Chủ Nhật, 12 tháng 5, 2024

“Nâng cao đạo đức cách mạng, quét sạch chủ nghĩa cá nhân” - 55 năm vẫn vẹn nguyên giá trị lý luận và thực tiễn

 TG) - Dung lượng ngắn gọn trong gần 700 từ, “Nâng cao đạo đức cách mạng, quét sạch chủ nghĩa cá nhân” của Chủ tịch Hồ Chí Minh là một tác phẩm có giá trị hết sức to lớn đối với Đảng và cách mạng Việt Nam. Trải qua 55 năm, đến nay tác phẩm vẫn vẹn nguyên giá trị cả về lý luận và thực tiễn.

Chủ tịch Hồ Chí Minh (Ảnh tư liệu).

Chủ tịch Hồ Chí Minh (Ảnh tư liệu).

SỰ NHẤT QUÁN TRONG TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ ĐẠO ĐỨC CÁCH MẠNG

Với cách diễn đạt khái quát, ngắn gọn, “Nâng cao đạo đức cách mạng, quét sạch chủ nghĩa cá nhân” đã bao quát nhiều luận điểm lớn và có ý nghĩa cốt lõi của Hồ Chí Minh về đạo đức cách mạng.

Tiếp nối quan điểm về vai trò hết sức quan trọng của đạo đức cách mạng đã được nêu ra trong những bài viết, bài nói trước đó, trong “Nâng cao đạo đức cách mạng, quét sạch chủ nghĩa cá nhân”, Hồ Chí Minh chỉ rõ qua 39 năm đấu tranh oanh liệt, Đảng ta đã được nhân dân ta tin tưởng ở năng lực lãnh đạo sáng suốt và Đảng đã đưa dân tộc ta tiến lên không ngừng từ thắng lợi này đến thắng lợi khác. Có được điều này một phần quan trọng là do “Trong lịch sử đấu tranh của Đảng và trong mọi hoạt động hằng ngày, nhất là trên mặt trận chiến đấu và sản xuất, rất nhiều cán bộ, đảng viên ta đã tỏ ra anh dũng, gương mẫu, gian khổ đi trước, hưởng thụ đi sau và đã làm nên những thành tích rất vẻ vang”(1). Đó chính là những tấm gương sáng về đạo đức cách mạng, là “những bông hoa tươi thắm của chủ nghĩa anh hùng cách mạng” và “nhân dân ta, Đảng ta rất tự hào có những người con xứng đáng như thế”. Chính những con người đó, những phẩm chất đạo đức tốt đẹp đó đã trở thành những nhân tố căn cốt, nền tảng tạo nên sức quy tụ, cảm hóa cao độ đối với quần chúng nhân dân, làm nên sức mạnh của Đảng và mỗi cán bộ, đảng viên.

Quang cảnh hội thảo khoa học: “Tác phẩm Nâng cao đạo đức cách mạng, quét sạch chủ nghĩa cá nhân - Giá trị lý luận và thực tiễn”, nhân kỷ niệm 55 năm Ngày ra đời tác phẩm diễn ra ngày 29/2/2024, tại Hà Nội. (Ảnh: Văn Điệp/TTXVN)

Quang cảnh hội thảo khoa học: “Tác phẩm Nâng cao đạo đức cách mạng, quét sạch chủ nghĩa cá nhân - Giá trị lý luận và thực tiễn”, nhân kỷ niệm 55 năm Ngày ra đời tác phẩm diễn ra ngày 29/2/2024, tại Hà Nội. (Ảnh: Văn Điệp/TTXVN)

Quan điểm trên là sự tiếp nối và khẳng định quan điểm của Hồ Chí Minh rằng đạo đức cách mạng chẳng những là phẩm chất không thể thiếu của người cách mạng, mà còn là gốc rễ, là nền tảng của người cách mạng. Đó như là quy luật muôn thuở của tự nhiên, của trời đất, của sông suối, cây cỏ. Đó cũng là sự tiếp nối và khẳng định quan điểm đạo đức cách mạng giúp người cách mạng vững vàng trong mọi hoàn cảnh dù khó khăn, hay thuận lợi. Có đạo đức cách mạng thì khi gặp khó khăn, gian khổ, thất bại cũng không sợ sệt, rụt rè, lùi bước, mặt khác khi gặp thuận lợi và thành công cũng vẫn giữ vững tinh thần cách mạng, vẫn giữ được sự chất phác, khiêm tốn, không ngại gian khổ, “lo trước thiên hạ, vui sau thiên hạ”, không kèn cựa địa vị, không công thần, không kiêu ngạo. Có đạo đức cách mạng sẽ giúp người cách mạng giữ được đầu óc trong sạch, sáng suốt để hoàn thành xuất sắc các nhiệm vụ được giao. Có đạo đức cách mạng cũng giống như một người có đủ sức khỏe để gánh được nặng và đi được xa. Bởi lẽ, làm cách mạng để cải tạo xã hội cũ thành xã hội mới là một sự nghiệp rất vẻ vang, nhưng cũng là một nhiệm vụ rất nặng nề, một cuộc đấu tranh rất phức tạp, lâu dài và gian khổ, người cách mạng phải có đạo đức cách mạng làm nền tảng thì mới hoàn thành được nhiệm vụ cách mạng vẻ vang.

Điểm nổi bật trong “Nâng cao đạo đức cách mạng, quét sạch chủ nghĩa cá nhân” và thể hiện một nguyên tắc nhất quán trong tư tưởng Hồ Chí Minh về đạo đức là “xây” phải đi cùng với “chống”, nâng cao đạo đức cách mạng phải đi cùng với phòng chống hiệu quả chủ nghĩa cá nhân. Bởi lẽ chủ nghĩa cá nhân là kẻ địch nguy hiểm của đạo đức cách mạng, là căn nguyên chính của nhiều căn bệnh, cũng như khuyết điểm, sai lầm khác và việc tu dưỡng nâng cao đạo đức cách mạng phải gắn bó mật thiết với cuộc đấu tranh chống chủ nghĩa cá nhân. Nhiều lần Hồ Chí Minh chỉ ra rằng chủ nghĩa cá nhân là một thứ vi trùng rất độc, từ đó sinh ra các bệnh nguy hiểm như tham lam, lười biếng, kiêu ngạo, hiếu danh, thiếu kỷ luật, hẹp hòi...; đó là kẻ địch nguy hiểm ở trong mỗi con người, là một loại giặc - “giặc nội xâm”, đồng minh của giặc ngoại xâm, là vết tích xấu xa nhất và nguy hiểm nhất của xã hội cũ. Nó là một thứ rất gian giảo, xảo quyệt, khéo dỗ dành mỗi người đi xuống dốc, cần phải tỉnh táo đề phòng và kiên quyết tiêu diệt. “Chủ nghĩa cá nhân trái ngược với đạo đức cách mạng, nếu nó còn lại trong mình, dù là ít thôi, thì nó sẽ chờ dịp để phát triển, để che lấp đạo đức cách mạng, để ngăn trở ta một lòng một dạ đấu tranh cho sự nghiệp cách mạng”(2).

Do sự nguy hiểm của chủ nghĩa cá nhân như trên nên việc phòng chống nó là việc làm cần thiết và thường xuyên của công tác xây dựng Đảng, đồng thời cũng là trách nhiệm của mỗi cán bộ, đảng viên. Hồ Chí Minh nhắc nhở một dân tộc, một đảng và mỗi con người, ngày hôm qua là vĩ đại, có sức hấp dẫn lớn, không nhất định hôm nay và ngày mai vẫn được mọi người yêu mến và ca ngợi, nếu lòng dạ không trong sáng nữa, nếu sa vào chủ nghĩa cá nhân. Bởi lẽ, đạo đức cách mạng không phải trên trời sa xuống mà do đấu tranh, rèn luyện bền bỉ hằng ngày mà phát triển và củng cố, cũng giống như ngọc càng mài càng sáng, vàng càng luyện càng trong. Rèn luyện, tu dưỡng đạo đức cách mạng giống như chăm bón cây lúa. Còn chủ nghĩa cá nhân giống như một thứ cỏ dại, không cần chăm bón vẫn dễ mọc và mọc nhanh, mọc khoẻ. Vì vậy, người cách mạng phải không ngừng tu dưỡng đạo đức cách mạng, chống chủ nghĩa cá nhân, phải coi đó là một việc làm thường xuyên giống như việc phải rửa mặt sạch sẽ hằng ngày.

Trong tác phẩm “Nâng cao đạo đức cách mạng, quét sạch chủ nghĩa cá nhân”, Hồ Chí Minh chỉ rõ dù có nhiều tấm gương tốt, góp phần to lớn đối với thắng lợi của sự nghiệp cách mạng, nhưng trong Đảng vẫn còn một số ít cán bộ, đảng viên đạo đức, phẩm chất thấp kém. Những người này “mang nặng chủ nghĩa cá nhân, việc gì cũng nghĩ đến lợi ích riêng của mình trước hết. Họ không lo “mình vì mọi người” mà chỉ muốn “mọi người vì mình”. Chính vì để chủ nghĩa cá nhân chi phối nên những người này trở nên ngại gian khổ, khó khăn, sa vào tham ô, hủ hoá, lãng phí, xa hoa, tham danh, trục lợi, thích quyền hành; trở nên tự cao, tự đại, coi thường tập thể, xem khinh quần chúng, xa rời thực tế, mắc bệnh quan liêu mệnh lệnh, không có tinh thần cố gắng vươn lên, không chịu học tập để tiến bộ. Cũng do sa vào chủ nghĩa cá nhân mà những người này gây mất đoàn kết, thiếu tính tổ chức, tính kỷ luật, kém tinh thần trách nhiệm, không chấp hành đúng đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước, làm hại đến lợi ích của cách mạng, của nhân dân. “Tóm lại, do cá nhân chủ nghĩa mà phạm nhiều sai lầm”(3).

Chủ nghĩa cá nhân thực sự là kẻ địch nguy hiểm của đạo đức cách mạng, đồng thời cũng là một trở ngại lớn cho việc xây dựng chủ nghĩa xã hội, là một kẻ địch hung ác của chủ nghĩa xã hội. Vì vậy, người cách mạng phải kiên quyết tiêu diệt chủ nghĩa cá nhân. Muốn tu dưỡng, rèn luyện được đạo đức cách mạng, muốn giành thắng lợi trong công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội, không thể tách rời với cuộc đấu tranh trừ bỏ chủ nghĩa cá nhân.

Với tầm nhìn rất tinh tế và nhân văn sâu sắc, khi đề cập về việc nhận diện và phòng, chống chủ nghĩa cá nhân, Hồ Chí Minh cũng đã nêu lên quan điểm cho rằng đấu tranh trừ bỏ chủ nghĩa cá nhân không phải là giày xéo lên lợi ích chính đáng của cá nhân. Người chỉ rõ mỗi người đều có tính cách riêng, sở trường riêng, đời sống riêng của bản thân và của gia đình. Nếu những lợi ích cá nhân đó không trái với lợi ích của tập thể thì không phải là xấu(4).

Điểm đặc biệt trong “Nâng cao đạo đức cách mạng, quét sạch chủ nghĩa cá nhân” là sự thể hiện tập trung những biện pháp nâng cao đạo đức cách mạng và phòng chống chủ nghĩa cá nhân. Tác phẩm nêu lên những biện pháp toàn diện trên cả phương diện của tổ chức đảng và mỗi cán bộ, đảng viên.

Đối với hệ thống tổ chức Đảng, trước hết là các cơ quan, tổ chức trực tiếp đảm trách công tác xây dựng Đảng và cấp ủy các cấp, “Nâng cao đạo đức cách mạng, quét sạch chủ nghĩa cá nhân” yêu cầu phải ra sức tăng cường giáo dục toàn Đảng về lý tưởng cộng sản chủ nghĩa, về đường lối, chính sách của Đảng, về nhiệm vụ và đạo đức của người đảng viên. Phải thực hành phê bình và tự phê bình nghiêm chỉnh trong Đảng. Phải hoan nghênh và khuyến khích quần chúng nhân dân thật thà phê bình cán bộ, đảng viên. Phải giữ nghiêm chế độ sinh hoạt của chi bộ. Kỷ luật của Đảng phải nghiêm minh. Công tác kiểm tra của Đảng phải chặt chẽ.

Đối với mỗi cán bộ, đảng viên, nhất là những cán bộ, đảng viên giữ cương vị chủ chốt, “Nâng cao đạo đức cách mạng, quét sạch chủ nghĩa cá nhân” yêu cầu phải đặt lợi ích của cách mạng, của Đảng, của nhân dân lên trên hết và trước hết. Phải kiên quyết quét sạch chủ nghĩa cá nhân, nâng cao đạo đức cách mạng. Phải bồi dưỡng tư tưởng tập thể, tinh thần đoàn kết, tính tổ chức và tính kỷ luật. Mỗi cán bộ, đảng viên phải đi sâu đi sát thực tế, gần gũi quần chúng, thật sự tôn trọng và phát huy quyền làm chủ tập thể của nhân dân. Phải cố gắng học tập, rèn luyện, nâng cao trình độ hiểu biết để làm tốt mọi nhiệm vụ được giao.

TÁC PHẨM MANG Ý NGHĨA THỜI SỰ SÂU SẮC

Một trang bản thảo bài viết của Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Nâng cao đạo đức cách mạng, quét sạch chủ nghĩa cá nhân” (3/2/1969)

Một trang bản thảo bài viết của Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Nâng cao đạo đức cách mạng, quét sạch chủ nghĩa cá nhân” (3/2/1969)

Ý nghĩa thời sự của tác phẩm “Nâng cao đạo đức cách mạng, quét sạch chủ nghĩa cá nhân” được thể hiện ở hai điểm chính sau:

Trong những năm đổi mới vừa qua, Đảng ta đặc biệt quan tâm đến công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng. Trong đó, việc phòng ngừa, ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống trong một bộ phận cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp... là việc rất cấp bách và rất quan trọng, liên quan tới sự tồn vong của Đảng, của Nhà nước, của chế độ ta và vị thế đất nước ta trên trường quốc tế.

Đại hội toàn quốc lần thứ XIII của Đảng tiếp tục chỉ ra thực trạng đồng thời cũng là một trong những nguyên nhân của các hạn chế trong thực hiện Nghị quyết Đại hội toàn quốc lần thứ XII của Đảng là: “Tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, chủ nghĩa cá nhân, "lợi ích nhóm", bệnh lãng phí, vô cảm, bệnh thành tích ở một bộ phận cán bộ, đảng viên chưa bị đẩy lùi”(5).

Nhiệm kỳ Đại hội XIII của Ban Chấp hành Trung ương Đảng tiếp tục đề cập về công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng tại Hội nghị lần thứ tư và ra Kết luận số 21-KL/TW về đẩy mạnh xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị; kiên quyết ngăn chặn, đẩy lùi, xử lý nghiêm cán bộ, đảng viên suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, trong đó nêu rõ bên cạnh nhiều thành tích đã đạt được trong công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng, còn có tình trạng “Một bộ phận cán bộ, đảng viên, trong đó có cả cán bộ lãnh đạo, quản lý nhận thức chưa đầy đủ tính chất, tầm quan trọng của công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng; chưa nêu cao tinh thần trách nhiệm, thiếu gương mẫu, phai nhạt lý tưởng, giảm sút ý chí, sa vào chủ nghĩa cá nhân, nói chưa đi đôi với làm, vi phạm kỷ luật đảng, vi phạm pháp luật”(6).

Những nội dung trên cũng đã được Chủ tịch Hồ Chí Minh đề cập rõ trong “Nâng cao đạo đức cách mạng, quét sạch chủ nghĩa cá nhân”. Tác phẩm đã chỉ ra tình trạng suy thoái đạo đức, lối sống, sa vào chủ nghĩa cá nhân ở một bộ phận cán bộ, đảng viên; chỉ ra các tác hại và biểu hiện của chủ nghĩa cá nhân, từ đó nêu lên sự cần thiết phải nâng cao đạo đức cách mạng, chống chủ nghĩa cá nhân. Đó là để “làm cho tất cả cán bộ, đảng viên xứng đáng là những chiến sĩ cách mạng”, “là việc làm cần thiết để giúp tất cả cán bộ, đảng viên đều tiến bộ, góp sức nhiều hơn nữa cho sự nghiệp chống Mỹ, cứu nước toàn thắng và xây dựng chủ nghĩa xã hội thành công”(7).

Tác phẩm còn nêu những chỉ dẫn về các cách thức, biện pháp hữu hiệu để nâng cao đạo đức cách mạng, chống chủ nghĩa cá nhân. “Nâng cao đạo đức cách mạng, quét sạch chủ nghĩa cá nhân” nêu một hệ giải pháp với hai cấp độ đối tượng là hệ thống tổ chức toàn Đảng và mỗi cán bộ, đảng viên. Trong công tác giáo dục, rèn luyện đạo đức cách mạng hiện nay, những biện pháp đó vẫn giữ nguyên giá trị.

55 năm đã trôi qua từ khi tác phẩm “Nâng cao đạo đức cách mạng, quét sạch chủ nghĩa cá nhân” ra đời. Độ lùi lịch sử và những vấn đề đặt ra trong thực trạng đội ngũ cán bộ, đảng viên hiện nay, nhất là tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, thậm chí “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong một bộ phận cán bộ, đảng viên càng cho thấy ý nghĩa to lớn và sức sống của tác phẩm. Đây thực sự là một “cuốn cẩm nang” quý báu về công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng nói chung, về vấn đề giáo dục, rèn luyện đạo đức cách mạng của cán bộ, đảng viên nói riêng. Đồng thời, tác phẩm có ý nghĩa quan trọng đối với việc thực hiện Kết luận 01-KL/TW về tiếp tục thực hiện Chỉ thị số 05-CT/TW ngày 15/5/2016 của Bộ Chính trị khóa XII về "Đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh". Điều đó cho thấy tác phẩm “Nâng cao đạo đức cách mạng, quét sạch chủ nghĩa cá nhân” đến nay vẫn mang ý nghĩa hết sức sâu sắc cả về lý luận và thực tiễn./.

PGS. TS. Lý Việt Quang
Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh

Từ ý kiến của Chủ tịch Hồ Chí Minh, nghĩ về đội ngũ văn nghệ sĩ tài năng với sứ mệnh nghề nghiệp trong thời cuộc mới

 Chủ tịch Hồ Chí Minh khái quát về đối tượng phục vụ của văn nghệ: “Chúng ta phải phục vụ đại đa số nhân dân, cần phải nói dứt khoát như thế, không thể nói nghệ thuật vị nghệ thuật”.

Chủ tịch Hồ Chí Minh đến dự cuộc họp mặt mừng Xuân và chúc mừng năm mới các nhân sĩ, trí thức, văn nghệ sĩ nhân dịp Tết Nguyên đán Nhâm Dần (3/2/1962). (Ảnh: TTXVN)

Chủ tịch Hồ Chí Minh đến dự cuộc họp mặt mừng Xuân và chúc mừng năm mới các nhân sĩ, trí thức, văn nghệ sĩ nhân dịp Tết Nguyên đán Nhâm Dần (3/2/1962). (Ảnh: TTXVN)

Trong quá trình lãnh đạo cách mạng giải phóng dân tộc rồi xây dựng và bảo vệ đất nước, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn luôn trân trọng tài năng đặc biệt, hiếm có của văn nghệ sĩ, chân tình khuyến nghị văn nghệ sĩ gắn bó tài năng của mình với sứ mệnh nghề nghiệp cao cả trước xã hội và thời cuộc.

Năm 1942, trong nhà tù hà khắc của Tưởng Giới Thạch, lãnh tụ cách mạng Việt Nam đã phát biểu có tính chất tuyên ngôn về sứ mệnh trọng đại của văn nghệ cách mạng và nhiệm vụ của người nghệ sĩ yêu nước. Người viết:

Thơ xưa yêu cảnh thiên nhiên đẹp
Mây gió trăng hoa tuyết núi sông
Nay ở trong thơ nên có thép
Nhà thơ cũng phải biết xung phong.

(Cảm tưởng đọc “Thiên gia thi” - Nhật kí trong tù(1))

Qua bài thơ, có thể nhận ra hàm ý sâu xa của một nhà cách mạng trong khi chỉ ra sự “thiên ái” của thơ xưa chỉ chú trọng miêu tả cái đẹp của thiên nhiên, vũ trụ khách quan mà Người thấy rằng như thế là chưa đủ, Người khơi dậy khát vọng gắn bó với cuộc sống con người và cuộc đấu tranh trong xã hội cho những mục đích cao đẹp của dân tộc và đất nước. Văn nghệ sĩ không thể chỉ cảm thán trước cái đẹp của thiên nhiên, mà cần nêu cao tinh thần tiên phong của người chiến sĩ dấn thân vào trường tranh đấu sinh tử cho cái đẹp, cái tốt nơi xã hội và con người.

Sau này, khi đất nước giành được độc lập, Người phát triển ý kiến trên, chỉ ra rằng “văn hóa cần vào sâu trong tâm lí quốc dân”, “phải soi đường cho quốc dân đi”, “lãnh đạo quốc dân thực hiện độc lập, tự cường và tự chủ”.(2)

Chủ tịch Hồ Chí Minh khái quát về đối tượng phục vụ của văn nghệ: “Chúng ta phải phục vụ đại đa số nhân dân, cần phải nói dứt khoát như thế, không thể nói nghệ thuật vị nghệ thuật.”(3)

Đó là vấn đề có tính chất then chốt của nguyên lí mĩ học mác-xít mà Hồ Chủ tịch quán triệt, trước hết là về lý tưởng chính trị - nghệ thuật, về đối tượng phục vụ và vai trò, vị trí của văn nghệ sĩ yêu nước, cách mạng.

Tiếp đó, về phương diện nghề nghiệp, Người cho rằng văn nghệ sĩ cần luôn luôn tâm huyết xây dựng những tác phẩm xứng đáng với sự nghiệp đại nghĩa của dân tộc, đó là những tác phẩm tốt, hay và đẹp, có thể ví như những hòn ngọc quý, để đời. Những tác phẩm có giá trị đó cần đáp ứng đầy đủ hai tiêu chuẩn đồng bộ, hữu cơ cả về tư tưởng cao đẹp, cả về nghệ thuật nhuần nhuyễn, không thể xem nhẹ mặt nào; trong đó qua sự miêu tả bằng ngôn ngữ và chất liệu, thủ pháp nghệ thuật… phải đạt mức độ chân thực cao, hùng hồn, hay, hấp dẫn và bổ ích với công chúng tiếp nhận đông đảo.

Là một vị lãnh tụ cách mạng hết lòng vì dân, vì nước, đồng thời cũng là một nghệ sĩ, nhà báo, nhà tuyên truyền, người cầm bút làm thơ, viết văn, vẽ tranh, hoạt động nhiếp ảnh, sân khấu…, tác giả Hồ Chí Minh am hiểu sâu sắc tâm lí học sáng tạo và lao động nghệ thuật đặc thù của văn nghệ sĩ, ưu thế cũng như giới hạn của từng loại hình nghệ thuật với các ngôn ngữ thể hiện khác nhau… Người đã có những gợi ý rất quý báu về nghề nghiệp để các văn nghệ sĩ và công chúng nghệ thuật tham khảo bổ ích.

Hồ Chí Minh cho rằng những căn bệnh hay gặp trong sáng tạo nghệ thuật cần tránh, như là điều tối kị, đó là sự công thức, nhàm chán vô bổ, lười biếng rập khuôn, lập dị khó hiểu đến mức không ai hiểu được, xa rời cốt cách dân tộc…

Để trở thành một nhà nghệ sĩ lớn, người sáng tạo nghệ thuật không thể không quan tâm tu dưỡng đạo đức, trau dồi và nâng cao trình độ nghề nghiệp, không ngừng đáp ứng đòi hỏi của công chúng, tôn trọng sự thưởng ngoạn nghệ thuật của công chúng. Có vậy công chúng mới tôn trọng lại nhân cách và tác phẩm của anh ta.

*

Có mấy sự việc dưới đây mà tôi nguyên là cán bộ nghiên cứu của Viện Văn học (1967-2006) cùng các đồng nghiệp ở cơ quan này luôn truyền bảo nhau nhớ mãi, xem đó là những bài học vỡ lòng cho nghề cầm bút.

Chuyện thứ nhất

Đầu năm 1960, Viện Văn học theo sự chỉ đạo của đồng chí Trường Chinh và đồng chí Tố Hữu, đã phối hợp tổ chức dịch xong tập bản thảo viết tay Ngục trung nhật kí, nguyên tác chữ Hán của lãnh tụ Hồ Chí Minh sáng tác những năm 1942-1943. Bản thảo dịch đầu tiên có tên là Nhật kí trong tù, được Viện Văn học trân trọng gửi lên Văn phòng Phủ Chủ tịch với đề nghị được Bác Hồ xem duyệt và cho ý kiến.

Thư kí Vũ Kỳ trình bản dịch thơ Bác được đánh máy khi lên làm việc với Bác. Bác đã yêu cầu đồng chí Vũ Kỳ thử đọc bản dịch mấy bài trong tập xem sao. Nghe xong 3 bài, Bác ra hiệu ngừng lại và nói: “Chú trả lại ngay cho nơi gửi.” Rồi Bác nói tiếp: “Thơ các chú dịch hay hơn thơ Bác”(4).

Qua đây, nên chăng hiểu đây là sự phê bình, đánh giá thân tình mà dí dỏm, hóm hỉnh rằng: dịch văn học là một công việc khó, phải công phu, thận trọng và tài năng mới có thể đạt tới các tiêu chí “tín, đạt, nhã”, như yêu cầu rất cao của công việc khó khăn này. Nghĩa là ở đây bản dịch do Viện Văn học chủ trì vẫn còn những chữ chưa ổn, chưa có sức thuyết phục tác giả nguyên bản, chưa sát, chưa trung thành với nguyên tác, khiến cho tác giả không nhận ra mình qua bản dịch thơ mình - một người viết trọng sự giản dị, hàm súc, có phong cách riêng. Dù người dịch thiện chí, sáng tạo thêm thắt vào nguyên tác chỗ này chỗ nọ để tác phẩm “đèm đẹp” hơn, và cho rằng như thế mới là hay, tôn vinh tác phẩm lên, nhưng đã vô tình làm mất đi tính chân thật tự nhiên gắn với tác giả từ gốc, từ hồn cốt, thì có nên chăng? Theo thiển ý của tôi, Bác Hồ dè chừng với cách làm này và đề nghị nên làm lại thì hơn.

Chuyện thứ hai

Cuối tháng 9 năm 1960, Viện Văn học triệu tập hội nghị bàn về cải tiến chữ quốc ngữ, tại Hà Nội. Được biết Chủ tịch Hồ Chí Minh từ lâu quan tâm đến vấn đề này, Ban tổ chức hội nghị đã gửi đến Văn phòng Phủ Chủ tịch bản dự thảo báo cáo chính sẽ trình bày trước hội nghị để Bác Hồ được biết những vấn đề giới nghiên cứu khoa học ngữ văn đang quan tâm.

Giữa lúc hội nghị đang họp, Ban tổ chức vinh dự được Bác Hồ cho gặp để nghe Bác phát biểu một số ý kiến liên quan đến các khía cạnh thuộc nội dung hội nghị.

a) Về vần quốc ngữ: Bác Hồ cho rằng cần nghiên cứu cẩn thận, làm chắc chắn để sửa đổi những chỗ còn bất hợp lí hoặc thêm vần trong việc viết chữ quốc ngữ, sao cho như thế “sẽ tiện hơn, mà lại viết gọn, ít tốn giấy”.

b) Về cách viết tiếng Việt: Khi sử dụng chữ quốc ngữ, theo Bác Hồ, để dễ phân biệt nghĩa của từ và đỡ tốn giấy, có thể nghiên cứu tiến hành dần dần việc viết liền những từ có nhiều âm tiết. Còn trong khoa học tự nhiên, đối với những công thức hóa học đã phổ cập với quốc tế, thì ta phải viết liền như quốc tế đã làm.

c) Về hội nghị: Theo Bác cần bàn những vấn đề thiết thực, nhằm tới những mục đích rõ ràng, nhưng không nên nóng vội, phải có hiệu quả, cải tiến nhưng phải làm thận trọng, dần dần, đừng gây xáo trộn, để người ta làm quen dần với cái mới, không sợ cái mới quá.

d) Về ngôn ngữ tiếng Việt: Bác Hồ cho rằng phải tôn trọng và quý báu, tận tâm, tận lực cho sự phát triển tiếng của dân tộc mình, tránh tự ti hoặc hẹp hòi thái quá. Chỉ nên vay mượn tiếng nước ngoài khi thật cần thiết, chống lạm dụng và lười biếng. Phải luôn quan tâm làm mới cách diễn đạt của tiếng Việt, phát triển nó là chính, vay mượn chỉ là phụ.

Những ý kiến ngắn gọn nói trên của Bác Hồ đã được ghi lại cẩn thận, nhưng Bác không đồng ý công bố các ý kiến của mình trong khi hội nghị đang diễn ra, để đảm bảo tính dân chủ trong tranh luận, trao đổi học thuật khi vấn đề còn đang bàn bạc, tranh cãi, chưa ngã ngũ. Bác khiêm tốn chỉ xem ý kiến riêng của mình là bình đẳng với các ý kiến khác.

Mãi sau ngày Bác mất (2/9/1969) những ý kiến nói trên của Bác mới công bố lần đầu trên tạp chí chuyên ngành ngôn ngữ học.(5)

Chuyện thứ ba

Cuối tháng 10 năm 1962, một hôm cơ quan Viện Văn học nhận được một bì thư từ Phủ Chủ tịch gửi xuống. Mở ra trong bì thư chỉ có một bài báo do Hồ Chủ tịch cắt ra từ một tờ báo nước ngoài mới xuất bản mà Người vừa đọc. Người lấy bút mực đỏ khuyên vào một câu trong bài báo đó (nguyên văn in bằng chữ Trung Quốc). Câu đó tác giả bài báo trích dẫn câu nói nổi tiếng của cổ nhân: “Lương công bất thị nhàn dĩ phác”, dịch ra tiếng Việt là “Người thợ khéo không đưa cho người dùng những sản phẩm vụng về”(6).

Biết việc này, lãnh đạo và toàn thể cán bộ Viện Văn học vô cùng xúc động, trân trọng tìm hiểu qua đó những ý tứ sâu xa mà Người muốn gửi gắm tới những người nghiên cứu - phê bình văn học nói riêng cũng như toàn giới văn học nghệ thuật nói chung.

Phải chăng, Người muốn thân tình nhắc nhở những người hoạt động văn học nghệ thuật ở tất cả các lĩnh vực của nghề nghiệp, phải có được một bản lĩnh và đạo đức nghề nghiệp cần thiết, biết tôn trọng công chúng và người đọc, để tâm huyết và dụng công làm ra những sản phẩm thuộc văn hóa tinh thần tinh xảo ở trình độ tay nghề bậc cao, hoàn mĩ, cho thấy sự thành thục về tài năng và tay nghề của mình khi trao gửi tác phẩm cho công chúng. Chỉ có như vậy, hoạt động của người nghệ sĩ mới có ích, thân thiện với mọi người, mang lại hiệu quả xã hội cao, không phụ sự chờ đợi của công chúng. Qua đó, uy tín, “thương hiệu” của người sản xuất được khẳng định, gây được lòng tin, sự mến mộ của công chúng, thiết lập sự tri âm tri kỉ lâu bền giữa đôi bên.

Chúng tôi cũng nghiêm khắc tự liên hệ về những hành xử của mình, nhận ra những thiếu sót, bất cập bởi có lúc, có nơi, dựa vào những lí do thuộc về chủ quan là chính nhưng biện bạch gọi là “bất khả kháng” cho phép mình dung túng sự thiếu tâm huyết, cẩu thả, làm lấy được hoặc tự bằng lòng với trình độ còn thấp về tay nghề của mình cùng với những nguyên nhân khác, đưa ra những bài viết, công trình nghiên cứu vội vàng, giá trị khoa học chưa cao, chưa đạt với chuẩn mong muốn, phụ lòng chờ đợi của công chúng và đồng nghiệp, gây thất vọng nơi họ, làm hỏng thị hiếu khoa học - nghệ thuật của công chúng.

Qua các ý kiến trên, theo Hồ Chí Minh, tác phẩm nghệ thuật muốn tiềm tàng những giá trị sâu sắc phải “gắn với cuộc sống, đi sát cuộc sống, trở về với cuộc sinh hoạt thực tại của con người”. Nghệ sĩ “không thể tùy ý tưởng tượng ra thế nào cũng được, đến nỗi không ai hiểu gì” khi tiếp cận tác phẩm, “rồi quần chúng phê bình lại bảo người ta dốt”. Người yêu cầu cao về sự phong phú, đa dạng, muôn hình muôn vẻ của nghệ thuật, tránh sự đơn điệu nghèo nàn, suy tôn duy nhất một kiểu tư duy, một kiểu bút pháp, một loại phong cách. “Cần làm cho món ăn tinh thần được phong phú, không nên bắt mọi người chỉ được ăn một món thôi. Cũng như vào vườn hoa, cần cho mọi người thấy nhiều hoa đẹp.”(7)

Sau hết, Chủ tịch Hồ Chí Minh kì vọng khi sáng tạo, văn nghệ sĩ cần vượt qua những cái nhất thời, không vụ vào những điều hiện hữu trước mắt, cần quan tâm đến cấu trúc tổng thể và sự hoàn thiện để tác phẩm có được sự trường tồn, phổ cập, bền vững, để đời, không chỉ cho hôm nay mà còn cho mai sau, không chỉ cho đồng bào dân tộc mình mà còn để cho công chúng rộng rãi toàn thế giới được biết nữa. Nghệ thuật chân chính sẽ có sức lan tỏa rộng rãi trong nhiều trường không - thời gian khác nhau, chịu được sự thử thách của công chúng qua nhiều thời đại.

*

Học tập và quán triệt tư tưởng văn hóa - văn nghệ Hồ Chí Minh, Đảng Cộng sản Việt Nam qua các nghị quyết, chỉ thị đã khẳng định văn hóa - nghệ thuật góp phần quan trọng bồi đắp nền tảng tinh thần của xã hội, là mục tiêu và động lực của sự phát triển bền vững đất nước. Phải kiên quyết chống bệnh sơ lược, chủ nghĩa hình thức, chủ nghĩa tự nhiên, bệnh lai căng mất gốc, bắt chước mù quáng nước ngoài một cách nô lệ; tự giam mình trong khuôn sáo cũ; bệnh cẩu thả, thiếu trách nhiệm, không đáp ứng sự thụ hưởng các giá trị cao đẹp của văn hóa văn nghệ dân tộc và thế giới.

Đảng chủ trương chăm lo ba thứ quân của lực lượng văn nghệ, trong đó đội ngũ văn nghệ sĩ chuyên nghiệp là quân chủ lực, gánh vác những trọng trách không thay thế được để xây dựng nền văn hóa - văn nghệ dân tộc phong phú, tiên tiến, khoa học và nhân văn, đảm bảo chất lượng cao. Văn nghệ sĩ là “kĩ sư tâm hồn”, là “thư kí và lương tâm của thời đại”; những người ưu tú trong số đó được xếp vào hàng “nguyên khí quốc gia”.

Tác phẩm văn hóa, văn nghệ hay và đẹp có tác dụng giáo dục tư tưởng sâu sắc, nâng cao trình độ và năng lực thẩm mĩ của nhân dân, tác động và truyền cảm mạnh mẽ giúp con người hoàn thiện nhân cách, xứng đáng với bản chất đích thực của nó.(8)

Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng trong những phát biểu gần đây tại Hội nghị văn hóa toàn quốc, ngày 24/11/2021, tại Lễ kỉ niệm 75 năm thành lập Hội văn nghệ Việt Nam (nay là Liên hiệp các hội văn học nghệ thuật Việt Nam) đặc biệt nhấn mạnh sự gắn bó mật thiết, đồng hành của văn nghệ sĩ với đất nước, với nhân dân, dấy lên khát vọng lớn lao trong sáng tạo nghệ thuật, nhập cuộc với cao trào của công cuộc chấn hưng đất nước với niềm tự hào về sự lớn mạnh của Việt Nam trong thời cuộc quốc tế hiện nay.

Vui mừng về những thành quả đã đạt được trong 75 năm qua, những văn nghệ sĩ Việt Nam cần biết “tự soi, tự sửa” để khắc phục những mặt còn chưa được bằng người, bền chí vươn lên, tự đổi mới mình, để có trình độ, tầm nhìn, cách nghĩ và những tìm tòi về phương thức hoạt động, sáng tạo có hiệu quả hơn nữa, phù hợp và đáp ứng với thực tiễn phát triển của nước Việt Nam đang trên đà hiện đại hóa, sánh vai cùng bạn bè quốc tế(9).

Chúng ta quyết tâm đoàn kết xây dựng đội ngũ văn nghệ sĩ lớn mạnh, không để cho sự tầm thường dễ dãi ám ảnh mình mà không tự biết. Phải thăng hoa, công phu sáng tạo những tác phẩm đỉnh cao, rung động trái tim và khối óc hàng triệu công chúng. Đó là những tác phẩm chiếu sáng cuộc sống, soi đường cho quốc dân đi, chứ không chỉ là nơi cuộc sống hiện hình. Tác phẩm như vậy cũng nhằm bồi dưỡng, nâng cao con người, chứ không phải chỉ là nơi nghệ sĩ khuôn mình giãi bày những tâm trạng cá nhân riêng tư, tầm thường hóa, nếu không phải là hạ thấp con người(10).

Vinh dự và trách nhiệm của văn nghệ sĩ ngày nay là rất vẻ vang, nhưng cũng vô cùng nặng nề. Hướng tới những tác phẩm đỉnh cao ở đó có sự kết hợp tinh hoa của tư tưởng và sự điêu luyện nghệ thuật, tính chân thực của hiện thực và lịch sử; tính dân tộc như là căn cước của giống nòi; tính nhân dân như là gốc rễ cội nguồn; tính quốc tế để phổ cập và hội nhập vào văn minh nhân loại - đó vừa là tâm nguyện vừa là thời cơ và thách thức đang đón đợi chúng ta vượt lên và thành công./.

NGUYỄN NGỌC THIỆN

Vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về phương pháp dân vận trong giai đoạn hiện nay

 rong giai đoạn hiện nay, việc vận dụng phương pháp dân vận Hồ Chí Minh đòi hỏi mỗi cán bộ, đảng viên cần nêu cao tinh thần gương mẫu, tăng cường công tác tuyên truyền, kiểm tra, giám sát, tập hợp quần chúng.

Ủy viên Bộ Chính trị, Thường trực Ban Bí thư, Trưởng Ban Tổ chức Trung ương Trương Thị Mai thăm hỏi, chúc tết nhân dân biên giới xã Dân Hóa, huyện Minh Hóa, tỉnh Quảng Bình. (Ảnh: TTXVN)

Ủy viên Bộ Chính trị, Thường trực Ban Bí thư, Trưởng Ban Tổ chức Trung ương Trương Thị Mai thăm hỏi, chúc tết nhân dân biên giới xã Dân Hóa, huyện Minh Hóa, tỉnh Quảng Bình. (Ảnh: TTXVN)

TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ PHƯƠNG PHÁP DÂN VẬN

Trong suốt cuộc đời hoạt động cách mạng, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn kế thừa những giá trị tinh hoa trong truyền thống văn hóa dân tộc, vận dụng sáng tạo quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin về vai trò của quần chúng nhân dân trong sự nghiệp cách mạng vào điều kiện cụ thể của Việt Nam. Theo Người, để quần chúng nhân dân thực hiện được vai trò cách mạng của mình thì cần thực hiện công tác dân vận. “Dân vận là vận động tất cả lực lượng của mỗi một người dân không để sót một người dân nào, góp thành lực lượng toàn dân, để thực hành những công việc nên làm, những công việc Chính phủ và Đoàn thể đã giao cho”(1); đồng thời, để thực hiện tốt công tác dân vận, mỗi chủ thể tiến hành công tác dân vận phải có phương pháp dân vận cụ thể, dân vận khéo, bởi “dân vận khéo thì việc gì cũng thành công”(2). Tư tưởng Hồ Chí Minh về phương pháp dân vận biểu hiện ở những nội dung sau:

Thứ nhất, phương pháp dân vận của Chủ tịch Hồ Chí Minh là “lấy dân làm gốc”.

Đây là nét đặc sắc tạo nên giá trị, cốt cách trong tư tưởng, đạo đức, phong cách dân vận Hồ Chí Minh. Bản chất phương pháp “lấy dân làm gốc” của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong thực hiện công tác dân vận là để làm lợi cho dân và để nhân dân hăng hái tham gia, ủng hộ sự nghiệp cách mạng. Phương pháp “lấy dân làm gốc” của Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn nhất quán với quan điểm nhân dân là chủ thể tổ chức và chủ thể hành động cách mạng; cách mạng là sự nghiệp của quần chúng: “Bao nhiêu lợi ích đều vì dân. Bao nhiêu quyền hạn đều vì dân”(3). Người khẳng định, phương pháp “lấy dân làm gốc” là phải dựa chắc vào nhân dân, vì nhân dân luôn là chủ thể và gốc rễ của mọi thành công, cội nguồn sức mạnh làm nên mọi thắng lợi vẻ vang của dân tộc ta: “Chúng ta phải ghi tạc vào đầu cái chân lý này: dân rất tốt. Lúc họ đã hiểu thì việc gì khó khăn mấy họ cũng làm được, hy sinh mấy họ cũng không sợ”(4).

Thứ hai, phương pháp phát huy dân chủ.

Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, “Nước ta là nước dân chủ”(5). Dân là gốc của nước, là chủ thể của mọi hoạt động sáng tạo lịch sử, là chủ vận mệnh của nước nhà, do đó, dân chủ là tiền đề để thực hiện dân vận. Phát huy dân chủ trong công tác dân vận chi phối thái độ, hành vi, phương pháp ứng xử của người làm dân vận trong quan hệ với nhân dân và là điều kiện, nguyên tắc, mục đích của toàn bộ hoạt động dân vận. Thực chất phương pháp này là thực hành dân chủ và phát huy quyền làm chủ của nhân dân mọi lúc, mọi nơi, trong mọi công việc và đều hướng đến dân, tất cả vì dân, nhân dân được tham gia xây dựng và kiến thiết nước nhà. Do vậy, trong nhận thức và thực hành công tác dân vận, các chủ thể tiến hành dân vận cần phát huy tốt vai trò của nhân dân, huy động mọi nguồn lực ở nơi dân, xây dựng môi trường dân chủ thực sự, bằng nhiều hình thức để nhân dân mạnh dạn đóng góp ý kiến, bày tỏ quan điểm của mình trong xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

Thứ ba, phương pháp tập hợp, tổ chức, lãnh đạo quần chúng.

Để cách mạng thắng lợi thực sự, theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, cần phải có phương pháp tổ chức, tập hợp quần chúng nhân dân trong công tác dân vận. Đó là tổ chức sắp xếp thành hệ thống trình tự các công việc và phụ trách các bước công việc cụ thể, hợp lý, khoa học, mang lại hiệu quả cao. Bất kỳ việc to, việc nhỏ đều phải có kế hoạch; kiên quyết phê phán cách tổ chức công việc tùy tiện, làm lấy lệ, làm không đến nơi, đến chốn. Để phương pháp tổ chức thực sự khoa học thì người cán bộ phải “xét kỹ hoàn cảnh mà sắp đặt công việc cho đúng. Việc chính, việc gấp thì làm trước. Không nên luộm thuộm, không có kế hoạch, gặp việc nào, làm việc ấy”(6). Đứng trước những vấn đề phát sinh của thực tiễn khách quan luôn vận động, biến đổi và nảy sinh những vấn đề khó lường, cán bộ phải đặt câu hỏi: “Vì sao có vấn đề này? Xử trí như thế này, kết quả sẽ ra sao? Phải suy tính kỹ lưỡng. Chớ hấp tấp, chớ làm bừa, chớ làm liều. Chớ gặp sao làm vậy”(7), có nghĩa là phải nghiên cứu, tìm hiểu cụ thể, rõ ràng, đưa ra quyết định chính xác và tổ chức thực hiện đến nơi, đến chốn. Bởi vì, theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, trong bất cứ công việc gì, nhất là công tác dân vận: “Nếu không biết rõ tình hình mà đặt chính sách thì kết quả là “nồi vuông úp vung tròn”, không ăn khớp gì hết”(8). Do đó, không nên tùy tiện ra quyết định khi chưa nắm chắc thông tin, chưa có kế hoạch rõ ràng và như vậy sẽ không tổ chức, lãnh đạo được quần chúng. Đồng thời, Người nhấn mạnh, muốn tập hợp, tổ chức quần chúng thì phải thông qua phong trào yêu nước, phong trào hoạt động thực tiễn ở đơn vị.

Thứ tư, phương pháp kiểm tra, giám sát, rút kinh nghiệm.

Sự lãnh đạo của Đảng không chỉ là việc đề ra chủ trương, đường lối, chính sách, nghị quyết, chỉ thị cho đúng, mà điều quan trọng là phải tổ chức thực hiện và kiểm tra, giám sát việc thực hiện. Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ: “Khi đã có chính sách đúng, thì sự thành công hoặc thất bại của chính sách đó là do nơi cách tổ chức công việc, nơi lựa chọn cán bộ, và do nơi kiểm tra”(9). Do đó, kiểm tra, giám sát là một trong những yêu cầu hết sức quan trọng, có tính chất quyết định đến công tác dân vận, điều này “sơ sài” chắc chắn sẽ “hỏng việc”.

Để thực hiện tốt phương pháp kiểm tra, giám sát, trước hết phải xác định đối tượng, nhất là kiểm tra việc và kiểm tra người. Hai là, phương pháp kiểm tra có hiệu quả phải phụ thuộc rất lớn vào cán bộ phụ trách dân vận. Về điểm này, Chủ tịch Hồ Chí Minh nhấn mạnh: “Không thể gặp ai cũng phái đi kiểm tra. Người lãnh đạo phải tự mình làm việc kiểm tra, mới đủ kinh nghiệm và oai tín”(10). Đó là những cán bộ có đạo đức cách mạng, chuyên môn, nghiệp vụ phải vững vàng, đồng thời phải thật sự bản lĩnh, dám nói, dám làm, dám chịu trách nhiệm trước Đảng, trước nhân dân. Để nâng cao hiệu quả phương pháp kiểm tra, giám sát, cần phát huy vai trò của quần chúng, tạo điều kiện để nhân dân tham gia, hỗ trợ cán bộ trong thi hành nhiệm vụ, bởi vì: “Nhân dân có hàng chục triệu tai mắt. Việc gì họ cũng có thể nghe, có thể thấy, có thể biết”(11)Ba là, phương pháp kiểm tra, giám sát phải được tiến hành thường xuyên; phải có chương trình, kế hoạch cụ thể, phân công trách nhiệm rõ ràng, kiểm tra phải “mắt thấy, tai nghe”, thực hiện đúng phương châm minh bạch; dân chủ gắn liền với kỷ luật; đi đúng đường lối của quần chúng. Bốn là, Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ trong công tác dân vận nhất thiết là phải: “Khi thi hành xong phải cùng với dân kiểm thảo lại công việc, rút kinh nghiệm, phê bình, khen thưởng”(12) và “Sau mỗi một việc cần phải rút kinh nghiệm”(13). Theo Người, kinh nghiệm đó bao gồm kinh nghiệm chung và riêng của từng cán bộ, địa phương, bao hàm cả kinh nghiệm thất bại và kinh nghiệm thành công. Rút kinh nghiệm rồi thì tổng kết lại và phổ biến những kinh nghiệm đó đến tất cả cán bộ, tất cả địa phương.

Thứ năm, phương pháp nêu gương.

Trong tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh, “nêu gương” là một trong những phương pháp vận động nhân dân hữu hiệu và thiết thực. Để tập hợp được lực lượng, vận động được quần chúng, được quần chúng tin tưởng, sẵn sàng tham gia và hy sinh cho sự nghiệp cách mạng, thì người cán bộ làm công tác dân vận phải là những tấm gương sống: “Nói chung thì các dân tộc phương Đông đều giàu tình cảm, và đối với họ một tấm gương sống còn có giá trị hơn một trăm bài diễn văn tuyên truyền”(14).

Để thực hiện tốt phương pháp này, mỗi chủ thể cần phải tu dưỡng, rèn luyện thái độ ứng xử với dân, phải thực sự trọng dân, gần dân, hiểu dân, học dân và có trách nhiệm với dân, điều đó sẽ giúp cho kết quả tuyên truyền lên gấp bội. Do vậy, Người yêu cầu mỗi cán bộ, đảng viên làm công tác dân vận phải là kiểu mẫu về phẩm chất, đạo đức, lối sống trong mọi lúc, ở mọi nơi; nói phải đi đôi với làm, để quần chúng noi theo, tức là phải nêu gương bằng hành động thực tiễn, bằng việc làm cụ thể, làm mực thước cho quần chúng noi theo. Đó là tác phong quần chúng biểu hiện ở sự bám sát thực tiễn, gần gũi nhân dân, thực hành dân chủ, nói đi đôi với làm, lý luận gắn với thực tiễn, cán bộ dân vận phải là người có đạo đức hành động và nêu gương, bởi “nếu chúng ta làm gương mẫu và biết lãnh đạo thì bất cứ công việc gì khó khăn đến đâu cũng nhất định làm được”(15).

Cán bộ, chiến sĩ Đồn Biên phòng Trường Sa, Bộ đội Biên phòng tỉnh Khánh Hòa gắn kết, hỗ trợ ngư dân vươn khơi bám biển. (Ảnh: TTXVN)

VẬN DỤNG TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY

Hiện nay, tình hình thế giới có những diễn biến phức tạp. Các thế lực thù địch, phản động đang tìm mọi cách đẩy mạnh thực hiện âm mưu, thủ đoạn “diễn biến hòa bình”, bạo loạn lật đổ nhằm chống phá cách mạng nước ta. Họ triệt để lợi dụng vấn đề “dân tộc”, “tôn giáo”, “dân chủ”, “nhân quyền”, những sơ hở, yếu kém trong quản lý, phát triển kinh tế - xã hội để xuyên tạc, vu khống, chống phá Đảng, Nhà nước nhằm gây mất niềm tin của nhân dân vào sự lãnh đạo của Đảng, quản lý của Nhà nước và các cấp chính quyền; kích động, lôi kéo, chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân tộc, làm rạn nứt mối quan hệ mật thiết giữa Đảng, Nhà nước, lực lượng vũ trang với nhân dân. Mặt khác, sự phát triển nền kinh tế thị trường trong bối cảnh toàn cầu hóa cũng nảy sinh một số hạn chế, tiêu cực, như gia tăng khoảng cách giàu nghèo, lợi ích nhóm, sự suy thoái về tư tưởng, đạo đức, lối sống ở một bộ phận cán bộ, đảng viên… Tất cả những điều này gây ảnh hưởng đến tâm tư, tình cảm của nhân dân đối với Đảng, với con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam. Vì vậy, việc vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về phương pháp dân vận có ý nghĩa quan trọng. Do đó, trong nhận thức và hành động, các chủ thể tiến hành công tác dân vận cần thực hiện tốt một số nội dung sau:

Một là, đẩy mạnh công tác tuyên truyền, phổ biến quan điểm, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước về vấn đề dân tộc, tôn giáo và chính sách đại đoàn kết dân tộc… để dân biết, dân hiểu, để dân đề cao cảnh giác và tích cực tham gia đấu tranh làm thất bại âm mưu chống phá của các thế lực thù địch, phản động. Vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về phương pháp tuyên truyền, vận động, thuyết phục nhân dân trong hoạt động thực tiễn, cần tăng cường giáo dục, quán triệt chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh bằng minh chứng cụ thể từ những thắng lợi trong lịch sử dân tộc và trong công cuộc xây dựng, phát triển đất nước hiện nay; nhận thức rõ về âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch, phản động chống phá trên lĩnh vực dân tộc, tôn giáo, dân chủ, nhân quyền nhằm xuyên tạc hệ tư tưởng của Đảng. Qua đó, góp phần quan trọng làm thất bại âm mưu và hoạt động “diễn biến hòa bình”, bạo loạn lật đổ của các thế lực thù địch, phản động.

Hai là, phát huy dân chủ trên mọi lĩnh vực, thực hiện thắng lợi công cuộc đổi mới, đẩy mạnh phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội, xóa đói, giảm nghèo, bảo đảm an sinh xã hội, làm cho nhân dân có cuộc sống ấm no, hạnh phúc. Vận dụng sáng tạo tư tưởng dân vận của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong tình hình thực tiễn hiện nay, cần xây dựng đường lối dân vận phù hợp, trên tinh thần phát huy dân chủ, tôn trọng nhân dân, quan tâm, chăm lo đến đời sống nhân dân. Mỗi cán bộ, đảng viên phải thực sự thấm nhuần tư tưởng của Người, biết lắng nghe ý kiến của nhân dân, gắn bó mật thiết với nhân dân, phát huy mọi tiềm năng, sức mạnh ở nơi dân… Để nhân dân yên tâm, tin tưởng vào sự lãnh đạo của Đảng, cấp ủy, chính quyền các cấp khi ban hành các nghị quyết, chương trình, kế hoạch, thực hiện các dự án phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội, xây dựng đời sống, phải hướng đến giải quyết nhu cầu, nguyện vọng của nhân dân, vì nhân dân, “đặt lợi ích nhân dân lên trên hết”; loại bỏ các yếu tố “tư duy nhiệm kỳ”, cục bộ, bè phái, “lợi ích nhóm”; tổ chức các hình thức phù hợp để người dân tham gia các khâu của quá trình ban hành chủ trương, chính sách; tạo cơ chế cho người dân tham gia giám sát, phản biện, thực hiện phương châm “Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng”(16) để “ý Đảng” hợp với “lòng dân”. Phải thực hiện tốt lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh, đó là “bất cứ việc gì đều phải bàn bạc với dân, hỏi ý kiến dân”. Để thực sự phát huy dân chủ, trong giai đoạn hiện nay, từng tổ chức đảng, chính quyền, mỗi cán bộ, đảng viên cần phải chấp hành và thực hiện có hiệu quả nội dung, cách thức thực hiện dân chủ ở cơ sở; quyền và nghĩa vụ của công dân trong thực hiện dân chủ ở cơ sở và trách nhiệm của cơ quan, đơn vị, tổ chức, cá nhân trong việc bảo đảm thực hiện dân chủ ở cơ sở theo Luật Thực hiện dân chủ ở cơ sở.

Thứ ba, phát huy tốt tinh thần tiên phong, gương mẫu trong nhận thức và hành động, trước hết là sự gương mẫu trong thực hiện đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước của các tổ chức, cán bộ, đảng viên. Cần quan tâm xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh, chú trọng xây dựng đạo đức trong Đảng, văn hóa trong Đảng và đội ngũ cán bộ, đảng viên thực sự là gương sáng để nhân dân noi theo trên tinh thần “Đảng viên đi trước, làng nước theo sau”. Cán bộ các cấp, nhất là cán bộ cấp cao, người đứng đầu phải thường xuyên tiếp dân, lắng nghe tiếng nói của nhân dân và đối thoại với nhân dân, tăng cường trách nhiệm giải trình. Thực hiện tốt Quy định số 101-QĐ/TW của Ban Bí thư Trung ương Đảng về "Trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ chủ chốt các cấp; Quy định số 55-QĐ/TW, ngày 19/12/2016 của Bộ Chính trị về "Một số việc cần làm ngay để tăng cường vai trò nêu gương của cán bộ, đảng viên"; đặc biệt là Quy định số 08-QĐi/TW, ngày 25/10/2018 của Ban Chấp hành Trung ương về "Trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên, trước hết là Ủy viên Bộ Chính trị, Ủy viên Ban Bí thư, Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương". Đặc biệt, nêu gương là luôn phải làm gương trong học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh theo Kết luận số 01-KL/TW, ngày 18/5/2021 của Bộ Chính trị về "Tiếp tục thực hiện Chỉ thị số 05-CT/TW, ngày 15/5/2016 của Bộ Chính trị khóa XII về đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh”. Tăng cường kỷ luật, kỷ cương, xử lý nghiêm minh những cán bộ, công chức, viên chức thờ ơ, vô cảm, thiếu trách nhiệm, quan liêu, hách dịch, cửa quyền, nhũng nhiễu, thiếu trách nhiệm trong giải quyết công việc đối với người dân; tạo điều kiện để người dân giám sát cán bộ, góp ý, đánh giá cán bộ cả ở nơi cư trú. Tiếp tục hoàn thiện và thực thi quy định về đạo đức công vụ trong công tác dân vận, xây dựng môi trường xã hội lành mạnh, thống nhất giữa ý chí và hành động, giữa cán bộ - công bộc của dân - với nhân dân trong đấu tranh phòng, chống “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch, phản động hiện nay.

Thứ tư, nâng cao hiệu quả việc tập hợp, lãnh đạo quần chúng trong công tác dân vận. Trong giai đoạn hiện nay, công tác dân vận cần phải được nhìn nhận, đánh giá một cách khách quan, toàn diện, cụ thể trên nhiều phương diện khác nhau, bao gồm cả tích cực và tiêu cực, qua đó xác định rõ những phương pháp dân vận cụ thể trong lãnh đạo quần chúng thiết thực, hiệu quả cao. Để nâng cao hiệu quả việc tập hợp, lãnh đạo quần chúng, trách nhiệm của Đảng là phải xây dựng đường lối vận động nhân dân phù hợp với xu thế của thời đại, phù hợp với mong muốn, nguyện vọng của nhân dân; đẩy mạnh phong trào thi đua yêu nước, thực hiện tốt phong trào thi đua “Dân vận khéo”, tuyên dương, nhân rộng các mô hình, điển hình về công tác dân vận. Công tác dân vận là trách nhiệm của các cơ quan, tổ chức, cá nhân trong hệ thống chính trị, do vậy, mỗi cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ làm công tác dân vận, cần nhận thức và tổ chức thực hiện nghiêm túc, hiệu quả Quyết định số 23-QĐ/TW, ngày 30/7/2021 của Bộ Chính trị về việc ban hành "Quy chế công tác dân vận của hệ thống chính trị”. Theo đó, công tác dân vận phải thực sự hướng về cơ sở, muốn vậy, phải thực sự nghiên cứu kỹ, đánh giá đúng tình hình, phải xuất phát từ thực tiễn, từ nhu cầu lợi ích chính đáng của nhân dân và trên tinh thần phát huy dân chủ, tôn trọng nhân dân, chăm lo đời sống nhân dân, nắm chắc tâm tư, nguyện vọng của nhân dân một cách khoa học. Do đó, phải triệt để đổi mới công tác dân vận để dân hiểu về tình hình đất nước, tuyệt đối tin tưởng vào chủ trương, đường lối lãnh đạo đúng đắn của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, thấy rõ lợi ích đem lại cho nhân dân, cho đất nước. Bởi vì, công tác dân vận: “Trước nhất là phải tìm mọi cách giải thích cho mỗi một người dân hiểu rõ ràng: Việc đó là lợi ích cho họ và nhiệm vụ của họ, họ phải hăng hái làm cho kỳ được”(17).

Thực hiện công tác dân vận, một mặt, cần tăng cường củng cố khối đại đoàn kết toàn dân tộc; mặt khác, cần chú trọng đến công tác phát hiện, phòng ngừa và ngăn chặn “điểm nóng” chính trị - xã hội. Để thực hiện hiệu quả nội dung này, cần phải vận dụng linh hoạt phương pháp “dân vận khéo” của Chủ tịch Hồ Chí Minh và được bắt đầu từ việc nắm thông tin, tình hình về diễn biến, tính chất của “điểm nóng”. Nắm thông tin cần đi sâu, đi sát vào đời sống nhân dân, nắm được tâm tư, nguyện vọng của nhân dân, thấy được những nguy cơ tiềm ẩn có thể xảy ra “điểm nóng”. Do vậy, phương pháp dân vận cần hướng vào tuyên truyền, vận động nhân dân nhằm xây dựng quan điểm toàn diện, cụ thể cho quần chúng nhân dân, qua đó, tạo môi trường xã hội lành mạnh, mỗi một người dân có thể hiểu và nhận diện, phòng ngừa, đấu tranh trước những thông tin sai lệch.

Thứ năm, tiếp tục nâng cao hiệu lực, hiệu quả công tác kiểm tra, giám sát, chú trọng tổng kết, rút kinh nghiệm trong công tác dân vận trong giai đoạn hiện nay. Cần tiếp tục chú trọng xây dựng, hoàn thiện các quy định, quy chế nhằm giữ vững kỷ luật, kỷ cương, nâng cao chất lượng, hiệu lực, hiệu quả công tác kiểm tra, giám sát đối với công tác dân vận. Tiếp tục đẩy mạnh và thực hiện có hiệu quả Quy định số 22- QĐ/TW, ngày 28/7/2021, quy định về công tác kiểm tra, giám sát và kỷ luật của Đảng đối với các tổ chức đảng và đảng viên trong việc chấp hành Cương lĩnh chính trị, Điều lệ Đảng, nghị quyết, chỉ thị, quy định, quyết định, quy chế, kết luận của Đảng, pháp luật của Nhà nước. Theo đó, công tác kiểm tra, giám sát bảo đảm khách quan, dân chủ, công khai, minh bạch, tập trung và chủ động phát hiện, ngăn ngừa những khuyết điểm, hạn chế trong công tác dân vận và cần có chế tài xử lý nghiêm minh đối với những hành vi vi phạm kỷ luật dân vận; tích cực đôn đốc, kiểm tra, giám sát việc thực hiện các nghị quyết, quy định, chỉ thị, kết luận của Đảng về công tác dân vận.

Trên cơ sở đó, tích cực biểu dương, nhân rộng các mô hình, điển hình về công tác dân vận đối với từng tổ chức, địa phương và cá nhân cụ thể. Đồng thời, thẳng thắn nhìn nhận và đánh giá đúng những mặt còn hạn chế trong thực hiện công tác dân vận hiện nay, từ đó rà soát, bổ sung, hoàn thiện và thực hiện Quy chế công tác dân vận của hệ thống chính trị, xây dựng cơ chế phối hợp giữa chính quyền, các cơ quan, tổ chức với Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị - xã hội các cấp. Thực hiện tốt Luật Thực hiện dân chủ cơ sở, sâu sát cơ sở, tăng cường đối thoại, tiếp xúc với nhân dân, lắng nghe tâm tư, kịp thời giải quyết nguyện vọng hợp pháp, chính đáng của nhân dân. Lấy kết quả công việc, sự hài lòng và tín nhiệm của nhân dân làm tiêu chí quan trọng để đánh giá chất lượng tổ chức bộ máy và chất lượng cán bộ, đảng viên.

Nhận thức sâu sắc về giá trị to lớn, bền vững của tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh về công tác dân vận, phương pháp dân vận trong những năm qua, cùng với sự nghiệp đổi mới toàn diện đất nước, nhiều chủ trương, đường lối đối với công tác dân vận, về đại đoàn kết toàn dân tộc, đổi mới nội dung, phương pháp vận động quần chúng đã được Đảng và Nhà nước ta xây dựng, bổ sung và ngày càng hoàn thiện phù hợp với thực tiễn phát triển của đất nước trong từng giai đoạn lịch sử nhất định./.

TS. ĐẶNG VĂN KHƯƠNG
Học viện Chính trị, Bộ Quốc phòng