Thứ Hai, 13 tháng 5, 2024

 THỰC TIỄN VIỆT NAM BÁC BỎ MỌI SỰ XUYÊN TẠC …                         

 Mới đây trên nhiều trang mạng phản động Phạm Trần đã phát tán bài viết: “94 năm có đảng - 94 năm mất tự do, tụt hậu”. Với nhiều luận điệu sai trái, xuyên tạc, y cho rằng “đảng đã cướp mất tự do của dân tộc, và là lực cản của tiến bộ”. Tuy nhiên, thực tiễn đất nước Việt Nam là minh chứng sinh động bác bỏ những luận điệu sai trái, phản động của Phạm Trần.

Thực tế cho thấy, từ khi thành lập đến nay, với đường lối đúng đắn và bản lĩnh của một Đảng cách mạng chân chính, Đảng Cộng sản Việt Nam đã lãnh đạo nhân dân ta thực hiện thành công cách mạng giải phóng dân tộc, tiến hành công cuộc xây dựng, bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa, ngày càng đạt được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử. 

Từ một nước thuộc địa, nửa phong kiến Việt Nam đã giành được độc lập, thống nhất; có nền dân chủ xã hội chủ nghĩa, tự quyết định con đường phát triển theo mục tiêu: Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh. Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của dân, do dân, vì dân được xây dựng, mọi quyền lực Nhà nước đều thuộc về nhân dân, thực hành quản lý, điều hành xã hội bằng pháp luật. Khối đại đoàn kết toàn dân tộc không ngừng được củng cố, nhân dân Việt Nam luôn tin tưởng, đoàn kết, bảo vệ chế độ, thực hiện hiệu quả đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách và pháp luật Nhà nước.

Với “xuất phát điểm” là nền kinh tế nghèo nàn, lạc hậu, lại chịu hậu quả nặng nề của chiến tranh, Việt Nam đã vươn lên trở thành quốc gia đang phát triển, có thu nhập trung bình. Năm 2023, trong bối cảnh kinh tế thế giới có nhiều biến động nhanh, khó lường, nhưng Việt Nam vẫn đảm bảo ổn định kinh tế vĩ mô, tốc độ tăng trưởng GDP đạt 5,05% so với năm trước. Quy mô nền kinh tế ước đạt đạt 430 tỷ USD, đứng thứ 34 thế giới, thứ 5 Đông Nam Á. Thu nhập bình quân đầu người năm 2023 đạt 101,9 triệu đồng/người, tương đương 4.284 USD. Việt Nam được các tổ chức quốc tế lớn, uy tín trên thế giới đánh giá có nền kinh tế năng động, sáng tạo và hội nhập quốc tế sâu rộng, hiệu quả.

 Nền văn hoá Việt Nam tiến tiến, đậm đà bản sắc dân tộc không ngừng được củng cố, phát triển, thực sự là nguồn lực nội sinh để phát triển kinh tế - xã hội, bảo vệ Tổ quốc. Đến năm 2022, Chỉ số phát triển con người (HDI) Việt Nam đạt 0,726 thuộc nhóm cao trên thế giới. Nhiều phong trào, cuộc vận động văn hóa được tổ chức có sức lan toả sâu rộng trong đời sống, tạo môi trường văn hóa, bảo vệ, phát huy những giá trị truyền thống tốt đẹp của dân tộc. Việt Nam đã trở thành “Đất nước của những di sản”, với những con người cần cù, thông minh, sáng tạo, hiện đại, thân thiện, là điểm đến của bạn bè quốc tế. Văn hoá thực sự “soi đường cho quốc dân” trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

Chất lượng cuộc sống của người dân không ngừng được nâng cao. Việt Nam đã tuyên bố hoàn thành Mục tiêu phát triển Thiên niên kỷ (MDGs) về xóa bỏ tình trạng nghèo đói cùng cực và thiếu đói, về đích trước 10 năm so với thời hạn. Mạng lưới y tế hoàn chỉnh, tổ chức tới tận thôn, bản và đang là mô hình mà nhiều nước trên thế giới quan tâm, học hỏi kinh nghiệm. Việt Nam đã chủ động sản xuất nhiều loại vắc xin phòng bệnh; bào chế và sản xuất được các thuốc thông thường bằng nguyên liệu sẵn có; kiểm soát và ngăn ngừa được nhiều dịch bệnh nguy hiểm. Đảm bảo an sinh xã hội, bảo vệ quyền con người, quyền công dân; thúc đẩy kinh tế phát triển,... được các tổ chức quốc tế, quốc gia trên thế giới đánh giá cao. Theo Báo cáo Hạnh phúc Thế giới năm 2024 - báo cáo thường niên lần thứ 11 - vừa được công ty Gallup International công bố, Việt Nam đứng thứ 54 trong tổng số 143 quốc gia/vùng lãnh thổ được khảo sát.

Thực hiện hiệu quả phương châm: “Chủ động và tích cự hội nhập quốc tế toàn diện, sâu rộng, Việt Nam là bạn, là đối tác tin cậy và thành viên tích cực, có trách nhiệm của cộng đồng quốc tế”. Đến nay, Việt Nam thiết lập quan hệ ngoại giao với 193 quốc gia trên thế giới , là thành của hơn 70 tổ chức quốc tế, nhất là của Liên hợp quốc, Diễn đàn hợp tác kinh tế Châu Á - Thái Bình Dương (APEC), Diễn đàn hợp tác Á - Âu (ASEM), Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO); Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN), v.v. Sự kiện Việt Nam được bầu vào Ủy ban Luật pháp quốc tế (ILC) 2023-2027, thành viên Hội đồng Nhân quyền Liên hiệp quốc nhiệm kỳ 2023-2025 và Ủy ban Liên chính phủ Công ước 2003 về bảo vệ di sản văn hóa phi vật thể của UNESCO nhiệm kỳ 2022-2026 với tín nhiệm cao là minh chứng rõ nét về uy tín, vị thế quốc tế cũng như vai trò là thành viên có trách nhiệm của Việt Nam trong cộng đồng quốc tế. 

Dưới sự lãnh đạo của Đảng, sự đoàn kết nỗ lực phấn đấu của toàn dân tộc, Việt Nam trở thành biểu tượng của nhân loại về thực hiện khát vọng độc lập, tự do, thống nhất, vững bước đi lên chủ nghĩa xã hội, trong một thế giới còn nhiều biến động. Đó là những minh chứng hùng hồn bác bỏ mọi xuyên tạc của Phạm Trần./.



 ĐẤU TRANH BÁC BỎ NHỮNG LUẬN ĐIỆU SAI TRÁI CỦA CÁC THẾ LỰC THÙ ĐỊCH VỀ DÂN CHỦ, NHÂN QUYỀN Ở NƯỚC TA

Trong thời kỳ đổi mới, Đảng ta luôn nhất quán chủ trương xây dựng và hoàn thiện nền dân chủ xã hội chủ nghĩa, bảo đảm tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân. Mọi đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước đều vì lợi ích của nhân dân; cán bộ, công chức phải hoàn thành tốt chức trách, nhiệm vụ được giao, tôn trọng nhân dân, tận tụy phục vụ nhân dân...

Vậy mà, các thế lực thù địch vẫn ra sức xuyên tạc, đưa ra nhiều luận điệu sai trái, nhằm chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân, hạ thấp uy tín của Đảng và Nhà nước ta. Trên trang phản động của RFA một số phần tử phản động cố ý xuyên tạc, cho rằng: “Ý kiến của nhân dân trong mọi trường hợp đều không được lắng nghe”; và kích động: “Nếu ai nói gì trái ý người có chức quyền có thể bị trả thù, trù dập…”. Đây là luận điệu “quen thuộc” của những phần tử phản động, thường xuyên lợi dụng tự do, dân chủ để xuyên tạc tình hình thực hiện dân chủ, nhân quyền ở nước ta; hòng gây hoang mang, hoài nghi trong dư luận xã hội, kích động những người nhẹ dạ, kém hiểu biết, những phần tử bất mãn hùa theo, để phá hoại khối đại đoàn kết dân tộc, chống phá Đảng và Nhà nước. Mỗi cán bộ, đảng viên và người dân cần đề cao cảnh giác để không bị mắc mưu của kẻ xấu. 

Văn kiện Đại hội XIII của Đảng khẳng định: Trong mọi công việc của Đảng và Nhà nước, phải luôn quán triệt sâu sắc quan điểm “dân là gốc”, thật sự tin tưởng, tôn trọng và phát huy quyền làm chủ của nhân dân. Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng là phương châm, mục tiêu, động lực để thực hiện thành công sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Trên thực tế, đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước được phổ biến rộng rãi đến mọi tầng lớp nhân dân. Các kỳ họp Quốc hội được phát thanh, truyền hình trực tiếp để nhân dân theo dõi, giám sát và góp ý. Người dân được trực tiếp đóng góp ý kiến vào dự thảo chủ trương, chính sách, pháp luật tại các hội nghị, hội thảo, các trang web của bộ, ban, ngành chủ trì soạn thảo hoặc thông qua các cơ quan dân cử. Những ý kiến chưa phù hợp được các cơ quan có liên quan giải thích, tuyên truyền, thuyết phục tạo sự thống nhất, đồng thuận. Trước và sau mỗi kỳ họp Quốc hội các đoàn đại biểu đều tiếp xúc lắng nghe tâm tư, nguyện vọng, kiến nghị của cử tri; kiến nghị xác đáng được cơ quan chức năng giải quyết kịp thời. Hoạt động chất vấn tại các kỳ họp Quốc hội, hội đồng nhân dân diễn ra dân chủ, kịp thời giải quyết những vướng mắc trong nhân dân. Định kỳ, Quốc hội, hội đồng nhân dân lấy phiếu tín nhiệm đối với các chức danh do Quốc hội, hội đồng nhân dân bầu; đặc biệt là chính quyền các cấp đã có nhiều tiến bộ trong tiếp dân, đối thoại với dân và giải quyết đơn, thư khiếu nại, tố cáo của công dân. 

Chỉ tính riêng dự thảo các Văn kiện Đại hội XIII của Đảng, đã tổ chức gần 60 cuộc hội thảo, tọa đàm; 50 đoàn đi khảo sát thực tế; 80 báo cáo tư vấn; các tiểu ban họp 20 phiên; Ban Chấp hành Trung ương tổ chức 4 hội nghị; báo cáo chính trị chỉnh sửa 30 lần; các tầng lớp nhân dân đóng góp hàng triệu lượt ý kiến, tổng hợp được 1.410 trang. Bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XV và đại biểu hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2021-2026 đã có gần 70 triệu cử tri đi bầu cử đạt 99,60%. Dự thảo Luật Đất đai (sửa đổi) năm 2024 được thảo luận, cho ý kiến tại 4 kỳ họp Quốc hội, 2 Hội nghị đại biểu Quốc hội hoạt động chuyên trách, 6 phiên họp chính thức của Ủy ban Thường vụ Quốc hội; được chỉnh lý, tiếp thu ý kiến của các chuyên gia, nhà khoa học và trên 12 triệu lượt ý kiến của nhân dân. Đối với các hành vi vi phạm pháp luật, các trường hợp tham nhũng, tiêu cực đều bị xử lý nghiêm minh, không có vùng cấm, không có ngoại lệ, được nhân dân đồng tình ủng hộ, cộng đồng quốc tế đánh giá cao. Giai đoạn 2012-2022, cấp ủy, ủy ban kiểm tra các cấp đã thi hành kỷ luật 2.740 tổ chức đảng, hơn 167.700 cán bộ, đảng viên, trong đó có 7.390 đảng viên bị kỷ luật do tham nhũng; đã kỷ luật 170 cán bộ thuộc diện Trung ương quản lý. Kết quả nêu trên khẳng định bản chất tốt đẹp của Đảng, Nhà nước và chế độ xã hội chủ nghĩa ở nước ta; đồng thời là bằng chứng đanh thép bác bỏ hoàn toàn những luận điệu sai trái, xuyên tạc của các phần tử phản động. Xứng đáng tin tưởng tuyệt đối vào sự lãnh đạo của Đảng, mỗi cán bộ, đảng viên và người dân cần hết sức tỉnh táo và cảnh giác, nhận diện chính xác, kiên quyết đấu tranh bác bỏ những luận điệu sai trái. Bảo vệ Đảng, Nhà nước, chế độ xã hội chủ nghĩa và cuộc sống bình yên của nhân dân ta./.



Đẩy mạnh đổi mới công tác giáo dục và đào tạo trong Quân đội

 Đẩy mạnh đổi mới công tác giáo dục và đào tạo trong Quân đội là quá trình quán triệt sâu sắc và hiện thực hóa các quan điểm của Đảng, Nghị quyết của Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng về giáo dục và đào tạo, mà trực tiếp là Nghị quyết số 1657-NQ/QUTW. Theo đó, các đơn vị trong toàn quân mà nòng cốt là các nhà trường Quân đội cần triển khai quyết liệt, đồng bộ, hiệu quả các chủ trương, giải pháp, tạo đột phá về chất lượng giáo dục và đào tạo đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ xây dựng Quân đội trong tình hình mới.

Thực hiện chủ trương chiến lược của Đảng về đổi mới, phát triển giáo dục và đào tạo, những năm qua, công tác giáo dục và đào tạo trong Quân đội có bước phát triển mạnh mẽ, đạt nhiều thành tích nổi bật. Toàn quân đã quán triệt, thực hiện nghiêm túc Nghị quyết số 29-NQ/TW, ngày 04/11/2013 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa XI), các nghị quyết, chỉ thị, đề án, kế hoạch, chương trình hành động của Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng về giáo dục và đào tạo. Hệ thống nhà trường Quân đội được quy hoạch, đầu tư nâng cấp về mọi mặt, từng bước hòa nhập với hệ thống giáo dục quốc gia và hội nhập quốc tế. Việc đổi mới, nâng cao chất lượng giáo dục và đào tạo được triển khai thực hiện quyết liệt theo hướng chuẩn hóa, hiện đại hóa. Quy trình, chương trình, nội dung thường xuyên được đổi mới, bám sát thực tiễn xây dựng Quân đội, tăng cường quốc phòng, an ninh và bảo vệ Tổ quốc. Đội ngũ nhà giáo, cán bộ quản lý giáo dục được quan tâm xây dựng, có sự phát triển toàn diện, chất lượng ngày càng nâng cao1. Các đơn vị, nhà trường Quân đội đã tích cực đổi mới phương pháp dạy học, ứng dụng thành tựu khoa học, công nghệ, sử dụng phương tiện, thiết bị hiện đại trong giảng dạy. Công tác kiểm tra, thanh tra, khảo thí và bảo đảm chất lượng giáo dục và đào tạo phát huy tốt hiệu quả. Uy tín của các nhà trường Quân đội ngày càng được khẳng định, v.v. Những kết quả đó đã góp phần quan trọng vào phát triển nguồn nhân lực, nâng cao chất lượng tổng hợp, sức mạnh chiến đấu của Quân đội.

Bên cạnh kết quả đạt được, công tác giáo dục và đào tạo trong Quân đội vẫn tồn tại một số hạn chế, có mặt chưa theo kịp xu thế phát triển và yêu cầu, nhiệm vụ. Quy trình, chương trình đào tạo của một số đối tượng chưa phù hợp; việc đổi mới phương pháp dạy học có lúc, có nơi còn chậm, thiếu đồng bộ. Năng lực, trình độ của một số nhà giáo, cán bộ quản lý chưa đáp ứng mục tiêu, yêu cầu đặt ra, v.v. Những hạn chế trên không chỉ trực tiếp ảnh hưởng đến kết quả giáo dục và đào tạo, mà còn ảnh hưởng đến chất lượng đội ngũ cán bộ Quân đội trong tương lai. Bởi vậy, các vấn đề trên cần phải được xem xét một cách nghiêm túc, thấu đáo, xác định rõ nguyên nhân để có biện pháp khắc phục kịp thời.

Những năm tới, dự báo tình hình thế giới, khu vực tiếp tục có nhiều biến động nhanh, phức tạp. Cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, nhất là công nghệ số phát triển vượt bậc, tạo những bước tiến mới có tính đột phá trên các lĩnh vực của đời sống xã hội, trong đó có giáo dục và đào tạo. Toàn quân đang triển khai Nghị quyết số 05-NQ/TW của Bộ Chính trị về tổ chức Quân đội nhân dân Việt Nam giai đoạn 2021 - 2030 và những năm tiếp theo, với mục tiêu đến năm 2025 cơ bản xây dựng Quân đội tinh, gọn, mạnh, tạo tiền đề vững chắc, phấn đấu năm 2030 xây dựng Quân đội nhân dân Việt Nam cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại. Vì thế, để đẩy mạnh đổi mới công tác giáo dục và đào tạo đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ xây dựng Quân đội trong tình hình mới cần tập trung vào một số nội dung, giải pháp chủ yếu sau:

1. Cấp ủy, chỉ huy các cấp tăng cường sự lãnh đạo, chỉ đạo, tạo đột phá trong đổi mới giáo dục và đào tạo

Cấp ủy, chỉ huy các đơn vị, nhà trường Quân đội quán triệt sâu sắc Nghị quyết số 05-NQ/TW của Bộ Chính trị, các nghị quyết, chỉ thị của Đảng, Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng, nhất là Nghị quyết số 1657-NQ/QUTW, ngày 20/12/2022 của Quân ủy Trung ương về đổi mới công tác giáo dục và đào tạo đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ xây dựng Quân đội trong tình hình mới, xem đó là yêu cầu bức thiết, nhiệm vụ chính trị quan trọng nhằm phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao, phục vụ mục tiêu xây dựng Quân đội tiến lên hiện đại. Trên cơ sở đó, tập trung lãnh đạo, chỉ đạo, tiếp tục làm tốt việc quán triệt nhiệm vụ, xây dựng động cơ, trách nhiệm cho các đối tượng. Khẩn trương rà soát, điều chỉnh, bổ sung, xây dựng, ban hành kế hoạch, chương trình hành động, tạo được sự nhảy vọt về chất trong giáo dục và đào tạo.

Các cơ quan chức năng của Bộ Quốc phòng, nhất là Cục Nhà trường chủ động bám sát thực tiễn, tham mưu cho Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng, Bộ Tổng Tham mưu và chỉ đạo, hướng dẫn các đơn vị, nhà trường thực hiện thắng lợi mục tiêu đổi mới. Trước mắt, cần tập trung lãnh đạo xây dựng và triển khai thực hiện tốt nghị quyết chuyên đề, kế hoạch, chương trình hành động và Kế hoạch số 450/KH-BQP, ngày 20/02/2023 của Bộ Quốc phòng. Các đơn vị, nhà trường tập trung lãnh đạo, chỉ đạo quyết liệt và có giải pháp tối ưu, sát với chức năng, nhiệm vụ được giao, tiếp tục thực hiện tốt phương châm “Chất lượng đào tạo của nhà trường là khả năng sẵn sàng chiến đấu của đơn vị”; kết hợp chặt chẽ giữa “xây” và “chống”, chủ động đấu tranh với tư tưởng bảo thủ, trì trệ, thỏa mãn dừng lại; bệnh thành tích, bệnh hình thức trong quá trình đổi mới.

2. Tiếp tục đổi mới mạnh mẽ quy trình, chương trình, nội dung đào tạo và phương pháp dạy học

Đây là một trong những nội dung cốt lõi, quyết định đổi mới giáo dục, đào tạo và chất lượng đào tạo của các nhà trường Quân đội. Thời gian qua, mặc dù chúng ta đã đạt được kết quả quan trọng, nhưng so với yêu cầu phát triển Quân đội cùng với sự phát triển của thực tiễn bảo vệ Tổ quốc vẫn bộc lộ những hạn chế, bất cập. Vì vậy, các cơ quan, đơn vị, nhà trường cần nâng cao năng lực lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện, tạo sự đột phá về đổi mới quy trình, chương trình, nội dung đào tạo và phương pháp dạy học. Các nhà trường bám sát nội dung Đề án “Đổi mới quy trình, chương trình đào tạo cán bộ các cấp trong Quân đội đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trong tình hình mới” tập trung xây dựng, chuẩn hóa chương trình đào tạo, chuẩn đầu ra cho các đối tượng theo mục tiêu, yêu cầu đào tạo. Tiến hành rà soát, chắt lọc, tinh chỉnh nội dung, chương trình đào tạo, đề cương môn học, học phần theo chuẩn đầu ra sát với thực tế đơn vị; bám sát sự phát triển của vũ khí, trang bị, khoa học, nghệ thuật quân sự, mục tiêu xây dựng Quân đội tinh, gọn, mạnh tiến lên hiện đại và những yêu cầu mới đặt ra trong thời đại số. Chú trọng cập nhật những phát triển mới về lĩnh vực quân sự, quốc phòng, bảo vệ Tổ quốc vào nội dung, chương trình đào tạo.

Tiếp tục đẩy mạnh đổi mới hình thức, phương pháp dạy học theo hướng hiện đại; coi trọng tổ chức tốt việc tập huấn, bồi dưỡng, trao đổi, chia sẻ kinh nghiệm về phương pháp dạy, học và các hoạt động ngoại khóa, hội thao, hội thi, qua đó nâng cao phương pháp tổ chức và kỹ năng cho giảng viên, giáo viên, học viên. Đặc biệt, đẩy mạnh thực hiện Dự án “Xây dựng hệ thống công nghệ thông tin phục vụ chuyển đổi số trong công tác giáo dục và đào tạo”. Nghiên cứu và triển khai các biện pháp tối ưu hóa quá trình dạy - học, tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin, mô phỏng, chuyển đổi số. Kết hợp chặt chẽ giữa đổi mới phương pháp dạy với đổi mới phương pháp học của học viên, chuyển hóa quá trình đào tạo trở thành quá trình tự đào tạo. Tiếp tục đổi mới hình thức, phương pháp thi, kiểm tra, đánh giá kết quả, bảo đảm “dạy thực chất, học thực chất, đánh giá kết quả thực chất”, kiên quyết chống bệnh thành tích, tiêu cực trong giáo dục và đào tạo.

3. Đẩy mạnh kiện toàn hệ thống nhà trường gắn với xây dựng, phát triển đội ngũ nhà giáo, cán bộ quản lý giáo dục ngang tầm yêu cầu nhiệm vụ

Đội ngũ nhà giáo, cán bộ quản lý giáo dục là nhân tố có ý nghĩa quyết định đến chất lượng giáo dục, đào tạo. Vì vậy, hơn lúc nào hết các nhà trường cần kiện toàn, phát triển đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục đủ về số lượng, đồng bộ về cơ cấu, độ tuổi, chuyên ngành, chuẩn hóa về chất lượng và có lượng dự trữ phù hợp. Để làm được điều đó, toàn quân phải bám sát định hướng của Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng đẩy mạnh kiện toàn hệ thống nhà trường đảm bảo tinh, gọn, hiệu quả, phù hợp với yêu cầu xây dựng Quân đội trong tình hình mới. Trước mắt, xây dựng và triển khai thực hiện tốt các đề án sáp nhập, giải thể, nâng cấp một số trường theo Kế hoạch số 1228/KH-BQP, ngày 25/4/2022 của Bộ Quốc phòng về thực hiện Nghị quyết số 230-NQ/QUTW của Quân ủy Trung ương về tổ chức Quân đội nhân dân Việt Nam giai đoạn 2021 - 2030 và những năm tiếp theo2.

Trong bối cảnh mới, các nhà trường cần khẩn trương triển khai thực hiện Đề án “Xây dựng đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục trong Quân đội giai đoạn 2023 - 2030”. Quá trình thực hiện, chú trọng làm tốt công tác quy hoạch, tạo nguồn, kết hợp chặt chẽ giữa đào tạo, bồi dưỡng với đề bạt, bổ nhiệm, bố trí sử dụng kết hợp chăm lo nâng cao đời sống vật chất, tinh thần, bảo đảm tốt các chế độ, chính sách đãi ngộ đối với đội ngũ nhà giáo, cán bộ quản lý giáo dục. Chăm lo xây dựng, phát triển đội ngũ nhà giáo có trình độ chuyên môn cao, có chức danh khoa học, giáo viên dạy giỏi, nhà giáo ưu tú, nhà giáo nhân dân. Tăng cường đào tạo, bồi dưỡng nâng cao kỹ năng, phương pháp sư phạm, trình độ ngoại ngữ, công nghệ thông tin cho các nhà giáo; từng năm học, khóa học tổ chức tốt các cuộc diễn tập chỉ huy, cơ quan gắn với đối tượng đào tạo, giúp đội ngũ cán bộ, giảng viên gắn lý luận với thực tiễn. Xây dựng và thực hiện tốt kế hoạch luân chuyển giảng viên, cán bộ quản lý giáo dục giữ cương vị quản lý, chỉ huy ở các đơn vị để rèn luyện, tích lũy kinh nghiệm thực tiễn. Mỗi giảng viên, cán bộ quản lý giáo dục thường xuyên tự giác tu dưỡng, rèn luyện, trở thành tấm gương sáng về đạo đức, trí tuệ, phương pháp, phong cách và tác phong công tác.

4. Tăng cường công tác quản lý giáo dục, quản trị nhà trường; tích cực huy động các nguồn lực đầu tư chuẩn hóa, hiện đại hóa cơ sở vật chất, trang thiết bị dạy học

Các nhà trường tiếp tục nâng cao chất lượng xây dựng chính quy, quản lý kỷ luật, xây dựng môi trường văn hóa quân sự, môi trường sư phạm lành mạnh, chuẩn mực, thực hiện nhà trường đi trước và làm gương cho đơn vị. Trọng tâm hướng vào thực hiện tốt việc xây dựng nhà trường, cơ quan, khoa giáo viên, đơn vị quản lý học viên vững mạnh toàn diện, “mẫu mực, tiêu biểu”. Các cơ quan chức năng của Bộ Quốc phòng thường xuyên nắm chắc tình hình, chủ động tham mưu, đề xuất sửa đổi, bổ sung một số văn bản quy phạm pháp luật trong giáo dục, đào tạo và công tác nhà trường Quân đội, bảo đảm thống nhất, phù hợp với đặc điểm, tình hình, chức năng nhiệm vụ của Quân đội trong tình hình mới và yêu cầu đổi mới, phát triển giáo dục, đào tạo. Ưu tiên nghiên cứu hoàn thiện cơ chế quản lý, xây dựng các nhà trường Quân đội theo mô hình “ Nhà trường thông minh, tiếp cận cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư” gắn với phát triển Chính phủ điện tử hướng tới Chính phủ số trong Bộ Quốc phòng.

Trước hết, cần đẩy nhanh tiến độ xây dựng một số học viện, trường sĩ quan thành trường trọng điểm trong Quân đội, ngang tầm với các trường trọng điểm quốc gia và khu vực. Huy động các nguồn lực đầu tư nâng cấp, hiện đại hóa cơ sở hạ tầng, trang thiết bị dạy học cho các nhà trường. Trong điều kiện nguồn lực có hạn, để phát huy hiệu quả, cần cân đối đầu tư có trọng tâm, trọng điểm, tập trung hiện đại hóa thao trường, bãi tập tương thích với vũ khí, trang bị hiện đại. Chú trọng ưu tiên hiện đại hóa hạ tầng công nghệ thông tin, xây dựng các trung tâm điều hành huấn luyện, trung tâm huấn luyện mô phỏng, phòng học đa năng, phòng học thực hành, thí nghiệm, thư viện số, thư viện điện tử. Từng bước hiện thực hóa mục tiêu xây dựng các nhà trường Quân đội theo Đề án “Nhà trường thông minh, tiếp cận cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư”.

Giáo dục và đào tạo trong Quân đội là một trong những nhiệm vụ chính trị trọng tâm, quan trọng hàng đầu của cấp ủy, chỉ huy các cấp. Vì thế, đẩy mạnh đổi mới giáo dục và đào tạo trở thành vấn đề lớn, cốt lõi, cấp thiết, nhằm chuyển mạnh quá trình giáo dục từ chủ yếu trang bị kiến thức sang phát triển toàn diện năng lực và phẩm chất người học. Theo đó, các cơ quan, đơn vị, nhà trường cần tăng cường quán triệt các chỉ thị, nghị quyết của Đảng, trực tiếp là các nghị quyết, chỉ thị của Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng và sự phát triển của thực tiễn, tiếp tục đổi mới, tạo chuyển biến căn bản, toàn diện chất lượng, hiệu quả công tác giáo dục và đào tạo trong Quân đội, góp phần xây dựng đội ngũ cán bộ có phẩm chất chính trị, đạo đức, năng lực tốt, “dám nghĩ, dám nói, dám làm, dám chịu trách nhiệm, dám đổi mới, sáng tạo, dám đương đầu với khó khăn, thử thách, dám hành động vì lợi ích chung”, thực hiện thắng lợi mục tiêu xây dựng Quân đội “cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại”, bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.

Trung tướng NGUYỄN DOÃN ANH, Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Ủy viên Quân ủy Trung ươngPhó Tổng Tham mưu trưởng Quân đội nhân dân Việt Nam


Nguồn: Tạp chí Quốc phòng toàn dân


 BÁC BỎ SỰ XUYÊN TẠC CHO RẰNG CHÚNG TA KHÔNG CÓ PHẢN BIỆN ĐỘC LẬP

 Vừa  qua, trên trang “Boxitvn” , Chu Hồng Quý đăng tải bài viết “Tăng cường phản biện xã hội để Đảng tiến bộ, Chính phủ hoạt động hiệu quả, Đất nước văn minh hơn”. Quý cho rằng: “chúng ta không có phản biện độc lập”; rằng: “Vì không nghe lời phản biện của giới chuyên gia cảnh báo nên 528 triệu USD mà PVEP/PVN mất trắng đầu tư sang Venezuela như đổ sông đổ biển”. Thực chất đây là những luận điệu xuyên tạc, bóp méo sự thật, nhằm thực hiện âm mưu kích động quần chúng nhân dân, chống phá Đảng và Nhà nước ta. Những âm mưu, thủ đoạn này đối lập hoàn toàn với phản biện xã hội, mà chính là gây phức tạp tình hình xã hội; chúng đội lốt phản biện xã hội để phá bĩnh, thúc đẩy sự đối kháng trong xã hội.

 Phản biện xã hội là một hình thức, một biện pháp cụ thể thể hiện quyền của nhân dân và ý thức trách nhiệm của nhân dân đối với công việc chung của đất nước; thể hiện mối quan hệ mật thiết giữa Đảng và Nhà nước với Nhân dân; thể hiện lòng tin của Đảng, Nhà nước đối với trình độ chính trị, mức độ hiểu biết của nhân dân về lãnh đạo và quản lý.

 Đảng, Nhà nước ta luôn coi trọng ý kiến đóng góp phê bình, kiến nghị với Đảng và Nhà nước về các vấn đề quốc kế dân sinh của mọi tầng lớp nhân dân, các tổ chức chính trị, xã hội, tổ chức xã hội. Mọi đường lối, chính sách của Đảng và pháp luật của Nhà nước đều vì lợi ích của nhân dân, có sự tham gia ý kiến của nhân dân; phát huy vai trò và tạo điều kiện thuận lợi để Mặt trận và các đoàn thể nhân dân tham gia xây dựng đường lối, chủ trương, chính sách, pháp luật của Đảng và Nhà nước, thực hiện vai trò giám sát và phản biện xã hội... Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng đã khẳng định: “Thực hành và phát huy rộng rãi dân chủ xã hội chủ nghĩa, quyền làm chủ và vai trò tự quản của nhân dân”  Ban Bí thư Trung ương Đảng đã ban hành Chỉ thị số 18-CT/TW, ngày 26/10/2022 về “Phát huy vai trò, nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác giám sát, phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị-xã hội”.

Đảng và Nhà nước ta luôn khuyến khích các diễn đàn phản biện xã hội với ý thức trách nhiệm và tinh thần xây dựng, các ý kiến đóng góp có tính khoa học, thực tiễn, chỉ ra những tồn tại, hạn chế và nguyên nhân, giải pháp để ngày càng hoàn thiện các chủ trương, chính sách, phục vụ thiết thực cho công cuộc xây dựng và phát triển đất nước. 

 Trong đời sống chính trị - xã hội của một đất nước luôn tồn tại nhu cầu cá nhân đưa ra những quan điểm, chính kiến của mình, cũng như cơ quan nhà nước lựa chọn, tranh thủ ý kiến, nhận xét của các tổ chức, cá nhân, xã hội để đưa ra những quyết sách đúng đắn, kịp thời, hợp lý nhất trong quá trình nhận diện và giải quyết các vấn đề cuộc sống đặt ra. Phản biện xã hội về thực chất là người dân, các tổ chức chính trị - xã hội, xã hội - nghề nghiệp góp sức với Đảng và Nhà nước trong việc xây dựng các chủ trương, chính sách, chuẩn bị các quyết định về chương trình, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội. 

 Thực tiễn trong xây dựng các chủ trương, chính sách pháp luật như xây dựng Luật Khám bệnh, chữa bệnh 2023, Luật Đấu thầu 2023, Luật Đất đai 2024,....Văn kiện đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XIII đều lấy ý kiến của nhân dân... để phát hiện những điểm chưa chính xác, chưa phù hợp với đời sống xã hội và lợi ích chính đáng của nhân dân để kiến nghị cơ quan, tổ chức có thẩm quyền xem xét sửa đổi, bổ sung cho chính xác, phù hợp.

 Như vậy, có thể thấy, các chủ trương chính sách của Đảng, Nhà nước ta đều được lấy ý kiến đóng góp của đông đảo quần chúng nhân dân. Đây là minh chứng cho thấy Nhà nước ta thực sự là nhà nước của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân. Những luận điệu xuyên tạc của Chu Hồng Quý về Việt Nam chúng ta không có phản biện độc lập là không có cơ sở. Mục đích của chúng nhằm kích động, gây chia rẽ, phá hoại mối đoàn kết giữa nhân dân với Đảng, thực hiện mưu đồ chống phá Đảng, Nhà nước ta. Vì vậy, mọi người cần nhận diện, cách giác và đấu tranh với những luận điệu sai trái trên./.




 CẢNH GIÁC VỚI THỦ ĐOẠN XUYÊN TẠC CHỦ TRƯƠNG CỦA ĐẢNG, NHÀ NƯỚC VỀ BẢO VỆ BIÊN GIỚI QUỐC GIA

Lợi dụng việc phân giới cắm mốc, tổ chức lực lượng bảo đảm an ninh - quốc phòng, xây dựng công trình phòng thủ trên tuyến biên giới, các thế lực thù địch, phản động sử dụng thông tin và tư liệu lịch sử sai lệch viết bài, đưa tin lên các diễn đàn mạng xã hội đánh lừa dư luận, thực hiện mưu đồ chống phá.

Thực hiện chủ trương tăng cường quốc phòng, an ninh “Bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa”, những năm gần đây, các địa phương có chung đường biên giới với nước láng giềng Campuchia trên địa bàn Quân khu tổ chức nhiều hoạt động giao lưu kết nghĩa, thực hiện các mô hình, cách làm sáng tạo đưa dân ra biên giới, đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng, triển khai các dự án kinh tế - quốc phòng, tạo mọi điều kiện để người dân làm ăn, sinh sống, góp phần giữ vững biên giới hòa bình, hữu nghị và phát triển.

Để xây dựng “thế trận lòng dân” trên biên giới ngày càng vững chắc, các địa phương đẩy mạnh công tác tuyên truyền vận động Nhân dân nhận thức đầy đủ những chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước về xây dựng nền quốc phòng toàn dân, chiến tranh nhân dân bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới; đẩy mạnh ký kết, kết nghĩa với công tác ngoại giao nhân dân, giải quyết tốt những vấn đề về an ninh biên giới, chính sách dân tộc, tôn giáo, an sinh xã hội, giữ vững an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội trên địa bàn.

Tuy nhiên, các tổ chức phản động ra sức xuyên tạc chính sách dân tộc, tôn giáo của Đảng và Nhà nước, xuyên tạc lịch sử, mối quan hệ giữa các dân tộc và chủ trương phát triển kinh tế - xã hội trên tuyến biên giới. Chúng cho rằng việc phát triển các dự án kinh tế là nguyên nhân đẩy đồng bào các dân tộc thiểu số lâm vào tình cảnh khốn khó, mất nguồn sinh kế. Chúng kích động mâu thuẫn giữa các dân tộc và xuyên tạc người Kinh đã lấy đất, phá rừng, gây khó khăn cho đồng bào các dân tộc tham gia các dự án kinh tế - quốc phòng, nhằm phá hoại khối đại đoàn kết toàn dân tộc, làm suy yếu sức mạnh của quân dân ta trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Các đối tượng làm sai lệch tư liệu lịch sử, xuyên tạc, bịa đặt Việt Nam xâm chiếm đất của nước láng giềng nhằm phá hoại việc phân giới cắm mốc,  đưa ra những thông tin thất thiệt về xây dựng các công trình phòng thủ gây hoang mang trong dư luận, gây chia rẽ tình hữu nghị Việt Nam - Campuchia.

Trên thực tế đa số người dân nhận thức đúng đắn về quan điểm, đường lối của Đảng, Nhà nước về công tác đối ngoại, về chính sách dân tộc tôn giáo, về  bảo vệ chủ quyền lãnh thổ quốc gia, chính sách an sinh xã hội, “không nghe”, “không làm theo” những luận điệu tuyên truyền xuyên tạc. Nhưng vẫn còn một số người vì thiếu nhận thức hoặc nhận thức lệch lạc chủ trương, đường lối của Đảng và Nhà nước, không chắt lọc thông tin đúng-sai trên mạng xã hội, vô tình tuyên truyền cho mưu đồ của chúng.

Tăng cường xây dựng các công trình phòng thủ, bảo đảm an ninh, quốc phòng, phát triển kinh tế - xã hội trên tuyến biên giới góp phần thực hiện kế sách “giữ nước từ sớm, từ xa, từ khi nước chưa nguy”. Mỗi cán bộ, đảng viên và Nhân dân cần chủ động tham gia đấu tranh làm thất bại mọi âm mưu, thủ đoạn xuyên tạc của các thế lực thù địch chống phá công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN./.


 CẢNH GIÁC VỚI LUẬN ĐIỆU “XÂY DỰNG NHÀ NƯỚC TAM QUYỀN PHÂN LẬP”

Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng (01/2021) đã đề ra chủ trương tiếp tục đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị, tinh gọn, hoạt động hiệu lực hiệu quả. Thế nhưng, các thế lực thù địch luôn tập trung chống phá vào vấn đề Nhà nước – yếu tố trung tâm của hệ thống chính trị ở Việt Nam. Một số người tự xưng “người nghiên cứu luật học” cho rằng: phải xây dựng nhà nước Việt Nam theo kiểu “tam quyền phân lập” như các nước phương Tây, xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước và toàn xã hội. Họ coi đây là con đường, biện pháp để “dân chủ hóa”, để “phá vỡ độc đoán, chuyên quyền”. Đây là những luận điệu sai trái, nhằm xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng với Nhà nước, xóa bỏ chế độ XHCN ở nước ta.

Nghiên cứu lịch sử về nhà nước pháp quyền, chúng ta thấy rằng tư tưởng phân quyền có từ thời cổ đại ở phương Tây, với nội dung chính là: Trong bất kỳ nhà nước nào cũng cần phải có những yếu tố bắt buộc: cơ quan làm ra luật có trách nhiệm trông coi việc nước, các cơ quan thực thi pháp luật và các tòa án. Đây là nội dung có ý nghĩa tích cực, để chống lại sự chuyên quyền của các lãnh chúa, nhà vua trong chế độ phong kiến. Tuy nhiên, những người theo thuyết này họ không nhận thấy tính chất thống nhất, hữu cơ của quyền lực nhà nước; lập pháp nằm trong mối quan hệ với hành pháp và tư pháp; hành pháp và tư pháp xác định vị trí của mình cũng như vậy. Quyền lực nhà nước vốn dĩ là một chỉnh thể, bao gồm các bộ phận cấu thành quan hệ hữu cơ với nhau và với toàn bộ quyền lực nhà nước, không thể phân tách độc lập và yêu cầu các quyền chế ước, kiểm soát “tuyệt đối” lẫn nhau được. 

Trên thực tiễn, quyền lực nhà nước tư sản dù có cố tổ chức theo tam quyền phân lập, nhưng thực chất vẫn là thống nhất, không tách rời. Một số người ca ngợi Hoa Kỳ là một “mẫu hình”, “thể hiện thành công nhất” về “tam quyền phân lập”. Nhưng trong thực tiễn nền chính trị Hoa Kỳ, phân quyền chỉ có trong văn bản Hiến pháp mà thôi; dù có phân quyền thế nào chăng nữa, thì lập pháp và hành pháp vẫn gắn bó với nhau. Theo Hiến pháp Hoa Kỳ: Quyền hành pháp sẽ được trao cho Tổng thống . Nhưng Tổng thống thường là đại diện của đảng chiếm đa số trong Hạ viện, thì lập pháp và hành pháp đều trong tay một đảng, lúc này phân quyền đã bị biến dạng. Tổng thống có thể hướng Quốc hội về những chính sách theo ý chí của mình.  Cơ chế “kìm hãm” và “đối trọng” được áp dụng từ học thuyết phân quyền với thực tiễn chính trị Hoa Kỳ không thể tránh khỏi sự mâu thuẫn giữa lập pháp và hành pháp. Nhưng do hai nhánh này luôn thống nhất ở khuynh hướng phát triển chung là phục vụ trước tiên cho lợi ích giai cấp tư sản cầm quyền, nên những mâu thuẫn tất yếu cũng được dàn xếp, cùng bắt tay nhau để đàn áp, bóc lột giai cấp lao động Mỹ. Như vậy, hô hào “tam quyền phân lập” chẳng qua  chỉ là thứ bánh vẽ,  giả hiệu, là thủ đoạn chính trị của giai cấp tư sản nhằm che đậy bản chất bóc lột, chuyên quyền.

Kế thừa những tinh hoa, giá trị về nhà nước pháp quyền trong lịch sử nhân loại, vận dụng sáng tạo lý luận Mác - Lê nin, tư tưởng Hồ Chí Minh về nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa vào thực tiễn xây dựng Nhà nước ta, Hiến pháp năm 2013 khẳng định: “Quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công, phối hợp, kiểm soát giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp”. Ở đây, nhìn về mặt hình thức thì có sự phân quyền nhưng về bản chất, nội dung “phân quyền” thì lại khác hẳn về chất so với “tam quyền phân lập”.  Tất cả quyền lực nhà nước đều có mẫu số chung là Nhân dân. Quyền lực nhà nước là thống nhất. Đây là sự tiến bộ vượt trội của Hiến pháp Việt Nam; phản ánh xu thế thời đại, trình độ phát triển cao hơn hẳn của lập hiến Việt Nam - lập hiến của nhân dân, hiến định quyền lực nhà nước tập trung ở nền tảng xã hội là liên minh giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức. 

Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân do Đảng Cộng sản lãnh đạo là một đặc trưng của xã hội xã hội chủ nghĩa mà Đảng, nhân dân ta đang xây dựng. Thực tiễn đã, đang và sẽ chứng minh tính đúng đắn, phù hợp của nhà nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam. Thực tiễn cũng sẽ bác bỏ những luận điệu sai trái, phủ nhận nhà nước pháp quyền, hướng nhà nước ta theo hình thức “tam quyền phân lập” giống phương Tây./.



 BÓC MẼ THỦ ĐOẠN XUYÊN TẠC TÊN TUỔI HỒ CHÍ MINH

Những đối tượng chống phá nền tảng tư tưởng của Đảng Cộng sản Việt Nam ý thức rất rõ về sự ảnh hưởng to lớn của tư tưởng Hồ Chí Minh trong đời sống chính trị, văn hóa tinh thần của đất nước.

Họ cho rằng sở dĩ chế độ cộng sản ở Việt Nam còn tồn tại là nhờ núp vào cái bóng thần tượng Hồ Chí Minh, nên phải xóa bỏ bằng được thần tượng ấy. Vì vậy, bóc mẽ thủ đoạn xuyên tạc của các thế lực chống phá tư tưởng Hồ Chí Minh bằng những lý lẽ khoa học, căn cứ thực tiễn là việc làm rất cần thiết hiện nay.

1. Một trong những thủ đoạn nham hiểm ấy là thời gian gần đây, một số đối tượng xuyên tạc rất trắng trợn: “Hồ Chí Minh không phải là Nguyễn Ái Quốc”. Nghệ thuật viết tuồng truyền thống thường dựa vào tích cũ để soạn những bổn mới, mang chủ đề, ý nghĩa mới. Cách này đang được một số đối tượng sử dụng, nhưng là lấy tích cũ thật/giả để biến thành bổn mới giả, có cả “bổn cũ soạn lại”.

Theo lịch sử ghi lại, từ ngày 6-6-1931 đến ngày 22-1-1933, Tống Văn Sơ (tức Nguyễn Ái Quốc) bị bắt giam ở Hồng Công và được luật sư Francis Henry Loseby bào chữa trắng án. Thực dân Pháp rất muốn được phía Anh trục xuất về Đông Dương để bắt Nguyễn Ái Quốc thực thi án tử hình. Có thể là cố ý đánh lạc hướng mật thám Pháp mà Quốc tế Cộng sản cho loan tin Nguyễn Ái Quốc đã chết vì bệnh lao phổi trong nhà tù Hồng Công, đăng trên cả báo nước ngoài (The Daily Worker (Anh) ngày 11-8-1932, L’Humanité (Pháp) ngày 9-8-1932) và cả báo trong nước (Đông Pháp thời báo ngày 3-7-1932, Đuốc Nhà Nam ngày 23-7-1932). Sau khi Nguyễn Ái Quốc được thả (ngày 28-12-1932), để đảm bảo an toàn cho thân chủ, chính luật sư Loseby cũng loan tin Nguyễn Ái Quốc đã chết vì bệnh phổi(1).

Sau đó vẫn lấy những tin tức này, không cần quan tâm mục đích, lý do của nguồn tin, tác giả Hồ Tuấn Hùng (Đài Loan) viết “Hồ Chí Minh sinh bình khảo” (in năm 2008 tại Đài Loan) “khẳng định” Hồ Chí Minh có tên thật là Hồ Tập Chương, không phải Nguyễn Ái Quốc, vì Nguyễn Ái Quốc đã chết từ tháng 8-1932. Đầu năm 2013, sách được Thái Tuấn dịch ra tiếng Việt có tên “Tìm hiểu về cuộc đời của Hồ Chí Minh” cho đăng trên trang điện tử “Đối thoại”. 

Lợi dụng vấn đề đó, thời gian qua, trên nhiều trang mạng phản động lại đăng nhiều bài "dựa hơi" vào những sự kiện trên (chủ yếu từ sách của Hồ Tuấn Hùng), bịa đặt trắng trợn thêm nhiều chi tiết để xuyên tạc Chủ tịch Hồ Chí Minh không phải là Nguyễn Ái Quốc, mà do “một người khác thế vào”! 

Lập luận của các bài viết trên, một mặt dựa vào “lý lẽ” của Hồ Tuấn Hùng, mặt khác, vẫn theo kiểu mượn tích cũ để “soạn bổn giả mới”. Ví như lấy sự kiện có thật Nguyễn Ái Quốc lấy bí danh Hồ Quang (từ ngày 1-1-1938) mang quân hàm thiếu tá, công tác tại Phòng Cứu vong thuộc Văn phòng Bát lộ quân ở Quế Lâm, không hề chứng minh, phân tích nhưng nhiều tác giả đã “khẳng định” lấy được: “Hồ Quang chính là Hồ Tập Chương” từ đây (tức năm 1938) bắt đầu “sứ mệnh lãnh đạo cách mạng Việt Nam”.

Về điểm này, xin dẫn sự giải thích của chính Bác Hồ, nhân một đồng chí Trung Quốc hỏi: “Tại sao đồng chí lại lấy tên Hồ Quang?”. Bác trả lời hóm hỉnh: “Tôi có râu, lại trọc đầu nên gọi là Hồ Quang” (vì đọc theo tiếng Bắc Kinh, hồ có nghĩa là râu, quang có nghĩa là trọc)(2). Đây là cách chơi chữ quen thuộc của Bác lý giải cách đặt tên theo đặc điểm bản thân gắn liền với ngôn ngữ, địa danh nơi sinh sống.

Để có thêm cơ sở lịch sử và khoa học khẳng định Nguyễn Ái Quốc chính là Hồ Chí Minh, xin nhắc lại những sự kiện lịch sử liên quan. Ngày 1-6-1946, trên chuyến bay sang Pháp, tướng Raoul Salan tháp tùng Hồ Chủ tịch hỏi có ý tò mò về đời tư (vốn là điều tối kỵ trong ngoại giao): “Trong bản Hiệp định ngày 6-3, ngài ký tên Hồ Chí Minh. Nhưng tên chính của ngài có phải là Nguyễn Ái Quốc không?”. Bác Hồ đáp: “Cũng trong bản hiệp định đó, vị đại diện của Chính phủ ngài ký tên là Sainteny, nhưng tên thật của ông ta chẳng phải là Jean Roger đó sao?”(3). Một câu đáp thật tuyệt vời của một trí tuệ nhạy bén, gần như khẳng định nhưng lại nói vòng sang chuyện tương tự để “chặn họng”, hàm ý nhắc nhở, đẩy đối phương vào thế bối rối, bị động: Ngay đại diện chính phủ của ngài cũng vậy đó thôi!

2. Về tập thơ “Nhật ký trong tù”, nhiều đối tượng cho rằng chữ viết ấy, nội dung ấy, thi pháp ấy thì “không thể một người Việt Nam nào, dù tài năng đến mấy” thể hiện được; thế nên Nguyễn Ái Quốc nếu còn sống cũng không thể là tác giả. Vả lại những năm ở Pháp, ở Nga, ở Hồng Công trước đó, sao Nguyễn Ái Quốc không có bài thơ chữ Hán nào?

Điều đáng phê phán các "tác giả" đưa ra cái gọi là “lý lẽ” nêu trên lại không hiểu rằng, Nguyễn Sinh Cung từ nhỏ đã sớm tiếp xúc với văn hóa Trung Hoa, học giỏi chữ Hán, là trò của các bậc đại Nho (Nguyễn Sinh Sắc, Hoàng Phan Quỳnh, Vương Thúc Quý). Trong khi đó, từ những năm 1922-1923, Nguyễn Ái Quốc đã rất quan tâm và viết nhiều bài về tình hình Trung Quốc in trên báo L’Humanité, La Vie Ouvrière. Cũng trong thời kỳ hoạt động ở Trung Quốc, Nguyễn Ái Quốc kiếm sống bằng viết báo (tiếng Trung, Pháp, Anh) và có mối quan hệ mật thiết với một số yếu nhân, trong đó có bà Tống Khánh Linh.

Vì vậy, các nhà nghiên cứu chân chính khẳng định, với tâm hồn ấy, tài năng ấy, trong hoàn cảnh tù đày, thơ đến một cách tự nhiên với Nguyễn Ái Quốc. Các bài thơ trong tập thơ này là kết tinh các luồng tinh hoa văn hóa Đông Tây, kim cổ, là tiếng nói của tâm hồn vĩ đại, trí tuệ siêu việt, khí phách lớn. Đó cũng là lý do để nhiều nhà nghiên cứu văn học quốc tế đã khẳng định tập thơ “Nhật ký trong tù” là tài sản văn hóa nhân loại và được dịch ra hơn 40 ngôn ngữ trên thế giới.

3. Trong chuyên luận “Tiếng cười trào phúng Hồ Chí Minh” do Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia-Sự thật xuất bản năm 2010, tác giả cuốn sách chứng minh Hồ Chí Minh là người “Việt Nam nhất”. Chỉ xét ở mục đích trào phúng, trong các tác phẩm, có 232 lần Bác Hồ sử dụng các dẫn ngữ(4). Thành ngữ, tục ngữ là sự kết tinh lời ăn tiếng nói có mạch nguồn từ đời sống tâm hồn, trí tuệ nhân dân. Không phải là người Việt Nam làm sao dùng được nhiều dẫn ngữ, chưa nói tới cách dùng của Bác rất đa dạng, phong phú, nhiều hình vẻ, sắc thái và rất mực tinh tế.

Với tư cách là người nghiên cứu, chúng tôi xin khẳng định, từ thời thanh niên đến khi về với thế giới người hiền, ở Nguyễn Ái Quốc-Hồ Chí Minh có sự nhất quán về mục đích: “Tự do cho đồng bào tôi, độc lập cho Tổ quốc tôi”, rộng hơn là vì hạnh phúc nhân loại nói chung. Mọi suy nghĩ, việc làm, hành động, dù nói hay viết của Người tất cả đều vì mục đích cao cả ấy.

Cũng xin được nhắc lại 3 cuộc hội thảo khoa học quốc tế gần đây nhất về Hồ Chí Minh. Ngày 18-4-2023, tại thủ đô Roma (Italy) diễn ra hội thảo với chủ đề “Quãng đời làm việc của Chủ tịch Hồ Chí Minh tại Italy”. Trước đó, ngày 14-5-2022, tại Ấn Độ là Hội thảo “Hồ Chí Minh và Ấn Độ” tổ chức ở Kolkata. Tháng 10-2019, Hội thảo “Hồ Chí Minh toàn cầu” tổ chức tại thành phố New York (Mỹ).

Các hội thảo đều khẳng định ở Nguyễn Ái Quốc-Hồ Chí Minh là sự hội tụ tuyệt đẹp 3 luồng văn hóa: Văn hóa yêu nước Việt Nam; văn hóa hòa bình, bình đẳng, bác ái của nhân loại tiến bộ và văn hóa giải phóng con người của Chủ nghĩa Mác. Các nhà nghiên cứu quốc tế đều nhấn mạnh Hồ Chí Minh không chỉ là anh hùng giải phóng dân tộc của Việt Nam, mà còn là cầu nối giữa Việt Nam với thế giới và nhân cách của Người mang tầm ảnh hưởng toàn cầu. Điều này khẳng định sự tôn trọng của giới học giả thế giới đương đại với Chủ tịch Hồ Chí Minh. Tư tưởng và những giá trị văn hóa cao đẹp của Người được cả nhân loại đón nhận.

Đảng Cộng sản Việt Nam và nhân dân Việt Nam tự hào có Bác Hồ, coi việc học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh là lý tưởng, lẽ sống, niềm tin và cũng là hạnh phúc. Hạnh phúc được đón nhận ánh sáng thời đại vì đó là con người nhân văn nhất, ưu tú nhất, tiên tiến nhất của dân tộc Việt Nam và là một trong những nhà văn hóa lừng danh của nhân loại. Đó cũng là minh chứng sinh động để bác bỏ hoàn toàn những ý đồ, thủ đoạn xuyên tạc thân thế, tên tuổi, sự nghiệp cách mạng vĩ đại của Chủ tịch Hồ Chí Minh./.



 VIỆT NAM ĐÃ CHIẾN THẮNG VÌ LẼ PHẢI, CÔNG LÝ, YÊU CHUỘNG HOÀ BÌNH VÀ TINH THẦN ĐẠI ĐOÀN KẾT TOÀN DÂN TỘC

Trong lịch sử chống giặc ngoại xâm của dân tộc, Việt Nam - một quốc gia nhỏ bé những luôn giành chiến thắng. Một trong những yếu tố tạo lên sức mạnh Việt Nam trong giữ nước đó là dân tộc ta đã chiến đấu vì lẽ phải, vì công lý. Người Việt Nam có câu: “Nói phải củ cải cũng nghe" như khẳng định hiển nhiên rằng đúng lý lẽ thì ai cũng phải công nhận. Việt Nam có lẽ phải, có công lý nên dẫu hệ thống tuyên truyền đồ sộ của phương Tây, đứng đầu là Hoa Kỳ có mở hết công suất thì cũng không bóp méo được một lẽ phải hiển nhiên: Việt Nam cũng như mọi quốc gia trên thế giới cần và phải được độc lập, thống nhất và hòa bình. Nhân dân yêu chuộng hòa bình trên toàn thế giới, trong đó có nhân dân Mỹ, hiểu rõ điều đó là công lý, là chân lý. Mở đầu bản “Tuyên ngôn độc lập” đọc trước toàn thể quốc dân đồng bào ngày 2/9/1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh trích dẫn Tuyên ngôn độc lập Hoa Kỳ năm 1776 và Tuyên ngôn nhân quyền và dân quyền của Cách mạng Pháp năm 1791, coi đó là những “lời bất hủ”, là công lý, là lẽ phải: “Tất cả các dân tộc trên thế giới đều sinh ra bình đẳng, dân tộc nào cũng có quyền sống, quyền sung sướng và quyền tự do. Đó là những lẽ phải không ai chối cãi được”. Nhân dân Việt Nam đứng về phía lẽ phải đó và quyết đòi bằng được hòa bình, độc lập, tự do cho dân tộc mình. Tuy nhiên, con đường chính nghĩa thắng phi nghĩa, cái thiện thắng cái ác cũng trải qua vô vàn gian khổ, hy sinh. Dân tộc ta đã đoàn kết xung quanh Đảng, đứng đầu là Chủ tịch Hồ Chí Minh, khẳng định ý chí sắt đá: “Thà hy sinh tất cả chứ nhất định không chịu mất nước, không chịu làm nô lệ. Không có gì quý hơn độc lập tự do”. Và lẽ phải ấy đã chiến thắng.

Trong lịch sử dựng nước và giữ nước, nhân dân Việt Nam đã nhiều lần buộc phải chống lại kẻ thù xâm lược mạnh hơn mình nhưng cuối cùng chúng ta đã giành chiến thắng nhờ yêu chuộng hoà bình và phát huy cao nhất sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Nói về sức mạnh Việt Nam chỉ có thể nói đến hai chữ “thần kỳ”. Bởi nếu không thần kỳ thì không thể nào giành chiến thắng. Lịch sử hàng nghìn năm trước, đế quốc Nguyên Mông từng chiếm một vùng rộng lớn từ Á sang Âu, sức mạnh tưởng không gì ngăn cản, nhưng 3 lần đến Việt Nam đều thất bại thảm hại. Tìm lời giải cho câu hỏi “Vì sao Việt Nam nhỏ bé chiến thắng?”, những nhà lý luận quân sự tài ba của thế giới cũng chưa bao giờ lý giải đầy đủ. Bởi thế, sử sách cũng chỉ khẳng định tổng quát đó là sự kỳ diệu, thậm chí là kỳ lạ của một dân tộc. Một số người đã cố gắng chỉ ra rằng chúng ta có địa hình rừng núi hiểm trở, khí hậu khắc nghiệt làm kẻ thù thất bại. Nhưng nếu chỉ có thế thì vũ khí hiện đại có thể bù lấp vào chỗ “khuyết” ấy chăng? Và nếu chỉ có thế thì đối phương chỉ cần tránh ải Chi Lăng, tránh Bạch Đằng giang là thoát khỏi thảm bại? Trong kháng chiến chống thực dân Pháp, lợi dụng núi rừng hiểm trở, người Pháp đã lập cứ điểm Điện Biên Phủ và nghĩ rằng Việt Minh có cánh cũng không vào được. Vậy mà chỉ với xe đạp thồ và ý chí sắt đá, sự sáng tạo và quả cảm của nhân dân Việt Nam, mọi thứ đều được chuyển đến Điện Biên để làm nên một chiến thắng “chấn động địa cầu”. Rồi thời chống đế quốc Mỹ, “trận Điện Biên Phủ” trên bầu trời Hà Nội càng khó lý giải hơn khi lý thuyết chỉ ra rằng không lực Hoa Kỳ là bất khả chiến bại, nhưng họ lại thảm bại…

Có thể nói, mọi lý giải như trên đều không thỏa đáng nếu chỉ so sánh cơ học, số học về vũ khí, tiền bạc giữa Việt Nam và đối phương. Sau chiến tranh, ông McNamara - cựu Bộ trưởng Quốc phòng Hoa kỳ - phải thừa nhận tính toán sai lầm của mình trong chiến tranh Việt Nam, trong đó, sai lầm lớn nhất là không hiểu văn hóa Việt Nam. Có thể khẳng định, sự ngộ ra của nguyên tác giả hàng rào điện tử, đạo diễn chính của Hoa Kỳ trong chiến tranh Việt Nam, là tương đối thỏa đáng cho câu trả lời vì sao Việt Nam nhỏ bé luôn chiến thắng.

Văn hóa chung của nhân loại luôn khẳng định thiện thắng cái ác, cái chính nghĩa thắng phi nghĩa. Với Việt Nam, một nước đã từng chịu bao tang thương, mất mát trong chiến tranh giữ nước thì văn hóa hòa bình là số một. Nhân dân Việt Nam yêu chuộng hòa bình, không đem vũ khí xâm lược đất nước khác, không muốn có chiến tranh - truyền thuyết Hồ Hoàn Kiếm (trả gươm) giữa trái tim Thủ đô là minh chứng cho điều đó; nhưng chúng ta “càng nhân nhượng” thì kẻ thù càng lấn tới, buộc toàn dân tộc phải cố kết chặt chẽ, dốc toàn lực đánh đuổi quân xâm lược. Toàn lực là “ai có súng dùng súng, không có súng thì dùng cuốc xẻng, gậy gộc”, “Giặc đến nhà đàn bà cũng đánh”, “còn cái lai quần cũng đánh”, ngọn giáo, cây chông đều là vũ khí và ngay cả đến “con ong Việt Nam cũng thành chiến sĩ”… tất cả chỉ để giành lại hoà bình, độc lập, tự do cho dân tộc. Mặc dù buộc phải “giặc dùng đạn bom thì ta giáng trả đạn bom”. Nhưng ngay trong chiến sự, nhân văn Việt Nam vẫn toả sáng: “Đem đại nghĩa thắng hung tàn, lấy chí nhân thay cường bạo”; Bao dung Việt Nam luôn được đề cao bằng việc cấp lương thảo, phương tiện cho kẻ thù rút về nước trong danh dự, miễn sao đất nước sạch bóng quân thù và muôn đời dập tắt chiến tranh.

Lịch sử Việt Nam hàng nghìn năm khẳng định Việt Nam cần hòa bình, yêu chuộng hòa bình. Trong trường hợp buộc phải cầm vũ khí, chiến đấu, thì đó là chiến đấu vì độc lập tự do của dân tộc, vì hạnh phúc của nhân dân Việt Nam, chứ không vì sự đối đầu đua tranh hơn kém, thắng thua. Truyền thống Việt Nam nghìn đời nay vẫn vậy. Lãnh đạo Đảng, Nhà nước và nhân dân Việt Nam ngày nay vẫn giữ gìn vá phát huy nét đẹp văn hoá ấy. Khép lại quá khứ, không có nghĩa là quên quá khứ, bởi quá khứ lưu giữ hàng nghìn bài học quý giá cho tất cả mọi người, mọi quốc gia./.



Không đưa thông tin sai lệch lên mạng xã hội dù chỉ là hài hước

 Theo số liệu về công tác giám sát tỷ lệ thông tin trên báo chí của Bộ Thông tin và Truyền thông, tháng 4/2024, tỷ lệ thông tin tiêu cực trên báo chí là 19,03%, tăng 0,92% so với tháng trước (giảm 7,69% so với cùng kỳ). Tỷ lệ thông tin tích cực trên báo chí là 60,23%, giảm 2,17% so với tháng trước (giảm 2,48% so với cùng kỳ). Đối với công tác xử lý vi phạm hành chính, tháng 4/2024, Bộ đã ban hành 26 quyết định xử phạt vi phạm hành chính với tổng số tiền xử phạt 818 triệu đồng.

(Hình minh họa)

(Hình minh họa)

Chiều 13/5, đồng chí Lê Quang Tự Do, Cục trưởng Cục Phát thanh, truyền hình và thông tin điện tử (Bộ Thông tin và Truyền thông) đã dành thời gian trả lời các câu hỏi liên quan đến việc xử phạt nghệ sĩ, người nổi tiếng có phát ngôn lệch chuẩn; xử lý các đơn vị quảng cáo cờ bạc trái phép và việc "đu trend" (bám theo xu hướng, hiện tượng, chủ đề nổi bật được nhiều người quan tâm) "truy tìm kho báu" liệu có vi phạm pháp luật hay không?...

TĂNG MỨC TIỀN PHẠT VÀ HÌNH PHẠT BỔ SUNG CÁC PHÁT NGÔN LỆCH CHUẨN

Thông tin về việc xử phạt các nghệ sĩ, người nổi tiếng, KOL (Người có sức ảnh hưởng), KOC (Những người tiêu dùng có sức ảnh hưởng lớn trong thị trường)... phát ngôn lệch chuẩn trên mạng xã hội, Cục trưởng Cục Phát thanh, truyền hình và thông tin điện tử Lê Quang Tự Do khẳng định: Tất cả các hành vi của công dân, trong đó có nghệ sỹ, người nổi tiếng đều đã đã có quy định pháp luật và chế tài xử lý.

Những năm gần đây, Bộ Thông tin và Truyền thông đã chỉ đạo các Sở Thông tin và Truyền thông tăng cường, chủ động xử lý các trường hợp, trong đó, rất nhiều đối tượng là nghệ sỹ, người nổi tiếng, KOL, KOC kể cả các nhà báo thông tin sai sự thật đều đã bị xử lý nghiêm.

Tuy nhiên, đối với một bộ phận người dân, trong đó có các nghệ sĩ, việc xử phạt hành chính chưa đủ sức răn đe. Vì vậy, Bộ Thông tin và Truyền thông đã đề xuất Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch có chế tài xử lý: Hạn chế hình ảnh của các nghệ sĩ, người nổi tiếng khi để xảy ra sai phạm. Hiện, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch đang triển khai việc này và sẽ có thông tin trong thời gian tới.

Bộ Thông tin và Truyền thông đã trình Chính phủ nghị định thay thế Nghị định số 72/2013/NĐ-CP về quản lý cung cấp, sử dụng dịch vụ internet và thông tin trên mạng, trong đó có các quy định về hoạt động phát ngôn trên không gian mạng, việc tăng mức phạt tiền, các hình phạt bổ sung đối với các hành vi trên không gian mạng.

KHÔNG ĐƯA THÔNG TIN SAI SỰ THẬT

Trước tình trạng nhiều người dùng trên mạng xã hội "đu trend" trào lưu "rủ nhau ra khơi truy tìm kho báu 673.000 tỷ đồng của Trương Mỹ Lan", Cục trưởng Lê Quang Tự Do nêu rõ: Theo thông tin phản ánh, Cục Phát thanh, truyền hình và thông tin điện tử đã đi kiểm tra và xác định hiện tượng trên bắt nguồn từ việc cắt ghép các nội dung phát ngôn của bà Trương Mỹ Lan (Chủ tịch Hội đồng quản trị Tập đoàn Vạn Thịnh Phát) tại phiên tòa xét xử. Tiếp đó, các hình ảnh, dòng trạng thái liên quan đến "truy tìm kho báu" xuất hiện dày đặc. Tuy nhiên, trend này chỉ lan truyền, tồn tại trong thời gian rất ngắn, từ ngày 13 - 19/4.

Bà Trương Mỹ Lan hoàn toàn không nói "tiền giấu ở ngoài biển" như nội dung cắt ghép tại video trên mạng. Việc cắt ghép, tạo nội dung như video mang tính chất hài hước, chưa phải nội dung có ý đồ xấu hay mục đích lừa đảo. Tuy nhiên, đây là hành vi đăng tải thông tin sai sự thật.

Do quá nhiều tài khoản tham gia trào lưu này, các cơ quan chức năng không thể chặn, gỡ hết được trên không gian mạng. Cục Phát thanh, truyền hình và thông tin điện tử đã phối hợp với nhiều cơ quan chức năng để truy tìm người cắt ghép, đăng tải video gốc nhưng chưa được.

Cục Phát thanh, truyền hình và thông tin điện tử đã yêu cầu gỡ bỏ một số tài khoản video có lượng tương tác lớn; đồng thời thông tin đến báo chí để người dùng mạng xã hội biết không nên đưa những thông tin sai sự thật dù mục đích chỉ là hài hước - Cục trưởng Lê Quang Tự Do nêu rõ.

KHÔNG ĐỂ TÁI DIỄN VIỆC QUẢNG CÁO CỜ BẠC

Đối với việc xử phạt hành vi quảng cáo cờ bạc, Cục trưởng Cục Phát thanh, truyền hình và thông tin điện tử Lê Quang Tự Do khẳng định: Bộ Thông tin và Truyền thông đang phối hợp với Bộ Công an xử lý các hành vi quảng cáo cá cược cờ bạc.

Từ năm 2023 đến nay, các cơ quan chức năng đã gỡ 1.574 website quảng cáo cờ bạc, link quảng cáo cờ bạc trên mạng xã hội, cũng như truyền hình. Gần đây nhất, Thanh tra Bộ Thông tin và Truyền thông đã xử phạt Đài Truyền hình Việt Nam (VTV) 50 triệu đồng và Công ty Cổ phần viễn thông FPT (FPT Telecom) 85 triệu đồng do để xuất hiện nội dung quảng cáo cá độ trên sóng truyền hình trong khuôn khổ một trận bóng đá.

Cục Phát thanh, truyền hình và thông tin điện tử cũng đã có công văn cho các doanh nghiệp, đài phát thanh, truyền hình lưu ý để không tái diễn tình trạng này, hạn chế thấp nhất nội dung quảng cáo sai phạm trên sóng truyền hình.

Ngoài ra, Cục Phát thanh, truyền hình và thông tin điện tử cũng thực hiện chiến dịch tuyên truyền trên các phương tiện thông tin đại chúng về nội dung này./.

Nguồn: TTXVN


VỊ TRÍ CÀNG CAO, TRÁCH NHIỆM CÀNG LỚN

 Việc cương quyết xử lý những hành vi sai phạm của cán bộ, kể cả cán bộ cấp cao, trong đó có vi phạm quy định về trách nhiệm nêu gương, trách nhiệm đối với người đứng đầu thể hiện quyết tâm chính trị của Đảng và Nhà nước ta làm trong sạch bộ máy, siết chặt kỷ luật đảng và phép nước.

Quy định cụ thể
Đảng, Nhà nước đã có những quy định rất rõ ràng, cụ thể về trách nhiệm cá nhân trước tập thể từ phía cán bộ, đảng viên, người đứng đầu cơ quan, đơn vị dựa trên nguyên tắc: Vị trí càng cao thì trách nhiệm càng lớn.
Mới đây, thay mặt Bộ Chính trị, Thường trực Ban Bí thư, Trưởng ban Tổ chức Trung ương Trương Thị Mai đã ký ban hành Quy định số 142-QĐ/TW ngày 23/4/2024 quy định thí điểm giao quyền, trách nhiệm cho người đứng đầu trong công tác cán bộ. Quy định này quy định phạm vi, đối tượng, nguyên tắc, thẩm quyền, trách nhiệm của người đứng đầu trong thực hiện thí điểm về công tác cán bộ, gồm: Giới thiệu nhân sự bầu cử, bổ nhiệm cấp phó của người đứng đầu; bầu bổ sung ủy viên ban thường vụ cấp ủy cùng cấp; bổ nhiệm, miễn nhiệm cấp trưởng cấp dưới trực tiếp thuộc thẩm quyền quản lý.
Đáng chú ý là người đứng đầu chịu trách nhiệm về quyết định của mình kể cả khi đã chuyển công tác hoặc nghỉ hưu trong các trường hợp: Giới thiệu cán bộ để bầu cử, bổ nhiệm thiếu công tâm, khách quan, không bảo đảm tiêu chuẩn, điều kiện, phẩm chất chính trị, đạo đức, lối sống, năng lực công tác; Miễn nhiệm cán bộ không bảo đảm căn cứ, thủ tục theo quy định.
Quy định 142 là một bước tiếp theo nhằm đề cao vai trò, trách nhiệm của người đứng đầu. Vai trò càng lớn thì trách nhiệm càng cao, bao gồm cả việc miễn nhiệm, từ chức nếu như không hoàn thành trọng trách. Quy định số 41-QĐ/TW ngày 3/11/2021 của Ban Chấp hành Trung ương cũng đã quy định cụ thể việc miễn nhiệm, từ chức đối với cán bộ. Hai khái niệm “miễn nhiệm” và “từ chức” được phân biệt rành mạch trong quy định này.
Miễn nhiệm theo Quy định số 41-QĐ/TW là việc cấp có thẩm quyền quyết định cho cán bộ thôi giữ chức vụ khi chưa hết nhiệm kỳ hoặc chưa hết thời hạn bổ nhiệm do không đáp ứng được yêu cầu công việc, uy tín giảm sút, có vi phạm nhưng chưa đến mức xử lý kỷ luật cách chức. Còn từ chức là việc cán bộ tự nguyện xin thôi giữ chức vụ khi chưa hết nhiệm kỳ hoặc chưa hết thời hạn bổ nhiệm và được cấp có thẩm quyền chấp thuận.
Trong đó, căn cứ xem xét việc miễn nhiệm, từ chức liên quan đến trách nhiệm người đứng đầu có các trường hợp sau: Miễn nhiệm đối với người đứng đầu khi để cơ quan, đơn vị thuộc quyền quản lý, phụ trách hoặc cấp dưới trực tiếp xảy ra tham nhũng, tiêu cực rất nghiêm trọng; Người đứng đầu lợi dụng chức vụ, quyền hạn được giao để dung túng, bao che, tiếp tay cho tham nhũng, tiêu cực thì tùy tính chất, mức độ sai phạm để xem xét cho từ chức; Cho từ chức đối với người đứng đầu khi để cơ quan, đơn vị thuộc quyền quản lý, phụ trách hoặc cấp dưới trực tiếp xảy ra tham nhũng, tiêu cực nghiêm trọng.
Trong thi hành nhiệm vụ, công vụ, người đứng đầu cơ quan, tổ chức, đơn vị của Nhà nước còn phải tuân thủ chế độ trách nhiệm quy định tại Nghị định số 157/2007/NĐ-CP ngày 27/10/2007 của Chính phủ. Theo đó, bên cạnh việc chịu trách nhiệm về toàn bộ hoạt động của cơ quan, tổ chức, đơn vị được giao lãnh đạo, người đứng đầu còn có trách nhiệm nêu gương: Gương mẫu và nghiêm chỉnh chấp hành đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước và chỉ đạo của cấp trên. Lãnh đạo cấp càng cao thì sự gương mẫu lại càng phải cao.
Đồng lòng thực thi
Các quy định của Đảng, Nhà nước về trách nhiệm nêu gương, trách nhiệm đối với người đứng đầu, về việc miễn nhiệm, từ chức đối với cán bộ đã được các cán bộ, đảng viên và quần chúng nhân dân đồng tình ủng hộ, nhất là trong việc xử lý các vụ án tham nhũng, tiêu cực vừa qua.
Thời gian qua, nhiều cán bộ giữ các trọng trách từ Trung ương đến địa phương trong hệ thống chính trị đã bị miễn nhiệm hoặc được cho thôi giữ chức vụ. Trong đó, có cả cán bộ đã “vi phạm quy định về những điều đảng viên không được làm, quy định về trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên, trước hết là Ủy viên Bộ Chính trị, Ủy viên Ban Bí thư, Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương và chịu trách nhiệm người đứng đầu theo các quy định của Đảng và pháp luật của Nhà nước. Những vi phạm, khuyết điểm đó gây dư luận xấu, làm ảnh hưởng đến uy tín của Đảng, Nhà nước và cá nhân đồng chí”.
Việc cho thôi chức vụ đối với cán bộ, đảng viên, kể cả những người giữ vị trí cao, là nhằm xây dựng bộ máy của Đảng, Nhà nước trong sạch, vững mạnh, thể hiện sự thượng tôn của pháp luật, làm lan tỏa ý thức trách nhiệm chính trị trong hàng ngũ đảng viên, củng cố niềm tin của nhân dân đối với Đảng.
Đồng thời, đây cũng là cách để cán bộ tự soi, tự sửa mình thường xuyên như “đánh răng, rửa mặt hằng ngày”, coi danh dự cao hơn quyền hạn, chức tước hay bổng lộc, lợi ích cá nhân.
Việc tu dưỡng, rèn luyện là một quá trình theo suốt cuộc đời của cán bộ, đảng viên. Thiếu sự tu dưỡng thường xuyên thì cán bộ lãnh đạo dù ở cấp nào, có quá trình cống hiến nhiều hay ít đều đánh mất uy tín, không thể đáp ứng trọng trách được tổ chức giao phó. Từ chức là cách để họ nhận về mình trách nhiệm trước sai phạm của đơn vị, của cán bộ cấp dưới.
Quy định số 41-QĐ/TW tạo cho cán bộ lãnh đạo các cấp cơ hội tự nguyện trả lại các chức vụ đang đảm nhiệm khi thấy mình không còn xứng đáng, thể hiện trách nhiệm chính trị trước Đảng và nhân dân.
Những cán bộ lãnh đạo các cấp, từ địa phương đến Trung ương bị xử lý kỷ luật, miễn nhiệm cũng như được cho thôi các chức vụ trong thời gian qua cho thấy, cuộc chiến chống tham nhũng, tiêu cực của Đảng và Nhà nước ta thực sự không có ngoại lệ, không có vùng cấm. Chính vì vậy mà tiến trình sàng lọc nhân sự đạt được sự đồng thuận cao trong Đảng và dư luận xã hội. Điều này cũng góp phần quan trọng để giữ vững sự ổn định chính trị – xã hội của đất nước.
Các đảng viên và quần chúng nhân dân hiểu rằng việc siết chặt kỷ luật của Đảng và pháp luật của Nhà nước là điều cần thiết đối với sự nghiệp chung của đất nước, trách nhiệm nêu gương của người đứng đầu phải được đề cao để nghĩa vụ xứng tầm với quyền hạn. Mục tiêu xây dựng, chỉnh đốn Đảng cần được kiên trì thực hiện với quyết tâm cao hơn, hành động quyết liệt hơn.

KHƠI DẬY LÒNG YÊU NƯỚC, ĐẬP TAN NHỮNG LUẬN ĐIỆU THÙ ĐỊCH, SAI TRÁI!

 Bất chấp những luận điệu xuyên tạc, sự kiện kỷ niệm 70 năm Chiến thắng Điện Biên Phủ đã một lần nữa khơi dậy lòng yêu nước, niềm tự hào dân tộc, làm nên sức mạnh đẩy lùi cái xấu, cái tiêu cực để bảo tồn những giá trị thiêng liêng trong trang sử đáng tự hào của dân tộc.

Nhận diện các luận điệu xuyên tạc giá trị của Chiến thắng Điện Biên Phủ
Những ngày qua, khi toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta tổ chức các hoạt động thiết thực kỷ niệm 70 năm Chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ (7/5/1954 – 7/5/2024) thì trên các diễn đàn vẫn có những người nhân danh nghệ thuật, nhân danh bình luận chính trị để xuyên tạc, khơi gợi sự hoài nghi trong dư luận về giá trị, ý nghĩa của chiến thắng vĩ đại của quân và dân ta.
Với mục đích nhắc lại sự kiện lịch sử theo hướng xuyên tạc, đánh tráo khái niệm, các thế lực thù địch đã đăng tải nhiều bài viết, video bình luận lịch sử với luận điệu cho rằng “Chiến thắng Điện Biên Phủ là do thực dân Pháp mắc những sai lầm chiến lược”, khẳng định “yếu tố quyết định là sự viện trợ từ bên ngoài”, gián tiếp đánh giá thấp trình độ của bộ đội và dân công ta… Các đối tượng thù địch đã sử dụng những “tiểu xảo” nhằm lồng ghép tinh vi những tình tiết có tính “xét lại” vào dòng sự kiện của lịch sử, gây tâm lý “hoài nghi” ở người xem, người đọc khiến họ cảm thấy thiếu niềm tin vào những thông tin lịch sử chính thống đã được đăng tải trên các phương tiện truyền thông. Những nội dung có tính bóp méo và nguỵ biện lịch sử nói trên vô cùng nguy hiểm khi có thể tác động mạnh đến thế hệ trẻ, dẫn đến những lệch lạc về nhận thức, thậm chí hiểu sai lệch về giá trị và ý nghĩa của chiến thắng to lớn của quân và dân ta.
Trên các trang cá nhân, các đối tượng chống đối, phản động tiếp tục đẩy mạnh “bình luận lịch sử”, trong đó lồng ghép quan điểm cá nhân với mục đích chia rẽ. Một tài khoản với hơn 360.000 người theo dõi đã liên tục đăng tải những bài viết với nhiều nội dung mập mờ, chưa được kiểm chứng xoay quanh đề tài lịch sử. Ngày 28/4/2024, tác giả này đã đăng tải bài viết nhằm kêu gọi sự ủng hộ của dư luận với ý tưởng lập “nghĩa trang” tưởng niệm cho “linh hồn của những tử sĩ Việt Nam Cộng hoà”, lấy danh nghĩa “nhân đạo” để che đậy tham vọng “tẩy trắng” mà các thế lực thù địch vẫn luôn nung nấu suốt thời gian qua. Ngày 8/5/2024, với bài đăng “Điện Biên Phủ, Công và Danh”, tác giả này tiếp tục tung ra một vấn đề thiếu tính xác thực, cho rằng đã có sự phân biệt, thiếu công tâm trong việc ghi nhớ, ca ngợi công lao của các vị tướng lĩnh cũng như những người lính tham gia chiến dịch. Đây là luận điệu vô cùng “ác ý” khi lợi dụng không khí hào hùng, ngợi ca của dân tộc để truyền đi những thông tin không rõ ràng, gây chia rẽ, mất đoàn kết, khiến dư luận hoang mang.
Trong bài phát biểu của Cựu chiến binh Phạm Đức Cư tại buổi lễ kỷ niệm 70 năm Chiến thắng Điện Biên Phủ, người chiến sỹ năm xưa nhắc đến chuyện các chiến sĩ cao xạ đã phối hợp đánh tan các máy bay địch, trong đó có pháo đài bay B24, một tiktoker đã cắt đoạn phát biểu trên lên để quy chụp với lời lẽ nặng nề, cho rằng bác Cư đã già, nhầm lẫn kiến thức lịch sử, thông tin đúng ra phải là “pháo đài bay B52”. Tuy nhiên, cũng chính những người dùng mạng xã hội có hiểu biết đã lên tiếng chỉ trích tiktoker kia và những kẻ “hùa theo” rằng loại máy bay được bác Cư nhắc đến trong bài phát biểu là B-24 Privateer bởi đến tận năm 1965, chiếc B52 đầu tiên mới xuất hiện tại Việt Nam. Do đó, các luận điệu “chê bai”, dùng từ ngữ thiếu văn hoá để chê người lính già Điện Biên đã ngay lập tức bị các làn sóng dư luận yêu nước phản bác mạnh mẽ.
Bên cạnh đó, còn xuất hiện những luận điệu của các thế lực thù địch, phản động lưu vong theo hướng “mượn gió bẻ măng”, cho rằng tổ chức lễ kỷ niệm hoành tráng là lãng phí tiền của, mất thời gian công sức của nhân dân trong khi đó đất nước còn nhiều vấn đề cần được quan tâm hơn như việc cứu trợ đồng bào đang gặp hạn hán, thiếu nước ngọt ở các tỉnh phía Nam… Một số luận điệu còn cố tình quy chụp cho rằng lịch sử được học và ghi nhớ trong sách là đủ, không cần tổ chức lễ kỷ niệm rườm rà hoặc nhắc đi nhắc lại những nỗi đau đã cũ, khoét sâu hận thù dân tộc.
Những giá trị lịch sử không thể bị xuyên tạc
Trước hết, có thể khẳng định giá trị của Chiến thắng Điện Biên Phủ và những dấu ấn trong lịch sử dân tộc là không thể phủ nhận. Cùng với Chiến thắng Bạch Đằng (938), Chi Lăng – Xương Giang (1427), Chiến thắng Ngọc Hồi – Đống Đa…, Chiến thắng Điện Biên Phủ là “mốc son chói lọi bằng vàng”, là biểu tượng của chủ nghĩa yêu nước thời đại Hồ Chí Minh và là điển hình cho nghệ thuật quân sự Việt Nam thời đại mới. Đây là chiến thắng đã giáng đòn quyết định, chấm dứt chiến tranh ở Đông Dương, là sự kiện quan trọng báo hiệu sự sụp đổ của chủ nghĩa thực dân cũ trên phạm vi toàn thế giới. Ý nghĩa của chiến công “lừng lẫy năm châu, chấn động địa cầu” ấy đã và đang tiếp tục được lan toả, trở thành động lực, tiếp thêm sức mạnh tự hào cho các thế hệ sau này nỗ lực phấn đấu vươn lên, cống hiến sức mình để xây dựng một Việt Nam hùng cường.
Trong bộ phim tài liệu “Điện Biên Phủ – Nhìn từ nước Pháp”, nhà sử học Alain Ruscio đã phát biểu: Nếu có ai hỏi tôi mười sự kiện lớn của thế kỷ 20 là gì, tôi sẽ nói rằng chắc chắn là có Điện Biên Phủ. Các chuyên gia và những người nghiên cứu lịch sử đã thừa nhận, thế giới đã thừa nhận về ý nghĩa và tầm quan trọng của chiến thắng này. Cho đến ngày nay, chúng ta nhắc lại chiến thắng lịch sử với tinh thần “khép lại quá khứ, hướng tới tương lai”, tiếp tục khẳng định Việt Nam là đất nước yêu chuộng hoà bình, sẵn sàng làm bạn với tất cả các quốc gia trên thế giới. Do đó, những luận điệu cố tình xuyên tạc và phủ nhận về giá trị, ý nghĩa của Chiến thắng Điện Biên Phủ là không có căn cứ, thiếu tính khoa học.
Về luận điệu một số đối tượng đưa ra gây băn khoăn, hoài nghi về việc ghi nhận công lao của những tướng lĩnh tham gia Chiến dịch Điện Biên Phủ, có thể thấy đó đều là những nhận định chủ quan, thiếu căn cứ lịch sử. Các tác giả đâu biết rằng, lòng biết ơn và lòng yêu nước của nhân dân Việt Nam luôn trong sáng, tốt đẹp, không vì những luận điệu “sân si, ác ý” như vậy mà có thể lay chuyển, đổi thay. Những người lính đã ngã xuống vì độc lập, tự do cho dân tộc, bản thân họ không màng đến việc được ghi công như thế nào, vậy mà căn cứ vào đâu để người viết cho rằng “từ lâu, người ta đã khao khát lưu danh ở những nơi như Điện Biên Phủ”? Cố tình suy diễn và dẫn dắt quan điểm của dư luận, các đối tượng thù địch đang muốn “làm vấy đục” những giá trị nhân văn, ý nghĩa tốt đẹp của một chiến thắng có tính biểu tượng của dân tộc ta.
Đối với những ý kiến bình luận thiếu tôn trọng với bài phát biểu của người lính già Điện Biên, rõ ràng đều là những luận điệu thiếu hiểu biết, không có kiến thức về quân sự và lịch sử. Thông tin trong bài phát biểu của người cựu chiến binh là hoàn toàn chính xác, phản ánh đúng với lịch sử quân sự của nước ta. Lễ kỷ niệm 70 năm Chiến thắng Điện Biên Phủ đã được tổ chức thành công, xứng tầm với ý nghĩa và giá trị của sự kiện quan trọng này. Với hiệu ứng và sức lan toả, truyền cảm hứng mạnh mẽ của lễ kỷ niệm, người dân trong nước, bạn bè quốc tế và đặc biệt là thế hệ trẻ có cơ hội hiểu sâu sắc hơn về lịch sử hào hùng của dân tộc, khơi dậy lòng yêu nước và niềm tự hào, tạo sự kết nối, đoàn kết trong các tầng lớp nhân dân. Không khí trang nghiêm của lễ kỷ niệm, sự sống động, mạnh mẽ của lễ diễu binh, diễu hành đã truyền đi ngọn lửa yêu nước tới khắp mọi miền đất nước, điều này có giá trị, ý nghĩa hơn ngàn bài học trong sách vở.
Khơi dậy lòng yêu nước và niềm tự hào dân tộc – sức mạnh đập tan mọi luận điệu sai trái, thù địch
Những ngày này, không khí của niềm tự hào và lòng yêu nước đang lan toả trong huyết quản của tất cả những con dân nước Việt. Khắp các diễn đàn, các trang mạng xã hội là màu cờ đỏ rực rỡ. Tại mảnh đất Điện Biên anh hùng, niềm hân hoan, tự hào như bừng lên trong từng gương mặt những người lính thực hiện nhiệm vụ diễu binh, diễu hành và trong câu chuyện, ánh mắt nhân dân theo dõi hai bên đường. Những từ khoá “70 năm Điện Biên Phủ”, “ Chiến thắng”, “Yêu nước”, “Đời đời nhớ ơn các anh hùng liệt sĩ” trở nên “nóng” hơn bao giờ hết và lan toả mạnh mẽ trên khắp các diễn đàn, bàn luận của giới trẻ. Những thời khắc như thế này, mới thấy hết được giá trị của hai tiếng “yêu nước”, ý nghĩa của tinh thần dân tộc và sự toàn vẹn non sông bờ cõi. Đây cũng là cơ hội tuyệt vời để truyền đi thông điệp tốt đẹp, lan toả giá trị cốt lõi của dân tộc, đập tan những luận điệu chống đối, sai trái với âm mưu chia rẽ khối đại đoàn kết của các đối tượng thù địch.
Theo dõi trên truyền thông, đọc báo mạng hay lướt xem những video ngắn mà người dân đăng tải, mỗi người dân nước Việt đều cảm thấy tự hào, hãnh diện và vô cùng xúc động. Điều này một lần nữa khẳng định lời của Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng nói “Dân ta có một lòng nồng nàn yêu nước. Đó là truyền thống quý báu của dân tộc ta” là hoàn toàn đúng đắn. Ngay giữa thời bình, sự kiện kỷ niệm 70 năm Chiến thắng Điện Biên Phủ đã cho thấy sự gắn kết muôn đời của người Việt Nam: đoàn kết chống giặc ngoại xâm, đoàn kết đẩy lui cái xấu, cái tiêu cực trong xã hội và đoàn kết đấu tranh phản bác khi có kẻ xấu lợi dụng “xúc phạm” đến những giá trị thiêng liêng trong ký ức lịch sử đáng tự hào của toàn dân tộc. Mỗi người dân, mỗi kênh truyền thông cá nhân đã góp phần lan toả, truyền đi thông điệp yêu nước, tự hào, tạo khí thế hân hoan, phấn khởi, tin tưởng son sắt vào Đảng, vào Nhà nước trong nhân dân, giúp đẩy lùi những điều tiêu cực, những luận điệu thâm độc mà các đối tượng thù địch đang lợi dụng chống phá./.