Chủ Nhật, 12 tháng 5, 2024

BÁC BỎ LUẬN ĐIỆU PHỦ NHẬN CÔNG BẰNG XÃ HỘI TRONG NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG ĐỊNH HƯỚNG XÃ HỘI CHỦ NGHĨA Ở VIỆT NAM HIỆN NAY!

     Thời gian qua, trên mạng xã hội xuất hiện những ý kiến của thế lực thù địch, cơ hội chính trị cho rằng, chỉ có kinh tế thị trường (KTTT) tư bản chủ nghĩa (TBCN) mới bảo đảm công bằng xã hội, còn với chủ nghĩa xã hội (CNXH) chỉ có sự “bình quân, cào bằng” và “bất công xã hội”. Từ đó, họ ra sức phủ nhận nền KTTT định hướng xã hội chủ nghĩa (XHCN) ở Việt Nam. Đây là luận điệu xuyên tạc sai trái cần đấu tranh bác bỏ!

Nhận rõ bản chất “công bằng xã hội” trong phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa
Theo quan điểm của Chủ nghĩa Mác-Lênin, công bằng xã hội xét đến cùng lệ thuộc vào quan hệ sở hữu. Hay nói cách khác, công bằng trong quan hệ sở hữu là nền tảng của công bằng xã hội. Các nhà kinh điển mác-xít đã bóc trần bản chất của cái gọi là công bằng xã hội trong phương thức sản xuất TBCN. Thực chất, đó là thứ công bằng chỉ dành cho số ít người nắm trong tay quyền chiếm hữu tư nhân về tư liệu sản xuất trong xã hội tư bản.

Xã hội TBCN dựa trên chế độ chiếm hữu tư nhân về tư liệu sản xuất, nghĩa là nó chứa đựng và xác lập địa vị thống trị của quan hệ bất bình đẳng về sở hữu tư liệu sản xuất, đương nhiên dẫn đến bất bình đẳng trong phân phối các nguồn lực “đầu vào” và thành quả “đầu ra” của quá trình phát triển. Nó không thể tiến tới sự bảo đảm cho công bằng xã hội đúng nghĩa.

Lịch sử phát triển của chủ nghĩa tư bản (CNTB) cũng như tiến trình giải quyết các cuộc khủng hoảng dưới chế độ TBCN cho thấy, phát triển KTTT TBCN luôn gắn liền với quản lý, điều hành, thậm chí sự can thiệp thô bạo của nhà nước tư sản vào các quá trình kinh tế, để bảo đảm cho thực hiện các mục tiêu tối thượng là thỏa mãn lợi ích của nhà tư bản và lợi ích của giai cấp tư sản.

Trong những thập niên đầu thế kỷ 21, CNTB đã có những điều chỉnh, thích nghi thông qua thực hiện một số thay đổi trong chế độ sở hữu, tổ chức quản lý sản xuất và phân phối thông qua các quỹ phúc lợi xã hội. Từ đó đã xuất hiện quá trình hữu sản hóa giai cấp lao động làm thuê, xuất hiện một số hình thức tổ chức quản lý và phân phối mới. Sự điều chỉnh, thích nghi đó đã làm xuất hiện những vấn đề mới về phương diện lý luận cũng như thực tiễn mà Chủ nghĩa Mác-Lênin do những điều kiện lịch sử nên chưa thể đề cập tới một cách đầy đủ và toàn diện. Từ đó đã làm cho một số người lầm tưởng rằng CNTB không còn bóc lột, đã thay đổi bản chất; rằng CNTB sẽ tự động phát triển lên CNXH.

Tuy nhiên, giới hạn của sự biến đổi thích nghi của CNTB không thể vượt qua chế độ chiếm hữu tư nhân về tư liệu sản xuất. Trước sức ép từ đấu tranh của giai cấp công nhân và nhân dân lao động đã buộc nhà tư bản phải chuyển hóa tư bản tư nhân thành tư bản tập thể, hình thành những công ty cổ phần. Đây là cách thức nhằm huy động vốn, tạo nên sự tích tụ, tập trung tư bản, giúp nhà tư bản giành lợi thế trong cạnh tranh. Nó cho phép một số người lao động có tiền nhàn rỗi có thể đầu tư vào sản xuất thông qua cổ phần, cổ phiếu và thu lợi tức, cổ tức. Nhưng điều đó không thể thủ tiêu lợi nhuận mà nhà tư bản thu được qua bóc lột giá trị thặng dư. Bởi trên thực tế, giai cấp công nhân, những người lao động chỉ chiếm giữ một tỷ lệ phần trăm rất nhỏ lượng cổ phần, cổ phiếu. Do vậy, những điều chỉnh và thích nghi không làm thay đổi bản chất bóc lột, bất công của CNTB.

Bản chất của các nền chính trị TBCN theo công thức “dân chủ tự do” phương Tây, như Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã chỉ ra, là nền dân chủ bảo vệ địa vị, lợi ích cho thiểu số giai cấp tư sản. Ở đó, “một bộ phận rất nhỏ, thậm chí chỉ là 1% dân số, nhưng lại chiếm giữ phần lớn của cải, tư liệu sản xuất, kiểm soát tới 3/4 nguồn tài chính, tri thức và các phương tiện thông tin đại chúng chủ yếu và do đó chi phối toàn xã hội... Sự rêu rao bình đẳng về quyền, nhưng không kèm theo sự bình đẳng về điều kiện để thực hiện các quyền đó đã dẫn đến dân chủ vẫn chỉ là hình thức, trống rỗng mà không thực chất”(1). Xét đến cùng, những bất công trong xã hội tư bản ngày càng gia tăng chính là hệ quả xấu từ sự phát triển của phương thức sản xuất và chế độ chính trị TBCN.

Công bằng xã hội ở Việt Nam là “không để ai bị bỏ lại phía sau”
Trung thành và phát triển sáng tạo Chủ nghĩa Mác-Lênin, Đảng ta đã có sự phát triển lý luận về mô hình phát triển KTTT định hướng XHCN để hướng tới mục tiêu của CNXH, trong đó có bảo đảm công bằng xã hội. Đảng ta khẳng định, thực hiện công bằng xã hội không chỉ dừng lại ở mục tiêu hướng đến mà còn trở thành động lực, tức là thành tố nội tại của phát triển kinh tế, để mỗi bước phát triển kinh tế là một bước thực hiện công bằng xã hội. Đó là nét đặc sắc, ưu việt của chế độ kinh tế mà nước ta đang xây dựng.

Sở dĩ phải định hướng XHCN trong nền KTTT, bởi KTTT chỉ góp phần thực hiện công bằng xã hội trong giới hạn của các quy luật thị trường, thực hiện phân chia lợi nhuận dựa trên lao động, hiệu quả kinh tế và mức góp vốn. Theo đó, người đóng góp nhiều thì hưởng nhiều, đóng góp ít thì hưởng ít. Tự thân KTTT không thể giải quyết triệt để những vấn đề bất công bằng xã hội. Để khắc phục những “thất bại” của thị trường trong việc thực hiện các mục tiêu công bằng xã hội, “bàn tay vô hình” của KTTT tất yếu phải gắn với “bàn tay hữu hình” của nhà nước. Hay nói cách khác, ở Việt Nam, KTTT định hướng XHCN là tất yếu để có thể phát huy mặt ưu điểm, khắc phục được mặt hạn chế của KTTT trong thực hiện mục tiêu công bằng xã hội.

Để thực hiện tốt công bằng xã hội, Đảng ta chỉ rõ điều kiện căn bản là phải bảo đảm công bằng trong phân phối. Theo đó, thực hiện chế độ phân phối chủ yếu theo kết quả lao động, hiệu quả kinh tế, đồng thời theo mức đóng góp vốn cùng các nguồn lực khác và phân phối thông qua hệ thống an sinh xã hội, phúc lợi xã hội. Như vậy là vừa thực hiện phân phối theo quy luật KTTT, vừa thực hiện phân phối theo phúc lợi xã hội và an sinh xã hội nhằm bảo đảm công bằng xã hội. Thực hiện chế độ phân phối chủ yếu theo kết quả lao động, hiệu quả kinh tế, đồng thời theo mức đóng góp vốn (KTTT) chính là nhằm mục đích tôn trọng quy luật kinh tế khách quan, giải phóng sức sản xuất, khơi mở, phát huy mọi tiềm năng sáng tạo và năng lực chủ quan của mỗi con người. Đồng thời và cùng với đó, thực hiện phân phối thông qua các nguồn lực khác và thông qua hệ thống an sinh xã hội, phúc lợi xã hội (định hướng XHCN) nhằm bảo đảm mức bình đẳng có thể cho những nhóm người dễ bị tổn thương và yếu thế trong xã hội.

Cách thức phân phối theo các nguồn lực khác thông qua hệ thống an sinh xã hội, phúc lợi xã hội khắc phục được những điểm yếu cốt tử của KTTT, nắn KTTT phục vụ các mục tiêu của CNXH. Đó cũng là phương thức để vừa phát triển kinh tế mạnh mẽ, vừa “giải quyết hài hòa các quan hệ xã hội, kiểm soát phân tầng xã hội và xử lý kịp thời, hiệu quả các rủi ro, mâu thuẫn, xung đột xã hội, bảo đảm trật tự, an toàn xã hội, bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng, hợp pháp của nhân dân”(2) bảo đảm an sinh xã hội, phúc lợi xã hội, phòng ngừa xu hướng tự phát chệch quỹ đạo phát triển kinh tế. Có như vậy mới bảo đảm được tính thực tiễn và bền vững của chính sách phát triển kinh tế-xã hội, phát triển kinh tế và công bằng xã hội mới được thực hiện đúng nghĩa.

Hiện nay, Việt Nam được thế giới đánh giá là một trong những quốc gia điển hình về giảm nghèo đa chiều bền vững, đầu tư hiệu quả cho phát triển y tế, giáo dục, văn hóa, việc làm, xây dựng môi trường sinh thái, cải thiện an sinh xã hội, bảo đảm phúc lợi xã hội, không những làm cho kinh tế phát triển mà còn bảo đảm thực hiện tốt công bằng xã hội. Sau gần 10 năm thực hiện Nghị quyết Trung ương 5 (khóa XI) về một số vấn đề chính sách xã hội giai đoạn 2012-2020, các chỉ tiêu đều đạt và vượt mục tiêu nghị quyết đề ra. Trong tổng số 26 chỉ tiêu có 5 chỉ tiêu vượt và hoàn thành trước thời hạn; 16 chỉ tiêu đạt mục tiêu vào năm 2020. Tỷ lệ hộ nghèo từ gần 60% vào năm 1986 giảm xuống còn dưới 3% vào năm 2022; tổng sản phẩm trong nước (GDP) bình quân đầu người tăng từ 86USD năm 1986 lên 4.110USD năm 2022. Người dân tiếp cận ngày càng tốt hơn các dịch vụ xã hội cơ bản, như về nhà ở, đến năm 2020, Nhà nước đã hỗ trợ chỗ ở cho 648.000 hộ nghèo nông thôn, 323.000 căn nhà cho người nghèo, người có hoàn cảnh khó khăn. Trong 3 năm phòng, chống dịch Covid-19 (2020-2022), Chính phủ và các cấp, các ngành, các địa phương đã hỗ trợ với số tiền hơn 120.000 tỷ đồng và trên 200.000 tấn gạo hỗ trợ cho hơn 68 triệu lượt người dân, người lao động gặp khó khăn. Hiện có trên 1,2 triệu người có công và thân nhân đang hưởng chế độ ưu đãi hằng tháng; 98,6% gia đình người có công có mức sống bằng hoặc cao hơn mức sống trung bình trên địa bàn. 

Liên hợp quốc cũng đã công nhận Việt Nam là một trong những nước đi đầu trong việc hiện thực hóa các mục tiêu thiên niên kỷ. Những thành tựu đạt được đã khẳng định bản chất tốt đẹp, ưu việt của chế độ xã hội XHCN mà chúng ta đang xây dựng. Đảng, Nhà nước ta nhiều lần khẳng định quan điểm nhất quán: Nhân dân là trung tâm, là chủ thể phát triển kinh tế-xã hội, đồng thời là người trực tiếp được thụ hưởng những thành quả phát triển kinh tế-xã hội, không để ai bị bỏ lại phía sau.

Để bảo đảm công bằng xã hội trong nền KTTT định hướng XHCN ở Việt Nam, Nghị quyết Đại hội XIII tiếp tục chủ trương đẩy mạnh phát triển kinh tế gắn với thực hiện công bằng xã hội; xử lý hài hòa mối quan hệ giữa phát triển kinh tế và thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội ngay trong từng bước và từng chính sách phát triển. Tập trung hoàn thiện quan hệ phân phối, khuyến khích làm giàu chính đáng, thực hiện có hiệu quả các chính sách xã hội đúng đắn, tạo động lực mạnh mẽ phát huy mọi tiềm năng, sức sáng tạo của con người. Bảo đảm tính thực tiễn và tính ổn định, tính bền vững, phù hợp của chính sách xã hội, tạo địa bàn và nguồn lực thuận lợi cho kinh tế phát triển. 

Tựu trung lại, nhận thức về công bằng xã hội trong nền KTTT định hướng XHCN ở Việt Nam hiện nay cần có quan điểm khách quan, cái nhìn lịch sử, cụ thể trong đánh giá, không mắc vào cái nhìn phiến diện, méo mó, lệch lạc và các mưu đồ chính trị của các nhà “dân chủ”, “nhân quyền”, những người "mượn" cớ đấu tranh cho công bằng, tiến bộ xã hội nhằm mục đích chống phá Đảng, Nhà nước và chế độ XHCN. Chỉ có trên quan điểm như vậy mới có thể so sánh, đánh giá thành tựu, khẳng định tính ưu việt trong phát triển, tăng trưởng kinh tế với tiến bộ, công bằng xã hội ở nước ta hiện nay./.
------------------------
(1) Nguyễn Phú Trọng, "Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam", Nxb Chính trị Quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2022, tr.21.
(2) Đảng Cộng sản Việt Nam, "Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII", Nxb Chính trị Quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2021, tập 1, tr.148.
Môi trường ST.

HỌC AI? AI HỌC?

 

            Chủ tịch Hồ Chí Minh, vị lãnh tụ kính yêu của dân tộc đã hiến dâng trọn đời mình cho dân, cho nước, cho sự nghiệp cách mạng của dân tộc. Học tập, làm theo tấm gương của Người là niềm vinh dự, tự hào đối với mỗi cán bộ, đảng viên, mỗi người dân Việt Nam.

           Trước tình hình suy thoái tư tưởng chính trị, phẩm chất, đạo đức, lối sống và nạn tham nhũng đáng lo ngại trong một bộ phận cán bộ, lãnh đạo, đảng viên gần đây đã ảnh hưởng rất lớn đến vai trò lãnh đạo, uy tín của Đảng và sự tồn vong của chế độ; Bộ Chính trị ban hành Chỉ thị số 05-CT/TW, ngày 15-5-2016 về đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh” gắn với Nghị quyết số 04-NQ/TW, ngày 30-10-2016, của BCHTW về tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng; ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” có ý nghĩa cực kỳ quan trọng; nhận được sự đồng tình ủng hộ của nhân dân; được triển khai sâu rộng trong toàn Đảng. Rất tiếc, kết quả đạt được còn hạn chế, phần nhiều mang tính hình thức. Trước hết, Bác Hồ không những là lãnh tụ vĩ đại của dân tộc mà còn là vĩ nhân của thế giới. Học tập và làm theo tấm gương của người là cực kỳ khó đối với người dân Việt Nam. Học tập và làm theo tấm gương của Bác trước hết phải là người đứng đầu Đảng, Nhà nước, Quốc hội, bộ, ngành, địa phương chứ không phải chỉ đảng viên, công chức, dân thường. Làm lãnh đạo mà suy thoái phẩm chất chính trị, tư tưởng, đạo đức, lối sông; vi phạm những điều Đảng viên không được làm; thiếu nêu gương thì sao dạy dỗ cấp dưới, bắt cấp dưới noi theo.
        Cần phải nghiêm trị loại bỏ các phần tử thoái hoá, biến chất đó ra khỏi hệ thống chính trị càng nhanh càng tốt. Chậm một ngày chúng sẽ trở thành nguy cơ cho Đảng, cho đất nước, cho chế độ. Chúng ăn trộm mà không nói là trôm; cướp mà không nói là cướp; ăn bẩn mà nói mình trong sạch; ở ác mà dạy đạo đức cho người khác thì sao dân tin, dân học được? Chúng không học và làm theo Bác thi sao bắt dân?

Không thể phủ nhận giá trị, sức sống tư tưởng Hồ Chí Minh

 


Cứ vào dịp cả nước kỷ niệm Ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh (ngày 19/5) trên một số diễn đàn, trang mạng xã hội của các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị lại tung ra những luận điệu sai trái, xuyên tạc về thân thế, sự nghiệp, tư tưởng của Người.

Do vậy, việc nhận diện, phản bác luận điệu sai trái, xuyên tạc không chỉ góp phần bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng mà còn khẳng định sức sống, giá trị tư tưởng Hồ Chí Minh. Đồng thời, đó còn là trách nhiệm, lương tâm, tình cảm đối với lãnh tụ vĩ đại của Đảng và dân tộc Việt Nam.

Luận điệu sai trái, xuyên tạc

Một số hội nhóm, tổ chức, cá nhân phản động, bất mãn lấy danh nghĩa là “nghiên cứu cuộc đời, sự nghiệp và tư tưởng Hồ Chí Minh” đưa ra luận điệu: “thực chất Hồ Chí Minh là người theo chủ nghĩa dân tộc”, “chủ nghĩa dân tộc trong tư tưởng Hồ Chí Minh là chủ nghĩa dân tộc hẹp hòi”. Họ giải thích tư tưởng Hồ Chí Minh chỉ là tư tưởng cách mạng giải phóng dân tộc, không có tư tưởng đấu tranh giai cấp, không có tư tưởng về cách mạng xã hội chủ nghĩa. Từ đó, họ ngụy biện rằng, Hồ Chí Minh không phải là người theo chủ nghĩa cộng sản; tư tưởng Hồ Chí Minh đối lập với chủ nghĩa Mác-Lênin, đối lập với đường lối của Đảng Cộng sản Việt Nam vì tư tưởng Hồ Chí Minh là chủ nghĩa dân tộc, còn đường lối của Đảng là theo tư tưởng đấu tranh giai cấp…

Đây thực chất là một cách diễn đạt sai lệch. Cách diễn đạt này dù vô tình hay hữu ý đã bỏ qua tính giai cấp, làm mờ đi lập trường, quan điểm giai cấp của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong nhận thức và giải quyết vấn đề dân tộc ở Việt Nam. Với cách diễn đạt ấy đã tước bỏ tính đảng và lập trường cách mạng chân chính trong tư tưởng Hồ Chí Minh, thực chất là để phủ nhận tư tưởng của Người.

Thậm chí, những kẻ chống phá, cơ hội cố tình bóp méo, xuyên tạc tư tưởng Hồ Chí Minh, đối lập tư tưởng Hồ Chí Minh với chủ nghĩa Mác - Lênin, chia rẽ, phá vỡ từng bộ phận cấu thành trong nền tảng tư tưởng của Đảng hiện nay.

Mục đích của các thế lực thù địch nhằm để thực hiện mưu đồ chính trị chống phá Đảng ta trên lĩnh vực tư tưởng, lý luận là nhằm làm cho Đảng xa rời, từ bỏ nền tảng tư tưởng, từ bỏ thế giới quan, phương pháp luận khoa học, kim chỉ nam cho mọi hành động của Đảng, dẫn đến từ bỏ mục tiêu, lý tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội. Thực tế, nguồn gốc, quá trình hình thành và phát triển tư tưởng Hồ Chí Minh cũng như thực tiễn thắng lợi của sự nghiệp cách mạng Việt Nam dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam khẳng định tư tưởng Hồ Chí Minh thuộc hệ tư tưởng của giai cấp vô sản, là một hệ thống quan điểm toàn diện và sâu sắc về những vấn đề cơ bản của cách mạng Việt Nam, kết quả của sự vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin vào điều kiện cụ thể của nước ta, kế thừa và phát triển các giá trị truyền thống tốt đẹp của dân tộc, tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại. Đó là tài sản tinh thần vô cùng to lớn và quý giá của Đảng và dân tộc ta, mãi mãi soi đường cho sự nghiệp cách mạng của nhân dân ta giành thắng lợi.

Kế thừa, vận dụng, phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác – Lênin để giải quyết đúng đắn vấn đề dân tộc với giai cấp

Từ khi thực dân Pháp xâm lược (1858) và đặt ách thống trị ở nước ta cho đến đầu thế kỷ XX, các ngọn cờ cứu nước theo hệ tư tưởng phong kiến và tư sản đã chiến đấu rất quyết liệt và anh dũng, song tất cả đã bị đàn áp đẫm máu và thất bại. Thực tiễn đó cho thấy, không thể giải quyết vấn đề dân tộc, giành độc lập dân tộc dựa trên những quan điểm phong kiến hay tư sản.

Trong điều kiện lịch sử ấy, Nguyễn Tất Thành với lòng yêu nước, thương dân, với nhãn quan chính trị sắc sảo đã nhận thấy không thể cứu nước và giải phóng dân tộc theo con đường của các bậc tiền bối và Người đã quyết tâm ra đi tìm đường cứu nước, giải phóng dân tộc. Điểm xuất phát và là động lực tinh thần của sự ra đi tìm đường cứu nước, cứu dân của Hồ Chí Minh là chủ nghĩa yêu nước chân chính. Người đặt cho mình cái tên Nguyễn Ái Quốc là để luôn nhắc nhở bản thân và cổ vũ đồng bào mình lòng yêu nước.

Năm 1920, Nguyễn Ái Quốc đọc Sơ thảo lần thứ nhất luận cương về vấn đề dân tộc và thuộc địa của Lênin. Luận cương chỉ rõ, cách mạng giải phóng dân tộc muốn thắng lợi phải đi theo con đường cách mạng vô sản. Đó là chân lý của thời đại, là giải đáp cho điều mà Nguyễn Ái Quốc đang trăn trở, tìm tòi. Từ đây, Nguyễn Ái Quốc xác định “Muốn cứu nước và giải phóng dân tộc không có con đường nào khác con đường cách mạng vô sản” ¹ . Lúc này Người có sự chuyển biến từ chủ nghĩa yêu nước truyền thống sang chủ nghĩa yêu nước theo lập trường giai cấp vô sản. Năm 1924, Nguyễn Ái Quốc đã khẳng định, đối với các dân tộc thuộc địa ở phương Đông, “chủ nghĩa dân tộc là động lực lớn của đất nước”. Người đánh giá cao động lực của chủ nghĩa dân tộc nhưng chủ nghĩa dân tộc theo quan niệm của Người phải theo lập trường vô sản.

Tiếp thu chủ nghĩa Mác - Lênin, tự nhận là học trò của C. Mác, V.I Lênin nhưng Nguyễn Ái Quốc không thụ động mà dùng lập trường, quan điểm, phương pháp luận mác xít để vận dụng và phát triển những nguyên lý, quy luật chung của cách mạng thế giới vào đặc điểm tình hình các nước thuộc địa, trong đó có Việt Nam. Người luận giải, những luận điểm về chủ nghĩa đế quốc như một con đỉa có hai vòi; tính chủ động chủ yếu của cách mạng thuộc địa; nội dung chủ yếu của cách mạng thuộc địa; quy luật thành lập đảng ở các nước thuộc địa… Đó là những cống hiến lý luận to lớn của Người đối với phong trào cách mạng giải phóng dân tộc ở Việt Nam và trên thế giới.

Nắm vững học thuyết về cách mạng vô sản và học thuyết giai cấp, đấu tranh giai cấp của chủ nghĩa Mác - Lênin, đồng thời bám sát đặc điểm của thực tiễn Việt Nam và thế giới, Nguyễn Ái Quốc đã phát hiện ra những nét đặc thù của Việt Nam so với các quốc gia khác, đặc biệt là các nước phương Tây. Người nhận thấy, nếu như ở phương Tây, mâu thuẫn giai cấp đã trở nên sâu sắc thì ở Việt Nam, mâu thuẫn giữa toàn thể dân tộc với chủ nghĩa thực dân Pháp và bè lũ tay sai là mâu thuẫn hàng đầu, đấu tranh giải phóng dân tộc mới là vấn đề gay gắt và nóng bỏng đối với cách mạng Việt Nam chứ chưa phải là đấu tranh giai cấp như trong các xã hội tư bản chủ nghĩa phương Tây. Quan điểm này của Người được thể hiện rõ ở “Chính cương vắn tắt”, “Sách lược vắn tắt” và “Điều lệ tóm tắt” trong Hội nghị thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam năm 1930, đó là: “Làm tư sản dân quyền cách mạng và thổ địa cách mạng để đi tới xã hội cộng sản” 2. Trong đó, nhiệm vụ của cách mạng tư sản dân quyền là đánh đổ chủ nghĩa đế quốc và bọn phong kiến “làm cho nước Nam được hoàn toàn độc lập”, nhân dân được tự do, tịch thu ruộng đất của bọn đế quốc làm của công và chia cho nông dân nghèo, quốc hữu hoá toàn bộ xí nghiệp của tư bản đế quốc, lập chính phủ công - nông - binh và quân đội công nông...

Quan điểm này tiếp tục khẳng định tại Hội nghị Trung ương lần thứ 8 (Khóa I, tháng 5/1941): “Trong lúc này quyền lợi dân tộc cao hơn hết thảy... nếu không giải quyết được vấn đề dân tộc giải phóng, không đòi được độc lập tự do cho dân tộc thì chẳng những còn chịu mãi kiếp ngựa trâu mà quyền lợi của bộ phận giai cấp vạn năm cũng không đòi lại được. Đó là nhiệm vụ của Đảng ta trong vấn đề dân tộc”³.

Đây chỉ là một phần dẫn chứng nhưng đủ để cho thấy tư tưởng và hành động nhất quán để giải quyết đúng đắn, sáng tạo mối quan hệ giữa dân tộc và giai cấp; kết hợp đúng đắn đấu tranh dân tộc và đấu tranh giai cấp của Hồ Chí Minh. Chính điều đó đã thực sự trở thành chiến lược chỉ đạo toàn bộ tiến trình cách mạng Việt Nam, cũng nhờ đường lối đúng đắn đó mà đã huy động được toàn thể nhân dân Việt Nam muôn người như một chống lại kẻ thù chung, giành độc lập cho dân tộc.

Thắng lợi của cách mạng Việt Nam khẳng định giá trị, sức sống tư tưởng Hồ Chí Minh

Thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám 1945, lập nên nước Việt Nam dân chủ cộng hòa đến chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ “lừng lẫy năm châu, chấn động địa cầu”, kết thúc những năm kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược. Thời kỳ đất nước tiến hành cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (1954 -1975), Đảng Cộng sản Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh lãnh đạo toàn dân tiến hành đồng thời và kết hợp chặt chẽ hai chiến lược cách mạng khác nhau ở hai miền: cách mạng xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc và cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân ở miền Nam, nhằm thực hiện mục tiêu chung trước mắt của cả nước là giải phóng miền Nam, hoà bình, thống nhất Tổ quốc, đưa cả nước tiến lên xây dựng chủ nghĩa xã hội.

Trong công cuộc đổi mới đất nước, hội nhập quốc tế hiện nay, dưới ánh sáng của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, nước ta đã vươn lên trở thành nước đang phát triển, có thu nhập trung bình; văn hoá, xã hội tiếp tục phát triển, đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân được cải thiện; công tác xây dựng Đảng và hệ thống chính trị có bước đột phá; khối đại đoàn kết toàn dân tộc không ngừng được củng cố; chính trị, xã hội ổn định; quốc phòng - an ninh, độc lập, chủ quyền được giữ vững; vị thế và uy tín của đất nước ngày càng được nâng cao trên trường quốc tế. Đến nay, Việt Nam đã tham gia hầu hết các tổ chức quốc tế, trở thành một thành viên tích cực, có trách nhiệm trong các hoạt động của cộng đồng quốc tế. Thêm một lần nữa khẳng định sức sống mãnh liệt và giá trị vô cùng to lớn của tư tưởng Hồ Chí Minh đối với cách mạng Việt Nam.

Không chỉ nhân dân Việt Nam mà nhân dân tiến bộ trên thế giới còn ca ngợi, công nhận tư tưởng và những cống hiến của Hồ Chí Minh đã có quyết định đối với sự phát triển của cách mạng Việt Nam và góp phần vào sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp, giải phóng con người vì hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội. Ngay từ năm 1970, nhà triết học Nhật Bản Singô Sibata đã viết cuốn sách có tiêu đề “Hồ Chí Minh, nhà tư tưởng” và cho rằng: “Nguồn gốc thắng lợi của Việt Nam, trong một mức độ lớn, bắt nguồn từ trình độ cao của triết học và lý luận mà nhân dân Việt Nam đạt được”. Báo chí Cuba coi “Hồ Chí Minh là một trong những nhà tư tưởng vĩ đại nhất của thời đại chúng ta”. Cựu Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Mỹ Gớt Hôn thì cho rằng: “Đồng chí Hồ Chí Minh là một lãnh tụ và là một nhà tư tưởng Mácxít - Lêninnít vĩ đại của thế giới... Cả loài người sẽ đời đời trân trọng giữ gìn những cống hiến của Người vào kho tàng của chủ nghĩa Mác”. Còn UNESCO thì khẳng định: “Tư tưởng Hồ Chí Minh là hiện thân khát vọng của các dân tộc trong việc bảo vệ bản sắc dân tộc của mình và tiêu biểu cho sự thúc đẩy hiểu biết lẫn nhau”./.

 

Giá trị thời đại của Tư tưởng Hồ Chí Minh

 


 Với Mác, ý nghĩa thời đại của học thuyết cách mạng và khoa học diễn ra trực diện và phù hợp với những nước phát triển chủ nghĩa tư bản. Với Lênin, thời đại tập trung ở ý nghĩa đấu tranh giữa giai cấp công nhân và chủ nghĩa tư bản. Chủ tịch Hồ Chí Minh tiếp thu Chủ nghĩa Mác-Lênin ở phương pháp luận biện chứng và nhân sinh quan tất cả vì con người, cho con người và do con người; nhưng tập trung hơn vào lý tưởng giải phóng con người thoát khỏi áp bức, bóc lột và nghèo nàn, lạc hậu. Chính vì vậy, Tư tưởng Hồ Chí Minh không chỉ có giá trị đối với nước ta mà còn mang giá trị thời đại.

Phản ánh khát vọng thời đại

Ngay trong những năm 20 của thế kỷ XX, trong quá trình hình thành, Tư tưởng Hồ Chí Minh đã thể hiện khát vọng chung của các dân tộc bị áp bức trên thế giới. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã thấy thế giới là thống nhất, không chỉ gồm các nước tư bản phát triển mà cả nhân loại cần lao đang cần được giải phóng khỏi áp bức, bóc lột, khỏi nghèo nàn, lạc hậu để có cuộc sống thật sự ấm no, hạnh phúc, cuộc sống đúng với ý nghĩa của nó. Những nhận thức sâu sắc và độc đáo về mối quan hệ chặt chẽ giữa vấn đề dân tộc và vấn đề giai cấp trong cách mạng giải phóng dân tộc theo con đường cách mạng vô sản phản ánh khát vọng độc lập, tự do của các dân tộc trên thế giới trong giai đoạn đế quốc chủ nghĩa.

Phát hiện quan trọng nữa của Tư tưởng Hồ Chí Minh là đã hình thành một hệ thống luận điểm chính xác và đúng đắn về con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở những nước chưa phát triển như Việt Nam, không chỉ là đấu tranh giai cấp mà trước hết và trên hết phải tạo ra việc làm cho người lao động, làm sao cho dân giàu, nước mạnh, nhân dân được tự do, hạnh phúc. Đó là con đường phấn đấu lâu dài, gian khổ, liên tục trên mọi phương diện từ kinh tế, chính trị đến văn hóa và xã hội, y tế và giáo dục.

Khơi dậy phong trào yêu nước, giải phóng dân tộc

Đóng góp lớn nhất của Tư tưởng Hồ Chí Minh đối với thời đại là đã chỉ ra con đường cách mạng, tiếp theo đó là phương pháp để thức tỉnh những người bị áp bức ở các nước thuộc địa và phụ thuộc. Ngay từ rất sớm, Người đã nhận thức đúng sự biến chuyển của thời đại, đặt cách mạng giải phóng dân tộc thuộc địa vào phạm trù cách mạng vô sản và hoạt động không mệt mỏi cho phong trào cách mạng thế giới. Trong đó, Người đã chỉ ra khả năng to lớn, vai trò chiến lược của cách mạng giải phóng dân tộc ở thuộc địa đối với cách mạng vô sản và phong trào cách mạng thế giới nói chung.

Tư tưởng Hồ Chí Minh đã chỉ ra đường lối chiến lược, sách lược và phương pháp cách mạng đúng đắn cho sự nghiệp cứu nước, giải phóng dân tộc Việt Nam. Từ kinh nghiệm của cách mạng Việt Nam, Người đi đến khẳng định bài học chung của các dân tộc là: “...Trong thời đại đế quốc chủ nghĩa, ở một nước thuộc địa nhỏ, với sự lãnh đạo của giai cấp vô sản và đảng của nó, dựa vào quần chúng nhân dân rộng rãi, trước hết là nông dân và đoàn kết được mọi tầng lớp nhân dân yêu nước trong mặt trận thống nhất, với sự đồng tình và ủng hộ của phong trào cách mạng thế giới (...), nhân dân nước đó nhất định thắng lợi”. Bằng cách đó, Tư tưởng Hồ Chí Minh đã góp phần khơi dậy các phong trào yêu nước, giải phóng dân tộc cho các dân tộc thuộc địa và bị áp bức trên toàn thế giới. Cuộc đời hoạt động cách mạng phong phú của Người là tấm gương sáng cổ vũ các dân tộc trên thế giới tham gia cuộc đấu tranh vì độc lập dân tộc, hòa bình và tiến bộ xã hội. Chính vì vậy mà năm 1987, chuẩn bị kỷ niệm 100 năm Ngày sinh của Người, Tổ chức Giáo dục-Khoa học và Văn hóa của Liên hợp quốc (UNESCO) đã vinh danh Bác là Anh hùng Giải phóng dân tộc, nhà văn hóa kiệt xuất.

Sự nghiệp đấu tranh cách mạng và công cuộc đổi mới của đất nước ta thực hiện theo Tư tưởng Hồ Chí Minh đã giành được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử, cổ vũ cuộc đấu tranh chung của nhân loại tiến bộ vì hòa bình, độc lập dân tộc và tiến bộ xã hội. Từ rất lâu, nhân loại tiến bộ trên thế giới, nhất là những trí thức lớn, những chính khách giàu lòng bác ái đã từng ca ngợi và bày tỏ sự khâm phục tư tưởng và tấm gương đạo đức của Bác. Giá trị nhân văn và phát triển của tư tưởng của Người là cơ sở để Đảng ta xây dựng chủ trương, đường lối phát triển kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội, đối ngoại... nhằm xây dựng một nước Việt Nam phát triển, hướng tới con người, do con người và vì con người./.

Tuyên truyền kỷ niệm 134 năm ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh (19/5/1890 – 19/5/2024)

 


1. Thân thế và thuở thiếu thời của Chủ tịch Hồ Chí Minh trước khi ra đi tìm đường cứu nước

Chủ tịch Hồ Chí Minh (lúc nhỏ tên là Nguyễn Sinh Cung, lớn lên đi học lấy tên là Nguyễn Tất Thành, hoạt động cách mạng lấy tên là Nguyễn Ái Quốc) sinh ngày 19/5/1890 trong một gia đình nhà nho yêu nước, tại làng Hoàng Trù, xã Chung Cự, tổng Lâm Thịnh, nay thuộc xã Kim Liên, huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An. Thân phụ là Nguyễn Sinh Sắc, thân mẫu là Hoàng Thị Loan.

Từ lúc sinh ra đến 5 tuổi, Nguyễn Sinh Cung sống trong sự chăm sóc đầy tình thương yêu của gia đình, đặc biệt là ông bà ngoại. Năm 1895, Nguyễn Sinh Cung theo gia đình vào sống ở Huế. Đầu năm 1901, sau khi thân mẫu qua đời, Người theo cha trở về Nghệ An, rồi lấy tên là Nguyễn Tất Thành, tích cực học chữ Hán và còn theo cha đi một số nơi, học thêm nhiều điều. Năm 1906, Nguyễn Tất Thành theo cha vào Huế, thời gian đầu học trường Pháp - Việt, sau học trường Quốc học Huế. Tháng 6/1909, Nguyễn Tất Thành theo cha vào Bình Định, tháng 8/1910 vào Phan Thiết, Bình Thuận làm giáo viên trường Dục Thanh. Tháng 02/1911, Nguyễn Tất Thành vào Sài Gòn.

2. Quá trình hoạt động cách mạng

2.1. Giai đoạn1911 - 1920

Sinh ra và lớn lên trong một gia đình nhà nho yêu nước, ở một làng quê giàu truyền thống lịch sử, văn hóa và cách mạng; chứng kiến cảnh nước mất nhà tan, Người đã sớm hun đúc ý chí và khát vọng cháy bỏng giành độc lập tự do cho dân, cho nước. Ngày 5/6/1911 với tên gọi mới là Văn Ba, Người đã lên tàu Amiran Latusơ Tơrêvin, rời bến cảng Nhà Rồng đi Mác xây (Pháp).

Từ năm 1912 -1917, Nguyễn Tất Thành đi qua một số nước châu Phi, châu Mỹ. Giữa năm 1913, Người đến nước Anh, tham gia nhiều hoạt động, cuối năm 1917 Người mới trở lại nước Pháp.

Đầu năm 1919, Nguyễn Tất Thành tham gia Đảng Xã hội Pháp, tháng 6/1919 thay mặt Hội những người yêu nước Việt Nam tại Pháp gửi bản yêu sách gồm 08 điểm (ký tên Nguyễn Ái Quốc) tới Hội nghị các nước đế quốc họp ở Véc-xây (Pháp), đòi chính phủ các nước họp Hội nghị phải thừa nhận các quyền tự do, dân chủ và quyền bình đẳng của dân tộc Việt Nam.

Tháng 7/1920, Nguyễn Ái Quốc đọc được Luận cương của Lênin về vấn đề dân tộc và thuộc địa.

Tháng 12/1920, Nguyễn Ái Quốc tham gia Đại hội Đảng Xã hội Pháp. Tại đây, Người đã bỏ phiếu tán thành Quốc tế III và tham gia thành lập Đảng Cộng sản Pháp, trở thành người Cộng sản đầu tiên của Việt Nam.

2.2. Giai đoạn 1921 - 1930

Từ năm 1921 đến tháng 6/1923, Nguyễn Ái Quốc tham gia nhiều hoạt động: thành lập Hội Liên hiệp các dân tộc thuộc địa, dự Đại hội lần thứ I và lần thứ II của Đảng Cộng sản Pháp, sinh hoạt trong Câu lạc bộ Phôbua, làm Chủ nhiệm kiêm chủ bút Báo Người cùng khổ...

Ngày 13/6/1923, Người rời nước Pháp đi Đức và đến thành phố Xanhpêtécbua (Liên Xô) ngày 30/6/1923.

Từ tháng 7/1923 đến tháng 10/1924, Nguyễn Ái Quốc tích cực hoạt động trong phong trào cộng sản quốc tế, bổ sung và phát triển lý luận về cách mạng thuộc địa. Người hoạt động trong Quốc tế Nông dân; tham dự Đại hội II Quốc tế Công hội đỏ, Đại hội Quốc tế Cộng sản Thanh niên; tiếp tục viết nhiều sách báo tuyên truyền cách mạng, hoàn thành tác phẩm Bản án chế độ thực dân Pháp; học tập tại trường Đại học phương Đông; tham gia Đại hội lần thứ V Quốc tế Cộng sản và được chỉ định là cán bộ Ban phương Đông Quốc tế Cộng sản.

Tháng 11/1924, Nguyễn Ái Quốc rời Liên Xô về Quảng Châu (Trung Quốc). Tháng 6/1925, Người thành lập Hội Việt Nam cách mạng Thanh niên, trực tiếp mở các lớp huấn luyện cán bộ, ra Báo Thanh niên (1925), tờ báo cách mạng đầu tiên của Việt Nam nhằm truyền bá chủ nghĩa Mác - Lênin về Việt Nam, chuẩn bị cho việc thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam. Các bài giảng của Nguyễn Ái Quốc được tập hợp và in thành tác phẩm Đường Cách mệnh, được xuất bản vào năm 1927.

Hè năm 1927, Nguyễn Ái Quốc rời Trung Quốc đi Liên Xô, sau đó đi Đức (tháng 11/1927) rồi bí mật sang Pháp, đến nước Bỉ dự cuộc họp của Đại hội đồng liên đoàn chống đế quốc (tháng 12/1927), rồi quay lại Đức, đi Thụy Sỹ, sang Italia. Tháng 7/1928, Nguyễn Ái Quốc tới Xiêm (Thái Lan), rồi trở lại Trung Quốc vào cuối năm 1929.

Từ ngày 06/1 đến ngày 07/2/1930 tại Cửu Long (Hương Cảng, Trung Quốc), Nguyễn Ái Quốc chủ trì Hội nghị hợp nhất các tổ chức cộng sản, thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam.

2.3. Giai đoạn 1930 - 1945

Từ năm 1930 đến năm 1941, tuy hoạt động ở nước ngoài nhưng Nguyễn Ái Quốc vẫn chỉ đạo sát sao phong trào cách mạng trong nước. Tháng 6/1931, Người bị nhà cầm quyền Anh bắt giam ở Hồng Kông. Cuối năm 1932, Người được trả tự do, sau đó đến Liên Xô học tại trường Quốc tế Lênin.

Tháng 10/1938, Người rời Liên Xô đến Diên An (Trung Quốc) làm việc tại Bộ chỉ huy Bát lộ quân, sau đó bắt liên lạc với tổ chức Đảng, chuẩn bị về nước trực tiếp chỉ đạo cách mạng Việt Nam.

Ngày 28/1/1941, sau hơn 30 năm xa Tổ quốc, Nguyễn Ái Quốc trở về nước  (tại cột mốc 108 thuộc xã Trường Hà, Hà Quảng, Cao Bằng).

Từ ngày 10 đến ngày 19/5/1941, Nguyễn Ái Quốc chủ trì Hội nghị lần thứ VIII của Trung ương Đảng Cộng sản Đông Dương tại Khuổi Nặm (Pắc Bó, Cao Bằng). Hội nghị đã xác định đường lối đấu tranh giải phóng dân tộc, chỉ đạo thành lập Mặt trận Việt Minh, sáng lập Báo Việt Nam Độc lập, tổ chức lực lượng vũ trang giải phóng, xây dựng căn cứ địa cách mạng.

Tháng 8/1942, lấy tên là Hồ Chí Minh, Người đại diện cho Mặt trận Việt Minh và Phân hội Việt Nam thuộc Hiệp hội Quốc tế chống xâm lược sang Trung Quốc bắt liên lạc với Đồng minh, cùng phối hợp hành động chống phát xít trên chiến trường Thái Bình Dương. Người bị chính quyền địa phương của Tưởng Giới Thạch bắt giam trong các nhà lao của tỉnh Quảng Tây (Trung Quốc). Trong thời gian bị giam giữ, Người viết cuốn Nhật ký trong tù. Tháng 9/1943, Người được thả tự do.

Tháng 9/1944, Hồ Chí Minh trở về căn cứ Cao Bằng. Tháng 12/1944, Hồ Chí Minh chỉ thị thành lập Đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân, tiền thân của Quân đội Nhân dân Việt Nam.

Tháng 5/1945, Hồ Chí Minh từ Cao Bằng về Tân Trào (Tuyên Quang). Tại đây theo đề nghị của Người, Hội nghị toàn quốc của Đảng và Đại hội Quốc dân đã họp quyết định Tổng khởi nghĩa. Đại hội Quốc dân đã bầu ra Uỷ ban giải phóng dân tộc Việt Nam (tức Chính phủ lâm thời) do Hồ Chí Minh làm Chủ tịch.

Tháng 8/1945, Hồ Chí Minh cùng Trung ương Đảng lãnh đạo nhân dân khởi nghĩa giành chính quyền thắng lợi.

Ngày 02/9/1945 tại Quảng trường Ba Đình, Hà Nội, Người đọc Tuyên ngôn độc lập, khai sinh nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (nay là Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam).

2.4. Giai đoạn 1945 - 1954

Những năm 1945 - 1946, Người cùng Trung ương Đảng lãnh đạo Nhân dân xây dựng và bảo vệ chính quyền cách mạng non trẻ, đối phó với thù trong, giặc ngoài, đưa cách mạng Việt Nam vượt qua tình thế “ngàn cân treo sợi tóc"; tổ chức Tổng tuyển cử trong cả nước, bầu Quốc hội và thông qua Hiến pháp dân chủ đầu tiên của Việt Nam. Quốc hội khóa I (1946) đã bầu Người làm Chủ tịch nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.

Ngày 02/03/1946, Chính phủ Liên hiệp kháng chiến được thành lập do Hồ Chí Minh làm Chủ tịch.

Ngày 03/11/1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh được Quốc hội giao nhiệm vụ thành lập Chính phủ mới do Người làm Chủ tịch nước kiêm Thủ tướng Chính phủ (từ tháng 11/1946 - đến tháng 9/1955) và kiêm Bộ trưởng Bộ Ngoại giao.

Đại hội lần thứ II của Đảng (1951), Người được bầu làm Chủ tịch Ban Chấp hành Trung ương Đảng Lao động Việt Nam. Dưới sự lãnh đạo của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh, nhân dân Việt Nam đã giành thắng lợi vẻ vang trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược, mà đỉnh cao là Chiến thắng Điện Biên Phủ năm 1954 lừng lẫy năm châu, chấn động địa cầu, đưa miền Bắc đi lên xây dựng chủ nghĩa xã hội.

2.5. Giai đoạn 1954 - 1969

Sau chiến thắng Điện Biên Phủ, Hiệp định Giơ-ne-vơ được ký kết. Quân Pháp rút về nước, miền Bắc nước ta được hoàn toàn giải phóng. Theo Hiệp định Giơ-ne-vơ, sau 2 năm sẽ tổ chức Tổng tuyển cử thống nhất nước Việt Nam. Nhưng đế quốc Mỹ với ý đồ xâm lược Việt Nam từ lâu, đã lợi dụng cơ hội, gạt Pháp ra, nhảy vào tổ chức, chỉ huy ngụy quyền, ngụy quân tay sai, viện trợ kinh tế quân sự, biến miền Nam thành thuộc địa kiểu mới, chia cắt lâu dài nước ta. Cả dân tộc ta lại bước vào cuộc chiến đấu chống xâm lược mới. Trước bối cảnh đó, Trung ương Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh tiếp tục lãnh đạo nhân dân thực hiện đồng thời hai nhiệm vụ chiến lược: Cách mạng xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc và cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân ở miền Nam, thực hiện giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước.

Tháng 10 /1956, tại Hội nghị Trung ương Đảng mở rộng lần thứ X (khóa II), Chủ tịch Hồ Chí Minh được cử giữ chức Chủ tịch Đảng.

Tại Đại hội lần thứ III của Đảng (1960), Người được bầu lại làm Chủ tịch Ban Chấp hành Trung ương Đảng Lao động Việt Nam. Quốc hội khóa II, khóa III bầu Người làm Chủ tịch nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, nay là nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.

Cùng với Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Chủ tịch Hồ Chí Minh đề ra đường lối đúng đắn, lãnh đạo cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước và công cuộc cải tạo, xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc thắng lợi; đặt nền móng và không ngừng vun đắp tình hữu nghị giữa dân tộc Việt Nam với các dân tộc trên thế giới, giữa Đảng Lao động Việt Nam (nay là Đảng Cộng sản Việt Nam) với các Đảng Cộng sản và phong trào công nhân quốc tế.

Ngày 02/9/1969, Chủ tịch Hồ Chí Minh qua đời là tổn thất vô cùng lớn lao. Đồng bào và chiến sĩ cả nước ta thương nhớ Người khôn xiết. Sự ra đi của Người để lại muôn vàn tình thương yêu cho toàn Đảng, toàn dân tộc Việt Nam và tình đoàn kết thân ái với nhân dân tiến bộ trên thế giới.

Chủ tịch Hồ Chí Minh đã cống hiến trọn đời mình cho sự nghiệp cách mạng của Đảng ta, dân tộc ta, nhân dân ta và vì hòa bình, tiến bộ xã hội trên thế giới. Người đã trải qua một cuộc đời oanh liệt, đầy gian khổ hy sinh, vô cùng cao thượng và phong phú, vô cùng trong sáng và đẹp đẽ. Cuộc đời và sự nghiệp cách mạng vĩ đại của Chủ tịch Hồ Chí Minh mãi là tấm gương sáng ngời cho lớp lớp thế hệ người Việt Nam học tập và noi theo. Tên tuổi và sự nghiệp của Chủ tịch Hồ Chí Minh sẽ còn mãi với non sông đất nước, sống mãi trong lòng mỗi chúng ta./.

 

BÓC MẼ THỦ ĐOẠN XUYÊN TẠC TÊN TUỔI HỒ CHÍ MINH!

         Những đối tượng chống phá nền tảng tư tưởng của Đảng Cộng sản Việt Nam ý thức rất rõ về sự ảnh hưởng to lớn của tư tưởng Hồ Chí Minh trong đời sống chính trị, văn hóa tinh thần của đất nước!
Họ cho rằng sở dĩ chế độ cộng sản ở Việt Nam còn tồn tại là nhờ núp vào cái bóng thần tượng Hồ Chí Minh, nên phải xóa bỏ bằng được thần tượng ấy. Vì vậy, bóc mẽ thủ đoạn xuyên tạc của các thế lực chống phá tư tưởng Hồ Chí Minh bằng những lý lẽ khoa học, căn cứ thực tiễn là việc làm rất cần thiết hiện nay.

1. Một trong những thủ đoạn nham hiểm ấy là thời gian gần đây, một số đối tượng xuyên tạc rất trắng trợn: “Hồ Chí Minh không phải là Nguyễn Ái Quốc”. Nghệ thuật viết tuồng truyền thống thường dựa vào tích cũ để soạn những bổn mới, mang chủ đề, ý nghĩa mới. Cách này đang được một số đối tượng sử dụng, nhưng là lấy tích cũ thật/giả để biến thành bổn mới giả, có cả “bổn cũ soạn lại”.

Theo lịch sử ghi lại, từ ngày 6-6-1931 đến ngày 22-1-1933, Tống Văn Sơ (tức Nguyễn Ái Quốc) bị bắt giam ở Hồng Công và được luật sư Francis Henry Loseby bào chữa trắng án. Thực dân Pháp rất muốn được phía Anh trục xuất về Đông Dương để bắt Nguyễn Ái Quốc thực thi án tử hình. Có thể là cố ý đánh lạc hướng mật thám Pháp mà Quốc tế Cộng sản cho loan tin Nguyễn Ái Quốc đã chết vì bệnh lao phổi trong nhà tù Hồng Công, đăng trên cả báo nước ngoài (The Daily Worker (Anh) ngày 11-8-1932, L’Humanité (Pháp) ngày 9-8-1932) và cả báo trong nước (Đông Pháp thời báo ngày 3-7-1932, Đuốc Nhà Nam ngày 23-7-1932). Sau khi Nguyễn Ái Quốc được thả (ngày 28-12-1932), để đảm bảo an toàn cho thân chủ, chính luật sư Loseby cũng loan tin Nguyễn Ái Quốc đã chết vì bệnh phổi(1).

Sau đó vẫn lấy những tin tức này, không cần quan tâm mục đích, lý do của nguồn tin, tác giả Hồ Tuấn Hùng (Đài Loan) viết “Hồ Chí Minh sinh bình khảo” (in năm 2008 tại Đài Loan) “khẳng định” Hồ Chí Minh có tên thật là Hồ Tập Chương, không phải Nguyễn Ái Quốc, vì Nguyễn Ái Quốc đã chết từ tháng 8-1932. Đầu năm 2013, sách được Thái Tuấn dịch ra tiếng Việt có tên “Tìm hiểu về cuộc đời của Hồ Chí Minh” cho đăng trên trang điện tử “Đối thoại”. 

Lợi dụng vấn đề đó, thời gian qua, trên nhiều trang mạng phản động lại đăng nhiều bài "dựa hơi" vào những sự kiện trên (chủ yếu từ sách của Hồ Tuấn Hùng), bịa đặt trắng trợn thêm nhiều chi tiết để xuyên tạc Chủ tịch Hồ Chí Minh không phải là Nguyễn Ái Quốc, mà do “một người khác thế vào”! 

Lập luận của các bài viết trên, một mặt dựa vào “lý lẽ” của Hồ Tuấn Hùng, mặt khác, vẫn theo kiểu mượn tích cũ để “soạn bổn giả mới”. Ví như lấy sự kiện có thật Nguyễn Ái Quốc lấy bí danh Hồ Quang (từ ngày 1-1-1938) mang quân hàm thiếu tá, công tác tại Phòng Cứu vong thuộc Văn phòng Bát lộ quân ở Quế Lâm, không hề chứng minh, phân tích nhưng nhiều tác giả đã “khẳng định” lấy được: “Hồ Quang chính là Hồ Tập Chương” từ đây (tức năm 1938) bắt đầu “sứ mệnh lãnh đạo cách mạng Việt Nam”.

Về điểm này, xin dẫn sự giải thích của chính Bác Hồ, nhân một đồng chí Trung Quốc hỏi: “Tại sao đồng chí lại lấy tên Hồ Quang?”. Bác trả lời hóm hỉnh: “Tôi có râu, lại trọc đầu nên gọi là Hồ Quang” (vì đọc theo tiếng Bắc Kinh, hồ có nghĩa là râu, quang có nghĩa là trọc)(2). Đây là cách chơi chữ quen thuộc của Bác lý giải cách đặt tên theo đặc điểm bản thân gắn liền với ngôn ngữ, địa danh nơi sinh sống.

Để có thêm cơ sở lịch sử và khoa học khẳng định Nguyễn Ái Quốc chính là Hồ Chí Minh, xin nhắc lại những sự kiện lịch sử liên quan. Ngày 1-6-1946, trên chuyến bay sang Pháp, tướng Raoul Salan tháp tùng Hồ Chủ tịch hỏi có ý tò mò về đời tư (vốn là điều tối kỵ trong ngoại giao): “Trong bản Hiệp định ngày 6-3, ngài ký tên Hồ Chí Minh. Nhưng tên chính của ngài có phải là Nguyễn Ái Quốc không?”. Bác Hồ đáp: “Cũng trong bản hiệp định đó, vị đại diện của Chính phủ ngài ký tên là Sainteny, nhưng tên thật của ông ta chẳng phải là Jean Roger đó sao?”(3). Một câu đáp thật tuyệt vời của một trí tuệ nhạy bén, gần như khẳng định nhưng lại nói vòng sang chuyện tương tự để “chặn họng”, hàm ý nhắc nhở, đẩy đối phương vào thế bối rối, bị động: Ngay đại diện chính phủ của ngài cũng vậy đó thôi!

2. Về tập thơ “Nhật ký trong tù”, nhiều đối tượng cho rằng chữ viết ấy, nội dung ấy, thi pháp ấy thì “không thể một người Việt Nam nào, dù tài năng đến mấy” thể hiện được; thế nên Nguyễn Ái Quốc nếu còn sống cũng không thể là tác giả. Vả lại những năm ở Pháp, ở Nga, ở Hồng Công trước đó, sao Nguyễn Ái Quốc không có bài thơ chữ Hán nào?

Điều đáng phê phán các "tác giả" đưa ra cái gọi là “lý lẽ” nêu trên lại không hiểu rằng, Nguyễn Sinh Cung từ nhỏ đã sớm tiếp xúc với văn hóa Trung Hoa, học giỏi chữ Hán, là trò của các bậc đại Nho (Nguyễn Sinh Sắc, Hoàng Phan Quỳnh, Vương Thúc Quý). Trong khi đó, từ những năm 1922-1923, Nguyễn Ái Quốc đã rất quan tâm và viết nhiều bài về tình hình Trung Quốc in trên báo L’Humanité, La Vie Ouvrière. Cũng trong thời kỳ hoạt động ở Trung Quốc, Nguyễn Ái Quốc kiếm sống bằng viết báo (tiếng Trung, Pháp, Anh) và có mối quan hệ mật thiết với một số yếu nhân, trong đó có bà Tống Khánh Linh.

Vì vậy, các nhà nghiên cứu chân chính khẳng định, với tâm hồn ấy, tài năng ấy, trong hoàn cảnh tù đày, thơ đến một cách tự nhiên với Nguyễn Ái Quốc. Các bài thơ trong tập thơ này là kết tinh các luồng tinh hoa văn hóa Đông Tây, kim cổ, là tiếng nói của tâm hồn vĩ đại, trí tuệ siêu việt, khí phách lớn. Đó cũng là lý do để nhiều nhà nghiên cứu văn học quốc tế đã khẳng định tập thơ “Nhật ký trong tù” là tài sản văn hóa nhân loại và được dịch ra hơn 40 ngôn ngữ trên thế giới.

3. Trong chuyên luận “Tiếng cười trào phúng Hồ Chí Minh” do Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia-Sự thật xuất bản năm 2010, tác giả cuốn sách chứng minh Hồ Chí Minh là người “Việt Nam nhất”. Chỉ xét ở mục đích trào phúng, trong các tác phẩm, có 232 lần Bác Hồ sử dụng các dẫn ngữ(4). Thành ngữ, tục ngữ là sự kết tinh lời ăn tiếng nói có mạch nguồn từ đời sống tâm hồn, trí tuệ nhân dân. Không phải là người Việt Nam làm sao dùng được nhiều dẫn ngữ, chưa nói tới cách dùng của Bác rất đa dạng, phong phú, nhiều hình vẻ, sắc thái và rất mực tinh tế.

Với tư cách là người nghiên cứu, chúng tôi xin khẳng định, từ thời thanh niên đến khi về với thế giới người hiền, ở Nguyễn Ái Quốc-Hồ Chí Minh có sự nhất quán về mục đích: “Tự do cho đồng bào tôi, độc lập cho Tổ quốc tôi”, rộng hơn là vì hạnh phúc nhân loại nói chung. Mọi suy nghĩ, việc làm, hành động, dù nói hay viết của Người tất cả đều vì mục đích cao cả ấy.

Cũng xin được nhắc lại 3 cuộc hội thảo khoa học quốc tế gần đây nhất về Hồ Chí Minh. Ngày 18-4-2023, tại thủ đô Roma (Italy) diễn ra hội thảo với chủ đề “Quãng đời làm việc của Chủ tịch Hồ Chí Minh tại Italy”. Trước đó, ngày 14-5-2022, tại Ấn Độ là Hội thảo “Hồ Chí Minh và Ấn Độ” tổ chức ở Kolkata. Tháng 10-2019, Hội thảo “Hồ Chí Minh toàn cầu” tổ chức tại thành phố New York (Mỹ).

Các hội thảo đều khẳng định ở Nguyễn Ái Quốc-Hồ Chí Minh là sự hội tụ tuyệt đẹp 3 luồng văn hóa: Văn hóa yêu nước Việt Nam; văn hóa hòa bình, bình đẳng, bác ái của nhân loại tiến bộ và văn hóa giải phóng con người của Chủ nghĩa Mác. Các nhà nghiên cứu quốc tế đều nhấn mạnh Hồ Chí Minh không chỉ là anh hùng giải phóng dân tộc của Việt Nam, mà còn là cầu nối giữa Việt Nam với thế giới và nhân cách của Người mang tầm ảnh hưởng toàn cầu. Điều này khẳng định sự tôn trọng của giới học giả thế giới đương đại với Chủ tịch Hồ Chí Minh. Tư tưởng và những giá trị văn hóa cao đẹp của Người được cả nhân loại đón nhận.

Đảng Cộng sản Việt Nam và nhân dân Việt Nam tự hào có Bác Hồ, coi việc học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh là lý tưởng, lẽ sống, niềm tin và cũng là hạnh phúc. Hạnh phúc được đón nhận ánh sáng thời đại vì đó là con người nhân văn nhất, ưu tú nhất, tiên tiến nhất của dân tộc Việt Nam và là một trong những nhà văn hóa lừng danh của nhân loại. Đó cũng là minh chứng sinh động để bác bỏ hoàn toàn những ý đồ, thủ đoạn xuyên tạc thân thế, tên tuổi, sự nghiệp cách mạng vĩ đại của Chủ tịch Hồ Chí Minh./.
Ảnh: Khối cờ Đảng, cờ Tổ quốc diễu hành trong Lễ kỷ niệm 70 năm Chiến thắng Điện Biên Phủ.
-------------------------
(1) Nguyễn Văn Khoan (2004): Nguyễn Ái Quốc và vụ án Hồng Kông năm 1931, NXB Văn học, tr. 88.
(2) Đặng Quang Huy (2012): Chủ tịch Hồ Chí Minh với Trung Quốc, NXB Chính trị Quốc gia-Sự thật, tr.29.
(3) Nhiều tác giả (2009): Hồ Chí Minh-nhà văn hóa của tương lai, NXB Thanh Niên, tr.124.
(4) Nguyễn Thanh Tú (2010): Tiếng cười trào phúng Hồ Chí Minh, NXB Chính trị Quốc gia-Sự thật, tr.329.
Theo QĐND.
Yêu nước ST.

Siết chặt kỷ luật đảng và phép nước: Vị trí càng cao, trách nhiệm càng lớn

 Đảng, Nhà nước đã có quy định về trách nhiệm cá nhân trước tập thể từ phía cán bộ, đảng viên, người đứng đầu cơ quan, đơn vị dựa trên nguyên tắc vị trí càng cao thì trách nhiệm càng lớn.

Việc cương quyết xử lý những hành vi sai phạm của cán bộ, kể cả cán bộ cấp cao, trong đó có vi phạm quy định về trách nhiệm nêu gương, trách nhiệm đối với người đứng đầu thể hiện quyết tâm chính trị của Đảng và Nhà nước ta làm trong sạch bộ máy, siết chặt kỷ luật đảng và phép nước.
Quy định cụ thể
Đảng, Nhà nước đã có những quy định rất rõ ràng, cụ thể về trách nhiệm cá nhân trước tập thể từ phía cán bộ, đảng viên, người đứng đầu cơ quan, đơn vị dựa trên nguyên tắc: Vị trí càng cao thì trách nhiệm càng lớn.
Mới đây, thay mặt Bộ Chính trị, Thường trực Ban Bí thư, Trưởng ban Tổ chức Trung ương Trương Thị Mai đã ký ban hành Quy định số 142-QĐ/TW ngày 23/4/2024 quy định thí điểm giao quyền, trách nhiệm cho người đứng đầu trong công tác cán bộ.
Quy định này quy định phạm vi, đối tượng, nguyên tắc, thẩm quyền, trách nhiệm của người đứng đầu trong thực hiện thí điểm về công tác cán bộ, gồm giới thiệu nhân sự bầu cử, bổ nhiệm cấp phó của người đứng đầu; bầu bổ sung ủy viên ban thường vụ cấp ủy cùng cấp; bổ nhiệm, miễn nhiệm cấp trưởng cấp dưới trực tiếp thuộc thẩm quyền quản lý.
Đáng chú ý là người đứng đầu chịu trách nhiệm về quyết định của mình kể cả khi đã chuyển công tác hoặc nghỉ hưu trong các trường hợp giới thiệu cán bộ để bầu cử, bổ nhiệm thiếu công tâm, khách quan, không bảo đảm tiêu chuẩn, điều kiện, phẩm chất chính trị, đạo đức, lối sống, năng lực công tác; miễn nhiệm cán bộ không bảo đảm căn cứ, thủ tục theo quy định.
Quy định 142 là một bước tiếp theo nhằm đề cao vai trò, trách nhiệm của người đứng đầu. Vai trò càng lớn thì trách nhiệm càng cao, bao gồm cả việc miễn nhiệm, từ chức nếu như không hoàn thành trọng trách. Quy định số 41-QĐ/TW ngày 3/11/2021 của Ban Chấp hành Trung ương cũng đã quy định cụ thể việc miễn nhiệm, từ chức đối với cán bộ. Hai khái niệm “miễn nhiệm” và “từ chức” được phân biệt rành mạch trong quy định này.
Miễn nhiệm theo Quy định số 41-QĐ/TW là việc cấp có thẩm quyền quyết định cho cán bộ thôi giữ chức vụ khi chưa hết nhiệm kỳ hoặc chưa hết thời hạn bổ nhiệm do không đáp ứng được yêu cầu công việc, uy tín giảm sút, có vi phạm nhưng chưa đến mức xử lý kỷ luật cách chức. Còn từ chức là việc cán bộ tự nguyện xin thôi giữ chức vụ khi chưa hết nhiệm kỳ hoặc chưa hết thời hạn bổ nhiệm và được cấp có thẩm quyền chấp thuận.
Trong đó, căn cứ xem xét việc miễn nhiệm, từ chức liên quan đến trách nhiệm người đứng đầu có các trường hợp sau: miễn nhiệm đối với người đứng đầu khi để cơ quan, đơn vị thuộc quyền quản lý, phụ trách hoặc cấp dưới trực tiếp xảy ra tham nhũng, tiêu cực rất nghiêm trọng; người đứng đầu lợi dụng chức vụ, quyền hạn được giao để dung túng, bao che, tiếp tay cho tham nhũng, tiêu cực thì tùy tính chất, mức độ sai phạm để xem xét cho từ chức; cho từ chức đối với người đứng đầu khi để cơ quan, đơn vị thuộc quyền quản lý, phụ trách hoặc cấp dưới trực tiếp xảy ra tham nhũng, tiêu cực nghiêm trọng.
Trong thi hành nhiệm vụ, công vụ, người đứng đầu cơ quan, tổ chức, đơn vị của Nhà nước còn phải tuân thủ chế độ trách nhiệm quy định tại Nghị định số 157/2007/NĐ-CP ngày 27/10/2007 của Chính phủ. Theo đó, bên cạnh việc chịu trách nhiệm về toàn bộ hoạt động của cơ quan, tổ chức, đơn vị được giao lãnh đạo, người đứng đầu còn có trách nhiệm nêu gương gương mẫu và nghiêm chỉnh chấp hành đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước và chỉ đạo của cấp trên. Lãnh đạo cấp càng cao thì sự gương mẫu lại càng phải cao.
Đồng lòng thực thi
Các quy định của Đảng, Nhà nước về trách nhiệm nêu gương, trách nhiệm đối với người đứng đầu, về việc miễn nhiệm, từ chức đối với cán bộ đã được các cán bộ, đảng viên và quần chúng nhân dân đồng tình ủng hộ, nhất là trong việc xử lý các vụ án tham nhũng, tiêu cực vừa qua.
Thời gian qua, nhiều cán bộ giữ các trọng trách từ Trung ương đến địa phương trong hệ thống chính trị đã bị miễn nhiệm hoặc được cho thôi giữ chức vụ. Trong đó, có cả cán bộ đã "vi phạm quy định về những điều đảng viên không được làm, quy định về trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên, trước hết là Ủy viên Bộ Chính trị, Ủy viên Ban Bí thư, Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương và chịu trách nhiệm người đứng đầu theo các quy định của Đảng và pháp luật của Nhà nước. Những vi phạm, khuyết điểm đó gây dư luận xấu, làm ảnh hưởng đến uy tín của Đảng, Nhà nước và cá nhân đồng chí."
Việc cho thôi chức vụ đối với cán bộ, đảng viên, kể cả những người giữ vị trí cao, là nhằm xây dựng bộ máy của Đảng, Nhà nước trong sạch, vững mạnh, thể hiện sự thượng tôn của pháp luật, làm lan tỏa ý thức trách nhiệm chính trị trong hàng ngũ đảng viên, củng cố niềm tin của nhân dân đối với Đảng. Đồng thời, đây cũng là cách để cán bộ tự soi, tự sửa mình thường xuyên như "đánh răng, rửa mặt hằng ngày," coi danh dự cao hơn quyền hạn, chức tước hay bổng lộc, lợi ích cá nhân.
Việc tu dưỡng, rèn luyện là một quá trình theo suốt cuộc đời của cán bộ, đảng viên. Thiếu sự tu dưỡng thường xuyên thì cán bộ lãnh đạo dù ở cấp nào, có quá trình cống hiến nhiều hay ít đều đánh mất uy tín, không thể đáp ứng trọng trách được tổ chức giao phó. Từ chức là cách để họ nhận về mình trách nhiệm trước sai phạm của đơn vị, của cán bộ cấp dưới.
Quy định số 41-QĐ/TW tạo cho cán bộ lãnh đạo các cấp cơ hội tự nguyện trả lại các chức vụ đang đảm nhiệm khi thấy mình không còn xứng đáng, thể hiện trách nhiệm chính trị trước Đảng và nhân dân.
Những cán bộ lãnh đạo các cấp, từ địa phương đến Trung ương bị xử lý kỷ luật, miễn nhiệm cũng như được cho thôi các chức vụ trong thời gian qua cho thấy, cuộc chiến chống tham nhũng, tiêu cực của Đảng và Nhà nước ta thực sự không có ngoại lệ, không có vùng cấm. Chính vì vậy mà tiến trình sàng lọc nhân sự đạt được sự đồng thuận cao trong Đảng và dư luận xã hội. Điều này cũng góp phần quan trọng để giữ vững sự ổn định chính trị-xã hội của đất nước.
Các đảng viên và quần chúng nhân dân hiểu rằng việc siết chặt kỷ luật của Đảng và pháp luật của Nhà nước là điều cần thiết đối với sự nghiệp chung của đất nước, trách nhiệm nêu gương của người đứng đầu phải được đề cao để nghĩa vụ xứng tầm với quyền hạn. Mục tiêu xây dựng, chỉnh đốn Đảng cần được kiên trì thực hiện với quyết tâm cao hơn, hành động quyết liệt hơn./.

Lời Bác dạy ngày 13/5/1955

  “Việc gì cũng phải có lãnh đạo thì mới thành công”.

Là lời huấn thị của Chủ tịch Hồ Chí Minh tại Hội nghị đổi công toàn quốc năm 1955. Đây là thời kỳ phong trào tổ đổi công đang phát triển mạnh, rất cần thiết có sự tổng kết, trao đổi kinh nghiệm giữa các các khu, tỉnh, huyện, xã, các tổ trưởng tổ đổi công trên toàn miền Bắc và một số địa phương ở miền Nam. Bác ghi nhận, đánh giá cao và khẳng định vai trò to lớn của công tác lãnh đạo, chỉ đạo nói chung, lãnh đạo, chỉ đạo phong trào tổ đổi công nói riêng, đồng thời, định hướng phương châm, nguyên tắc, phương pháp tổ chức của các tổ chức đảng, nhất là trong công tác lãnh đạo phong trào xây dựng tổ đổi công – bước đầu tiên đưa nông dân vào con đường làm ăn tập thể xã hội chủ nghĩa.
Thấm nhuần lời dạy của Người, Đảng ta đã không ngừng tự đổi mới, tự chỉnh đốn, nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu, lãnh đạo cách mạng Việt Nam đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác. Vị trí, vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đã được khẳng định trên thực tiễn và được hiến định vững chắc trong các bản Hiến pháp trước đây và trong Điều 4, Hiến pháp năm 2013 “Đảng Cộng sản Việt Nam – Đội tiên phong của giai cấp công nhân, đồng thời là đội tiên phong của Nhân dân lao động và của dân tộc Việt Nam, đại biểu trung thành lợi ích của giai cấp công nhân, Nhân dân lao động và của cả dân tộc, lấy chủ nghĩa Mác – Lê nin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng, là lực lượng lãnh đạo nhà nước và xã hội…”
Lịch sử hơn 70 năm xây dựng, chiến đấu, trưởng thành của Quân đội nhân dân Việt Nam luôn gắn liền với sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng Cộng sản Việt Nam – đây là vấn đề có tính nguyên tắc, là nguyên nhân và cũng là kết quả giúp cho Quân đội ta chiến đấu, chiến thắng mọi kẻ thù xâm lược hung bạo trước đây và đạt được những thành tựu bước đầu rất quan trong trong xây dựng Quân đội cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại giai đoạn hiện nay. Mọi hoạt động quân sự, chính trị, hậu cần, kỹ thuật… trong quân đội đều được đặt dưới sự lãnh đạo của cấp ủy, tổ chức đảng, sự chỉ đạo, điều hành của người chỉ huy, chính ủy, chính trị viên các cấp.
Hiện nay, các thế lực thù địch ráo riết đẩy mạnh âm mưu, thủ đoạn “diễn biến hòa bình” chống phá cách mạng nước ta, chống phá quân đội với việc hô hào đòi xóa bỏ Điều 4, Hiến pháp năm 2013, cổ vũ cho việc “phi chính trị hóa quân đội”… đòi hỏi cấp ủy, tổ chức đảng, chính ủy, chính trị viên, người chỉ huy các cấp cần tăng cường lãnh đạo, chỉ đạo việc củng cố, giữ vững sự lãnh đạo của Đảng đối với mọi hoạt động của đơn vị, của bộ đội; cán bộ, đảng viên phải luôn gương mẫu trước cấp dưới, trước bộ đội, để bộ đội học tập và noi theo.

“THI ĐUA LÀ YÊU NƯỚC, YÊU NƯỚC THÌ PHẢI THI ĐUA. VÀ NHỮNG NGƯỜI THI ĐUA LÀ NHỮNG NGƯỜI YÊU NƯỚC NHẤT”

 Đó là lời huấn thị của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong bài phát biểu khai mạc Đại hội các chiến sĩ thi đua và cán bộ gương mẫu toàn quốc, ngày 1-5-1952.

Sau 4 năm phát động, từ năm 1948 đến năm 1952, phong trào thi đua ái quốc đã thu được nhiều kết quả tốt đẹp. Để tiếp tục cổ vũ, tuyên dương và mở rộng phong trào thi đua, từ ngày 30-4 đến ngày 6-5-1952, tại Việt Bắc, Đại hội các chiến sĩ thi đua và cán bộ gương mẫu toàn quốc đã được tổ chức. Đại hội vinh dự được đón Chủ tịch Hồ Chí Minh, người khởi xướng phong trào thi đua ái quốc đến dự và phát biểu. Bác nhấn mạnh: “Thi đua là yêu nước, yêu nước thì phải thi đua. Và những người thi đua là những người yêu nước nhất”.
Hưởng ứng lời kêu gọi của Bác, toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta đã đoàn kết một lòng, đem hết sức mình tham gia kháng chiến và kiến quốc thành công. Từ đó, phong trào thi đua đã phát triển ngày càng mạnh mẽ, sâu rộng qua các thời kỳ, trong các tầng lớp nhân dân và các lực lượng vũ trang, với nhiều nội dung phong phú và hình thức sinh động, góp phần quan trọng vào việc động viên sức mạnh to lớn của khối đại đoàn kết toàn dân, hoàn thành sự nghiệp giải phóng dân tộc, thống nhất Tổ quốc, giành được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử trong công cuộc đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.
Thực hiện lời Bác dạy, phong trào thi đua yêu nước đã được cụ thể hoá thành Phong trào Thi đua Quyết thắng trong quân đội, cổ vũ, động viên, khích lệ cán bộ, chiến sĩ toàn quân hưởng ứng, góp phần thực hiện tốt các khâu đột phá, khắc phục khâu yếu, mặt yếu, khơi dậy ý thức tự lực tự cường, vượt qua khó khăn, thách thức, phát huy truyền thống “Quyết chiến, quyết thắng” và phẩm chất cao đẹp Bộ đội Cụ Hồ, hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ được giao, bảo vệ vững chắc chủ quyền biên giới, biển, đảo của Tổ quốc. Toàn quân xuất hiện ngày càng nhiều tập thể, cá nhân điển hình tiên tiến, gương “người tốt, việc tốt” trên các lĩnh vực công tác, trực tiếp góp phần xây dựng quân đội vững mạnh về chính trị, tổ chức Đảng TSVM tiêu biểu; cơ quan, đơn vị VMTD “Mẫu mực, tiêu biểu”, các tổ chức quần chúng vững mạnh xuất sắc; không ngừng nâng cao chất lượng tổng hợp, sức mạnh chiến đấu, hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ được giao, xứng đáng với niềm tin yêu của Đảng, Nhà nước và Nhân dân.
QĐND

TÌM HIỂU GIÚP BẠN: LẦN ĐẦU TIÊN SỰ KIỆN GIỖ TỔ HÙNG VƯƠNG ĐƯỢC TỔ CHỨC TẠI HÀN QUỐC!

     Sự kiện Giỗ Tổ Hùng Vương năm 2024 đã lần đầu tiên được tổ chức tại Hàn Quốc trong ngày 11-5 với sự bảo trợ của Đại sứ quán Việt Nam tại Hàn Quốc!
Sự kiện do Hội giao lưu văn hóa kinh tế Hàn - Việt (KOVECA) và Hội liên lạc người Việt Nam ở nước ngoài (ALOV) phối hợp với chính quyền Quận Seocho ở thủ đô Seoul tổ chức.

Phát biểu chúc mừng sự kiện, Tham tán Công sứ Nguyễn Việt Anh nhấn mạnh, Giỗ Tổ Hùng Vương năm 2024 lần đầu tiên được tổ chức tại Hàn Quốc là sự kiện có ý nghĩa đối với cộng đồng người Việt Nam tại Hàn Quốc và là cơ hội đặc biệt để tôn vinh di sản văn hóa và lịch sử của Việt Nam với bạn bè Hàn Quốc. 

Thông qua sự kiện, người dân Hàn Quốc sẽ hiểu biết hơn lịch sử, văn hóa, đất nước con người Việt Nam, đóng góp tích cực vào phát triển của quan hệ Đối tác hợp tác chiến lược toàn diện Việt - Hàn trong những năm tới. 

Thay mặt Đại sứ quán Việt Nam, Tham tán Công sứ Nguyễn Việt Anh đánh giá cao nỗ lực của ALOV và KOVECA trong việc tổ chức lễ hội; bày tỏ mong muốn sự kiện Giỗ Tổ Hùng Vương tại Hàn Quốc sẽ trở thành sự kiện thường niên, thu hút đông đảo hơn nữa cộng đồng người Việt Nam đang sinh sống, lao động, học tập tại Hàn Quốc nâng cao lòng tự hào dân tộc, tưởng nhớ đến các Vua Hùng và hướng về quê hương đất nước.

Ông Kwon Seong-taek, Phó chủ tịch KOVECA, cho biết Giổ Tổ Hùng Vương có ý nghĩa rất lớn về lịch sử và văn hóa đối với cộng đồng người Việt Nam đang sinh sống học tập tại Hàn Quốc để nhắc nhở về truyền thống lịch sử của dân tộc mình. KOVECA đã lên kế hoạch tổ chức sự kiện Giỗ Tổ Hùng Vương tại Hàn Quốc từ năm 2019 nhưng do nhiều điều kiện mà đến năm nay mới có thể tổ chức. Việc tổ chức lễ Giỗ Tổ Hùng Vương cũng là dịp để thế hệ con cháu của người Việt Nam sinh ra tại Hàn Quốc nhớ về cội nguồn và giúp người Hàn Quốc hiểu biết hơn về văn hóa của dân tộc Việt Nam. 

Theo ông Kwon, thông qua hoạt động giao lưu văn hóa, người dân hai nước Hàn Quốc và Việt Nam sẽ tăng cường hơn nữa sự hiểu biết lẫn nhau, thúc đẩy gia tăng hoạt động hợp tác trên mọi lĩnh vực của đời sống, xã hội.

Trong khuôn khổ sự kiện, hoạt động biểu diễn nhạc cụ truyền thống Việt Nam và biểu diễn múa dân gian đã được tổ chức cùng với nghi thức dâng hương cúng tổ Vua Hùng. Bên cạnh đó, chương trình trình diễn trang phục truyền thống hanbok của Hàn Quốc cũng như giới thiệu ẩm thực Việt Nam cũng được tổ chức./.
Ảnh: Tham tán Công sứ Nguyễn Việt Anh, đại diện Đại sứ quán Việt Nam tại Hàn Quốc phát biểu tại buổi lễ.
Yêu nước ST.

TÌM HIỂU GIÚP BẠN: HUY HIỆU “CHIẾN SĨ ĐIỆN BIÊN PHỦ” - BIỂU TƯỢNG CỦA TINH THẦN QUYẾT CHIẾN, QUYẾT THẮNG!

         Huy hiệu “Chiến sĩ Điện Biên Phủ” được họa sĩ là Mai Văn Hiến và Nguyễn Bích - những bậc đại thụ của nền mỹ thuật cách mạng thiết kế!
Có đường kính chỉ khoảng 2 cm, chiếc huy hiệu mang đầy đủ những hình ảnh biểu trưng của Chiến dịch Điện Biên Phủ. Đó là hình ảnh rừng núi, cánh đồng lúa Mường Thanh, người chiến sĩ Điện Biên, lá cờ in dòng chữ "Quyết chiến, quyết thắng" và hình ảnh pháo cao xạ, vũ khí lần đầu xuất hiện ở Điện Biên.

Không chỉ là phần thưởng cao quý cho các chiến sĩ xuất sắc được trở về, sau chiến dịch, chiếc huy hiệu cũng được gửi tặng tới các thương bệnh binh, các gia đình anh hùng liệt sỹ; tri ân, trao truyền cho thế hệ mai sau ký ức về một thời kỳ hào hùng với những người đã không tiếc máu xương, góp phần làm nên một chiến thắng vĩ đại, lừng lẫy năm châu, chấn động địa cầu./.
Môi trường ST.

TÌM HIỂU GIÚP BẠN: VIỆT NAM LÊN TIẾNG VỀ VIỆC GIA NHẬP BRICS NĂM 2024!

     Người phát ngôn Bộ Ngoại giao Phạm Thu Hằng cho biết là một thành viên có trách nhiệm và tích cực trong cộng đồng quốc tế cũng như triển khai đường lối đối ngoại đa phương hóa, đa dạng hóa, độc lập tự chủ, Việt Nam luôn sẵn sàng tham gia và đóng góp tích cực tại các cơ chế, tổ chức, diễn đàn đa phương toàn cầu cũng như khu vực!

"Và cũng như nhiều nước trên thế giới, chúng tôi quan tâm theo dõi tiến trình về mở rộng thành viên của nhóm BRICS"- bà Phạm Thu Hằng nói.

Năm 2001, từ viết tắt BRIC lần đầu tiên được đưa ra trong một nghiên cứu nói về tiềm năng tăng trưởng kinh tế của 4 nước: Brazil, Nga, Ấn Độ, Trung Quốc.

Năm 2009, nhóm BRIC được thành lập với tư cách một câu lạc bộ không chính thức do Nga khởi xướng.

Năm 2010, BRIC mở rộng với sự tham gia của Nam Phi trở thành BRICS.

Ngày 1-1-2024, BRICS ghi dấu mốc lịch sử khi chào đón 5 thành viên mới là Ai Cập, Ethiopia, Iran, Ả Rập Saudi và Các Tiểu vương quốc Ả Rập thống nhất (UAE). Đây là lần mở rộng đầu tiên của BRICS kể từ năm 2010, cho thấy sức mạnh đoàn kết của BRICS và các nước đang phát triển, cũng như quyết tâm hợp tác vì tương lai tốt đẹp hơn.

Các quốc gia thuộc khối BRICS chiếm 30% diện tích và 45% dân số trên toàn thế giới./.
Yêu nước ST.