Thứ Hai, 13 tháng 5, 2024

Nhận diện âm mưu, thủ đoạn các thế lực thù địch xuyên tạc chống phá bản chất giai cấp công nhân của Đảng CSVN

 

Trong những năm gần đây, các thế lực thù địch phản động tăng cường chống phá trên mặt trận tư tưởng, lý luận, trong đó có sự xuyên tạc, phủ nhận bản chất GCCN của Đảng Cộng sản Việt Nam. Chúng tung ra rất nhiều luận điệu, trong đó tập trung chủ yếu vào những vấn đề sau đây:

Một là, chúng cho rằng, Đảng Cộng sản Việt Nam không còn là Đảng mang bản chất GCCN, mà là Đảng của nông dân và trí thức. Bởi vì, nhìn vào đội ngũ đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam chủ yếu là nông dân và trí thức, còn GCCN chiếm số lượng rất nhỏ bé. Cho nên, Đảng có rất ít tính công nhân, mà mang đậm dấu ấn của tiểu tư sản. Hơn nữa, lại chịu ảnh hưởng nặng nề của xã hội phong kiến, nên GCCN và Đảng Cộng sản Việt Nam không thể lãnh đạo thành công sự nghiệp xây dựng CNXH ở Việt Nam.

Hai là, với cách diễn đạt về bản chất GCCN của Đảng như trong Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (Bổ sung, phát triển năm 2011) là hạ thấp bản chất GCCN của Đảng, là trượt sang quan điểm “đảng toàn dân”, “đảng phi giai cấp”.

Ba là, trong điều kiện đổi mới và phát triển kinh tế thị trường, sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống của một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên đã làm cho Đảng biến chất, không còn mang bản chất GCCN.

Sự xuyên tạc, chống phá của các thế lực thù địch trên lĩnh vực này trước đây chỉ về mặt lý thuyết, nên tác hại của nó chỉ diễn ra trên lĩnh vực tư tưởng. Sau khi GCCN đã giành được chính quyền, sự xuyên tạc, chống phá này đã được tiến hành một cách toàn diện và tác hại của nó diễn ra trên tất cả các lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, ảnh hưởng trực tiếp đến sự tồn vong của chế độ. Vậy, sự thật có đúng như các quan điểm trên không?

Trước hết, phải khẳng định rằng, trong điều kiện khoa học đang ngày càng trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp, trí thức đóng vai trò càng quan trọng là điều đương nhiên không cần bàn cãi. Ngay khi khoa học còn chậm phát triển, thì trí thức cũng đã đóng vai trò quan trọng trong mọi chế độ. Tuy nhiên, để từ đó tuyệt đối hóa vai trò của trí thức, hạ thấp sứ mệnh lịch sử của GCCN là hoàn toàn sai lầm cả lý luận lẫn thực tiễn.

Thực tiễn cho thấy, GCCN Việt Nam vừa có đặc điểm của GCCN quốc tế, vừa có đặc điểm đặc thù của dân tộc, chủ yếu xuất thân từ nông dân, chịu áp bức bóc lột của chế độ thực dân và phong kiến. Sinh thời, Hồ Chí Minh đã chỉ rõ: “Có người nói: Giai cấp công nhân Việt Nam số người còn ít, không lãnh đạo được cách mạng. Nói vậy không đúng. Lãnh đạo được hay là không, là do đặc tính cách mạng, chứ không phải do số người nhiều ít của giai cấp”(1).  

Ở Việt Nam hiện nay, mặc dù đa số những người lãnh đạo là trí thức, nhưng điều đó không có nghĩa là trí thức lãnh đạo và Đảng biến chất giai cấp. Xét về phương thức lao động cá nhân, thì có những người lãnh đạo và quản lý là trí thức. Nhưng họ không lãnh đạo với tư cách là đại diện cho trí thức, mà họ đang thực hiện công việc đó theo hệ tư tưởng và đường lối chính trị của Đảng Cộng sản. Lãnh đạo ở đây với tư cách là ý thức hệ chứ không phải thông qua những con người thừa hành cụ thể. Hoạt động quản lý và hoạt động lãnh đạo là hai hoạt động khác nhau, mỗi hoạt động đều mang những đặc trưng riêng. Nếu lãnh đạo bao giờ cũng thuộc về một giai cấp nhất định và chính đảng của nó, thì hoạt động quản lý là lao động trí óc. Hay nói cách khác hoạt động lãnh đạo bắt nguồn từ địa vị chính trị, kinh tế - xã hội của giai cấp quyết định, còn quản lý thì bắt nguồn từ sự phân công lao động xã hội: lao động quản lý hay lao động thừa hành. Do đó, có thể khẳng định rằng, hoạt động quản lý là vô cùng quan trọng, song trong quan hệ với hoạt động lãnh đạo, thì lãnh đạo quyết định quản lý; bởi vì, lãnh đạo quyết định phương hướng phát triển của các giai đoạn quản lý. Vì vậy, không có chuyện Đảng Cộng sản Việt Nam mang bản chất của trí thức và trí thức thay thế GCCN lãnh đạo cách mạng.

Thứ hai, Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (Bổ sung, phát triển năm 2011), khẳng định: “Đảng Cộng sản Việt Nam là đội tiên phong của giai cấp công nhân, đồng thời là đội tiên phong của nhân dân lao động và của dân tộc Việt Nam; đại biểu trung thành lợi ích của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và của dân tộc”(2). Cách diễn đạt này là hoàn toàn đúng đắn, chứ không hề hạ thấp hay từ bỏ bản chất GCCN của Đảng, trượt sang “đảng toàn dân”, “đảng phi giai cấp”… như quan điểm của một số người. Bởi vì, về lý luận, đây không phải là lần đầu tiên Đảng ta khẳng định điều này. Trước đó, trong Báo cáo Chính trị tại Đại hội lần thứ II của Đảng (1951) đã khẳng định: “Chính vì Đảng Lao động Việt Nam là Đảng của giai cấp công nhân và nhân dân lao động, cho nên nó phải là Đảng của dân tộc Việt Nam”(3). Trong bài nói chuyện ở Trường Cán bộ Công đoàn (1-1957), Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng khẳng định: “Đảng là đội tiên phong của giai cấp công nhân, đồng thời cũng là đội tiên phong của dân tộc”(4). Việc khẳng định bản chất GCCN của Đảng được thể hiện ở chỗ: nền tảng tư tưởng của Đảng là chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; mục tiêu, lý tưởng của Đảng là độc lập dân tộc gắn liền với CNXH; nguyên tắc tổ chức sinh hoạt của Đảng là tập trung dân chủ, liên hệ mật thiết với nhân dân, đoàn kết thống nhất trong Đảng, hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật, lấy tự phê bình và phê bình làm quy luật phát triển.

Về thực tiễn, không có bất kỳ một đảng chính trị nào ra đời, tồn tại và phát triển đều không mang bản chất của một giai cấp nhất định. Chính bản chất giai cấp của đảng quy định đảng đó đại diện cho lợi ích của giai cấp, tầng lớp nào trong xã hội. Còn GCCN có sứ mệnh xóa bỏ chế độ áp bức, bóc lột, xây dựng chế độ XHCN, đại biểu cho lợi ích của giai cấp và đại đa số nhân dân lao động. Khác với sự ra đời của Đảng Cộng sản ở các nước tư bản - đó là sự kết hợp giữa chủ nghĩa Mác - Lênin với phong trào công nhân. Điều kiện, đặc điểm ra đời, tồn tại và phát triển của Đảng Cộng sản Việt Nam có tính đặc thù - đó là sự kết hợp giữa chủ nghĩa Mác - Lênin với phong trào công nhân và phong trào yêu nước. Điều đó đã khẳng định, ngay từ khi ra đời Đảng Cộng sản Việt Nam mang bản chất của GCCN, đồng thời đại biểu cho lợi ích của GCCN, của nhân dân lao động và của dân tộc Việt Nam.

Với cách diễn đạt như trên vừa thể hiện bản chất GCCN của Đảng theo chủ nghĩa Mác - Lênin, vừa nói lên nét đặc thù của Đảng theo sự phát triển sáng tạo của Hồ Chí Minh, vừa phù hợp với thực tiễn Việt Nam, đáp ứng nguyện vọng, tình cảm của nhân dân - với tên gọi trìu mến Đảng ta

Trong điều kiện hiện nay, Đảng lãnh đạo xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân; phát triển nền kinh tế thị trường định hướng XHCN; chủ động hội nhập quốc tế; cùng với quá trình đó là nêu cao tư tưởng đại đoàn kết toàn dân tộc, phát huy sức mạnh tổng hợp của cả dân tộc đối với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, thì càng cần quán triệt tư tưởng Hồ Chí Minh và quan điểm của Đảng trong việc diễn đạt bản chất GCCN của Đảng, nhất là trong điều kiện Đảng ta là một Đảng duy nhất cầm quyền ở nước ta. Cách diễn đạt bản chất GCCN của Đảng như vậy, đòi hỏi Đảng chẳng những phải trung thành với GCCN, nâng cao lập trường, tư tưởng của GCCN, mà còn phải học tập, kế thừa, phát huy truyền thống dân tộc, tăng cường đoàn kết, tập hợp nhân dân, phấn đấu vì lợi ích của cả giai cấp và dân tộc.

Thứ ba, hiện nay, có một bộ phận cán bộ, đảng viên, kể cả một số đảng viên, cán bộ chủ chốt, cấp cao yếu kém về phẩm chất và năng lực; thiếu tính chiến đấu và tinh thần bảo vệ quan điểm, đường lối, chủ trương của Đảng; một số có biểu hiện bất mãn, mất lòng tin, nói và làm trái với quan điểm, đường lối của Đảng, vi phạm nguyên tắc tổ chức sinh hoạt đảng, vi phạm pháp luật Nhà nước. Bệnh cơ hội, chủ nghĩa cá nhân trong một bộ phận cán bộ, đảng viên có chiều hướng gia tăng; vẫn còn tình trạng “chạy chức”, “chạy quyền”, “chạy tội”, “chạy bằng cấp”. Thoái hóa, biến chất về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”; tệ quan liêu, tham nhũng, lãng phí, sách nhiễu và xa dân…trong một bộ phận cán bộ, đảng viên diễn ra nghiêm trọng, kéo dài, chưa được ngăn chặn, đẩy lùi, nhất là trong các cơ quan công quyền, các lĩnh vực xây dựng cơ bản, quản lý đất đai, quản lý doanh nghiệp nhà nước và quản lý tài chính… Đây là thực tế đau lòng, đã làm giảm lòng tin của nhân dân đối với Đảng và Đảng cũng thừa nhận rằng, đó là một nguy cơ lớn, liên quan đến sự sống còn của Đảng và chế độ. Điều này là trái với bản chất GCCN của Đảng, đã từng được các nhà kinh điển chủ nghĩa Mác - Lênin cảnh tỉnh về nguy cơ của một đảng cầm quyền là dễ dẫn đến kiêu ngạo, quan liêu, xa rời quần chúng.

Nhìn lại giai đoạn 1989-1991 ở một số nước XHCN cho thấy rằng, GCCN khi đã giành được chính quyền, nhưng do không quan tâm xây dựng đảng trong sạch vững mạnh, bảo đảm tính tiên phong của GCCN nên đã làm cho đội ngũ phân hóa phức tạp; một bộ phận đảng viên mơ hồ về lập trường GCCN; dễ dàng ngã theo phái cơ hội chủ nghĩa. Một số khác gần như là một đẳng cấp có đặc quyền, đặc lợi, xa rời quần chúng và bị quần chúng xa lánh. Vì vậy, nhiều đảng đã mất tín nhiệm với GCCN, với nhân dân, và trước sự tấn công của kẻ thù, một số đảng đi đến chia rẽ và tan rã.

Việc một bộ phận cán bộ, đảng viên vi phạm, thì tự họ đã tự đánh mất bản chất GCCN của đảng viên, có ảnh hưởng nhất định đối với Đảng, nhưng cũng không vì thế mà quy kết là Đảng đánh mất bản chất GCCN, và theo quy luật họ sẽ bị đào thải nhằm làm cho Đảng trong sạch, vững mạnh. Đó là quy luật tồn tại và phát triển của Đảng. Chính vì vậy, trong hai nhiệm kỳ gần đây, Đảng ta ban hành liên tiếp các Nghị quyết chuyên đề liên quan đến những vấn đề cấp bách xây dựng, chỉnh đốn Đảng trong điều kiện mới. Đây là những biện pháp mạnh mẽ, quyết liệt, kịp thời nhằm tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng. Việc xử lý cán bộ, đảng viên vi phạm trong những năm qua đã được các cơ quan của Đảng và Nhà nước tiến hành nghiêm túc, bài bản, hiệu quả, không có ngoại lệ, không có vùng cấm, được nhân dân và dư luận xã hội đánh giá cao.

Không che dấu khuyết điểm, nhưng cũng phải khẳng định rằng, trước những khó khăn, thách thức lớn ở trong nước, những biến động bất lợi của phong trào cộng sản và công nhân quốc tế, trước sự chống phá của các thế lực thù địch, Đảng ta vẫn giữ vững bản chất khoa học và cách mạng của GCCN, kiên định và vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh là nền tảng tư tưởng của Đảng; kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và CNXH; kiên trì đổi mới, tiếp tục nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng. Đại đa số cán bộ, đảng viên phát huy được vai trò tiên phong, gương mẫu, năng động, sáng tạo trong công tác, lao động, rèn luyện phẩm chất, năng lực có bước trưởng thành đáng kể, đóng vai trò nòng cốt, đi đầu trong công cuộc đổi mới, góp phần thành quả xứng đáng vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

HAIVAN

Lời Bác dạy năm xưa

 

“Phải có quyết tâm cao để vượt mọi khó khăn làm tròn nhiệm vụ. Quyết tâm phải biến thành hành động dũng cảm, chiến đấu kiên quyết, không sợ hy sinh gian khổ”.

Lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong thư gửi lớp chỉnh huấn cán bộ trung, cao cấp của quân đội ngày 11-5-1969. Đây là thời kỳ toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta đang huy động cao nhất mọi nguồn lực, quyết tâm đánh thắng giặc Mỹ xâm lược, giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước. Theo Bác, có quyết tâm cao mới có hành động dũng cảm, có phương pháp tốt mới hoàn thành tốt được nhiệm vụ; quyết tâm một, biện pháp phải 10 mới đi đến thành công. Vì vậy, Người nhắc nhở cán bộ quân đội trước hết phải có quyết tâm cao để vượt mọi khó khăn, phải học tập để phát huy ưu điểm, sửa chữa khuyết điểm, nâng cao trình độ về mọi mặt, làm cho ta càng đánh càng mạnh, càng đánh càng thắng. Đây là nguồn động viên, cổ vũ, khích lệ đội ngũ cán bộ quân đội phải luôn triệt để chấp hành nghiêm chỉ thị, mệnh lệnh của cấp trên, lập nhiều thành tích hơn nữa trong cuộc kháng chiến chống đế quốc Mỹ xâm lược giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước.

Trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc ngày nay, lời dạy của Người về lòng quyết tâm và ý thức trách nhiệm của cán bộ quân đội càng có ý nghĩa và giá trị nhân văn sâu sắc. Học tập và làm theo lời Bác dạy, đội ngũ cán bộ quân đội luôn phát huy tốt tính tiền phong, gương mẫu, chấp hành nghiêm đường lối, chủ trương, nghị quyết của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, kỷ luật quân đội; gương mẫu đi đầu trong thực hiện chức trách, nhiệm vụ. Cán bộ luôn gần gũi bộ đội, quan tâm xây dựng động cơ, quyết tâm cao cho bộ đội; cán bộ, chiến sĩ toàn quân luôn rèn luyện ý chí chiến đấu, tinh thần chịu đựng gian khổ, dũng cảm, sẵn sàng nhận và hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ được giao.

HAIVAN

PHẢI KHÔNG NGỪNG BỔ SUNG, HOÀN THIỆN ĐƯỜNG LỐI CHÍNH TRỊ CỦA ĐẢNG

 

Những năm qua, các thế lực thù địch, cơ hội chính trị vẫn cho rằng Đảng và Nhà nước Việt Nam chỉ đổi mới kinh tế mà không đổi mới chính trị. Âm mưu, thủ đoạn của họ là thúc đẩy đổi mới chính trị để xóa bỏ chế độ XHCN ở Việt Nam.

Sự thật là thế nào? Đảng đã kết hợp ngay từ đầu đổi mới kinh tế với đổi mới hệ thống chính trị. Quan điểm của Đảng là lấy nhiệm vụ phát triển kinh tế là trung tâm và từ thành tựu kinh tế mà từng bước đổi mới hệ thống chính trị. Chính trị là lĩnh vực nhạy cảm, phải đổi mới từng bước, thận trọng, vững chắc, không vội vàng khi chưa có đủ điều kiện cần thiết. Đổi mới hệ thống chính trị trong suốt quá trình đổi mới và hiện nay tập trung vào những nội dung nổi bật.

Một là, xây dựng, hoàn thiện Nhà nước pháp quyền XHCN với những đặc trưng cơ bản, hoàn thiện hệ thống pháp luật, thể chế; Nhà nước quản lý xã hội, đất nước, nền kinh tế chủ yếu bằng pháp luật; Nhà nước pháp quyền là một trong 8 đặc trưng của mô hình CNXH Việt Nam.

Hai là, thực hiện chiến lược đại đoàn kết toàn dân tộc trong Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị-xã hội; phát huy dân chủ XHCN, tập hợp, đoàn kết rộng rãi mọi giai cấp, tầng lớp, dân tộc, tôn giáo, người Việt Nam định cư ở nước ngoài vì lợi ích quốc gia, dân tộc và hạnh phúc của nhân dân.

Ba là, tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng, nâng cao năng lực lãnh đạo, cầm quyền và sức chiến đấu của Đảng; xây dựng Đảng kết hợp chặt chẽ với xây dựng, hoàn thiện hệ thống chính trị, kết hợp đúng đắn xây dựng và chỉnh đốn Đảng, xây dựng và bảo vệ Đảng, dựa vào nhân dân để xây dựng Đảng.

Thực hiện và bảo vệ 3 vấn đề cốt lõi nêu trên là phát huy tính ưu việt của chế độ và bảo đảm cho đất nước phát triển nhanh, bền vững về kinh tế-xã hội, vị thế chính trị, văn hóa, con người, quốc phòng, an ninh, đối ngoại và hội nhập quốc tế. Vấn đề bảo đảm an ninh phi truyền thống, thích ứng với biến đổi khí hậu, bảo vệ môi trường, phòng, chống thiên tại, dịch bệnh, nhất là kiểm soát đại dịch Covid-19 có ý nghĩa đặc biệt đối với cuộc sống người dân, không thể xem nhẹ.

Sự lãnh đạo, cầm quyền của Đảng thông qua việc hoàn thiện, bổ sung Cương lĩnh, đường lối và bảo vệ giá trị khoa học, tính hiện thực của đường lối. Đại hội XIII của Đảng đã cụ thể hóa 12 định hướng chiến lược phát triển đất nước trong thời kỳ 2021-2030. Để thực hiện được các định hướng đó cần tiếp tục nắm vững và xử lý tốt các mối quan hệ lớn: Giữa ổn định, đổi mới và phát triển; giữa đổi mới kinh tế và đổi mới chính trị; giữa tuân theo các quy luật thị trường và bảo đảm định hướng XHCN; giữa phát triển lực lượng sản xuất và xây dựng, hoàn thiện từng bước quan hệ sản xuất XHCN; giữa Nhà nước, thị trường và xã hội; giữa tăng trưởng kinh tế và phát triển văn hóa, thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội, bảo vệ môi trường; giữa xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN; giữa độc lập, tự chủ và hội nhập quốc tế; giữa Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý và nhân dân làm chủ; giữa thực hành dân chủ và tăng cường pháp chế, bảo đảm kỷ cương xã hội. “Đó là những mối quan hệ lớn, phản ánh các quy luật mang tính biện chứng, những vấn đề lý luận cốt lõi về đường lối đổi mới của Đảng ta cần tiếp tục được bổ sung, hoàn thiện và phát triển phù hợp với thay đổi của thực tiễn; đòi hỏi chúng ta phải nhận thức đúng và đầy đủ, quán triệt sâu sắc và thực hiện thật tốt, có hiệu quả”./.

HAIVAN

THỰC HIỆN CÓ HIỆU QUẢ CHỦ TRƯƠNG DỰA VÀO DÂN ĐỂ XÂY DỰNG ĐẢNG

 

Trong những năm qua, mặc dù nhận được sự quan tâm, chỉ đạo sát sao của Đảng và cả hệ thống chính trị trong việc thực hiện chủ trương dựa vào dân để xây dựng, chỉnh đốn Đảng, tuy nhiên việc thực hiện trong thực tế vẫn còn có nhiều vấn đề khó khăn, hạn chế. Hội nghị Trung ương 4 nhận định: “Một bộ phận cán bộ, đảng viên, trong đó có cả cán bộ lãnh đạo, quản lý nhận thức chưa đầy đủ tính chất, tầm quan trọng của công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng… Hoạt động giám sát của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức chính trị - xã hội và nhân dân đối với việc tu dưỡng, rèn luyện đạo đức của cán bộ, đảng viên chưa hiệu quả”. Chính vì vậy, để thực hiện tốt và hiệu quả hơn chủ trương dựa vào dân để xây dựng, chỉnh đốn đảng, cần thực hiện một số nội dung cơ bản như sau:

Một là, thực hiện dân chủ rộng rãi, trước hết là dân chủ trong Đảng. Phát huy dân chủ được coi là một trong những yếu tố quan trọng hàng đầu để nhân dân có thể tham gia hiệu quả trong việc xây dựng Đảng, xây dựng hệ thống chính trị, cũng là cơ sở quan trọng để Đảng có thể dựa vào dân thực hiện xây dựng, chỉnh đốn Đảng. Điều 2, Hiến pháp năm 2013 có quy định: “Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của Nhân dân, do Nhân dân, vì Nhân dân… Tất cả quyền lực của nhà nước thuộc về Nhân dân mà nền tảng là liên minh giữa giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức”. Điều đó khẳng định bản chất của chế độ ta, chế độ do nhân dân lao động làm chủ. Trong việc thực hiện quyền làm chủ của nhân dân cần chú trọng thực hiện một cách nền nếp, thực chất, tránh hình thức. Dân chủ phải được thực hành rộng rãi, từ dân chủ trong Đảng đến dân chủ trong toàn xã hội, dân chủ ở các cấp, các địa phương đến các lĩnh vực của đời sống xã hội như: kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội. Do vậy, cần tiếp tục khẳng định vai trò chủ thể, vị trí trung tâm của quần chúng nhân dân trong quá trình xây dựng, phát triển, bảo vệ đất nước; trong quá trình xây dựng, chỉnh đốn Đảng, xây dựng hệ thống chính trị.

Các cấp bộ đảng, chính quyền cần tuyên truyền, vận động mỗi người dân nhận thức rõ hơn về vai trò, trách nhiệm của mình trong việc tham gia xây dựng, chỉnh đốn Đảng, hệ thống chính trị: "Công việc đổi mới, xây dựng là trách nhiệm của dân. Sự nghiệp kháng chiến, kiến quốc là công việc của dân. Chính quyền từ xã đến Chính phủ trung ương do dân cử ra. Đoàn thể từ Trung ương đến xã do dân tổ chức nên". Mỗi người dân cũng cần nhận thức rõ rằng thực hiện nhiệm vụ xây dựng, chỉnh đốn Đảng giúp Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh toàn diện, cũng là để bảo vệ quyền, lợi ích chính đáng của nhân dân, dân tộc và đất nước. Khi đã nhận thức rõ và đầy đủ, mỗi người dân sẽ tự giác hoặc các tổ chức đảng, chính quyền các cấp có thể vận động nhân dân tham gia đóng góp, xây dựng đảng, xây dựng và bảo vệ các thiết chế bảo đảm và phát huy quyền làm chủ của nhân dân một cách thuận lợi và hiệu quả hơn. Cùng với đó, cần chủ động rà soát, bổ sung, cụ thể hóa những nội dung phát huy dân chủ được quy định trong hiến pháp, pháp luật, các văn bản của Đảng và trong hệ thống chính trị. Các biểu hiện coi thường nhân dân, hạn chế quyền làm chủ của nhân dân dưới mọi hình thức đều sẽ dẫn đến những hậu quả khôn lường, làm giảm uy tín, niềm tin của nhân dân về Đảng; do vậy cần kiên quyết đấu tranh, không để tình trạng này xuất hiện và lan rộng.

Hai là, xây dựng cơ chế phù hợp, tạo điều kiện thuận lợi cho nhân dân tham gia xây dựng, chỉnh đốn Đảng. Đảng, Nhà nước ta luôn xác định dân là gốc, luôn tin tưởng, tôn trọng và phát huy quyền làm chủ của nhân dân trong thực tế, đồng thời luôn kiên trì thực hiện đúng phương châm “Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng”. Trước hết Đảng, Nhà nước cần đổi mới cơ chế và quy trình trong việc xây dựng, triển khai thực hiện nhiệm vụ lãnh đạo, quản lý các cấp, nhất là trong công tác cán bộ và thực hiện những chủ trương, chính sách lớn của Đảng, Nhà nước theo hướng phát huy dân chủ, phát huy vai trò của nhân dân. Nhân dân có thể tham gia đóng góp ý kiến ở những khâu quan trọng trong quá trình xây dựng, ban hành, thực hiện các chính sách liên quan đến quyền và lợi ích chính đáng, hợp pháp của nhân dân. Từng bước hoàn thiện và đẩy mạnh thực hiện các quy chế dân chủ ở cơ sở, quy chế về giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị - xã hội, các văn bản pháp luật liên quan đến quyền làm chủ của nhân dân, dân chủ ở cơ sở… Cần phát huy hơn nữa vai trò của nhân dân trong việc đánh giá, giám sát đội ngũ cán bộ về thực hiện chức trách, nhiệm vụ, các vấn đề liên quan đến phẩm chất, đạo đức, lối sống…

Để nhân dân thuận lợi tham gia xây dựng, chỉnh đốn Đảng thì việc tạo điều kiện cần thiết để nhân dân có thể tiếp cận với các thông tin chính thống từ phía các cơ quan của Đảng, Nhà nước là điều hết sức cần thiết. Đảng, Nhà nước cần quy định đầy đủ, thực hiện nghiêm túc chế độ cung cấp thông tin kịp thời, chính xác cho quần chúng nhân dân bằng những hình thức phù hợp. Cần tăng cường công khai, minh bạch trong thông tin trong công tác cán bộ, các vấn đề nhạy cảm, dễ nảy sinh sai phạm.

Ba là, tiếp tục chăm lo, nâng cao đời sống vật chất và tinh thần cho nhân dân. Muốn phát huy vai trò làm chủ của nhân dân, dựa vào dân để xây dựng, chỉnh đốn Đảng thì trước hết Đảng, Nhà nước phải tiếp tục triển khai thực hiện tốt những chủ trương, chính sách đảm bảo quyền lợi ích chính đáng, hợp pháp của nhân dân; nâng cao chất lượng đời sống mọi mặt cho người dân, thu hẹp khoảng cách giàu nghèo, đảm bảo an sinh xã hội, giải quyết những vấn đề bức xúc hiện nay. Đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân được cải thiện sẽ góp phần nâng cao hơn nữa niềm tin của nhân dân vào sự lãnh đạo của Đảng, Nhà nước, từ đó vai trò của nhân dân trong việc tham gia xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh sẽ ngày càng được khẳng định và hiệu quả, chất lượng đóng góp của nhân dân cũng được nâng cao hơn.

Bốn là, đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng đối với Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị - xã hội. Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị xã hội phải thực sự gần dân, sát dân, là cầu nối giữa nhân dân với Đảng, đóng vai trò quan trọng trong việc xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc, chăm lo, bảo vệ lợi ích của nhân dân, vận động nhân dân tham gia đóng góp, xây dựng phát triển đất nước. Các cấp bộ đảng cần tăng cường lãnh đạo, chỉ đạo để Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội có thể chủ động, tích cực, sáng tạo trong việc phát huy vai trò của nhân dân, phát huy dân chủ, tạo điều kiện thuận lợi để nhân dân tham gia đóng góp xây dựng Đảng, xây dựng hệ thống chính trị, đặc biệt là việc nhân dân tham gia giám sát các cơ quan, tổ chức đảng, hệ thống chính trị thực hiện chức năng nhiệm vụ của mình; trong việc giám sát cán bộ, đảng viên nhất là những cán bộ đảng viên có chức có quyền. Cần tập trung giám sát, phản biện trong quá trình xây dựng chủ trương, nghị quyết, đường lối lớn của Đảng; ban hành các chính sách, quy hoạch phát triển kinh tế xã hội của các địa phương, đơn vị, đảm bảo bám sát thực tiễn, hợp ý Đảng - lòng Dân, tạo sự đồng thuận trong toàn xã hội.

Năm là, xây dựng đội ngũ cán bộ các cấp, trong đó đặc biệt chú trọng đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý đủ năng lực, phẩm chất, thực sự hết lòng hết sức phục vụ Tổ quốc, phụng sự nhân dân. Chủ tịch Hồ Chí Minh có căn dặn: Muôn việc thành công hoặc thất bại đều do cán bộ tốt hoặc kém. Thực tiễn đã chứng minh, chủ trương đường lối cho dù có rất đúng đắn và sáng suốt đến đâu nhưng nếu cán bộ kém về năng lực, yếu về phẩm chất, thiếu trách nhiệm, triển khai thực hiện không tốt thì chủ trương đó khó đi vào cuộc sống: “Khi có chính sách đúng, thì sự thành công hoặc thất bại của chính sách đó là do nơi cách tổ chức công việc, nơi lựa chọn cán bộ, và do nơi kiểm tra. Nếu ba điều ấy sơ sài thì chính sách đúng mấy cũng vô ích”. Do vậy, năng lực, phẩm chất của mỗi cán bộ đảng viên, nhất là cán bộ cấp chiến lược sẽ ảnh hưởng lớn đến quá trình thực hiện nhiệm vụ, ảnh hưởng trực tiếp đến uy tin, danh dự của Đảng, đến mối quan hệ Đảng – Dân và niềm tin của nhân dân đối với Đảng. Vì vậy cần chú trọng xây dựng đội ngũ cán bộ, đảng viên đủ phẩm chất, năng lực, thực sự trọng dân, gần dân, hiểu dân, có trách nhiệm và biết phát huy vai trò, quyền làm chủ của nhân dân. Mỗi cán bộ, đảng viên, mỗi tổ chức đảng cần phải kiên quyết đấu tranh, đẩy lùi những biểu hiện thoái hóa, biến chất trong tổ chức, đơn vị mình, cùng nhân dân xây dựng, chỉnh đốn Đảng trong sạch, vững mạnh./.

HAIVAN

PHÁT HUY VAI TRÒ NHÂN DÂN THAM GIA XÂY DỰNG, CHỈNH ĐỐN ĐẢNG

 

Chủ trương dựa vào dân để xây dựng chỉnh đốn Đảng là chủ trương xuyên suốt, nhất quán của Đảng ta ngay từ khi mới thành lập và được nhấn mạnh và cụ thể hóa hơn nữa trong bối cảnh hiện nay. Từ Nghị quyết Trung ương 4 khóa XI về một số vấn đề cấp bách về xây dựng Đảng hiện nay; đến Nghị quyết Trung ương 4 khóa XII về tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng; ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ; đặc biệt là Kết luận Hội nghị lần thứ 4 khóa XIII về đẩy mạnh xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị; kiên quyết ngăn chặn, đẩy lùi, xử lý nghiêm cán bộ, đảng viên suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, biểu hiện "tự diễn biến", "tự chuyển hoá và Văn kiện Đại hội Đảng lần thứ XIII đều khẳng định đầy đủ, rõ ràng chủ trương này. Trong các nhiệm vụ, giải pháp được trình bày trong Báo cáo của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XII về tổng kết công tác xây dựng Đảng và thi hành Điều lệ Đảng (tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng) cũng khẳng định: “Thắt chặt hơn nữa mối quan hệ mật thiết giữa Đảng với nhân dân, dựa vào nhân dân để xây dựng Đảng. Tạo chuyển biến mạnh mẽ trong nhận thức, hành động của các cấp uỷ đảng, hệ thống chính trị về công tác dân vận. Tăng cường đổi mới, nâng cao hiệu quả công tác dân vận của các cơ quan đảng, nhà nước và cả hệ thống chính trị; phát huy vai trò của nhân dân tham gia xây dựng Đảng, xây dựng chính quyền và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh trong tình hình mới”. Trong các nhiệm vụ và giải pháp chủ yếu của Kết luận Hội nghị lần thứ 4 khóa XIII có nêu: “Phát huy vai trò, trách nhiệm của các cơ quan dân cử, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức chính trị - xã hội; thực sự dựa vào nhân dân để xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh”.

Như vậy, có thể thấy, kế thừa quan điểm xuyên suốt trong lịch sử cách mạng Việt Nam, qua nội dung của Văn kiện Đại hội XIII và Hội nghị Trung ương 4 khóa XIII, chủ trương dựa và dân để xây dựng Đảng đã được thể hiện ngày càng cụ thể, rõ ràng hơn. Theo tinh thần Hội nghị Trung ương 4 khóa XIII, chủ trương dựa này được thể hiện ở hai khía cạnh cơ bản, đó là: Nhân dân trực tiếp và gián tiếp tham gia xây dựng và chỉnh đốn Đảng.

Thứ nhất, Đảng dựa vào nhân dân trực tiếp tham gia xây dựng, chỉnh đốn Đảng. Theo đó, nhân dân trực tiếp phản ánh, góp ý với cấp ủy đảng về công tác cán bộ, các chủ trương, đường lối lớn của Đảng. Nhân dân có quyền góp ý kiến, kiến nghị đối với tổ chức Đảng và chính quyền, phát hiện những yếu kém, khuyết điểm của tổ chức và cá nhân cán bộ, đảng viên, nhất là phát hiện những tiêu cực như tham nhũng, lãng phí, “lợi ích nhóm” hoặc nhân dân tham gia xây dựng chỉnh đốn đảng thông qua hoạt động đối thoại, tiếp công dân, tiếp nhận và kịp thời chỉ đạo xử lý đơn thư khiếu nại, tố cáo và giải quyết những kiến nghị, phản ánh của nhân dân nhất là những vấn đề liên quan đến đạo đức, lối sống của cán bộ, đảng viên . Ngoài ra, thông qua các tổ tự quản của nhân dân ở cơ sở, hoạt động của ban thanh tra nhân dân, các tổ giám sát cộng đồng cũng là hình thức quan trọng để nhân dân có thể tham gia xây dựng, chỉnh đốn Đảng, hiện nay. Để thực hiện nội dung này, trong những năm qua, Đảng, Nhà nước đã có nhiều chủ trương, biện pháp để ngày càng phát huy vai trò của nhân dân trong việc tham gia xây dựng chỉnh đốn Đảng một cách trực tiếp, hiệu quả. Cùng với Hiến pháp năm 2013, nhiều quy định đã được sửa đổi, bổ sung để phát huy quyền làm chủ thực sự của nhân dân, tạo cơ sở pháp lý vững chắc để thực hiện nghiêm túc phương châm “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng” như: Quy chế dân chủ ở cơ sở; quy định về việc đảng viên tham gia sinh hoạt ở khu dân cư,… Những quy định này đã góp phần làm tăng thêm cơ hội để nhân dân góp ý để xây dựng và hoàn thiện đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước; giám sát đảng viên, cán bộ, công chức, viên chức về nhiều mặt; tham gia xây dựng chỉnh đốn Đảng, xây dựng hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh.

Thứ hai, ngoài việc tham gia trực tiếp, nhân dân cũng gián tiếp tham gia xây dựng, chỉnh đốn đảng thông qua hoạt động của Quốc hội, Hội đồng nhân dân các cấp và các đại biểu do dân bầu; thông qua Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể chính trị xã hội. Nhân dân là người lựa chọn, bầu ra các đại biểu tham gia Quốc hội, Hội đồng nhân dân các cấp và các cơ quan dân cử. Thông qua hoạt động của Quốc hội, Hội đồng nhân dân các cấp những tâm tư, nguyện vọng của nhân dân đã đến nghị trường Quốc hội; những vấn đề nhân dân quan tâm, bức xúc, những nội dung cần tháo gỡ về mặt cơ chế, chính sách, pháp luật… đã được bàn bạc, thảo luận công khai, xử lý phù hợp. Qua đó, nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động của Quốc hội nói riêng và các cơ quan dân cử nói chung. Thông qua hoạt động của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội, mỗi cán bộ, đảng viên và nhân dân có thể tham gia giám sát các cơ quan, tổ chức đảng trong việc thực hiện các nhiệm vụ theo đúng chức năng, quyền hạn của cơ quan, đơn vị mình; tham gia giám sát cán bộ, đảng viên, nhất là những đảng viên có chức có quyền, những người làm ở những lĩnh vực dễ nảy sinh vi phạm… Qua đó góp phần nâng cao chất lượng, hiệu quả nhiều mặt trong công tác xây dựng Đảng: công tác cán bộ, kiểm tra, giám sát, việc chấp hành và tổ chức thực hiện các chủ trương, nghị quyết của Đảng.

HAIVAN

Kiểm soát quyền lực trong thể chế chính trị một đảng duy nhất cầm quyền

 

Trong cuốn sách “Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam”, đồng chí Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã nhiều lần nhắc đến vấn đề kiểm soát quyền lực chính trị ở nước ta hiện nay, nhất là trong điều kiện một đảng duy nhất cầm quyền. 

Thể chế chính trị ở nước ta có những nét đặc thù: Đảng Cộng sản Việt Nam là lưc lượng duy nhất được nhân dân thừa nhận giữ vai trò lãnh đạo Nhà nước và xã hội; Nhà nước quản lý xã hội dưới sự lãnh đạo của Đảng và phục vụ lợi ích của nhân dân; Nhân dân làm chủ thông qua các hình thức dân chủ và đại diện. Các thành tố trong hệ thống chính trị đều thống nhất về mục tiêu phấn đấu vì lợi ích của nhân dân. Đây là nét khác biệt với các thể chế chính trị khác bởi họ bảo vệ trước hết cho lợi ích của giai cấp cầm quyền.

Đồng chí Tổng Bí thư giải thích rõ bản chất của chế độ chính trị của nước ta: “Trong chế độ xã hội chủ nghĩa, mối quan hệ giữa Đảng, Nhà nước và nhân dân là mối quan hệ giữa các chủ thể thống nhất về mục tiêu và lợi ích; mọi đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật và hoạt động của Nhà nước đều vì lợi ích của nhân dân, là hạnh phúc của nhân dân làm mục tiêu phấn đấu. Mô hình chính trị và cơ chế vận hành tổng quan là Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý và Nhân dân làm chủ… Xây dựng nền dân chủ xã hội chủ nghĩa, bảo đảm quyền lực thực sự thuộc về nhân dân là một nhiệm vụ trọng yếu, lâu dài của cách mạng Việt Nam. Chúng ta chủ trương không ngừng phát huy dân chủ, xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa thực sự của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân trên cơ sở liên minh giữa giai cấp công nhân, nông dân và trí thức do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo. Nhà nước đại diện cho quyền làm chủ của nhân dân, đồng thời là người tổ chức thực hiện đường lối của Đảng; có cơ chế để nhân dân thực hiện quyền làm chủ trực tiếp và dân chủ đại diện trên các lĩnh vực của đời sống xã hội, tham gia quản lý xã hội”. Nhân dân tin tưởng uỷ quyền, trao quyền lực chính trị cho Đảng, cán bộ, công chức nhà nước trở thành công bộc của nhân dân. Vì thế, Tổng Bí thư yêu cầu phải:Đẩy mạnh phân cấp, phân quyền đi đôi với tăng cường kiểm tra, giám sát và kiểm soát chặt chẽ quyền lực”.

Kiểm soát quyền lực chính trị đương nhiên phải bằng cơ chế và tổ chức thực thi cơ chế. Cơ chế kiểm soát quyền lực chính trị là hệ thống các thiết chế tổ chức thực hiện và phương thức vận hành để kiểm soát quyền lực trong thể chế chính trị nhằm làm cho các quy định về quyền và thực hiện quyền lực chính trị được thực hiện đầy đủ và đúng đắn. Nội dung của kiểm soát quyền lực chính trị cũng chính là việc xây dựng cơ chế, thể chế và thực thi cơ chế, thể chế đó trên thực tiễn.

Mặc dù được đề cập trong các bài viết khác nhau, không có điều kiện để lý giải đầy đủ hệ thống các thiết chế và phương thức vận hành để kiểm soát quyền lực trong thể chế chính trị nhưng đồng chí Tổng Bí thư cũng đã tập trung đề cập khá đầy đủ. Đó là các cơ chế tự kiểm soát quyền lực (đối với từng chủ thể), kiểm soát lẫn nhau và kiểm soát của nhân dân đối với nhà nước; đề cập khá đầy đủ các chủ thể được giao quyền lực chính trị và thực thi quyền lực chính trị:

Đối với Đảng, là lực lượng lãnh đạo Nhà nước và xã hội bằng chủ trương, đường lối, quan điểm chỉ đạo để Nhà nước thể chế hoá thành pháp luật nhưng khi đó có luật pháp, Đảng lại là lực lượng tiên phong, gương mẫu trong thực hành pháp luật, hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật, chịu trách nhiệm trước nhân dân về các quyết định của mình. Đảng kiểm soát quyền lực của nội bộ Đảng (theo Điều lệ Đảng) đồng thời kiểm soát quyền lực nhà nước thông qua kiểm tra, giám sát tổ chức đảng, đảng viên trong cơ quan nhà nước thực hiện nhiệm vụ (theo pháp luật).

Lịch sử đã minh chứng, sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng là nhân tố quyết định thắng lợi của cách mạng Việt Nam. Với kinh nghiệm và quyết tâm xây dựng, chỉnh đốn Đảng, đồng chí Tổng Bí thư khẳng định:“Một đảng cách mạng chân chính có đường lối đúng, có tổ chức chặt chẽ, có đội ngũ cán bộ, đảng viên trong sạch, gương mẫu, tận tuỵ, gắn bó mật thiết với nhân dân, được nhân dân ủng hộ, thì đảng đó có sức mạnh vô địch, không thế lực nào ngăn cản nổi trên con đường dẫn dắt dân tộc đi lên”.

Đối với Nhà nước, với vị trí trung tâm của quyền lực chính trị, Nhà nước được tổ chức quyền lực theo nguyên tắc “quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công, phối hợp và kiểm soát giữa các cơ quan trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp”.

Theo đó, Quốc hội thực hiện giám sát tối cao việc tuân theo pháp luật, nghị quyết của Quốc hội. Hội đồng nhân dân các cấp giám sát việc tuân theo pháp luật và nghị quyết của Hội đồng nhân dân cùng cấp. Đồng chí Tổng Bí thư đề nghị Quốc hội: “Tiếp tục đổi mới, bổ sung các đạo luật ở các lĩnh vực trọng điểm có ý nghĩa then chốt, có tính khả thi cao, rạo ra sự bứt phá về phát triển kinh tế - xã hội. Tiếp tục đổi mới, nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động giám sát, nhất là giám sát chuyên đề… chú trọng giám sát lĩnh việc thực hiện các kết luận, kiến nghị sau giám sát”.

Kiểm toán nhà nước kiểm soát việc chấp hành pháp luật đối với cơ quan nhà nước về sử dụng tài chính, tài sản công. Chính phủ và Uỷ ban nhân dân các cấp tổ chức thanh tra, kiểm tra, xử lý theo pháp luật. Viện Kiểm sát nhân dân, Toà án nhân dân. Ngoài những yêu cầu về năng lực quản lý đất nước về mọi mặt của Chính phủ để thực hiện thắng lợi các mục tiêu kinh tế - xã hội do Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XIII đề ra, đồng chí Tổng Bí thư nhấn mạnh công tác xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức: “Kiên quyết loại bỏ những phần tử hư hỏng, thoái hoá về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống; chống mọi biểu hiện chạy chức, chạy quyền, cục bộ, ưu ái tuyển dụng người nhà, người thân không đủ tiêu chuẩn. Phát huy dân chủ, nâng cao ý thức trách nhiệm, nêu gương, tinh thần phục vụ nhân dân của cán bộ, công chức, viên chức”.

Đối với Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các thành viên của Mặt trận thực hiện giám sát và phản biện mang tính xã hội, đại diện, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của Nhân dân. Nhân dân cũng giám sát Đảng, (Đảng chịu sự giám sát của Nhân dân - Hiến pháp), giám sát cán bộ, đảng viên, công chức nhà nước, góp ý xây dựng Đảng, Nhà nước. Các phương tiện thông tin đại chúng cũng có vai trò quan trọng trong giám sát việc thực thi pháp luật đối với cán bộ, đảng viên, công chức nhà nước. Đồng chí Tổng Bí thư yêu cầu Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị - xã hội không chỉ làm tốt công tác tuyên truyền vận động nhân dân thực hiện chủ trương của Đảng, pháp luật của Nhà nước, chăm lo, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của hội viên, đoàn viên mà còn phải “Tiếp tục chú trọng tham gia sâu hơn, toàn diện, hiệu quả hơn và động viên nhân dân tích cực tham gia vào công tác đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực, thực hành tiết kiệm, chống lãng phí. Phát huy vai trò tích cực trong tham gia kiểm soát quyền lực, giám sát để quản lý xã hội công khai, minh bạch”.

HAIVAN

Đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch về công tác đấu tranh phòng, chống tham nhũng ở Việt Nam

 

Trên cơ sở nhận diện những luận điệu sai trái, xuyên tạc của các thế lực thù địch về công tác phòng, chống tham nhũng ở nước ta, cần phải kiên quyết đấu tranh phản bác bằng những lập luận xác thực, vừa đảm bảo tính lý luận, vừa bám sát thực tiễn.

Có thể hiểu “tham nhũng là hành vi của người có chức vụ, quyền hạn đã lợi dụng chức vụ, quyền hạn của mình để vụ lợi”. Tham nhũng là một hiện tượng xã hội tiêu cực, tồn tại ở mọi quốc gia do quyền lực nhà nước bị tha hóa, bị lợi dụng.

Theo Tổ chức Minh bạch Quốc tế, tham nhũng là một hiện tượng phổ biến, xảy ra ở nhiều quốc gia trên thế giới trong đó “phần lớn tham nhũng xảy ra ở các quốc gia có chế độ đa đảng, “tam quyền phân lập”. Ở một số nước châu Á, tình trạng tham nhũng còn xảy ra ở cả những nguyên thủ quốc gia như Hàn Quốc, Ma-lay-xi-a... Do đó, không thể cố tình xuyên tạc, bóp méo rằng tham nhũng chỉ xảy ra ở những nước có chế độ một đảng duy nhất lãnh đạo như Việt Nam. Đúng như đồng chí Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng từng khẳng định: “Tham nhũng là “khuyết tật bẩm sinh” của quyền lực, là một trong những nguy cơ đe doạ sự tồn vong của chế độ ta. Thời đại nào, chế độ nào, quốc gia nào cũng có, không thể xoá tận gốc tham nhũng trong một thời gian ngắn”.

Ngay từ khi Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra đời (năm 1945), một mặt ra sức xây dựng, củng cố chính quyền; mặt khác, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn nhắc nhở những cán bộ, công chức nhà nước - những người được gọi là “công bộc của nhân dân” phải luôn răn mình, sửa mình để không sa vào chủ nghĩa cá nhân, không mắc phải những thói hư tật xấu. Một trong những thói tật được Chủ tịch Hồ Chí Minh nhắc đến nhiều nhất là tình trạng tham ô, tham nhũng. Người đã chỉ rõ bản chất của tham ô, tham nhũng là lấy của công làm của tư, là gian lận, tham lam. Người gọi tham ô cũng là một dạng trộm cướp.

Do đó, trong hoàn cảnh đất nước có chiến tranh, còn nhiều khó khăn, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn kiên quyết xử lý những vụ tham ô, tham nhũng để làm trong sạch bộ máy cán bộ. Kế thừa tư tưởng và thực tiễn lãnh đạo cách mạng của Người, trong những năm gần đây, Đảng ta cũng đặc biệt chú trọng đến công tác đấu tranh phòng, chống tham nhũng.

Trong những nhiệm kỳ đầu của thời kỳ đổi mới, tại Hội nghị đại biểu toàn quốc giữa nhiệm kỳ khóa VII (năm 1994), Đảng ta đã xác định nạn tham nhũng là một trong bốn nguy cơ đe dọa trực tiếp đến sự tồn vong của Đảng, của chế độ. Trong những nhiệm kỳ tiếp theo, không có nhiệm kỳ nào Trung ương Đảng không có những nghị quyết chuyên đề liên quan đến công tác phòng, chống tham nhũng. Tiêu biểu là Nghị quyết Trung ương 6 (lần 2) khóa VIII về “Một số vấn đề cơ bản và cấp bách trong công tác xây dựng Đảng hiện nay”; Kết luận Hội nghị Trung ương 4 khóa IX về “Tiếp tục đẩy mạnh cuộc vận động xây dựng, chỉnh đốn Đảng, ngăn chặn và đẩy lùi tệ tham nhũng, lãng phí”; Nghị quyết Trung ương 3 khóa X về “Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác phòng, chống tham nhũng, lãng phí”; Nghị quyết Trung ương 4 khóa XI về “Một số vấn đề cấp bách về xây dựng Đảng hiện nay”; Nghị quyết Trung ương 4 khóa XII về “Tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng; ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ”... Mới đây nhất là Kết luận số 21-KL/TW ngày 25-10-2021 của Ban Chấp hành Trung ương về đẩy mạnh xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị; kiên quyết ngăn chặn, đẩy lùi, xử lý nghiêm cán bộ, đảng viên suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, biểu hiện "tự diễn biến", "tự chuyển hoá".

Để cụ thể hóa quan điểm của Đảng, Nhà nước cũng ban hành cả hệ thống các văn bản pháp luật để tạo sự đồng bộ trong công tác đấu tranh phòng, chống tham nhũng ở nước ta. Tổ chức và hoạt động của các cơ quan chuyên trách về phòng, chống tham nhũng từng bước được kiện toàn, phát huy hiệu quả trong việc phát hiện và xử lý những vụ việc tham nhũng.

Ban Chỉ đạo Trung ương về phòng chống tham nhũng, tiêu cực, Ban Nội chính Trung ương được thành lập và hoạt động ngày càng có hiệu quả, thực chất. Nhà nước cũng ban hành Luật phòng, chống tham nhũng, Luật thực hành tiết kiệm chống lãng phí. Do đó, công tác đấu tranh phòng, chống tham nhũng nhận được sự quan tâm của tất cả các cấp, các ngành và toàn xã hội.

Có thể nhận thấy, qua mỗi nhiệm kỳ Đại hội, tinh thần chỉ đạo công tác đấu tranh phòng, chống tham nhũng ngày càng quyết liệt hơn, thực chất hơn với phương châm “không có vùng cấm”, “không có ngoại lệ”. Tham nhũng được coi là một loại “giặc nội xâm” cần được xử lý một cách quyết liệt. Quyết tâm chính trị trong công tác đấu tranh phòng, chống tham nhũng được thể hiện rõ nét từ người đứng đầu Đảng, Nhà nước cho tới cả hệ thống chính trị. Thời gian qua, nhiều vụ án tham nhũng nghiêm trọng, phức tạp, được dư luận xã hội quan tâm đã được xử lý nghiêm minh, đúng quy định của pháp luật, vừa có tác dụng cảnh báo, răn đe; vừa siết chặt kỷ luật, kỷ cương của Đảng, được cán bộ, đảng viên và nhân dân đồng tình, ủng hộ; được dư luận quốc tế đánh giá cao.

Đặc biệt, công tác kiểm tra, giám sát, thanh tra, điều tra, truy tố, xét xử các vụ án tham nhũng cũng được chỉ đạo quyết liệt; tạo nên những bước chuyển biến rõ rệt trong việc phát hiện, xử lý tham nhũng. Trong nhiệm kỳ vừa qua, “Cấp ủy, ủy ban kiểm tra các cấp đã thi hành kỷ luật 2.209 cán bộ, đảng viên có liên quan đến tham nhũng; trong đó có 113 cán bộ diện Trung ương quản lý cả đương chức và đã nghỉ hưu”.

Điều đó cho thấy quyết tâm rất lớn của Đảng, Nhà nước ta trong công tác đấu tranh phòng, chống tham nhũng; đồng thời cũng chứng tỏ năng lực, bản lĩnh của Đảng, Nhà nước trong việc phát hiện, xử lý tình trạng tham nhũng của cán bộ, đảng viên, kể cả những người đã và đang giữ chức vụ quan trọng trong bộ máy lãnh đạo của Đảng, Nhà nước nói riêng và cả hệ thống chính trị nói chung.

Vì thế, những luận điệu phủ nhận năng lực của Đảng Cộng sản Việt Nam trong công tác đấu tranh phòng, chống tham nhũng hay cố tình xuyên tạc công tác đấu tranh phòng chống tham nhũng của Việt Nam là kiểu “giật gấu vá vai”, “che mắt thế gian”, “thanh trừng bè phái”... đều bắt nguồn từ những dã tâm thâm độc của những kẻ phản động, cơ hội chính trị.

Ngoài ra, quyết tâm chính trị của Đảng, Nhà nước ta trong đấu tranh phòng, chống tham nhũng còn được thể hiện ở việc Việt Nam đã tham gia và ký kết nhiều văn bản quốc tế về phòng, chống tham nhũng như Công ước Liên hiệp quốc về chống tham nhũng (năm 2003); tham gia Chương trình hành động chống tham nhũng Châu Á - Thái Bình Dương (năm 2004); tham gia các hoạt động hợp tác quốc tế về phòng, chống tham nhũng với một số nước trên thế giới như Hàn Quốc, Ấn Độ, Xin-ga-po... Theo đó, một số luật hay quy định về phòng, chống tham nhũng của Việt Nam cũng từng bước được hoàn thiện theo Công ước quốc tế và có sự kế thừa quy định của các nước có nền tư pháp tiên tiến trên thế giới. Vì thế, những luận điệu cho rằng những quy định về phòng, chống tham nhũng của Việt Nam còn lạc hậu là cố tình bóp méo, xuyên tạc những nỗ lực của Việt Nam trong công tác này.

Hiện nay, công tác đấu tranh phòng, chống tham nhũng của Việt Nam vẫn còn tồn tại một số hạn chế, tuy nhiên không vì thế mà Đảng ta nao núng, chùn bước. Ở Đại hội XIII, Đảng ta tiếp tục nêu cao quyết tâm chính trị trong việc đấu tranh phòng, chống tham nhũng. Đảng xác định công tác phòng, chống tham nhũng là một nhiệm vụ đặc biệt quan trọng trong công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng; củng cố hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh; làm gia tăng khối đại đoàn kết toàn dân tộc.

Đồng chí Tổng Bí thư từng khẳng định “Chúng ta càng cần phải kiên quyết đấu tranh phản bác luận điệu của các thế lực thù địch, chống đối cho rằng đấu tranh phòng, chống tham nhũng, xử lý cán bộ, đảng viên sai phạm là “đấu đá nội bộ”, “phe cánh”. Hơn nữa, việc tăng cường đấu tranh phòng, chống tham nhũng cũng là cách để mỗi cán bộ, đảng viên thêm vững tin vào Đảng, vào chế độ - một đảng sinh ra không phải để làm quan phát tài, một chế độ luôn lấy sự phồn vinh của dân tộc, hạnh phúc của Nhân dân làm mục tiêu phấn đấu.

HAIVAN

Nhận diện các quan điểm sai trái, thù địch về công tác đấu tranh phòng, chống tham nhũng ở Việt Nam

 

Những năm gần đây, trước tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống của một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên, đặc biệt là tình trạng tham nhũng vẫn còn khá nghiêm trọng; các thế lực thù địch, cơ hội chính trị đã ra sức tung ra các luận điệu sai trái, xuyên tạc về công tác đấu tranh phòng, chống tham nhũng ở Việt Nam. Những luận điệu đó tập trung chủ yếu vào những vấn đề sau:

Thứ nhất, các thế lực thù địch cho rằng tình trạng tham nhũng ở Việt Nam là một “quốc nạn không có thuốc chữa”. Họ cho rằng tình trạng đó bắt nguồn từ nguyên nhân tất yếu là chế độ một đảng duy nhất ở Việt Nam hay tham nhũng là “căn bệnh nan y, kinh niên của chế độ độc đảng cầm quyền”. Do đó, “Đảng Cộng sản Việt Nam không thể đấu tranh chống tham nhũng, suy thoái thành công vì Đảng cũng suy thoái, tham nhũng”. Từ đó, các thế lực thù địch ra sức bài xích chế độ một đảng của Việt Nam, lên tiếng kêu gọi Việt Nam phải đi theo con đường đa đảng, tam quyền phân lập vì “Chỉ có thể chống tham nhũng khi thực hiện thể chế “tam quyền phân lập” để kiểm soát quyền lực”. Thực chất của luận điểm này một mặt là để hạ thấp, phủ nhận vai trò của Đảng ta trong việc lãnh đạo công tác đấu tranh phòng, chống tham nhũng; mặt khác là nhằm kêu gọi nhân dân ta cổ xúy cho chế độ đa đảng, tam quyền phân lập. Đây tiếp tục là trò “rượu cũ bình mới” mà các thế lực thù địch tìm mọi cách tấn công vào Đảng, vào chế độ ta.

Thứ hai, từ một số vụ, việc tham nhũng trong thời gian gần đây, nhất là những vụ liên quan đến một số lãnh đạo cấp cao, các thế lực thù địch, cơ hội chính trị trong và ngoài nước đã quy chụp, cường điệu hóa, suy diễn một cách vô căn cứ, đồng nhất toàn bộ Đảng Cộng sản Việt Nam với một số đảng viên, cán bộ tham nhũng, thoái hóa, biến chất. Họ rêu rao rằng “Đảng không còn là Đảng do Hồ Chí Minh sáng lập, Đảng không còn mang bản chất cách mạng của giai cấp công nhân, của nhân dân lao động, của dân tộc”. Tinh vi hơn, với chiêu bài “tung hô thần tượng”, các phần tử cơ hội chính trị đã lấy tấm gương đạo đức, nhân cách của Chủ tịch Hồ Chí Minh để so sánh với tình trạng suy thoái về đạo đức, lối sống của một bộ phận cán bộ, đảng viên, từ đó chỉ trích Đảng đã “dung túng”, “bao che” cho cán bộ, đảng viên dẫn đến tình trạng cán bộ thoái hóa, biến chất, tham nhũng.

Thứ ba, cố tình xuyên tạc, phủ nhận những nỗ lực của Đảng trong công tác đấu tranh phòng, chống tham nhũng thời gian qua. Theo họ, đó chỉ là những cách Đảng “che mắt thế gian theo kiểu đánh ai và ai đánh?”, “ta đánh mình, mình đánh ta”, “cộng sản chỉ nói chứ không dám làm”, hay “chỉ dám đánh con tôm, con tép thôi”… Có ý kiến còn cho rằng việc Đảng và Nhà nước nhiều lần phát động đấu tranh phòng, chống tham nhũng thực chất chỉ là “trò đánh trống khua chiêng nhằm che mắt thế gian”, thực chất là “đấu đá nội bộ” hay “thanh trừng phe phái”... Đây là những luận điệu hết sức thâm độc hòng gây mất lòng tin của cán bộ, đảng viên và nhân dân ta đối với sự lãnh đạo của Đảng.

Những luận điệu sai trái, thù địch trên được tung ra khắp nơi, đặc biệt là trên các trang mạng xã hội. Theo thống kê, trong giai đoạn Đảng ta chuẩn bị tiến hành tổ chức Đại hội lần thứ XIII có khoảng 36% các thông tin sai trái, thù địch liên quan đến công tác phòng, chống tham nhũng ở nước ta. Đây là kiểu “đến hẹn lại lên” của các phần tử cơ hội chính trị nhằm phủ nhận quyết tâm của Đảng, Nhà nước và Nhân dân ta trong công tác đấu tranh phòng, chống tham nhũng nói riêng và trong đấu tranh chống những biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống của cán bộ, đảng viên nói chung.

Những luận điệu đó còn nhằm gieo rắc tâm lý hoài nghi, dao động, mất niềm tin của Nhân dân vào sự lãnh đạo của Đảng; gây mất đoàn kết nội bộ, kích động xu hướng “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ của một bộ phận cán bộ, đảng viên có lập trường tư tưởng không vững vàng, có tâm lý bất mãn. Do đó, cần tỉnh táo nhận diện những âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch qua các luận điệu đó; đồng thời có luận cứ xác thực, có tính thuyết phục để đấu tranh phản bác.

HAIVAN

TÌM HIỂU GIÚP BẠN: KHAI MẠC HỘI THI GIÁO VIÊN CÁC TRƯỜNG QUÂN SỰ QUÂN KHU, QUÂN ĐOÀN NĂM 2024!

     Sáng 13-5, tại Trường Quân sự Quân khu 3, Bộ Tổng Tham mưu QĐND Việt Nam khai mạc Hội thi giáo viên các trường quân sự quân khu, quân đoàn năm 2024. Trung tướng Nguyễn Doãn Anh, Ủy viên Trung ương Đảng, Phó tổng Tham mưu trưởng QĐND Việt Nam dự và chỉ đạo hội thi!
Dự khai mạc hội thi có Trung tướng Nguyễn Văn Oanh, Cục trưởng Cục Nhà trường, Trưởng ban tổ chức hội thi; Thiếu tướng Hà Tất Đạt, Phó tư lệnh Quân khu 3, đại biểu cơ quan chức năng Bộ Tổng Tham mưu.

Theo Ban tổ chức, Hội thi giáo viên các trường quân sự quân khu, quân đoàn là hoạt động chuyên môn quan trọng và định kỳ tổ chức nhằm tạo điều kiện để các thầy giáo thể hiện năng lực giảng dạy, trao đổi kinh nghiệm về giảng dạy, khai thác, sử dụng hiệu quả các phương tiện dạy học, tạo động lực để các thầy giáo phấn đấu, hoàn thiện bản thân đáp ứng yêu cầu đổi mới, nâng cao chất lượng giáo dục đào tạo.

Tham gia hội thi có 66 đồng chí giáo viên đến từ 11 trường quân sự quân khu, quân đoàn trong toàn quân. Nội dung thi bao gồm: Thi kiến thức chung quan điểm của Chủ nghĩa Mác-Lê nin, tư tưởng Hồ Chí Minh về Quân đội; quan điểm của Đảng ta về xây dựng Quân đội theo hướng “tinh, gọn, mạnh”; nội dung các chuyên đề trong chương trình giáo dục chính trị, pháp luật cho sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp; thi biên soạn bài giảng và thực hành giảng bài theo đúng chuyên ngành tại trường; thi điều lệnh; thể thao quân sự và thực hành bắn súng bài 1, bài 1b súng ngắn K54.

Phát biểu khai mạc hội thi, Trung tướng Nguyễn Doãn Anh biểu dương Trường Quân sự Quân khu 3 là đơn vị đăng cai đã khắc phục khó khăn, tích cực chuẩn bị mọi mặt đảm bảo cho hội thi diễn ra đúng kế hoạch, biểu dương 11 trường đã thực hiện nghiêm kế hoạch, tổ chức hội thi cấp trường, thành lập đội tuyển, tổ chức luyện tập và sẵn sàng bước vào tranh tài với khí thế mạnh mẽ nhất.

Để hội thi thành công tốt đẹp, đạt được mục đích, yêu cầu đề ra, đồng chí Phó tổng Tham mưu trưởng QĐND Việt Nam yêu cầu Ban tổ chức, Hội đồng thi có kế hoạch cụ thể, khoa học; công tác tổ chức, hiệp đồng chặt chẽ; tổ chức và điều hành các hoạt động của hội thi theo quy chế, kế hoạch, đảm bảo tiết kiệm, an toàn tuyệt đối.

Trung tướng Nguyễn Doãn Anh đề nghị tiểu ban tổ chức chấm thi, thực hiện theo đúng quy chế, chương trình, kế hoạch của Ban tổ chức, hội đồng thi; đoàn kết, trung thực; đánh giá các nội dung thi bảo đảm tính khách quan, minh bạch, chính xác và công bằng.

Đối với các đoàn dự thi phải có sự chuẩn bị chu đáo, bình tĩnh, tự tin, có tinh thần, thái độ, ý thức tổ chức kỷ luật tốt, trách nhiệm cao; các đồng chí giáo viên dự thi bình tĩnh, tự tin, thể hiện hết khả năng của mình để hoàn thành các phần thi một cách xuất sắc nhất trên tinh thần giao lưu, học hỏi. Để sau hội thi từng đồng chí tích lũy được nhiều kinh nghiệm phát huy tốt vai trò của người giáo viên các trường quân sự quân khu, quân đoàn.

Đồng chí Phó tổng Tham mưu trưởng cũng đề nghị Bộ tư lệnh Quân khu 3, trực tiếp là Trường Quân sự Quân khu 3 phối hợp chặt chẽ với Ban tổ chức hội thi để chỉ đạo, điều hành các cơ quan, đơn vị, cán bộ có liên quan chủ động làm tốt công tác chuẩn bị mọi mặt theo yêu cầu của hội thi. Đặc biệt chuẩn bị tốt nơi ăn, ở, sinh hoạt, chăm sóc sức khỏe cho lực lượng tham gia hội thi; theo dõi, bám sát chương trình bảo đảm cho hội thi thực hiện theo đúng kế hoạch, hoàn thành nhiệm vụ đăng cai và đảm bảo an toàn tuyệt đối./.


Yêu nước ST.

TÌM HIỂU GIÚP BẠN: MỘT SỐ CHẾ ĐỘ, CHÍNH SÁCH CHĂM SÓC ĐỐI VỚI CÁN BỘ QUÂN ĐỘI NGHỈ HƯU!

Ngày 8-5-2024, Bộ Quốc phòng ban hành Văn bản hợp nhất số 09/VBHN-BQP Thông tư về thực hiện một số chế độ, chính sách góp phần chăm sóc đối với cán bộ Quân đội nghỉ hưu!

Phạm vi điều chỉnh
Thông tư này quy định một số chế độ, chính sách góp phần chăm sóc về tinh thần, vật chất đối với cán bộ Quân đội nghỉ hưu.

Đối tượng áp dụng
1.Đối tượng 1:
a) Sĩ quan cấp quân hàm Thiếu tướng trở lên;

b) Sĩ quan cấp quân hàm Đại tá, mức lương 668 đồng theo Nghị định số 235/HĐBT ngày 18-9-1985 của Hội đồng Bộ trưởng (nay là Chính phủ) về cải tiến chế độ tiền lương của công nhân viên chức và lực lượng vũ trang (sau đây viết tắt là Nghị định số 235/HĐBT);

c) Sĩ quan cấp quân hàm Đại tá nâng lương lần 2 hệ số 7,2 theo Nghị định số 25/CP ngày 23-5-1993 của Chính phủ quy định tạm thời chế độ tiền lương mới của công chức, viên chức hành chính sự nghiệp và lực lượng vũ trang (sau đây viết tắt là Nghị định số 25/CP); hoặc hệ số 8,6 theo Nghị định số 204/2004/NĐ-CP ngày 14-12-2004 của Chính phủ về chế độ tiền lương đối với cán bộ, công chức và lực lượng vũ trang (sau đây viết tắt là Nghị định số 204/2004/NĐ-CP);

d) Sĩ quan nguyên là Tư lệnh, Chính ủy Quân đoàn; Tư lệnh, Chính ủy Binh chủng; Cục trưởng có chức năng chỉ đạo toàn quân và tương đương trở lên; hoặc có hệ số phụ cấp chức vụ lãnh đạo từ 0,9 trở lên theo Nghị định số 25/CP hoặc từ 1,1 trở lên theo Nghị định số 204/2004/NĐ-CP;

2. Đối tượng 2:
a) Sĩ quan cấp quân hàm Đại tá, mức lương 655 đồng theo Nghị định số 235/HĐBT; Đại tá nâng lương lần 1 hệ số 6,85 theo Nghị định số 25/CP hoặc 8,4 theo Nghị định số 204/2004/NĐ-CP;

b) Sĩ quan nguyên là Phó tư lệnh, Phó chính ủy Quân đoàn; Phó tư lệnh, Phó chính ủy Binh chủng và tương đương; hoặc có hệ số phụ cấp chức vụ lãnh đạo 0,8 theo Nghị định số 25/CP hoặc 1,0 theo Nghị định số 204/2004/NĐ-CP.

3. Đối tượng 3: Sĩ quan cấp quân hàm Đại tá, Thượng tá hoặc sĩ quan nguyên là chỉ huy Sư đoàn hoặc Bộ Chỉ huy Quân sự tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương và tương đương.

4. Đối tượng 4: Sĩ quan cấp quân hàm Trung tá, Thiếu tá hoặc sĩ quan nguyên là chỉ huy Trung đoàn, Ban Chỉ huy Quân sự huyện (quận) và tương đương.

5. Đối tượng 5: Sĩ quan cấp úy và các chức danh khác tương đương.

6. Quân nhân chuyên nghiệp, công nhân viên chức quốc phòng có cấp bậc quân hàm, hoặc mức lương, hoặc hệ số phụ cấp chức vụ tương đương với cấp bậc quân hàm, hoặc mức lương, hoặc hệ số phụ cấp chức vụ của sĩ quan cấp nào thì được hưởng chế độ quy định tại Thông tư này như đối với sĩ quan cấp đó.

7. Trường hợp thôi giữ chức vụ lãnh đạo, quản lý thì cán bộ được đăng ký và được thực hiện chế độ, chính sách đối với chức vụ lãnh đạo cao nhất đã qua.

Đối tượng không áp dụng
a) Các đối tượng đã được hưởng chế độ quy định tại Quyết định số 205/2004/QĐ-TTg ngày 10-12-2004 của Thủ tướng Chính phủ về việc thực hiện một số chính sách, chế độ đối với cán bộ cao cấp.

b) Cán bộ quân đội nghỉ hưu thuộc đối tượng nêu tại Điều 2 Thông tư này đang chấp hành án phạt tù; đầu hàng địch; bị kết án về một trong các tội xâm phạm an ninh quốc gia.

Hiệu lực thi hành
1. Thông tư này có hiệu lực thi hành sau 45 ngày, kể từ ngày ký.

2. Thông tư này thay thế Quyết định số 212/2006/QĐ-BQP ngày 21-12-2006 của Bộ Quốc phòng về việc thực hiện một số chế độ, chính sách góp phần chăm sóc đối với cán bộ Quân đội nghỉ hưu; Thông tư số 04/2011/TT-BQP ngày 25-1-2011 của Bộ Quốc phòng sửa đổi, bổ sung một số điều của Quyết định số 212/2006/QĐ-BQP ngày 21-12-2006 của Bộ trưởng Bộ Quốc phòng về thực hiện một số chế độ, chính sách góp phần chăm sóc đối với cán bộ Quân đội nghỉ hưu.

Điều 5 và Điều 6 của Thông tư số 13/2024/TT-BQP sửa đổi, bổ sung một số điều của các văn bản quy phạm pháp luật thuộc thẩm quyền ban hành của Bộ trưởng Bộ Quốc phòng liên quan đến việc kê khai thông tin cá nhân khi thực hiện thủ tục hành chính, có hiệu lực kể từ ngày 2-5-2024, quy định như sau:
“Điều 5. Hiệu lực thi hành

Thông tư này có hiệu lực thi hành từ ngày 2 tháng 5 năm 2024.

Điều 6. Trách nhiệm thi hành

Tổng Tham mưu trưởng, Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị, chỉ huy các cơ quan, đơn vị trong Bộ Quốc phòng và các tổ chức, cá nhân có liên quan chịu trách nhiệm thi hành Thông tư này”./.
Ảnh: Bộ Quốc phòng ban hành Văn bản hợp nhất số 09/VBHN-BQP Thông tư về thực hiện một số chế độ, chính sách góp phần chăm sóc đối với cán bộ Quân đội nghỉ hưu.
Yêu nước ST.

TÌM HIỂU GIÚP BẠN: THỦ TỤC XÁC NHẬN CÁN BỘ QUÂN ĐỘI NGHỈ HƯU MẮC BỆNH HIỂM NGHÈO!

Bạn đọc Nguyễn Văn Nghị ở xã Mỹ Tân, huyện Mỹ Lộc, tỉnh Nam Định hỏi: Đề nghị tòa soạn cho biết, quy định về thủ tục xác nhận cán bộ Quân đội nghỉ hưu mắc bệnh hiểm nghèo hiện nay như thế nào?
Trả lời: Căn cứ Thông tư số 13/2024/TT-BQP ngày 18-3-2024 của Bộ trưởng Bộ Quốc phòng sửa đổi, bổ sung một số điều của các văn bản quy phạm pháp luật thuộc thẩm quyền ban hành của Bộ trưởng Bộ Quốc phòng liên quan đến việc kê khai thông tin cá nhân khi thực hiện thủ tục hành chính và Thông tư số 158/2011/TT-BQP ngày 15-8-2011 của Bộ Quốc phòng về thực hiện một số chế độ, chính sách góp phần chăm sóc đối với cán bộ Quân đội nghỉ hưu, ngày 15-4-2024, Thượng tướng Lê Huy Vịnh, Ủy viên Trung ương Đảng, Thứ trưởng Bộ Quốc phòng ký ban hành Quyết định số 1462/QĐ-BQP công bố thủ tục hành chính được sửa đổi lĩnh vực chính sách thuộc phạm vi, chức năng quản lý của Bộ Quốc phòng, trong đó có thủ tục xác nhận cán bộ Quân đội nghỉ hưu mắc bệnh hiểm nghèo, có hiệu lực từ ngày 2-5-2024. Cụ thể như sau:

Thủ tục xác nhận cán bộ Quân đội nghỉ hưu mắc bệnh hiểm nghèo
a) Trình tự thực hiện:

- Bước 1: Cán bộ nghỉ hưu hoặc thân nhân nộp các giấy tờ theo quy định cho Ban Chỉ huy Quân sự xã, phường (cấp xã) nơi đối tượng cư trú.

- Bước 2: Ban Chỉ huy Quân sự cấp xã tiếp nhận các giấy tờ của đối tượng và chuyển Ban Chỉ huy Quân sự cấp huyện.

- Bước 3: Ban Chỉ huy Quân sự cấp huyện tiếp nhận, kiểm tra tình trạng bệnh tật trên hồ sơ theo quy định; lập danh sách đối tượng (kèm hồ sơ) báo cáo Bộ Chỉ huy Quân sự cấp tỉnh.

- Bước 4: Bộ Chỉ huy Quân sự cấp tỉnh tiếp nhận hồ sơ, danh sách; kiểm tra, thẩm định, tổ chức giám định, ra quyết định công nhận cán bộ Quân đội nghỉ hưu mắc bệnh hiểm nghèo.

b) Cách thức thực hiện: Đối tượng (hoặc thân nhân) nộp hồ sơ trực tiếp tại Ban Chỉ huy Quân sự cấp xã nơi đăng ký hộ khẩu thường trú của đối tượng.

c) Thành phần hồ sơ:

- Đơn đề nghị xét hưởng chế độ hiểm nghèo (1 bản);

- Các giấy tờ liên quan điều trị bệnh hiểm nghèo, gồm: Bản sao bệnh án hoặc một trong các giấy tờ khác như: Sổ sức khỏe, các xét nghiệm (1 bản);

- Bản sao quyết định nghỉ hưu hoặc phiếu đăng ký cán bộ Quân đội nghỉ hưu (1 bản).

d) Số lượng hồ sơ: 1 bộ.

đ) Thời hạn giải quyết:

- Ban Chỉ huy Quân sự cấp xã: 2 ngày làm việc kể từ khi nhận đủ hồ sơ của đối tượng theo quy định,

- Ban Chỉ huy Quân sự cấp huyện: 3 ngày làm việc kể từ khi nhận đủ hồ sơ của Ban Chỉ huy Quân sự cấp xã,

- Bộ Chỉ huy Quân sự cấp tỉnh: 7 ngày làm việc kể từ khi nhận đủ hồ sơ của Ban Chỉ huy Quân sự cấp huyện.

e) Đối tượng thực hiện thủ tục hành chính: Cá nhân.

g) Cơ quan thực hiện thủ tục hành chính:

- Cơ quan có thẩm quyền quyết định: Bộ Chỉ huy Quân sự cấp tỉnh.

- Cơ quan trực tiếp thực hiện: Ban Chỉ huy Quân sự cấp xã.

- Cơ quan phối hợp: Ban Chỉ huy Quân sự cấp huyện.

h) Kết quả thực hiện thủ tục hành chính: Quyết định công nhận cán bộ Quân đội nghỉ hưu mắc bệnh hiểm nghèo.

i) Lệ phí: Không.

k) Tên mẫu đơn, mẫu tờ khai: Đơn đề nghị hưởng chế độ trợ cấp bệnh hiểm nghèo (Mẫu số 01/2024/BHN).

l) Yêu cầu, điều kiện thực hiện thủ tục hành chính: Không

Danh mục bệnh hiểm nghèo và chế độ chăm sóc
Theo quy định tại Khoản 1 Điều 6 Thông tư số 158/2011/TT-BQP ngày 15-8-2011 của Bộ trưởng Bộ Quốc phòng: Cán bộ Quân đội nghỉ hưu nếu mắc một trong các bệnh sau đây thì được Bộ Chỉ huy Quân sự cấp tỉnh ký quyết định công nhận cán bộ mắc bệnh hiểm nghèo thì được trợ cấp hàng quý; cán bộ từ trần thì thôi hưởng trợ cấp từ quý tiếp theo.

- Bệnh ung thư: Gồm ung thư các loại phát triển đến giai đoạn cuối, đã có di căn ở nhiều cơ quan, vượt khả năng điều trị triệt để.

- Bệnh về thần kinh: Liệt vận động tứ chi, nửa người, hai chi dưới vĩnh viễn do các loại nguyên nhân; bệnh Parkinson.

- Bệnh gan: Xơ gan giai đoạn mất bù gây biến chứng nặng như cổ trướng, chảy máu đường tiêu hóa tái phát. Suy gan vàng da kéo dài, cơ thể suy kiệt nặng.

- Bệnh thận: Suy thận mạn giai đoạn 4 mất bù hoàn toàn. Có chỉ định ghép thận hoặc lọc máu có chu kỳ.

- Bệnh nội tiết: Đái tháo đường tuýp I, II giai đoạn cuối (phụ thuộc Insulin), không đáp ứng điều trị đã có biến chứng nặng ở mắt, tim, thận, mạch máu, cơ thể suy kiệt nặng.

- Các bệnh phổi: Giãn phế quản phổi lan tỏa hai phổi; Bệnh phổi phế quản tắc nghẽn mãn tính giai đoạn cuối, khó thở thường xuyên; Xơ phổi rộng lan tỏa cả hai phổi; Lao xơ hang BK kháng thuốc; các bệnh phổi mãn tính hiểm nghèo trên đã có biến chứng nặng nề như: Suy hô hấp mãn tính, với những đợt suy hô hấp cấp xuất hiện thường xuyên. Suy kiệt nặng thường xuyên phải vào viện điều trị.

- Bệnh tuần hoàn: Suy tim độ 4 mất bù hoàn toàn; viêm tắc động mạch chi đã có biến chứng hoại tử, phải phẫu thuật cắt cụt một hoặc nhiều chi.

- Bệnh lão khoa: Mất trí nhớ hoàn toàn ở người già phải có người phục vụ (bệnh Alzheimer); bệnh thoái hóa khớp ở người già đã có di chứng cứng khớp, bất lực vận động hoàn toàn phải di chuyển bằng xe lăn.

- Bệnh tâm thần: Bệnh tâm thần phân liệt nặng, thể di chứng, sa sút trí tuệ và tan rã nhân cách hoàn toàn.

- Bệnh mắt: Mù vĩnh viễn hoàn toàn 2 mắt do các nguyên nhân.

- Bệnh da liễu: Xơ cứng bì toàn thể tiến triển, đã có biến chứng viêm loét da không hồi phục. Bệnh phong ở giai đoạn đã có biến chứng viêm loét da, cụt các đầu chi.

- Các thương tích gây hậu quả nặng nề: Cụt 2 chi thể: 2 tay, 2 chân hoặc 1 tay và 1 chân (trừ những người đã được hưởng chế độ thương binh, bệnh binh; tai nạn lao động đã được hưởng chế độ bảo hiểm xã hội).

Khoản 2 Điều 6 Thông tư số 158/2011/TT-BQP quy định chế độ hưởng đối với cán bộ Quân đội nghỉ hưu mắc bệnh hiểm nghèo như sau: Chế độ trợ cấp bệnh hiểm nghèo được thực hiện từ ngày cấp có thẩm quyền ký quyết định và được hưởng trợ cấp cả quý đó; mức trợ cấp một người/quý bằng 1 (một) tháng tiền lương tối thiểu chung theo quy định của Chính phủ tại thời điểm chi trả. Cán bộ Quân đội nghỉ hưu mắc bệnh hiểm nghèo điều trị tại các bệnh viện của Quân đội được hưởng phần chênh lệch giữa tiền ăn bệnh lý và tiền ăn cơ bản do bệnh viện thanh toán./.
Theo QĐND.
Yêu nước ST.