Ngày 15 tháng 5
Thứ Ba, 14 tháng 5, 2024
HÀNH TRÌNH THEO CHÂN BÁC HỒ
MỘT SỐ SỰ KIỆN VỀ CHỦ TỊCH HỒ CHÍ MINH TRONG NGÀY 15/5
KHẨU HIỆU "TỰ DO - BÌNH ĐẲNG - BÁC ÁI" CỦA CÁCH MẠNG PHÁP VỚI VIỆC RA ĐI TÌM ĐƯỜNG CỨU NƯỚC CỦA NGUYỄN TẤT THÀNH
1. Tự do - Bình đẳng - Bác ái, khẩu hiệu đã làm rung động trái tim Bác Hồ thời niên thiếu
BÓC MẼ THỦ ĐOẠN XUYÊN TẠC TÊN TUỔI CHỦ TỊCH HỒ CHÍ MINH
Những đối tượng chống phá nền tảng tư tưởng của Đảng Cộng sản Việt Nam ý thức rất rõ về sự ảnh hưởng to lớn của tư tưởng Hồ Chí Minh trong đời sống chính trị, văn hóa tinh thần của đất nước.
Họ cho rằng sở dĩ chế độ cộng sản ở Việt Nam còn tồn tại là nhờ núp vào cái bóng thần tượng Hồ Chí Minh, nên phải xóa bỏ bằng được thần tượng ấy. Vì vậy, bóc mẽ thủ đoạn xuyên tạc của các thế lực chống phá tư tưởng Hồ Chí Minh bằng những lý lẽ khoa học, căn cứ thực tiễn là việc làm rất cần thiết hiện nay.
1. Một trong những thủ đoạn nham hiểm ấy là thời gian gần đây, một số đối tượng xuyên tạc rất trắng trợn: “Hồ Chí Minh không phải là Nguyễn Ái Quốc”. Nghệ thuật viết tuồng truyền thống thường dựa vào tích cũ để soạn những bổn mới, mang chủ đề, ý nghĩa mới. Cách này đang được một số đối tượng sử dụng, nhưng là lấy tích cũ thật/giả để biến thành bổn mới giả, có cả “bổn cũ soạn lại”.
Theo lịch sử ghi lại, từ ngày 6-6-1931 đến ngày 22-1-1933, Tống Văn Sơ (tức Nguyễn Ái Quốc) bị bắt giam ở Hồng Công và được luật sư Francis Henry Loseby bào chữa trắng án. Thực dân Pháp rất muốn được phía Anh trục xuất về Đông Dương để bắt Nguyễn Ái Quốc thực thi án tử hình. Có thể là cố ý đánh lạc hướng mật thám Pháp mà Quốc tế Cộng sản cho loan tin Nguyễn Ái Quốc đã chết vì bệnh lao phổi trong nhà tù Hồng Công, đăng trên cả báo nước ngoài (The Daily Worker (Anh) ngày 11-8-1932, L’Humanité (Pháp) ngày 9-8-1932) và cả báo trong nước (Đông Pháp thời báo ngày 3-7-1932, Đuốc Nhà Nam ngày 23-7-1932). Sau khi Nguyễn Ái Quốc được thả (ngày 28-12-1932), để đảm bảo an toàn cho thân chủ, chính luật sư Loseby cũng loan tin Nguyễn Ái Quốc đã chết vì bệnh phổi(1).
Sau đó vẫn lấy những tin tức này, không cần quan tâm mục đích, lý do của nguồn tin, tác giả Hồ Tuấn Hùng (Đài Loan) viết “Hồ Chí Minh sinh bình khảo” (in năm 2008 tại Đài Loan) “khẳng định” Hồ Chí Minh có tên thật là Hồ Tập Chương, không phải Nguyễn Ái Quốc, vì Nguyễn Ái Quốc đã chết từ tháng 8-1932. Đầu năm 2013, sách được Thái Tuấn dịch ra tiếng Việt có tên “Tìm hiểu về cuộc đời của Hồ Chí Minh” cho đăng trên trang điện tử “Đối thoại”.
Lợi dụng vấn đề đó, thời gian qua, trên nhiều trang mạng phản động lại đăng nhiều bài "dựa hơi" vào những sự kiện trên (chủ yếu từ sách của Hồ Tuấn Hùng), bịa đặt trắng trợn thêm nhiều chi tiết để xuyên tạc Chủ tịch Hồ Chí Minh không phải là Nguyễn Ái Quốc, mà do “một người khác thế vào”!
Lập luận của các bài viết trên, một mặt dựa vào “lý lẽ” của Hồ Tuấn Hùng, mặt khác, vẫn theo kiểu mượn tích cũ để “soạn bổn giả mới”. Ví như lấy sự kiện có thật Nguyễn Ái Quốc lấy bí danh Hồ Quang (từ ngày 1-1-1938) mang quân hàm thiếu tá, công tác tại Phòng Cứu vong thuộc Văn phòng Bát lộ quân ở Quế Lâm, không hề chứng minh, phân tích nhưng nhiều tác giả đã “khẳng định” lấy được: “Hồ Quang chính là Hồ Tập Chương” từ đây (tức năm 1938) bắt đầu “sứ mệnh lãnh đạo cách mạng Việt Nam”.
Về điểm này, xin dẫn sự giải thích của chính Bác Hồ, nhân một đồng chí Trung Quốc hỏi: “Tại sao đồng chí lại lấy tên Hồ Quang?”. Bác trả lời hóm hỉnh: “Tôi có râu, lại trọc đầu nên gọi là Hồ Quang” (vì đọc theo tiếng Bắc Kinh, hồ có nghĩa là râu, quang có nghĩa là trọc)(2). Đây là cách chơi chữ quen thuộc của Bác lý giải cách đặt tên theo đặc điểm bản thân gắn liền với ngôn ngữ, địa danh nơi sinh sống.
Để có thêm cơ sở lịch sử và khoa học khẳng định Nguyễn Ái Quốc chính là Hồ Chí Minh, xin nhắc lại những sự kiện lịch sử liên quan. Ngày 1-6-1946, trên chuyến bay sang Pháp, tướng Raoul Salan tháp tùng Hồ Chủ tịch hỏi có ý tò mò về đời tư (vốn là điều tối kỵ trong ngoại giao): “Trong bản Hiệp định ngày 6-3, ngài ký tên Hồ Chí Minh. Nhưng tên chính của ngài có phải là Nguyễn Ái Quốc không?”. Bác Hồ đáp: “Cũng trong bản hiệp định đó, vị đại diện của Chính phủ ngài ký tên là Sainteny, nhưng tên thật của ông ta chẳng phải là Jean Roger đó sao?”(3). Một câu đáp thật tuyệt vời của một trí tuệ nhạy bén, gần như khẳng định nhưng lại nói vòng sang chuyện tương tự để “chặn họng”, hàm ý nhắc nhở, đẩy đối phương vào thế bối rối, bị động: Ngay đại diện chính phủ của ngài cũng vậy đó thôi!
2. Về tập thơ “Nhật ký trong tù”, nhiều đối tượng cho rằng chữ viết ấy, nội dung ấy, thi pháp ấy thì “không thể một người Việt Nam nào, dù tài năng đến mấy” thể hiện được; thế nên Nguyễn Ái Quốc nếu còn sống cũng không thể là tác giả. Vả lại những năm ở Pháp, ở Nga, ở Hồng Công trước đó, sao Nguyễn Ái Quốc không có bài thơ chữ Hán nào?
Điều đáng phê phán các "tác giả" đưa ra cái gọi là “lý lẽ” nêu trên lại không hiểu rằng, Nguyễn Sinh Cung từ nhỏ đã sớm tiếp xúc với văn hóa Trung Hoa, học giỏi chữ Hán, là trò của các bậc đại Nho (Nguyễn Sinh Sắc, Hoàng Phan Quỳnh, Vương Thúc Quý). Trong khi đó, từ những năm 1922-1923, Nguyễn Ái Quốc đã rất quan tâm và viết nhiều bài về tình hình Trung Quốc in trên báo L’Humanité, La Vie Ouvrière. Cũng trong thời kỳ hoạt động ở Trung Quốc, Nguyễn Ái Quốc kiếm sống bằng viết báo (tiếng Trung, Pháp, Anh) và có mối quan hệ mật thiết với một số yếu nhân, trong đó có bà Tống Khánh Linh.
Vì vậy, các nhà nghiên cứu chân chính khẳng định, với tâm hồn ấy, tài năng ấy, trong hoàn cảnh tù đày, thơ đến một cách tự nhiên với Nguyễn Ái Quốc. Các bài thơ trong tập thơ này là kết tinh các luồng tinh hoa văn hóa Đông Tây, kim cổ, là tiếng nói của tâm hồn vĩ đại, trí tuệ siêu việt, khí phách lớn. Đó cũng là lý do để nhiều nhà nghiên cứu văn học quốc tế đã khẳng định tập thơ “Nhật ký trong tù” là tài sản văn hóa nhân loại và được dịch ra hơn 40 ngôn ngữ trên thế giới.
3. Trong chuyên luận “Tiếng cười trào phúng Hồ Chí Minh” do Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia-Sự thật xuất bản năm 2010, tác giả cuốn sách chứng minh Hồ Chí Minh là người “Việt Nam nhất”. Chỉ xét ở mục đích trào phúng, trong các tác phẩm, có 232 lần Bác Hồ sử dụng các dẫn ngữ(4). Thành ngữ, tục ngữ là sự kết tinh lời ăn tiếng nói có mạch nguồn từ đời sống tâm hồn, trí tuệ nhân dân. Không phải là người Việt Nam làm sao dùng được nhiều dẫn ngữ, chưa nói tới cách dùng của Bác rất đa dạng, phong phú, nhiều hình vẻ, sắc thái và rất mực tinh tế.
Với tư cách là người nghiên cứu, chúng tôi xin khẳng định, từ thời thanh niên đến khi về với thế giới người hiền, ở Nguyễn Ái Quốc-Hồ Chí Minh có sự nhất quán về mục đích: “Tự do cho đồng bào tôi, độc lập cho Tổ quốc tôi”, rộng hơn là vì hạnh phúc nhân loại nói chung. Mọi suy nghĩ, việc làm, hành động, dù nói hay viết của Người tất cả đều vì mục đích cao cả ấy.
Cũng xin được nhắc lại 3 cuộc hội thảo khoa học quốc tế gần đây nhất về Hồ Chí Minh. Ngày 18-4-2023, tại thủ đô Roma (Italy) diễn ra hội thảo với chủ đề “Quãng đời làm việc của Chủ tịch Hồ Chí Minh tại Italy”. Trước đó, ngày 14-5-2022, tại Ấn Độ là Hội thảo “Hồ Chí Minh và Ấn Độ” tổ chức ở Kolkata. Tháng 10-2019, Hội thảo “Hồ Chí Minh toàn cầu” tổ chức tại thành phố New York (Mỹ).
Các hội thảo đều khẳng định ở Nguyễn Ái Quốc-Hồ Chí Minh là sự hội tụ tuyệt đẹp 3 luồng văn hóa: Văn hóa yêu nước Việt Nam; văn hóa hòa bình, bình đẳng, bác ái của nhân loại tiến bộ và văn hóa giải phóng con người của Chủ nghĩa Mác. Các nhà nghiên cứu quốc tế đều nhấn mạnh Hồ Chí Minh không chỉ là anh hùng giải phóng dân tộc của Việt Nam, mà còn là cầu nối giữa Việt Nam với thế giới và nhân cách của Người mang tầm ảnh hưởng toàn cầu. Điều này khẳng định sự tôn trọng của giới học giả thế giới đương đại với Chủ tịch Hồ Chí Minh. Tư tưởng và những giá trị văn hóa cao đẹp của Người được cả nhân loại đón nhận.
Đảng Cộng sản Việt Nam và nhân dân Việt Nam tự hào có Bác Hồ, coi việc học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh là lý tưởng, lẽ sống, niềm tin và cũng là hạnh phúc. Hạnh phúc được đón nhận ánh sáng thời đại vì đó là con người nhân văn nhất, ưu tú nhất, tiên tiến nhất của dân tộc Việt Nam và là một trong những nhà văn hóa lừng danh của nhân loại. Đó cũng là minh chứng sinh động để bác bỏ hoàn toàn những ý đồ, thủ đoạn xuyên tạc thân thế, tên tuổi, sự nghiệp cách mạng vĩ đại của Chủ tịch Hồ Chí Minh.
Ankhe.st
Hoàn thiện lý luận về mô hình kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam qua tác phẩm của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng
Hoàn thiện lý luận về mô hình kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam qua tác phẩm của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng
TCCS - Lý luận về mô hình kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa (XHCN) ở Việt Nam hiện nay là thành quả của tiến trình đổi mới, đồng thời phản ánh quỹ đạo “tiến hóa tất yếu” của mô hình kinh tế thị trường đương đại. Thông qua tác phẩm của mình, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã có những luận giải, bổ sung nhiều quan điểm mới, góp phần hoàn thiện mô hình kinh tế thị trường định hướng XHCN ở Việt Nam.

Quá trình hình thành lý luận về mô hình kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam
Năm 1986, trước bối cảnh nền kinh tế nước ta lâm vào khủng hoảng, trì trệ trầm trọng, Đảng Cộng sản Việt Nam đã tiến hành đổi mới toàn diện đất nước. Công cuộc đổi mới không đơn thuần là tìm ra giải pháp trước mắt cho nền kinh tế, mà thực chất là tìm ra mô hình phát triển mới và con đường phù hợp để xây dựng chủ nghĩa xã hội. Trước đó, Hội nghị Trung ương 6 khóa IV (tháng 9-1979) được xem là dấu mốc khởi đầu quá trình đổi mới, phát triển kinh tế - xã hội đất nước với những chủ trương mới là “phát súng hiệu” về phát triển kinh tế hàng hóa, xây dựng nền kinh tế nhiều thành phần…, thể hiện qua những việc “bỏ ngăn sông, cấm chợ”, cho “sản xuất bung ra”, thừa nhận sự tồn tại nhiều thành phần kinh tế(1).
Đại hội VI của Đảng (năm 1986) chủ trương đoạn tuyệt với cơ chế tập trung, bao cấp, tạo lập cơ chế thị trường, phát triển nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần. Trong cơ cấu nền kinh tế, ngoài thành phần kinh tế XHCN, với khu vực quốc doanh giữ vai trò chủ đạo, Đảng thừa nhận và tôn trọng sự tồn tại khách quan của các thành phần kinh tế khác, gồm: tiểu sản xuất hàng hóa, tư bản tư nhân, tư bản nhà nước và kinh tế tự nhiên, tự túc, tự cấp.
Trên cơ sở những thành công bước đầu trong phát triển nền kinh tế đa thành phần, Đại hội VII của Đảng (năm 1991) tiếp tục lộ trình xây dựng nền kinh tế hàng hoá trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, với cơ cấu gồm năm thành phần kinh tế (quốc doanh, tập thể, cá thể tiểu chủ, tư bản tư nhân và tư bản nhà nước). Đại hội VIII của Đảng (năm 1996) bắt đầu định hình các thành tố cơ bản về định hướng XHCN trong phát triển nền kinh tế thị trường: “Xây dựng nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần, vận hành theo cơ chế thị trường, đi đôi với tăng cường vai trò quản lý của nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Bảo đảm nền kinh tế tăng trưởng gắn liền với tiến bộ và công bằng xã hội, giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc, bảo vệ môi trường sinh thái"(2).
Mặc dù từ Đại hội VI của Đảng đến Đại hội VIII của Đảng, Đảng đã có những bước phát triển nhất định về lý luận kinh tế thị trường trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam, tuy nhiên, thị trường chỉ được coi là một cơ chế để điều tiết nền kinh tế, chưa xác lập là một chỉnh thể, bao gồm cả cấu trúc nội tại lẫn thiết chế vận hành. Về thực chất, chưa coi kinh tế thị trường là cơ sở kinh tế của xã hội để xây dựng chủ nghĩa xã hội.
Đại hội IX của Đảng (năm 2001) chuyển từ nhận thức thị trường như một công cụ, cơ chế quản lý kinh tế sang nhận thức thị trường là một chỉnh thể, cơ sở kinh tế của xã hội trong thời kỳ quá độ tiến lên chủ nghĩa xã hội: “Thực hiện nhất quán và lâu dài chính sách phát triển kinh tế hàng hóa nhiều thành phần vận động theo cơ chế thị trường có sự quản lý của nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa, đó chính là nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Đó là mô hình kinh tế tổng quát của nước ta trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội"(3)
Về cơ bản, đến Đại hội IX của Đảng, mô hình kinh tế thị trường định hướng XHCN ở nước ta đã được định hình. Theo đó, mô hình này vừa phản ánh tính phổ quát của nền kinh tế thị trường hỗn hợp (thị trường và nhà nước), vừa mang tính “định hướng XHCN”, với những đặc trưng là: nền kinh tế nhiều thành phần, dựa trên chế độ công hữu về tư liệu sản xuất chủ yếu, có sự quản lý của nhà nước XHCN, thực hiện phân phối chủ yếu theo kết quả lao động và hiệu quả sản xuất kinh doanh nhằm mục tiêu phát triển bền vững trên cơ sở: “Từng bước cải thiện đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân, thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội, bảo vệ và cải thiện môi trường”(4).
Đại hội X của Đảng (năm 2006) nhấn mạnh việc tiếp tục hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng XHCN và trước hết cần nắm vững định hướng XHCN. Trong đó, tính định hướng XHCN được thể hiện là nền kinh tế được xây dựng ở một chế độ xã hội do nhân dân làm chủ, Nhà nước pháp quyền XHCN quản lý, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản, nhằm thực hiện mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ văn minh”(5). Đại hội XI của Đảng (năm 2011) tiếp tục bổ sung và luận giải rõ hơn về nội hàm của nền kinh tế thị trường định hướng XHCN: “Kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta là nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần vận động theo cơ chế thị trường có sự quản lý của nhà nước dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản. Đây là mô hình kinh tế thị trường vừa tuân theo những quy luật của thị trường, vừa dựa trên cơ sở và được dẫn dắt chi phối bởi nguyên tắc và bản chất chủ nghĩa xã hội”(6).
Đại hội XII của Đảng (năm 2016) tiếp tục hoàn thiện về nội hàm trên cơ sở gắn kết từng cấu phần “bên trong” với mục tiêu và phương thức vận hành nền kinh tế thị trường định hướng XHCN là: “Nền kinh tế vận hành đầy đủ, đồng bộ theo các quy luật của kinh tế thị trường, đồng thời bảo đảm định hướng xã hội chủ nghĩa phù hợp với từng giai đoạn phát triển của đất nước. Đó là nền kinh tế thị trường hiện đại và hội nhập quốc tế; có sự quản lý của nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo, nhằm mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”(7). Đến Đại hội XIII (năm 2021) của Đảng tiếp tục khẳng định “kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa là mô hình kinh tế tổng quát của nước ta trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội. Đó là nền kinh tế thị trường hiện đại, hội nhập quốc tế, vận hành đầy đủ, đồng bộ theo các quy luật của kinh tế thị trường, có sự quản lý của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo; bảo đảm định hướng xã hội chủ nghĩa vì mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh” phù hợp với từng giai đoạn phát triển của đất nước”(8).
Những thành tựu đáng tự hào
Việt Nam đang chứng kiến bức tranh kinh tế đầy khởi sắc, giai đoạn 1986 - 2020, mức tăng trưởng trung bình khoảng 7% mỗi năm, quy mô GDP không ngừng được mở rộng, năm 2023 đạt khoảng 430 tỷ USD, trở thành nền kinh tế lớn thứ 5 trong ASEAN và thứ 35 trong 40 nền kinh tế lớn nhất thế giới. Năm 2023, GDP bình quân đầu người đạt khoảng 4.300 USD; Việt Nam đã ra khỏi nhóm các nước có thu nhập thấp từ năm 2008 và sẽ trở thành nước có thu nhập trung bình cao vào năm 2030 (thu nhập bình quân đầu người đạt khoảng 7.500 USD). Tổng kim ngạch xuất, nhập khẩu tăng mạnh, năm 2023 đạt gần 700 tỷ USD, trong đó kim ngạch xuất khẩu đạt trên 355 tỷ USD, xuất siêu đạt mức kỷ lục 28 tỷ USD; Việt Nam đã trở thành đối tác thương mại lớn thứ 22 toàn cầu. Đầu tư nước ngoài liên tục phát triển, vốn đăng ký tăng 32%, vốn thực hiện tăng 3%, đạt 23 tỷ USD trong năm 2023, cao nhất từ trước đến nay; và Việt Nam đã trở thành một trong những quốc gia hàng đầu ASEAN về thu hút vốn đầu tư nước ngoài. Chỉ số đổi mới sáng tạo toàn cầu (GII) của Việt Nam năm 2023 được các tổ chức quốc tế đánh giá đứng 46/132 nước được xếp hạng(9).
Không những tăng tốc về lượng, trên cơ sở ứng dụng khoa học - công nghệ và đổi mới sáng tạo, chiều sâu nền kinh tế Việt Nam trong giai đoạn này cũng được cải thiện ấn tượng. Xét trên bình diện tổng thể theo cấu trúc ba yếu tố đầu vào nền kinh tế: vốn, lao động và năng suất các nhân tố tổng hợp - TFP(10) cho thấy, đóng góp của TFP trong tăng trưởng kinh tế ngày một lớn. Cụ thể: Tính chung cả giai đoạn 2016 - 2020, đóng góp của TFP vào tăng trưởng kinh tế đạt 45,57%, cao hơn mức 32,88% của giai đoạn 2011 - 2015. Năm 2021, đóng góp của TFP vào tăng trưởng tiếp tục được duy trì và đạt 37,13%(11).
Thành tích ấn tượng nhất trong tiến trình đổi mới của Việt Nam được ghi nhận là công cuộc xóa đói giảm nghèo. Năm 2023, tỷ lệ hộ nghèo trung bình mỗi năm giảm khoảng 1,5%; giảm từ 58% theo chuẩn cũ năm 1993 của Chính phủ xuống còn 2,93% theo chuẩn nghèo đa chiều (tiêu chí cao hơn trước); có 78% số xã đạt chuẩn nông thôn mới, hầu hết các xã nông thôn mới đều có đường ô-tô đến trung tâm, có điện lưới quốc gia, trường tiểu học và trung học cơ sở, trạm y tế và mạng điện thoại. Quá trình đô thị hóa được đẩy mạnh gắn với quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước; tỷ lệ đô thị hóa đã đạt khoảng 43%; hệ thống kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội ở cả nông thôn và đô thị, nhất là hạ tầng y tế, giáo dục - đào tạo, giao thông, bưu chính viễn thông đều có bước phát triển mạnh mẽ; đã đưa vào sử dụng nhiều sân bay, bến cảng hiện đại, hơn 1.900km đường cao tốc và phủ sóng rộng rãi mạng 4G, 5G(12).
Việt Nam đã hoàn thành xóa mù chữ, phổ cập giáo dục tiểu học vào năm 2000 và phổ cập giáo dục trung học cơ sở năm 2014; số sinh viên đại học, cao đẳng tăng 20 lần trong gần 40 năm qua. Hiện nay, Việt Nam có gần 99% số người lớn biết đọc, biết viết. Bên cạnh đó, Việt Nam đã mở rộng diện bảo hiểm y tế cho toàn dân, đạt mức 93,35%, trong đó, người nghèo, trẻ em dưới 6 tuổi và người cao tuổi được cấp bảo hiệm y tế miễn phí; đồng thời, tập trung vào việc tăng cường y tế phòng ngừa, phòng, chống dịch bệnh, hỗ trợ các đối tượng có hoàn cảnh khó khăn... Liên hợp quốc đã công nhận Việt Nam là một trong những nước đi đầu trong việc hiện thực hóa các Mục tiêu Thiên niên kỷ. Năm 2022, chỉ số phát triển con người (HDI) của Việt Nam đạt mức 0,737, thuộc nhóm các nước có HDI cao của thế giới, nhất là so với các nước có trình độ phát triển cao hơn. Chỉ số hạnh phúc của Việt Nam năm 2023 được các tổ chức xếp thứ 65/137 quốc gia được xếp hạng(13).

Tiếp tục hoàn thiện lý luận về mô hình kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa Việt Nam theo quan điểm của Tổng Bí thư
Trong tác phẩm, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng khẳng định: “Xã hội xã hội chủ nghĩa mà nhân dân Việt Nam đang phấn đấu xây dựng là một xã hội dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh; do nhân dân làm chủ; có nền kinh tế phát triển cao, dựa trên lực lượng sản xuất hiện đại và quan hệ sản xuất tiến bộ phù hợp”(14). Để đạt được mục tiêu đó, cần phải phát triển kinh tế thị trường định hướng XHCN - “một đột phá lý luận rất cơ bản và sáng tạo của Đảng ta, là thành quả lý luận quan trọng qua 35 năm thực hiện đường lối đổi mới, xuất phát từ thực tiễn Việt Nam và tiếp thu có chọn lọc kinh nghiệm của thế giới”(15). Trong đó, Tổng Bí thư tập trung luận giải, nhấn mạnh một số vấn đề cơ bản sau:
Về quan hệ sở hữu. Tương ứng với quá trình vận động, phát triển của lực lượng sản xuất, quan hệ sản xuất nước ta từng bước được xây dựng phù hợp, tiến bộ, với nhiều hình thức sở hữu, đa thành phần kinh tế. Các thành phần kinh tế hoạt động theo pháp luật và đều là bộ phận hợp thành quan trọng của nền kinh tế, bình đẳng trước pháp luật, cùng phát triển lâu dài, hợp tác và cạnh tranh lành mạnh. Trong đó, kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo; kinh tế tập thể, kinh tế hợp tác không ngừng được củng cố và phát triển; kinh tế tư nhân là một động lực quan trọng của nền kinh tế; kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài được khuyến khích phát triển phù hợp với chiến lược, quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội.
Về tổ chức, quản lý. Nhà nước quản lý nền kinh tế bằng pháp luật, chiến lược, quy hoạch, kế hoạch, chính sách và lực lượng vật chất để định hướng, điều tiết, thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội.
Về quan hệ phân phối. Bảo đảm công bằng và tạo động lực cho phát triển; thực hiện chế độ phân phối chủ yếu theo kết quả lao động, hiệu quả kinh tế, đồng thời theo mức đóng góp vốn cùng các nguồn lực khác và phân phối thông qua hệ thống an sinh, phúc lợi xã hội.
Một đặc trưng cơ bản, một thuộc tính quan trọng của định hướng XHCN trong kinh tế thị trường ở Việt Nam là phải gắn kinh tế với xã hội, thống nhất chính sách kinh tế với chính sách xã hội, tăng trưởng kinh tế đi đôi với thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội ngay trong từng bước, từng chính sách và trong suốt quá trình phát triển. Nói cách khác, kinh tế thị trường và tính định hướng XHCN có mối quan hệ chặt chẽ, không mâu thuẫn với nhau. Phát triển kinh tế thị trường để thực hiện mục tiêu XHCN và định hướng XHCN có vai trò định hướng cho nền kinh tế thị trường. Đây là điểm đặc sắc trong mô hình kinh tế thị trường ở Việt Nam, Tổng Bí thư nhấn mạnh: “Mỗi chính sách kinh tế đều phải hướng tới mục tiêu phát triển xã hội; mỗi chính sách xã hội phải nhằm tạo ra động lực thúc đẩy phát triển kinh tế; khuyến khích làm giàu hợp pháp phải đi đôi với xoá đói, giảm nghèo bền vững, chăm sóc những người có công, những người có hoàn cảnh khó khăn”(16); đây là “yêu cầu có tính nguyên tắc để bảo đảm sự phát triển lành mạnh, bền vững, theo định hướng xã hội chủ nghĩa”(17). Đồng thời, mô hình kinh tế này cũng hướng đến giải quyết hài hòa mối quan hệ giữa nhà nước - thị trường - xã hội, cụ thể:
Một là, Nhà nước đóng vai trò bảo đảm thị trường và xã hội thực hiện đúng chức năng của nó. Nhà nước không “làm thay” mà sử dụng các công cụ, chính sách và các nguồn lực của mình để định hướng và điều tiết nền kinh tế không làm méo mó thị trường, thúc đẩy hoạt động sản xuất, kinh doanh và bảo vệ môi trường.
Hai là, thị trường đóng vai trò chủ yếu trong huy động và phân bổ có hiệu quả các nguồn lực phát triển, là động lực chủ yếu để giải phóng sức sản xuất. Kinh tế thị trường không phải vốn dĩ là sản phẩm riêng có của chủ nghĩa tư bản, mà là kết quả của tiến trình phát triển văn minh nhân loại. Alvin Toffler - nhà tương lai học người Mỹ - khẳng định: Thị trường là một mạng lưới trao đổi được ví như một tổng đài, mà ở đó, hàng hóa, dịch vụ (cũng như tin tức) sẽ tìm tới nơi có nhu cầu. Do đó, nó không chỉ thuộc về tư bản, mà thiết yếu cho cả xã hội công nghiệp xã hội chủ nghĩa, cũng như bất kỳ đâu có hệ thống công nghiệp quy mô lớn gắn với động cơ lợi nhuận(18).
Ba là, xã hội là điểm nổi bật trong mục tiêu phát triển của Việt Nam, do đó Đảng Cộng sản chủ trương kết hợp chặt chẽ các mục tiêu, chính sách kinh tế với các mục tiêu, chính sách xã hội, thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội trong từng bước, từng chính sách phát triển phù hợp với điều kiện cụ thể, bảo đảm phát triển nhanh, bền vững. Các vấn đề xã hội không phải đi sau kinh tế, mà giải quyết tốt các vấn đề xã hội cũng chính là tạo điều kiện, động lực cho tăng trưởng.
Bên cạnh đó, trong cuốn sách, Tổng Bí thư còn có những bài viết quan trọng về phát triển nguồn nhân lực để đáp ứng xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng XHCN, như: xây dựng giai cấp công nhân, giai cấp nông dân, tầng lớp thanh niên, lực lượng công an, quân đội lớn mạnh…, đồng thời nhấn mạnh cần phát huy bản sắc văn hóa Việt Nam; trường phái ngoại giao “cây tre Việt Nam”; khơi dậy khát vọng hùng cường, thịnh vượng Việt Nam… để có thể xây dựng, phát triển thành công mô hình kinh tế thị trường định hướng XHCN ở Việt Nam./.
--------------------
Vận dụng quan điểm cán bộ phải “cả gan làm việc” của Chủ tịch Hồ Chí Minh để xây dựng phẩm chất “dám làm” của người cán bộ, đảng viên hiện nay
Vận dụng quan điểm cán bộ phải “cả gan làm việc” của Chủ tịch Hồ Chí Minh để xây dựng phẩm chất “dám làm” của người cán bộ, đảng viên hiện nay
TCCS - “Dám làm” là phẩm chất đặc biệt, được Đại hội XIII của Đảng nhấn mạnh trong chuẩn mực đạo đức của người cán bộ, đảng viên hiện nay. Ngược lại với “dám làm” là sợ trách nhiệm, nể nang, né tránh, ngại va chạm, thấy đúng mà không bảo vệ, thấy sai không đấu tranh, không dám đương đầu với khó khăn, thử thách. Do đó, yêu cầu cấp thiết đặt ra là cần nghiên cứu, vận dụng quan điểm cán bộ phải “cả gan làm việc”(1) của Chủ tịch Hồ Chí Minh để xây dựng và rèn luyện phẩm chất “dám làm” của đội ngũ cán bộ, đảng viên trong bối cảnh hiện nay.

Quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh về phẩm chất “cả gan làm việc” ở người cán bộ
“Cả gan làm việc” là quan điểm độc đáo, đặc sắc của Chủ tịch Hồ Chí Minh về dũng khí, bản lĩnh, phương pháp, tác phong làm việc của người cán bộ, là yêu cầu đặc biệt, ở tầm cao về phẩm chất, nhân cách của người cán bộ trong mối quan hệ với công việc. Phẩm chất này giúp người cán bộ có đủ dũng khí, dám vươn lên, vượt qua khó khăn, thử thách, chiến thắng suy nghĩ và hành động cá nhân chủ nghĩa, “có gan” đứng ra đảm nhận, phụ trách công việc, dám dấn thân vì lợi ích chung của tập thể, cơ quan, đơn vị, địa phương và nhân dân… Tựu trung, quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh về người cán bộ “cả gan làm việc” được thể hiện ở một số nội dung sau:
Phẩm chất “cả gan làm việc” của người cán bộ lãnh đạo, người đứng đầu.
Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, phẩm chất “cả gan làm việc” của người cán bộ lãnh đạo, người đứng đầu thể hiện ở sự sáng suốt trong lựa chọn, sử dụng và bố trí, tin dùng cán bộ, dám giao việc cho cán bộ cấp dưới. Theo Người, trong công tác lãnh đạo, chỉ đạo, người đứng đầu cấp ủy, chính quyền “phải sáng suốt, mới khỏi bị bọn vu vơ bao vây, mà cách xa cán bộ tốt”(2). Khi thấy rõ phẩm chất, năng lực của cán bộ, thì phải tin tưởng và giao việc cho họ, bởi vì: “Nếu không tin cán bộ, sợ họ làm không được, rồi việc gì mình cũng nhúng vào. Kết quả thành chứng bao biện, công việc vẫn không xong. Cán bộ thì vơ vẩn cả ngày, buồn rầu, nản chí”(3). Chủ tịch Hồ Chí Minh yêu cầu người cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp phải biết trọng dụng nhân tài, nếu không sẽ làm “thui chột” nhân tài; bên cạnh đó, sử dụng cán bộ phải thật sự thận trọng: “Cất nhắc cán bộ không nên làm như giã gạo”. Nghĩa là, trước khi cất nhắc cán bộ không xem xét kỹ về khả năng và trình độ, khi cất nhắc rồi không giúp đỡ họ một cách thích đáng, để khi họ sai lầm thì đẩy họ xuống, chờ lúc họ làm khá lại cất nhắc lên. Người nói, một cán bộ bị “nhấc lên”, “thả xuống” ba lần như thế thì “hỏng cả đời”.
Biểu hiện "cả gan làm việc" của người cán bộ lãnh đạo, người đứng đầu còn là ở chỗ phải tin tưởng vào cán bộ cấp dưới, tạo điều kiện, cơ hội để khuyến khích họ phát huy năng lực và tinh thần trách nhiệm của mình. Chủ tịch Hồ Chí Minh nhấn mạnh: “Lãnh đạo khéo, tài nhỏ có thể hóa ra tài to. Lãnh đạo không khéo, tài to cũng hóa ra tài nhỏ. Khi giao công tác cho cán bộ cần phải chỉ đạo rõ ràng, sắp đặt đầy đủ. Vạch rõ những điểm chính, và những khó khăn có thể xảy ra. Những vấn đề đã quyết định rồi, thả cho họ làm, khuyên gắng họ cứ cả gan mà làm”(4). Đặc biệt, phẩm chất “cả gan làm việc” của người cán bộ lãnh đạo, người đứng đầu còn được thể hiện ở tinh thần “dám” bứt phá, đổi mới sáng tạo, bản lĩnh, quyết đoán; mạnh dạn “chống lại những gì đã cũ kỹ, hư hỏng, để tạo ra những cái mới mẻ, tốt tươi”, “dám” vứt bỏ những gì của ngày hôm qua đã không hợp thời nữa, thay đổi cách thức công tác. Cán bộ lãnh đạo phải coi trọng và có hình thức khen thưởng kịp thời đối với những cán bộ cấp dưới dám nói, dám đề ra sáng kiến, có gan phụ trách, có gan làm việc; đồng thời, nghiêm khắc phê bình cán bộ có tư tưởng cầm chừng, ỷ lại, sợ trách nhiệm... Khen phải đúng, khen để tạo động lực cho cán bộ phát huy năng lực, tinh thần làm việc, dám nói, dám làm; đồng thời, không được khen quá mức, dễ gây ra sự chủ quan. Người cán bộ lãnh đạo phải “thường thường kiểm tra để giúp họ rút kinh nghiệm, sửa chữa khuyết điểm, phát triển ưu điểm”(5).
Phẩm chất “cả gan làm việc” của người chỉ huy.
Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, phẩm chất “cả gan làm việc” của người chỉ huy là sự quyết đoán, sắc sảo, nhạy bén, mưu trí, táo bạo, dũng cảm, có dũng khí, gan góc, gặp việc gì cũng phải có “gan” làm, có “gan” chịu trách nhiệm; có tinh thần dám đánh và biết cách đánh thắng quân thù; mưu lược, biết địch, biết ta, hạn chế chỗ mạnh, khoét sâu chỗ yếu của địch; biết tạo ra và phát huy sức mạnh tổng hợp để chiến đấu, chiến thắng quân thù. Chủ tịch Hồ Chí Minh yêu cầu: “Thấy khuyết điểm có gan sửa chữa. Cực khổ khó khăn, có gan chịu đựng. Có gan chống lại những sự vinh hoa, phú quý, không chính đáng. Nếu cần, thì có gan hy sinh cả tính mệnh cho Đảng, cho Tổ quốc, không bao giờ rụt rè, nhút nhát”(6). Muốn “cả gan làm việc” thì người chỉ huy phải có đầy đủ các phẩm chất Trí - Tín - Dũng - Nhân - Liêm - Trung. Trí là phải có đầu óc sáng suốt để nhìn mọi việc rõ ràng, để suy xét cho đúng. Tín là phải làm cho người ta tin mình. Ví dụ đã hứa thưởng thì phải thưởng. Tín cũng còn có nghĩa là tự tin vào sức mình, nhưng không phải là tự mãn, tự cao. Dũng là không được nhút nhát, phải can đảm, dám làm những việc đáng làm, dám đánh những trận đáng đánh. Nhân là phải thương yêu cấp dưới, phải đồng cam cộng khổ với họ. Đối với địch đã đầu hàng, ta phải khoan dung. Liêm là chớ tham của, chớ tham sắc, chớ tham danh vọng, tham sống. Trung là trung thành tuyệt đối với Tổ quốc, với nhân dân, với cách mạng, với Đảng.
Phẩm chất “cả gan làm việc” của người cán bộ làm công tác tổ chức - cán bộ.
Trong tác phẩm Sửa đổi lối làm việc, Chủ tịch Hồ Chí Minh nhấn mạnh: “Nếu đào tạo một mớ cán bộ nhát gan, dễ bảo “đập đi, hò đứng”, không dám phụ trách. Như thế là một việc thất bại cho Đảng”(7). Người yêu cầu, người làm công tác tổ chức - cán bộ phải làm tốt khâu phát hiện và lựa chọn, đào tạo cán bộ; không được thiên tư, thiên vị, không phân biệt người trong hay người ngoài Đảng, mà phải lựa chọn được người thật sự có đức, có tài. Chủ tịch Hồ Chí Minh viết: “Phong trào giải phóng sôi nổi, nảy nở ra rất nhiều nhân tài ngoài Đảng. Chúng ta không được bỏ rơi họ, xa cách họ. Chúng ta phải thật thà đoàn kết với họ, nâng đỡ họ. Phải thân thiết với họ, gần gụi họ, đem tài năng của họ giúp ích vào công cuộc kháng chiến cứu nước”(8). Trong sử dụng cán bộ, người đứng đầu cấp ủy, chính quyền, cơ quan, đơn vị phải có lập trường, bản lĩnh để cán bộ cấp dưới mạnh dạn đưa ra ý kiến, có gan phụ trách, có gan làm việc, đổi mới sáng tạo; người làm công tác cán bộ phải có gan cất nhắc cán bộ và chịu trách nhiệm về đề xuất của mình. Chủ tịch Hồ Chí Minh cho rằng, người làm công tác tổ chức - cán bộ cần phải liêm chính, trong sáng, công tâm trong đánh giá ưu điểm của người cán bộ; đồng thời, sẵn sàng giúp đỡ cán bộ khắc phục hạn chế, yếu kém của họ. Người nhắc nhở: “Người đời ai cũng có chỗ hay chỗ dở. Ta phải dùng chỗ hay của người và giúp người sửa chữa chỗ dở. Dùng người cũng như dùng gỗ. Người thợ khéo thì gỗ to, nhỏ, thẳng, cong đều tuỳ chỗ mà dùng được”(9). Người phê phán cách dùng người không hợp lý làm cho cán bộ không thể hoàn thành được nhiệm vụ.
Phẩm chất “cả gan làm việc” của người cán bộ kiểm tra.
Phẩm chất “cả gan làm việc” của người cán bộ kiểm tra được thể hiện ở việc dũng cảm tự phê bình và phê bình, mạnh dạn, có dũng khí, vì lợi ích chung của tập thể để nói lên hạn chế của tổ chức, cơ quan, cá nhân mà không e ngại, sợ va chạm. Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, người cán bộ kiểm tra phải “cả gan nói”, tức là mạnh dạn chỉ ra khuyết điểm của cơ quan, tổ chức, đơn vị, địa phương và của cả cấp trên, trên cơ sở khoa học, với tinh thần xây dựng, nhằm mục đích khắc phục, sửa chữa khuyết điểm để làm việc cho tốt hơn. Người cán bộ kiểm tra cần “cả gan” phê bình cấp trên, nhưng phải trên nguyên tắc chân thành, đúng mực. Người cán bộ kiểm tra phải có thái độ dứt khoát trong việc xem xét và “cả gan” xử phạt những cán bộ mắc sai lầm, khuyết điểm với nguyên tắc không có trường hợp ngoại lệ. Chủ tịch Hồ Chí Minh cho rằng: “Nếu nhất luật không xử phạt thì sẽ mất cả kỷ luật, thì sẽ mở đường cho bọn cố ý phá hoại. Vì vậy, hoàn toàn không dùng xử phạt là không đúng. Mà chút gì cũng dùng đến xử phạt cũng không đúng”(10).
Xây dựng phẩm chất “dám làm” của đội ngũ cán bộ hiện nay
Phẩm chất “dám làm” của người cán bộ - sự kế thừa, phát triển quan điểm “cả gan làm việc” của Chủ tịch Hồ Chí Minh.
Về mặt ngữ nghĩa, “dám làm” không phải là cụm từ mới và xa lạ với cán bộ, đảng viên và quần chúng nhân dân. Chủ tịch Hồ Chí Minh nhiều lần nhắc đến phẩm chất “dám làm” của các lực lượng khác nhau trong xã hội. Với đội ngũ cán bộ, Người cho rằng, “vì không hiểu biết nên không dám làm”(11); đó là một trong những nguyên nhân dẫn đến thiếu cán bộ. Với quần chúng nhân dân, Người cho rằng: “Quần chúng dám làm, dám nói, do đó mà thật sự mở rộng dân chủ”(12). Đối với lực lượng vũ trang nhân dân, Người chỉ rõ nhiệm vụ của người làm tướng là phải: Trí, Dũng, Nhân, Tín, Liêm, Trung; theo đó, phẩm chất “dám làm” được coi như là “Dũng”, có nghĩa là “không được nhút nhát, phải can đảm, dám làm những việc đáng làm, dám đánh những trận đáng đánh”(13). Người nhắc nhở, yêu cầu: “Mỗi người lao động cần có tinh thần dám nghĩ dám làm, vươn lên hàng đầu, thành người lao động tiên tiến”(14). Như vậy, “dám làm” cũng còn có nghĩa là tự biết mình, biết người, biết bản chất và đòi hỏi của công việc, hiểu biết lòng dân để có thể vượt qua ranh giới của bản thân, vượt qua trạng thái tâm lý cá nhân. Đó là biểu hiện của dũng khí, lòng quả cảm, tinh thần tiên phong, xung kích của cán bộ, đảng viên và quần chúng nhân dân. Để đạt được phẩm chất “dám làm” thì cán bộ, đảng viên phải không ngừng tu dưỡng, rèn luyện phẩm chất đạo đức, chuyên môn, nghiệp vụ để dám đối diện, sẵn sàng làm việc khó, dám đương đầu với khó khăn, thử thách.
Quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh về “cả gan làm việc” được Đảng, Nhà nước ta quán triệt, kế thừa và phát triển vào điều kiện thực tiễn của Việt Nam qua các thời kỳ cách mạng và được hội tụ trong phẩm chất “dám làm” của người cán bộ trong tình hình mới. Ngay từ Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ nhất, Đảng Cộng sản Đông Dương đã nêu rõ, sự khôi phục hệ thống của Đảng là kết quả từ công tác có sáng kiến của các đảng bộ và các chiến sĩ hạ cấp. Đến Đại hội IV, Đảng yêu cầu, cán bộ nhà nước phải có trình độ chuyên môn và nghiệp vụ giỏi, có sáng kiến, có năng lực tổ chức thực tiễn; đồng thời, phải nhiệt tình, tận tụy, hy sinh, có tinh thần trách nhiệm, có ý thức kỷ luật, liên hệ mật thiết với quần chúng nhân dân. Tại Đại hội VI của Đảng, để đáp ứng yêu cầu xây dựng và phát triển đất nước, Đảng đặt ra nhiệm vụ xây dựng đội ngũ cán bộ có phẩm chất và năng lực phù hợp, luôn luôn đứng vững trên lập trường của giai cấp công nhân, thông suốt và chấp hành nghiêm đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước, ham học hỏi, năng động, sáng tạo, có kiến thức quản lý kinh tế, xã hội, có tính tổ chức và kỷ luật cao.
Bước vào thời kỳ đổi mới, Hội nghị Trung ương khóa VIII thống nhất thông qua Nghị quyết số 03-NQ/HNTW, ngày 18-6-1997, “Về chiến lược cán bộ thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, phát huy quyền làm chủ của nhân dân, tiếp tục xây dựng Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong sạch, vững mạnh”. Sau hơn 20 năm triển khai thực hiện, đội ngũ cán bộ ở nước ta đã từng bước trưởng thành và phát triển. Ngày 19-5-2018, thay mặt Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XII, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng ký ban hành Nghị quyết số 26-NQ/TW, “Về tập trung xây dựng đội ngũ cán bộ các cấp, nhất là cấp chiến lược đủ phẩm chất, năng lực và uy tín, ngang tầm nhiệm vụ”. Quan điểm của Đảng là: Chuẩn hóa, siết chặt kỷ luật, kỷ cương đi đôi với xây dựng thể chế, tạo môi trường, điều kiện để thúc đẩy đổi mới, phát huy sáng tạo và bảo vệ cán bộ dám nghĩ, dám làm, dám đột phá vì lợi ích chung. Gần đây nhất, Đại hội XIII của Đảng tiếp tục nhấn mạnh: “Xây dựng đội ngũ cán bộ, trước hết là người đứng đầu có bản lĩnh chính trị vững vàng, có đạo đức trong sáng, năng lực nổi bật, dám nghĩ, dám nói, dám làm, dám chịu trách nhiệm, dám đổi mới sáng tạo, dám đương đầu với khó khăn, thử thách, dám hành động vì lợi ích chung”(15). Thực chất đây vừa là yêu cầu, vừa là hệ giá trị trong phẩm chất, nhân cách của người cán bộ, có quan hệ chặt chẽ với nhau, thể hiện ở cả suy nghĩ và việc làm, trách nhiệm và nghĩa vụ trước Đảng, Tổ quốc và nhân dân.

“Cả gan làm việc” khác với làm liều, làm bừa, làm ẩu và thói vô trách nhiệm.
Trong bối cảnh mới hiện nay, chuẩn mực đạo đức của người cán bộ, đảng viên được thể hiện qua các mối quan hệ cơ bản, đó là: Với Tổ quốc, với Đảng và nhân dân; đối với công việc; đối với bản thân, gia đình; đối với đồng chí, đồng nghiệp; đối với các thế lực thù địch, phần tử cơ hội chính trị. Trong đó, “dám làm” là một phẩm chất đặc biệt, là dũng khí của người cán bộ, thể hiện năng lực, bản lĩnh, trình độ, trí tuệ, lòng kiên trì gan góc khi đối diện với công việc, nhất là công việc khó và trong khi làm nhiệm vụ được giao.
Phẩm chất “dám làm”, “cả gan làm việc” của người cán bộ là mạnh dạn, quyết định, quyết đoán thực hiện công việc, nhiệm vụ được giao trên cơ sở đã nắm chắc đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, quy định của cơ quan, đơn vị, địa phương; hiểu sâu sắc về thực tiễn công việc, môi trường làm việc, phân tích và nắm chắc thuận lợi, khó khăn trong triển khai công việc tại cơ quan, đơn vị, địa phương; hiểu thông suốt về truyền thống, văn hóa, tập tục, hương ước địa phương; luôn đặt lợi ích của tập thể nơi mình công tác lên trên hết, trước hết; chấp nhận dấn thân, không vì lợi ích của cá nhân, người thân, gia đình mình; mạnh dạn bỏ cách nghĩ, cách làm đã cũ, không còn phù hợp. “Dám làm” còn là dám đương đầu trực diện với khó khăn, thử thách; có lúc phải chấp nhận rủi ro trong công việc, để chấn chỉnh tổ chức, cá nhân về tinh thần, thái độ, trách nhiệm; không ngừng đổi mới phương thức quản lý, cách làm, giảm thiểu phiền hà, chặn đứng tham nhũng, lãng phí, tăng cường dân chủ, minh bạch trong công việc; tin vào suy nghĩ, việc làm của mình, tin vào sự chính nghĩa, sức mạnh đoàn kết của mọi người.
“Dám làm”, “cả gan làm việc” còn thể hiện ở thái độ, ý thức, trách nhiệm, phẩm chất đạo đức, năng lực công tác của người cán bộ, “dám” đứng mũi chịu sào, không tranh công, đổ lỗi, dám nhận trách nhiệm về mình và chịu trách nhiệm đến cùng với công việc. Khi đã “dám làm”, thì tận tụy, chủ động, đổi mới sáng tạo, khoa học, trung thực, dân chủ, kỷ cương, phục tùng tuyệt đối sự phân công và điều động của Đảng, không ngừng học hỏi, rèn luyện bản lĩnh chính trị, nâng cao đạo đức cách mạng, trình độ chuyên môn, kỹ năng, nghiệp vụ, quyết tâm hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ được giao, dám đổi mới sáng tạo, đột phá vì sự phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc, vì lợi ích của nhân dân. Người cán bộ “dám làm”, “cả gan làm việc” luôn xung phong đi đầu, mạnh dạn, táo bạo, quyết đoán, vượt lên mọi rào cản để làm đúng, duy trì đúng, thực hiện đúng chức trách, nhiệm vụ, đúng thực chất công việc, vì lợi ích chung.
Ở chiều ngược lại, những cán bộ kém về phẩm chất đạo đức, năng lực công tác, kém rèn luyện, không chịu tu dưỡng đã nhân danh tiêu chí “dám làm” và “cả gan làm việc” để có những suy nghĩ và việc làm tiêu cực. Ở họ, suy nghĩ và việc làm đều mang nặng “lợi ích nhóm”, lợi ích cá nhân, chỉ lo vun vén cho người thân, gia đình, cánh hẩu; vì thế mà, có bản chất liều lĩnh, hay “làm liều”, “coi trời bằng vung”, coi thường pháp luật, tự cho mình, “nhóm lợi ích” của mình là một “vùng cấm”, mà không ai và tổ chức nào có quyền động chạm đến. Những đối tượng này luôn làm việc vô nguyên tắc, vô tổ chức kỷ luật, làm theo ý muốn cá nhân, mang nặng chủ nghĩa cá nhân, cứ có lợi ích cho bản thân, gia đình, người thân, phe cánh là làm.
Giải pháp tiếp tục xây dựng phẩm chất “dám làm” ở đội ngũ cán bộ hiện nay
Xây dựng phẩm chất “dám làm”, “cả gan làm việc” ở đội ngũ cán bộ trong bối cảnh hiện nay không phải là việc làm “một sớm, một chiều”, càng không thể đào tạo, tiến hành một cách cấp tốc mà có được. Bởi vì, đó là quá trình đấu tranh giữa cái mới và cái cũ, khắc phục từng bước yếu kém và khuyết điểm, tư tưởng giáo điều, bảo thủ hoặc cực đoan, duy ý chí, chủ nghĩa kinh nghiệm để đi đến cái đúng, cái chân lý. Việc làm này cần vượt qua nhiều rào cản, từ phía chủ quan và khách quan; tuy nhiên, chủ quan vẫn là nhân tố chính. Thực tế cho thấy, ở những điều kiện, hoàn cảnh có tính chất bước ngoặt, quyết định sự thành công hay thất bại của công việc, thì vai trò, sự quyết đoán của người cán bộ, nhất là người đứng đầu cơ quan, đơn vị, là rất quan trọng.
Hiện nay, tiến trình hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng đang đặt ra yêu cầu rất cao và luôn đòi hỏi đội ngũ cán bộ không ngừng nâng cao đạo đức cách mạng, trình độ năng lực, tinh thần đổi mới sáng tạo, quyết đoán, để giải quyết, tháo gỡ những vấn đề vướng mắc, phát sinh trong thực tiễn công việc ở cơ quan, đơn vị, địa phương. Có rất nhiều khó khăn, rào cản tạo cho người cán bộ tâm lý sợ sai, sợ trách nhiệm, không “dám làm” những việc mình nghĩ, chưa dám bứt phá, tiên phong đi đầu, phá bỏ cái cũ, cái lạc hậu, cái đã ăn sâu vào nếp nghĩ của nhiều người. Một trong những rào cản đó là còn thiếu chính sách, pháp luật cụ thể khuyến khích và bảo vệ cán bộ đổi mới sáng tạo, dám đột phá, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm vì lợi ích chung.
Bên cạnh đó, còn có rào cản thuộc về nhân tố chủ quan từ chính mỗi cán bộ. Một bộ phận không nhỏ cán bộ ngại học, ngại rèn luyện, ngại va chạm, chậm đổi mới, không dám sáng tạo, luôn duy trì cách nghĩ cũ, cách làm cũ, tôn sùng kinh nghiệm, ẩn mình vào tập thể, dựa vào tập thể, ỷ lại tập thể. Một số cán bộ có tư tưởng “bình quân chủ nghĩa”; thậm chí, có những công việc cơ quan, đơn vị, địa phương giao cho thì không biết làm như thế nào, không biết triển khai từ đâu, không biết tham khảo xin ý kiến như thế nào..., nên không dám nhận, viện mọi lý do để né tránh, đùn đẩy, thoái thác nhiệm vụ.
Để xóa bỏ những rào cản trên và tiếp tục đẩy mạnh xây dựng phẩm chất “dám làm” ở đội ngũ cán bộ, đảng viên hiện nay, trước hết tự bản thân mỗi cán bộ cần luôn giữ vững bản lĩnh chính trị, lập trường tư tưởng, không dao động trước khó khăn, kiên định với mục tiêu lý tưởng, con đường cách mạng của Đảng và dân tộc; có tinh thần cầu tiến bộ, ham học hỏi, không bảo thủ, gia trưởng, luôn lắng nghe ý kiến phê bình, tham mưu, góp ý của quần chúng nhân dân. Tinh thần, thái độ, tác phong làm việc của cán bộ cần thường trực sự đổi mới sáng tạo, quyết đoán, bứt phá; luôn nuôi dưỡng trong mình dũng khí vì Tổ quốc, vì nhân dân.
Mỗi cán bộ phải có ý thức tích cực tu dưỡng, rèn luyện phẩm chất đạo đức cách mạng, đặt lợi ích của tập thể, của nhân dân lên trên hết, trước hết; nâng cao trình độ, năng lực, phương pháp tác phong công tác gắn với học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh, nói và làm phải thống nhất; đặc biệt, phải vượt qua được trạng thái tâm lý “sợ làm sai”, “sợ bị xử lý trách nhiệm”, “sợ bị gánh hậu quả”, nhất là cán bộ giữ trọng trách ở cơ quan, đơn vị, địa phương.
Cần nghiên cứu, mạnh dạn và đột phá trong việc tạo ra hành lang pháp lý, có chế độ, chính sách đặc biệt để tạo môi trường, điều kiện thuận lợi cho cán bộ “dám làm”, “cả gan làm việc”, đổi mới sáng tạo trong làm việc. Trong điều kiện cho phép, với chức trách, quyền hạn, cần thường xuyên động viên, khuyến khích cán bộ có cách nghĩ, cách làm đổi mới sáng tạo; hỗ trợ nhân lực, vật lực, huy động những điều kiện cần thiết để cán bộ có điều kiện thuận lợi làm việc, đem lại hiệu quả cao, lợi ích cho tập thể, nhân dân.
Cấp ủy, tổ chức đảng, nhất là người đứng đầu, cần thống nhất và tạo sự đồng thuận nhất trí cao trong cơ quan, đơn vị, địa phương về chủ trương khuyến khích và bảo vệ cán bộ năng động, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm, dám đột phá vì lợi ích chung(16); từ đó, khơi dậy mạnh mẽ ý thức trách nhiệm, khát vọng cống hiến, tinh thần đổi mới, hết lòng, hết sức phục vụ Đảng, Nhà nước, nhân dân của đội ngũ cán bộ trong bối cảnh mới. Trong lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện, cấp ủy các cấp cần gắn chặt nội dung này với việc học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh; đồng thời, kiên quyết chống lại tư tưởng, quan điểm xuyên tạc, hành động sai trái đi ngược lại với chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước về việc khuyến khích, động viên cán bộ “dám làm”.
Phẩm chất “dám làm” là sự kế thừa và phát triển sáng tạo quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh về người cán bộ phải “cả gan làm việc” trong điều kiện hiện nay. Đó là một trong những phẩm chất không thể thiếu trong chuẩn mực đạo đức cách mạng của người cán bộ, đảng viên hiện nay. Mỗi cán bộ, đảng viên năng động, sáng tạo, dám nghĩ, dám làm, dám đột phá, dám đương đầu với khó khăn, thử thách, dám hy sinh vì lợi ích chung, khi được tập hợp, đoàn kết lại trong một tập thể thống nhất chắc chắn sẽ tạo ra sức mạnh, biến thách thức thành cơ hội để đạt tới những mục tiêu tốt đẹp; thể hiện bản chất và tính ưu việt của chế độ xã hội chủ nghĩa mà Đảng, Bác Hồ và nhân dân ta đã kiên định lựa chọn./.
---------------------