Chủ Nhật, 12 tháng 5, 2024

Xây dựng các đơn vị cơ sở trong Quân đội vững mạnh về chính trị theo tư tưởng Hồ Chí Minh

 inh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh đặc biệt coi trọng xây dựng Quân đội vững mạnh về chính trị, qua đó góp phần xây dựng Quân đội trưởng thành về mọi mặt, hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ mà Đảng, Nhà nước và Nhân dân giao phó. Hiện nay, yêu cầu bảo vệ Tổ quốc, xây dựng Quân đội trong tình hình mới đòi hỏi cần xây dựng các đơn vị cơ sở - tổ chức nền tảng của Quân đội ngày càng vững mạnh về chính trị, góp phần xây dựng các đơn vị vững mạnh toàn diện “mẫu mực, tiêu biểu”, hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ được giao.

Chủ tịch Hồ Chí Minh đến thăm một đơn vị bộ đội ở Nam Định (1957). (Ảnh: TTXVN)

Chủ tịch Hồ Chí Minh đến thăm một đơn vị bộ đội ở Nam Định (1957). (Ảnh: TTXVN)

XÂY DỰNG QUÂN ĐỘI VỮNG MẠNH VỀ CHÍNH  TRỊ THEO TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH

Trung thành, vận dụng sáng tạo những nguyên lý xây dựng Quân đội kiểu mới của chủ nghĩa Mác - Lênin, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn đặt lên hàng đầu vấn đề xây dựng Quân đội về chính trị, xây dựng và tăng cường bản chất giai cấp công nhân, tính nhân dân và tính dân tộc, làm cho Quân đội ta luôn là lực lượng chính trị trung thành và tin cậy của Đảng, của Nhà nước và của Nhân dân.

Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn coi trọng xây dựng Quân đội về chính trị, lấy xây dựng chính trị làm cơ sở xây dựng các mặt khác. Với quan điểm “chính trị trọng hơn quân sự”, Người khẳng định: “Quân sự mà không có chính trị như cây không có gốc, vô dụng lại có hại. Quân đội ta là quân đội nhân dân. Nhân dân có Đảng lãnh đạo, Đảng có chính cương, chính sách. Đã là quân đội nhân dân thì phải học chính sách của Đảng”(1).

Người đặc biệt quan tâm chăm lo xây dựng bản chất giai cấp công nhân, tính nhân dân và tính dân tộc cho Quân đội, xem đó là nội dung cốt lõi, công cụ chắc chắn nhất để xây dựng thành công và bảo đảm cho Quân đội luôn là lực lượng chính trị tin cậy của Đảng; xứng đáng là Quân đội của dân, do dân và vì dân. Người cho rằng, muốn cho Quân đội trở thành một đội quân vô địch thì Đảng phải đặc biệt coi trọng công tác tuyên truyền, giáo dục chính trị, làm cho cán bộ, chiến sĩ “có lập trường vững chắc, lập trường quân đội của nhân dân do giai cấp công nhân lãnh đạo” (2).

Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khái quát cô đọng, đầy đủ nhất những vấn đề có tính nguyên tắc và nội dung cơ bản xây dựng quân đội vững mạnh về chính trị: “Quân đội ta trung với Đảng, hiếu với dân, sẵn sàng chiến đấu, hy sinh vì độc lập, tự do của Tổ quốc, vì chủ nghĩa xã hội. Nhiệm vụ nào cũng hoàn thành, khó khăn nào cũng vượt qua, kẻ thù nào cũng đánh thắng. Cán bộ và chiến sĩ thương yêu nhau như ruột thịt, chia ngọt sẻ bùi. Quân và dân như cá với nước, đoàn kết một lòng, học hỏi, giúp đỡ lẫn nhau. Quân đội ta có tinh thần yêu nước chân chính, lại có tinh thần quốc tế vô sản cao cả”(3).

Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, để xây dựng Quân đội vững mạnh về chính trị cần phải củng cố, giữ vững và tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với quân đội. Cần phải tăng cường giáo dục chính trị, tư tưởng, làm cho cán bộ, chiến sĩ có lập trường kiên định, vững vàng, hoàn thành trách nhiệm với Tổ quốc và nhân dân. Người chỉ ra rằng: “Phải tăng cường công tác chính trị, luôn luôn nâng cao trình độ chính trị và giác ngộ giai cấp của bộ đội ta; phải bảo đảm sự chấp hành chính sách của Đảng và Chính phủ; phải triệt để giữ gìn kỷ luật tự giác về mặt quân sự và về mặt chính trị. Vì vậy, cần phải tăng cường sự lãnh đạo của Đảng trong Quân đội và phải thực hiện dân chủ trong bộ đội”(4).

Người luôn coi trọng việc xây dựng sự đoàn kết, thống nhất, thực hành dân chủ và kỷ luật nghiêm minh trong Quân đội, coi đó là nguồn sức mạnh của mọi thành công. Bên cạnh đó, Người coi trọng việc xây dựng, củng cố, tăng cường mối quan hệ gắn bó “máu thịt” giữa Quân đội với nhân dân, bảo đảm cho Quân đội là của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân. Người nhắc nhở: “Mình đánh giặc là vì dân. Nhưng mình không phải là "cứu tinh" của dân, mà mình có trách nhiệm phụng sự nhân dân. Tất cả quân nhân phải làm cho dân tin, dân phục, dân yêu... Muốn vậy, bộ đội phải giúp đỡ dân, thương yêu dân... Dân như nước, quân như cá”(5).

Bên cạnh đó, Người yêu cầu cần chú trọng giáo dục tinh thần đoàn kết, hữu nghị giữa các dân tộc, giữa quân đội ta với quân đội các nước anh em, xây dựng tinh thần quốc tế vô sản trong sáng cho cán bộ, chiến sĩ, tích cực tham gia thực hiện nhiệm vụ quốc tế với tinh thần “giúp bạn tức là mình tự giúp mình”.

XÂY DỰNG CÁC ĐƠN VỊ CƠ SỞ TRONG QUÂN ĐỘI VỮNG MẠNH VỀ CHÍNH TRỊ ĐÁP ỨNG YÊU CẦU TRONG TÌNH HÌNH MỚI

Suốt 80 năm qua, quán triệt sâu sắc, vận dụng đúng đắn, sáng tạo tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng quân đội, Quân đội nhân dân Việt Nam đã cùng với nhân dân, dưới sự lãnh đạo của Đảng, làm nên những chiến thắng vẻ vang, xứng đáng là công cụ bạo lực sắc bén, lực lượng chính trị tin cậy của Đảng, Nhà nước và nhân dân.

Trong giai đoạn hiện nay, tình hình thế giới, khu vực tiếp tục có những diễn biến nhanh chóng, khó lường; xung đột quân sự, tranh chấp biển đảo, chạy đua vũ trang ngày càng phức tạp. Đối với nước ta, sau gần 40 năm đổi mới, đất nước chưa bao giờ có được tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế như ngày nay. Tuy nhiên, nước ta vẫn đứng trước nhiều thách thức lớn, đan xen nhau. Các thế lực thù địch vẫn tiếp tục thực hiện âm mưu “diễn biến hòa bình”, gây bạo loạn lật đổ, thúc đẩy “phi chính trị hóa quân đội”. Sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc, xây dựng Quân đội đang đặt ra nhiều vấn đề mới. Mặt trái của kinh tế thị trường, sự tác động đa chiều của khoa học công nghệ, internet, mạng xã hội cùng những tiêu cực, tệ nạn xã hội tác động không nhỏ tới tư tưởng của các bộ, chiến sĩ ở các đơn vị trong Quân đội.

Ngày 24/11/2023, Ban Chấp hành Trung ương đã ban hành Nghị quyết số 44-NQ/TW về "Chiến lược bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới", trong đó xác định: “Xây dựng Quân đội nhân dân, Công an nhân dân cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại, một số quân chủng, binh chủng, lực lượng tiến thẳng lên hiện đại. Đến năm 2025, cơ bản xây dựng Quân đội, Công an tinh, gọn, mạnh, tạo tiền đề vững chắc, phấn đấu đến năm 2030 xây dựng Quân đội nhân dân, Công an nhân dân cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại; bảo đảm chất lượng tổng hợp và sức mạnh chiến đấu cao, đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ trong mọi tình huống”(6). Do đó, trước yêu cầu của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới, xây dựng các đơn vị cơ sở trong quân đội vững mạnh về chính trị là một yêu cầu khách quan, là một đòi hỏi cấp bách đối với sự nghiệp cách mạng của Đảng, của dân tộc và của Quân đội.

Theo Hướng dẫn số 1773/HD-CT ngày 21/10/2022 của Tổng cục Chính trị quân đội nhân dân Việt Nam, thực hiện tiêu chuẩn 1 “vững mạnh về chính trị” trong xây dựng đơn vị vững mạnh toàn diện “mẫu mực, tiêu biểu”, nội dung, chỉ tiêu xây dựng đơn vị vững mạnh về chính trị bao gồm: 1) Về chính trị tư tưởng: Cán bộ, chiến sĩ có bản lĩnh chính trị kiên định, vững vàng, tuyệt đối trung thành với Tổ quốc, với Đảng, Nhà nước và Nhân dân; giữ vững phẩm chất đạo đức, lối sống của người quân nhân cách mạng; có ý chí quyết tâm cao, sẵn sàng nhận và hoàn thành tốt chức trách, nhiệm vụ được giao. 2) Cấp ủy, tổ chức đảng hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ, cơ quan chính trị, cán bộ chính trị hoàn thành tốt nhiệm vụ. 3) Đội ngũ cán bộ bảo đảm số lượng, chất lượng, cơ cấu hợp lý, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ; cán bộ làm công tác cán bộ hoàn thành tốt nhiệm vụ. 4) Thực hiện tốt công tác bảo vệ an ninh, dân vận và chính sách. 5) Các tổ chức quần chúng hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ; hội đồng quân nhân vững mạnh, hoạt động có hiệu quả. 6) Thực hiện có hiệu quả hoạt động công tác đảng, công tác chính trị trong các nhiệm vụ; chấp hành nghiêm chế độ, nền nếp công tác đảng, công tác chính trị.

Các chiến sĩ tích cực tập luyện để chuẩn bị tham gia diễu binh, diễu hành tại Lễ kỷ niệm 70 năm Chiến thắng Điện Biên Phủ (7/5/1954 - 7/5/2024).

5 GIẢI PHÁP TRỌNG TÂM

Một là, tăng cường sự lãnh đạo chặt chẽ, toàn diện của các cấp uỷ và tổ chức đảng đối với nhiệm vụ xây dựng Quân đội về chính trị ở đơn vị cơ sở. Toàn bộ hoạt động ở đơn vị đặt dưới sự lãnh đạo chặt chẽ, thống nhất của cấp uỷ và tổ chức đảng. Do đó, cần thường xuyên củng cố, kiện toàn cấp ủy, tổ chức đảng trong sạch vững mạnh, đủ số lượng, chất lượng cao, cơ cấu hợp lý, phân công, phân cấp rõ ràng cho từng cấp uỷ viên, bảo đảm sự lãnh đạo chặt chẽ của cấp uỷ và tổ chức đảng. Không ngừng nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của các tổ chức cơ sở đảng trong Quân đội; đẩy mạnh phòng, chống mọi biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong đội ngũ cán bộ, đảng viên ở đơn vị cơ sở.

Hai là, tiếp tục cụ thể hóa nội dung, đa dạng hóa hình thức, biện pháp xây dựng các đơn vị cơ sở vững mạnh về chính trị. Các đơn vị cần căn cứ vào các nghị quyết, chỉ thị, quy định, hướng dẫn của cấp trên, đặc điểm, yêu cầu, nhiệm vụ của đơn vị, từ đó xây dựng kế hoạch xây dựng đơn vị vững mạnh toàn diện “Mẫu mực, tiêu biểu”. Xác định cụ thể những nội dung, biện pháp tiến hành trên các mặt: chính trị tư tưởng; xây dựng cấp ủy, tổ chức đảng, cơ quan chính trị, cán bộ chính trị; công tác bảo vệ an ninh, dân vận, chính sách; xây dựng tổ chức quần chúng, hội đồng quân nhân; thực hiện chế độ, nền nếp công tác đảng, công tác chính trị... Các tổ chức, các lực lượng cần quán triệt, cụ thể hóa theo chức năng, nhiệm vụ, bảo đảm thiết thực, dễ nhớ, dễ hiểu, dễ làm, tạo được sự cuốn hút, hấp dẫn đối với mọi quân nhân trong đơn vị.

Ba là, không ngừng nâng cao chất lượng công tác đảng, công tác chính trị ở các đơn vị cơ sở. Thực hiện có hiệu quả Đề án “Đổi mới công tác giáo dục chính trị tại đơn vị trong giai đoạn mới”, thường xuyên đổi mới nội dung, hình thức giáo dục chính trị, pháp luật phù hợp với từng đối tượng, từng loại hình đơn vị. Nâng cao hiệu quả công tác thông tin, tuyên truyền, văn hóa, văn nghệ, thi đua khen thưởng. Đẩy mạnh thực hiện Cuộc vận động “Phát huy truyền thống, cống hiến tài năng, xứng danh Bộ đội Cụ Hồ” thời kỳ mới. Kết hợp chặt chẽ giữa thực hiện tốt Cuộc vận động với việc học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh và các phong trào thi đua, các cuộc vận động bằng nhiều mô hình, cách làm sáng tạo, phù hợp, hiệu quả. Xây dựng sự đoàn kết giữa cán bộ, chiến sĩ trong đơn vị và xây dựng mối quan hệ đoàn kết quân dân, đoàn kết quốc tế. Tích cực đấu tranh chống các quan điểm sai trái, thù địch, phòng chống chiến lược “diễn biến hòa bình”, âm mưu “phi chính trị hóa quân đội” của các thế lực thù địch, góp phần bảo vệ vững chắc nền tảng tư tưởng của Đảng.

Bốn là, xây dựng đội ngũ cán bộ vừa đáp ứng yêu cầu xây dựng đơn vị cơ sở vững mạnh về chính trị. Các cấp ủy cần tiếp tục làm tốt các khâu, các bước trong công tác cán bộ, xây dựng đội ngũ cán bộ các cấp đủ về số lượng, cơ cấu hợp lý, bảo đảm chất lượng, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ ngày càng cao của đơn vị. Đồng thời, cần phát huy vai trò của đội ngũ cán bộ, nhất là người đứng đầu các cấp trong xây dựng đơn vị cơ sở vững mạnh về chính trị. Chính ủy, chính trị viên cần thường xuyên theo dõi, kiểm tra, đánh giá kết quả thực hiện nhiệm vụ xây dựng đơn vị cơ sở vững mạnh về chính trị. Kịp thời biểu dương gương người tốt, việc tốt và nhắc nhở, uốn nắn những biểu hiện lệch lạc trong quá trình triển khai thực hiện nghị quyết của đảng ủy.

Năm là, phát huy vai trò của các tổ chức quần chúng, hội đồng quân nhân trong xây dựng đơn vị cơ sở vững mạnh về chính trị hiện nay. Các cấp ủy, cán bộ chủ trì cơ quan, đơn vị cần tạo điều kiện thuận lợi để mỗi cán bộ, đoàn viên, hội viên phát huy tốt năng lực, trách nhiệm của bản thân trong thực hiện nhiệm vụ. Mặt khác, phát huy và mở rộng dân chủ, động viên và tạo điều kiện thuận lợi để họ tích cực tham gia đóng góp ý kiến vào các hoạt động của đơn vị, nhất là hoạt động xây dựng đơn vị cơ sở vững mạnh về chính trị./.

Thiếu tá, ThS. PHẠM VĂN PHONG
Học viện Chính trị, Bộ Quốc phòng

Học tập phong cách báo chí Hồ Chí Minh: Nghệ thuật đặt tít bài hấp dẫn

 Trong những ngày tháng 5 lịch sử, từ dư âm của chiến thắng Điện Biên Phủ “lừng lẫy năm châu, chấn động địa cầu”, với niềm tự hào về thời khắc lịch sử của dân tộc, lòng biết ơn Chủ tịch Hồ Chí Minh - người anh hùng giải phóng dân tộc - người khai sinh ra nước Việt Nam dân chủ cộng hòa - người sáng lập nền báo chí cách mạng Việt Nam, nhân kỷ niệm 134 năm ngày sinh Bác Hồ muôn vàn kính yêu, PGS, TS Nguyễn Hồng Vinh đã dành thời gian tâm huyết đọc hàng trăm bài viết của Bác Hồ trên Báo Nhân Dân, từ đó rút ra những đặc điểm nổi bật trong nghệ thuật đặt tít bài viết của Bác.

Tại Đại hội lần thứ III của Hội Nhà báo Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh căn dặn: Cán bộ báo chí cũng là chiến sĩ cách mạng. Cây bút, trang giấy là vũ khí sắc bén (8/9/1962).

Tại Đại hội lần thứ III của Hội Nhà báo Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh căn dặn: Cán bộ báo chí cũng là chiến sĩ cách mạng. Cây bút, trang giấy là vũ khí sắc bén (8/9/1962).

Chỉ còn một năm nữa là tròn 100 năm nền báo chí cách mạng Việt Nam. Những người làm báo nước ta trân trọng tưởng nhớ và ghi ơn Chủ tịch Hồ Chí Minh - Người không chỉ là lãnh tụ tối cao của Đảng và dân tộc ta, mà còn là nhà báo lỗi lạc đã sáng lập nền báo chí cách mạng Việt Nam, khởi đầu là số báo Thanh Niên, cơ quan của tổ chức Việt Nam thanh niên cách mạng, được ra mắt ngày 21/6/1925 tại Quảng Châu (Trung Quốc). Báo Thanh Niên ra đời chính là sự chuẩn bị về tư tưởng và tổ chức cho quá trình ra đời Đảng Cộng sản Việt Nam vào ngày 3/2/1930 tại Hồng Kông (Trung Quốc). Chúng ta kính phục tài ba và sự nhiệt huyết của Bác Hồ vì cùng lúc vừa đảm nhiệm cương vị chủ bút, phóng viên, vừa làm họa sĩ trình bày ma két và vẽ các bức tranh cổ động cách mạng cùng các bức vẽ châm biếm bọn thực dân, đế quốc tìm mọi cách bóc lột và thống trị nhân dân ta.

Trước khi xuất bản số Báo Thanh Niên, từ năm 1919, Bác Hồ đã từng là nhà báo, tham gia viết hàng chục bài cho các Báo Nhân Đạo, Người cùng khổ... ở Paris; và từ năm 1925 cho đến lúc về với “thế giới người hiền”, Bác Hồ đã viết hàng ngàn bài báo và ký hàng chục bút danh khác nhau trên các báo, tạp chí, trong đó Bác dành phần lớn các bài đăng ở Báo Nhân Dân, cơ quan Trung ương của Đảng Cộng sản Việt Nam; tiếng nói của Đảng, Nhà nước và nhân dân Việt Nam. Năm 2016, phối hợp với Báo Nhân Dân, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia Sự thật đã xuất bản 3 tập sách dày mấy ngàn trang với tên gọi “Những bài viết của Bác Hồ trên Báo Nhân Dân”.

Bìa 3 tập sách được xuất bản năm 2016.

Bìa 3 tập sách được xuất bản năm 2016.

Chúng ta còn nhớ, tại Đại hội II Hội Nhà báo Việt Nam năm 1959, Bác Hồ nói thân tình: “Bác là người có nhiều duyên nợ với báo chí”; và cho biết “tất cả những bài viết chỉ có một đề tài là: chống thực dân đế quốc, chống phong kiến, địa chủ, tuyên truyền độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội”. Chúng tôi đã nghiên cứu các bài viết của Bác Hồ trên Báo Nhân Dân thì thấy rõ mấy đặc điểm đáng chú ý sau đây: Một là, các bài viết đều ngắn; hai là, nội dung đề cập rất cụ thể về một sự kiện, một con người, một địa phương cụ thể; ba là, cách hành văn giản dị, dễ hiểu, thể hiện rõ nét ở tính quần chúng và tính chiến đấu; bốn là, các tít bài gọn, sắc, hấp dẫn người đọc.

Trong phạm vi bài viết này, trên cơ sở những bài viết của Người trên Báo Nhân Dân trong thời gian từ năm 1955 - 1959, tôi tập trung phân tích cách đặt tên bài của Bác Hồ qua 233 bài viết của Người. Có thể rút ra nghệ thuật đặt tít bài của Bác để tạo sự hấp dẫn thông qua mấy cách thức nổi bật sau đây:

Thứ nhất, Bác triệt để sử dụng các ngạn ngữ, thành ngữ, châm ngôn của văn hóa dân tộc để khái quát nội dung chính của bài viết.

Thứ hai, dùng hình tượng ví von, so sánh; các bài ở đoạn kết dùng thơ lục bát để chốt lại ý tưởng của tít bài.

Thứ ba, sử dụng cách “chơi chữ”, “chơi số” để người đọc thêm tò mò, thú vị.

Thứ tư, khi cần, dùng hình tượng khôi hài, gây cười người đọc, tạo sự thấm sâu, lan tỏa.

Thứ năm, trong một số trường hợp đặc biệt, Bác dùng ca dao để đặt tít.

Dưới đây xin được nêu một số ví dụ tiêu biểu trong 5 cách thức nêu trên.

Sử dụng ngạn ngữ, châm ngôn

Bài viết vẻn vẹn có 14 dòng với cái tít: “Chịu đấm mà không được ăn xôi”, Bác Hồ vạch thủ đoạn của bọn tư bản Mỹ dùng các cầu thủ đấm bốc để thu tiền người xem; kết quả là, cả hai người thanh niên tuổi 25 - 26 đều bị đấm chết. Kết luận bài viết, tác giả dùng hai câu thơ để chia sẻ nỗi đau của hai võ sĩ và lên án mánh khóe bóc lột dã man của bọn tư bản: “Chịu đấm chết mà không được ăn xôi/ Để bọn tư bản nó ngồi nó ăn!” [trang 36].

Bài “Thôi đừng ích kỷ hại nhân” với 17 dòng, Bác lên án bọn đầu cơ gạo, mua gạo nhà nước rồi bán giá cao cho tư nhân với giá đắt, là hành động “vì phú bất nhân”; từ đó kêu gọi chính quyền và nhân dân hợp sức ngăn chặn và xử lý bọn đầu cơ đó [trang 48-49] để người lương thiện không bị bóc lột qua nhiều tầng nấc phi lý.

Bài “Vỏ quýt dày có móng tay nhọn”, Bác chỉ rõ mưu toan của đế quốc Mỹ phô trương sức mạnh của bom nguyên tử để tỏ uy quyền “thống trị thế giới”, nhưng báo chí nhiều nước đều tập trung phân tích khẳng định: khi các dân tộc đoàn kết, sát cánh bên nhau thì tạo ra sức mạnh lớn hơn bom nguyên tử, do đó “vỏ quýt Mỹ dày, thì móng tay chúng ta rất nhọn” [trang 76-77].

Bài “Trách mình thôi chớ trách ai”, Bác kể thủ đoạn tranh giành lợi ích kinh tế giữa Pháp và Mỹ ở miền Nam Việt Nam; trên thực chất Mỹ đã hất cẳng Pháp về mặt chính trị và quân sự, nay lại hất cẳng về kinh tế là lẽ đương nhiên. Bác nhắc phía Pháp: “Trách mình thôi chớ trách ai/ Càng theo đuổi Mỹ, càng tai họa nhiều” [trang 86-87].

Bài “Có tài mà cậy chi tài”, Bác vạch thái độ hai mặt của Thủ tướng Pháp Phrăngxơ khi tỏ thái độ đòi chấm dứt chiến tranh ở Việt Nam nên đã được nhân dân tín nhiệm bầu làm Thủ tướng, nhưng sau khi nhậm chức, ông ta lại nghiêng về phía Mỹ ủng hộ chế độ độc tài Ngô Đình Diệm. Vậy là ông ta tồn tại chỉ được 7 tháng, đã bị nhân dân Pháp lật đổ, mặc dù nhiều người thừa nhận ông ta có tài [trang 92].

Bài “Nhân sinh thất thập cổ lai hy”, Bác kể chuyện mấy cụ già đã vượt qua tuổi “xưa nay hiếm”, trong đó tại Việt Nam có cụ Quân ở khu IV thọ 121 tuổi; cụ bà Prôvôxima ở Liên Xô thọ 145 tuổi; cụ ông Gabiđavili thọ 139 tuổi... Bác đúc kết cội nguồn sống lâu là “Xa xỉ thì nhiều bệnh/ Cần kiệm thì sống lâu” [trang 151].

i “Nói rồng, nói phượng cũng không lừa dối được ai”, Bác phê phán luận điệu tự do dân chủ của Mỹ Diệm, nhưng trên thực tế là hai thế lực này đang bóp chết tự do báo chí, ngăn cản sự thăm hỏi của các gia đình ở hai miền Nam - Bắc, thậm chí chém giết những người làm trái với thứ dân chủ giả hiệu của chúng... Kết luận, Bác khuyên “chúng ta không thể lầm lẫn thứ tự do dân chủ lừa bịp kiểu Mỹ Diệm với tự do dân chủ thật sự” [trang 314-315].

Bài “Một cốt một đồng”, Bác vạch rõ sự cấu kết của Mỹ Diệm để thống trị miền Nam lâu dài. Điều dí dỏm ở đây là, Bác nói bản chất của cáo già Mỹ khéo dùng những trạng từ “có lẽ” với “không chắc” nhằm dọn đường cho Diệm lên cầm quyền để thực hiện điều thầy Mỹ muốn chỉ đạo theo ý ngoại bang. Kết luận bài, Bác viết “Một cốt một đồng/ Thầy gà, tớ hát dễ hòng lừa ai?” [trang 324].

Chủ tịch Hồ Chí Minh tặng hoa nhà quay phim Phan Thế Hùng, Xưởng phim Vô tuyến Truyền hình, nhân ngày Quốc tế Lao động 1-5-1968.

Chủ tịch Hồ Chí Minh tặng hoa nhà quay phim Phan Thế Hùng, Xưởng phim Vô tuyến Truyền hình, nhân ngày Quốc tế Lao động 1-5-1968.

Nghệ thuật dùng hình tượng ví von, so sánh


Bài “Sữa hộp và tổng tuyển cử”, Bác đề cập việc Pháp, Mỹ vào hùa ủng hộ Diệm bằng nhiều sữa hộp và gạo ngon, thì Diệm chắc chắn sẽ được nhân dân miền Nam ủng hộ bỏ phiếu cho mình! Đó thật sự là điều ảo tưởng vì Pháp và Mỹ “bằng mặt nhưng không bằng lòng”, cả hai đang mâu thuẫn trong việc đưa Diệm lên để tớ phải phục vụ theo ý đồ riêng của hai thầy là Mỹ và Pháp [trang 84].

Bài “Điện Biên Phủ”, Bác liệt kê sự thất bại nhục nhã của quân đội viễn chinh nhà nghề với hơn 1.500 tên bị bỏ mạng và hơn 14.000 tên bị ta bắt làm tù binh. Tướng Nava và tướng Cônhi đổ lỗi cho nhau. Bác khái quát nguyên nhân Pháp thất bại bằng bốn câu thơ: “Cũng trong một cuộc Điện Biên/ Ta mừng thắng lợi, Pháp phiền xấu xa/ Trăm năm trong cõi người ta/ Bên chính ắt thắng, bên tà ắt thua” [trang 1254].

Nghệ thuật sử dụng “chơi chữ”, “chơi số” để người đọc thêm tò mò, thú vị

Ví như trong bài có tít là ba con số: “10…15…20…”, Bác viết nhân được mùa lớn ở nhiều nơi, nhưng ở đó cán bộ không chú ý tổng kết thì vì sao lại được mùa nên chưa quan tâm tìm biện pháp để đưa năng suất lên cao hơn, mà theo Bác, các yếu tố đủ mạ, đủ phân, đủ nước có ý nghĩa quyết định thắng lợi. Theo đó, phải phát động một phong trào quần chúng cùng thi đua hành động. Kết luận, Bác chỉ rõ, muốn thành công ắt phải: “Đặt mức 10 phần, có biện pháp 15 phần và phải cố gắng 20 phần” [trang 1172].

Bài “Xa luy thành Xa lô”, Bác phân tích mâu thuẫn giữa thực dân Pháp và đế quốc Mỹ trong việc tìm cách cai trị ở Lào. Người Pháp dạy cho lính Lào hễ gặp một vị tướng quân Pháp thì phải chào bằng tiếng mẹ đẻ của viên tướng ấy: “Xa luy tướng quân”. Nhưng huấn luyện viên quân sự Mỹ cố ý dạy cho lính Lào khi gặp tướng Pháp phải chào to “Xa lô tướng quân” (Xa lô là một tiếng chửi mắng rất hỗn xược). Từ đó, Bác rút ra kết luận:

“- Thực dân Pháp rất xúi quẩy

- Đế quốc Mỹ rất đểu cáng

- Mâu thuẫn giữa bọn đế quốc thực dân ngày càng nhiều” [trang 1381].

Chủ tịch Hồ Chí Minh với phóng viên Báo Việt Nam độc lập tại Thái Nguyên, tháng 1/1964

Chủ tịch Hồ Chí Minh với phóng viên Báo Việt Nam độc lập tại Thái Nguyên, tháng 1/1964

Nghệ thuật khôi hài


Bài “Tếu thật”, Bác vạch rõ thủ đoạn quái gở của những người lãnh đạo Mỹ khi tuyên truyền chiến tranh nguyên tử. Một tờ báo Mỹ đưa tin: ngày 15/6/1955 này, Tổng thống, các bộ trưởng, thứ trưởng và ngót 1 vạn 5000 công chức Mỹ sẽ cấp tốc rời khỏi thủ đô và tản cư cách đó từ 80 - 480 cây số, phải ăn ngủ và làm việc dưới hầm trú ẩn trong 3 ngày liền. Đây là cách “báo động giả” để tuyên truyền cho chiến tranh nguyên tử. Bác kết luận: “Dọa người, người chẳng sợ đâu/ Tự mình rước lấy lo âu cho mình” [trang 271].

Bài “Đa lét nói dại”, Bác dẫn bài trả lời phỏng vấn của tướng Pháp là Đa lét huênh hoang về nghệ thuật “Đưa nhà nước đến miệng hố chiến tranh, mà không rơi vào hố chiến tranh, đó là một nghệ thuật tài tình”. Nhiều nước đòi Pháp cách chức Đa lét vì giọng huênh hoang đó. Họ ví Đa lét như một người điên, tay cầm bom nguyên tử, trong túi đút một tờ tạp chí “Dethe - Chết”, chứ không phải “Life - Sống”; từ đó Bác kết luận:

“Tiếng Anh ‘Dal” nghĩa là ngớ ngẩn

Ngoại trưởng Đa lét đã thật ngẩn ngơ

Quen mồm nói dại, nói vơ

Làm cho thiên hạ kẻ ngờ, người khinh” [trang 594].

Dùng thơ lục bát để nhấn mạnh ý tưởng bài viết

Bài “Phí tiền mua cá không tươi/ Mua rau đã héo, mua người ngu ngơ”. Thật ra, cách này Bác rất ít dùng vì tít dài, nhưng trong bối cảnh đặc biệt, cần nhấn sâu ý tưởng bài viết nên Bác dùng câu thơ lục bát cho dễ nhớ. Bác trích tờ tạp chí Mỹ Dân tộc ngày 1/7/1955 viết: “Trong hai năm qua, Mỹ đã giúp Lý Thừa Vãn 1.500 triệu đô la, trong số đó có 720 triệu là “viện trợ quân sự”. Còn Ngô Đình Diệm tìm mọi cách xúi giục chống Pháp, trong khi đó Pháp là đồng minh của Mỹ. Vậy là nhân dân Mỹ thấy chính quyền đã bỏ ra số tiền lớn để ủng hộ những kẻ cầm quyền xấu xa ở một số nước, nên đã phản đối mạnh mẽ. Kết thúc bài viết, Bác dẫn câu tục ngữ Pháp: “Anh bảo tôi ai là bạn anh? Tôi sẽ bảo anh: anh là người thế nào?” [trang 315].

Bài “Muốn cho đời sống đổi thay/ Toàn dân, toàn Đảng ra tay cùng làm”. Sau khi Bác kể những đổi thay nhanh chóng của ngành nông nghiệp ở Trung Quốc mà chính Bác mắt thấy tai nghe, Bác khuyên nông dân ta nên học kinh nghiệm quý:

“Thi đua làm nhiều thủy nông

Dùng nhiều phân bón là công việc đầu

Ba là cuốc bẫm, cày sâu

Bốn chọn giống tốt, năm lo cấy dày

Sáu là kỹ thuật đổi thay

Toàn dân, toàn Đảng ra tay cùng làm” [trang 993]

Thiết nghĩ, những ví dụ nêu trong bài viết này, chỉ là số ít trong số hàng trăm ví dụ tiêu biểu mà Bác đã sử dụng. Đây là minh chứng lời dạy của Bác đối với người viết báo, muốn có bài báo hay, ngoài nội dung phong phú, tư liệu chuẩn xác, cần có nghệ thuật đặt tít bài hấp dẫn để gây dấu ấn trong bạn đọc. Nói cách khác là, viết báo để dân đọc dễ hiểu, dễ nhớ và dễ làm theo - một mục tiêu cao quý của người làm báo cách mạng Việt Nam.

PGS. TS. Nguyễn Hồng Vinh

Học Bác từ tấm gương tự học và tác phong làm việc hiệu quả, chuẩn mực

 Như Xã luận Báo Granma (Cuba), cơ quan ngôn luận của Trung ương Đảng Cộng sản Cuba viết: “Bác Hồ là tấm gương mà nhiều con người có thể noi theo và làm được như Người”(1), tư tưởng và đạo đức Hồ Chí Minh đã trở thành tấm gương cho nhiều thế hệ đương thời và sáng soi trong sự nghiệp cách mạng của dân tộc Việt Nam. Học tập và làm theo Bác là nhiệm vụ hết sức quan trọng, không thể thiếu đối với cán bộ đảng viên trong tu dưỡng, rèn luyện, cống hiến và phụng sự đất nước.

Bác Hồ thăm đảo Tuần Châu, tỉnh Quảng Ninh. (Tranh: Đào Thế Am. Nguồn: Cục Mỹ thuật, Nhiếp ảnh và Triển lãm).

Bác Hồ thăm đảo Tuần Châu, tỉnh Quảng Ninh. (Tranh: Đào Thế Am. Nguồn: Cục Mỹ thuật, Nhiếp ảnh và Triển lãm).

SỬ DỤNG HIỆU QUẢ THỜI GIAN ĐỂ HỌC TẬP VÀ LÀM VIỆC

Học Bác, chúng ta học tập cách quý trọng thời gian, sử dụng hiệu quả thời gian để học tập và làm việc, bởi theo Người: “Của cải nếu hết, còn có thể làm thêm. Khi thời giờ đã qua rồi, không bao giờ kéo nó trở lại được(2). Đó là kinh nghiệm Bác đúc rút ra từ quá trình tự học, làm việc và trong cả cuộc đời làm cách mạng của Người.

Trên hành trình 30 năm bôn ba nước ngoài tìm đường cứu nước, Hồ Chí Minh đã vượt lên hoàn cảnh, luôn tranh thủ thời gian, khai thác tối đa quỹ thời gian eo hẹp và tạo ra thời gian để kiên trì học tập, trau dồi kiến thức. Theo tác giả Trần Dân Tiên trong sách “Những mẩu chuyện về đời hoạt động của Hồ Chủ tịch”, khi làm phụ bếp trên tàu Amiral Latouche Trêville: “Mỗi ngày 9 giờ tối công việc mới xong. Anh Ba mệt lử. Nhưng trong khi chúng tôi (những người Việt Nam làm công trên chuyến tàu) ngủ hoặc đánh bài, anh Ba đọc hay viết đến 11 giờ hoặc nửa đêm”. Những ngày làm vườn cho ông chủ tàu ở Saint Adresse “anh học tiếng Pháp với cô sen”. Những ngày sống ở Anh, “hàng ngày buổi sáng sớm và buổi chiều anh Ba ngồi trong vườn hoa Hayden, tay cầm một quyển sách và một cái bút chì. Hàng tuần, vào ngày nghỉ, anh đi học tiếng Anh với một giáo sư người Ý”. Hồ Chí Minh còn tham gia vào Hội Du lịch đưa khách đi thăm nước Pháp và những nước lân cận với giá tiền rất rẻ bởi như Người đã nói với bạn rằng: “Trong những ngày nghỉ, không nên tiêu phí tiền bạc, mất thì giờ ở bãi bể để nhìn những người đàn bà đi tắm, mà nên đi du lịch, học hỏi được nhiều”(3). Nhờ vậy, Người có dịp đi thăm nhiều nơi ở Pháp, Ý, Thụy Sĩ, Đức và cả Tòa thánh Vatican… để mở rộng tầm nhìn và cơ hội học hỏi. Khi bắt đầu đi tìm đường cứu nước, trình độ học vấn mà Người được đào tạo ở nhà trường chẳng được là bao. Trong lý lịch tự khai tại Đảng Cộng sản Pháp cũng như tại một số hội nghị, Đại hội của Quốc tế Cộng sản mà Người tham dự, Người thường khiêm tốn ghi ở phần trình độ học vấn là Tự học. Năm 1961, tại Hội nghị chuyên đề sinh viên quốc tế họp tại Việt Nam, Người cũng đã tự kể rằng: “Về văn hóa tôi chỉ học hết lớp tiểu học... Về hiểu biết phổ thông: Năm 17 tuổi, tôi mới thấy ngọn đèn điện lần đầu tiên, 29 tuổi mới nghe rađiô lần đầu tiên...”(4). Có thể khẳng định, cuộc đời hoạt động cách mạng của Hồ Chí Minh chính là cuộc đời tự học bền bỉ, và cả thế giới đã phải thừa nhận và khâm phục về sự thông minh, về tầm hiểu biết rộng lớn của Người (danh hiệu nhà văn hóa kiệt xuất mà tổ chức UNESCO trao tặng Người chính là minh chứng).

Trở thành Chủ tịch Đảng, Chủ tịch nước, Hồ Chí Minh vẫn tranh thủ mọi lúc, mọi nơi để học. Năm 1961, nói chuyện với các cán bộ đảng viên ở Nghệ An hoạt động lâu năm, Người tâm sự: “Tôi năm nay 71 tuổi, ngày nào cũng phải học. Việc lớn, việc nhỏ, tôi phải tham gia. Công việc cứ tiến mãi. Không học thì không theo kịp, công việc nó sẽ gạt mình lại phía sau(5). Với các đảng viên mới, Người cũng căn dặn: “Bác đã 76 tuổi nhưng vẫn cố gắng học thêm. Chúng ta phải học và hoạt động cách mạng suốt đời. Còn sống thì còn phải học, còn phải hoạt động cách mạng(6).

Các đồng chí phục vụ Bác sinh thời kể lại rằng, ngày nào Bác cũng dành thời gian để bổ sung và nâng cao tri thức cho mình bằng đọc sách, báo, nghe tin tức thời sự và rút kinh nghiệm từ những công việc thực tiễn hàng ngày. Người thường xem báo ngay đầu giờ buổi sáng và thường xuyên nhắc cán bộ, nhất là cán bộ phụ trách, cần phải sắp xếp thời gian đọc báo hằng ngày để nắm bắt thông tin phục vụ cho công việc. Ngoài báo chí trong nước, Chủ tịch Hồ Chí Minh còn đọc báo nước ngoài gửi đến bằng con đường ngoại giao. Vừa đọc, Người vừa ghi chép hết sức cẩn thận, tỉ mỉ từ những vấn đề của các địa phương trong nước cho đến những biến động trên thế giới, từ những cuộc đấu tranh biểu tình cho đến những vấn đề về tài chính tiền tệ v.v... Rất cụ thể và thiết thực, đây chính là một trong những hình thức tự học tập để bổ sung tri thức hiệu quả và cần thiết. Trên cơ sở đó, giúp Người đưa ra chỉ đạo phù hợp với từng lĩnh vực và những chính sách đối nội, đối ngoại sát với thực tiễn.

Như lời Bác đã dạy: “Muốn tiết kiệm có kết quả tốt, thì phải khéo tổ chức”, hằng tuần, hằng ngày, có khi cả hằng giờ nữa, Bác đều có chương trình làm việc rõ ràng, khoa học, cụ thể. Một ngày làm việc của Bác bắt đầu từ rất sớm: “Khi Đài Tiếng nói Việt Nam mở nhạc hiệu thì Bác cũng bật đèn phòng ngủ. Bác làm suốt cả ngày, nhiều hôm đến tận đêm khuya(7). Trong một ngày Bác giải quyết rất nhiều công việc, từ tiếp cán bộ, tiếp khách ngoại giao, đi thăm cơ sở, họp Bộ Chính trị, nghiên cứu tài liệu, viết báo, viết thư v.v.. Trong khi bộ máy giúp việc cho Bác tại Văn phòng ở Phủ Chủ tịch cũng rất ít. Ngoài bốn cán bộ làm công tác văn phòng (kể cả đồng chí Vũ Kỳ là thư ký riêng của Bác), còn có một số đồng chí nấu ăn, cần vụ, lái xe, làm vườn, có tất cả hơn mư­ời người. Nhưng sự phân bổ thời gian hợp lý khoa học và phong cách làm việc thiết thực cụ thể đã giúp Bác tiết kiệm nhiều thời gian và giải quyết hiệu quả một khối lượng công việc đồ sộ, phức tạp trên cương vị một người lãnh đạo đất nước. Khi cần nắm rõ công việc của ngành nào, địa ph­ương nào, Bác cho gọi đồng chí Trung ư­ơng, Bộ trưởng phụ trách ngành đó, địa phương đó, nếu cần thì đem theo cả chuyên viên đặc trách đến báo cáo với Bác. Người thường bố trí thời gian tiếp cán bộ đến làm việc hoặc tiếp khách vào đầu các buổi sáng sớm để sau đó dành nhiều thời gian cho công việc. Công việc xong mà chưa đến giờ ngủ, Bác lại đọc sách, báo. Chủ nhật, ngày lễ cũng có chương trình. Vì vậy, không mấy khi Bác có thời gian rảnh. Thủ tướng Phạm Văn Đồng là người có nhiều thời gian sống gần Bác trong những năm Người sống và làm việc tại Phủ Chủ tịch đã nhận định: “Theo tôi biết… thật sự Bác không có ngày nghỉ và ngày nào cũng như ngày nào, bao giờ cũng có chương trình làm việc với những giờ giấc rất nghiêm ngặt, mà Hồ Chí Minh là người gương mẫu trong việc tuân thủ kỷ luật đó(8).

Bác Hồ tiếp đoàn đại biểu các dân tộc Hà Giang (15.11.1965). Ảnh: TƯ LIỆU

Bác Hồ tiếp đoàn đại biểu các dân tộc Hà Giang (15.11.1965). (Ảnh: Tư liệu)

CÓ QUYẾT TÂM THÌ VIỆC GÌ LÀM CŨNG ĐƯỢC

Năm 1945, mở đầu bài nói chuyện tại buổi lễ tốt nghiệp khóa 5 trường Huấn luyện cán bộ Việt Nam, Bác đã thẳng thắn góp ý: “Trong giấy mời tới đây nói 8 giờ bắt đầu, bây giờ 8 giờ 10 phút rồi mà nhiều người chưa đến. Cách tôi làm việc đúng giờ. Tôi khuyên anh em làm việc phải cho đúng giờ, vì thời gian quý báu lắm(9). Một câu chuyện nhỏ về thời gian, về kỷ luật nhưng Bác lại dạy chúng ta biết bao điều. Bác quý trọng thời gian của mình bao nhiêu, thì cũng quý thời gian của người khác bấy nhiêu. Vì thế, Bác không để bất cứ ai phải đợi mình bao giờ. Bác đã hẹn là đến, Bác đã hứa là làm, hẹn đồng chí nào giờ nào đến gặp, đến đúng giờ ấy là thấy Bác đã chờ sẵn. Thu Đông năm 1952, Bác đến với Hội nghị chuẩn bị chiến dịch Tây Bắc. Nhiều đồng chí cán bộ dự chiến dịch Tây Bắc năm đó vẫn còn nhớ, Bác đã đến hội nghị với một hình ảnh không ai có thể quên được. Mấy hôm ấy trời mưa to, nước lũ từ các đầu nguồn tràn về cắt đứt cả đường sá nhưng Bác đã vượt suối lũ, tới hội nghị. Bà con địa phương đi đến đấy gặp lũ phải đứng lại, thấy thế cũng hăng hái theo Bác và đều lội qua được. Tất cả các đồng chí dự hội nghị đều biết rằng mùa mưa vượt suối nước lũ không phải là việc dễ, cho nên khi thấy Bác đã tới hội nghị rất đúng giờ, chẳng những cảm động trước sự săn sóc chu đáo của Bác với quân đội, mà còn là một bài học cần ngay cho họ trước khi ra trận. Bài học ấy, như Bác thường nói, là: “Quyết tâm, có quyết tâm thì việc gì làm cũng được(10).

Quý trọng thời gian, Bác không muốn anh em giúp việc, cán bộ ngồi chơi không và luôn căn dặn anh em phải “học ở trường, ở sách vở, học lẫn nhau và học ở nhân dân(11), học trong việc làm hàng ngày, trong việc lớn cũng như việc nhỏ. Đồng chí Hoàng Hữu Kháng, người trực tiếp bảo vệ Bác từ năm 1946 đến năm 1951 kể lại: Có những lần hết giờ gác, chúng tôi nằm tán chuyện với nhau. Lúc giải lao Bác đi thăm anh em. Một hôm, Bác gặp chúng tôi đang nằm chơi, Bác nói: “Các chú không có việc gì làm à? Nếu không có việc thì mang chiếc giư­ờng dỡ ra rồi lắp lại, nếu còn thì giờ nữa thì ra ngoài kia vật nhau hay tăng gia”. Ý Bác muốn nói là phải tìm việc mà làm, không nên ngồi tán gẫu...(12). Đồng chí lái xe ít xem sách báo. Những buổi anh rỗi việc, Bác gọi lên, bảo ngồi ở buồng bên, rồi đưa sách báo cho đọc. Thỉnh thoảng, Bác qua kiểm tra. Có lần Bác vào, thấy tờ báo mở trên bàn, đồng chí lái xe tựa lưng vào ghế ngủ. Bác nhẹ nhàng đi ra. Lúc khác, Bác nói: "Mới đọc chưa hiểu, dễ buồn ngủ. Đọc ít lâu, hiểu rồi sẽ ham. Ham rồi sẽ không buồn ngủ nữa"(13). Cũng với ý đó, Bác đã từng nói với những cán bộ phục vụ thật thấm thía: “Cái gì cũng quen đi thôi các chú ạ. Chăm cũng quen đi, mà lười cũng quen đi, quen nhanh thôi chứ không lâu đâu. Thế nào là khó khăn? Khó khăn là cái chưa quen. Rèn luyện cho quen đi thì khó cũng không còn khó nữa. Kiên trì rèn luyện, sẽ đến một lúc làm cỏi khó thấy rằng không khó”.

VẬN DỤNG NHỮNG CHUẨN MỰC VÀO PHONG CÁCH LÀM VIỆC

Hội nghị trực tuyến toàn quốc nghiên cứu, học tập chuyên đề toàn khóa về

Hội nghị trực tuyến toàn quốc nghiên cứu, học tập chuyên đề toàn khóa về "Học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh" nhiệm kỳ Đại hội XIII của Đảng, chuyên đề năm 2021.

Từ thực tiễn cuộc sống và hoạt động cách mạng, đặc biệt là những năm Người sống và làm việc tại Phủ Chủ tịch, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã để lại những chuẩn mực về phong cách sống, phong cách làm việc. Đây là những bài học thực tiễn sâu sắc đối với mọi tầng lớp nhân dân, nhất là cán bộ đảng viên trong giai đoạn cách mạng hiện nay, khi đất nước đang đẩy mạnh mở cửa hội nhập với thế giới, đòi hỏi mỗi người dân Việt Nam phải có một phong cách làm việc khoa học, hiện đại và hiệu quả để góp phần đưa đất nước phát triển.

Thực trạng hiện nay cho thấy, việc quản lý lao động trong các cơ quan hành chính, đơn vị sự nghiệp nhà nước vẫn còn nhiều hạn chế, dẫn đến lãng phí thời gian lao động, làm cho năng suất, chất lượng hiệu quả công tác chưa cao. Một bộ phận không nhỏ cán bộ, công chức, viên chức Nhà nước chưa đề cao trách nhiệm trong thực hiện nhiệm vụ, công vụ; ý thức kỷ luật lao động kém; vi phạm các quy định của pháp luật về sử dụng thời giờ làm việc, ảnh hưởng đến hiệu quả, chất lượng công tác và tác phong, uy tín của cán bộ, công chức, viên chức.

Để thực hiện mục tiêu hội nhập sâu, rộng vào nền kinh tế thế giới, phấn đấu đưa nước ta phát triển theo hướng công nghiệp hiện đại, mỗi cá nhân, mỗi tập thể cần phải học tập và làm theo tấm gương của Bác, đặc biệt là thực hiện lời dạy của Bác về tiết kiệm và sử dụng hiệu quả thời gian. Các cơ quan hành chính, đơn vị sự nghiệp nhà nước cần tăng cường áp dụng các biện pháp tổ chức lao động một cách khoa học, sử dụng hợp lý thời giờ làm việc của cán bộ, công chức, viên chức nhằm hoàn thành tốt nhiệm vụ của cơ quan, tổ chức, đơn vị. Mỗi cá nhân cần sử dụng hiệu quả thời gian bằng cách sắp xếp kế hoạch cụ thể, chi tiết; cần tích cực thi đua trong lao động, học tập, sản xuất; cần xây dựng phong cách làm việc chuyên nghiệp; rèn luyện tác phong công nghiệp, thể hiện trước nhất ở việc tuân thủ và biết quý trọng thời gian; phát triển khả năng độc lập và tự chủ trong công việc; không ngừng học hỏi và nâng cao kiến thức chuyên môn, ý thức trách nhiệm và tinh thần cầu tiến. Đây cũng chính là biện pháp để chúng ta rèn luyện phẩm chất tốt đẹp của con người mới xã hội chủ nghĩa như Chủ tịch Hồ Chí Minh hằng quan tâm xây dựng: “Từ Chủ tịch Chính phủ cho đến người chạy giấy, người quét dọn trong một cơ quan nhỏ, đều là những người ăn lương của dân, làm việc cho dân, phải được dân tin cậy. Vì vậy, những người làm trong các công sở càng phải làm gương đời sống mới cho dân bắt chước... Làm việc phải đến đúng giờ, chớ đến trễ, về sớm. Làm cho chóng, cho chu đáo. Việc ngày nào, nên làm xong ngày ấy, chớ để chờ ngày mai. Phải nhớ rằng: dân đã lấy tiền mồ hôi nước mắt để trả lương cho ta trong những thì giờ đó. Ai lười biếng tức là lừa gạt dân(14)./.

Để thực hiện mục tiêu hội nhập sâu, rộng vào nền kinh tế thế giới, phấn đấu đưa nước ta phát triển theo hướng công nghiệp hiện đại, mỗi cá nhân, mỗi tập thể cần phải học tập và làm theo tấm gương của Bác, đặc biệt là thực hiện lời dạy của Bác về tiết kiệm và sử dụng hiệu quả thời gian. Các cơ quan hành chính, đơn vị sự nghiệp nhà nước cần tăng cường áp dụng các biện pháp tổ chức lao động một cách khoa học, sử dụng hợp lý thời giờ làm việc của cán bộ, công chức, viên chức nhằm hoàn thành tốt nhiệm vụ của cơ quan, tổ chức, đơn vị. Mỗi cá nhân cần sử dụng hiệu quả thời gian bằng cách sắp xếp kế hoạch cụ thể, chi tiết; cần tích cực thi đua trong lao động, học tập, sản xuất; cần xây dựng phong cách làm việc chuyên nghiệp; rèn luyện tác phong công nghiệp, thể hiện trước nhất ở việc tuân thủ và biết quý trọng thời gian; phát triển khả năng độc lập và tự chủ trong công việc; không ngừng học hỏi và nâng cao kiến thức chuyên môn, ý thức trách nhiệm và tinh thần cầu tiến.

 

ThS. VŨ KIM YẾN
Khu Di tích Chủ tịch Hồ Chí Minh tại Phủ Chủ tịch

KHÔNG THỂ VÔ ƠN. HÃY TỰ HÀO VỀ NHỮNG TRANG SỬ VÀNG CỦA DÂN TỘC

 

        - 541. 933 lính viễn chinh Mỹ và 70.000 quân của 5 nước chư hầu Mỹ đã tham chiến trong cuộc chiến tranh xâm lược phi nghĩa tại Việt Nam.
        - 849.018 anh hùng, liệt sĩ đã hy sinh anh dũng trong cuộc chiến tranh chống Mỹ bảo vệ tổ quốc vĩnh viễn nằm lại ở 10.000 nghĩa trang liệt sĩ trên khắp cả nước, Lào và Campuchia. Nhiều Liệt sỹ hy sinh đến nay vẫn chưa xác định được tên tuổi, quê quán, vẫn chưa tìm thấy mộ.
        - 15,4 triệu tấn bom đạn Mỹ và đồng minh đã dội xuống Việt Nam gấp 6 lần tổng số bom đạn mà tất cả các nước sử dụng trong chiến tranh thế giới thứ 2; tương đương sức nổ của khoảng 600 quả bom nguyên tử mà Mỹ ném xuống Nhật Bản năm 1945. Việt Nam là quốc gia bị Mỹ ném bom nhiều nhất thế giới.
        - 839 tỷ USD mà Mỹ đã đổ vào cuộc chiến tranh xâm lược phi nghĩa ở Việt Nam.
        - 75.000.000 lít chất độc hoá học chủ yếu là chất độc da cam mà Mỹ đã huỷ diệt môi trường sống của Việt Nam khiến 5 triệu người Việt Nam và hàng trăm ngàn người Mỹ đến nay vẫn quằn quại vì chất độc hoá học này.
        - 05 năm là khoảng thời gian Việt Nam đàm phán với Mỹ để ký Hiệp định PARI, chấm dứt chiến tranh, một hiệp định có thời gian đàm phán dài nhất thế giới.
        - Trước khi ký hiệp định, Mỹ thực hiện dã tâm đưa Bắc Việt Nam trở về thời kỳ đồ đá; dùng pháo đài bay B52 rải thảm, huỷ diệt Miền Bắc, đây là cuộc tập kích bằng đường không lớn nhất trong lịch sử chiến tranh thế giới, số bom Mỹ thả trong 12 ngày đêm xuống Hà Nội, Hải Phòng bằng 5 quả bom nguyên tử Mỹ thả xuống Nhật Bản năm 1945.
        - Để có được chiến thắng 30/4/1975, Việt Nam đã chiến đấu quả cảm trong cuộc chiến 10.000 ngày. Lần đầu tiên trên thế giới, một dân tộc nhỏ bé đã đánh bại Đế quốc Mỹ một tên đầu sỏ hiếu chiến và hùng mạnh nhất thế giới.

        49 năm giải phóng miền Nam thống nhất đất nước là dấu son chói lọi, niềm tự hào muôn đời của mỗi người con đất Việt. Chúng ta không được phép lãng quên lịch sử và không được phép vô ơn với xương máu của các thế hệ cha ông mình đã đổ xuống để chúng ta có ngày hôm nay. Dù đứng ở góc độ nào đi nữa cũng không thể phủ nhận một cuộc chiến tranh thần thánh, chính nghĩa của dân tộc Việt Nam đã ghi vào lịch sử thế giới một trang sử vàng chói lọi nhất của chủ nghĩa anh hùng cách mạng, ý chí thống nhất, độc lập, tự chủ và khát vọng của một dân tộc yêu chuộng hoà bình, biểu tượng của hòa bình; cổ vũ các dân tộc tiến bộ khác trên thế giới tiến lên đánh bại chủ nghĩa đế quốc, thực dân cũ và mới dành độc lập, tự do./.