lối của Đảng Cộng sản Việt Nam
vì tư tưởng Hồ Chí Minh là chủ nghĩa dân tộc, còn đường lối của Đảng là theo tư
tưởng đấu tranh giai cấp…
Đây
thực chất là một cách diễn đạt sai lệch. Cách diễn đạt này dù vô tình hay hữu ý
đã bỏ qua tính giai cấp, làm mờ đi lập trường, quan điểm giai cấp của Chủ tịch
Hồ Chí Minh trong nhận thức và giải quyết vấn đề dân tộc ở Việt Nam. Với cách
diễn đạt ấy đã tước bỏ tính đảng và lập trường cách mạng chân chính trong tư
tưởng Hồ Chí Minh, thực chất là để phủ nhận tư tưởng của Người.
Thậm
chí, những kẻ chống phá, cơ hội cố tình bóp méo, xuyên tạc tư tưởng Hồ Chí
Minh, đối lập tư tưởng Hồ Chí Minh với chủ nghĩa Mác - Lênin, chia rẽ, phá vỡ
từng bộ phận cấu thành trong nền tảng tư tưởng của Đảng hiện nay.
Mục
đích của các thế lực thù địch nhằm để thực hiện mưu đồ chính trị chống phá Đảng
ta trên lĩnh vực tư tưởng, lý luận là nhằm làm cho Đảng xa rời, từ bỏ nền tảng
tư tưởng, từ bỏ thế giới quan, phương pháp luận khoa học, kim chỉ nam cho mọi
hành động của Đảng, dẫn đến từ bỏ mục tiêu, lý tưởng độc lập dân tộc và chủ
nghĩa xã hội. Thực tế, nguồn gốc, quá trình hình thành và phát triển tư tưởng
Hồ Chí Minh cũng như thực tiễn thắng lợi của sự nghiệp cách mạng Việt Nam dưới
sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam khẳng định tư tưởng Hồ Chí Minh thuộc hệ
tư tưởng của giai cấp vô sản, là một hệ thống quan điểm toàn diện và sâu sắc về
những vấn đề cơ bản của cách mạng Việt Nam, kết quả của sự vận dụng và phát
triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin vào điều kiện cụ thể của nước ta, kế thừa
và phát triển các giá trị truyền thống tốt đẹp của dân tộc, tiếp thu tinh hoa
văn hóa nhân loại. Đó là tài sản tinh thần vô cùng to lớn và quý giá của Đảng
và dân tộc ta, mãi mãi soi đường cho sự nghiệp cách mạng của nhân dân ta giành
thắng lợi.
Kế thừa, vận dụng, phát
triển sáng tạo chủ nghĩa Mác – Lênin để giải quyết đúng đắn vấn đề dân tộc với
giai cấp
Từ khi
thực dân Pháp xâm lược (1858) và đặt ách thống trị ở nước ta cho đến đầu thế kỷ
XX, các ngọn cờ cứu nước theo hệ tư tưởng phong kiến và tư sản đã chiến đấu rất
quyết liệt và anh dũng, song tất cả đã bị đàn áp đẫm máu và thất bại. Thực tiễn
đó cho thấy, không thể giải quyết vấn đề dân tộc, giành độc lập dân tộc dựa
trên những quan điểm phong kiến hay tư sản.
Trong
điều kiện lịch sử ấy, Nguyễn Tất Thành với lòng yêu nước, thương dân, với nhãn
quan chính trị sắc sảo đã nhận thấy không thể cứu nước và giải phóng dân tộc
theo con đường của các bậc tiền bối và Người đã quyết tâm ra đi tìm đường cứu
nước, giải phóng dân tộc. Điểm xuất phát và là động lực tinh thần của sự ra đi
tìm đường cứu nước, cứu dân của Hồ Chí Minh là chủ nghĩa yêu nước chân chính.
Người đặt cho mình cái tên Nguyễn Ái Quốc là để luôn nhắc nhở bản thân và cổ vũ
đồng bào mình lòng yêu nước.
Năm
1920, Nguyễn Ái Quốc đọc Sơ thảo lần thứ nhất luận cương về vấn đề dân tộc và
thuộc địa của Lênin. Luận cương chỉ rõ, cách mạng giải phóng dân tộc muốn thắng
lợi phải đi theo con đường cách mạng vô sản. Đó là chân lý của thời đại, là
giải đáp cho điều mà Nguyễn Ái Quốc đang trăn trở, tìm tòi. Từ đây, Nguyễn Ái
Quốc xác định “Muốn cứu nước và giải phóng dân tộc không có con đường nào khác
con đường cách mạng vô sản” ¹ . Lúc này Người có sự chuyển biến từ chủ nghĩa
yêu nước truyền thống sang chủ nghĩa yêu nước theo lập trường giai cấp vô sản.
Năm 1924, Nguyễn Ái Quốc đã khẳng định, đối với các dân tộc thuộc địa ở phương
Đông, “chủ nghĩa dân tộc là động lực lớn của đất nước”. Người đánh giá cao động
lực của chủ nghĩa dân tộc nhưng chủ nghĩa dân tộc theo quan niệm của Người phải
theo lập trường vô sản.
Tiếp
thu chủ nghĩa Mác - Lênin, tự nhận là học trò của C. Mác, V.I Lênin nhưng
Nguyễn Ái Quốc không thụ động mà dùng lập trường, quan điểm, phương pháp luận
mác xít để vận dụng và phát triển những nguyên lý, quy luật chung của cách mạng
thế giới vào đặc điểm tình hình các nước thuộc địa, trong đó có Việt Nam. Người
luận giải, những luận điểm về chủ nghĩa đế quốc như một con đỉa có hai vòi;
tính chủ động chủ yếu của cách mạng thuộc địa; nội dung chủ yếu của cách mạng
thuộc địa; quy luật thành lập đảng ở các nước thuộc địa… Đó là những cống hiến
lý luận to lớn của Người đối với phong trào cách mạng giải phóng dân tộc ở Việt
Nam và trên thế giới.
Nắm vững học thuyết về
cách mạng vô sản và học thuyết giai cấp, đấu tranh giai cấp của chủ nghĩa Mác -
Lênin, đồng thời bám sát đặc điểm của thực tiễn Việt Nam và thế giới, Nguyễn Ái
Quốc đã phát hiện ra những nét đặc thù của Việt Nam so với các quốc gia khác,
đặc biệt là các nước phương Tây. Người nhận thấy, nếu như ở phương Tây, mâu
thuẫn giai cấp đã trở nên sâu sắc thì ở Việt Nam, mâu thuẫn giữa toàn thể dân
tộc với chủ nghĩa thực dân Pháp và bè lũ tay sai là mâu thuẫn hàng đầu, đấu
tranh giải phóng dân tộc mới là vấn đề gay gắt và nóng bỏng đối với cách mạng
Việt Nam chứ chưa phải là đấu tranh giai cấp như trong các xã hội tư bản chủ
nghĩa phương Tây. Quan điểm này của Người được thể hiện rõ ở “Chính cương vắn
tắt”, “Sách lược vắn tắt” và “Điều lệ tóm tắt” trong Hội nghị thành lập Đảng
Cộng sản Việt Nam năm 1930, đó là: “Làm tư sản dân quyền cách mạng và thổ địa
cách mạng để đi tới xã hội cộng sản” 2. Trong đó, nhiệm vụ của
cách mạng tư sản dân quyền là đánh đổ chủ nghĩa đế quốc và bọn phong kiến “làm
cho nước Nam được hoàn toàn độc lập”, nhân dân được tự do, tịch thu ruộng đất
của bọn đế quốc làm của công và chia cho nông dân nghèo, quốc hữu hoá toàn bộ
xí nghiệp của tư bản đế quốc, lập chính phủ công - nông - binh và quân đội công
nông...
Quan
điểm này tiếp tục khẳng định tại Hội nghị Trung ương lần thứ 8 (Khóa I, tháng
5/1941): “Trong lúc này quyền lợi dân tộc cao hơn hết thảy... nếu không giải
quyết được vấn đề dân tộc giải phóng, không đòi được độc lập tự do cho dân tộc
thì chẳng những còn chịu mãi kiếp ngựa trâu mà quyền lợi của bộ phận giai cấp
vạn năm cũng không đòi lại được. Đó là nhiệm vụ của Đảng ta trong vấn đề dân
tộc”³.
Đây chỉ
là một phần dẫn chứng nhưng đủ để cho thấy tư tưởng và hành động nhất quán để
giải quyết đúng đắn, sáng tạo mối quan hệ giữa dân tộc và giai cấp; kết hợp
đúng đắn đấu tranh dân tộc và đấu tranh giai cấp của Hồ Chí Minh. Chính điều đó
đã thực sự trở thành chiến lược chỉ đạo toàn bộ tiến trình cách mạng Việt Nam,
cũng nhờ đường lối đúng đắn đó mà đã huy động được toàn thể nhân dân Việt Nam
muôn người như một chống lại kẻ thù chung, giành độc lập cho dân tộc.
Thắng lợi của cách mạng
Việt Nam khẳng định giá trị, sức sống tư tưởng Hồ Chí Minh
Thắng
lợi của Cách mạng Tháng Tám 1945, lập nên nước Việt Nam dân chủ cộng hòa đến
chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ “lừng lẫy năm châu, chấn động địa cầu”, kết
thúc những năm kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược. Thời kỳ đất nước tiến
hành cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (1954 -1975), Đảng Cộng sản Việt Nam
và Chủ tịch Hồ Chí Minh lãnh đạo toàn dân tiến hành đồng thời và kết hợp chặt
chẽ hai chiến lược cách mạng khác nhau ở hai miền: cách mạng xã hội chủ nghĩa ở
miền Bắc và cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân ở miền Nam, nhằm thực hiện mục
tiêu chung trước mắt của cả nước là giải phóng miền Nam, hoà bình, thống nhất
Tổ quốc, đưa cả nước tiến lên xây dựng chủ nghĩa xã hội.
Trong
công cuộc đổi mới đất nước, hội nhập quốc tế hiện nay, dưới ánh sáng của chủ
nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, nước ta đã vươn lên trở thành nước
đang phát triển, có thu nhập trung bình; văn hoá, xã hội tiếp tục phát triển,
đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân được cải thiện; công tác xây dựng
Đảng và hệ thống chính trị có bước đột phá; khối đại đoàn kết toàn dân tộc
không ngừng được củng cố; chính trị, xã hội ổn định; quốc phòng - an ninh, độc
lập, chủ quyền được giữ vững; vị thế và uy tín của đất nước ngày càng được nâng
cao trên trường quốc tế. Đến nay, Việt Nam đã tham gia hầu hết các tổ chức quốc
tế, trở thành một thành viên tích cực, có trách nhiệm trong các hoạt động của
cộng đồng quốc tế. Thêm một lần nữa khẳng định sức sống mãnh liệt và giá trị vô
cùng to lớn của tư tưởng Hồ Chí Minh đối với cách mạng Việt Nam.
Không
chỉ nhân dân Việt Nam mà nhân dân tiến bộ trên thế giới còn ca ngợi, công nhận
tư tưởng và những cống hiến của Hồ Chí Minh đã có quyết định đối với sự phát
triển của cách mạng Việt Nam và góp phần vào sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân
tộc, giải phóng giai cấp, giải phóng con người vì hòa bình, độc lập dân tộc,
dân chủ và tiến bộ xã hội. Ngay từ năm 1970, nhà triết học Nhật Bản Singô
Sibata đã viết cuốn sách có tiêu đề “Hồ Chí Minh, nhà tư tưởng” và cho rằng:
“Nguồn gốc thắng lợi của Việt Nam, trong một mức độ lớn, bắt nguồn từ trình độ
cao của triết học và lý luận mà nhân dân Việt Nam đạt được”. Báo chí Cuba coi
“Hồ Chí Minh là một trong những nhà tư tưởng vĩ đại nhất của thời đại chúng
ta”. Cựu Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Mỹ Gớt Hôn thì cho rằng: “Đồng chí Hồ Chí
Minh là một lãnh tụ và là một nhà tư tưởng Mácxít - Lêninnít vĩ đại của thế
giới... Cả loài người sẽ đời đời trân trọng giữ gìn những cống hiến của Người
vào kho tàng của chủ nghĩa Mác”. Còn UNESCO thì khẳng định: “Tư tưởng Hồ Chí
Minh là hiện thân khát vọng của các dân tộc trong việc bảo vệ bản sắc dân tộc
của mình và tiêu biểu cho sự thúc đẩy hiểu biết lẫn nhau”./.
Giá trị thời đại của Tư tưởng Hồ Chí Minh
Với Mác, ý nghĩa thời đại của học thuyết cách
mạng và khoa học diễn ra trực diện và phù hợp với những nước phát triển chủ
nghĩa tư bản. Với Lênin, thời đại tập trung ở ý nghĩa đấu tranh giữa giai cấp
công nhân và chủ nghĩa tư bản. Chủ tịch Hồ Chí Minh tiếp thu Chủ nghĩa
Mác-Lênin ở phương pháp luận biện chứng và nhân sinh quan tất cả vì con người,
cho con người và do con người; nhưng tập trung hơn vào lý tưởng giải phóng con
người thoát khỏi áp bức, bóc lột và nghèo nàn, lạc hậu. Chính vì vậy, Tư tưởng
Hồ Chí Minh không chỉ có giá trị đối với nước ta mà còn mang giá trị thời đại.
Phản ánh khát vọng thời
đại
Ngay trong những năm 20 của thế kỷ XX, trong quá trình hình
thành, Tư tưởng Hồ Chí Minh đã thể hiện khát vọng chung của các dân tộc bị áp
bức trên thế giới. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã thấy thế giới là thống nhất, không
chỉ gồm các nước tư bản phát triển mà cả nhân loại cần lao đang cần được giải
phóng khỏi áp bức, bóc lột, khỏi nghèo nàn, lạc hậu để có cuộc sống thật sự ấm
no, hạnh phúc, cuộc sống đúng với ý nghĩa của nó. Những nhận thức sâu sắc và
độc đáo về mối quan hệ chặt chẽ giữa vấn đề dân tộc và vấn đề giai cấp trong
cách mạng giải phóng dân tộc theo con đường cách mạng vô sản phản ánh khát vọng
độc lập, tự do của các dân tộc trên thế giới trong giai đoạn đế quốc chủ nghĩa.
Phát hiện quan trọng nữa của Tư tưởng Hồ Chí Minh là đã hình
thành một hệ thống luận điểm chính xác và đúng đắn về con đường đi lên chủ
nghĩa xã hội ở những nước chưa phát triển như Việt Nam, không chỉ là đấu tranh
giai cấp mà trước hết và trên hết phải tạo ra việc làm cho người lao động, làm
sao cho dân giàu, nước mạnh, nhân dân được tự do, hạnh phúc. Đó là con đường
phấn đấu lâu dài, gian khổ, liên tục trên mọi phương diện từ kinh tế, chính trị
đến văn hóa và xã hội, y tế và giáo dục.
Khơi dậy phong trào yêu
nước, giải phóng dân tộc
Đóng góp lớn nhất của Tư tưởng Hồ Chí Minh đối với thời đại là
đã chỉ ra con đường cách mạng, tiếp theo đó là phương pháp để thức tỉnh những
người bị áp bức ở các nước thuộc địa và phụ thuộc. Ngay từ rất sớm, Người đã
nhận thức đúng sự biến chuyển của thời đại, đặt cách mạng giải phóng dân tộc
thuộc địa vào phạm trù cách mạng vô sản và hoạt động không mệt mỏi cho phong
trào cách mạng thế giới. Trong đó, Người đã chỉ ra khả năng to lớn, vai trò
chiến lược của cách mạng giải phóng dân tộc ở thuộc địa đối với cách mạng vô
sản và phong trào cách mạng thế giới nói chung.
Tư tưởng Hồ Chí Minh đã chỉ ra đường lối chiến lược, sách lược
và phương pháp cách mạng đúng đắn cho sự nghiệp cứu nước, giải phóng dân tộc
Việt Nam. Từ kinh nghiệm của cách mạng Việt Nam, Người đi đến khẳng định bài
học chung của các dân tộc là: “...Trong thời đại đế quốc chủ nghĩa, ở một nước
thuộc địa nhỏ, với sự lãnh đạo của giai cấp vô sản và đảng của nó, dựa vào quần
chúng nhân dân rộng rãi, trước hết là nông dân và đoàn kết được mọi tầng lớp
nhân dân yêu nước trong mặt trận thống nhất, với sự đồng tình và ủng hộ của
phong trào cách mạng thế giới (...), nhân dân nước đó nhất định thắng lợi”.
Bằng cách đó, Tư tưởng Hồ Chí Minh đã góp phần khơi dậy các phong trào yêu
nước, giải phóng dân tộc cho các dân tộc thuộc địa và bị áp bức trên toàn thế
giới. Cuộc đời hoạt động cách mạng phong phú của Người là tấm gương sáng cổ vũ
các dân tộc trên thế giới tham gia cuộc đấu tranh vì độc lập dân tộc, hòa bình
và tiến bộ xã hội. Chính vì vậy mà năm 1987, chuẩn bị kỷ niệm 100 năm Ngày sinh
của Người, Tổ chức Giáo dục-Khoa học và Văn hóa của Liên hợp quốc (UNESCO) đã
vinh danh Bác là Anh hùng Giải phóng dân tộc, nhà văn hóa kiệt xuất.
Sự nghiệp đấu tranh cách mạng và công cuộc đổi mới của đất nước
ta thực hiện theo Tư tưởng Hồ Chí Minh đã giành được những thành tựu to lớn, có
ý nghĩa lịch sử, cổ vũ cuộc đấu tranh chung của nhân loại tiến bộ vì hòa bình,
độc lập dân tộc và tiến bộ xã hội. Từ rất lâu, nhân loại tiến bộ trên thế giới,
nhất là những trí thức lớn, những chính khách giàu lòng bác ái đã từng ca ngợi
và bày tỏ sự khâm phục tư tưởng và tấm gương đạo đức của Bác. Giá trị nhân văn
và phát triển của tư tưởng của Người là cơ sở để Đảng ta xây dựng chủ trương,
đường lối phát triển kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội, đối ngoại... nhằm xây
dựng một nước Việt Nam phát triển, hướng tới con người, do con người và vì con
người./.
Tuyên truyền kỷ niệm 134 năm ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh (19/5/1890 – 19/5/2024)
1. Thân thế và thuở thiếu thời của Chủ tịch Hồ Chí Minh trước
khi ra đi tìm đường cứu nước
Chủ tịch Hồ Chí Minh (lúc nhỏ tên là Nguyễn Sinh Cung, lớn lên
đi học lấy tên là Nguyễn Tất Thành, hoạt động cách mạng lấy tên là Nguyễn Ái
Quốc) sinh ngày 19/5/1890 trong một gia đình nhà nho yêu nước, tại làng Hoàng
Trù, xã Chung Cự, tổng Lâm Thịnh, nay thuộc xã Kim Liên, huyện Nam Đàn, tỉnh
Nghệ An. Thân phụ là Nguyễn Sinh Sắc, thân mẫu là Hoàng Thị Loan.
Từ lúc sinh ra đến 5 tuổi, Nguyễn Sinh Cung sống trong sự chăm
sóc đầy tình thương yêu của gia đình, đặc biệt là ông bà ngoại. Năm 1895,
Nguyễn Sinh Cung theo gia đình vào sống ở Huế. Đầu năm 1901, sau khi thân
mẫu qua đời, Người theo cha trở về Nghệ An, rồi lấy tên là Nguyễn Tất
Thành, tích cực học chữ Hán và còn theo cha đi một số nơi, học thêm nhiều điều.
Năm 1906, Nguyễn Tất Thành theo cha vào Huế, thời gian đầu học trường
Pháp - Việt, sau học trường Quốc học Huế. Tháng 6/1909, Nguyễn Tất Thành
theo cha vào Bình Định, tháng 8/1910 vào Phan Thiết, Bình Thuận làm
giáo viên trường Dục Thanh. Tháng 02/1911, Nguyễn Tất Thành vào Sài Gòn.
2. Quá trình hoạt động cách mạng
2.1. Giai đoạn1911 - 1920
Sinh ra và lớn lên trong một gia đình nhà nho yêu nước, ở một
làng quê giàu truyền thống lịch sử, văn hóa và cách mạng; chứng kiến cảnh nước
mất nhà tan, Người đã sớm hun đúc ý chí và khát vọng cháy bỏng giành độc
lập tự do cho dân, cho nước. Ngày 5/6/1911 với tên gọi mới là Văn Ba, Người
đã lên tàu Amiran Latusơ Tơrêvin, rời bến cảng Nhà Rồng đi Mác xây (Pháp).
Từ năm 1912 -1917, Nguyễn Tất Thành đi qua một số nước châu Phi,
châu Mỹ. Giữa năm 1913, Người đến nước Anh, tham gia nhiều hoạt động, cuối năm
1917 Người mới trở lại nước Pháp.
Đầu năm 1919, Nguyễn Tất Thành tham gia Đảng Xã hội Pháp, tháng
6/1919 thay mặt Hội những người yêu nước Việt Nam tại Pháp gửi bản yêu sách gồm
08 điểm (ký tên Nguyễn Ái Quốc) tới Hội nghị các nước đế quốc họp ở
Véc-xây (Pháp), đòi chính phủ các nước họp Hội nghị phải thừa nhận
các quyền tự do, dân chủ và quyền bình đẳng của dân tộc Việt Nam.
Tháng 7/1920, Nguyễn Ái Quốc đọc được Luận cương của Lênin về
vấn đề dân tộc và thuộc địa.
Tháng 12/1920, Nguyễn Ái Quốc tham gia Đại hội Đảng Xã hội Pháp.
Tại đây, Người đã bỏ phiếu tán thành Quốc tế III và tham gia thành lập Đảng
Cộng sản Pháp, trở thành người Cộng sản đầu tiên của Việt Nam.
2.2. Giai đoạn 1921 - 1930
Từ năm 1921 đến tháng 6/1923, Nguyễn Ái Quốc tham gia nhiều hoạt
động: thành lập Hội Liên hiệp các dân tộc thuộc địa, dự Đại hội lần thứ I và
lần thứ II của Đảng Cộng sản Pháp, sinh hoạt trong Câu lạc bộ Phôbua, làm Chủ
nhiệm kiêm chủ bút Báo Người cùng khổ...
Ngày 13/6/1923, Người rời nước Pháp đi Đức và đến thành phố
Xanhpêtécbua (Liên Xô) ngày 30/6/1923.
Từ tháng 7/1923 đến tháng 10/1924, Nguyễn Ái Quốc tích cực hoạt
động trong phong trào cộng sản quốc tế, bổ sung và phát triển lý luận về cách
mạng thuộc địa. Người hoạt động trong Quốc tế Nông dân; tham dự Đại hội II Quốc
tế Công hội đỏ, Đại hội Quốc tế Cộng sản Thanh niên; tiếp tục viết nhiều sách
báo tuyên truyền cách mạng, hoàn thành tác phẩm Bản án chế độ thực dân Pháp;
học tập tại trường Đại học phương Đông; tham gia Đại hội lần thứ V Quốc tế Cộng
sản và được chỉ định là cán bộ Ban phương Đông Quốc tế Cộng sản.
Tháng 11/1924, Nguyễn Ái Quốc rời Liên Xô về Quảng Châu (Trung
Quốc). Tháng 6/1925, Người thành lập Hội Việt Nam cách mạng Thanh niên, trực
tiếp mở các lớp huấn luyện cán bộ, ra Báo Thanh niên (1925), tờ báo cách mạng
đầu tiên của Việt Nam nhằm truyền bá chủ nghĩa Mác - Lênin về Việt Nam, chuẩn
bị cho việc thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam. Các bài giảng của Nguyễn Ái
Quốc được tập hợp và in thành tác phẩm Đường Cách mệnh, được xuất bản vào năm
1927.
Hè năm 1927, Nguyễn Ái Quốc rời Trung Quốc đi Liên Xô, sau đó đi
Đức (tháng 11/1927) rồi bí mật sang Pháp, đến nước Bỉ dự cuộc họp của Đại hội
đồng liên đoàn chống đế quốc (tháng 12/1927), rồi quay lại Đức, đi Thụy Sỹ,
sang Italia. Tháng 7/1928, Nguyễn Ái Quốc tới Xiêm (Thái Lan), rồi trở lại
Trung Quốc vào cuối năm 1929.
Từ ngày 06/1 đến ngày 07/2/1930 tại Cửu Long (Hương Cảng, Trung
Quốc), Nguyễn Ái Quốc chủ trì Hội nghị hợp nhất các tổ chức cộng sản,
thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam.
2.3. Giai đoạn 1930 - 1945
Từ năm 1930 đến năm 1941, tuy hoạt động ở nước ngoài nhưng
Nguyễn Ái Quốc vẫn chỉ đạo sát sao phong trào cách mạng trong nước. Tháng
6/1931, Người bị nhà cầm quyền Anh bắt giam ở Hồng Kông. Cuối năm 1932, Người
được trả tự do, sau đó đến Liên Xô học tại trường Quốc tế Lênin.
Tháng 10/1938, Người rời Liên Xô đến Diên An (Trung Quốc) làm
việc tại Bộ chỉ huy Bát lộ quân, sau đó bắt liên lạc với tổ chức Đảng, chuẩn bị
về nước trực tiếp chỉ đạo cách mạng Việt Nam.
Ngày 28/1/1941, sau hơn 30 năm xa Tổ quốc, Nguyễn Ái Quốc trở về
nước (tại cột mốc 108 thuộc xã Trường Hà, Hà Quảng, Cao Bằng).
Từ ngày 10 đến ngày 19/5/1941, Nguyễn Ái
Quốc chủ trì Hội nghị lần thứ VIII của Trung ương Đảng Cộng sản Đông Dương tại
Khuổi Nặm (Pắc Bó, Cao Bằng). Hội nghị đã xác định đường lối đấu
tranh giải phóng dân tộc, chỉ đạo thành lập Mặt trận Việt Minh, sáng lập Báo
Việt Nam Độc lập, tổ chức lực lượng vũ trang giải phóng, xây dựng căn cứ địa
cách mạng.
Tháng 8/1942, lấy tên là Hồ Chí Minh, Người đại diện cho Mặt
trận Việt Minh và Phân hội Việt Nam thuộc Hiệp hội Quốc tế chống xâm lược sang
Trung Quốc bắt liên lạc với Đồng minh, cùng phối hợp hành động chống phát
xít trên chiến trường Thái Bình Dương. Người bị chính quyền địa phương của
Tưởng Giới Thạch bắt giam trong các nhà lao của tỉnh Quảng Tây (Trung
Quốc). Trong thời gian bị giam giữ, Người viết cuốn Nhật ký trong tù. Tháng
9/1943, Người được thả tự do.
Tháng 9/1944, Hồ Chí Minh trở về căn cứ Cao Bằng. Tháng 12/1944,
Hồ Chí Minh chỉ thị thành lập Đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân,
tiền thân của Quân đội Nhân dân Việt Nam.
Tháng 5/1945, Hồ Chí Minh từ Cao Bằng về Tân Trào
(Tuyên Quang). Tại đây theo đề nghị của Người, Hội nghị toàn quốc của Đảng
và Đại hội Quốc dân đã họp quyết định Tổng khởi nghĩa. Đại hội Quốc dân đã bầu
ra Uỷ ban giải phóng dân tộc Việt Nam (tức Chính phủ lâm thời) do Hồ Chí Minh
làm Chủ tịch.
Tháng 8/1945, Hồ Chí Minh cùng Trung ương Đảng lãnh đạo nhân dân
khởi nghĩa giành chính quyền thắng lợi.
Ngày 02/9/1945 tại Quảng trường Ba Đình, Hà Nội, Người đọc Tuyên
ngôn độc lập, khai sinh nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (nay là Cộng hòa xã hội
chủ nghĩa Việt Nam).
2.4. Giai đoạn 1945 - 1954
Những năm 1945 - 1946, Người cùng Trung ương Đảng lãnh đạo Nhân
dân xây dựng và bảo vệ chính quyền cách mạng non trẻ, đối phó với thù trong,
giặc ngoài, đưa cách mạng Việt Nam vượt qua tình thế “ngàn cân treo sợi
tóc"; tổ chức Tổng tuyển cử trong cả nước, bầu Quốc hội và thông qua Hiến
pháp dân chủ đầu tiên của Việt Nam. Quốc hội khóa I (1946) đã bầu Người làm Chủ
tịch nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.
Ngày 02/03/1946, Chính phủ Liên hiệp kháng chiến được thành lập
do Hồ Chí Minh làm Chủ tịch.
Ngày 03/11/1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh được Quốc hội giao nhiệm
vụ thành lập Chính phủ mới do Người làm Chủ tịch nước kiêm Thủ tướng Chính phủ
(từ tháng 11/1946 - đến tháng 9/1955) và kiêm Bộ trưởng Bộ Ngoại giao.
Đại hội lần thứ II của Đảng (1951), Người được bầu làm Chủ tịch
Ban Chấp hành Trung ương Đảng Lao động Việt Nam. Dưới sự lãnh đạo của Đảng và
Chủ tịch Hồ Chí Minh, nhân dân Việt Nam đã giành thắng lợi vẻ vang
trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược, mà đỉnh cao là Chiến thắng
Điện Biên Phủ năm 1954 lừng lẫy năm châu, chấn động địa cầu, đưa miền Bắc
đi lên xây dựng chủ nghĩa xã hội.
2.5. Giai đoạn 1954 - 1969
Sau chiến thắng Điện Biên Phủ, Hiệp định Giơ-ne-vơ được
ký kết. Quân Pháp rút về nước, miền Bắc nước ta được hoàn toàn giải
phóng. Theo Hiệp định Giơ-ne-vơ, sau 2 năm sẽ tổ chức Tổng
tuyển cử thống nhất nước Việt Nam. Nhưng đế quốc Mỹ với ý đồ xâm lược Việt Nam
từ lâu, đã lợi dụng cơ hội, gạt Pháp ra, nhảy vào tổ chức, chỉ huy ngụy quyền,
ngụy quân tay sai, viện trợ kinh tế quân sự, biến miền Nam thành thuộc địa kiểu
mới, chia cắt lâu dài nước ta. Cả dân tộc ta lại bước vào cuộc chiến đấu chống
xâm lược mới. Trước bối cảnh đó, Trung ương Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh tiếp
tục lãnh đạo nhân dân thực hiện đồng thời hai nhiệm vụ chiến lược: Cách mạng xã
hội chủ nghĩa ở miền Bắc và cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân ở miền Nam, thực
hiện giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước.
Tháng 10 /1956, tại Hội nghị Trung ương Đảng mở rộng lần thứ X
(khóa II), Chủ tịch Hồ Chí Minh được cử giữ chức Chủ tịch Đảng.
Tại Đại hội lần thứ III của Đảng (1960), Người được bầu lại làm
Chủ tịch Ban Chấp hành Trung ương Đảng Lao động Việt Nam. Quốc hội khóa II,
khóa III bầu Người làm Chủ tịch nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, nay là nước
Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
Cùng với Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Chủ tịch Hồ Chí Minh đề
ra đường lối đúng đắn, lãnh đạo cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước và công cuộc
cải tạo, xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc thắng lợi; đặt nền móng và không
ngừng vun đắp tình hữu nghị giữa dân tộc Việt Nam với các dân tộc trên thế
giới, giữa Đảng Lao động Việt Nam (nay là Đảng Cộng sản Việt Nam) với các Đảng
Cộng sản và phong trào công nhân quốc tế.
Ngày 02/9/1969, Chủ tịch Hồ Chí Minh qua đời là tổn thất vô cùng
lớn lao. Đồng bào và chiến sĩ cả nước ta thương nhớ Người khôn xiết. Sự ra
đi của Người để lại muôn vàn tình thương yêu cho toàn Đảng, toàn dân tộc
Việt Nam và tình đoàn kết thân ái với nhân dân tiến bộ trên thế giới.
Chủ tịch Hồ Chí Minh đã cống hiến trọn đời mình cho sự
nghiệp cách mạng của Đảng ta, dân tộc ta, nhân dân ta và vì hòa
bình, tiến bộ xã hội trên thế giới. Người đã trải qua một cuộc đời oanh liệt,
đầy gian khổ hy sinh, vô cùng cao thượng và phong phú, vô cùng trong sáng và
đẹp đẽ. Cuộc đời và sự nghiệp cách mạng vĩ đại của Chủ tịch Hồ Chí Minh
mãi là tấm gương sáng ngời cho lớp lớp thế hệ người Việt Nam học tập và noi
theo. Tên tuổi và sự nghiệp của Chủ tịch Hồ Chí Minh sẽ còn mãi với non sông
đất nước, sống mãi trong lòng mỗi chúng ta./.
BÓC MẼ THỦ ĐOẠN XUYÊN TẠC TÊN TUỔI HỒ CHÍ MINH!
Siết chặt kỷ luật đảng và phép nước: Vị trí càng cao, trách nhiệm càng lớn
Đảng, Nhà nước đã có quy định về trách nhiệm cá nhân trước tập thể từ phía cán bộ, đảng viên, người đứng đầu cơ quan, đơn vị dựa trên nguyên tắc vị trí càng cao thì trách nhiệm càng lớn.
Lời Bác dạy ngày 13/5/1955
“Việc gì cũng phải có lãnh đạo thì mới thành công”.
“THI ĐUA LÀ YÊU NƯỚC, YÊU NƯỚC THÌ PHẢI THI ĐUA. VÀ NHỮNG NGƯỜI THI ĐUA LÀ NHỮNG NGƯỜI YÊU NƯỚC NHẤT”
Đó là lời huấn thị của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong bài phát biểu khai mạc Đại hội các chiến sĩ thi đua và cán bộ gương mẫu toàn quốc, ngày 1-5-1952.




