Thứ Hai, 13 tháng 5, 2024

Bóc mẽ thủ đoạn xuyên tạc tên tuổi Hồ Chí Minh.

 

Những đối tượng chống phá nền tảng tư tưởng của Đảng Cộng sản Việt Nam ý thức rất rõ về sự ảnh hưởng to lớn của tư tưởng Hồ Chí Minh trong đời sống chính trị, văn hóa tinh thần của đất nước.

Họ cho rằng sở dĩ chế độ cộng sản ở Việt Nam còn tồn tại là nhờ núp vào cái bóng thần tượng Hồ Chí Minh, nên phải xóa bỏ bằng được thần tượng ấy. Vì vậy, bóc mẽ thủ đoạn xuyên tạc của các thế lực chống phá tư tưởng Hồ Chí Minh bằng những lý lẽ khoa học, căn cứ thực tiễn là việc làm rất cần thiết hiện nay.

1. Một trong những thủ đoạn nham hiểm ấy là thời gian gần đây, một số đối tượng xuyên tạc rất trắng trợn: “Hồ Chí Minh không phải là Nguyễn Ái Quốc”. Nghệ thuật viết tuồng truyền thống thường dựa vào tích cũ để soạn những bổn mới, mang chủ đề, ý nghĩa mới. Cách này đang được một số đối tượng sử dụng, nhưng là lấy tích cũ thật/giả để biến thành bổn mới giả, có cả “bổn cũ soạn lại”.

Theo lịch sử ghi lại, từ ngày 6-6-1931 đến ngày 22-1-1933, Tống Văn Sơ (tức Nguyễn Ái Quốc) bị bắt giam ở Hồng Công và được luật sư Francis Henry Loseby bào chữa trắng án. Thực dân Pháp rất muốn được phía Anh trục xuất về Đông Dương để bắt Nguyễn Ái Quốc thực thi án tử hình. Có thể là cố ý đánh lạc hướng mật thám Pháp mà Quốc tế Cộng sản cho loan tin Nguyễn Ái Quốc đã chết vì bệnh lao phổi trong nhà tù Hồng Công, đăng trên cả báo nước ngoài (The Daily Worker (Anh) ngày 11-8-1932, L’Humanité (Pháp) ngày 9-8-1932) và cả báo trong nước (Đông Pháp thời báo ngày 3-7-1932, Đuốc Nhà Nam ngày 23-7-1932). Sau khi Nguyễn Ái Quốc được thả (ngày 28-12-1932), để đảm bảo an toàn cho thân chủ, chính luật sư Loseby cũng loan tin Nguyễn Ái Quốc đã chết vì bệnh phổi(1).

Bóc mẽ thủ đoạn xuyên tạc tên tuổi Hồ Chí Minh
Khối cờ Đảng, cờ Tổ quốc diễu hành trong Lễ kỷ niệm 70 năm Chiến thắng Điện Biên Phủ. Ảnh minh họa: qdnd.vn

Sau đó vẫn lấy những tin tức này, không cần quan tâm mục đích, lý do của nguồn tin, tác giả Hồ Tuấn Hùng (Đài Loan) viết “Hồ Chí Minh sinh bình khảo” (in năm 2008 tại Đài Loan) “khẳng định” Hồ Chí Minh có tên thật là Hồ Tập Chương, không phải Nguyễn Ái Quốc, vì Nguyễn Ái Quốc đã chết từ tháng 8-1932. Đầu năm 2013, sách được Thái Tuấn dịch ra tiếng Việt có tên “Tìm hiểu về cuộc đời của Hồ Chí Minh” cho đăng trên trang điện tử “Đối thoại”. 

Lợi dụng vấn đề đó, thời gian qua, trên nhiều trang mạng phản động lại đăng nhiều bài "dựa hơi" vào những sự kiện trên (chủ yếu từ sách của Hồ Tuấn Hùng), bịa đặt trắng trợn thêm nhiều chi tiết để xuyên tạc Chủ tịch Hồ Chí Minh không phải là Nguyễn Ái Quốc, mà do “một người khác thế vào”! 

Lập luận của các bài viết trên, một mặt dựa vào “lý lẽ” của Hồ Tuấn Hùng, mặt khác, vẫn theo kiểu mượn tích cũ để “soạn bổn giả mới”. Ví như lấy sự kiện có thật Nguyễn Ái Quốc lấy bí danh Hồ Quang (từ ngày 1-1-1938) mang quân hàm thiếu tá, công tác tại Phòng Cứu vong thuộc Văn phòng Bát lộ quân ở Quế Lâm, không hề chứng minh, phân tích nhưng nhiều tác giả đã “khẳng định” lấy được: “Hồ Quang chính là Hồ Tập Chương” từ đây (tức năm 1938) bắt đầu “sứ mệnh lãnh đạo cách mạng Việt Nam”.

Về điểm này, xin dẫn sự giải thích của chính Bác Hồ, nhân một đồng chí Trung Quốc hỏi: “Tại sao đồng chí lại lấy tên Hồ Quang?”. Bác trả lời hóm hỉnh: “Tôi có râu, lại trọc đầu nên gọi là Hồ Quang” (vì đọc theo tiếng Bắc Kinh, hồ có nghĩa là râu, quang có nghĩa là trọc)(2). Đây là cách chơi chữ quen thuộc của Bác lý giải cách đặt tên theo đặc điểm bản thân gắn liền với ngôn ngữ, địa danh nơi sinh sống.

Để có thêm cơ sở lịch sử và khoa học khẳng định Nguyễn Ái Quốc chính là Hồ Chí Minh, xin nhắc lại những sự kiện lịch sử liên quan. Ngày 1-6-1946, trên chuyến bay sang Pháp, tướng Raoul Salan tháp tùng Hồ Chủ tịch hỏi có ý tò mò về đời tư (vốn là điều tối kỵ trong ngoại giao): “Trong bản Hiệp định ngày 6-3, ngài ký tên Hồ Chí Minh. Nhưng tên chính của ngài có phải là Nguyễn Ái Quốc không?”. Bác Hồ đáp: “Cũng trong bản hiệp định đó, vị đại diện của Chính phủ ngài ký tên là Sainteny, nhưng tên thật của ông ta chẳng phải là Jean Roger đó sao?”(3). Một câu đáp thật tuyệt vời của một trí tuệ nhạy bén, gần như khẳng định nhưng lại nói vòng sang chuyện tương tự để “chặn họng”, hàm ý nhắc nhở, đẩy đối phương vào thế bối rối, bị động: Ngay đại diện chính phủ của ngài cũng vậy đó thôi!

2. Về tập thơ “Nhật ký trong tù”, nhiều đối tượng cho rằng chữ viết ấy, nội dung ấy, thi pháp ấy thì “không thể một người Việt Nam nào, dù tài năng đến mấy” thể hiện được; thế nên Nguyễn Ái Quốc nếu còn sống cũng không thể là tác giả. Vả lại những năm ở Pháp, ở Nga, ở Hồng Công trước đó, sao Nguyễn Ái Quốc không có bài thơ chữ Hán nào?

Điều đáng phê phán các "tác giả" đưa ra cái gọi là “lý lẽ” nêu trên lại không hiểu rằng, Nguyễn Sinh Cung từ nhỏ đã sớm tiếp xúc với văn hóa Trung Hoa, học giỏi chữ Hán, là trò của các bậc đại Nho (Nguyễn Sinh Sắc, Hoàng Phan Quỳnh, Vương Thúc Quý). Trong khi đó, từ những năm 1922-1923, Nguyễn Ái Quốc đã rất quan tâm và viết nhiều bài về tình hình Trung Quốc in trên báo L’Humanité, La Vie Ouvrière. Cũng trong thời kỳ hoạt động ở Trung Quốc, Nguyễn Ái Quốc kiếm sống bằng viết báo (tiếng Trung, Pháp, Anh) và có mối quan hệ mật thiết với một số yếu nhân, trong đó có bà Tống Khánh Linh.

Vì vậy, các nhà nghiên cứu chân chính khẳng định, với tâm hồn ấy, tài năng ấy, trong hoàn cảnh tù đày, thơ đến một cách tự nhiên với Nguyễn Ái Quốc. Các bài thơ trong tập thơ này là kết tinh các luồng tinh hoa văn hóa Đông Tây, kim cổ, là tiếng nói của tâm hồn vĩ đại, trí tuệ siêu việt, khí phách lớn. Đó cũng là lý do để nhiều nhà nghiên cứu văn học quốc tế đã khẳng định tập thơ “Nhật ký trong tù” là tài sản văn hóa nhân loại và được dịch ra hơn 40 ngôn ngữ trên thế giới.

3. Trong chuyên luận “Tiếng cười trào phúng Hồ Chí Minh” do Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia-Sự thật xuất bản năm 2010, tác giả cuốn sách chứng minh Hồ Chí Minh là người “Việt Nam nhất”. Chỉ xét ở mục đích trào phúng, trong các tác phẩm, có 232 lần Bác Hồ sử dụng các dẫn ngữ(4). Thành ngữ, tục ngữ là sự kết tinh lời ăn tiếng nói có mạch nguồn từ đời sống tâm hồn, trí tuệ nhân dân. Không phải là người Việt Nam làm sao dùng được nhiều dẫn ngữ, chưa nói tới cách dùng của Bác rất đa dạng, phong phú, nhiều hình vẻ, sắc thái và rất mực tinh tế.

Với tư cách là người nghiên cứu, chúng tôi xin khẳng định, từ thời thanh niên đến khi về với thế giới người hiền, ở Nguyễn Ái Quốc-Hồ Chí Minh có sự nhất quán về mục đích: “Tự do cho đồng bào tôi, độc lập cho Tổ quốc tôi”, rộng hơn là vì hạnh phúc nhân loại nói chung. Mọi suy nghĩ, việc làm, hành động, dù nói hay viết của Người tất cả đều vì mục đích cao cả ấy.

Cũng xin được nhắc lại 3 cuộc hội thảo khoa học quốc tế gần đây nhất về Hồ Chí Minh. Ngày 18-4-2023, tại thủ đô Roma (Italy) diễn ra hội thảo với chủ đề “Quãng đời làm việc của Chủ tịch Hồ Chí Minh tại Italy”. Trước đó, ngày 14-5-2022, tại Ấn Độ là Hội thảo “Hồ Chí Minh và Ấn Độ” tổ chức ở Kolkata. Tháng 10-2019, Hội thảo “Hồ Chí Minh toàn cầu” tổ chức tại thành phố New York (Mỹ).

Các hội thảo đều khẳng định ở Nguyễn Ái Quốc-Hồ Chí Minh là sự hội tụ tuyệt đẹp 3 luồng văn hóa: Văn hóa yêu nước Việt Nam; văn hóa hòa bình, bình đẳng, bác ái của nhân loại tiến bộ và văn hóa giải phóng con người của Chủ nghĩa Mác. Các nhà nghiên cứu quốc tế đều nhấn mạnh Hồ Chí Minh không chỉ là anh hùng giải phóng dân tộc của Việt Nam, mà còn là cầu nối giữa Việt Nam với thế giới và nhân cách của Người mang tầm ảnh hưởng toàn cầu. Điều này khẳng định sự tôn trọng của giới học giả thế giới đương đại với Chủ tịch Hồ Chí Minh. Tư tưởng và những giá trị văn hóa cao đẹp của Người được cả nhân loại đón nhận.

Đảng Cộng sản Việt Nam và nhân dân Việt Nam tự hào có Bác Hồ, coi việc học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh là lý tưởng, lẽ sống, niềm tin và cũng là hạnh phúc. Hạnh phúc được đón nhận ánh sáng thời đại vì đó là con người nhân văn nhất, ưu tú nhất, tiên tiến nhất của dân tộc Việt Nam và là một trong những nhà văn hóa lừng danh của nhân loại. Đó cũng là minh chứng sinh động để bác bỏ hoàn toàn những ý đồ, thủ đoạn xuyên tạc thân thế, tên tuổi, sự nghiệp cách mạng vĩ đại của Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Kiểm tra công tác bảo vệ chính trị nội bộ tại Ban Thường vụ Tỉnh ủy Quảng Ninh.

 

Sáng 13-5, Đoàn Kiểm tra số 3 của Tiểu ban Bảo vệ Chính trị nội bộ Trung ương triển khai Quyết định kiểm tra về công tác bảo vệ chính trị nội bộ tại Ban Thường vụ Tỉnh ủy Quảng Ninh. Đại tướng Lương Cường, Ủy viên Bộ Chính trị, Ủy viên Thường vụ Quân ủy Trung ương, Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị Quân đội nhân dân Việt Nam, Ủy viên Tiểu ban Bảo vệ chính trị nội bộ Trung ương, Trưởng đoàn kiểm tra, chủ trì.

Dự buổi kiểm tra có Trung tướng Nguyễn Văn Gấu, Ủy viên Trung ương Đảng, Phó chủ nhiệm Tổng cục Chính trị Quân đội nhân dân Việt Nam, Phó trưởng đoàn kiểm tra và các thành viên đoàn kiểm tra. Làm việc với đoàn kiểm tra có đồng chí Nguyễn Xuân Ký, Ủy viên Trung ương Đảng, Bí thư Tỉnh ủy, Chủ tịch HĐND tỉnh; các đồng chí trong Ban Thường vụ Tỉnh ủy.

Tại buổi kiểm tra, Đoàn kiểm tra đã công bố Quyết định kiểm tra về công tác bảo vệ chính trị nội bộ đối với Ban Thường vụ Tỉnh ủy.

Kiểm tra công tác bảo vệ chính trị nội bộ tại Ban Thường vụ Tỉnh ủy Quảng Ninh
Đại tướng Lương Cường phát biểu tại buổi kiểm tra. 

Phát biểu tại buổi kiểm tra, Đại tướng Lương Cường, Ủy viên Bộ Chính trị, Ủy viên Thường vụ Quân ủy Trung ương, Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị Quân đội nhân dân Việt Nam, Ủy viên Tiểu ban Bảo vệ chính trị nội bộ Trung ương, Trưởng đoàn kiểm tra đã nhấn mạnh đến vai trò đặc biệt quan trọng của công tác bảo vệ chính trị nội bộ. Đồng thời cho biết, mục đích của việc kiểm tra lần này nhằm kịp thời ghi nhận các kết quả đạt được, cũng như chỉ rõ những tồn tại, hạn chế và nguyên nhân trong lãnh đạo, chỉ đạo và tổ chức thực hiện chủ trương của Đảng, pháp luật của Nhà nước về công tác bảo vệ chính trị nội bộ tại Ban Thường vụ Tỉnh ủy Quảng Ninh, cũng như các cấp ủy, tổ chức Đảng liên quan. Từ đó có những hướng dẫn, trao đổi, tháo gỡ những vướng mắc trong thực hiện các quy định của Đảng về công tác bảo vệ chính trị nội bộ, để tiếp tục triển khai tốt hơn trong thời gian tới.

Là địa bàn có vị trí chiến lược quan trọng về kinh tế, chính trị, quốc phòng, an ninh, đối ngoại, vì vậy ngoài những nội dung trong Kế hoạch 10, đồng chí Trưởng đoàn Kiểm tra cũng đề nghị trong quá trình kiểm tra, cần làm rõ sâu hơn 5 nội dung: Đánh giá công tác nắm tình hình, công tác phối hợp với các cơ quan chức năng trong bảo vệ chính trị nội bộ; hoạt động của Ban Chỉ đạo 35 trong đấu tranh phản bác các hoạt động sai trái, thù địch; kết quả thực hiện công tác phát triển đảng viên, quản lý cán bộ, đảng viên theo Nghị quyết số 21-NQ/TW của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII “về tăng cường củng cố, xây dựng tổ chức cơ sở đảng và nâng cao chất lượng đội ngũ đảng viên trong giai đoạn mới”; công tác thông tin tuyên truyền, phổ biến đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước về công tác tôn giáo tín ngưỡng…

Quản lý thị trường vàng còn nhiều bất cập, buôn lậu vàng diễn biến phức tạp.

 

Thị trường vàng còn nhiều bất cập, thậm chí có lúc “nhảy múa” là vấn đề được nhiều ý kiến đề cập tại Phiên họp thứ 33 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

Sáng 13-5, tiếp tục chương trình làm việc Phiên họp thứ 33, dưới sự điều hành của Phó chủ tịch Quốc hội Nguyễn Đức Hải, Ủy ban Thường vụ Quốc hội cho ý kiến về Báo cáo đánh giá bổ sung kết quả thực hiện nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội và ngân sách nhà nước năm 2023; tình hình triển khai thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội và ngân sách nhà nước những tháng đầu năm 2024.

Quản lý thị trường vàng còn nhiều bất cập, buôn lậu vàng diễn biến phức tạp
 Phó chủ tịch Quốc hội Nguyễn Đức Hải điều hành nội dung phiên họp.

Cần quản lý chặt chẽ thị trường vàng

Thị trường vàng còn nhiều bất cập trong thời gian qua là vấn đề được nhiều ý kiến đề cập tại phiên họp.

Nêu ý kiến, Phó chủ tịch Quốc hội Trần Quang Phương dùng hai từ “nhảy múa” để nói về biến động thị trường vàng trong thời gian vừa qua. Nhấn mạnh giá cả mặt hàng này chưa bao giờ tăng đột biến như vậy, Phó chủ tịch Quốc hội Trần Quang Phương đề nghị Chính phủ nêu rõ cách quản lý đối với kim loại quý này trong thời gian tới.

Đồng quan điểm, Chủ nhiệm Ủy ban Tư pháp Lê Thị Nga nói, chưa bao giờ giá vàng cao như hiện nay và có sự chênh lệch quá lớn với giá vàng thế giới; Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ cũng đã có những chỉ đạo Ngân hàng Nhà nước để quản lý thị trường vàng nhưng giá vàng vẫn ngày càng tăng, thậm chí lên mức tột đỉnh. 

“Cần quản lý chặt chẽ thị trường vàng, phải có “bàn tay" của nhà nước can thiệp vào thị trường”, Chủ nhiệm Ủy ban Tư pháp Lê Thị Nga nêu quan điểm. 

Trưởng ban Công tác đại biểu Nguyễn Thị Thanh nhắc đến mức cao kỷ lục 92 triệu đồng/lượng của vàng miếng SJC, bày tỏ băn khoăn tại sao giá vàng lại cao như vậy và đề nghị cần có phân tích cũng như giải pháp cụ thể.

Phó chủ tịch Thường trực Quốc hội Trần Thanh Mẫn nêu mối quan hệ giữa giá vàng và lạm phát. Theo Phó chủ tịch Thường trực Quốc hội Trần Thanh Mẫn, giá vàng đã leo lên mốc 92 triệu đồng/lượng - điều này sẽ làm tăng chi phí nhập khẩu hàng hóa, nguyên vật liệu, lãi vay nước ngoài của doanh nghiệp và tác động đến lạm phát trong nước. Do đó, Phó chủ tịch Thường trực Quốc hội Trần Thanh Mẫn đề nghị Chính phủ theo dõi sát sao diễn biến giá vàng trong nước và thế giới; có phương án điều hành linh hoạt, kịp thời để cân bằng giữa mục tiêu thúc đẩy tăng trưởng và kiểm soát lạm phát.

“Đề nghị Chính phủ chỉ đạo khẩn trương, rà soát, đánh giá toàn diện, kịp thời và triển khai các giải pháp quản lý thị trường vàng, khắc phục tình trạng giá vàng miếng trong nước chênh lệch cao so với giá vàng quốc tế”, Phó chủ tịch Thường trực Quốc hội Trần Thanh Mẫn nhấn mạnh.

Quản lý thị trường vàng còn nhiều bất cập, buôn lậu vàng diễn biến phức tạp
 Chủ nhiệm Ủy ban Kinh tế của Quốc hội Vũ Hồng Thanh phát biểu tại phiên họp. 

Trước đó, trình bày báo cáo thẩm tra về tình hình kinh tế - xã hội, Chủ nhiệm Ủy ban Kinh tế của Quốc hội Vũ Hồng Thanh cũng đề nghị Chính phủ quan tâm, đánh giá kỹ hơn một số vấn đề, trong đó có quản lý thị trường vàng. Người đứng đầu Ủy ban Kinh tế nhận định: “Quản lý thị trường vàng còn nhiều bất cập, giá vàng trong nước và thế giới chênh lệch lớn, tình trạng buôn lậu vàng diễn biến phức tạp”.

Xuất hiện tình trạng “lách luật” để đầu tư, mua bán căn hộ nhà ở xã hội

Ngoài ra, tại phiên họp, các thành viên Ủy ban Thường vụ Quốc hội cũng phản ánh tình trạng hoạt động sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp còn nhiều khó khăn; số doanh nghiệp rút lui khỏi thị trường (86,4 nghìn doanh nghiệp) cao hơn số doanh nghiệp gia nhập và tái gia nhập thị trường (81,3 nghìn doanh nghiệp); cầu nội địa và cầu quốc tế thấp cùng với tính cạnh tranh của hàng trong nước cao là những yếu tố chính ảnh hưởng đến hoạt động sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp trong lĩnh vực chế biến, chế tạo; chi phí vận tải tăng khá mạnh, nhất là đường biển, tỷ giá biến động bất thường trong những tháng đầu năm cũng là những yếu tố ảnh hưởng không nhỏ đến hoạt động của doanh nghiệp.

Quản lý thị trường vàng còn nhiều bất cập, buôn lậu vàng diễn biến phức tạp
Quang cảnh phiên họp. 

Các thành viên Ủy ban Thường vụ Quốc hội cũng nhắc đến tình trạng giá vé máy bay tăng cao, nhất là trong dịp nghỉ lễ, ảnh hưởng đến phát triển du lịch và nhu cầu đi lại của người dân; thị trường bất động sản có tín hiệu phục hồi nhưng còn khó khăn, nhất là về quy trình, thủ tục phát triển các dự án nhà ở xã hội, xuất hiện tình trạng “lách luật” để đầu tư, mua bán căn hộ nhà ở xã hội; tiến độ triển khai gói cho vay nhà ở xã hội 120.000 tỷ đồng còn chậm, chưa đáp ứng kỳ vọng đề ra; giá nhà chung cư, kể cả nhà ở xã hội tại một số địa bàn tăng cao đột biến do nguồn cung khan hiếm, cơ cấu sản phẩm trên thị trường mất cân đối. Giá đất nền có dấu hiệu tăng trở lại ở các thành phố lớn, thậm chí tăng giá cao cục bộ do đầu cơ gây ảnh hưởng đến nhu cầu về nhà ở của người dân, người lao động.

Do đó, các ý kiến đề nghị Chính phủ đánh giá và có giải pháp ổn định tình hình, đồng thời đề nghị Chính phủ chỉ đạo thanh tra toàn diện công tác phát triển nhà ở xã hội trong thời gian qua, xác định vướng mắc, bất cập, vi phạm, tiêu cực để xử lý nghiêm theo quy định của pháp luật... 

NGÀY VĨ ĐẠI!

 


Hãy chia sẻ cho con cháu chúng ta biết chân lý thời đại của Nhân loại! Ngày 9-5-1945 mãi mãi đi vào lịch sử nhân loại khi cuộc chiến chống chủ nghĩa phát xít kết thúc với chiến thắng vang dội của Hồng quân Liên Xô và các nước Đồng minh, tạo tiền đề quan trọng chấm dứt Chiến tranh Thế giới thứ II, giúp loài người thoát khỏi thảm họa diệt vong👇

https://www.qdnd.vn/quoc-te/tin-tuc/tong-duyet-le-duyet-binh-ky-niem-79-nam-ngay-chien-thang-phat-xit-lan-tren-quang-truong-do-775649

https://media.qdnd.vn/long-form/77-nam-ngay-chien-thang-phat-xit-chien-thang-lich-su-mang-y-nghia-thoi-dai-54534

St. Trường Tồn 

Chủ Nhật, 12 tháng 5, 2024

Ngăn chặn sự lan truyền của thông tin độc hại.

 Có thể thấy rằng, hệ thống sử dụng kênh YouTube để tuyên truyền chống phá Đảng, Nhà nước ta đã được hình thành có tổ chức, được đào tạo chuyên nghiệp nhưng có sự khác biệt với các tổ chức khác là chúng biết khai thác nhiều chủ đề, xây dựng kênh ngoại vi, kênh “sạch” để tạo nguồn doanh thu ổn định. Tinh vi hơn là biết “tẩy trắng” kênh, tái sử dụng nội dung video, móc nối với các đối tượng trong nước để chuyển nhượng, tái sử dụng kênh, biết áp dụng các phương thức kỹ thuật để lách sự kiểm soát của YouTube và tăng đề xuất đến người dùng. Với lượng doanh thu lớn, ổn định từ quảng cáo YouTube, các đối tượng này đã có nguồn tiền kiếm sống, tiếp tục hoạt động tuyên truyền chống phá Đảng, Nhà nước Việt Nam và lôi kéo bà con theo chúng. 

Các đối tượng này không những vi phạm luật pháp Việt Nam mà còn vi phạm luật pháp của nước sở tại khi đang sử dụng lãnh thổ, phương tiện cơ sở hạ tầng truyền thông của các nước này để tuyên truyền chống phá không chỉ nước Việt Nam mà còn các quốc gia khác. Đây thực sự là các đường dây, tổ chức tội phạm mạng xuyên biên giới, trong khi nền tảng mạng xã hội YouTube hiện nay có nhiều lỗ hổng, bất cập và các cơ quan phụ trách và báo chí truyền thông chính thống trong nước cũng không đủ nguồn lực để kiểm soát hết nội dung bị ăn cắp cũng như báo cáo các video vi phạm. Cư dân mạng trong nước và kiều bào ở hải ngoại cần phải tỉnh táo trước những luận điệu xuyên tạc kể trên và cùng chung tay gắn cờ vi phạm với những video, kênh có nội dung thông tin sai lệch, xuyên tạc nhằm ngăn chặn sự lan truyền của thông tin độc hại.

SỐNG TRONG CHẾ ĐỘ CỘNG SẢN NHƯNG LẠI TRUYỀN BÁ VĂN HÓA NGỤY QUYỀN

 

Ca khúc cách mạng, nghệ thuật CM chúng không xài, chúng lại dùng văn hóa, nghệ thuật lai căng, nhảm nhí ngụy quyền Sài Gòn, không cần biết đến nội dung......để ru ngủ lớp trẻ ngày nay.


Không hiểu nổi Ban tổ chức đêm nhạc không hiểu gì về chiêu trò này của chúng hay cố tình  tiếp tay cho chúng cổ vũ loại hình văn hóa đu càng này???

#Trường Tồn

Thành tựu về nhân quyền và những đóng góp của Việt Nam

 Thành tựu về nhân quyền và những đóng góp của Việt Nam là khách quan, được quốc tế ghi nhận, đánh giá cao

Từ khi Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hòa ra đời cho đến nay, việc bảo đảm, thúc đẩy quyền con người luôn được Đảng, Nhà nước ta chú trọng và không ngừng bổ sung, phát triển qua các thời kỳ. Không chỉ quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo, dành nhiều nguồn lực, hoàn thiện hệ thống chính sách, pháp luật về bảo vệ, bảo đảm quyền con người, Đảng, Nhà nước ta còn chú trọng đẩy mạnh công tác đối ngoại nhân quyền. Với sự cố gắng không ngừng, Việt Nam có quyền tự hào khi đạt được nhiều thành tựu quan trọng về công tác đối ngoại nhân quyền.

 Trong quá trình đổi mới đất nước, Việt Nam thường xuyên hoàn thiện hệ thống chính sách pháp luật về quyền con người và đạt được nhiều thành tựu trên thực tế. Các quyền dân sự, chính trị, y tế, giáo dục, bảo đảm an sinh xã hội, tự do tôn giáo, tín ngưỡng, tự do ngôn luận, báo chí, Internet, bình đẳng giới đều đạt những tiến bộ rõ rệt. Việt Nam đã vươn lên từ một nước nghèo để trở thành một trong những nước có nền kinh tế tăng trưởng nhanh nhất trên thế giới, hội nhập quốc tế sâu rộng. Các chỉ số về phát triển con người (HDI), bình đẳng giới (GEI) của Việt Nam do các cơ quan Liên hợp quốc xếp hạng liên tục được cải thiện.  Năm 1977, nước ta gia nhập Liên hợp quốc, đây là dấu mốc quan trọng trong công tác đối ngoại nhân quyền, một mặt Việt Nam tranh thủ các nguồn lực có giá trị đối với công tác nhân quyền trong nước, mặt khác là cơ sở để Việt Nam đóng góp nhiều hơn cho công tác nhân quyền thế giới. Việt Nam là ứng cử viên duy nhất đại diện cho ASEAN đã trúng cử Hội đồng Nhân quyền Liên hợp quốc nhiệm kỳ 2023-2025 với số phiếu cao, đây là lần thứ 2 chúng ta trở thành thành viên của tổ chức này. Thực tế cho thấy, quốc gia trúng cử vào Hội đồng Nhân quyền là điều không hề dễ dàng bởi bên cạnh việc quốc gia đó phải đạt những tiến bộ vượt bậc về bảo vệ quyền con người trong nước còn phải có đóng góp tích cực, hiệu quả thúc đẩy nhân quyền trên toàn cầu.

Việc Việt Nam đã hai lần trở thành thành viên Hội đồng Nhân quyền Liên hợp quốc là minh chứng rõ nhất về thành tựu liên quan quyền con người ở nước ta. Đồng thời cho thấy vị thế, uy tín của Việt Nam trên trường quốc tế, không chỉ những thành tựu nhân quyền trong nước mà những đóng góp của nước ta đối với công tác nhân quyền của Liên hợp quốc. Đây là minh chứng rõ nét nhất phản bác lại những luận điệu sai trái, thù địch. Vào ngày 3/4/2023, tại Geneva (Thụy Sỹ), Việt Nam soạn thảo và đề xuất với Hội đồng Nhân quyền Liên hợp quốc thông qua Nghị quyết kỷ niệm 75 năm Tuyên ngôn quốc tế về nhân quyền (UDHR) và 30 năm Tuyên bố và Chương trình hành động Vienna (VDPA). Nghị quyết do Việt Nam khởi xướng đã tập hợp được 98 nước tham gia đồng bảo trợ.  Đến nay, Việt Nam đã phê chuẩn, gia nhập 7/9 công ước cơ bản của Liên hợp quốc về quyền con người. Đồng thời, chúng ta phê chuẩn, gia nhập 25 công ước của Tổ chức Lao động quốc tế (ILO). Việt Nam luôn chủ động trong công tác đối thoại nhân quyền. Tháng 6/2023, tại Maroc, đoàn đại biểu Quốc hội do ông Đôn Tuấn Phong, Phó Chủ nhiệm Ủy ban Đối ngoại làm Trưởng đoàn đã tham dự Hội nghị Nghị viện về đối thoại tôn giáo do Liên minh Nghị viện thế giới (IPU) tổ chức, quy tụ 163 quốc gia. Tham vấn tại hội nghị, đoàn đại biểu Việt Nam đã thông tin cho bạn bè quốc tế biết về những nỗ lực, thành tựu trong bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo; ghi nhận những đóng góp của các tổ chức tôn giáo trên các lĩnh vực đời sống xã hội.

Ngày 27/7/2023, đoàn Việt Nam đã thăm chính thức Tòa thánh Vatican theo lời mời của Giáo hoàng Francis. Trong chuyến thăm này, Chính phủ Việt Nam và Tòa thánh Vatican đã thông qua “Thỏa thuận Quy chế hoạt động của đại diện thường trú và Văn phòng đại diện thường trú Tòa thánh tại Việt Nam”. Đây là hình mẫu của sự tin tưởng lẫn nhau và là cơ sở để thúc đẩy, mở rộng quan hệ hơn nữa giữa Việt Nam và các tổ chức, nhà nước tôn giáo. Đối với Hoa Kỳ, EU, Việt Nam luôn chủ động trong đối thoại nhân quyền, đưa công tác này ngày càng đi vào chiều sâu, thực chất. Hằng năm, nước ta đều chủ động cử các phái đoàn trao đổi, thảo luận về vấn đề nhân quyền để đi đến tháo gỡ những vướng mắc, thống nhất nhận thức chung, tôn trọng tính đặc thù về nhân quyền của các bên, thúc đẩy sự phát triển.

Việt Nam cũng tích cực tham gia duy trì hòa bình, cứu trợ nhân đạo. Từ năm 2014 đến nay, hằng năm Việt Nam đều cử hàng trăm lượt cán bộ, nhân viên thuộc lực lượng vũ tranh nhân dân Việt Nam đi làm nhiệm vụ gìn giữ hòa bình Liên hợp quốc. Đặc biệt, ngày 9/2/2023, 100 cán bộ, chiến sĩ của Bộ Quốc phòng và Bộ Công an đã sang Thổ Nhĩ Kỳ để tham gia công tác cứu nạn vụ động đất, được Chính phủ và nhân dân nước bạn, cộng đồng quốc tế đánh giá cao.

Trở lại với phiên đối thoại ngày 7/5 vừa qua, Việt Nam tái khẳng định chính sách nhất quán về bảo vệ và thúc đẩy quyền con người, luôn xác định con người là trung tâm, là mục tiêu và động lực của quá trình đổi mới, phát triển đất nước. Các vấn đề được các nước quan tâm, Việt Nam đã trình bày, phúc đáp, thông tin đầy đủ, chính xác, kịp thời. Trong chu kỳ IV của Hội đồng Nhân quyền Liên hợp quốc, quá trình triển khai các khuyến nghị, Việt Nam đã tổ chức tham vấn rộng rãi với sự tham gia của tất cả các bên liên quan, trong đó có các tổ chức phi chính phủ (NGO), tổ chức xã hội, các quốc gia thành viên, đối tác phát triển, và người dân. Hằng trăm các ý kiến, phản hồi đã được thu thập và được thể hiện rõ nét trong Báo cáo này. Đến nay có 239/241 khuyến nghị (tương đương 99,2%) đã được hoàn thành hoặc triển khai một phần. Cũng trong chu kỳ này đã có 45 luật và hàng loạt các văn bản quy phạm pháp luật liên quan đến vấn đề quyền con người đã được thông qua hoặc sửa đổi, trong đó có một số luật quan trọng như Bộ luật Lao động, Luật Đất đai, Luật Phòng, chống ma túy và Luật Phòng, chống bạo lực gia đình.

Đối với một số ý kiến dựa trên những nguồn tin chưa được kiểm chứng, đoàn Việt Nam đã giải đáp, cung cấp thông tin xác thực. Việt Nam nhấn mạnh nguyên tắc đối thoại, hợp tác, tôn trọng khác biệt; đồng thời nêu rõ không có một mô hình chung cho tất cả các nước mà mỗi nước tùy theo đặc thù, điều kiện của mình sẽ có con đường phát triển riêng. Việt Nam tự tin tiếp bước trên con đường đã chọn hướng tới mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh, người dân được thụ hưởng các quyền con người cơ bản. Việt Nam sẽ tiếp tục thực hiện các nghĩa vụ và cam kết của mình trong khuôn khổ các điều ước quốc tế về quyền con người mà Việt Nam là thành viên.

Nhận diện Âm mưu, thủ đoạn, hội nhóm phản động, tổ chức đội lốt nhân quyền

 

Nhận diện Âm mưu, thủ đoạn, hoạt động chống phá của một số hội nhóm phản động, tổ chức đội lốt nhân quyền 

Có thể thấy, mỗi khi Việt Nam ứng cử, trúng cử thành viên Hội đồng Nhân quyền Liên hợp quốc hay trước các phiên đối thoại về báo cáo các quốc gia theo cơ chế rà soát định kỳ phổ quát (UPR), khi Hội đồng Nhân quyền thông qua kết quả rà soát… thì những chiêu trò vu khống, chống phá Việt Nam lại diễn ra quyết liệt. Âm mưu, thủ đoạn, hoạt động chống phá của một số hội nhóm phản động, tổ chức đội lốt nhân quyền là thường đưa ra các bản khuyến nghị, thư ngỏ, báo cáo, nêu yêu sách để xuyên tạc ở nước ta không có tự do ngôn luận, tự do tôn giáo; các quyền về dân sự, chính trị bị hạn chế, bị “chà đạp”. Thậm chí họ bịa đặt rằng, những người bất đồng chính kiến bị bắt giam một cách vô cớ, bị ngược đãi; vu cáo chính quyền bắt bớ tùy tiện, đàn áp công dân, xâm phạm quyền con người; đòi thả tự do cho những đối tượng phạm tội bị tạm giam hay bị kết án, nhất là số đối tượng có các hành vi làm, tàng trữ, phát tán hoặc tuyên truyền thông tin, tài liệu, vật phẩm nhằm chống Nhà nước CHXHCN Việt Nam. Bên cạnh đó, họ bịa đặt Việt Nam thực hiện không đúng cam kết quốc tế, không có đóng góp gì cho hoạt động nhân quyền quốc tế, kêu gọi các quốc gia không bầu Việt Nam vào Hội đồng Nhân quyền. Trong quá trình bầu cử vào Hội đồng Nhân quyền của Liên hợp quốc và trong các phiên đối thoại nhân quyền thường niên, lực lượng thù địch tổ chức các cuộc biểu tình ở hải ngoại để phản đối phái đoàn của Việt Nam, gây sức ép tới các quốc gia khi lựa chọn lá phiếu bầu cử.

Những chiêu trò này diễn đi, diễn lại nhiều lần, từ năm này qua năm khác, nội dung được biến tấu theo bối cảnh sự kiện nhưng ý đồ thì không thay đổi. Mục đích là làm lu mờ những nỗ lực, thành tựu trong công tác đối ngoại nhân quyền của Việt Nam; làm cho cộng đồng quốc tế hiểu sai, hiểu không đầy đủ về tình hình nhân quyền và các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước ta về nhân quyền; hạ thấp, phớt lờ những thành tựu đã được công nhận trong bảo đảm, thúc đẩy quyền công dân, quyền con người; hạ bệ vị thế, uy tín của Việt Nam trên trường quốc tế, tìm cách cô lập Việt Nam với thế giới…

Xây dựng xã hội học tập theo tư tưởng Hồ Chí Minh

 Tư tưởng và tấm gương Hồ Chí Minh về học tập suốt đời, lấy tự học làm cốt có ý nghĩa to lớn đối với nhiệm vụ xây dựng xã hội học tập ở Việt Nam hiện nay. Để vận dụng sáng tạo những kinh nghiệm, chỉ dẫn của Người đòi hỏi phải tiến hành đồng bộ nhiều nội dung biện pháp gắn với đặc điểm, yêu cầu xây dựng xã hội học tập ở từng địa phương, cơ quan, đơn vị.

Chủ tịch Hồ Chí Minh chụp ảnh cùng các em học sinh và giáo viên Trường Cấp I, II Móng Cái, ngày 19/02/1960. (Nguồn: Bảo tàng Hồ Chí Minh)

Chủ tịch Hồ Chí Minh chụp ảnh cùng các em học sinh và giáo viên Trường Cấp I, II Móng Cái, ngày 19/02/1960. (Nguồn: Bảo tàng Hồ Chí Minh)

TƯ TƯỞNG VÀ TẤM GƯƠNG HỒ CHÍ MINH VỀ HỌC TẬP SUỐT ĐỜI

Với cách diễn đạt giản dị, ngắn gọn nhưng súc tích và hàm chứa ý nghĩa sâu sắc, Chủ tịch Hồ Chí Minh đưa ra định nghĩa tự học là “tự động học tập”(1). “Tự động học tập” là việc học tập do chính bản thân người học quyết định, người học tích cực, chủ động, tự giác trong việc xác định nội dung, hình thức, phương pháp học tập, tự kiểm tra, đánh giá kết quả mà không cần sự điều khiển, giao nhiệm vụ của người khác. Hồ Chí Minh giải thích rõ: “Tự động là không phải tựa vào ai, là tự mình biết xoay xở, tự mình biết thực hành công tác theo nhiều hình thức mới mẻ, phong phú”(2). Đây là quan niệm hoàn toàn mới mẻ so với nhận thức của số đông đồng bào lúc bấy giờ, trở thành những chỉ dẫn quan trọng trong đẩy mạnh phong trào tự học của toàn dân.

Thứ nhất, xác định đúng mục đích và động cơ học tập

Mục đích và động cơ học tập là điều kiện, tiền đề để nâng cao kết quả học tập. Theo Hồ Chí Minh, dưới chế độ xã hội chủ nghĩa mục đích của việc học tập hoàn toàn khác so với trong xã hội cũ là: “Học để làm việc, làm người, làm cán bộ. Học để phụng sự Đoàn thể, giai cấp và nhân dân, Tổ quốc và nhân loại”(3). Đó là mục đích cao cả trở thành lý tưởng sống cao đẹp của mỗi cán bộ, đảng viên và nhân dân trong chế độ mới, động lực thôi thúc cán bộ, đảng viên và nhân dân tự học tập. Những chỉ dẫn ấy vừa có tính cách mạng, vừa có tính khoa học, thể hiện sự giải quyết hài hoà giữa quyền và lợi ích học tập của cá nhân với cống hiến, đóng góp cho tập thể, đất nước và nhân loại. Nếu học chỉ “để làm quan phát tài” hay vì mưu cầu lợi ích cá nhân thấp hèn thì tất yếu sự học không thể bền bỉ suốt cuộc đời mỗi người và tất yếu dẫn đến những biểu hiện tiêu cực trong học tập. Vì vậy, Người đưa ra tôn chỉ “Còn sống thì còn phải học”(4) và khuyên mọi người phải “tự nguyện, tự giác, xem công tác học tập cũng là một nhiệm vụ mà người cán bộ cách mạng phải hoàn thành cho được, do đó mà tích cực, tự động hoàn thành kế hoạch học tập, nêu cao tinh thần chịu khó, cố gắng, không lùi bước trước bất kỳ khó khăn nào trong việc học tập”(5).

Theo quan điểm của Người, việc xác định mục đích học tập và xây dựng động cơ học tập không chỉ là vấn đề học tập mà còn là vấn đề đạo đức, là nhân cách của người học. Đây chính là nhân tố quyết định hiệu quả tự học, bảo đảm sự học bền bỉ, suốt đời không dứt đoạn, không bị tha hoá. Người chỉ rõ: “Sức có mạnh mới gánh được nặng và đi được xa. Người cách mạng phải có đạo đức cách mạng làm nền tảng, mới hoàn thành được nhiệm vụ cách mạng vẻ vang”(6).

Thủ tướng Phạm Minh Chính và các đại biểu thực hiện nghi thức phát động Phong trào

Thủ tướng Phạm Minh Chính và các đại biểu thực hiện nghi thức phát động Phong trào "Cả nước thi đua xây dựng xã hội học tập, đẩy mạnh học tập suốt đời giai đoạn 2023-2030.

Bằng thực tiễn hoạt động cách mạng phong phú, sôi nổi của mình, Hồ Chí Minh đã nêu tấm gương sáng ngời về tự học. Dù không có nhiều thời gian học chính quy trong trường lớp nhưng bản thân Người là một nhà văn hoá kiệt xuất, một lãnh tụ cách mạng của dân tộc với trí tuệ thiên tài. Người chưa từng học ở trường dạy viết báo nhưng Người là một nhà báo nổi tiếng, là chủ bút của nhiều tờ báo lớn của nhân dân các nước thuộc địa. Quá trình bôn ba tìm đường cứu nước, Người đã làm rất nhiều nghề để mưu sinh và dùng thu nhập ít ỏi để mua sách báo, tài liệu, vào các thư viện để tự học tập, nghiên cứu. Tấm gương hy sinh, ý chí quyết tâm trong quá trình tự học, tự nghiên cứu của Người xuất phát từ việc xác định động cơ học tập đúng đắn, đó là học vì dân, vì nước, vì sự nghiệp cách mạng. Trong tâm trí Người chỉ có một mong ước cháy bỏng là “làm sao cho nước ta được hoàn toàn độc lập, dân ta được hoàn toàn tự do, đồng bào ai cũng có cơm ăn áo mặc, ai cũng được học hành”(7). Học tập là quyền con người chính đáng nhưng nếu có động cơ học tập cao cả để “phụng sự đồng bào, phụng sự Tổ quốc”(8) sẽ là động lực giúp mỗi người vượt qua mọi khó khăn, thử thách, hy sinh.

Thứ hai, xây dựng kế hoạch tự học, sắp xếp thời gian học tập khoa học và kiên quyết, kiên trì đạt được mục đích học tập đề ra

Trong mọi hoạt động, nhất là trong tự học cần phải xây dựng kế hoạch khoa học. Học tập có kế hoạch nghĩa là phải biết phân bổ thời gian, công sức, trí lực hợp lý, khoa học, nội dung nào học trước, nội dung nào học sau để tốn ít thời gian, công sức nhất nhưng hiệu quả học tập cao nhất. Trong tự học, Người xây dựng thời khóa biểu tự học hợp lý và định ra thời gian phấn đấu hoàn thành kế hoạch đã đề ra. Với năng khiếu bẩm sinh, tư duy sắc sảo cùng với sự khổ công tự học đã giúp Người thành thạo nhiều ngoại ngữ. Người kể lại kinh nghiệm tự học ngoại ngữ: Với mỗi từ mới sau khi hỏi được nghĩa, Người viết vào một mảnh giấy, dán vào chỗ hay để ý nhất, có khi viết vào cánh tay để trong khi làm việc vẫn có thể học được. Có khi vừa đi đường Người vừa nhẩm trong đầu từ mới… Chính quyết tâm, sự kiên trì, bền bỉ giúp Người vượt qua những khó khăn, thiếu thốn để tự học thành công. Từ thực tiễn học tập và hoạt động cách mạng Người đã rút ra chân lý: “Gạo đem vào giã bao đau đớn/ Gạo giã xong rồi trắng tựa bông/ Sống ở trên đời người cũng vậy/ Gian nan rèn luyện mới thành công”.

Nông dân xã Ái Quốc, huyện Nam Sách, tỉnh Hải Dương báo cáo kết quả sản xuất với Chủ tịch Hồ Chí Minh (ngày 31/5/1957). Ảnh tư liệu

Nông dân xã Ái Quốc, huyện Nam Sách, tỉnh Hải Dương báo cáo kết quả sản xuất với Chủ tịch Hồ Chí Minh (ngày 31/5/1957). (Ảnh tư liệu).

Thứ ba, tự học trong thực tiễn và gắn kết chặt chẽ giữa “học đi đôi với hành”

Quá trình tự học của Hồ Chí Minh bao giờ cũng gắn liền với quá trình lao động và hoạt động cách mạng. Chính lao động và hoạt động cách mạng là điều kiện để Người tích luỹ, củng cố kiến thức vững chắc và kiểm nghiệm, đánh giá kết quả tự học. Trong điều kiện lao động kiếm sống và hoạt động đầy khó khăn, thiếu thốn nhưng Người không bao giờ từ bỏ mục đích học tập. Chính vì vậy, Người luôn khuyên và nhắc nhở mọi người cố gắng học tập, học ở mọi lúc, mọi nơi. Nói chuyện về công tác huấn luyện và học tập, Người nhấn mạnh: “Học ở trường, học ở sách vở, học lẫn nhau và học nhân dân, không học nhân dân là một thiếu sót rất lớn”(9). Người đánh giá cao trí tuệ của nhân dân. Nhân dân là nhà thông thái nhất, là người thầy của cách mạng vì “Dân chúng biết giải quyết nhiều vấn đề một cách giản đơn, mau chóng, đầy đủ, mà những người tài giỏi, những đoàn thể to lớn, nghĩ mãi không ra”(10).

Học đi đôi với hành là một vấn đề thời sự, thường xuyên, tất yếu đối với tất cả người học, tất cả các cấp học. Học và hành là hai mệnh đề có mối quan hệ biện chứng với nhau. Bác từng dạy: “Học với hành phải đi đôi. Học mà không hành thì học vô ích. Hành mà không học thì hành không trôi chảy”(11). Do đó, trong quá trình tự học, Người căn dặn phải học đến đâu phải thực hành đến đó, không được dấu dốt, sợ sai Trong “Bài nói chuyện tại Đại hội Đoàn Thanh niên lao động Việt Nam lần thứ III”(25/3/1961), Người nhắc nhở: “Muốn xây dựng chủ nghĩa xã hội thì nhất định phải có học thức. Cần phải học văn hóa, chính trị, kỹ thuật. Cần phải học lý luận Mác - Lênin kết hợp với đấu tranh và công tác hàng ngày. Cần phải học kinh nghiệm tốt của các đoàn thanh niên bạn. Học đi đôi với hành”(12).

Tư tưởng và tấm gương tự học Hồ Chí Minh có giá trị to lớn đối với cách mạng Việt Nam. Trong những năm tháng kháng chiến trường kỳ, gian khổ, học tập và làm theo tấm gương tự học của Người đã giúp tạo ra thế hệ cán bộ mới, con người mới không chỉ có giác ngộ chính trị, đạo đức cách mạng mà còn có tri thức, hiểu biết sâu rộng góp phần đưa sự nghiệp “kháng chiến thành công, kiến quốc thắng lợi”(13). Những kinh nghiệm, lời giáo huấn được rút ra từ tấm gương tự học bền bỉ suốt đời của Người đến nay vẫn còn nguyên giá trị, “là tài sản tinh thần vô cùng to lớn và quý giá”(14) cho các thế hệ người Việt Nam học tập và làm theo.

VẬN DỤNG TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH TRONG XÂY DỰNG XÃ HỘI HỌC TẬP HIỆN NAY

Hiện nay, xu thế toàn cầu hoá, hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng, cuộc cách mạng Công nghiệp lần thứ 4 phát triển như vũ bão, yêu cầu đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo ngày càng cấp bách, thì việc đề cao ý thức tự học, tự nghiên cứu trở thành yêu cầu vừa cấp thiết trước mắt, vừa cơ bản, lâu dài nhằm xây dựng xã hội học tập. Nghị quyết số 29-NQ/TW về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo chỉ rõ một trong các nhiệm vụ, giải pháp cơ bản thực hiện đổi mới căn bản, toàn diện nền giáo dục Việt Nam là “hoàn thiện hệ thống giáo dục quốc dân theo hướng hệ thống giáo dục mở, học tập suốt đời và xây dựng xã hội học tập”. Đây là chủ trương lớn, đúng đắn của Ðảng và Nhà nước ta. Xã hội học tập là cơ sở tạo nguồn nhân lực chất lượng cao phục vụ công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước.

Thấm nhuần những kinh nghiệm và chỉ dẫn của Chủ tịch Hồ Chí Minh, quán triệt chủ trương xây dựng xã hội học tập của Đảng ta, cần nhận thức và thực hiện tốt một số nội dung chủ yếu sau:

Một là, tạo sự chuyển biến mạnh mẽ về nhận thức của toàn dân về xây dựng xã hội học tập. Xã hội học tập là một xã hội mà ở đó mọi người dân có nhu cầu học tập đều được đáp ứng và đều có nghĩa vụ học tập. Trong xã hội học tập, ai cũng được học thường xuyên, học suốt đời, trong đó ý thức tự giác tự học là yếu tố quyết định nhất. Do đó, cần phát huy trách nhiệm của toàn dân, của cả hệ thống chính trị trong công tác tuyên truyền, giáo dục nâng cao nhận thức của các tầng lớp nhân dân về xây dựng xã hội học tập. Chỉ khi nào mọi người dân nhận thức rõ về sự cần thiết, vai trò, tác động, ích lợi của học tập suốt đời và những điều kiện xây dựng xã hội học tập thì khi đó nhu cầu tự học tập được hình thành, củng cố và phát triển bền vững. Nghĩa là, phải hình thành ở người dân động cơ tự học tập đúng đắn. Trong điều kiện cách mạng Công nghiệp 4.0 phát triển như vũ bão, bên cạnh các hình thức tuyên truyền truyền thống (phát thanh, truyền hình, báo, tạp chí, tổ chức các hội thảo, diễn đàn….) cần tận dụng tối đa ưu thế của internet và mạng xã hội trong tuyên truyền, định hướng nhận thức của người dân và phát triển các hình thức tự học tập cho các đối tượng dân cư. Tuy nhiên, cần chú trọng quản lý chặt chẽ an toàn, an ninh thông tin mạng và xây dựng môi trường thông tin mạng xã hội lành mạnh nhằm thúc đẩy xã hội học tập, đúng định hướng chính trị, phục vụ mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội của đất nước.

Hai là, ban hành cơ chế, chính sách khuyến khích, tạo điều kiện thuận lợi cho toàn dân học tập. Cơ chế chính sách có vai trò đặc biệt quan trọng trong định hướng, thúc đẩy các hoạt động xây dựng xã hội học tập phát triển lành mạnh, hiệu quả thực chất. Thời gian qua, Đảng, Nhà nước đã ban hành nhiều cơ chế, chính sách quan tâm phát triển xã hội học tập, thúc đẩy tự học tập suốt đời đáp ứng mục tiêu tiếp tục đẩy mạnh toàn diện, đồng bộ công cuộc đổi mới. Do đó, các cấp uỷ, chính quyền, địa phương cần quán triệt, cụ thể hoá các chỉ thị, nghị quyết của Trung ương về phát triển giáo dục, đào tạo và xây dựng xã hội học tập, nhất là Quyết định số 1373/QĐ-Ttg của Thủ tướng Chính phủ về phê duyệt Đề án “Xây dựng xã hội học tập giai đoạn 2021-2030”. Trong đó, tập trung quán triệt, cụ thể hoá quan điểm xây dựng xã hội học tập dựa trên nền tảng phát triển đồng thời, gắn kết và liên thông giữa giáo dục chính quy và giáo dục thường xuyên, liên thông giữa các cấp học, trình độ đào tạo; vận dụng mọi hình thức giáo dục, đào tạo tiên tiến, hiệu quả, phù hợp với mục tiêu giáo dục đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế.

Ba là, chú trọng xây dựng và nhân rộng các mô hình xã hội học tập. Việc nhân rộng các mô hình xã hội học tập có vai trò quan trọng nhằm thúc đẩy xây dựng xã hội học tập. Cấp uỷ, chính quyền các cơ quan, đơn vị, địa phương cần chú trọng nhân rộng các mô hình “Gia đình học tập”, “Dòng họ học tập”, “Cộng đồng học tập”, “Đơn vị học tập”… theo hướng thiết thực, hiệu quả, nhằm phát triển phong trào tự học tập trong mọi gia đình, dòng họ, cộng đồng và cơ quan, tổ chức. Để các mô hình này không phát triển tự phát cần xây dựng tiêu chí cụ thể phù hợp với từng loại mô hình, sát đặc điểm đối tượng, tránh rập khuân, máy móc hoặc hình thức, chiếu lệ dẫn đến hiệu quả hoạt động thấp. Đồng thời, gắn kết chặt chẽ hoạt động của các mô hình xã hội học tập với nội dung các phong trào thi đua ở các địa phương, cơ quan, đơn vị tạo động lực thúc đẩy việc kiện toàn, phát triển các mô hình xã hội học tập.

Bốn là, củng cố lại các trung tâm học tập cộng đồng, các cơ sở giáo dục thường xuyên theo hướng áp dụng chuyển đổi số và dạy học trực tuyến tạo điều kiện thuận lợi nhất cho mọi người dân tiếp cận với các hình thức giáo dục. Đổi mới công tác quản lý các trung tâm học tập cộng đồng, các cơ sở giáo dục thường xuyên, quan tâm nâng cao chất lượng đào tạo ngoại ngữ, tin học. Xây dựng chương trình giáo dục thường xuyên theo hướng mềm dẻo, linh hoạt để mọi người, mọi lứa tuổi, mọi trình độ, mọi vùng miền đều có thể tiếp cận các tri thức ứng dụng vào thực tiễn đời sống, công tác và sản xuất. Bên cạnh đó, cần chú trọng áp dụng chuyển đổi số và dạy học trực tuyến, các chương trình đào tạo từ xa, các khóa học trực tuyến nhằm giảm chi phí, tạo cơ hội học tập cho các đối tượng; đổi mới phương thức học tập và áp dụng những tiện ích với công nghệ số, đặc biệt là các phương tiện dạy học cộng đồng.

Năm là, huy động tối đa các nguồn lực xã hội trong công tác xây dựng xã hội học tập. Xây dựng xã hội học tập không phải là nhiệm vụ riêng của ngành giáo dục mà là trách nhiệm của toàn dân, của cả hệ thống chính trị. Do đó, mỗi cơ quan, đơn vị, địa phương, doanh nghiệp cần bảo đảm nguồn lực cần thiết đầu tư xây dựng xã hội học tập. Để tránh tình trạng dàn trải, các cơ quan, đơn vị, địa phương cần quy định rõ định mức đầu tư cho các hoạt động tự học tập sát thực tiễn với từng cơ quan, đơn vị, doanh nghiệp. Đồng thời, đẩy mạnh hợp tác quốc tế nhằm tranh thủ nguồn lực vật chất, trí tuệ, công nghệ bên ngoài bảo đảm đa dạng hoá các hoạt động xây dựng xã hội học tập.

Xây dựng xã hội học tập, thúc đẩy tự học tập của toàn dân là chủ trương đúng đắn phù hợp với yêu cầu đòi của thực tiễn, nhu cầu học tập của nhân dân. Tư tưởng và tấm gương Hồ Chí Minh về học tập suốt đời, lấy tự học làm cốt là những kinh nghiệm quý báu và chỉ dẫn quan trọng để mỗi cấp uỷ, chính quyền và toàn dân học tập và làm theo. Hiệu quả thực hiện chủ trương này phụ thuộc vào nhiều nhân tố song xét đến cùng bắt nguồn từ sự thống nhận thức nhận thức và hành động trong Đảng cũng như ngoài Đảng. Đúng như chỉ dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Nếu trong Đảng và ngoài Đảng từ trên xuống dưới, từ trong đến ngoài đều tư tưởng thống nhất và hành động thống nhất thì nhiệm vụ tuy nặng nề, công việc tuy khó khăn phức tạp, ta cũng nhất định thắng lợi”(15)./.

Trung tá, ThS. NGUYỄN TRUNG THÀNH
Đại học Chính trị, Bộ Quốc phòng