BÓC MẼ THỦ ĐOẠN XUYÊN TẠC TÊN TUỔI HỒ CHÍ MINH
Thứ Ba, 14 tháng 5, 2024
Đề xuất chủ trương đầu tư Chương trình mục tiêu quốc gia về phát triển văn hóa.
Chính phủ đã trình Uỷ ban Thường vụ Quốc hội chủ trương đầu tư Chương trình mục tiêu quốc gia về phát triển văn hóa giai đoạn 2025-2035.
Sáng 14/5, Uỷ ban Thường vụ Quốc hội cho ý kiến về chủ trương đầu tư Chương trình mục tiêu quốc gia về phát triển văn hóa giai đoạn 2025 - 2035.
Phấn đấu các ngành công nghiệp văn hóa đóng góp vào 7% GDP của cả nước
Trình bày Tờ trình, Bộ trưởng Bộ Văn hoá, Thể thao và Du lịch Nguyễn Văn Hùng cho biết, chương trình được thực hiện trên phạm vi cả nước và tại một số quốc gia có mối quan hệ văn hoá lâu dài, tương tác văn hoá lâu dài với Việt Nam, có đông đảo người Việt Nam sinh sống, lao động, học tập; tập trung vào các hoạt động thuộc các lĩnh vực văn hóa, nghệ thuật cụ thể gồm: di sản văn hóa; văn hóa cơ sở; nghệ thuật biểu diễn; mỹ thuật, nhiếp ảnh và triển lãm; điện ảnh; thư viện; giáo dục văn hóa; đào tạo; văn hóa dân tộc; văn hóa đối ngoại; công nghiệp văn hóa...
![]() |
| Bộ trưởng Bộ Văn hoá, Thể thao và Du lịch Nguyễn Văn Hùng (Ảnh: QH) |
Bộ trưởng Nguyễn Văn Hùng cho biết, Chương trình đặt 7 mục tiêu tổng quát: Tạo bước chuyển biến mạnh mẽ, toàn diện trong phát triển văn hóa và xây dựng, hoàn thiện, chuẩn mực đạo đức, bản sắc, bản lĩnh, hệ giá trị con người, gia đình Việt Nam; Nâng cao đời sống tinh thần, khả năng tiếp cận, thụ hưởng văn hóa của nhân dân, khắc phục sự chênh lệch trong thụ hưởng văn hóa giữa các vùng, miền, tầng lớp dân cư, giới tính, từ đó nâng cao năng suất lao động, hiệu quả công việc; Bảo tồn và phát huy giá trị các di sản văn hóa đặc sắc của dân tộc; Đóng góp trực tiếp vào phát triển kinh tế xã hội, huy động, tập trung nguồn lực đầu tư có trọng tâm, trọng điểm, chất lượng, hiệu quả cho phát triển văn hóa; Xây dựng đội ngũ văn nghệ sỹ, chuyên gia đầu ngành, lực lượng người lao động chuyên nghiệp, chất lượng cao; Phát huy tính đại chúng, tính khoa học, tính dân tộc của văn hóa thông qua đổi mới sáng tạo, tiếp thu và nghiên cứu, áp dụng những thành tựu khoa học, công nghệ tiên tiến, chuyển đổi số trong lĩnh vực văn hóa; Nâng cao vị thế của đất nước trên trường quốc tế thông qua phát huy sức mạnh mềm văn hóa Việt Nam, hội nhập quốc tế về văn hóa, tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại.
Chương trình đặt ra 9 nhóm mục tiêu cụ thể đến năm 2030 và 9 nhóm mục tiêu cụ thể đến năm 2035.
Trong đó, đến năm 2030, đạt 9 nhóm mục tiêu sau: (1) Hoàn thành 100% việc xây dựng và ban hành các bộ quy tắc ứng xử, phù hợp với đặc điểm địa phương và nguyên tắc bình đẳng giới về môi trường văn hóa; (2) 100% đơn vị hành chính cấp tỉnh có đủ 03 loại hình thiết chế văn hóa, 80% các đơn vị hành chính cấp huyện có Trung tâm Văn hóa - Thể thao đạt chuẩn; (3) 100% học sinh, học viên, sinh viên trong hệ thống giáo dục quốc dân được tiếp cận, tham gia hiệu quả, thường xuyên các hoạt động giáo dục nghệ thuật, giáo dục di sản văn hóa; (4) Ít nhất 95% di tích quốc gia đặc biệt và khoảng 70% di tích quốc gia được tu bổ, tôn tạo; (5) Hàng năm có từ 10 - 15 công trình nghiên cứu lý luận phê bình văn hóa, nghệ thuật chất lượng được công bố; (6) Phấn đấu các ngành công nghiệp văn hóa đóng góp vào 7% GDP của cả nước; (7) Phấn đấu tin học hóa 100% các đơn vị thực hiện hoạt động văn hóa; (8) 80% công chức, viên chức lĩnh vực văn hóa, nghệ thuật, văn nghệ sỹ thuộc các đơn vị nghệ thuật công lập được đào tạo, bồi dưỡng, nâng cao nghiệp vụ, chuyên môn; (9) Hàng năm, có ít nhất 05 sự kiện quốc tế lớn về văn hóa nghệ thuật tại nước ngoài có sự tham gia chính thức của Việt Nam.
Phạm vi, quy mô Chương trình còn rộng, dàn trải
![]() |
| Chủ nhiệm Ủy ban Văn hoá, Giáo dục Nguyễn Đắc Vinh (Ảnh: QH) |
Báo cáo thẩm tra nội dung này, Chủ nhiệm Ủy ban Văn hoá, Giáo dục Nguyễn Đắc Vinh cho biết, tán thành với sự cần thiết đầu tư Chương trình. Tuy nhiên, Uỷ ban Văn hoá, Giáo dục cho rằng phạm vi, quy mô của Chương trình còn rộng, dàn trải. Ủy ban đề nghị cần xác định các nhiệm vụ đầu tư trọng điểm trong từng thời kỳ dựa trên điều kiện thực tiễn ở địa phương và kết quả đầu tư của ngân sách nhà nước ở các thời kỳ trước, một số loại hình công trình văn hóa đặc thù không nên phân bổ đều ở tất cả các địa phương.
Uỷ ban Văn hoá, Giáo dục cũng đánh giá mục tiêu tổng quát của Chương trình khá nhiều; trong đó, có những nội dung đã bao quát các mục tiêu còn lại, có những nội dung là những mục tiêu cụ thể, chưa bảo đảm tính tổng quát; có nội dung được nêu trong mục tiêu cụ thể nhưng nội hàm không được đề cập trong mục tiêu tổng quát.
Các mục tiêu cụ thể được liệt kê còn dàn trải, nhiều mục tiêu có nội dung tương tự với nhiệm vụ thường xuyên của lĩnh vực văn hoá, có thể trùng lặp với một số chương trình, đề án khác, còn mang tính hình thức, chưa tạo được những chuyển biến mạnh mẽ và khó đánh giá hiệu quả.
"Uỷ ban đề nghị Chính phủ cần thuyết minh cụ thể hơn về các chỉ tiêu của chương trình và tiếp tục rà soát các chủ trương, đường lối của Đảng, các Chương trình, đề án về phát triển văn hoá; đồng thời, khảo sát, đánh giá kỹ lưỡng tình hình và nhu cầu thực tiễn để đưa ra các mục tiêu của Chương trình bảo đảm gọn, rõ ràng, không trùng lặp, thể hiện được quan điểm đầu tư trọng tâm, trọng điểm và là căn cứ để xác định nhu cầu đầu tư của Chương trình" - Chủ nhiệm Nguyễn Đắc Vinh nhấn mạnh./.
“Tăng cường dân chủ XHCN” Là động lực của bảo vệ Tổ quốc
“Tăng cường dân chủ XHCN” Là động lực của bảo vệ Tổ quốc
Là động lực của bảo vệ Tổ quốc, vai trò của dân chủ thể hiện ở chỗ, khi lợi ích giữa cá nhân và cộng đồng được giải quyết, nó sẽ khơi thông các nguồn lực, phát huy tối đa tính tích cực của cá nhân và cộng đồng, làm nhân lên sức mạnh của nội lực và ngoại lực, tạo ra xung lực thúc đẩy tăng trưởng kinh tế cả về tốc độ, quy mô và chất lượng để tạo nguồn lực cơ bản cho sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc.
Ký ức lịch sử-tự hào dân tộc
Ký ức lịch sử-tự hào dân tộc
Theo dõi trên truyền thông, đọc báo mạng hay lướt xem những video ngắn mà người dân đăng tải, mỗi người dân nước Việt đều cảm thấy tự hào, hãnh diện và vô cùng xúc động. Điều này một lần nữa khẳng định lời của Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng nói “Dân ta có một lòng nồng nàn yêu nước. Đó là truyền thống quý báu của dân tộc ta” là hoàn toàn đúng đắn. Ngay giữa thời bình, sự kiện kỷ niệm 70 năm Chiến thắng Điện Biên Phủ đã cho thấy sự gắn kết muôn đời của người Việt Nam: đoàn kết chống giặc ngoại xâm, đoàn kết đẩy lui cái xấu, cái tiêu cực trong xã hội và đoàn kết đấu tranh phản bác khi có kẻ xấu lợi dụng “xúc phạm” đến những giá trị thiêng liêng trong ký ức lịch sử đáng tự hào của toàn dân tộc. Mỗi người dân, mỗi kênh truyền thông cá nhân đã góp phần lan toả, truyền đi thông điệp yêu nước, tự hào, tạo khí thế hân hoan, phấn khởi, tin tưởng son sắt vào Đảng, vào Nhà nước trong nhân dân, giúp đẩy lùi những điều tiêu cực, những luận điệu thâm độc mà các đối tượng thù địch đang lợi dụng chống phá./.
Đảm bảo quyền tự do, tín ngưỡng, tôn giáo chính là đảm bảo và tôn trọng quyền con người
Đảm bảo quyền tự do, tín ngưỡng, tôn giáo chính là đảm bảo và tôn trọng quyền con người
Tôn trọng và bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo cho mọi người dân là chính sách nhất quán, luôn được Đảng và Nhà nước Việt Nam nỗ lực thực hiện trong thực tế với ý chí và quyết tâm cao. Từ lý luận đến thực tiễn và những thành tựu đạt được đã làm rõ sự thật về quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo tại Việt Nam là không thể bị phủ nhận. Đảm bảo quyền tự do, tín ngưỡng, tôn giáo chính là đảm bảo và tôn trọng quyền con người. Chúng ta sẵn sàng nhận diện và đấu tranh chống lại mọi âm mưu lợi dụng tín ngưỡng, tôn giáo để gây chia rẽ và phá vỡ khối đại đoàn kết toàn dân tộc, quyết tâm thực hiện mục tiêu và lý tưởng mà Đảng, Bác Hồ kính yêu và dân tộc ta đã lựa chọn, đó là “độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội” tại Việt Nam./.
Quan tâm và hỗ trợ các tổ chức tôn giáo trong quan hệ quốc tế
Quan tâm và hỗ trợ các tổ chức tôn giáo trong quan hệ quốc tế
Hoạt động quan hệ quốc tế của các tổ chức tôn giáo được Nhà nước quan tâm và hỗ trợ. Tháng 7/2023, Việt Nam – Tòa thánh Vatican đã nâng cấp quan hệ lên cấp có Đại diện thường trú tại Việt Nam, đồng thời thông qua việc ký Thỏa thuận Quy chế hoạt động của Đại diện thường trú và Văn phòng đại diện thường trú Tòa thánh Vatican tại Việt Nam. Việc tăng cường mối quan hệ này không chỉ thể hiện sự đúng đắn trong chiến lược ngoại giao của Đảng và Nhà nước về lĩnh vực tôn giáo, mà còn thể hiện sự quan tâm đặc biệt của Đảng và Nhà nước dành cho cộng đồng Công giáo ở Việt Nam.
Tự do tín ngưỡng, tôn giáo ở Việt Nam – Sự thật không thể phủ nhận
Xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật về tín ngưỡng, tôn giáo
Kể từ khi nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra đời đến nay, Việt Nam đã 4 lần sửa đổi Hiến pháp, song quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo vẫn luôn được thể hiện nhất quán và khẳng định trong các Hiến pháp như một giá trị của chế độ xã hội mới, phù hợp với các quy định của pháp luật quốc tế về quyền con người và không ngừng được bổ sung, hoàn thiện trong quá trình phát triển đất nước cũng như thực tiễn hoạt động tôn giáo ở Việt Nam.
Thể chế hóa quy định trong Hiến pháp, năm 2016, Quốc hội Khoá XIV thông qua Luật Tín ngưỡng, tôn giáo. Năm 2017, Chính phủ ban hành Nghị định số 162/NĐ-CP quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Tín ngưỡng, tôn giáo và từ 1/1/2018, cả Luật Tín ngưỡng, tôn giáo và Nghị định số 162/NĐ-CP đều có hiệu lực thi hành, góp phần bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo ở Việt Nam.
Ngày 29/12/2023, Chính phủ tiếp tục ban hành Nghị định số 95/NĐ-CP quy định một số điều và biện pháp thi hành Luật Tín ngưỡng, tôn giáo thay thế Nghị định số 162/NĐ-CP. Nghị định số 95 tăng 8 điều so với Nghị định số 162, trong đó giữ nguyên 6 điều, sửa đổi 18 điều, bổ sung 9 điều và 02 khoản.
Đầu năm 2024, Quốc hội khóa XV đã tổ chức kỳ họp bất thường lần thứ 5 để thông qua Luật Đất đai sửa đổi, trong đó có nội dung: Nhà nước thực hiện giao đất có hạn mức không thu tiền sử dụng đất đối với đất sử dụng làm cơ sở thờ tự, trụ sở của các tổ chức tôn giáo. Các tổ chức tôn giáo sử dụng đất vào mục đích khác phải trả tiền thuê đất cho Nhà nước như các tổ chức, cá nhân khác.
Được Nhà nước tạo điều kiện thuận lợi, nên hầu hết các cơ sở thờ tự của các tôn giáo được sửa chữa khang trang, nhiều cơ sở thờ tự được xây mới. Hiện nay, khoảng hơn 70% cơ sở tôn giáo trên toàn quốc đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.
Những từ khoá tháng 5 lịch sử
Những từ khoá tháng 5 lịch sử
Những từ khoá “70 năm Điện Biên Phủ”, “ Chiến thắng”, “Yêu nước”, “Đời đời nhớ ơn các anh hùng liệt sĩ” trở nên “nóng” hơn bao giờ hết và lan toả mạnh mẽ trên khắp các diễn đàn, bàn luận của giới trẻ. Những thời khắc như thế này, mới thấy hết được giá trị của hai tiếng “yêu nước”, ý nghĩa của tinh thần dân tộc và sự toàn vẹn non sông bờ cõi. Đây cũng là cơ hội tuyệt vời để truyền đi thông điệp tốt đẹp, lan toả giá trị cốt lõi của dân tộc, đập tan những luận điệu chống đối, sai trái với âm mưu chia rẽ khối đại đoàn kết của các đối tượng thù địch.
Theo dõi trên truyền thông, đọc báo mạng hay lướt xem những video ngắn mà người dân đăng tải, mỗi người dân nước Việt đều cảm thấy tự hào, hãnh diện và vô cùng xúc động. Điều này một lần nữa khẳng định lời của Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng nói “Dân ta có một lòng nồng nàn yêu nước. Đó là truyền thống quý báu của dân tộc ta” là hoàn toàn đúng đắn. Ngay giữa thời bình, sự kiện kỷ niệm 70 năm Chiến thắng Điện Biên Phủ đã cho thấy sự gắn kết muôn đời của người Việt Nam: đoàn kết chống giặc ngoại xâm, đoàn kết đẩy lui cái xấu, cái tiêu cực trong xã hội và đoàn kết đấu tranh phản bác khi có kẻ xấu lợi dụng “xúc phạm” đến những giá trị thiêng liêng trong ký ức lịch sử đáng tự hào của toàn dân tộc. Mỗi người dân, mỗi kênh truyền thông cá nhân đã góp phần lan toả, truyền đi thông điệp yêu nước, tự hào, tạo khí thế hân hoan, phấn khởi, tin tưởng son sắt vào Đảng, vào Nhà nước trong nhân dân, giúp đẩy lùi những điều tiêu cực, những luận điệu thâm độc mà các đối tượng thù địch đang lợi dụng chống phá./.
Cầu nối giữa Việt Nam với thế giới
Hồ Chí Minh không chỉ là anh hùng giải phóng dân tộc của Việt Nam, mà còn là cầu nối giữa Việt Nam với thế giới và nhân cách của Người mang tầm ảnh hưởng toàn cầu. Điều này khẳng định sự tôn trọng của giới học giả thế giới đương đại với Chủ tịch Hồ Chí Minh. Tư tưởng và những giá trị văn hóa cao đẹp của Người được cả nhân loại đón nhận. Đảng Cộng sản Việt Nam và nhân dân Việt Nam tự hào có Bác Hồ, coi việc học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh là lý tưởng, lẽ sống, niềm tin và cũng là hạnh phúc. Hạnh phúc được đón nhận ánh sáng thời đại vì đó là con người nhân văn nhất, ưu tú nhất, tiên tiến nhất của dân tộc Việt Nam và là một trong những nhà văn hóa lừng danh của nhân loại. Đó cũng là minh chứng sinh động để bác bỏ hoàn toàn những ý đồ, thủ đoạn xuyên tạc thân thế, tên tuổi, sự nghiệp cách mạng vĩ đại của Chủ tịch Hồ Chí Minh.
Thứ Hai, 13 tháng 5, 2024
Quán triệt nghị quyết Đại hội XIII của Đảng, tiếp tục xây dựng Quân đội nhân dân Việt Nam vững mạnh về chính trị, đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ mới
Thành công rất tốt đẹp của Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng đã cổ vũ mạnh mẽ toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta tiếp tục phấn đấu để đến năm 2045 đưa nước ta trở thành một nước phát triển, có thu nhập cao, theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Đại hội đã xác định tầm nhìn và định hướng chiến lược phát triển của đất nước cùng nhiều quyết sách quan trọng thúc đẩy sự nghiệp đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, thực hiện thắng lợi mục tiêu “Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”. Một trong những nội dung quan trọng Nghị quyết Đại hội xác định là “Xây dựng Quân đội nhân dân, Công an nhân dân cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại, một số quân chủng, binh chủng, lực lượng tiến thẳng lên hiện đại. Đến năm 2025, cơ bản xây dựng Quân đội, Công an tinh, gọn, mạnh, tạo tiền đề vững chắc, phấn đấu năm 2030, xây dựng Quân đội nhân dân, Công an nhân dân cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại; vững mạnh về chính trị, tư tưởng, đạo đức, tổ chức và cán bộ”1. Đây là định hướng chiến lược của Đảng, đòi hỏi Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng phải tập trung lãnh đạo, chỉ đạo và tổ chức xây dựng Quân đội vững mạnh toàn diện, làm nòng cốt bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa trong tình hình mới; trong đó, xây dựng Quân đội vững mạnh về chính trị làm cơ sở nâng cao chất lượng tổng hợp, sức mạnh và khả năng chiến đấu của Quân đội là chủ trương, đường lối nhất quán của Đảng và Nhà nước ta.
Thực chất của việc xây dựng Quân đội vững mạnh về chính trị là không ngừng bồi đắp bản chất giai cấp công nhân, tính nhân dân, tính dân tộc của Quân đội ta; bảo đảm trong bất kỳ tình huống nào Quân đội cũng luôn tuyệt đối trung thành với Tổ quốc, với Đảng, Nhà nước và Nhân dân, kiên định mục tiêu, lý tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, sẵn sàng nhận và hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ mà Đảng, Nhà nước và Nhân dân giao phó. Dưới sự lãnh đạo của Đảng, Bác Hồ kính yêu, từ khi ra đời đến nay, yêu cầu xây dựng Quân đội vững mạnh về chính trị luôn được đặt lên hàng đầu. Trong các cuộc kháng chiến, chính trị của Quân đội nhân dân Việt Nam là phát huy chủ nghĩa anh hùng cách mạng, quyết chiến, quyết thắng, không quản gian khổ, hy sinh, sẵn sàng chiến đấu vì độc lập, tự do của Tổ quốc, vì hạnh phúc của nhân dân. Trong sự nghiệp đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, yêu cầu xây dựng về chính trị được xác định là cơ sở để xây dựng các nhân tố khác đảm bảo cho Quân đội luôn vững vàng, miễn dịch trước tác động tiêu cực và sự chống phá của các thế lực thù địch trong thực hiện thủ đoạn “phi chính trị hóa”, hòng tách Quân đội ra khỏi sự lãnh đạo của Đảng.
Nhận thức rõ sự cần thiết phải xây dựng Quân đội vững mạnh về chính trị, Đảng Cộng sản Việt Nam mà thường xuyên, trực tiếp là Bộ Chính trị, Ban Bí thư, Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng, Tổng cục Chính trị luôn quan tâm chăm lo lãnh đạo, chỉ đạo, xây dựng bảo đảm cho Quân đội trong bất kỳ tình huống nào cũng luôn là lực lượng chính trị, lực lượng chiến đấu tuyệt đối trung thành với Tổ quốc, với Đảng, Nhà nước và Nhân dân; chắc tay súng, vững vàng về tư tưởng, không hoang mang, dao động trước sự chống phá của các thế lực thù địch và ảnh hưởng tiêu cực của xã hội. Cùng với nhiệm vụ huấn luyện, sẵn sàng chiến đấu, Quân đội luôn hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ “chiến đấu trong thời bình” vượt qua thách thức của an ninh phi truyền thống; chủ động đấu tranh với các quan điểm sai trái, thù địch, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng. Tích cực tham gia phát triển kinh tế - xã hội, giúp nhân dân xóa đói, giảm nghèo, đền ơn đáp nghĩa, xây dựng cơ sở chính trị, đời sống văn hóa mới, nhất là trên các địa bàn chiến lược, trọng điểm, vùng sâu, vùng xa, biên giới, biển, đảo. Toàn quân thực hiện tốt công tác nghiên cứu, nắm, đánh giá, dự báo tình hình, tham mưu chiến lược; kiên quyết, kiên trì, xử lý kịp thời, linh hoạt, hiệu quả các tình huống cả an ninh truyền thống và phi truyền thống, không để bị động, bất ngờ. Đồng thời, là lực lượng nòng cốt, xung kích đi đầu và hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ phòng, chống thiên tai, dịch bệnh, cứu hộ, cứu nạn, khắc phục sự cố môi trường, với tinh thần “ở đâu khó khăn, gian khổ, ở đó có bộ đội”. Trong bất kỳ thời điểm nào, phẩm chất “Bộ đội Cụ Hồ” luôn tỏa sáng trong lòng nhân dân.
Trong những năm tới, tình hình thế giới tiếp tục có những diễn biến phức tạp. Hòa bình, hợp tác và phát triển vẫn là xu thế lớn, song đang đứng trước nhiều trở ngại, khó khăn; các mâu thuẫn cơ bản của thời đại tiếp tục tồn tại và phát triển; cạnh tranh chiến lược giữa các nước lớn, xung đột cục bộ diễn ra dưới nhiều hình thức, phức tạp, quyết liệt và gay gắt hơn. Cục diện thế giới tiếp tục biến đổi theo xu hướng đa cực, đa trung tâm. Các nước lớn vừa hợp tác, vừa thỏa hiệp, vừa đấu tranh kiềm chế lẫn nhau và can dự, chi phối vào nội bộ các nước khác. Các yếu tố an ninh phi truyền thống, nhất là an ninh mạng, khủng bố, thiên tai, dịch bệnh vẫn diễn biến phức tạp; xuất hiện nhiều hình thái chiến tranh mới, tác động sâu sắc tới mọi quốc gia, dân tộc. Ở trong nước, thế và lực, sức mạnh tổng hợp quốc gia, uy tín quốc tế của nước ta ngày càng được nâng cao. Tuy nhiên, đất nước phải đối mặt với nhiều khó khăn, thách thức, nhất là tác động của suy thoái kinh tế, tài chính; những tiêu cực và tệ nạn xã hội; vấn đề bảo vệ chủ quyền biển, đảo,… các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị tăng cường hoạt động “diễn biến hòa bình”, thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ, “phi chính trị hóa” Quân đội, với thủ đoạn ngày càng tinh vi, xảo quyệt, v.v. Tình hình trên tác động, chi phối không nhỏ đến sự nghiệp xây dựng Quân đội, củng cố quốc phòng, bảo vệ Tổ quốc, nhất là yêu cầu xây dựng Quân đội về chính trị. Quán triệt, thực hiện quan điểm, chủ trương của Đảng về quân sự, quốc phòng, bảo vệ Tổ quốc trong Nghị quyết Đại hội XIII vào xây dựng Quân đội nhân dân Việt Nam vững mạnh về chính trị, cấp ủy, chỉ huy, cơ quan chức năng các cấp trong Quân đội phải nắm vững và làm tốt một số nội dung, biện pháp cơ bản sau:
Một là, thường xuyên giữ vững, tăng cường sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng và nâng cao hiệu lực quản lý của Nhà nước đối với Quân đội. Thực tiễn chỉ ra rằng, sự lãnh đạo của Đảng là nhân tố quyết định chất lượng chính trị và sự phát triển, trưởng thành, chiến thắng của Quân đội ta, không có lực lượng nào, đảng phái nào thay thế được. Để giữ vững, tăng cường sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng và hiệu lực quản lý của Nhà nước đối với nhiệm vụ xây dựng Quân đội, củng cố quốc phòng, bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới, cấp ủy, chỉ huy các cấp trong Quân đội cần quán triệt, nắm vững quan điểm, chủ trương Đại hội XIII của Đảng và các nghị quyết, kết luận của Bộ Chính trị, Ban Bí thư, Nghị quyết Đại hội đại biểu Đảng bộ Quân đội lần thứ XI, mệnh lệnh, chỉ thị của Bộ Quốc phòng, v.v. Chủ động nghiên cứu, đánh giá, dự báo chính xác tình hình, kịp thời tham mưu với Đảng, Nhà nước có chủ trương, đối sách bảo vệ Tổ quốc, giữ vững môi trường hòa bình, ổn định, làm nền tảng để xây dựng, phát triển bền vững đất nước. Phối hợp với các cấp, các ngành, địa phương triển khai thực hiện nghiêm túc, hiệu quả đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước về quân sự, quốc phòng, trước hết là các nghị quyết, kết luận của Bộ Chính trị về Chiến lược Quốc phòng, Chiến lược Quân sự, Chiến lược Bảo vệ an ninh quốc gia, Chiến lược Bảo vệ biên giới quốc gia và Chiến lược Bảo vệ Tổ quốc trên không gian mạng, v.v. Trong bất kỳ điều kiện, hoàn cảnh nào, Đảng bộ Quân đội luôn tin tưởng, trung thành, thực hiện nghiêm chỉnh sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý của Nhà nước, với tinh thần ở đâu có hoạt động của Quân đội, ở đó có sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý của Nhà nước; tiếp tục nâng cao chất lượng, hiệu lực, hiệu quả công tác đảng, công tác chính trị trong các nhiệm vụ; bám sát tình hình thực tiễn để xác định chủ trương, biện pháp lãnh đạo, chỉ đạo xây dựng lực lượng cho phù hợp. Đẩy mạnh công tác tổng kết thực tiễn, nghiên cứu, bổ sung, phát triển lý luận về quân sự, quốc phòng, nghệ thuật quân sự, xây dựng Quân đội về chính trị, đáp ứng yêu cầu bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới.
Hai là, chăm lo xây dựng Đảng bộ Quân đội trong sạch, vững mạnh, mẫu mực, tiêu biểu, có năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu cao. Xây dựng Đảng bộ Quân đội trong sạch, vững mạnh, gương mẫu, tiêu biểu cả về chính trị, tư tưởng, đạo đức và tổ chức, nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của cấp ủy, tổ chức đảng trong Đảng bộ, góp phần tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với Quân đội, xây dựng Quân đội vững mạnh về chính trị. Để làm được điều đó, cấp ủy, tổ chức đảng các cấp trong Đảng bộ phải coi trọng việc quán triệt, thực hiện nghiêm quan điểm, chủ trương về xây dựng Đảng theo Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng; Nghị quyết Đại hội Đảng bộ Quân đội lần thứ XI. Tiếp tục triển khai thực hiện có hiệu quả Nghị quyết Trung 4 (Khóa XI, XII) về xây dựng, chỉnh đốn Đảng gắn với thực hiện Chỉ thị số 05-CT/TW của Bộ Chính trị, Chỉ thị số 87-CT/QUTW của Thường vụ Quân ủy Trung ương về học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh. Đồng thời, đổi mới, nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác giáo dục chính trị, tư tưởng, làm cho cán bộ, đảng viên, quần chúng trong toàn quân nhận thức ngày càng đầy đủ, sâu sắc hơn về chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, nhiệm vụ của cách mạng, của Quân đội, chức trách và nhiệm vụ được giao; kiên định mục tiêu, lý tưởng, giữ vững lập trường, bản lĩnh chính trị, phát huy trí tuệ, hoàn thiện phong cách lãnh đạo, nâng cao tính chiến đấu; nhận diện, phân biệt rõ đối tác, đối tượng, không mơ hồ, mất cảnh giác trước âm mưu, thủ đoạn, hoạt động chống phá của các thế lực thù địch.
Cùng với đó, nghiên cứu, đề xuất với Bộ Chính trị tiếp tục bổ sung, hoàn thiện cơ chế lãnh đạo của Đảng đối với Quân đội, củng cố quốc phòng, bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới. Thực hiện nghiêm các quy định của Bộ Chính trị, Ban Bí thư về tổ chức đảng và tổ chức cơ quan chính trị trong Quân đội nhân dân Việt Nam; giữ vững nguyên tắc tổ chức, sinh hoạt Đảng; nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của cấp ủy, tổ chức đảng. Tăng cường quản lý, giáo dục, rèn luyện đội ngũ đảng viên, nhất là đảng viên mới; đồng thời, rà soát, sàng lọc, đưa những người không đủ tư cách ra khỏi Đảng. Nâng cao hiệu lực, hiệu quả công tác kiểm tra, giám sát; kiên quyết xử lý nghiêm minh mọi hành vi vi phạm kỷ luật Đảng, pháp luật Nhà nước, kỷ luật Quân đội. Thực hiện nghiêm túc Quy chế dân chủ ở cơ sở, phát huy trí tuệ tập thể, đề cao tính chủ động, sáng tạo, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm của đội ngũ cán bộ. Rà soát, sửa đổi, bổ sung và thực hiện nghiêm quy chế làm việc, quy chế lãnh đạo các mặt công tác trọng yếu; đổi mới phương pháp, phong cách lãnh đạo theo hướng tập trung, sâu sát, quyết liệt, thiết thực hiệu quả.
Nêu cao ý thức tự giác học tập, tu dưỡng, rèn luyện phẩm chất đạo đức cách mạng, thực hiện nghiêm các quy định về nêu gương của cán bộ, đảng viên, nhất là cấp ủy, cán bộ chủ trì các cấp; cổ vũ, biểu dương những tấm gương sáng về đạo đức, tạo ảnh hưởng sâu rộng trong toàn quân, đồng thời kiên quyết đấu tranh phản bác các quan điểm, hành vi phi đạo đức, thiếu nhân văn, phản văn hóa trong đơn vị.
Ba là, tập trung xây dựng Quân đội tinh, gọn, mạnh; không ngừng nâng cao chất lượng tổng hợp, sức mạnh chiến đấu, luôn xứng đáng là lực lượng nòng cốt bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Chính trị của Quân đội ta không chỉ thể hiện ở bản chất giai cấp công nhân, tính nhân dân, tính dân tộc, mục tiêu, lý tưởng chiến đấu, mà còn được thể hiện ở sự vững mạnh về mặt tổ chức và kết quả thực hiện nhiệm vụ trên thực tế. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ rõ: “Riêng các chú, chính trị biểu hiện ra trong lúc đánh giặc”2. Cùng với việc tích cực nghiên cứu, quán triệt, nắm vững tinh thần Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng, Nghị quyết Đại hội đại biểu Đảng bộ Quân đội lần thứ XI, cấp ủy, chỉ huy các cấp trong Quân đội cần tiếp tục quán triệt, lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện tốt Kết luận số 16-KL/TW, ngày 07/7/2017 và Nghị quyết số 15-NQ/TƯ, ngày 01/8/2017 của Bộ Chính trị về tổ chức lực lượng và bảo đảm vũ khí, trang bị cho Quân đội nhân dân Việt Nam. Quyết liệt triển khai, tổ chức thực hiện thắng lợi mục tiêu xây dựng Quân đội nhân dân Việt Nam cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại; một số quân chủng, binh chủng, lực lượng tiến thẳng lên hiện đại. Đến năm 2025, cơ bản xây dựng Quân đội tinh, gọn, mạnh. Đến năm 2030, một số quân chủng, binh chủng, lực lượng hiện đại; phấn đấu từ năm 2030 xây dựng Quân đội hiện đại, với bước đi, cách làm phù hợp, hiệu quả.
Toàn quân thực hiện đột phá đổi mới công tác huấn luyện theo tinh thần Nghị quyết số 765-NQ/QUTW, ngày 20/12/2012 và Kết luận số 60-KL/QUTW, ngày 18/01/2019 của Quân ủy Trung ương về tiếp tục thực hiện Nghị quyết số 765-NQ/QUTW “Nâng cao chất lượng huấn luyện giai đoạn 2013 - 2020 và những năm tiếp theo”. Vận dụng sáng tạo quan điểm, nguyên tắc, phương châm, mối kết hợp, nâng cao chất lượng huấn luyện, diễn tập, xây dựng khu vực phòng thủ, đảm bảo cho cán bộ, chiến sĩ có bản lĩnh chính trị vững vàng, ý chí quyết tâm cao, trình độ kỹ thuật, chiến thuật, nghiệp vụ giỏi, năng lực tư duy sáng tạo, dũng cảm, quyết đoán, khả năng thích ứng nhanh, hành động chiến đấu kiên quyết, xử lý hiệu quả các tình huống. Chủ động, tích cực đưa bộ đội vào hoạt động huấn luyện, diễn tập, sẵn sàng chiến đấu, khắc phục thách thức an ninh phi truyền thống,… đẩy mạnh công tác dân vận, gắn bó “máu thịt” với nhân dân, thực sự là cầu nối giữa “ý Đảng” và “lòng dân”, góp phần nâng cao chất lượng tổng hợp, sức mạnh chiến đấu, sẵn sàng hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ.
Bốn là, lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện tốt công tác cán bộ, xây dựng đội ngũ cán bộ các cấp, nhất là cấp chiến lược đủ phẩm chất, năng lực, uy tín, ngang tầm nhiệm vụ. Đảng bộ Quân đội tiếp tục triển khai thực hiện Nghị quyết số 26-NQ/TW, ngày 19/5/2018 của Ban Chấp hành Trung ương (khóa XII); Nghị quyết số 109-NQ/QUTW, ngày 11/02/2019 của Quân ủy Trung ương về công tác cán bộ và xây dựng đội ngũ cán bộ ngang tầm nhiệm vụ. Trong đó, tập trung xây dựng đội ngũ cán bộ các cấp có bản lĩnh chính trị vững vàng, tuyệt đối trung thành với Tổ quốc, với Đảng, Nhà nước, Nhân dân và chế độ xã hội chủ nghĩa; có phẩm chất đạo đức cách mạng trong sáng, kiến thức, năng lực toàn diện, ý thức tổ chức kỷ luật nghiêm; tín nhiệm cao, sức khỏe tốt, độ tuổi phù hợp; có số lượng, cơ cấu hợp lý, chất lượng cao; bảo đảm sự chuyển tiếp vững chắc giữa các thế hệ, đáp ứng yêu cầu cả nhiệm vụ trước mắt và lâu dài. Làm tốt việc đánh giá, quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng, bố trí, sắp xếp, sử dụng cán bộ chỉ huy, quản lý các cấp; chú trọng phát hiện, bồi dưỡng cán bộ trẻ, cán bộ nữ, cán bộ là người dân tộc thiểu số. Tập trung phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao; ưu tiên đào tạo cán bộ nghiên cứu khoa học, giảng dạy, chuyên gia đầu ngành, cán bộ thiết kế, chế tạo, quản lý, khai thác làm chủ vũ khí, trang bị hiện đại, cán bộ làm công tác đối ngoại, v.v. Tiếp tục nghiên cứu, đề xuất với Đảng, Nhà nước và triển khai thực hiện tốt các chế độ, chính sách đối với cán bộ, v.v. Cùng với đó, kiên quyết xử lý nghiêm những cán bộ, đảng viên vi phạm kỷ luật của Đảng, pháp luật của Nhà nước, kỷ luật của Quân đội; có những biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống; “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”. Coi trọng xây dựng tổ chức đảng về tư tưởng, chính trị, tổ chức, cán bộ và đạo đức. Đề cao tính tổ chức, tính kỷ luật và thực hiện nghiêm công tác kiểm tra, giám sát; nhận xét, đánh giá cán bộ; làm tốt công tác bồi dưỡng, đào tạo cán bộ, nhất là đội ngũ cán bộ cấp chiến lược, chiến dịch.
Năm là, kiên quyết đấu tranh làm thất bại mưu đồ “phi chính trị hóa” Quân đội; phòng ngừa, ngăn chặn những biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ. Đây là vấn đề rất quan trọng và cấp thiết, trực tiếp góp phần bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng nói chung và xây dựng Quân đội vững mạnh về chính trị nói riêng. Cấp ủy, chỉ huy, cơ quan chính trị các cấp cần nhận thức đúng, đấu tranh quyết liệt với âm mưu, thủ đoạn nham hiểm của các thế lực thù địch, hòng phủ nhận sự lãnh đạo của Đảng đối với Quân đội, làm cho Quân đội xa rời mục tiêu, lý tưởng chiến đấu, phân rã tư tưởng, lỏng lẻo về mặt tổ chức. Từ đó, chúng dễ bề thực hiện âm mưu, hoạt động “diễn biến hòa bình” nhằm chống phá Đảng, chế độ, hướng lái cách mạng Việt Nam theo quỹ đạo của chúng. Cùng với đó, phải tích cực đấu tranh chống lại những biểu hiện suy thoái, tiêu cực, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, làm trong sạch nội bộ. Trước mắt, toàn Đảng bộ tổ chức nghiêm túc việc học tập Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng, Nghị quyết Đại hội XI Đảng bộ Quân đội, đề cao tinh thần trách nhiệm trong học tập, nghiên cứu và vận dụng vào thực tiễn hoạt động quân sự, quốc phòng, bảo vệ Tổ quốc. Bởi, lười học tập chính trị, nghiên cứu nghị quyết cũng là biểu hiện của sự suy thoái về tư tưởng chính trị.
Trong đấu tranh phải vận dụng linh hoạt các hình thức, biện pháp; kết hợp phản bác các luận điệu sai trái của các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị với phê phán, lên án những nhận thức, hành vi tiêu cực, lệch lạc trong nội bộ. Phát huy sức mạnh tổng hợp của hệ thống thông tin truyền thông, báo chí, phát thanh, truyền hình, hệ thống giáo dục lý luận chính trị, tuyên truyền miệng, thiết chế văn hóa và thông qua mạng xã hội, Internet để phổ biến, tuyên truyền chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước. Đồng thời, áp dụng các biện pháp kỹ thuật ngăn chặn, bóc gỡ các thông tin, tài liệu có nội dung phản động, xuyên tạc bản chất, truyền thống của Quân đội, của Đảng và dân tộc; phát huy hơn nữa vai trò của các viện nghiên cứu, học viện, nhà trường, đội ngũ cán bộ khoa học, lực lượng 47 trong đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, phản động.
Với trách nhiệm chính trị cao trước Đảng, dân tộc, Đảng bộ Quân đội quán triệt, thực hiện nghiêm túc Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng, Nghị quyết Đại hội Đảng bộ Quân đội lần thứ XI, chú trọng xây dựng Quân đội vững mạnh về chính trị, làm cơ sở để xây dựng Quân đội tiến lên hiện đại, thực sự là lực lượng nòng cốt bảo vệ Đảng, Nhà nước, Nhân dân và chế độ, giữ vững phẩm chất “Bộ đội Cụ Hồ”,… góp phần thực hiện thắng lợi sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.
Nguồn: Tạp
chí Quốc phòng toàn dân
Về tổ chức, xây dựng quân đội giai đoạn 2021 - 2030 theo định hướng của Đảng
Quán triệt và thực hiện Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng, ngày 17/01/2022, Bộ Chính trị đã ban hành Nghị quyết số 05-NQ/TW về tổ chức Quân đội nhân dân Việt Nam giai đoạn 2021 - 2030 và những năm tiếp theo. Theo đó, ngày 02/4/2022, Quân ủy Trung ương ban hành Nghị quyết số 230-NQ/QUTW lãnh đạo thực hiện, với mục tiêu xác định là đến năm 2025, Quân đội sẽ được xây dựng cơ bản tinh, gọn, mạnh; tạo tiền đề vững chắc, phấn đấu năm 2030 xây dựng Quân đội cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại. Đây là chủ trương hết sức đúng đắn, sáng tạo của Đảng, Nhà nước; đồng thời, cũng thỏa lòng mong mỏi và nguyện vọng chính đáng của toàn dân, toàn quân ta.
Thực tiễn lịch sử đã chứng minh, đối với quân đội của mọi quốc gia, việc tổ chức và điều chỉnh tổ chức lực lượng trong quá trình phát triển luôn cần thiết, quan trọng và là yêu cầu khách quan. Nếu điều chỉnh tổ chức quân đội đúng thời điểm, phù hợp với biên chế, vũ khí trang bị, phương tiện kỹ thuật, chiến lược quân sự, phương thức tiến hành chiến tranh, đặc điểm tình hình quốc tế, đất nước,… thì sức mạnh sẽ được tăng cường; còn nếu không phù hợp thì tất nhiên kết quả sẽ ngược lại. Đây là vấn đề khoa học, vì thế không phải cứ muốn là có thể làm, mà đòi hỏi phải hội tụ đủ điều kiện cần thiết thì thực hiện mới thành công. Đối với Quân đội nhân dân Việt Nam cũng vậy, không phải là ngoại lệ. Đáng nói là Quân đội ta đã trải qua gần 80 năm xây dựng, chiến đấu và trưởng thành. Trong quá trình đó, đã tiến hành một số lần điều chỉnh tổ chức phù hợp với chức năng, nhiệm vụ của Quân đội và tình hình của đất nước trong từng giai đoạn cách mạng. Tuy nhiên, những đợt điều chỉnh tổ chức lực lượng trước đây chưa lớn, chưa căn bản, có khi chỉ mang tính cục bộ với mục tiêu, yêu cầu nhất định. Đợt điều chỉnh tổ chức Quân đội lần này thì khác, đó là cơ bản, quy mô và toàn diện hơn, nhằm mục tiêu đảm bảo cho Quân đội “tinh, gọn, mạnh”, có sức chiến đấu cao, thực sự là lực lượng nòng cốt bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới.
Qua nghiên cứu về phương hướng, mục tiêu, yêu cầu,… điều chỉnh tổ chức, xây dựng Quân đội giai đoạn 2021 - 2030 theo quan điểm của Đảng, để thực hiện tốt, theo chúng tôi, cần tập trung giải quyết những vấn đề chính sau.
Thứ nhất, về nhận thức tư tưởng. Trên cơ sở quán triệt sâu sắc quan điểm của Đảng, chúng ta cần nhận thức rõ việc điều chỉnh tổ chức Quân đội lần này là chủ trương lớn, quan trọng, đúng đắn, cấp thiết; đồng thời, cũng là nhiệm vụ trọng tâm của Quân đội giai đoạn 2021 - 2030. Triển khai thực hiện chủ trương trên, chúng ta thấy Đảng ta không hề chủ quan, nóng vội, mà trái lại đã rất khách quan, khoa học. Đảng đã kiên trì lãnh đạo xây dựng Quân đội với thời gian đủ dài (gần 80 năm), kinh nghiệm đủ nhiều, sự trưởng thành đủ độ,... và đến nay là thời điểm phù hợp để tiến hành thực hiện. Phương hướng xây dựng Quân đội từ năm 2021 - 2030 có thể chia thành hai giai đoạn: 2021 - 2025 và 2025 - 2030. Mỗi giai đoạn có mục tiêu, yêu cầu riêng, nhưng gắn kết chặt chẽ với nhau, giai đoạn trước là tiền đề của giai đoạn sau, giai đoạn sau là kết quả tổng hợp và tiếp nối giai đoạn trước. Trong đó, trọng tâm của xây dựng Quân đội từ năm 2021-2025 là điều chỉnh tổ chức, xây dựng lực lượng cơ bản “tinh, gọn, mạnh”, tạo tiền đề vững chắc để phấn đấu xây dựng cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại vào năm 2030. Như vậy, kết quả điều chỉnh tổ chức, xây dựng lực lượng của giai đoạn này rất quan trọng, thực hiện tốt hay không sẽ tác động tương ứng đối với giai đoạn sau. Mục tiêu, yêu cầu của giai đoạn này rất rõ, nhưng để thực hiện được lại không dễ, đòi hỏi sự nỗ lực lớn, quyết tâm cao của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân, trực tiếp là Quân đội. Bởi, điều chỉnh tổ chức Quân đội là vấn đề khoa học quân sự, hay nói rõ hơn là khoa học tổ chức lực lượng quân sự theo tính đặc thù cao, liên quan đến nhiều yếu tố tác động trực tiếp và gián tiếp. Cho nên, trong quá trình triển khai thực hiện, cần phải triệt để tuân thủ tính khoa học, phải nghiên cứu kỹ, sâu tình hình, thực trạng, những vấn đề liên quan, hạn chế tới mức thấp nhất những sai lầm, thiếu sót làm ảnh hưởng xấu đến kết quả. Quán triệt tinh thần đó, các cơ quan, đơn vị cần rất thận trọng nghiên cứu, xây dựng kế hoạch và triển khai thực hiện chặt chẽ, không chủ quan nóng vội, làm đến đâu chắc đến đó, đảm bảo thời gian, tiến độ công việc theo đúng kế hoạch.
Thứ hai, điều chỉnh tổ chức Quân đội phải đạt mục tiêu cơ bản “tinh, gọn, mạnh”. Xét về tổng thể, kế hoạch điều chỉnh tổ chức Quân đội sẽ được hoàn thành vào cuối năm 2025, nhưng không phải tất cả các đầu mối cơ quan, đơn vị thực hiện cùng lúc và đến khi đó mới hoàn thành, mà với những bộ phận đủ điều kiện thì khẩn trương triển khai thực hiện và hoàn thành trước, những bộ phận chưa đủ điều kiện thì triển khai và hoàn thành sau. Như vậy, từ năm 2021 đến năm 2025, trong từng quý, từng năm đều có cơ quan, đơn vị hoàn thành việc điều chỉnh tổ chức. Một điểm cần chú ý là, đến cuối năm 2025 mới hoàn thành mục tiêu cơ bản “tinh, gọn, mạnh”. Cơ bản có nghĩa chưa phải là tất cả các đầu mối tổ chức đều đã “tinh, gọn, mạnh”, còn lại là việc tiếp tục phải làm của giai đoạn 2025-2030. Xây dựng quân đội “tinh, gọn, mạnh” là xu hướng chung của mọi quốc gia, nhằm đáp ứng nhu cầu của chiến tranh hiện đại, chứ không phải vấn đề riêng của Việt Nam. Nhưng thế nào là “tinh, gọn, mạnh” và làm sao để đạt được mục tiêu đó? Thực ra đây là ba nội dung (vấn đề) khác nhau nhưng có mối quan hệ chặt chẽ, khăng khít với nhau, nên trong quá trình điều chỉnh tổ chức Quân đội không được xem nhẹ bất cứ nội dung nào. Trước hết, về yếu tố “tinh”. Đối với quân đội “tinh”, có nghĩa là tinh nhuệ, muốn nói đến chất lượng con người và vũ khí, trang bị, trước hết là tinh nhuệ về chính trị, trình độ tác chiến - nội dung cốt lõi, căn bản nhất của xây dựng Quân đội. Các bậc tiền nhân có câu: “quý hồ tinh, bất quý hồ đa” tức là “quân cốt tinh, không cốt nhiều”, “tinh binh, tinh cán”. Về yếu tố “gọn”, tức là các đầu mối tổ chức cơ quan, đơn vị được xây dựng cân đối, đồng bộ, hợp lý, khoa học giữa các thành phần lực lượng, không để cồng kềnh, chồng chéo chức năng, nhiệm vụ, hiệu quả hoạt động thấp. Về yếu tố “mạnh”, muốn chỉ đến sức mạnh của Quân đội, trước hết là sức mạnh chiến đấu - một trong ba chức năng cơ bản của Quân đội ta. Quân đội mạnh hội tụ nhiều yếu tố, dựa trên sự kết hợp giữa yếu tố tổ chức, con người với vũ khí, trang bị và nghệ thuật quân sự Việt Nam, tạo thành sức mạnh tổng hợp vượt trội đối phương, nhằm đánh thắng mọi kẻ thù trong các hình thái chiến tranh.
Để đạt được mục tiêu đó, cần triển khai điều chỉnh tổ chức, biên chế theo hướng: Về tổ chức, tiến hành điều chỉnh tổ chức từ cơ quan, đơn vị trực thuộc Bộ Quốc phòng đến các cơ quan, đơn vị cấp chiến dịch, chiến thuật. Điều chỉnh thế bố trí lực lượng để đáp ứng nhiệm vụ trên cả 5 môi trường tác chiến (không, bộ, biển, không gian mạng, không gian vũ trụ). Trong đó, chú trọng vào giải thể, sáp nhập, điều chuyển một số cơ quan, đơn vị trực thuộc Bộ Quốc phòng; điều chỉnh và tổ chức lại các đơn vị thuộc khối quân khu, quân chủng, quân đoàn, binh chủng;... khối học viện, nhà trường, khối viện, trung tâm nghiên cứu, khối kho hậu cần - kỹ thuật, khối doanh nghiệp quốc phòng. Về quân số, trên cơ sở thực hiện đúng quy định của Đảng về tổng quân số, tiến hành điều chỉnh cơ cấu quân số theo hướng nâng tỷ lệ thành phần hưởng lương để đáp ứng nhu cầu khai thác, sử dụng và làm chủ vũ khí, trang bị mới, hiện đại, v.v. Đây là mục tiêu có ý nghĩa rất quan trọng, tạo tiền đề, cơ sở vững chắc để đến năm 2030 phấn đấu xây dựng Quân đội cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại.
Thứ ba, điều chỉnh tổ chức lực lượng thường trực phải gắn chặt với nâng cao chất lượng tổng hợp lực lượng dự bị động viên và dân quân tự vệ. Quân đội có hai thành phần lực lượng: lực lượng thường trực và lực lượng dự bị động viên. Mỗi thành phần lực lượng có vai trò, vị trí chiến lược riêng, tạo nên sức mạnh của Quân đội. Đề cập xây dựng Quân đội nói chung, điều chỉnh tổ chức Quân đội nói riêng có nghĩa là đối với cả hai thành phần lực lượng, chứ không chỉ lực lượng thường trực. Trong đó, lực lượng thường trực đảm nhiệm vai trò nòng cốt, thường trực trong hoạt động quân sự, quốc phòng, bảo vệ Tổ quốc. Lực lượng dự bị động viên được tổ chức, xây dựng ngay từ trong thời bình và được huy động với quy mô khác nhau để bổ sung kịp thời cho Quân đội. Sức mạnh chiến đấu của Quân đội chỉ có thể được duy trì liên tục khi có lực lượng dự bị động viên hùng hậu, chất lượng tổng hợp cao. Vì thế, có thể khẳng định cùng với lực lượng thường trực, lực lượng dự bị động viên có vai trò chiến lược, là một trong những nhân tố góp phần quyết định thắng lợi trong chiến tranh bảo vệ Tổ quốc. Đây không phải là vấn đề riêng của Việt Nam mà đối với mọi quốc gia đều như vậy, đều phải tiến hành động viên khi cần thiết. Cần nhấn mạnh rằng, do nhiều nguyên nhân, nên hiện nay chất lượng tổng hợp, nhất là trình độ, khả năng tác chiến giữa lực lượng thường trực và lực lượng dự bị động viên vẫn còn khoảng cách nhất định, thậm chí khá xa. Hướng phấn đấu của chúng ta là từng bước thu hẹp dần khoảng cách đó, chỉ có như vậy mới đảm bảo cho Quân đội thực sự vững mạnh. Cho nên trong quá trình điều chỉnh tổ chức lực lượng thường trực nói riêng, xây dựng Quân đội cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại nói chung cần phải coi trọng gắn chặt với tổ chức, xây dựng, nâng cao chất lượng tổng hợp của lực lượng dự bị động viên.
Cùng với đó, không được coi nhẹ việc xây dựng, củng cố lực lượng dân quân tự vệ. Bởi, đây là một thành phần của lực lượng vũ trang ba thứ quân (bộ đội chủ lực, bộ đội địa phương, dân quân tự vệ) có vai trò rất quan trọng. Trong thời bình, dân quân tự vệ là lực lượng chủ yếu bảo vệ cấp ủy, chính quyền cơ sở, là lực lượng nòng cốt trong hoạt động quân sự, quốc phòng và tham gia giữ gìn an ninh, trật tự, an toàn xã hội ở địa phương, cơ sở. Trong chiến tranh, dân quân tự vệ cùng với bộ đội địa phương là lực lượng nòng cốt của chiến tranh nhân dân địa phương, phong trào toàn dân đánh giặc. Do đó, xây dựng Quân đội cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại cần phải được thực hiện đồng bộ với xây dựng lực lượng dân quân tự vệ vững mạnh, rộng khắp, chất lượng tổng hợp cao, trước hết là chất lượng chính trị.
Thực tiễn cho thấy, quan điểm của Đảng về xây dựng Quân đội, bảo vệ Tổ quốc là nhất quán, nhưng luôn có nội dung mới, phát triển, thể hiện tư duy mới, sáng tạo. Định hướng của Đảng tại Đại hội XIII về tổ chức, xây dựng Quân đội nhân dân Việt Nam giai đoạn 2021 - 2030 cũng vậy, không tách rời Nghị quyết Trung ương 8 (khóa XI) về “Chiến lược bảo vệ tổ quốc trong tình hình mới”. Mấy nội dung lớn đề cập ở trên, một mặt, phân tích rõ định hướng của Đảng về tổ chức, xây dựng Quân đội trong từng giai đoạn (2021 - 2025, 2025 - 2030); mặt khác, có đề cập những nội dung không thể tách rời trong quá trình thực hiện cũng nhằm thể hiện tinh thần đó.
Nguồn: Tạp
chí Quốc phòng toàn dân
Xây dựng Quân đội về chính trị - bài học xuyên suốt quá trình xây dựng, trưởng thành, chiến thắng của Quân đội nhân dân Việt Nam
Đảm bảo sự vững mạnh về chính trị là nguyên tắc cơ bản trong xây dựng quân đội kiểu mới của giai cấp vô sản. Nắm vững nguyên lý đó, 70 năm qua, Đảng ta luôn quan tâm xây dựng Quân đội vững mạnh về chính trị. Đó là bài học xuyên suốt quá trình xây dựng, chiến đấu, trưởng thành, chiến thắng của Quân đội nhân dân Việt Nam.
Thượng tướng Ngô Xuân Lịch cùng các đại biểu tham dự Hội thảo khoa học "Tổng cục Chính trị - 70 năm với sự nghiệp xây dựng Quân đội vững mạnh về chính trị". (Nguồn: bqp.vn) |
Học thuyết Mác – Lê-nin chỉ ra rằng: Vấn đề cơ bản của mọi cuộc cách mạng là giành chính quyền. Giai cấp vô sản muốn giành chính quyền, lật đổ sự thống trị của giai cấp tư sản thì phải tổ chức ra một quân đội kiểu mới, được xây dựng vững mạnh cả về chính trị, tư tưởng và tổ chức, đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản. Sức mạnh của quân đội cách mạng là kết quả tổng hợp của nhiều yếu tố: con người, vũ khí, trang bị, nghệ thuật, cách đánh…; trong đó, chính trị - tinh thần là một yếu tố có ý nghĩa quyết định. Khi bàn về vấn đề này, V.I. Lê-nin nhấn mạnh: “Trong mọi cuộc chiến tranh, rốt cuộc thắng lợi đều tùy thuộc vào tinh thần của quần chúng đang đổ máu trên chiến trường”1. Thấm nhuần, vận dụng sáng tạo tư tưởng đó vào điều kiện cụ thể của cách mạng Việt Nam, tư tưởng quân sự của Chủ tịch Hồ Chí Minh về xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân, Quân đội nhân dân (QĐND) là “người trước, súng sau”; nhiệm vụ quân sự phải phục tùng nhiệm vụ chính trị; “Quân sự mà không có chính trị như cây không có gốc, vô dụng lại có hại”2. Trong Chỉ thị thành lập Đội Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng quân, Người nêu rõ tính chất, nhiệm vụ của Đội là “chính trị trọng hơn quân sự”3. Tư tưởng đó của Người thống nhất với quan điểm của Đảng ta, trở thành đường lối, nguyên tắc chỉ đạo, phương châm hành động xây dựng QĐND vững mạnh về mọi mặt, lấy xây dựng về chính trị làm cơ sở trong suốt quá trình xây dựng, chiến đấu, trưởng thành và chiến thắng.
Xây dựng Quân đội về chính trị thực chất là xây dựng và giữ vững bản chất giai cấp công nhân, tính dân tộc và tính nhân dân sâu sắc, đảm bảo cho Quân đội luôn là lực lượng chính trị, lực lượng chiến đấu trung thành, tin cậy của Đảng, Nhà nước và nhân dân; là đội quân cách mạng của nhân dân, từ nhân dân mà ra, vì nhân dân mà chiến đấu. Quán triệt tinh thần đó, 70 năm qua, dưới sự lãnh đạo, tổ chức, giáo dục, rèn luyện của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh, trực tiếp là Quân ủy Trung ương (QUTƯ), Bộ Quốc phòng, Quân đội ta không ngừng lớn mạnh và trưởng thành, thực sự là đội quân cách mạng, của dân, do dân và vì dân; xây đắp nên truyền thống vẻ vang:“Quân đội ta trung với Đảng, hiếu với dân, sẵn sàng chiến đấu (SSCĐ) hy sinh vì độc lập, tự do của Tổ quốc, vì CNXH. Nhiệm vụ nào cũng hoàn thành, khó khăn nào cũng vượt qua, kẻ thù nào cũng đánh thắng”4; xứng đáng với tên gọi giản dị, gần gũi của nhân dân - “Bộ đội Cụ Hồ”. Gắn liền với sự nghiệp cách mạng của Đảng, QĐND đã vượt qua muôn vàn thử thách, hy sinh, cùng nhân dân cả nước lập nên những chiến công chói lọi: Tiến hành Cách mạng tháng Tám thành công, lập nên nước Việt Nam dân chủ cộng hòa, Nhà nước công nông đầu tiên ở Đông Nam Á; đánh bại thực dân Pháp và đế quốc Mỹ xâm lược, thống nhất đất nước, hoàn thành sự nghiệp giải phóng dân tộc. Tiếp đó, thực hiện nhiệm vụ quốc tế cao cả, giúp nước bạn Cam-pu-chia thoát khỏi họa diệt chủng; đánh thắng chiến tranh xâm lược biên giới ở hai đầu đất nước và tích cực tham gia sự nghiệp xây dựng, bảo vệ Tổ quốc, v.v. Những kỳ tích rất đỗi tự hào mà QĐND giành được trước hết là nhờ có sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh, sự đùm bọc, giúp đỡ của nhân dân; sự nỗ lực phấn đấu không ngừng của các thế hệ cán bộ, chiến sĩ (CB,CS) trong QĐND.
Bước vào thời kỳ mới, để xây dựng Quân đội vững mạnh về mọi mặt, nhất là vững mạnh về chính trị, Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư, QUTƯ, Bộ Quốc phòng, Tổng cục Chính trị và cấp ủy, chỉ huy các cấp đã ban hành nhiều nghị quyết, chỉ thị, kế hoạch và hướng dẫn nhằm tăng cường hơn nữa sự lãnh đạo của Đảng đối với Quân đội, nâng cao hiệu quả công tác đảng, công tác chính trị (CTĐ,CTCT). Đặc biệt, qua kiểm điểm, tự phê bình và phê bình theo Nghị quyết Hội nghị lần thứ tư, ngày 16-01-2012 của Ban Chấp hành Trung ương (khóa XI) về xây dựng Đảng cho thấy, Đảng bộ Quân đội thực sự là một tập thể đoàn kết, thống nhất, thực hiện nghiêm nguyên tắc tập trung dân chủ, tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách; đội ngũ cán bộ, đảng viên có bản lĩnh chính trị vững vàng, không suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống; vai trò, trách nhiệm của người đứng đầu được phát huy. Những thành quả đó là cơ sở thực tiễn sinh động minh chứng cho việc Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn đặc biệt quan tâm xây dựng Quân đội vững mạnh về chính trị trong suốt 70 năm qua. Dù thời bình hay thời chiến, nhiệm vụ huấn luyện hay lao động sản xuất, việc xây dựng Quân đội vững mạnh về chính trị luôn được Đảng ta đặt lên hàng đầu. Bởi vậy, đã tạo cơ sở nền tảng vững chắc để nâng cao chất lượng tổng hợp, sức mạnh chiến đấu, bảo đảm cho QĐND luôn xứng đáng là lực lượng chính trị, lực lượng chiến đấu tuyệt đối trung thành, tin cậy của Đảng, Nhà nước và nhân dân, hoàn thành chức năng là đội quân chiến đấu, đội quân công tác, đội quân lao động sản xuất trong thời kỳ mới.
Hiện nay, tình hình thế giới, khu vực, nhất là tình hình Biển Đông tiếp tục diễn biến phức tạp, khó lường; song, hòa bình, hợp tác, phát triển vẫn là xu thế chủ đạo. Sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc của nhân dân ta có bước phát triển mới, yêu cầu cao; bên cạnh những thuận lợi rất cơ bản, cũng có không ít khó khăn đan xen. Những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử mà công cuộc đổi mới đem lại đã góp phần củng cố lòng tin của nhân dân và CB,CS Quân đội ta vào Đảng, chế độ XHCN. Đặc biệt, việc khắc phục khuyết điểm theo Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XI) và thực hiện Chỉ thị 03-CT/TW, ngày 14-5-2011 của Bộ Chính trị (khóa XI), Chỉ thị 317-CT/QUTW, ngày 05-8-2011 của Thường vụ QUTƯ về “Tiếp tục đẩy mạnh việc học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh” đạt được kết quả thiết thực. Cuộc vận động “Phát huy truyền thống, cống hiến tài năng, xứng danh Bộ đội Cụ Hồ” đang được triển khai tích cực trong toàn quân đã mang lại hiệu ứng tốt đối với xây dựng Quân đội về chính trị. Tuy nhiên, chúng ta cũng đang phải đối mặt với nhiều khó khăn, thách thức. Các thế lực thù địch tiếp tục đẩy mạnh chiến lược “Diễn biến hòa bình”, “phi chính trị hóa” quân đội với những âm mưu, thủ đoạn tinh vi, xảo quyệt nhằm tách Quân đội ra khỏi sự lãnh đạo của Đảng, nhất là trong dịp đại hội đảng các cấp hướng tới Đại hội XII của Đảng. Chúng ra sức tuyên truyền, lôi kéo, làm cho CB,CS xa rời mục tiêu, lý tưởng chiến đấu, giảm niềm tin vào Đảng, chế độ. Cùng với đó là những tiêu cực trong đời sống xã hội, nhất là tệ tham nhũng, lãng phí, mặt trái của kinh tế thị trường,… đang hằng ngày, hằng giờ tác động đến tâm tư, tình cảm của CB,CS, v.v.
Trong bối cảnh đó, yêu cầu xây dựng QĐND vững mạnh về chính trị càng phải được coi trọng, trở thành vấn đề vừa cơ bản, vừa cấp bách. Kế thừa và phát huy bài học kinh nghiệm 70 năm qua, trong tình hình hiện nay, xây dựng Quân đội về chính trị trước hết phải không ngừng tăng cường sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng đối với Quân đội. Đây là giải pháp then chốt có tính bao trùm, xuyên suốt quá trình xây dựng, chiến đấu và trưởng thành của Quân đội. Nếu xa rời sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản, quân đội sẽ mất phương hướng chính trị trong xây dựng và chiến đấu, phân rã về tư tưởng và tổ chức. Bài học từ sự đổ vỡ của Liên Xô và các nước XHCN ở Đông Âu vào cuối những năm 80 của thế kỷ XX đã chứng minh điều đó. Vì thế, tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với quân đội là nguyên tắc bất di bất dịch trong xây dựng quân đội cách mạng. Để làm được điều đó, toàn quân phải tiếp tục thực hiện có hiệu quả Nghị quyết 51-NQ/TW, ngày 20-7-2005 của Bộ Chính trị (khóa IX) về “Tiếp tục hoàn thiện cơ chế lãnh đạo của Đảng, thực hiện chế độ một người chỉ huy gắn với thực hiện chế độ chính ủy, chính trị viên trong QĐND Việt Nam”. Các cấp ủy cần làm tốt công tác xây dựng Đảng theo Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XI); trọng tâm là nâng cao năng lực lãnh đạo toàn diện, sức chiến đấu, đẩy mạnh tự phê bình và phê bình, tinh thần đoàn kết, thống nhất của các tổ chức đảng; gắn xây dựng cấp ủy với xây dựng đội ngũ cán bộ chủ trì, xây dựng tổ chức đảng trong sạch, vững mạnh với xây dựng đơn vị vững mạnh toàn diện. Trong đó, phải hết sức chú ý đề cao tính tiền phong, gương mẫu của người đứng đầu cấp ủy và chỉ huy đơn vị; giữ vững nguyên tắc tập trung dân chủ, tập thể lãnh đạo, phân công cá nhân phụ trách. Đồng thời, tăng cường công tác kiểm tra, giám sát; đổi mới cơ chế, chính sách; thực hiện nghiêm Quy chế Dân chủ cơ sở; giải quyết hài hòa các mối quan hệ, nhất là quan hệ giữa người chỉ huy và chính ủy, chính trị viên. Việc thực hiện Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XI) trong Đảng bộ Quân đội phải được kết hợp chặt chẽ với Chỉ thị 03-CT/TW của Bộ Chính trị (khóa XI) và Cuộc vận động “Phát huy truyền thống, cống hiến tài năng, xứng danh Bộ đội Cụ Hồ” bằng việc làm cụ thể, thiết thực; gắn “xây” với “chống”, lấy tích cực đẩy lùi tiêu cực, tạo nhiều nhân tố điển hình, cán bộ đủ “tâm” và “tầm”, đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp xây dựng Quân đội, bảo vệ Tổ quốc.
Từ thực tiễn 70 năm qua cho thấy, để nâng cao chất lượng xây dựng Quân đội về chính trị, phải tạo được sự đồng thuận cao cả về nhận thức, tư tưởng và hành động của mọi CB,CS. Giải pháp có ý nghĩa thiết thực là phải tiếp tục đổi mới, nâng cao chất lượng công tác giáo dục chính trị (GDCT), định hướng tư tưởng cho bộ đội. Xây dựng Quân đội vững mạnh về chính trị về thực chất là tăng cường bản chất giai cấp công nhân, tính dân tộc và tính nhân dân của Quân đội. Qua đó, làm cho CB,CS giác ngộ sâu sắc lý tưởng cách mạng, mục tiêu độc lập dân tộc gắn liền với CNXH, trung thành vô hạn với Đảng, Tổ quốc, nhân dân và chế độ XHCN; có phẩm chất đạo đức trong sáng; kiên định, vững vàng, tuyệt đối tin tưởng vào sự lãnh đạo của Đảng, luôn đoàn kết, gắn bó máu thịt với nhân dân, SSCĐ, hy sinh vì độc lập, tự do của Tổ quốc, vì hạnh phúc của nhân dân, vì sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc XHCN. Do vậy, công tác GDCT phải góp phần trang bị cho CB,CS những kiến thức cơ bản về chủ nghĩa Mác – Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối, quan điểm của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; trọng tâm là nhiệm vụ quân sự, quốc phòng, bảo vệ Tổ quốc, phương hướng xây dựng QĐND “cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại” theo Nghị quyết Đại hội XI của Đảng, Nghị quyết Trung ương 8 (khóa XI) về “Chiến lược bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới”. Trước mắt, cấp ủy, chỉ huy các cấp phải tăng cường lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện nghiêm túc Đề án “Đổi mới công tác GDCT tại đơn vị trong giai đoạn mới”; sớm hoàn thiện Quy chế GDCT đi đôi với tích cực đổi mới chương trình, nội dung, hình thức, phương pháp sát với yêu cầu xây dựng Quân đội về chính trị. Đặc biệt, phải gắn công tác GDCT với định hướng tư tưởng để mỗi CB,CS nhận thức đúng tình hình, nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc, xây dựng Quân đội; nắm vững thời cơ, thách thức, thuận lợi, khó khăn; phân biệt rõ “đối tượng”, “đối tác” theo quan điểm của Đảng; không mơ hồ, mất cảnh giác, xử lý tốt mọi tình huống không để bị động, bất ngờ. Đồng thời, đẩy mạnh giáo dục tinh thần yêu nước, lòng tự tôn dân tộc, truyền thống cách mạng của Đảng, của dân tộc và Quân đội; hết sức chú trọng giáo dục bản chất, truyền thống “Bộ đội Cụ Hồ”; về đạo đức, lối sống và tăng cường phổ biến, giáo dục pháp luật, v.v. Chủ động làm tốt công tác định hướng, quản lý, giải quyết tư tưởng; nắm chắc tâm tư, nguyện vọng, hoàn cảnh, hậu phương, gia đình của CB,CS và có biện pháp động viên, uốn nắn kịp thời, không để đột biến về tư tưởng, ảnh hưởng đến sức mạnh, khả năng SSCĐ của Quân đội.
Cùng với đó, cần coi trọng phát huy vai trò và hiệu quả của hoạt động CTĐ,CTCT, để công tác này thực sự là “linh hồn, mạch sống” của Quân đội. Cấp ủy, chính ủy, chính trị viên, người chỉ huy, cơ quan chính trị các cấp cần quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo các mặt công tác: tư tưởng, tổ chức, cán bộ, bảo vệ chính trị nội bộ, dân vận, chính sách, quần chúng; đề cao dân chủ, kỷ cương, kỷ luật; giữ vững đoàn kết nội bộ. Đồng thời, quán triệt và thực hiện nghiêm túc các nghị quyết, chỉ thị, hướng dẫn của QUTƯ, Bộ Quốc phòng, Tổng cục Chính trị, nhất là Nghị quyết 769-NQ/QUTW, ngày 31-12-2012 của QUTƯ “Về xây dựng đội ngũ cán bộ quân đội giai đoạn 2013 - 2020 và những năm tiếp theo”. Trên cơ sở đó, xây dựng đội ngũ cán bộ quân đội vững mạnh cả về số lượng, chất lượng và cơ cấu; nâng cao chất lượng công tác quy hoạch cán bộ chủ chốt các cấp, nhất là cán bộ cấp chiến lược, cán bộ quân sự địa phương tham gia tỉnh ủy, thành ủy; chuẩn bị tốt nhân sự cho đại hội Đảng các cấp nhiệm kỳ 2015 - 2020, Đại hội Đảng bộ Quân đội lần thứ X, tiến tới Đại hội XII của Đảng. Các cấp ủy, tổ chức đảng chú trọng lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện tốt Chương trình hành động của QUTƯ thực hiện Nghị quyết 25-NQ/TW, ngày 03-6-2013 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa XI) “Về tăng cường và đổi mới sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác dân vận trong tình hình mới”; tích cực đổi mới nội dung, đa dạng hóa hình thức công tác dân vận cho phù hợp với từng địa bàn, loại hình đơn vị. Toàn quân tập trung nâng cao hiệu quả CTĐ,CTCT trong các nhiệm vụ; trọng tâm là nhiệm vụ huấn luyện, diễn tập, SSCĐ, xây dựng đơn vị, công tác quân sự, quốc phòng địa phương, phòng, chống, khắc phục hậu quả thiên tai, tìm kiếm, cứu hộ cứu nạn và nhiệm vụ gìn giữ hòa bình của Liên hợp quốc, v.v. Để thực hiện tốt điều đó, cấp ủy, chỉ huy các đơn vị phải chăm lo xây dựng cơ quan chính trị, đội ngũ cán bộ chính trị vững mạnh về mọi mặt, nhất là khả năng tham mưu, đề xuất với Đảng, Nhà nước, QUTƯ, Bộ Quốc phòng những vấn đề chiến lược, nhằm tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với nhiệm vụ xây dựng QĐND, xây dựng nền quốc phòng toàn dân, bảo vệ Tổ quốc.
Tăng cường công tác bảo vệ chính trị nội bộ và chủ động đấu tranh chống các quan điểm sai trái, thù địch, bảo vệ vững chắc trận địa tư tưởng của Đảng trong Quân đội là một trong những giải pháp quan trọng để xây dựng Quân đội vững mạnh về chính trị. Trước hết, các cấp ủy phải chăm lo thực hiện tốt công tác bảo vệ chính trị nội bộ; chú trọng bảo vệ tổ chức, con người trong sạch, vững mạnh, an toàn tuyệt đối về chính trị, chống sự xâm nhập, móc nối, cài cắm, lộ lọt thông tin. Đồng thời, chủ động đấu tranh chống quan điểm sai trái, thù địch, nhất là âm mưu “phi chính trị hóa” quân đội của các thế lực thù địch và những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong các cơ quan, đơn vị, góp phần bảo vệ vững chắc trận địa tư tưởng của Đảng trong Quân đội. Quá trình đó, phải chú trọng đấu tranh trực diện với các thủ đoạn nguy hiểm của địch, kiên quyết bác bỏ những luận điệu tuyên truyền, kích động, gây phân tâm về nhận thức, tư tưởng của CB,CS, đi đôi với khẳng định tính khoa học, cách mạng của chủ nghĩa Mác – Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, thành tựu của cách mạng, của Đảng và dân tộc. Về mặt nhận thức, cần thấy rõ đây là cuộc chiến “không khói súng”, nhưng không kém phần gay go, quyết liệt, bởi đó là cuộc đấu tranh về tư tưởng, lý luận, là sự giành giật địa hạt chính trị, trận địa tư tưởng giữa ta và địch. Cuộc chiến đó diễn ra thường xuyên, quyết liệt đối với Quân đội và ngay trong đời sống tinh thần của từng CB,CS. Do đó, các đơn vị, trước hết là đội ngũ cán bộ chính trị các cấp cần coi trọng công tác GDCT, làm cho CB,CS hiểu rõ sự nguy hiểm của chiến lược “Diễn biến hòa bình”, âm mưu “phi chính trị hóa” quân đội của các thế lực thù địch; từ đó, nâng cao tinh thần cảnh giác, có giải pháp phòng, chống hiệu quả. Các cơ quan Báo chí quân đội phải thể hiện rõ vai trò nòng cốt, xung kích, tích cực, chủ động triển khai những vệt bài có tính lý luận, tính chiến đấu cao, kịp thời phản bác quan điểm sai trái, thù địch. Các đơn vị Văn hóa - Nghệ thuật quân đội cần tăng cường nghiên cứu, sáng tác nhiều tác phẩm có giá trị nghệ thuật, tính chính trị cao, tôn vinh hình ảnh “Bộ đội Cụ Hồ” cả trong thời kỳ chiến tranh cách mạng và sự nghiệp xây dựng, bảo vệ Tổ quốc, góp phần nâng cao đời sống văn hóa, tinh thần trong Quân đội theo đúng đường lối văn hóa của Đảng. Đồng thời, tích cực đấu tranh phản bác quan điểm sai trái, thù địch trên lĩnh vực văn học, nghệ thuật, nhằm giữ vững và phát triển nền văn học, nghệ thuật cách mạng với đặc trưng: chân - thiện - mỹ.
Trước yêu cầu mới của sự nghiệp xây dựng Quân đội về chính trị, cần tích cực nghiên cứu lý luận, tổng kết thực tiễn, làm cơ sở đề ra giải pháp phù hợp. Quân đội ta đã trải qua quá trình 70 xây dựng, chiến đấu và phát triển, trong đó có xây dựng về chính trị. Có rất nhiều vấn đề lý luận đã được nghiên cứu, khái quát để chỉ đạo thực tiễn; ngược lại, cũng có rất nhiều bài học thực tiễn được rút ra để tiếp tục vận dụng xây dựng Quân đội vững mạnh về chính trị cần được làm sáng tỏ. Hiện nay, sự nghiệp xây dựng Quân đội, tăng cường quốc phòng, bảo vệ Tổ quốc đang đặt ra nhiều vấn đề mới cả về lý luận và thực tiễn cần được tiếp tục nghiên cứu, luận giải thấu đáo, có cơ sở khoa học. Do đó, công tác tổng kết thực tiễn, nghiên cứu lý luận càng phải được quan tâm đúng mức. Đó là nhiệm vụ quan trọng, cấp thiết đối với toàn quân, trước hết của các cơ quan nghiên cứu, học viện, nhà trường quân đội, nhằm giúp cho QUTƯ, Bộ Quốc phòng, trực tiếp là Tổng cục Chính trị có cơ sở để xác định hệ thống giải pháp nâng cao hiệu quả CTĐ,CTCT, xây dựng Quân đội vững mạnh về chính trị.
Từ bài học rút ra qua 70 năm xây dựng, chiến đấu, trưởng thành của Quân đội ta cho thấy, bất luận trong hoàn cảnh nào, việc xây dựng Quân đội vững mạnh về chính trị luôn là một nguyên tắc cơ bản, hàng đầu, được quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo chặt chẽ. Đây là cơ sở để Đảng ta tiếp tục vận dụng vào xây dựng Quân đội vững mạnh về chính trị trong giai đoạn cách mạng mới, đảm bảo cho QĐND thực sự là lực lượng chính trị trung thành, tin cậy của Đảng, Nhà nước và nhân dân, sẵn sàng nhận, hoàn thành tốt nhiệm vụ trong mọi tình huống.
Nguồn: Tạp
chí Quốc phòng toàn dân
Xây dựng quân đội vững mạnh mọi mặt, có chất lượng tổng hợp và sức mạnh chiến đấu ngày càng cao, là nội dung chiến lược trong toàn bộ đường lối quốc phòng của Đảng.
Nghị quyết Đại hội Đảng XI đã xác định rõ nhiệm vụ xây dựng Quân đội nhân dân Việt Nam cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại. Nhân kỷ niệm 70 năm thành lập Quân đội nhân dân Việt Nam, TTXVN giới thiệu bài viết của Đại tá Vũ Khanh, Viện Chiến lược quốc phòng, Bộ Quốc phòng về vấn đề này.
Xây dựng Quân đội nhân dân vững mạnh về mọi mặt, có chất lượng tổng hợp và sức mạnh chiến đấu ngày càng cao, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ của cách mạng là nội dung có tầm quan trọng chiến lược trong toàn bộ đường lối quốc phòng toàn dân, chiến tranh nhân dân của Đảng. Trước những yêu cầu nhiệm vụ đặt ra cho giai đoạn cách mạng mới, Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XI đã khẳng định, chúng ta phải đẩy mạnh “Xây dựng Quân đội nhân dân cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại.”
Trước hết cần khẳng định Quân đội ta là một quân đội cách mạng và mãi mãi là một quân đội cách mạng, của dân, do dân, vì dân. Điều đó đã được khẳng định trong sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc trước đây, cũng như trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc ngày nay.
Trước yêu cầu mới của nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc, Quân đội nhân dân phải luôn giữ vững và tăng cường bản chất cách mạng; phải thường xuyên coi trọng giáo dục chủ nghĩa Marx-Lenin, tư tưởng Hồ Chí Minh, nâng cao phẩm chất đạo đức cách mạng, năng lực trình độ, bản lĩnh chính trị cho cán bộ, chiến sỹ.
Đó cũng là cơ sở quan trọng bảo đảm cho quân đội hoàn thành nhiệm vụ sẵn sàng chiến đấu và chiến đấu trong mọi tình huống; đấu tranh làm thất bại âm mưu “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch, bảo vệ vững chắc trận địa chính trị-tư tưởng của Đảng trong quân đội.
Bản chất cách mạng của Quân đội nhân dân được thể hiện ở việc luôn kiên định mục tiêu, nhiệm vụ cách mạng, đường lối đổi mới của Đảng; chấp hành nghiêm túc mọi nghị quyết, chỉ thị và các nhiệm vụ được giao, hoàn thành tốt chức năng là đội quân chiến đấu, đội quân công tác và đội quân lao động sản xuất.
Mọi cán bộ, chiến sỹ trong quân đội phải thường xuyên quán triệt chủ trương, đường lối, quan điểm của Đảng; xác định rõ đối tượng và đối tác của cách mạng theo đúng quan điểm của Đảng được thể hiện trong Nghị quyết Hội nghị lần thứ 8 Ban Chấp hành Trung ương (khóa XI) về “Chiến lược bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới”; luôn nêu cao tinh thần cảnh giác, nắm chắc mọi diễn biến trên các hướng chiến lược, khu vực và địa bàn trọng điểm, có kế hoạch và chủ động phối hợp với các lực lượng và toàn dân tiến hành đấu tranh (bằng cả biện pháp vũ trang và phi vũ trang), làm thất bại mọi âm mưu, hành động chống phá cách mạng, xâm phạm chủ quyền và lợi ích của quốc gia, dân tộc.
Bảo đảm nền nếp chính quy và duy trì kỷ luật là hai nhân tố không thể thiếu trong quá trình xây dựng quân đội, góp phần nâng cao chất lượng tổng hợp, sức mạnh chiến đấu của Quân đội nhân dân. Mục đích của việc thực hiện chính quy hóa quân đội là nhằm bảo đảm sự thống nhất về tư tưởng, ý chí và hành động trong mọi hoạt động, công tác của bộ đội và các đơn vị trong toàn quân. Trong những năm qua, cấp uỷ và chỉ huy các cấp trong toàn quân đã tăng cường giáo dục, nâng cao nhận thức, trách nhiệm cho bộ đội, nhất là đội ngũ cán bộ, đảng viên đối với việc xây dựng chính quy; coi đó là nhiệm vụ quan trọng, thường xuyên để xây dựng đơn vị vững mạnh toàn diện, nâng cao sức mạnh chiến đấu của quân đội.
Để đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ xây dựng quân đội trong tình hình mới, toàn quân phải tiếp tục đẩy mạnh xây dựng chính quy. Đây là một nội dung rộng lớn, gồm nhiều vấn đề, liên quan tới mọi quân nhân. Vì vậy, các đơn vị cần nắm vững và quán triệt sâu sắc Chỉ thị 37-CT/ĐUQSTW của Thường vụ Đảng ủy Quân sự Trung ương “Về đẩy mạnh xây dựng chính quy Quân đội nhân dân Việt Nam lên một bước mới”; Chỉ thị 85/CT-TM của Bộ Tổng Tham mưu và các văn bản liên quan, cùng với những bài học kinh nghiệm được rút ra từ thực tiễn; trên cơ sở đó, có chủ trương, giải pháp thực hiện phù hợp.
Nội dung xây dựng nền nếp chính quy phải toàn diện, tập trung vào trọng tâm, trọng điểm, khâu đột phá, tạo sự chuyển biến mạnh mẽ, vững chắc trên tất cả các mặt công tác, đặc biệt là công tác sẵn sàng chiến đấu. Phải kết hợp chặt chẽ xây dựng chính quy với chấp hành kỷ luật quân đội, pháp luật Nhà nước; phấn đấu giảm tỷ lệ vi phạm kỷ luật xuống mức thấp nhất.
Xây dựng Quân đội nhân dân tinh nhuệ là mong muốn và cũng là yêu cầu đặt ra trong suốt quá trình tổ chức, xây dựng quân đội. Cần bám sát bản chất và mục tiêu chiến đấu của quân đội ta để xác định nội dung xây dựng quân đội tinh nhuệ, bảo đảm cho quân đội ta “nhiệm vụ nào cũng hoàn thành, khó khăn nào cũng vượt qua, kẻ thù nào cũng đánh thắng”; trong đó, quân đội phải “tinh nhuệ trước hết về chính trị.”
Xây dựng quân đội vững mạnh về chính trị là nhiệm vụ quan trọng nhất, tạo cơ sở cho việc nâng cao chất lượng tổng hợp, sức mạnh chiến đấu của Quân đội nhân dân. Trong tình hình hiện nay, cần nâng cao chất lượng các mặt hoạt động công tác đảng, công tác chính trị, bảo đảm cho cán bộ, chiến sĩ trong quân đội có bản lĩnh chính trị vững vàng, luôn kiên định mục tiêu, lý tưởng chiến đấu, nhất trí cao và chấp hành nghiêm túc, sáng tạo đường lối đổi mới của Đảng, nêu cao ý chí, nỗ lực phấn đấu hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ, giữ vững phẩm chất “Bộ đội Cụ Hồ.”
Tiếp tục quán triệt và bảo đảm giữ vững nguyên tắc Đảng lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt đối với quân đội. Tập trung xây dựng Đảng bộ Quân đội trong sạch, vững mạnh; đặc biệt chú trọng nâng cao năng lực lãnh đạo toàn diện và sức chiến đấu của các tổ chức cơ sở đảng, nhất là năng lực quán triệt, tổ chức thực hiện nghị quyết và kiểm tra, giám sát việc chấp hành nghị quyết.
Gắn xây dựng tổ chức đảng trong sạch, vững mạnh với xây dựng đơn vị vững mạnh toàn diện, xây dựng đội ngũ cán bộ với xây dựng đội ngũ đảng viên, cán bộ chủ trì với cấp ủy các cấp; tăng cường công tác bảo vệ an ninh, bảo vệ chính trị nội bộ, chủ động đấu tranh chống các âm mưu, thủ đoạn phá hoại của địch, các hoạt động xâm phạm an ninh quân sự, an ninh quốc gia và các loại tội phạm khác.
Tiếp tục bổ sung, hoàn chỉnh hệ thống văn kiện, kế hoạch tác chiến, hệ thống công trình phòng thủ, thiết bị chiến trường phù hợp với yêu cầu, nhiệm vụ trong tình hình mới. Tích cực đổi mới nội dung, chương trình, tổ chức phương pháp huấn luyện bộ đội; thực hiện nghiêm túc phương châm huấn luyện “cơ bản, thiết thực, vững chắc”, coi trọng huấn luyện đồng bộ và chuyên sâu, tăng cường huấn luyện cấp phân đội, huấn luyện dã ngoại, huấn luyện cho lực lượng thường trực, lực lượng dự bị động viên và dân quân, tự vệ; tổ chức tốt các cuộc diễn tập các cấp, diễn tập khu vực phòng thủ sát với nhiệm vụ của từng đơn vị và từng loại địa hình.
Tiếp tục triển khai, thực hiện có hiệu quả công tác giáo dục-đào tạo theo Nghị quyết 86-NQ/ĐU của Đảng ủy Quân sự Trung ương, đáp ứng yêu cầu đào tạo cán bộ quân đội trong tình hình mới. Nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác hậu cần, công tác kỹ thuật ở tất cả các cấp; bảo đảm tốt hậu cần, vũ khí, trang bị kỹ thuật cho các nhiệm vụ thường xuyên: sẵn sàng chiến đấu, tìm kiếm cứu nạn, cứu hộ, phòng chống và khắc phục hậu quả thiên tai...và các nhiệm vụ đột xuất khác; trong đó, ưu tiên bảo đảm hậu cần - kỹ thuật cho các đơn vị làm nhiệm vụ sẵn sàng chiến đấu trên tuyến biển đảo, biên giới.
Xây dựng quân đội từng bước hiện đại là một yêu cầu rất quan trọng và đã nhận được được sự quan tâm đặc biệt của Đảng và Nhà nước ta. Kể từ Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VII, chúng ta đã thực hiện xây dựng quân đội từng bước hiện đại theo đúng phương hướng, lộ trình, kế hoạch xác định và đã đạt được những kết quả quan trọng; trong đó, một số lĩnh vực có bước phát triển nhanh, mang tính đột phá. Tuy nhiên, cần nhận thức được rằng, việc xây dựng quân đội từng bước hiện đại là vấn đề lớn, đặc biệt quan trọng, có quan hệ trực tiếp đến sự nghiệp xây dựng, phát triển đất nước và bảo vệ Tổ quốc. Vì thế, cần tổ chức nghiên cứu, xem xét một cách thận trọng, trên cơ sở tư duy khoa học, tầm nhìn tổng thể, toàn diện; trong đó có hai điều kiện tiên quyết cho việc bảo đảm: Khả năng thực tế của đất nước và yêu cầu của nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc.
Trong thời gian tới, chúng ta phải tận dụng thành tựu công nghiệp hóa, hiện đại hóa, phấn đấu xây dựng nền công nghiệp quốc phòng độc lập, tự chủ, có tiềm lực ngày càng mạnh, phù hợp với khả năng của nền kinh tế đất nước. Công nghiệp quốc phòng phải được phát triển theo hướng gắn chặt với công nghiệp dân sinh, có cơ cấu hợp lý trong tổng thể nền công nghiệp quốc gia; kết hợp chặt chẽ các trình độ, các loại hình công nghệ, trong đó, ưu tiên hướng tới những công nghệ hiện đại, hiệu quả cao, đáp ứng ngày càng tốt hơn nhu cầu bảo đảm vũ khí, trang bị kỹ thuật cho lực lượng vũ trang nhân dân.
Đẩy mạnh phát triển công nghiệp quốc phòng; tăng cường cơ sở vật chất - kỹ thuật, bảo đảm cho các lực lượng vũ trang từng bước được trang bị hiện đại, trước mắt là xây dựng lực lượng hải quân, phòng không không quân, trinh sát điện tử, tác chiến điện tử, trinh sát kỹ thuật, thông tin liên lạc đi thẳng lên hiện đại.
Việc Nhà nước ta vừa qua quyết định mua một số vũ khí trang bị hiện đại cho quân đội như: tên lửa phòng không S-300 PMU1, máy bay tiêm kích đa năng Su-30 MK2, máy bay tuần tiễu biển C212-400, tàu ngầm lớp Kilo… là những ví dụ minh chứng cho quan điểm đó./.
(TTXVN/Vietnam+)
THẬN TRỌNG VỚI CÁC TỪ LÓNG CÓ NỘI DUNG CHIA RẼ KHỐI ĐẠI ĐOÀN KẾT DÂN TỘC TRÊN KHÔNG GIAN MẠNG.
Từ lâu, khối đại đoàn kết dân tộc đã trở thành một trong những nền tảng sức mạnh vững chắc đảm bảo cho sự thắng lợi lâu dài và bền vững của sự nghiệp cách mạng ở nước ta. Hiểu được điều đó, các thế lực thù địch luôn tìm mọi cách để phá hoại khối đại đoàn kết dân tộc bằng nhiều thủ đoạn khác nhau. Trong số những thủ đoạn chúng đang sử dụng thì thủ đoạn dùng việc chia rẽ vùng miền qua các từ lóng đang là một trong những cách thức rất phổ biến chúng đang sử dụng rất nhiều trên không gian mạng.
Ngày nay, khi mạng xã hội ngày càng phát triển thì việc lợi dụng mạng xã hội để tuyên truyền, chống phá Nhà nước ta diễn ra càng phổ biến. Đặc biệt chúng lợi dụng vào việc phát triển này để đưa ra các cách thức nhằm kích động, gây chia rẽ khối đại đoàn kết của người dân các vùng miền khác nhau.
Chúng ta đều biết đất nước ta vốn là một đất nước với sự đa dạng về văn hoá. Văn hoá mỗi vùng miền lại có sự khác biệt nhất định. Ban đầu, nhiều người sử dụng mạng xã hội đăng tải các hình ảnh về phong tục văn hoá của địa phương mình như
một cách để thể hiện góc nhìn đời sống. Lâu dần xuất hiện trào lưu so sánh hình ảnh tập quán khác nhau giữa hai vùng miền. Và rồi gần đây trào lưu này biến tướng. Chúng ta có thể dễ dàng tìm thấy một chủ đề được đăng tải trên mạng xã hội thì bên dưới phần bình luận là sự xuất hiện của những cụm từ mang tính miệt thị này đều đồng loại xuất hiện từ hàng loạt các tài khoản ảo, ẩn danh. Các từ lóng bắt đầu xuất hiện. Chúng ta có thể kể đến các từ như “Parky”, “Cali”, … Xin đặc biệt nhấn mạnh đến hiện tượng từ lóng “Parky”. Từ “Parky” dần trở thành một trong những từ rất phổ biến trên các bình luận của những tài khoản ẩn danh. Từ này vốn là một từ không có nghĩa, nhưng cách đọc của nó khá gần âm với từ “Bắc Kỳ” nhằm chế giễu những người dân Bắc Việt Nam. Hay từ “Cali” là từ bắt nguồn từ danh từ gọi tên một tiểu bang của Mỹ, dùng để chỉ những người có các hành vi phản động, chống phá nước nhà, dấy lên sự phân biệt vùng miền trên mạng xã hội.
Những từ lóng này ngày càng phổ biến trên các không gian mạng và dần trở thành một phương tiện nhằm đả kích, gây mất đoàn kết dân tộc. Trong khi đó một bộ phận người dùng mạng xã hội có tư tưởng lệch lạc, thiếu hiểu biết dẫn đến bị kích động đã đi theo trào lưu này. Họ nghĩ đơn giản việc sử dụng những từ này như một trò tiêu khiển mua vui, giải trí mà không hề hay biết đằng sau nó là sự kỳ thị, chia rẽ vùng miền tiềm ẩn những nguy hại khôn lường. Trào lưu này không chỉ phản ánh văn hoá ứng xử của một bộ phận người dùng mạng xã hội, sự thiếu hiểu biết, thiếu kiến thức mà nguy hiểm hơn là có thể ẩn chứa âm mưu chia rẽ khối đại đoàn kết dân tộc, kích động sự thù hằn, mâu thuẫn vùng miền. Tình trạng này nếu không chấm dứt sẽ làm tổn hại đến sức mạnh đoàn kết dân tộc và gây ra các hệ lụy khác trong xã hội.
Mọi người, nhất là giới trẻ cần tỉnh táo, nâng cao nhận thức. Hãy thận trọng trước những âm mưu thâm độc của bọn chống phá, thù địch, phản động. Khối đại đoàn kết dân tộc mãi mãi là một báu vật của dân tộc Việt Nam giúp dân tộc ta vượt qua bao thử thách. Chính vì vậy, việc bảo vệ khối đại đoàn kết chính là trách nhiệm của mỗi người dân yêu nước. Hãy yêu nước từ những việc nhỏ nhất như dùng mạng xã hội một cách thông minh và tỉnh táo hơn./.


