Mỗi quốc gia, dân tộc với tư cách là một quốc gia hay quốc gia dân tộc, dù trong thời đại nào và nhất là trong thế giới ngày nay, đều mang thể diện của riêng mình. Đó là danh dự, uy tín của quốc gia, nhất là trong quan hệ với các nước khác. Ấy là Quốc thể.
Thứ Hai, 13 tháng 5, 2024
QUỐC KHÍ VÀ NGUYÊN KHÍ VIỆT NAM VỚI KHÁT VỌNG HÙNG CƯỜNG
TRỊNH CÔNG SƠN VIẾT VỀ MẸ !
"Có một người đàn bà yêu thương tôi và tin tưởng ở tôi nhất trên đời này người ấy có thể vì tôi mà hy sinh cả tính mạng. Đó là Mẹ tôi.
TƯ TƯỞNG ĐOÀN KẾT CÁC DÂN TỘC CỦA CHỦ TỊCH HỒ CHÍ MINH
Nghiên cứu 60 bức điện, thư, bài nói chuyện của Bác với đồng bào các dân tộc thiểu số, có thể thấy bao trùm trong đó là tư tưởng của Người về đoàn kết các dân tộc.
KHẨU HIỆU "TỰ DO - BÌNH ĐẲNG - BÁC ÁI" CỦA CÁCH MẠNG PHÁP VỚI VIỆC RA ĐI TÌM ĐƯỜNG CỨU NƯỚC CỦA NGUYỄN TẤT THÀNH
1. Tự do - Bình đẳng - Bác ái, khẩu hiệu đã làm rung động trái tim Bác Hồ thời niên thiếu
TÍCH CỰC ĐẤU TRANH CHỐNG "TÁC ĐỘNG CHUYỂN HÓA" CỦA CÁC THẾ LỰC THÙ ĐỊCH
Đấu
tranh chống “tác động chuyển hóa” của các thế lực thù địch là việc đấu tranh,
làm thất bại mọi âm mưu, thủ đoạn cài cắm, móc nối, gây dựng cơ sở, chống “tác
động chuyển hóa” về tư tưởng, đạo đức, lối sống, thái độ chính trị của nội bộ
theo chiều hướng hoài nghi, tiêu cực, phản động, ly khai, hình thành các quan
điểm đi ngược lại chủ trương, đường lối của Đảng. Nguyên tắc, yêu cầu bảo đảm
an ninh chính trị nội bộ, phòng, chống “tác động chuyển hóa” chính trị phải chủ
động phòng ngừa, giữ vững bên trong là chủ yếu, cụ thể như sau:
Thứ
nhất, ngăn ngừa, khắc phục, triệt tiêu nguồn gốc, nguyên nhân làm nảy sinh “tự
diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ, theo tinh thần Nghị quyết Hội nghị
Trung ương 4 khóa XII của Đảng, “Về tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng; ngăn
chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu
hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ”. Trong đó, hết sức chú ý đấu
tranh khắc phục tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống,
làm cho những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” dần bị triệt tiêu, loại
bỏ trong mỗi con người, tổ chức; đấu tranh làm thất bại âm mưu, thủ đoạn “diễn
biến hòa bình” chống phá cách mạng Việt Nam của các thế lực thù địch.
Thứ
hai, xây dựng con người, đội ngũ cán bộ, đảng viên, công chức theo chuẩn mực
phẩm chất chính trị, đạo đức, lối sống, năng lực, phong cách sống, làm việc
khoa học.
Thứ ba, xây dựng tổ chức đảng trong sạch, vững
mạnh, hoạt động đúng chức năng, nhiệm vụ để tạo nên khả năng đề kháng, miễn
dịch, bảo đảm cho mỗi cán bộ, đảng viên, các tổ chức đảng và toàn Đảng không bị
mắc vào “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”; đồng thời, tạo động lực, sức mạnh nội
sinh để giành thắng lợi trong phòng, chống “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”.
Thứ tư, xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân
tộc, nhằm phát huy sức mạnh nội sinh của cả dân tộc trong sự nghiệp xây dựng và
bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa, không để cho các thế lực thù địch lợi
dụng những yếu kém, sơ hở trong quản lý kinh tế - xã hội ở nơi này hay nơi
khác nhằm kích động bất đồng, mâu thuẫn giữa các giai cấp, các tầng lớp xã hội,
giữa đồng bào ở trong nước với đồng bào định cư ở nước ngoài, làm giảm lòng tin
của nhân dân vào sự lãnh đạo của Đảng, quản lý của Nhà nước hòng thúc đẩy “tự
diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong xã hội./.
Thấm nhuần quan điểm: Kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa thực sự là một đột phá lý luận của Đảng ta
Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã khẳng định quan điểm
“kiên định vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh trên
con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam” tại Đại hội đại biểu toàn quốc
lần thứ XIII của Đảng. Bài viết đã lột tả đầy đủ được tính bản chất và sự lựa
chọn đúng đắn của Đảng Cộng sản Việt Nam.
Trong bài viết, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã trả
lời câu hỏi định hình chủ nghĩa xã hội thế nào, và định hướng đi lên chủ nghĩa
xã hội thế nào cho phù hợp với hoàn cảnh, đặc điểm cụ thể ở Việt Nam? Đặc biệt
tôi rất tâm đắc khi Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng phân tích rất kỹ đặc trưng cơ
bản của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa của Việt Nam.
Trong bài viết, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng cũng
khẳng định, “một đặc trưng cơ bản, một thuộc tính quan
trọng của định hướng xã hội chủ nghĩa trong kinh tế thị trường ở Việt Nam là
phải gắn kinh tế với xã hội, thống nhất chính sách kinh tế với chính sách xã
hội, tăng trưởng kinh tế đi đôi với thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội ngay
trong từng bước, từng chính sách và trong suốt quá trình phát triển... Không
chờ đến khi kinh tế đạt tới trình độ phát triển cao rồi mới thực hiện tiến bộ
và công bằng xã hội, càng không "hy sinh" tiến bộ và công bằng xã hội
để chạy theo tăng trưởng kinh tế đơn thuần”. Quả thực, chúng
ta chưa bao giờ “hy sinh” tiến bộ và công bằng xã hội để chạy theo tăng trưởng
kinh tế đơn thuần. Một điển hình hết sức sinh động cho quan điểm này chính là
công tác phòng, chống dịch Covid-19 tại Việt Nam thời gian qua. Ngay từ đợt
dịch đầu tiên, mặc dù nền kinh tế bị thiệt hại nặng nề nhưng để đảm bảo an sinh
xã hội, gói hỗ trợ 62.000 tỷ đồng đã được ban hành, triển khai ngay nhằm hỗ trợ
khoảng 20 triệu người dân đang gặp khó khăn bởi đại dịch Covid-19. Trong suốt
hơn 1 năm ứng phó với dịch bệnh, Việt Nam luôn kiên trì thực hiện mục tiêu kép:
“Vừa phòng, chống dịch bệnh hiệu quả, vừa phát triển kinh tế-xã hội”. Chính nhờ
quan điểm “không "hy sinh" tiến bộ và công bằng xã hội để chạy theo
tăng trưởng kinh tế đơn thuần”, trong cuộc chiến với
dịch bệnh, Việt Nam đã nổi lên như một điểm sáng, một hình mẫu của thế giới.
Có thể khẳng định, những phân tích, luận giải về nền
kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa trong bài viết của Tổng Bí thư
Nguyễn Phú Trọng một lần nữa làm sáng rõ, là kim chỉ nam cho công cuộc Đổi mới
của đất nước trong thời gian tới. Tôi tin tưởng rằng, dưới sự lãnh đạo sáng
suốt của Đảng Cộng sản Việt Nam, đất nước ta sẽ tiếp tục giành những thắng lợi
mới trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc./.
Nhất quán quan điểm trong xây dựng “Nhà nước pháp quyền Việt Nam” XHCN của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân
Tại
Hội nghị đại biểu toàn quốc giữa nhiệm kỳ khóa VII (1-1994), lần đầu tiên, Đảng
ta đã chính thức sử dụng thuật ngữ “Nhà nước pháp quyền Việt Nam”: Xây dựng Nhà
nước pháp quyền Việt Nam của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân. Cương lĩnh xây
dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên CNXH (sửa đổi, bổ sung 2011), Đảng ta
khẳng định một trong những đặc trưng của chế độ là “xây dựng Nhà nước pháp
quyền XHCN của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân”, chỉ rõ: “Nhà nước ta là Nhà
nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân. Tất cả
quyền lực Nhà nước thuộc về nhân dân mà nền tảng là liên minh giữa giai cấp
công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức, do Đảng Cộng sản Việt Nam
lãnh đạo. Quyền lực Nhà nước là thống nhất; có sự phân công, phối hợp và kiểm
soát giữa các cơ quan trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư
pháp. Nhà nước ban hành pháp luật; tổ chức, quản lý xã hội bằng pháp luật và
không ngừng tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa”. Quan điểm này được Hiến pháp
2013 tiếp tục ghi nhận, đồng thời chỉ rõ: “Nhà nước bảo đảm và phát huy quyền
làm chủ của nhân dân; công nhận, tôn trọng, bảo vệ và bảo đảm quyền con người,
quyền công dân; thực hiện mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn
minh, mọi người có cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc, có điều kiện phát triển
toàn diện”. Nhà nước pháp quyền XHCN về bản chất khác với nhà nước pháp quyền
tư sản là ở chỗ: Pháp quyền dưới chế độ tư bản chủ nghĩa về thực chất là công
cụ bảo vệ và phục vụ cho lợi ích của giai cấp tư sản, còn pháp quyền dưới chế
độ XHCN là công cụ thể hiện và thực hiện quyền làm chủ của nhân dân, bảo đảm và
bảo vệ lợi ích của đại đa số nhân dân. Thông qua thực thi pháp luật Nhà nước
bảo đảm các điều kiện để nhân dân là chủ thể của quyền lực chính trị, thực hiện
chuyên chính với mọi hành động xâm hại lợi ích của Tổ quốc và nhân dân. Đồng
thời, chúng ta xác định: Đại đoàn kết toàn dân tộc là nguồn sức mạnh và là nhân
tố có ý nghĩa quyết định bảo đảm thắng lợi bền vững của sự nghiệp cách mạng
Việt Nam, không ngừng thúc đẩy sự bình đẳng và đoàn kết giữa các dân tộc, tôn
giáo. Trong quá trình đổi mới đất nước, Đảng ta luôn coi trọng đổi mới hệ thống
chính trị mà trọng tâm là xây dựng, hoàn thiện Nhà nước pháp quyền XHCN. Thực
tiễn qua 35 năm đổi mới, tư duy lý luận của Đảng về xây dựng và hoàn thiện Nhà
nước pháp quyền XHCN ngày càng đầy đủ và phát triển hơn, tạo cơ sở vững chắc
cho việc xây dựng một nhà nước trong sạch, vững mạnh, đáp ứng được yêu cầu phát
triển đất nước trên con đường đi lên CNXH.
Xây
dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền XHCN thật sự của nhân dân, do nhân dân
và vì nhân dân, góp phần tạo sự đồng thuận, phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn
dân tộc, đẩy mạnh sự nghiệp đổi mới, đưa đất nước vào giai đoạn phát triển mới
theo tinh thần Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng./.
Nhất quán quan điểm trong xây dựng “Nhà nước pháp quyền Việt Nam” XHCN của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân
Tại
Hội nghị đại biểu toàn quốc giữa nhiệm kỳ khóa VII (1-1994), lần đầu tiên, Đảng
ta đã chính thức sử dụng thuật ngữ “Nhà nước pháp quyền Việt Nam”: Xây dựng Nhà
nước pháp quyền Việt Nam của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân. Cương lĩnh xây
dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên CNXH (sửa đổi, bổ sung 2011), Đảng ta
khẳng định một trong những đặc trưng của chế độ là “xây dựng Nhà nước pháp
quyền XHCN của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân”, chỉ rõ: “Nhà nước ta là Nhà
nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân. Tất cả
quyền lực Nhà nước thuộc về nhân dân mà nền tảng là liên minh giữa giai cấp
công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức, do Đảng Cộng sản Việt Nam
lãnh đạo. Quyền lực Nhà nước là thống nhất; có sự phân công, phối hợp và kiểm
soát giữa các cơ quan trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư
pháp. Nhà nước ban hành pháp luật; tổ chức, quản lý xã hội bằng pháp luật và
không ngừng tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa”. Quan điểm này được Hiến pháp
2013 tiếp tục ghi nhận, đồng thời chỉ rõ: “Nhà nước bảo đảm và phát huy quyền
làm chủ của nhân dân; công nhận, tôn trọng, bảo vệ và bảo đảm quyền con người,
quyền công dân; thực hiện mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn
minh, mọi người có cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc, có điều kiện phát triển
toàn diện”. Nhà nước pháp quyền XHCN về bản chất khác với nhà nước pháp quyền
tư sản là ở chỗ: Pháp quyền dưới chế độ tư bản chủ nghĩa về thực chất là công
cụ bảo vệ và phục vụ cho lợi ích của giai cấp tư sản, còn pháp quyền dưới chế
độ XHCN là công cụ thể hiện và thực hiện quyền làm chủ của nhân dân, bảo đảm và
bảo vệ lợi ích của đại đa số nhân dân. Thông qua thực thi pháp luật Nhà nước
bảo đảm các điều kiện để nhân dân là chủ thể của quyền lực chính trị, thực hiện
chuyên chính với mọi hành động xâm hại lợi ích của Tổ quốc và nhân dân. Đồng
thời, chúng ta xác định: Đại đoàn kết toàn dân tộc là nguồn sức mạnh và là nhân
tố có ý nghĩa quyết định bảo đảm thắng lợi bền vững của sự nghiệp cách mạng
Việt Nam, không ngừng thúc đẩy sự bình đẳng và đoàn kết giữa các dân tộc, tôn
giáo. Trong quá trình đổi mới đất nước, Đảng ta luôn coi trọng đổi mới hệ thống
chính trị mà trọng tâm là xây dựng, hoàn thiện Nhà nước pháp quyền XHCN. Thực
tiễn qua 35 năm đổi mới, tư duy lý luận của Đảng về xây dựng và hoàn thiện Nhà
nước pháp quyền XHCN ngày càng đầy đủ và phát triển hơn, tạo cơ sở vững chắc
cho việc xây dựng một nhà nước trong sạch, vững mạnh, đáp ứng được yêu cầu phát
triển đất nước trên con đường đi lên CNXH.
Xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền XHCN thật sự của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân, góp phần tạo sự đồng thuận, phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, đẩy mạnh sự nghiệp đổi mới, đưa đất nước vào giai đoạn phát triển mới theo tinh thần Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng./.
Nhận diện: Lợi dụng vấn đề dân tộc trong chiến lược "diễn biến hòa bình", bạo loạn lật đổ của các thế lực thù địch
Tây Nguyên của Việt
Nam là nơi quy tụ đồng bào thuộc nhiều dân tộc khác nhau sinh sống. Các thế lực
thù địch đang tập trung vào địa bàn này để chống phá. Được thế lực phản động
nước ngoài hỗ trợ, chúng tìm mọi cách vô hiệu hoá vai trò lãnh đạo của các tổ
chức đảng và hiệu lực của chính quyền các cấp, chia rẽ khối đại đoàn kết dân
tộc, thực hiện âm mưu thành lập cái gọi là "nhà nước Đê Ga tự trị",
tạo cớ để nước ngoài nhảy vào can thiệp. Chúng đã gây nên các cuộc bạo loạn
chính trị ở nhiều nơi trên địa bàn Tây Nguyên (năm 2001 và 2004).
Một số nét cơ bản về âm mưu, thủ đoạn
chống phá hiện nay cho thấy, lợi dụng vấn đề dân tộc đã thực sự trở thành một
trọng điểm trong chiến lược "diễn biến hoà bình", bạo loạn lật đổ của
các thế lực thù địch đối với cách mạng Việt Nam. Qua công tác đấu tranh, chúng
ta nhận diện âm mưu, thủ đoạn của địch trong "diễn biến hòa bình" về
vấn đề dân tộc với một số nét cơ bản sau:
- Vấn đề dân tộc là một trong những nội
dung trọng tâm của "diễn biến hoà bình", được coi là vấn đề then chốt
của địch nhằm phá vở khối đại đoàn kết toàn dân, đoàn kết dân tộc, chia rẽ Nhân
dân vvới Đảng, Nhà nước.
- Trong vấn đề dân tộc, địch tập trung
tuyên truyền nhằm "khoét sâu", "nới rộng" mâu thuẫn nội bộ
dân tộc thông qua triệt để khai thác, nhào nặn thông tin, tuyên truyền tiêu cực
về dân sinh, dân trí, dânchủ, môi trường tự nhiên và văn hóa, xã hội.
- Kích động hình thành tâm lý kỳ thị,
phân biệt trong một bộ phận Nhân dân; xây dựng 'ngọn cờ" nhằm tập hợp lực
lượng trong đồng bào dân tộc thiểu số.
- Tuyên truyền xuyên tạc về tình hình
dân tộc, thực hiện chính sách dân tộc của Đảng, Nhà nước, cấp ủy, chính quyền ở
các địa phương. Một mặt nhằm gây mất ổn định về an ninh chính trị, trật tự an
toàn xã hội. Mặt khác vừa tạo 'tiếng vang', kêu gọi tài trợ, vừa thúc đẩy sự
can thiệp, gây sức ép của các tổ chức Quốc tế vào đời sống chính trị nước ta.
Thứ nhất, lợi dụng vấn đề dân tộc với chiên lược
"diễn biến hoà bình", bạo loạn lật đổ của các thế lực thù địch thống
nhất với nhau về mục tiêu, nội dung, biện pháp chống phá cách mạng Việt Nam.
Về mục tiêu, việc lợi dụng vấn đề dân
tộc với chiến lược "diễn biến hoà bình", bạo loạn lật đổ của các thế
lực thù địch đều là loại hoạt động tiến công chông phá cách mạng nước ta, đi
đến loại trừ vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, xoá bỏ chế độ xã hội
chủ nghĩa, phá vỡ khối đại đoàn kết dân tộc.
Về nội dung tiến công, phá hoại, lợi
dụng vấn đề dân tộc với chiến lược "diễn biến hoà bình", bạo loạn lật
đổ diễn ra trên tất cả các lĩnh vực kinh tế, chính trị, tư tưởng, văn hoá, xã
hội, an ninh, quốc phòng, đối ngoại.
Về biện pháp thực hiện, lợi dụng vấn đề
dân tộc với chiến lược "diễn biến hòa bình", bạo loạn lật đổ chủ yếu
bằng các hoạt động phi vũ trang, bằng chính lực lượng từ bên trong có sự trợ
lực, răn đe bằng sức mạnh toàn diện ở bên ngoài.
Thứ hai, bắt nguồn từ đặc điểm Việt Nam là quốc
gia đa dân tộc và tầm quan trọng đặc biệt của các dân tộc trong cách mạng Việt
Nam hiện nay.
Việt Nam là một quốc gia có 54 dân tộc,
trong đó dân tộc Kinh (chiếm trên 86% dân số cả nước) là dân tộc đa số, còn lại
53 dân tộc (chiếm gần 16% dân số cả nước). Tuy là các dân tộc thiểu số nhưng 53
dân tộc thiểu số có vị trí, vai trò đặc biệt quan trọng, là một trong những
nhân tố có ý nghĩa quyết định đến thành bại của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ
quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Vì thế, Đảng và Nhà nưởc ta luôn quan tâm sâu
sắc đến vấn đề dân tộc, coi thực hiện tốt chính sách dân tộc vừa là mục tiêu,
vừa là động lực của sự nghiệp cách mạng.
Thấy được tầm quan trọng của các dân tộc
hợp thành quốc gia dân tộc Việt Nam, kế tục chính sách mà thực dân Pháp và đế
quốc Mỹ đã thực hiện trước đây, ngày nay các thê lực thù địch càng ráo riết,
triệt đề khai thác, tận dụng vấn đề dân tộc, coi đó là một trọng điểm trong
chiến lược "diễn biến hoà bình", bạo loạn lật đổ để chống phá cách
mạng nưởc ta.
Thứ ba, vùng các dân tộc thiểu số ở nước
ta đang có những khó khăn mà kẻ địch có thể lợi dụng chống phá.
Mặc dù, đã có sự quan tâm toàn diện và
sâu sắc của Đảng, Nhà nước, toàn dân, toàn quân ta, song do nhiều nguyên nhân
về lịch sử, địa lý... và cả những hạn chế, sai sót trong tổ chức thực hiện, cho
đến nay vùng các dân tộc thiểu số của nưốc ta vẫn còn nhiều khó khăn cả về kinh
tế, văn hoá, xã hội, quốc phòng, an ninh. Đời sống của đồng bào các dân tộc
thiêu số nhiều nơi còn khó khăn, trình độ dân trí thấp, cơ sở hạ tầng phục vụ
cho phát triển kinh tế, văn hoá, đời sống và quốc phòng, an ninh còn nhiều bất
cập. Các thế lực thù địch đang triệt để lợi dụng những hạn chế đó để chống phá
cách mạng nước ta. Vì thế, đây là một lý do giải thích vì sao lợi dụng vấn đề
dân tộc trở thành một trọng điểm của chiến lược "diễn biến hoà bình",
bạo loạn lật đổ của các thê lực thù địch đối vối cách mạng Việt Nam hiện nay.
Từ đó, ta cần nhận thức sâu sắc và nêu cao cảnh giác, đối phó./.
NHẬN DIỆN VÀ CẢNH GIÁC VỚI CÁC QUAN ĐIỂM SAI TRÁI, THÙ ĐỊCH TRÊN MẠNG XÃ HỘI HIỆN NAY
Âm mưu, thủ đoạn và sự chống phá của các thế lực thù
địch không hề thay đổi trong giai đoạn hiện nay, trái lại ngày càng tinh vi
hơn. Chúng đã triệt để lợi dụng những thành tựu của cách mạng khoa học công
nghệ, khai thác không gian mạng xã hội để gia tăng sức ảnh hưởng và tiếp tục
không ngừng chống phá Đảng và Nhà nước ta.
Chúng luôn tìm cách phủ nhận nền tảng tư
tưởng của Đảng ta, cụ thể là phủ nhận học thuyết Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí
Minh.
Bằng cách tuyên truyền các thuyết “quái
thai”, “đẻ non của lịch sử”, “CNXH cáo chung”... các thế lực thù địch đã tìm
mọi cách phê phán triệt để, bôi đen hiện thực để đi đến bác bỏ hoàn toàn CNXH.
Xoay quanh các luận điệu: CNXH ra đời ở các nước lạc hậu không đúng theo kịch
bản của Mác, rằng: sự thất bại và sụp đổ ở Liên Xô và Đông Âu đã chứng tỏ rằng
CNXH không có sức sống và nó chỉ được nặn ra từ đầu óc ngông cuồng của những
người cộng sản. Bằng những lý lẽ xuyên tạc, bóp méo, ngụy biện chúng ra sức
chứng minh CNXH là một hiện tượng không phù hợp với quy luật lịch sử. Từ đó
chúng đi đến kết luận: “xã hội loài người chỉ ngừng lại ở CNTB” và “CNTB sẽ tồn
tại vĩnh viễn như một điểm dừng của lịch sử ”
Chúng sử dụng nhiều thủ đoạn, từ tinh vi
thâm độc đến công khai trắng trợn nhằm trực tiếp hoặc gián tiếp phủ định các
nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác - Lênin. Một số phản động khác thì tuyên
truyền: chủ nghĩa Mác chỉ phù hợp với thế kỷ XIX, nay đã lỗi thời và lạc hậu.
Chủ nghĩa Mác - Lênin phù hợp một chừng mực nào đó với trình độ lực lượng sản
xuất và văn hoá Nga, không phù hợp với thế kỷ này, với nước ta. Từ những lập
luận đó chúng đi đến những kết luận xuyên tạc như: Hồ Chí Minh chỉ là người dân
tộc chủ nghĩa, lấy chủ nghĩa Mác- Lênin làm phương tiện, du nhập chủ nghĩa Mác-
Lênin với thuyết đấu tranh giai cấp gây ra cảnh “nồi da nấu thịt” suốt mấy chục
năm, rằng: đưa chủ nghĩa Mác - Lênin vào Việt Nam là một sai lầm.
Phủ nhận CNXH và con đường đi lên
CNXH ở nước ta, phủ nhận sự lãnh đạo của Đảng. Xoá bỏ chế độ XHCN là mục tiêu
cuối cùng của chủ nghĩa đế quốc (CNĐQ). Thực hiện âm mưu này, trên lĩnh vực tư
tưởng các thế lực phản động ra sức làm lung lạc ý chí của nhân dân ta với các
luận điệu tuyên truyền: Việt Nam trước đây có sự giúp đỡ của các nước XHCN thì
có thể bỏ qua giai đoạn phát triển TBCN, nay không còn sự giúp đỡ đó thì không
thể đi lên CNXH được, hãy trở lại chế độ dân chủ nhân dân. Chúng xuyên tạc:
đường lối phát triển kinh tế thị trường theo định hướng XHCN của ta là chắp vá,
không tưởng. Chúng công kích đường lối, chính sách
đổi mới của Đảng và Nhà nước, đặc biệt là định hướng XHCN.
Những thế lực chống cộng
tập trung công kích đường lối đổi mới của Đảng và nhân dân ta bằng nhiều luận
điệu xuyên tạc trắng trợn. Chúng cho rằng: Những thắng lợi trong công cuộc đổi
mới của nước ta chẳng qua vì những người cách mạng Việt Nam đã quá độ sang
CNTB, đi theo CNTB. chúng phê phán đường lối phát triển của ta lấy kinh tế nhà
nước là chủ đạo tức là tập trung vào khu vực kinh tế kém hiệu quả, khó tránh
khỏi tụt hậu, yêu cầu ta phát triển thị trường tự do tư bản, khuyến khích tư
nhân phát triển…
Lợi dụng kết quả cuộc đấu
tranh chống tham nhũng do Đảng ta tiến hành, chúng xuyên tạc, bóp méo, vu khống,
suy diễn cho rằng đó là cuộc “thanh toán phe phái”, “trả thù cá nhân” giữa
người này với người kia, nhóm này với nhóm khác vì “lợi ích nhóm”... Từ đó,
nhằm gieo rắc những hoài nghi trong cán bộ, đảng viên và nhân dân. Chúng xuyên
tạc các mối quan hệ cho rằng người này ủng hộ người kia, người này cùng ê kíp
người kia, rồi tự phân chia phe phái. Từ những sự việc mà báo chí đã đưa tin,
chúng đặt điều, vu khống, bóp méo, xuyên tạc nói rằng người này đang “dắt tay”
người kia vào vị trí này, vị trí nọ; bình phẩm, phán xét rồi nhận định người
này nghỉ thì người kia sẽ lên thay và cuộc chiến chống tham nhũng sẽ đi về đâu,
“cán cân” quyền lực sẽ nghiêng về phe nào. Âm mưu của chúng là gây hoang mang,
hoài nghi trong nhận thức tư tưởng trong Đảng và nhân dân về đường lối đổi mới
và định hướng XHCN…
Bên cạnh đó, chúng dùng chiêu
“nắn dòng” đưa ra những thông tin bình phẩm về trình độ, năng lực của người
này, người kia rồi đặt lên bàn cân so sánh. Khi cần “hạ bệ” cá nhân nào, chúng
tập trung khoét sâu những hạn chế, khuyết điểm ở những ngành, những lĩnh vực mà
cá nhân đó phụ trách; rồi quy kết trách nhiệm theo kiểu “bới lông tìm vết”, “có
ít xít ra nhiều”; thậm chí là trắng trợn dựng chuyện, bịa đặt, đổi trắng thay
đen, bóp méo hòng thay đổi bản chất của các vụ việc liên quan đến một số cán
bộ, nhất là những đồng chí nằm trong quy hoạch nhân sự trước mỗi kì Đại hội
Đảng...
Những luận điệu trên của
các thế lực thù địch được xuất phát từ những mưu đồ đen tối, mang chủ định ác
ý, thiên kiến… nên hoàn toàn xa rời sự thật lịch sử. Sự thật là ngày nay tuy
CNXH ở Liên Xô và Đông Âu không còn tồn tại, song CNXH hiện thực trong hơn 100
năm qua đã đạt được những thành tựu có tầm thời đại và ý nghĩa lịch sử, đã
khẳng định được sức sống của một hình thái kinh tế xã hội mới và là nhân tố cực
kỳ quan trọng trong tiến trình phát triển của xã hội loài người. Tình trạng
khủng hoảng toàn diện và sâu sắc vừa diễn ra ở các nước XHCN hoàn toàn không
bắt nguồn từ bản chất của CNXH, mà bắt nguồn từ những sai lầm trong công cuộc
xây dựng CNXH tích tụ lại nhưng không được kịp thời sửa chữa, đặc biệt là do
sai lầm trong cải tổ, cải cách và đã để cho kẻ thù của CNXH lợi dụng. Có những
sai lầm mang tính chủ quan của bản thân những người lãnh đạo, nhưng có những
sai lầm mang tính khách quan khó tránh khỏi của một quá trình mò mẫm, tìm tòi,
khai phá con đường xây dựng một hình thái kinh tế- xã hội mới chưa hề có trong
lịch sử./.