Thứ Hai, 13 tháng 5, 2024

QUỐC KHÍ VÀ NGUYÊN KHÍ VIỆT NAM VỚI KHÁT VỌNG HÙNG CƯỜNG

 Mỗi quốc gia, dân tộc với tư cách là một quốc gia hay quốc gia dân tộc, dù trong thời đại nào và nhất là trong thế giới ngày nay, đều mang thể diện của riêng mình. Đó là danh dự, uy tín của quốc gia, nhất là trong quan hệ với các nước khác. Ấy là Quốc thể.

Không một quốc gia, dân tộc nào muốn phát triển và thịnh vượng không có, không gìn giữ và không nối đời vun đắp phẩm giá, tư chất, bản lĩnh, khí phách… làm nên địa vị, sức mạnh và uy tín quốc gia. Ấy là Quốc khí.
Việt Nam không nằm ngoài quy luật muôn đời, muôn thời ấy.
Nếu vị thế, hình ảnh, sức mạnh, danh dự, uy tín và ảnh hưởng của đất nước thể hiện một cách toàn vẹn, đa diện và thống nhất nằm ở mỗi người ngay từ bên trong và quốc gia trên tất cả các mối bang giao với các nước khác trên trường quốc tế làm nên Quốc thể Việt Nam thì Quốc khí Việt Nam là sự hàm chứa và tỏa sáng toàn bộ những tư chất mang tính chung và riêng, tính phổ quát và đặc thù làm nên dung mạo, hun đúc hồn phách quốc gia, làm nên thần thái, tỏa ra sức mạnh hiện hữu và hướng tới tương lai dân tộc, nhìn từ mọi phía một cách mạnh mẽ và vững bền. Và, nhân tố căn bản và quyết định cùng với hồn thiêng sông núi làm nên Quốc khí Việt Nam là gần 100 triệu đồng bào, trong đó rường cột là nhân tài, thì ấy là Nguyên khí Việt Nam.
Do thế, gần 100 triệu đồng bào nước Việt ta, nhất là những người đại diện của quốc gia không thể và càng không được phép làm một điều gì có thể làm tổn hại Quốc thể thì chính là vun đắp cho Quốc khí thịnh vượng, làm cho đất nước cường thịnh và xứng đáng với thế giới, lại cũng chính là góp phần chăm lo Nguyên khí vững bền để Đất nước phồn vinh, Dân tộc mãi mãi trường tồn. Ấy là vận khí và khí vận của Quốc gia.
Sinh ra, phát triển và khẳng định mình ở một vị trí mang tầm vóc địa chính trị, địa kinh tế án ngữ ngã ba con đường giao lưu từ Á sang Âu, cũng là địa quân sự hiểm yếu nhìn ra Biển Đông, nối khắp những biển lớn: từ Thái Bình Dương tới Ấn Độ Dương, đồng thời là nơi hợp lưu tiếp biến và thâu hóa những dòng văn hóa lớn lên mặt Bắc, xuống phương Nam, ra phía Đông… Việt Nam không chỉ đơn thuần bồi tụ và phát triển Quốc khí, mà bước theo tiến trình lịch sử dựng nước, giữ nước và giao lưu quốc tế của mình, còn chăm lo Quốc khí ấy thành nguyên khí quốc gia.
Quốc khí, tức cái khí vận và vận khí của quốc gia, thì nguyên khí là khí đầu tiên, là thiên khí vậy. Ấy chính là tinh thần, tinh khí của con người Việt Nam vậy. Nó hàm chứa trong cả lực lượng vật chất và lực lượng tinh thần của quốc gia. Bởi thế, cổ nhân nói: “Đạo trị nước, trước tiên là bồi dưỡng nguyên khí” (Trị quốc chi đạo, tiên tại dưỡng kỳ nguyên khí). Cổ nhân lại nói: “Hiền tài là nguyên khí của quốc gia” cũng là vậy.
Nhìn lại lịch sử mấy ngàn năm, có thể nói, dường như đất nước Việt Nam sinh ra cùng với lịch sử chiến tranh vệ quốc vĩ đại nhưng đầy máu và nước mắt của mình cùng sự tận cùng sinh tử của công cuộc bảo vệ, xây đắp và thống nhất giang san. Chỉ tính trong 2020 năm sau Công nguyên, dân tộc Việt Nam bước qua ngót nghìn năm Bắc thuộc. Trên thế giới, cho tới nay, chưa thấy một dân tộc nào sau cả nghìn năm lệ thuộc vẫn không bị đồng hóa, không mất giống nòi, vùng dậy và quét sạch làu vết nhơ nô lệ, giành lại giang san. Dân tộc tiếp tục kết liễu 13 cuộc đại chiến tranh xâm lược, đánh bại đủ loại giặc ngoại xâm hung bạo nhất của mọi thời đại đến từ phương Bắc, phương Đông tới phương Tây, vì Tổ quốc Việt Nam độc lập và thống nhất. Từ “Nam quốc sơn hà” qua “Bình Ngô đại cáo” tới “Tuyên ngôn độc lập”… tất cả dồn tụ, kết tinh và tỏa sáng Quốc khí Việt Nam: Đoàn kết - Quật khởi - Nhân ái - Hòa mục - Cầu thị - Thủy chung -Thích ứng - Can trường… Hệ giá trị Đất nước ấy theo thời gian trường cửu làm nên sức mạnh văn hóa vô địch giữ vững độc lập, tự do, thống nhất quốc gia, trở thành cái nôi nuôi dưỡng, phát triển dân tộc trường tồn và hòa nhập, trưởng thành cùng nhân loại mấy nghìn năm nay. Quốc khí còn thì Đất nước còn, Dân tộc còn.
Vì thế hiện nay, hơn hết bao giờ, chúng ta càng phải tự mình trở nên hùng mạnh. Trong các cuộc chiến tranh chống ngoại xâm, dù kẻ thù tàn bạo thế nào, dù hung hiểm bao nhiêu suốt mấy nghìn năm qua, cũng không thể khuất phục và tiêu diệt được dân tộc Việt Nam độc lập và thống nhất. Chúng ta hiểu rằng, nước không độc lập, thống nhất tất biệt phái, phân ly và mất tự do; quốc gia không hùng mạnh thì nước khó lòng độc lập, thống nhất và nhân dân càng không có tự do, hạnh phúc. Đây chính là dân chủ và thước đo phát triển dân chủ và dân chủ phát triển tôn vinh Quốc thể Việt Nam.
Nếu không biết giữ lấy, đau đáu và chăm lo vun đắp Quốc khí ấy để Đất nước ngày càng tự mình độc lập, thống nhất, dân chủ và hùng cường, thì họa quốc gia suy vong, lệ thuộc mới sẽ tới và theo đó, thân phận mỗi người lâm vào vòng vong quốc nô mới, sẽ cận kề! Gần 100 triệu người Việt Nam, dù ở khắp hoàn cầu, cần một chữ Đồng, để giữ vững và tôn vinh vị thế, sức mạnh, danh dự và uy tín Việt Nam trước hoàn cầu! Đó là ý chí, lương tri, là nhân phẩm, đạo lý là bản lĩnh và khí phách Dân tộc ta suốt mấy ngàn năm dồn tụ, kết tinh và trở thành Quốc bảo Việt Nam, vì độc lập, thống nhất, dân chủ, tự do và hùng cường.
Hơn bao giờ hết, hiện nay, thời kỳ cạnh tranh và phát triển mới của thế giới, với cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư trong không gian phẳng và tốc độ toàn cầu hóa, đã và đang mở ra những cơ hội phát triển mới mẻ chưa từng có, với quy mô, tốc độ đột phá nhưng cũng đặt ra những thách thức tụt hậu nan giải đối với tất cả các quốc gia, dân tộc, trên quy mô toàn cầu trong một thế giới đầy biến động, cũng đồng thời mở ra một kỷ nguyên hội nhập, đua tranh mới, gay gắt của Việt Nam trong cộng đồng quốc tế.
Việt Nam càng phải độc lập, thống nhất, dân chủ, tự do và hùng cường.
Đó là con đường phát triển duy nhất đúng, nếu muốn bảo đảm thành công của công cuộc đổi mới toàn diện và đồng bộ tương dung với xu thế phát triển của thế giới. Càng không thể chờ đợi, cầu toàn hoặc thái độ do dự, ngập ngừng và càng không thể chấp nhận hành động nửa vời, chắp vá. Lúc này, đất nước chỉ có hoặc tụt hậu hoặc phát triển; trong thế giới hiện nay, không thể đứng im, cũng bởi hơn hết bao giờ, đứng im, dù ở bất cứ phương diện nào, cũng chính là tụt hậu, trong thế giới biến động khôn lường ngày nay.
Chúng ta phải đổi mới không chỉ tầm nhìn, quyết sách mà còn chỉnh đốn, sửa sang về nền móng căn bản, kế sách lâu dài, cơ chế chiến lược phát triển phù hợp với đất nước và thời đại: Đổi mới tầm nhìn chiến lược, trỗi dậy toàn diện, đồng bộ sức mạnh dân tộc, thâu thái sức mạnh thời đại xây dựng nền tảng cho một xã hội phồn vinh và bền vững, với khát vọng Việt Nam trở thành một quốc gia hùng cường và nhân văn, giữ vị thế xứng đáng trong cộng đồng quốc tế.
Nếu chúng ta không định vị chiến lược công nghiệp hóa, hiện đại hóa dân tộc mình, đất nước mình, nhất định sẽ càng khó tìm được chỗ đứng xứng đáng trên trường quốc tế, và càng khó có cơ hội góp phần mình cùng nhân loại xây dựng thế giới. Đó là vận mệnh quốc gia, là danh dự của dân tộc! Pháp tốt nhất để định vị đất nước!
Khi thế giới càng toàn cầu hóa thì vấn đề dân tộc đối với mỗi quốc gia càng nổi lên như một mệnh đề quan thiết. Do đó, xử lý vấn đề dân tộc vì sự phát triển toàn cầu và chủ động tiên lượng nắm lấy tổng thể sự vận động toàn cầu để giải quyết cụ thể, thiết thực những công việc của dân tộc phải và đang trở thành mệnh lệnh hành động song trùng một cách tự nhiên và tất yếu.
Không có phương lược phát triển nào khác hơn là, trên đường văn hóa, chủ nghĩa dân tộc Việt Nam, dưới ngọn cờ của Đảng, phải trở thành động lực căn bản và to lớn trong tiến trình phát triển đất nước hiện nay và tương lai. Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: Chủ nghĩa dân tộc là một động lực lớn của đất nước; và trong tình hình quốc tế hiện nay, những đặc điểm dân tộc và những điều kiện riêng biệt ngày càng trở thành nhân tố quan trọng trong việc vạch ra chính sách, vạch ra những phương pháp và những biện pháp riêng của mình. Chúng ta đi con đường của mình một cách độc lập và sáng tạo trên đường lớn nhân loại. Buông lơi, coi nhẹ điều đó là cầm chắc sự thất bại từ nền móng và từ ưu thế.
Vì thế, 22 năm tới, trong tầm nhìn tới năm 2045, trước mắt năm 2030, với công cuộc đổi mới sáng tạo, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, Việt Nam phải trở thành một nước công nghiệp, hiện đại phát triển, vì dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh, với bản lĩnh Việt Nam; nơi hội tụ của niềm tin, tri thức và tấm lòng rất mực thủy chung, nhân ái, chan hòa với bạn bè quốc tế; thành viên của thế giới nhân văn, hòa bình và tiến bộ trong chỉnh thể hoàn cầu.
Đó là sự kết tinh Quốc khí thành danh hiệu Việt Nam, bắt đầu từ chỗ đứng Việt Nam, là sự lựa chọn mang tầm chiến lược, là lòng tin chính trị mang tầm quốc tế của đất nước trong thế giới đương đại.
Đó chính là văn hóa Việt Nam.
Bước vào thập kỷ thứ ba của thế kỷ XXI, thế giới càng biến đổi khôn lường và không ngừng tái cơ cấu, theo đó hình thành những xu hướng phát triển mới mẻ.
Một cách tự nhiên, phải đổi mới tư duy và giải quyết hài hòa vấn đề cốt lõi của tất cả các mối quan hệ của Đất nước dù trong nước hay quốc tế mới có thể xây dựng và động lực phát triển quốc gia. Dù muốn hay không, càng tiếp tục đổi mới càng phải lại nhận thức và hành động đúng quy luật vận động của đất nước một cách tổng thể, trước hết và trực tiếp trong việc giải quyết vấn đề trung tâm là lợi ích và chung quanh lợi ích một cách tổng hòa, cụ thể từ cá nhân, giai cấp, giai tầng… tới quốc gia, dân tộc và với các nước trên tầm quốc tế mang tính thống nhất chỉnh thể và đa dạng.
Trải mấy ngàn năm qua, lợi ích quốc gia - dân tộc luôn là mục tiêu tối thượng. Hiện nay, càng phải bảo vệ nó trước bất cứ ai, trong bất cứ cảnh huống nào. Chân lý “Không có gì quý hơn Độc lập tự do” càng phải tỏa sáng trong ý nghĩ, tư tưởng, tình cảm và hành động của mỗi người. Làm trái đi chính là rước lấy nguy cơ có ngày mất nước. Không có độc lập, tự do và thống nhất không có bất cứ một sự tự quyết chính trị nào, càng không thể nói tới bất cứ một sự phát triển Đất nước xứng đáng nào.
Tất cả nhằm mục tiêu cao cả: Bảo vệ và phát triển lợi ích tối thượng của mỗi người, của từng tổ chức trong xã hội, của quốc gia dân tộc Việt Nam xã hội chủ nghĩa trong thế giới đương đại. Lợi ích chính trị của đất nước Việt Nam phải là hạt nhân mà mọi sự đổi mới, dù ở phương diện nào, góc độ nào, mức độ tới đâu… đều xoay chung quanh nó, chứ tuyệt đối không phải ngược lại. Đây là cái bất biến chúng ta cần nắm chắc, để chủ động hành xử trước mọi sự đổi thay của thời cuộc, của thế giới trong lộ trình đổi mới toàn diện, đồng bộ, vì chủ nghĩa xã hội Việt Nam. Quốc khí Việt Nam theo đó mà thịnh vượng.
Đồng thời, phải chủ động đón bắt thời cơ phát triển. Hơn bao giờ hết, hiện nay, thời cơ chính là lực lượng. Phải nhất định chủ động nắm lấy một cách kiên quyết và hiệu quả cuộc cách mạng 4.0 để thực hiện công cuộc đổi mới vì sự phồn vinh của Tổ quốc, để đưa nước ta từ nước phát triển trung bình thấp thành nước phát triển, có thu nhập cao, bằng sự hóa giải thành công mâu thuẫn gay gắt bậc nhất giữa sự phát triển chậm chạp, nguy cơ rơi vào bẫy thu nhập trung bình và tụt hậu về kinh tế với yêu cầu trở thành nước phát triển cao trong tầm nhìn năm 2045.
Vì thế, con đường tất yếu là đẩy nhanh cuộc đổi mới thời kỳ 4.0 mạnh mẽ, sáng tạo hơn nữa, với khát vọng trở thành nước phát triển vào giữa thế kỷ XXI và giữ vững độc lập, chủ quyền và sự toàn vẹn, thống nhất lãnh thổ quốc gia, tiếp tục nâng cao hơn vị thế và uy tín Việt Nam trên trường quốc tế.
Hiện nay, trong cuộc cạnh tranh khốc liệt và phát triển của thế giới, thực tiễn xác tín, lãng phí lớn nhất là lãng phí nhân tài, cạnh tranh lớn nhất là cạnh tranh nhân tài. Không một quốc gia nào trở nên hùng cường mà không thu hút và trọng dụng nhân tài. Mặt khác, kinh nghiệm cũng xác tín, muốn phát triển khác thường, phải có những con người khác thường. Việt Nam với khát vọng hùng cường, không thể đứng ngoài quy luật này.
Chúng ta không thể trở nên và trường tồn, nếu buông lơi việc trọng dụng con người, nhất là chưa đối đãi xứng đáng với những bậc hiền tài. “…Muốn thịnh trị phải được người hiền tài... Cho nên người đứng đầu thiên hạ phải lo việc ấy trước tiên”. Năm 1429, trong “Chiếu cầu hiền”, Lê Lợi đã tổng kết như thế. Ngày 14/11/1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh viết “Nhân tài và kiến quốc”, với lời kêu gọi: “Kiến thiết thì phải có nhân tài. Nhân tài nước ta dù chưa có nhiều lắm nhưng nếu chúng ta khéo lựa chọn, khéo phân phối, khéo dùng thì nhân tài ngày càng phát triển, càng thêm nhiều”. Đó là Nguyên khí Việt Nam.
Xưa nay, ở nước ta, đây là nhân tố tiên phong phát triển của bất cứ phương diện nào, ở bất cứ thể chế nào. Các bậc tiền hiền, kiệt hiệt: Chu Văn An, Hưng Đạo Vương, Nguyễn Trãi… chính là những người như vậy. Những khuyến nghị cải cách của Chu Văn An với “Thất trảm sớ”, Nguyễn Trường Tộ với “Tế cấp bát điều”, Nguyễn Lộ Trạch với “Thời vụ sách”… vẫn đang là những bài học lớn trên phương diện này đối với chúng ta. Đất nước hai lần bỏ lỡ thời cơ cất cánh chỉ trong gần 200 năm suốt thế kỷ 18, 19. Đó là những sự phát kiến “bất thường” của những bậc kỳ tài vượt hẳn lên đương thời vị quốc vị dân nhưng “cô độc”.
Càng về cuối thế kỷ XX, lịch sử của chúng ta là lịch sử của sự phát triển rút ngắn, thậm chí là phát triển nhảy vọt, khi thời cơ lịch sử chín muồi và thế lực phát triển tới độ. Trong hai nhân tố thời cơ và lực lượng, những con người viễn kiến, đi tiên phong giữ vai trò đột phá thậm chí quyết định sự phát triển. Đó cũng chính là thời cơ phát triển. Bởi vậy, càng phải chăm lo Quốc khí ngay từ gốc, vun đắp Nguyên khí ngay từ căn bản. Đó là bài học lớn về trọng dụng con người và phát triển nhân tài và cũng là yêu cầu của công cuộc đổi mới toàn diện, đồng bộ trong tầm nhìn năm 2045.
Do đó, khâu đột phá của đột phá về phát triển nguồn nhân lực chính là phát triển nhân tài mà rường cột là đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý chiến lược và đội ngũ doanh nhân Việt Nam. Công cuộc đổi mới cần những người có cá tính sáng tạo khác thường: nhìn thấy những điều chưa ai nhìn thấy, nói những điều ít ai dám nói, làm những việc không ai dám làm; chịu trách nhiệm khi không ai dám chịu trách nhiệm…; càng cần sự đột phá, sáng tạo, vượt trước… hoặc làm thay đổi thực trạng hoặc tạo ra điều mới chưa từng có hoặc tạo ra thời thế hoặc chuyển vần lịch sử hoặc tạo ra vận khí quốc gia hoặc thậm chí đảo lộn đời sống quốc gia, quốc tế, vượt thời đại… Nói gọn lại, cần những người có óc nghĩ trước, dũng cảm đi trước, tiên phong chịu trách nhiệm, thậm chí chấp nhận hy sinh trước, vì quốc gia dân tộc, một cách xứng đáng và ngang tầm. Đây là lực lượng có vai trò quyết định dẫn dắt quốc gia và đi tiên phong hội nhập quốc tế, bảo đảm song hành sự phát triển bền vững chính trị đồng bộ với phát triển kinh tế, chính trị với kỹ trị… phù hợp với quy mô, tốc độ, yêu cầu đổi mới và hội nhập toàn cầu.
Hoàn thiện và thực thi Chiến lược Phát triển nhân tài quốc gia trong tầm nhìn 2045, trước mắt tới năm 2030, trong đó đội ngũ nhân tài quốc gia giữ vị thế xứng đáng, với tư cách là một quốc sách xứng tầm. Đổi mới cơ chế, hoàn thiện bộ thể chế tương dung bảo đảm sự hoạt động sáng tạo và thống nhất đội ngũ chính trị gia - chiến lược gia - quản trị gia - kỹ trị gia và khoa học gia, không kể nguồn gốc xuất thân một cách cách tổng thể, với phương châm: Trọng thị - Trọng dụng - Trọng đãi thật cầu thị và chân thành, thật công bình và chính trực, thật dân chủ và khoa học, thật quang minh và chính đại mang tầm chiến lược. Ở đây, không có chỗ cho sự hẹp hòi, thiển cận, cục bộ, càng không dung thứ cho sự kỳ thị, sợ hãi và vô nhân văn.
Hơn hết bao giờ, giữ vững bản lĩnh chính trị quốc gia, trước hết định vị và tập trung ở bản lĩnh chính trị, văn hóa chính trị của đội ngũ lãnh đạo quốc gia, giữ vai trò tiên phong và động lực cực kỳ quan trọng. Nó phải là sự kết tinh và hội tụ ở đó không chỉ trách nhiệm chính trị, trí tuệ, sự tinh tế, tinh thần dân tộc mà thấm đẫm cả lương tri, sự kinh lịch, sự khoan dung và chủ nghĩa nhân văn, mang hồn cốt, tinh hoa và khí phách của văn hóa truyền thống và hiện đại Việt Nam, trong tầm nhìn toàn cầu.
Công cuộc đổi mới trong tầm nhìn năm 2045 đang thách thức, nếu không dũng cảm đổi mới sáng tạo, không phát huy Quốc khí, không nâng niu Nguyên khí, nhất định không có sự đột phá giải phóng mọi tiềm năng và thực lực phát triển nào như mong muốn, càng rất khó có sự bứt tốc thành công nào như mơ ước.
Đó là cương lĩnh hành động, là thước đo hiệu quả của công cuộc đổi mới, là nhân tố tiếp tục phát triển hệ giá trị vì Việt Nam độc lập, thống nhất, dân chủ, tự do và hùng cường.
Lịch sử không chờ đợi!./.
St

TRỊNH CÔNG SƠN VIẾT VỀ MẸ !

 "Có một người đàn bà yêu thương tôi và tin tưởng ở tôi nhất trên đời này người ấy có thể vì tôi mà hy sinh cả tính mạng. Đó là Mẹ tôi.

Có một người bạn trung thành với tôi nhất trên đời này, người ấy có thể vì tôi mà từ bỏ hết mọi của cải, mọi thứ ân sủng quý giá nhất. Đó là Mẹ tôi.
Nếu có ai bảo với tôi rằng ở một nơi nào đó có một người xem con mình vừa là mục đích đầu tiên vừa là mục đích cuối cùng của đời mình thì tôi tin chắc rằng người đó không ai khác hơn là Mẹ tôi.
Mỗi người tình có thể ác độc với bạn nhưng trong lòng người mẹ thì chỉ có từ tâm.
Sự ác độc mang đến giá băng trong lòng bạn và chỉ có hủy diệt chứ không thể nào làm sinh nở một điều gì tốt lành. Chỉ có ở người mẹ, bạn mới có thể tìm được lòng chung thủy tuyệt đối.
Khi mẹ mất rồi thì bạn hãy tin chắc rằng không thể ở nơi nào có một lòng chung thủy tương tự như vậy nữa, bởi vì đối với mẹ, bạn là mục đích đầu tiên và sau cùng.
Khi một người tình cho bạn một tình yêu thì trong trái ngọt đã có thêm mùi vị của cay đắng.
Tình yêu của mẹ là không vụ lợi.
Ở trái tim người mẹ chỉ có sự tràn đầy, không có bớt đi hoặc thêm vào gì nữa.
Nếu thân xác đi mà linh hồn vẫn còn lại thì bạn hãy tin rằng, mẹ sẽ là người đau khổ nhất chứ không phải là bạn.
Ở nơi linh hồn đó, mẹ biết rằng từ nay không còn ai đủ tình yêu để chăm sóc và an ủi bạn trong những phiền muộn chập chùng của cuộc đời.
Mất mẹ là mất một phần lớn của cuộc vui muốn được đền đáp, chia xẻ.
Không có bài hát nào nói đủ về mẹ.
Mất mẹ là mất đi một tài sản lớn nhất trong toàn bộ sự giàu có của một đời người."
St

TƯ TƯỞNG ĐOÀN KẾT CÁC DÂN TỘC CỦA CHỦ TỊCH HỒ CHÍ MINH

 Nghiên cứu 60 bức điện, thư, bài nói chuyện của Bác với đồng bào các dân tộc thiểu số, có thể thấy bao trùm trong đó là tư tưởng của Người về đoàn kết các dân tộc.

Đoàn kết - nhiệm vụ số một của các dân tộc
Không lâu sau khi nước nhà giành được độc lập, ngày 3/12/1945, Bác chỉ đạo triệu tập Hội nghị đại biểu các dân tộc thiểu số (DTTS) Việt Nam. Mở đầu bài phát biểu tại Hội nghị, Người nói: “Nhờ sức đoàn kết tranh đấu chung của tất cả các dân tộc, nước Việt Nam ngày nay được độc lập, các DTTS được bình đẳng cùng dân tộc Việt Nam, tất cả đều như anh chị em trong một nhà, không còn có sự phân chia nòi giống, tiếng nói gì nữa. Trước kia các dân tộc để giành độc lập phải đoàn kết, bây giờ để giữ lấy nền độc lập càng cần đoàn kết hơn nữa”.
Chỉ đạo 4 nhiệm vụ chính các DTTS phải thực hiện lúc bấy giờ, Người yêu cầu “Đoàn kết hơn nữa để chống xâm lăng” là nhiệm vụ số một.
Tiếp đó, trong thư gửi đồng bào các DTTS nhân Đại hội đại biểu các DTTS lần thứ I, Bác khẳng định: “Nhờ sự đoàn kết chặt chẽ giữa các dân tộc, nhờ sự hy sinh phấn đấu của tất cả đồng bào, mà chúng ta tranh được quyền tự do độc lập và xây nên nước Dân chủ Cộng hòa”.
Bác căn dặn: “Từ đây về sau, các dân tộc đã đoàn kết càng phải đoàn kết thêm, đã phấn đấu càng phải phấn đấu nữa, để giữ gìn quyền độc lập cho vững vàng để xây dựng một nước Việt Nam mới. Khi khó nhọc chúng ta cùng gắng sức, lúc thái bình chúng ta cùng hưởng chung”.
Hơn 3 tháng sau, chiến tranh lan rộng khắp miền Nam. Ở địa bàn Tây Nguyên, quân đội Pháp tiến theo đường 14 đánh chiếm phần lớn Nam Tây Nguyên và đang tìm cách chọc thủng phòng tuyến Buôn Hồ để tiến ra Bắc Tây Nguyên. Trong bối cảnh chiến sự ác liệt như vậy, Trung ương và Bác Hồ vẫn quyết định tổ chức Đại hội các DTTS miền Nam tại Pleiku.
Ngày 19/4/1946, Bác viết thư gửi Đại hội. Trong thư, tư tưởng đoàn kết các dân tộc được Bác chỉ bảo hết sức giản dị nhưng sâu sắc: “Đồng bào Kinh hay Thổ, Mường hay Mán, Gia Rai hay Ê Đê, Xê Đăng hay Ba Na và các dân tộc thiểu số khác, đều là con cháu Việt Nam, đều là anh em ruột thịt. Chúng ta sống chết có nhau, sướng khổ cùng nhau, no đói giúp nhau”.
Người viết tiếp: “Ngày nay, nước Việt Nam là nước chung của chúng ta. Vậy nên tất cả dân tộc chúng ta phải đoàn kết chặt chẽ để giữ gìn nước non ta, để ủng hộ Chính phủ ta”.
Cuối thư, Người khẳng định: “Sông có thể cạn, núi có thể mòn nhưng lòng đoàn kết của chúng ta không bao giờ giảm bớt. Chúng ta quyết góp chung lực lượng lại để giữ vững quyền tự do, độc lập của chúng ta”.
Những năm kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược, Bác Hồ đã viết rất nhiều thư gửi đồng bào. Trong thư gửi đồng bào Việt Bắc (gồm các tỉnh cũ: Cao Bằng, Bắc Kạn, Thái Nguyên, Phúc Yên) nhân kỷ niệm ngày Cách mạng tháng Tám năm 1947, Bác khẳng định những thành tựu mà Khu I đạt được là nhờ sự đoàn kết. Người tiên đoán, nay mai, Khu I có thể trở thành mặt trận chính. Vì vậy, Người yêu cầu: “Đã đoàn kết phải đoàn kết thêm”.
Ngày 14/10/1950, nhân dịp chiến thắng trên chiến trường biên giới, Bác gửi thư cho đồng bào Cao - Bắc - Lạng. Trong nhiều nguyên nhân dẫn đến thắng lợi, Người khẳng định: “Vì quân, dân, chính của ta đoàn kết chặt chẽ”.
Ngày 27/11/1950, tỉnh Lào Cai được giải phóng. Bác gửi thư dặn đồng bào phải làm một số việc. Việc số một, Người chỉ đạo: “Phải thực hành đại đoàn kết, thương yêu nhau, giúp đỡ nhau trong công việc”.
Cũng trong tháng 11/1950, gửi thư cho toàn thể phụ lão xã Vĩnh Đồng, Châu Lương Sơn, tỉnh Hòa Bình về nhiệm vụ trước mắt của đồng bào, quân đội, chính quyền, đoàn thể, Bác viết: “Toàn dân đoàn kết chặt chẽ”.
Ngày 12/12/1953, lời dặn đầu tiên trong mấy lời dặn đồng bào và cán bộ tỉnh Lai Châu cần ghi nhớ và làm cho đúng, Bác viết: “Đoàn kết thân ái giúp đỡ lẫn nhau”.
Sau Chiến thắng Điện Biên Phủ lừng lẫy năm châu, chấn động địa cầu, chiểu theo Nghị quyết của Quốc hội về chính sách lập khu tự trị của các dân tộc ở những vùng có điều kiện, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ký Sắc lệnh số 229-SL ngày 29 tháng 4 năm 1955 thành lập khu Tự trị Thái - Mèo, với mục đích tăng cường đoàn kết giữa các dân tộc và tạo điều kiện cho các dân tộc ở Tây Bắc tiến bộ mau chóng về mọi mặt.
Trong thư gửi đồng bào (ngày 7/5/1955), Bác nhấn mạnh: “Khu tự trị Thái - Mèo là một bộ phận khăng khít trong đại gia đình Việt Nam, cùng với các dân tộc anh em khác đoàn kết thành một khối như ruột thịt. Nó sẽ luôn luôn được sự giáo dục và lãnh đạo của Đảng và của Chính phủ và sự giúp đỡ của các dân tộc anh em khác”.
Người nêu rõ: “Đồng bào Tây Bắc có cái vinh dự đặc biệt: là thành lập khu tự trị đầu tiên. Vì vậy, đồng bào Tây Bắc cũng có cái nhiệm vụ đặc biệt: là phải cố gắng làm gương mẫu cho những khu tự trị khác sẽ dần dần thành lập sau này.
Để xứng đáng với vinh dự to lớn ấy, và để làm trọn nhiệm vụ cao quý ấy, đồng bào Khu tự trị Thái - Mèo cần: Phải đoàn kết chặt chẽ giữa tất cả các dân tộc, phải thương yêu giúp đỡ nhau như anh em”.
Nhân kỷ niệm một năm thành lập Khu tự trị Việt Bắc, ngày 10/8/1956, Bác gửi thư cho đồng bào. Người chỉ đạo: “Đoàn kết chặt chẽ giữa các dân tộc, các tầng lớp nhân dân, mọi người thương yêu giúp đỡ nhau như ruột thịt” và “Đoàn kết chặt chẽ với đồng bào cả nước”.
Tại sao phải đoàn kết dân tộc
Nhấn mạnh tầm quan trọng số một của vấn đề đoàn kết dân tộc, trong các điện, thư, bài nói chuyện, Bác lý giải tại sao phải đoàn kết các dân tộc.
Nói chuyện với nhân dân tỉnh Yên Bái (ngày 25/9/1958), Bác nêu rõ: “Trước kia bọn thực dân phong kiến chia rẽ chúng ta, chia rẽ các dân tộc, xúi giục dân tộc này hiềm khích với dân tộc khác để chúng áp bức bóc lột chúng ta. Nay chúng ta phải đoàn kết lại”.
Bác lấy ví dụ, tỉnh Yên Bái có 10 dân tộc anh em như 10 ngón tay. “Nếu xòe 10 ngón tay mà bẻ từng ngón, như thế có dễ bẻ không? Nếu nắm chặt cả 10 ngón tay thì có bẻ được không? Nếu có kẻ nào chia rẽ thì phải làm thế nào? Thì phải đập vào đầu chúng nó. Đó là điểm thứ nhất tại sao phải đoàn kết chặt chẽ giữa các dân tộc”.
Nói chuyện với Đoàn đại biểu các dân tộc ít người về dự lễ kỷ niệm ngày Quốc tế Lao động 1/5 ở Thủ đô (ngày 2/5/1959), Bác ví von: “Như muốn nhấc một hòn đá nặng, một người, hai người không thể làm được, nhưng 20 - 30 người xúm xít nhau lại thì nhất định sẽ nhấc được hòn đá”.
Ngày 8/5/1959, Bác phân tích với nhân dân, bộ đội, cán bộ tại Yên Châu, Sơn La: “Bây giờ chúng ta, tất cả các dân tộc Kinh, Thái, Mường, Mèo, Mán, Xá, Puộc,… đều là anh em ruột thịt một nhà chứ không phải Kinh ăn hiếp Thái, Thái ăn hiếp Xá, Puộc như trước nữa. Cũng ví như một bó que, đây là đồng bào Kinh, Thái, Mèo, Xá, Puộc, Mán, Mường. Từng cái một có thể bẻ gãy. Bây giờ đoàn kết lại thế này có ai bẻ gãy được không? Chẳng những không ai bẻ gãy được, mà ai bẻ chúng ta đánh vào cái đầu nó. Đồng bào phải đoàn kết chặt chẽ như nắm tay này”.
Theo Bác: “Đoàn kết là sức mạnh; có sức mạnh đoàn kết thì làm việc gì cũng thành”.
Làm thế nào để đoàn kết dân tộc
Về cách thức đoàn kết các dân tộc, trong Thư gửi Đại hội dân tộc thiểu số miền Nam lần thứ I, Bác viết: “Chúng ta phải thương yêu nhau, phải kính trọng nhau, phải giúp đỡ nhau để mưu hạnh phúc chung của chúng ta và con cháu chúng ta”.
Nói chuyện với đồng bào tỉnh Yên Bái, Bác nhấn mạnh: “Đã gọi là đoàn kết thì phải giúp đỡ nhau như anh em trong nhà. Dân tộc nhiều người phải giúp đỡ dân tộc ít người, dân tộc ít người cần cố gắng làm ruộng. Hai bên phải giúp đỡ lẫn nhau. Dân tộc đông người không phải giúp qua loa, cũng như dân tộc ít người không nên ngồi chờ giúp. Một bên ra sức giúp, một bên ra sức làm. Giúp nhau thì việc gì cũng nhất định làm được”.
Trong hai ngày 23 - 24/9/1958, Bác cùng Đoàn cán bộ của Chính phủ đến thăm tỉnh Lào Cai. Nói chuyện với đại biểu cán bộ, chiến sĩ và đồng bào, Bác nêu rõ: “Đặc biệt, đối với đồng bào những dân tộc rất ít người như đồng bào Lô Lô thì các dân tộc đông người hơn càng phải giúp đỡ về mọi mặt”.
Tư tưởng này được Bác nhắc lại khi nói chuyện với cán bộ và học sinh Trường Sư phạm miền núi Nghệ An (ngày 9/12/1961): “Dân tộc nào đông hơn, tiến bộ hơn thì phải giúp đỡ các dân tộc khác để đều tiến bộ như nhau, đều đoàn kết như anh em một nhà”.
Người nhắc nhở: “Cán bộ địa phương, dân tộc, phải cố gắng học tập, đoàn kết chặt chẽ với cán bộ xuôi lên công tác, tránh tư tưởng dân tộc hẹp hòi. Tư tưởng dân tộc hẹp hòi là do bọn đế quốc phong kiến để lại. Bất kỳ dân tộc nào cũng đều là anh em một nhà, chia rẽ dân tộc là không tốt”.
Cách thức đoàn kết giữa các dân tộc được Bác chỉ dẫn trong bài nói chuyện của Người với đồng bào và cán bộ tỉnh Cao Bằng (ngày 21/2/1961), dịp kỷ niệm 20 năm ngày Bác đặt chân về Cao Bằng sau hơn 30 năm bôn ba tìm đường cứu nước. Bác nói: “Đồng bào các dân tộc, không phân biệt lớn, nhỏ, phải yêu thương giúp đỡ lẫn nhau, phải đoàn kết chặt chẽ như anh em một nhà”.
Tại Hội nghị tổng kết cuộc vận động hợp tác hóa nông nghiệp, phát triển sản xuất, kết hợp hoàn thành cải cách dân chủ ở miền núi (ngày 8/10/1961), Bác nêu: “Các dân tộc miền núi đoàn kết chặt chẽ, các dân tộc thiểu số đoàn kết với dân tộc đa số” và “Muốn làm tốt công tác này, cán bộ, đảng viên và đoàn viên thanh niên lao động phải gương mẫu”.
Tại Hội nghị cán bộ phụ nữ miền núi (ngày 19/3/1964), Bác nhắn nhủ: “Đồng bào miền núi, trước hết là chị em phụ nữ, cần phải đoàn kết chặt chẽ, thương yêu giúp đỡ lẫn nhau”.
Trong thư gửi Đại hội Hợp tác xã và Đội sản xuất nông nghiệp tiên tiến miền núi và trung du (ngày 11/4/1964), Bác yêu cầu: “Các dân tộc phải đoàn kết chặt chẽ muôn người như một, thương yêu giúp đỡ lẫn nhau”.
“Đồng bào miền núi phải đoàn kết giúp đỡ đồng bào miền xuôi. Và đồng bào miền xuôi phải đoàn kết giúp đỡ đồng bào miền núi. Đó là hai phía, đó là chính sách dân tộc của Đảng” - Bác nhấn mạnh tại Hội nghị Tuyên giáo miền núi (ngày 31/8/1963).
Tiếp tục xây dựng, củng cố đoàn kết dân tộc trong giai đoạn hiện nay
Bác khẳng định tại Hội nghị cán bộ miền núi (ngày 01/9/1962): “Chính sách của Đảng và Chính phủ ta đối với miền núi là rất đúng đắn. Trong chính sách đó có hai điều quan trọng nhất là: Đoàn kết dân tộc và nâng cao đời sống của đồng bào”.
Dựa trên chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, Nghị quyết số 24-NQ/TW ngày 12/3/2003 của Hội nghị lần thứ 7 Ban Chấp hành Trung ương khóa IX về công tác dân tộc khẳng định: “Vấn đề dân tộc và đoàn kết dân tộc là vấn đề chiến lược cơ bản, lâu dài, đồng thời cũng là vấn đề cấp bách hiện nay của cách mạng Việt Nam. Các dân tộc trong đại gia đình Việt Nam bình đẳng, đoàn kết, tương trợ, giúp nhau cùng phát triển, cùng nhau phấn đấu thực hiện thắng lợi sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa”.
Văn kiện Đại hội lần thứ XIII của Đảng nêu rõ: “Nghiêm trị mọi âm mưu, hành động chia rẽ, phá hoại khối đại đoàn kết toàn dân tộc”.
Để tiếp tục xây dựng và phát huy sức mạnh đại đoàn kết trong các dân tộc thiểu số, cần quán triệt và thực hiện quan điểm nhất quán của Đảng: “Đảm bảo các dân tộc bình đẳng, tôn trọng, giúp nhau cùng phát triển. Huy động phân bổ, sử dụng, quản lý hiệu quả các nguồn lực để đầu tư phát triển, tạo sự chuyển biến căn bản về kinh tế, văn hoá, xã hội ở vùng có đông đồng bào dân tộc thiểu số…” như Nghị quyết số 24-NQ/TW của Hội nghị lần thứ 7 Ban Chấp hành Trung ương khóa IX về công tác dân tộc trong tình hình mới và Kết luận số 65-KL/TW ngày 30/10/2019 của Bộ Chính trị về tiếp tục thực hiện Nghị quyết số 24-NQ/TW của Hội nghị lần thứ 7 Ban Chấp hành Trung ương khóa IX về công tác dân tộc trong tình hình mới đã chỉ ra.
Trong thời kỳ cách mạng, đồng bào các DTTS đã đoàn kết, cần cù, dũng cảm lập nên nhiều công trạng vẻ vang. Ngày nay, đất nước đang đẩy mạnh sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa, phấn đấu giữa thế kỷ XXI, trở thành nước phát triển, theo định hướng xã hội chủ nghĩa như Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng đã đề ra.
Sự nghiệp vẻ vang đó đòi hỏi đồng bào các dân tộc thiểu số luôn ghi nhớ và làm theo tư tưởng đoàn kết giữa các dân tộc của Chủ tịch Hồ Chí Minh, để góp phần cùng nhân dân cả nước đạt được các mục tiêu: “Đến năm 2025, kỷ niệm 50 năm giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước: Là nước đang phát triển, có công nghiệp theo hướng hiện đại, vượt qua mức thu nhập trung bình thấp; Đến năm 2030, kỷ niệm 100 năm thành lập Đảng: Là nước đang phát triển, có công nghiệp hiện đại, thu nhập trung bình cao; Đến năm 2045, kỷ niệm 100 năm thành lập nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, nay là nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam: Trở thành nước phát triển, thu nhập cao”./.
St

KHẨU HIỆU "TỰ DO - BÌNH ĐẲNG - BÁC ÁI" CỦA CÁCH MẠNG PHÁP VỚI VIỆC RA ĐI TÌM ĐƯỜNG CỨU NƯỚC CỦA NGUYỄN TẤT THÀNH

 1. Tự do - Bình đẳng - Bác ái, khẩu hiệu đã làm rung động trái tim Bác Hồ thời niên thiếu

Nguyễn Tất Thành, thời thơ ấu tên là Nguyễn Sinh Cung (19/5/1890), sinh ra trong một gia đình nhà Nho yêu nước, lớn lên trong truyền thống tốt đẹp của quê hương, hiếu học, cần cù lao động, tình nghĩa trong cuộc sống và bất khuất trước kẻ thù. Những chuyến đi cùng cha, Nguyễn Tất Thành được chứng kiến cuộc sống lầm than, cực khổ đến cùng cực của người dân mất nước và tiếp xúc với lý tưởng của các sĩ phu yêu nước, đã góp phần định hướng cho người thiếu niên yêu nước sớm có hoài bão lớn.
Khoảng tháng 9-1905, Nguyễn Tất Thành được cha xin cho theo học lớp dự bị của Trường tiểu học Pháp - bản xứ ở thành phố Vinh. Ngày nào tới lớp học, Nguyễn Tất Thành cũng trông thấy hai hàng chữ Pháp ở hai bên vách lớp, trong đó, có 03 từLiberté, Égalité, Fraternité (Tự do - Bình đẳng - Bác ái). Học lịch sử nước Pháp, nhất là lịch sử Cách mạng tư sản Pháp (1789); nghe thầy giáo nhắc nhiều đến ba từ thiêng liêng đó, Nguyễn Tất Thành càng muốn đi sâu tìm kiếm nguồn gốc phát sinh và ý nghĩa sâu xa của nó. Với Nguyễn Tất Thành, những chữ: “Tự do - Bình đẳng - Bác ái”, lúc đó thật là mới mẻ, nhưng chưa thể hiểu nổi. Người muốn xem những thứ đó ở nước Pháp ra sao? Người kể lại với nhà văn Liên Xô Ôxíp Manđenxtam rằng: “Khi tôi độ mười ba tuổi, lần đầu tiên tôi được nghe ba chữ Pháp “Tự do - Bình đẳng - Bác ái”. Và từ thuở ấy, tôi rất muốn làm quen với nền văn minh Pháp, muốn tìm xem những gì ẩn giấu đằng sau những chữ ấy”.
Năm 1908, Nguyễn Tất Thành học ở Trường Quốc học Huế, được tiếp xúc với nhiều sách, báo Pháp; chịu ảnh hưởng của những thầy giáo yêu nước như Hoàng Thông, Lê Văn Miến... ý muốn đi sang phương Tây để tìm hiểu tình hình các nước và học hỏi thành tựu văn minh nhân loại đã từng bước lớn dần lên trong tâm trí của Nguyễn Tất Thành.Đến năm 1909- 6/1910, Người học tại trường tiểu học Pháp - Việt Quy Nhơn.Năm 1910 - 2/1911, khi làm thầy giáo ở trường Dục Thanh (Phan Thiết), lần đầu tiên Nguyễn Tất Thành được đọc Tân thư dịch sang chữ Hán trong gia đình cụ Nguyễn Thông, được tiếp cận với tư tưởng tiến bộ của các nhà khai sáng Pháp như Rútxô (J.J. Rousseau), Montesquieu (Ch. De Montesquieu), Vônte (Fr. Voltaire)…Được tiếp cận với những đỉnh cao mới của văn hóa nhân loại, tri thức của Nguyễn Tất Thành càng dồi dào phong phú.
Tuy vậy, còn nhiều vấn đề làm Người khó hiểu. Còn bao nhiêu dấu hỏi buộc Người phải tiếp tục tìm hiểu. Tại sao Vônte lại ca ngợi đất nước Nga của Pie đại đế, còn Môngtéxkiơ lại ca tụng chế độ đại nghị của nước Anh? Khẩu hiệu “Tự do, Bình đẳng, Bác ái”, thực chất nghĩa là thế nào? Phải chăng những kẻ mệnh danh là người phất cao lá cờ “Tự do, Bình đẳng, Bác ái” lại đang làm trái ngược lý tưởng đó ở khắp nơi trên đất Đông Dương? Kể sao cho hết những bằng chứng hùng hồn để vạch trần tội ác của những người đi “khai hóa văn minh” trên bán đảo này? Càng tìm hiểu những gì ẩn giấu đằng sau những từ “Tự do - Bình đẳng - Bác ái”, Nguyễn Tất Thành càng đau xót trước cảnh thống khổ của đồng bào, càng băn khoăn, day dứt về vận mệnh dân tộc Việt Nam.Bao nhiêu cuộc nổi dậy đều bị dìm trong máu lửa. Nước mất thì nhà cũng tan, dân nô lệ… Làm thế nào để giành lại giang sơn đất nước? Làm thế nào để có độc lập, tự do, bình đẳng, bác ái thực sự?
Những dấu hỏi lớn như những cái móc xoáy vào tâm trí Tất Thành, đã tác động đến chí hướng của Nguyễn Tất Thành, thôi thúc mạnh mẽ ý chí của Người thanh niên ấy, để rồi đưa ra một quyết định chính xác và táo bạo là xuất dương tìm đường cứu nước.
2. Hành trình qua 3 đại dương, 4 châu lục và gần 30 quốc gia “tìm con đường cứu nước”
Với khát vọng giải phóng dân tộc và được kế thừa các giá trị truyền thống của dân tộc Việt Nam, ngày 05/6/1911, trên con tàu Đô đốc Latútsơ Tơrêvin, từ bến cảng Nhà Rồng, thành phố Sài Gòn (nay là thành phố Hồ Chí Minh), Người thanh niên yêu nước Nguyễn Tất Thành rời Tổ quốc ra đi tìm đường cứu nước.
Người đã tận dụng mọi cơ hội để được đến nhiều nơi trên thế giới. Bàn chân của Người đã từng in dấu trên nhiều nước thuộc các đại lục Âu, Á, Phi, Mỹ. Đặc biệt Người đã dừng chân khảo sát khá lâu ở ba nước đế quốc lớn nhất thời đó là Mỹ, Anh và Pháp - được coi là những nước dân chủ bậc nhất. Tại Pháp, được chứng kiến ở Pháp cũng có những người nghèo như ở Việt Nam, Người nhận thấy có những người Pháp trên đất Pháp tốt và lịch sự hơn những tên thực dân Pháp ở Đông Dương.Tại Mỹ, Người được đọc bản Tuyên ngôn độc lập năm 1776 của Mỹ, nhận thức nạn phân biệt chủng tộc; Người viết dưới chân tượng Nữ thần tự do “Ánh sáng trên đầu Thần Tự Do tỏa rộng khắp trời xanh, còn dưới chân Tượng Thần Tự Do thì người da đen đang bị chà đạp. Bao giờ người da đen được bình đẳng với người da trắng? Bao giờ có sự bình đẳng giữa các dân tộc? Và bao giờ người phụ nữ được bình đẳng với nam giới?”. Tiếp sau đó, Người sang Anh và rút ra kết luận về cách mạng dân chủ tư sản, đằng sau những ngôn từ tự do, bình đẳng, bác ái là sự phản bội, lừa bịp nhân dân của chính quyền tư sản, là nỗi đau khổ tột cùng của người dân lao động bị áp bức, bóc lột. Đó là những cuộc cách mạng vĩ đại, nhưng chưa đến nơi. Nó đã phá tan gông xiềng phong kiến cùng những luật lệ hà khắc và những ràng buộc vô lý để giải phóng sức lao động của con người. Cách mạng tư sản đã xây dựng lên một chế độ mới tiến bộ hơn xã hội phong kiến. Nhưng cách mạng xong rồi dân chúng vẫn khổ, vẫn bị áp bức, bóc lột và vẫn mưu toan làm cách mạng.
Nguyễn Tất Thành với tinh thần làm việc, làm bất cứ việc gì để sống và để đi. Người đã đi qua 3 đại dương, 4 châu lục và gần 30 quốc gia, bao gồm cả các nước đế quốc (Anh, Pháp, Mỹ...) và các nước thuộc địa (Angiêri, Tuynidi, Cônggô, Đahômây, Xênêgan, Rêuyniông, Máctiních, Urugoay và Áchentina …). Đến đâu Người cũng thấy cảnh khổ cực của người lao động dưới sự áp bức bóc lột dã man, vô nhân đạo của bọn thống trị. Người rút ra một kết luận quan trọng: “ở đâu bọn đế quốc thực dân cũng tàn bạo độc ác, ở đâu người lao động cũng bị bóc lột dã man ”và “dù màu da có khác nhau, trên đời này chỉ có hai giống người: giống người bóc lột và giống người bị bóc lột”.
Khi Cách mạng Tháng Mười Nga năm 1917 thành công, Nguyễn Tất Thành về Pháp và tham gia các hoạt động chính trị. Năm 1919, Người gia nhập Đảng Xã hội Pháp, một chính đảng tiến bộ nhất lúc đó ở Pháp. Khi được hỏi vì sao vào Đảng, Người trả lời: Vì đây là tổ chức duy nhất theo đuổi lý tưởng cao quý của Đại cách mạng Pháp: "Tự do, Bình đẳng, Bác ái". Tháng 6/1919, Nguyễn Tất Thành lấy tên là Nguyễn Ái Quốc gửi đến Hội nghị Vécxây (Pháp) bản Yêu sách của nhân dân An Nam gồm 8 điểm phản ánh nguyện vọng của nhân dân An Nam, song không được Hội nghị xem xét. Qua việc bản Yêu sách không được chấp nhận, Nguyễn Ái Quốc nhận thấy:"Chủ nghĩa Uynxơn chỉ là một trò bịp bợm lớn" và "Muốn được giải phóng, các dân tộc chỉ có thể trông cậy vào mình, trông cậy vào lực lượng của bản thân mình".
Tháng 7/1920, Nguyễn Ái Quốc được đọc bản sơ thảo lần thứ nhất những luận cương về vấn đề dân tộc và vấn đề thuộc địa của V.I.Lênin đăng trên báo Nhân đạo. Trong văn kiện này, Lênin phê phán mọi luận điểm sai lầm của những người cầm đầu Quốc tế II, về vấn đề dân tộc và vấn đề thuộc địa, lên án mạnh mẽ tư tưởng sô vanh, tư tưởng dân tộc hẹp hòi, ích kỷ, đồng thời nhấn mạnh nhiệm vụ của các đảng cộng sản là phải giúp đỡ thật sự phong trào cách mạng của các nước thuộc địa và phụ thuộc, nhấn mạnh sự đoàn kết giữa giai cấp vô sản các nước tư bản với quần chúng cần lao của tất cả các dân tộc để chống kẻ thù chung là đế quốc và phong kiến. Tác phẩm của Lênin đã giải đáp cho Nguyễn Ái Quốc con đường giành độc lập cho dân tộc và tự do cho đồng bào. Sau này, khi kể lại sự kiện quan trọng đó, Người đã nói: “Luận cương của Lênin làm cho tôi rất cảm động, phấn khởi, sáng tỏ, tin tưởng biết bao! Tôi vui mừng đến phát khóc lên. Ngồi một mình trong buồng mà tôi nói to lên như đang nói trước quần chúng đông đảo: “Hỡi đồng bào bị đọa đày đau khổ! Đây là cái cần thiết cho chúng ta, đây là con đường giải phóng chúng ta! Từ đó tôi hoàn toàn tin theo Lênin, tin theo Quốc tế thứ ba”.
3. Lựa chọn con đường cứu nước đúng đắn - con đường “Cách mạng vô sản”
Với thiên tài trí tuệ và nhãn quan chính trị sắc bén giúp Nguyễn Tất Thành nhận thấy, trong các phong trào cứu nước của ông cha đều có những hạn chế. Phong trào Đông Du tan rã, chứng tỏ không thể dựa vào Nhật để đánh Pháp, điều đó chẳng khác gì “đuổi hổ cửa trước, rước beo cửa sau”. Thất bại của phong trào Duy tân cũng cho thấy việc trông chờ vào thiện chí của người Pháp để được trao trả nền độc lập cũng chẳng khác gì “xin giặc rủ lòng thương”. Khởi nghĩa của Hoàng Hoa Thám tuy có phần thực tế hơn, “nhưng vẫn mang nặng cốt cách phong kiến". Chính vì thế, mặc dù rất khâm phục tinh thần cứu nước của ông cha, nhưng Nguyễn Ái Quốc không đi theo con đường của họ, mà quyết tâm ra đi tìm một con đường mới, mà trước mắt là con đường xem xét, học hỏi.
Một lần trả lời nhà văn Mỹ Anna Luyxơtơrông, Nguyễn Ái Quốc nói: “Nhân dân Việt Nam, trong đó có ông cụ thân sinh ra tôi, lúc này thường tự hỏi nhau ai sẽ là người giúp mình thoát khỏi ách thống trị của Pháp. Người này nghĩ là Anh, có người lại cho là Mỹ. Tôi thấy phải đi ra nước ngoài xem cho rõ. Sau khi xem xét họ làm ăn ra sao, tôi sẽ trở về giúp đồng bào tôi”.
Cuộc hành trình qua 3 đại dương, 4 châu lục, đến gần 30 quốc gia trong suốt 30 năm trường, đã đưa Nguyễn Ái Quốc đến với Chủ nghĩa Mác - Lênin, học thuyết Cách mạng tiên phong của thời đại. Tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XVIII Đảng Xã hội Pháp, Nguyễn Ái Quốc tham dự đại hội với tư cách là đại biểu chính thức và duy nhất của các nước thuộc địa Đông Dương, đã bỏ phiếu tán thành tham gia Quốc tế III Quốc tế Cộng sản, trở thành một trong những người sáng lập Đảng Cộng sản Pháp, và Người cũng trở thành người cộng sản Việt Nam đầu tiên.
Cũng từ thực tế lao động, học tập, thâm nhập đời sống những người lao động, phân tích tình hình chính trị thế giới, tiếp cận với chủ nghĩa Mác - Lênin, Nguyễn Ái Quốc đã lựa chọn con đường cứu nước đúng đắn, đó là con đường cách mạng vô sản mà sau này Người đã đúc kết: “Muốn cứu nước và giải phóng dân tộc không có con đường nào khác con đường cách mạng vô sản”.
Như vậy, chính chủ nghĩa yêu nước đã đưa Nguyễn Tất Thành - Nguyễn Ái Quốc tìm đến lý tưởng cao quý của chủ nghĩa Mác - Lênin, với khát vọng mang lại hòa bình cho dân tộc, Người đưa ra những thông điệp mang giá trị vĩnh hằng, đó là những thông điệp về hòa bình, độc lập, tự do, hạnh phúc, dân chủ, đó chính là: độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội - con đường Người lựa chọn suốt 113 năm qua, nay vẫn là sợi chỉ đỏ, là kim chỉ nam cho hoạt động cách mạng Việt Nam./.

TÍCH CỰC ĐẤU TRANH CHỐNG "TÁC ĐỘNG CHUYỂN HÓA" CỦA CÁC THẾ LỰC THÙ ĐỊCH

 


             Đấu tranh chống “tác động chuyển hóa” của các thế lực thù địch là việc đấu tranh, làm thất bại mọi âm mưu, thủ đoạn cài cắm, móc nối, gây dựng cơ sở, chống “tác động chuyển hóa” về tư tưởng, đạo đức, lối sống, thái độ chính trị của nội bộ theo chiều hướng hoài nghi, tiêu cực, phản động, ly khai, hình thành các quan điểm đi ngược lại chủ trương, đường lối của Đảng. Nguyên tắc, yêu cầu bảo đảm an ninh chính trị nội bộ, phòng, chống “tác động chuyển hóa” chính trị phải chủ động phòng ngừa, giữ vững bên trong là chủ yếu, cụ thể như sau:

           Thứ nhất, ngăn ngừa, khắc phục, triệt tiêu nguồn gốc, nguyên nhân làm nảy sinh “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ, theo tinh thần Nghị quyết Hội nghị Trung ương 4 khóa XII của Đảng, “Về tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng; ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ”. Trong đó, hết sức chú ý đấu tranh khắc phục tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, làm cho những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” dần bị triệt tiêu, loại bỏ trong mỗi con người, tổ chức; đấu tranh làm thất bại âm mưu, thủ đoạn “diễn biến hòa bình” chống phá cách mạng Việt Nam của các thế lực thù địch.

           Thứ hai, xây dựng con người, đội ngũ cán bộ, đảng viên, công chức theo chuẩn mực phẩm chất chính trị, đạo đức, lối sống, năng lực, phong cách sống, làm việc khoa học.

             Thứ ba, xây dựng tổ chức đảng trong sạch, vững mạnh, hoạt động đúng chức năng, nhiệm vụ để tạo nên khả năng đề kháng, miễn dịch, bảo đảm cho mỗi cán bộ, đảng viên, các tổ chức đảng và toàn Đảng không bị mắc vào “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”; đồng thời, tạo động lực, sức mạnh nội sinh để giành thắng lợi trong phòng, chống “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”.

             Thứ tư, xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc, nhằm phát huy sức mạnh nội sinh của cả dân tộc trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa, không để cho các thế lực thù địch lợi dụng những yếu kém, sơ hở trong quản lý kinh tế  - xã hội ở nơi này hay nơi khác nhằm kích động bất đồng, mâu thuẫn giữa các giai cấp, các tầng lớp xã hội, giữa đồng bào ở trong nước với đồng bào định cư ở nước ngoài, làm giảm lòng tin của nhân dân vào sự lãnh đạo của Đảng, quản lý của Nhà nước hòng thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong xã hội./.

Thấm nhuần quan điểm: Kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa thực sự là một đột phá lý luận của Đảng ta

 


Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã khẳng định quan điểm “kiên định vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh trên con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam” tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng. Bài viết đã lột tả đầy đủ được tính bản chất và sự lựa chọn đúng đắn của Đảng Cộng sản Việt Nam.

Trong bài viết, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã trả lời câu hỏi định hình chủ nghĩa xã hội thế nào, và định hướng đi lên chủ nghĩa xã hội thế nào cho phù hợp với hoàn cảnh, đặc điểm cụ thể ở Việt Nam? Đặc biệt tôi rất tâm đắc khi Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng phân tích rất kỹ đặc trưng cơ bản của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa của Việt Nam.

Trong bài viết, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng cũng khẳng định, “một đặc trưng cơ bản, một thuộc tính quan trọng của định hướng xã hội chủ nghĩa trong kinh tế thị trường ở Việt Nam là phải gắn kinh tế với xã hội, thống nhất chính sách kinh tế với chính sách xã hội, tăng trưởng kinh tế đi đôi với thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội ngay trong từng bước, từng chính sách và trong suốt quá trình phát triển... Không chờ đến khi kinh tế đạt tới trình độ phát triển cao rồi mới thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội, càng không "hy sinh" tiến bộ và công bằng xã hội để chạy theo tăng trưởng kinh tế đơn thuần”. Quả thực, chúng ta chưa bao giờ “hy sinh” tiến bộ và công bằng xã hội để chạy theo tăng trưởng kinh tế đơn thuần. Một điển hình hết sức sinh động cho quan điểm này chính là công tác phòng, chống dịch Covid-19 tại Việt Nam thời gian qua. Ngay từ đợt dịch đầu tiên, mặc dù nền kinh tế bị thiệt hại nặng nề nhưng để đảm bảo an sinh xã hội, gói hỗ trợ 62.000 tỷ đồng đã được ban hành, triển khai ngay nhằm hỗ trợ khoảng 20 triệu người dân đang gặp khó khăn bởi đại dịch Covid-19. Trong suốt hơn 1 năm ứng phó với dịch bệnh, Việt Nam luôn kiên trì thực hiện mục tiêu kép: “Vừa phòng, chống dịch bệnh hiệu quả, vừa phát triển kinh tế-xã hội”. Chính nhờ quan điểm “không "hy sinh" tiến bộ và công bằng xã hội để chạy theo tăng trưởng kinh tế đơn thuần”,  trong cuộc chiến với dịch bệnh, Việt Nam đã nổi lên như một điểm sáng, một hình mẫu của thế giới.

Có thể khẳng định, những phân tích, luận giải về nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa trong bài viết của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng một lần nữa làm sáng rõ, là kim chỉ nam cho công cuộc Đổi mới của đất nước trong thời gian tới. Tôi tin tưởng rằng, dưới sự lãnh đạo sáng suốt của Đảng Cộng sản Việt Nam, đất nước ta sẽ tiếp tục giành những thắng lợi mới trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc./.

Nhất quán quan điểm trong xây dựng “Nhà nước pháp quyền Việt Nam” XHCN của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân

 


           Tại Hội nghị đại biểu toàn quốc giữa nhiệm kỳ khóa VII (1-1994), lần đầu tiên, Đảng ta đã chính thức sử dụng thuật ngữ “Nhà nước pháp quyền Việt Nam”: Xây dựng Nhà nước pháp quyền Việt Nam của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân. Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên CNXH (sửa đổi, bổ sung 2011), Đảng ta khẳng định một trong những đặc trưng của chế độ là “xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân”, chỉ rõ: “Nhà nước ta là Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân. Tất cả quyền lực Nhà nước thuộc về nhân dân mà nền tảng là liên minh giữa giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức, do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo. Quyền lực Nhà nước là thống nhất; có sự phân công, phối hợp và kiểm soát giữa các cơ quan trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp. Nhà nước ban hành pháp luật; tổ chức, quản lý xã hội bằng pháp luật và không ngừng tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa”. Quan điểm này được Hiến pháp 2013 tiếp tục ghi nhận, đồng thời chỉ rõ: “Nhà nước bảo đảm và phát huy quyền làm chủ của nhân dân; công nhận, tôn trọng, bảo vệ và bảo đảm quyền con người, quyền công dân; thực hiện mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh, mọi người có cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc, có điều kiện phát triển toàn diện”. Nhà nước pháp quyền XHCN về bản chất khác với nhà nước pháp quyền tư sản là ở chỗ: Pháp quyền dưới chế độ tư bản chủ nghĩa về thực chất là công cụ bảo vệ và phục vụ cho lợi ích của giai cấp tư sản, còn pháp quyền dưới chế độ XHCN là công cụ thể hiện và thực hiện quyền làm chủ của nhân dân, bảo đảm và bảo vệ lợi ích của đại đa số nhân dân. Thông qua thực thi pháp luật Nhà nước bảo đảm các điều kiện để nhân dân là chủ thể của quyền lực chính trị, thực hiện chuyên chính với mọi hành động xâm hại lợi ích của Tổ quốc và nhân dân. Đồng thời, chúng ta xác định: Đại đoàn kết toàn dân tộc là nguồn sức mạnh và là nhân tố có ý nghĩa quyết định bảo đảm thắng lợi bền vững của sự nghiệp cách mạng Việt Nam, không ngừng thúc đẩy sự bình đẳng và đoàn kết giữa các dân tộc, tôn giáo. Trong quá trình đổi mới đất nước, Đảng ta luôn coi trọng đổi mới hệ thống chính trị mà trọng tâm là xây dựng, hoàn thiện Nhà nước pháp quyền XHCN. Thực tiễn qua 35 năm đổi mới, tư duy lý luận của Đảng về xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền XHCN ngày càng đầy đủ và phát triển hơn, tạo cơ sở vững chắc cho việc xây dựng một nhà nước trong sạch, vững mạnh, đáp ứng được yêu cầu phát triển đất nước trên con đường đi lên CNXH.

          Xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền XHCN thật sự của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân, góp phần tạo sự đồng thuận, phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, đẩy mạnh sự nghiệp đổi mới, đưa đất nước vào giai đoạn phát triển mới theo tinh thần Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng./.

Nhất quán quan điểm trong xây dựng “Nhà nước pháp quyền Việt Nam” XHCN của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân


           Tại Hội nghị đại biểu toàn quốc giữa nhiệm kỳ khóa VII (1-1994), lần đầu tiên, Đảng ta đã chính thức sử dụng thuật ngữ “Nhà nước pháp quyền Việt Nam”: Xây dựng Nhà nước pháp quyền Việt Nam của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân. Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên CNXH (sửa đổi, bổ sung 2011), Đảng ta khẳng định một trong những đặc trưng của chế độ là “xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân”, chỉ rõ: “Nhà nước ta là Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân. Tất cả quyền lực Nhà nước thuộc về nhân dân mà nền tảng là liên minh giữa giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức, do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo. Quyền lực Nhà nước là thống nhất; có sự phân công, phối hợp và kiểm soát giữa các cơ quan trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp. Nhà nước ban hành pháp luật; tổ chức, quản lý xã hội bằng pháp luật và không ngừng tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa”. Quan điểm này được Hiến pháp 2013 tiếp tục ghi nhận, đồng thời chỉ rõ: “Nhà nước bảo đảm và phát huy quyền làm chủ của nhân dân; công nhận, tôn trọng, bảo vệ và bảo đảm quyền con người, quyền công dân; thực hiện mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh, mọi người có cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc, có điều kiện phát triển toàn diện”. Nhà nước pháp quyền XHCN về bản chất khác với nhà nước pháp quyền tư sản là ở chỗ: Pháp quyền dưới chế độ tư bản chủ nghĩa về thực chất là công cụ bảo vệ và phục vụ cho lợi ích của giai cấp tư sản, còn pháp quyền dưới chế độ XHCN là công cụ thể hiện và thực hiện quyền làm chủ của nhân dân, bảo đảm và bảo vệ lợi ích của đại đa số nhân dân. Thông qua thực thi pháp luật Nhà nước bảo đảm các điều kiện để nhân dân là chủ thể của quyền lực chính trị, thực hiện chuyên chính với mọi hành động xâm hại lợi ích của Tổ quốc và nhân dân. Đồng thời, chúng ta xác định: Đại đoàn kết toàn dân tộc là nguồn sức mạnh và là nhân tố có ý nghĩa quyết định bảo đảm thắng lợi bền vững của sự nghiệp cách mạng Việt Nam, không ngừng thúc đẩy sự bình đẳng và đoàn kết giữa các dân tộc, tôn giáo. Trong quá trình đổi mới đất nước, Đảng ta luôn coi trọng đổi mới hệ thống chính trị mà trọng tâm là xây dựng, hoàn thiện Nhà nước pháp quyền XHCN. Thực tiễn qua 35 năm đổi mới, tư duy lý luận của Đảng về xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền XHCN ngày càng đầy đủ và phát triển hơn, tạo cơ sở vững chắc cho việc xây dựng một nhà nước trong sạch, vững mạnh, đáp ứng được yêu cầu phát triển đất nước trên con đường đi lên CNXH.

          Xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền XHCN thật sự của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân, góp phần tạo sự đồng thuận, phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, đẩy mạnh sự nghiệp đổi mới, đưa đất nước vào giai đoạn phát triển mới theo tinh thần Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng./. 

Nhận diện: Lợi dụng vấn đề dân tộc trong chiến lược "diễn biến hòa bình", bạo loạn lật đổ của các thế lực thù địch

 



        Tây Nguyên của Việt Nam là nơi quy tụ đồng bào thuộc nhiều dân tộc khác nhau sinh sống. Các thế lực thù địch đang tập trung vào địa bàn này để chống phá. Được thế lực phản động nước ngoài hỗ trợ, chúng tìm mọi cách vô hiệu hoá vai trò lãnh đạo của các tổ chức đảng và hiệu lực của chính quyền các cấp, chia rẽ khối đại đoàn kết dân tộc, thực hiện âm mưu thành lập cái gọi là "nhà nước Đê Ga tự trị", tạo cớ để nước ngoài nhảy vào can thiệp. Chúng đã gây nên các cuộc bạo loạn chính trị ở nhiều nơi trên địa bàn Tây Nguyên (năm 2001 và 2004).

        Một số nét cơ bản về âm mưu, thủ đoạn chống phá hiện nay cho thấy, lợi dụng vấn đề dân tộc đã thực sự trở thành một trọng điểm trong chiến lược "diễn biến hoà bình", bạo loạn lật đổ của các thế lực thù địch đối với cách mạng Việt Nam. Qua công tác đấu tranh, chúng ta nhận diện âm mưu, thủ đoạn của địch trong "diễn biến hòa bình" về vấn đề dân tộc với một số nét cơ bản sau:

        - Vấn đề dân tộc là một trong những nội dung trọng tâm của "diễn biến hoà bình", được coi là vấn đề then chốt của địch nhằm phá vở khối đại đoàn kết toàn dân, đoàn kết dân tộc, chia rẽ Nhân dân vvới Đảng, Nhà nước.

        - Trong vấn đề dân tộc, địch tập trung tuyên truyền nhằm "khoét sâu", "nới rộng" mâu thuẫn nội bộ dân tộc thông qua triệt để khai thác, nhào nặn thông tin, tuyên truyền tiêu cực về dân sinh, dân trí, dânchủ, môi trường tự nhiên và văn hóa, xã hội.

        - Kích động hình thành tâm lý kỳ thị, phân biệt trong một bộ phận Nhân dân; xây dựng 'ngọn cờ" nhằm tập hợp lực lượng trong đồng bào dân tộc thiểu số.

        - Tuyên truyền xuyên tạc về tình hình dân tộc, thực hiện chính sách dân tộc của Đảng, Nhà nước, cấp ủy, chính quyền ở các địa phương. Một mặt nhằm gây mất ổn định về an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội. Mặt khác vừa tạo 'tiếng vang', kêu gọi tài trợ, vừa thúc đẩy sự can thiệp, gây sức ép của các tổ chức Quốc tế vào đời sống chính trị nước ta.

        Thứ nhất, lợi dụng vấn đề dân tộc với chiên lược "diễn biến hoà bình", bạo loạn lật đổ của các thế lực thù địch thống nhất với nhau về mục tiêu, nội dung, biện pháp chống phá cách mạng Việt Nam.

        Về mục tiêu, việc lợi dụng vấn đề dân tộc với chiến lược "diễn biến hoà bình", bạo loạn lật đổ của các thế lực thù địch đều là loại hoạt động tiến công chông phá cách mạng nước ta, đi đến loại trừ vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, xoá bỏ chế độ xã hội chủ nghĩa, phá vỡ khối đại đoàn kết dân tộc.

        Về nội dung tiến công, phá hoại, lợi dụng vấn đề dân tộc với chiến lược "diễn biến hoà bình", bạo loạn lật đổ diễn ra trên tất cả các lĩnh vực kinh tế, chính trị, tư tưởng, văn hoá, xã hội, an ninh, quốc phòng, đối ngoại.

        Về biện pháp thực hiện, lợi dụng vấn đề dân tộc với chiến lược "diễn biến hòa bình", bạo loạn lật đổ chủ yếu bằng các hoạt động phi vũ trang, bằng chính lực lượng từ bên trong có sự trợ lực, răn đe bằng sức mạnh toàn diện ở bên ngoài.

        Thứ hai, bắt nguồn từ đặc điểm Việt Nam là quốc gia đa dân tộc và tầm quan trọng đặc biệt của các dân tộc trong cách mạng Việt Nam hiện nay.

        Việt Nam là một quốc gia có 54 dân tộc, trong đó dân tộc Kinh (chiếm trên 86% dân số cả nước) là dân tộc đa số, còn lại 53 dân tộc (chiếm gần 16% dân số cả nước). Tuy là các dân tộc thiểu số nhưng 53 dân tộc thiểu số có vị trí, vai trò đặc biệt quan trọng, là một trong những nhân tố có ý nghĩa quyết định đến thành bại của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Vì thế, Đảng và Nhà nưởc ta luôn quan tâm sâu sắc đến vấn đề dân tộc, coi thực hiện tốt chính sách dân tộc vừa là mục tiêu, vừa là động lực của sự nghiệp cách mạng.

        Thấy được tầm quan trọng của các dân tộc hợp thành quốc gia dân tộc Việt Nam, kế tục chính sách mà thực dân Pháp và đế quốc Mỹ đã thực hiện trước đây, ngày nay các thê lực thù địch càng ráo riết, triệt đề khai thác, tận dụng vấn đề dân tộc, coi đó là một trọng điểm trong chiến lược "diễn biến hoà bình", bạo loạn lật đổ để chống phá cách mạng nưởc ta.

        Thứ ba, vùng các dân tộc thiểu số ở nước ta đang có những khó khăn mà kẻ địch có thể lợi dụng chống phá.

        Mặc dù, đã có sự quan tâm toàn diện và sâu sắc của Đảng, Nhà nước, toàn dân, toàn quân ta, song do nhiều nguyên nhân về lịch sử, địa lý... và cả những hạn chế, sai sót trong tổ chức thực hiện, cho đến nay vùng các dân tộc thiểu số của nưốc ta vẫn còn nhiều khó khăn cả về kinh tế, văn hoá, xã hội, quốc phòng, an ninh. Đời sống của đồng bào các dân tộc thiêu số nhiều nơi còn khó khăn, trình độ dân trí thấp, cơ sở hạ tầng phục vụ cho phát triển kinh tế, văn hoá, đời sống và quốc phòng, an ninh còn nhiều bất cập. Các thế lực thù địch đang triệt để lợi dụng những hạn chế đó để chống phá cách mạng nước ta. Vì thế, đây là một lý do giải thích vì sao lợi dụng vấn đề dân tộc trở thành một trọng điểm của chiến lược "diễn biến hoà bình", bạo loạn lật đổ của các thê lực thù địch đối vối cách mạng Việt Nam hiện nay. Từ đó, ta cần nhận thức sâu sắc và nêu cao cảnh giác, đối phó./.

NHẬN DIỆN VÀ CẢNH GIÁC VỚI CÁC QUAN ĐIỂM SAI TRÁI, THÙ ĐỊCH TRÊN MẠNG XÃ HỘI HIỆN NAY

 


Âm mưu, thủ đoạn và sự chống phá của các thế lực thù địch không hề thay đổi trong giai đoạn hiện nay, trái lại ngày càng tinh vi hơn. Chúng đã triệt để lợi dụng những thành tựu của cách mạng khoa học công nghệ, khai thác không gian mạng xã hội để gia tăng sức ảnh hưởng và tiếp tục không ngừng  chống phá Đảng và Nhà nước ta. 

          Chúng luôn tìm cách phủ nhận nền tảng tư tưởng của Đảng ta, cụ thể là phủ nhận học thuyết Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh.

Bằng cách tuyên truyền các thuyết “quái thai”, “đẻ non của lịch sử”, “CNXH cáo chung”... các thế lực thù địch đã tìm mọi cách phê phán triệt để, bôi đen hiện thực để đi đến bác bỏ hoàn toàn CNXH. Xoay quanh các luận điệu: CNXH ra đời ở các nước lạc hậu không đúng theo kịch bản của Mác, rằng: sự thất bại và sụp đổ ở Liên Xô và Đông Âu đã chứng tỏ rằng CNXH không có sức sống và nó chỉ được nặn ra từ đầu óc ngông cuồng của những người cộng sản. Bằng những lý lẽ xuyên tạc, bóp méo, ngụy biện chúng ra sức chứng minh CNXH là một hiện tượng không phù hợp với quy luật lịch sử. Từ đó chúng đi đến kết luận: “xã hội loài người chỉ ngừng lại ở CNTB” và “CNTB sẽ tồn tại vĩnh viễn như một điểm dừng của lịch sử ”

          Chúng sử dụng nhiều thủ đoạn, từ tinh vi thâm độc đến công khai trắng trợn nhằm trực tiếp hoặc gián tiếp phủ định các nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác - Lênin. Một số phản động khác thì tuyên truyền: chủ nghĩa Mác chỉ phù hợp với thế kỷ XIX, nay đã lỗi thời và lạc hậu. Chủ nghĩa Mác - Lênin phù hợp một chừng mực nào đó với trình độ lực lượng sản xuất và văn hoá Nga, không phù hợp với thế kỷ này, với nước ta. Từ những lập luận đó chúng đi đến những kết luận xuyên tạc như: Hồ Chí Minh chỉ là người dân tộc chủ nghĩa, lấy chủ nghĩa Mác- Lênin làm phương tiện, du nhập chủ nghĩa Mác- Lênin với thuyết đấu tranh giai cấp gây ra cảnh “nồi da nấu thịt” suốt mấy chục năm, rằng: đưa chủ nghĩa Mác - Lênin vào Việt Nam là một sai lầm.

           Phủ nhận CNXH và con đường đi lên CNXH ở nước ta, phủ nhận sự lãnh đạo của Đảng. Xoá bỏ chế độ XHCN là mục tiêu cuối cùng của chủ nghĩa đế quốc (CNĐQ). Thực hiện âm mưu này, trên lĩnh vực tư tưởng các thế lực phản động ra sức làm lung lạc ý chí của nhân dân ta với các luận điệu tuyên truyền: Việt Nam trước đây có sự giúp đỡ của các nước XHCN thì có thể bỏ qua giai đoạn phát triển TBCN, nay không còn sự giúp đỡ đó thì không thể đi lên CNXH được, hãy trở lại chế độ dân chủ nhân dân. Chúng xuyên tạc: đường lối phát triển kinh tế thị trường theo định hướng XHCN của ta là chắp vá, không tưởng.                 Chúng công kích đường lối, chính sách đổi mới của Đảng và Nhà nước, đặc biệt là định hướng XHCN.

Những thế lực chống cộng tập trung công kích đường lối đổi mới của Đảng và nhân dân ta bằng nhiều luận điệu xuyên tạc trắng trợn. Chúng cho rằng: Những thắng lợi trong công cuộc đổi mới của nước ta chẳng qua vì những người cách mạng Việt Nam đã quá độ sang CNTB, đi theo CNTB. chúng phê phán đường lối phát triển của ta lấy kinh tế nhà nước là chủ đạo tức là tập trung vào khu vực kinh tế kém hiệu quả, khó tránh khỏi tụt hậu, yêu cầu ta phát triển thị trường tự do tư bản, khuyến khích tư nhân phát triển…

Lợi dụng kết quả cuộc đấu tranh chống tham nhũng do Đảng ta tiến hành, chúng xuyên tạc, bóp méo, vu khống, suy diễn cho rằng đó là cuộc “thanh toán phe phái”, “trả thù cá nhân” giữa người này với người kia, nhóm này với nhóm khác vì “lợi ích nhóm”... Từ đó, nhằm gieo rắc những hoài nghi trong cán bộ, đảng viên và nhân dân. Chúng xuyên tạc các mối quan hệ cho rằng người này ủng hộ người kia, người này cùng ê kíp người kia, rồi tự phân chia phe phái. Từ những sự việc mà báo chí đã đưa tin, chúng đặt điều, vu khống, bóp méo, xuyên tạc nói rằng người này đang “dắt tay” người kia vào vị trí này, vị trí nọ; bình phẩm, phán xét rồi nhận định người này nghỉ thì người kia sẽ lên thay và cuộc chiến chống tham nhũng sẽ đi về đâu, “cán cân” quyền lực sẽ nghiêng về phe nào. Âm mưu của chúng là gây hoang mang, hoài nghi trong nhận thức tư tưởng trong Đảng và nhân dân về đường lối đổi mới và định hướng XHCN…
           Bên cạnh đó, chúng dùng chiêu “nắn dòng” đưa ra những thông tin bình phẩm về trình độ, năng lực của người này, người kia rồi đặt lên bàn cân so sánh. Khi cần “hạ bệ” cá nhân nào, chúng tập trung khoét sâu những hạn chế, khuyết điểm ở những ngành, những lĩnh vực mà cá nhân đó phụ trách; rồi quy kết trách nhiệm theo kiểu “bới lông tìm vết”, “có ít xít ra nhiều”; thậm chí là trắng trợn dựng chuyện, bịa đặt, đổi trắng thay đen, bóp méo hòng thay đổi bản chất của các vụ việc liên quan đến một số cán bộ, nhất là những đồng chí nằm trong quy hoạch nhân sự trước mỗi kì Đại hội Đảng...

Những luận điệu trên của các thế lực thù địch được xuất phát từ những mưu đồ đen tối, mang chủ định ác ý, thiên kiến… nên hoàn toàn xa rời sự thật lịch sử. Sự thật là ngày nay tuy CNXH ở Liên Xô và Đông Âu không còn tồn tại, song CNXH hiện thực trong hơn 100 năm qua đã đạt được những thành tựu có tầm thời đại và ý nghĩa lịch sử, đã khẳng định được sức sống của một hình thái kinh tế xã hội mới và là nhân tố cực kỳ quan trọng trong tiến trình phát triển của xã hội loài người. Tình trạng khủng hoảng toàn diện và sâu sắc vừa diễn ra ở các nước XHCN hoàn toàn không bắt nguồn từ bản chất của CNXH, mà bắt nguồn từ những sai lầm trong công cuộc xây dựng CNXH tích tụ lại nhưng không được kịp thời sửa chữa, đặc biệt là do sai lầm trong cải tổ, cải cách và đã để cho kẻ thù của CNXH lợi dụng. Có những sai lầm mang tính chủ quan của bản thân những người lãnh đạo, nhưng có những sai lầm mang tính khách quan khó tránh khỏi của một quá trình mò mẫm, tìm tòi, khai phá con đường xây dựng một hình thái kinh tế- xã hội mới chưa hề có trong lịch sử./.