Thứ Tư, 15 tháng 5, 2024

Đảng lãnh đạo phát triển kinh tế đất nước trong thời kỳ đổi mới (kỳ 1).

 Đảng Cộng sản Việt Nam là đảng cầm quyền, lãnh đạo toàn diện tất cả lĩnh vực của đời sống kinh tế - xã hội, trong đó lãnh đạo phát triển kinh tế đóng vai trò trung tâm, mang ý nghĩa quyết định đối với sự phát triển đất nước. Sự lãnh đạo về kinh tế còn bảo đảm sự lãnh đạo về chính trị của Đảng. Trong gần 40 năm đổi mới, Đảng luôn xác định phát triển kinh tế - xã hội là nhiệm vụ trung tâm, bên cạnh nhiệm vụ then chốt là xây dựng Đảng. Từ Đại hội VI (năm 1986) - đại hội mở đầu quá trình đổi mới toàn diện đất nước đến nay - đã cho thấy quá trình đổi mới tư duy của Đảng về phát triển kinh tế của đất nước trên nhiều phương diện.

Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng thăm Nhà máy đường của Công ty cổ phần đường Kon Tum _Ảnh: TTXVN

Quá trình đổi mới tư duy về phát triển kinh tế

Một là, đổi mới tư duy về kinh tế và hội nhập kinh tế quốc tế.

Đổi mới tư duy về kinh tế thể hiện trước hết là bước chuyển từ kinh tế kế hoạch hóa tập trung quan liêu, bao cấp sang kinh tế hàng hóa, phát triển sản xuất hàng hóa. Quá trình đổi mới cũng là quá trình xóa bỏ cơ chế tập trung quan liêu, phương thức quản lý hành chính, mệnh lệnh để chuyển sang cơ chế thị trường, chú trọng hạch toán, tuân thủ quy luật giá trị và các quy luật của sản xuất hàng hóa.

Bên cạnh đó, tư duy về hội nhập kinh tế quốc tế, sau này phát triển thành hội nhập quốc tế cũng được đổi mới. Qua gần 40 năm tiến hành đổi mới, hiện nay Việt Nam đã hội nhập ngày càng sâu rộng vào thị trường thế giới, và thực tế cho thấy, hội nhập đã và đang tạo động lực cho tăng trưởng kinh tế. Thành công của hội nhập cho thấy tính đúng đắn của chủ trương chủ động, tích cực hội nhập quốc tế của Đảng và Nhà nước ta. Từ một nước bị bao vây, cấm vận, nhờ chính sách đối ngoại đúng đắn, giải quyết tốt mối quan hệ giữa độc lập, tự chủ và hội nhập quốc tế, Việt Nam đã nhanh chóng thiết lập quan hệ hợp tác với các nước và các tổ chức quốc tế, mở rộng quan hệ hợp tác với các đối tác chiến lược, ký kết và triển khai nhiều hiệp định thương mại tự do (FTA), đặc biệt là các FTA thế hệ mới, như Hiệp định Đối tác toàn diện và tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (CPTPP), Hiệp định Thương mại tự do giữa Việt Nam - Liên minh châu Âu (EVFTA),... Việt Nam đã chủ động tham gia và phát huy vai trò của mình tại các cơ chế đa phương, đặc biệt là Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN), Liên hợp quốc, các tổ chức quốc tế và khu vực quan trọng. Đánh giá về kết quả công tác đối ngoại và hội nhập quốc tế, Văn kiện Đại hội XIII của Đảng khẳng định: “Hội nhập quốc tế và ngoại giao kinh tế phục vụ phát triển có những bước tiến quan trọng về chủ trương, chính sách cũng như triển khai trên thực tiễn, cùng với quốc phòng và an ninh đã củng cố môi trường hòa bình, ổn định, góp phần quan trọng vào phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, nâng cao vị thế, vai trò của Việt Nam trên trường quốc tế”(1).

Hai là, nhận thức về kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.

Việc chuyển sang kinh tế thị trường bắt đầu từ chủ trương phát triển sản xuất hàng hóa, phát triển nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần, vận hành theo cơ chế thị trường. Đến Đại hội IX (4-2001), Đảng ta xác định nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa (XHCN) là mô hình kinh tế tổng quát của nước ta trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội. Đó là nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần vận hành theo cơ chế thị trường, có sự quản lý của Nhà nước theo định hướng XHCN. Đây là bước chuyển quan trọng từ nhận thức kinh tế thị trường như một công cụ, một cơ chế quản lý, sang coi kinh tế thị trường như một hệ thống chỉnh thể, là cơ sở kinh tế của sự phát triển theo định hướng XHCN. Kế thừa tư duy của Đại hội IX, các đại hội tiếp theo, Đảng ta đã làm sáng tỏ thêm nội dung cơ bản của định hướng XHCN trong phát triển kinh tế thị trường ở nước ta.

Đại hội XIII tiếp tục thống nhất và nâng cao nhận thức về phát triển kinh tế thị trường định hướng XHCN. “Kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa là mô hình kinh tế tổng quát của nước ta trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội. Đó là nền kinh tế thị trường hiện đại, hội nhập quốc tế, vận hành đầy đủ, đồng bộ theo các quy luật của kinh tế thị trường, có sự quản lý của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo; bảo đảm định hướng xã hội chủ nghĩa vì mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh” phù hợp với từng giai đoạn phát triển của đất nước”(2).

Đây là nền kinh tế có nhiều hình thức sở hữu, nhiều thành phần kinh tế. Các thành phần kinh tế hoạt động theo pháp luật đều là bộ phận hợp thành quan trọng của nền kinh tế, bình đẳng trước pháp luật, cùng phát triển lâu dài, hợp tác và cạnh tranh lành mạnh; trong đó, kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo; kinh tế tập thể, kinh tế hợp tác không ngừng được củng cố và phát triển; kinh tế tư nhân là một động lực quan trọng của nền kinh tế; kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài được khuyến khích phát triển phù hợp với chiến lược, quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội. Quan hệ phân phối bảo đảm công bằng và tạo động lực cho phát triển; thực hiện chế độ phân phối chủ yếu theo kết quả lao động, hiệu quả kinh tế, đồng thời theo mức đóng góp vốn cùng các nguồn lực khác.

Trong nền kinh tế thị trường định hướng XHCN, Nhà nước, thị trường và xã hội có quan hệ chặt chẽ. Nhà nước xây dựng và hoàn thiện thể chế, bảo vệ quyền tài sản, quyền kinh doanh, giữ ổn định kinh tế vĩ mô, các cân đối lớn của nền kinh tế; tạo môi trường thuận lợi, công khai, minh bạch cho doanh nghiệp, tổ chức xã hội và thị trường hoạt động; điều tiết, định hướng, thúc đẩy kinh tế phát triển, gắn kết phát triển kinh tế với phát triển văn hóa, xã hội, bảo đảm an sinh xã hội, đời sống nhân dân, bảo vệ môi trường, bảo đảm quốc phòng, an ninh. Nhà nước quản lý nền kinh tế bằng luật pháp, cơ chế, chính sách, chiến lược, quy hoạch, kế hoạch, các tiêu chuẩn, định mức và lực lượng kinh tế nhà nước phù hợp với các yêu cầu và quy luật của kinh tế thị trường. Thị trường đóng vai trò quyết định trong xác định giá cả hàng hóa, dịch vụ; tạo động lực huy động, phân bổ hiệu quả nguồn lực; điều tiết sản xuất và lưu thông; điều tiết hoạt động của doanh nghiệp, thanh lọc doanh nghiệp yếu kém. Tổ chức xã hội có vai trò tạo sự liên kết, phối hợp hoạt động, giải quyết những vấn đề phát sinh giữa các thành viên; đại diện và bảo vệ lợi ích của thành viên trong quan hệ với chủ thể, đối tác khác; cung cấp dịch vụ hỗ trợ cho thành viên; phản ánh nguyện vọng, lợi ích của các tầng lớp nhân dân với Nhà nước và tham gia phản biện luật pháp, cơ chế, chính sách của Nhà nước, giám sát các cơ quan và đội ngũ cán bộ, công chức trong việc thực thi pháp luật.

Ba là, nhận thức về mô hình tăng trưởng kinh tế và công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.

Trước đổi mới, với tư duy mô hình tăng trưởng theo cơ chế kế hoạch hóa tập trung, công nghiệp hóa được tiến hành theo mô hình phát triển công nghiệp nặng, khép kín và hướng nội. Từ sau đổi mới, chúng ta từng bước thực hiện chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng phát triển mạnh công nghiệp và dịch vụ. Việc tiến hành công nghiệp hóa cũng khác về quan niệm và phương thức so với trước. Từ mức độ cụ thể hóa bước đầu về công nghiệp hóa, hiện đại hóa, đi đến hình thành rõ hơn đường lối công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong giai đoạn mới, tiếp đến là hoàn thiện quan điểm và chủ trương về công nghiệp hóa, hiện đại hóa, gắn với các quá trình trong một tổng thể phát triển đất nước. Đến Đại hội XI, Đảng ta xác định chuyển đổi mô hình tăng trưởng từ chủ yếu phát triển theo chiều rộng sang phát triển hợp lý giữa chiều rộng và chiều sâu, kết hợp mở rộng quy mô, đồng thời chú trọng nâng cao chất lượng, hiệu quả, tính bền vững, gắn đổi mới mô hình tăng trưởng với cơ cấu lại nền kinh tế. Văn kiện Đại hội XIII của Đảng tiếp tục đề cập nội dung trên, nhưng nhấn mạnh mô hình tăng trưởng mới cần tận dụng tốt cơ hội của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, dựa trên tiến bộ khoa học - công nghệ và đổi mới sáng tạo. Công nghiệp hóa, hiện đại hóa được xác định gắn với phát triển kinh tế tri thức và bảo vệ tài nguyên, môi trường; xây dựng cơ cấu kinh tế hợp lý, hiện đại, hiệu quả và bền vững, gắn kết chặt chẽ công nghiệp, nông nghiệp và dịch vụ. Nghị quyết Hội nghị lần thứ 6 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII, “Về tiếp tục đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045” xác định mục tiêu tổng quát: “Xây dựng nền công nghiệp quốc gia vững mạnh với năng lực sản xuất mới, tự chủ, khả năng thích ứng, chống chịu cao, từng bước làm chủ công nghệ lõi, công nghệ nền của các ngành công nghiệp nền tảng, công nghiệp ưu tiên, công nghiệp mũi nhọn”(3).

Bốn là, nhận thức về vai trò quản lý kinh tế của Nhà nước.

Chức năng của Nhà nước nói chung và chức năng kinh tế của Nhà nước nói riêng ở Việt Nam đã từng bước được xác định và thực hiện theo hướng phù hợp với quá trình chuyển đổi sang kinh tế thị trường. Trên cơ sở tách bạch chức năng quản lý nhà nước về kinh tế, chức năng chủ sở hữu doanh nghiệp nhà nước và chức năng kinh doanh của doanh nghiệp, hoạt động điều tiết của Nhà nước đã từng bước được đổi mới từ can thiệp chủ yếu và trực tiếp bằng mệnh lệnh hành chính vào hoạt động sản xuất, kinh doanh, chuyển sang quản lý bằng pháp luật, chính sách, chiến lược, quy hoạch, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội và các công cụ điều tiết vĩ mô khác. Nhà nước không còn trực tiếp thực hiện hoạt động sản xuất, kinh doanh như trước đây, mà tập trung vào các khâu tạo lập môi trường pháp lý, môi trường kinh tế; đầu tư phát triển các ngành kết cấu hạ tầng thiết yếu nhằm tạo thuận lợi cho hoạt động của chủ thể kinh doanh, thực hiện điều tiết kinh tế vĩ mô thông qua các công cụ kế hoạch hóa định hướng, các chính sách kinh tế - xã hội dựa trên hoạt động của các quy luật thị trường. Phương thức điều tiết kinh tế của Nhà nước đã có tác động tích cực, không những nhanh chóng ứng phó với những bất ổn kinh tế trong và ngoài nước, bảo đảm môi trường kinh doanh tương đối ổn định, mà còn góp phần giải quyết các vấn đề xã hội bức xúc, đặc biệt là về xóa đói, giảm nghèo trong điều kiện trình độ phát triển kinh tế chưa cao. Đại hội XIII của Đảng đã làm rõ mối quan hệ giữa Nhà nước, thị trường và xã hội. Điểm mới nổi bật chính là trong quan hệ này bổ sung nhân tố xã hội. Trong đó cũng nêu rõ vai trò của Nhà nước, thị trường và xã hội trong mối quan hệ chung. Nhà nước thực hiện chức năng xây dựng và quản lý thực hiện chiến lược, quy hoạch, kế hoạch, cơ chế, chính sách, phân bổ nguồn lực phát triển theo cơ chế thị trường. Đổi mới mạnh mẽ phương thức quản lý nhà nước về kinh tế theo hướng chuyển giao những công việc Nhà nước không nhất thiết phải làm cho các tổ chức xã hội, chuyển đổi cung cấp trực tiếp dịch vụ công sang phương thức đặt hàng.

Bốc, xếp hàng hóa tại Cảng quốc tế Đà Nẵng_Nguồn: nhiepanhdoisong.vn

Những kết quả nổi bật sau gần 40 năm đổi mới

Thứ nhất, kinh tế phát triển ổn định, quy mô nền kinh tế tăng vượt bậc, cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo hướng hiện đại.

Tăng trưởng kinh tế đạt tốc độ cao. Giai đoạn đầu đổi mới (1986 - 1990), mức tăng trưởng GDP bình quân hằng năm chỉ đạt 4,4%. Giai đoạn 1996 - 2000, tốc độ tăng GDP đạt 7%. Từ đầu nhiệm kỳ Đại hội XII đến nay, với sự điều hành quyết liệt và quyết tâm cao của Chính phủ, Việt Nam đã từng bước đổi mới mô hình tăng trưởng, nâng cao chất lượng tăng trưởng, kết quả biểu hiện ở tốc độ tăng GDP bình quân giai đoạn 2016 - 2019 đạt mức 6,8%, đạt mục tiêu tăng trưởng bình quân 6,5% đến 7% của kế hoạch 5 năm 2016 - 2020. Mặc dù các năm 2020, 2021, nền kinh tế chịu ảnh hưởng nặng nề của đại dịch COVID-19, nhưng vẫn tăng trưởng lần lượt là 2,91% và 2,58%, là một trong số rất ít các quốc gia có mức tăng trưởng dương trong khu vực và trên thế giới. Năm 2022, tăng trưởng GDP là 8,02% và năm 2023 là 5,05%, trong so sánh với tăng trưởng trung bình toàn cầu tương ứng hai năm đó là 3,4% và 2,9%(4). Quy mô nền kinh tế ngày càng cải thiện và luôn nhất quán chủ trương giữ vững ổn định kinh tế vĩ mô, tạo mọi điều kiện thuận lợi cho đầu tư, kinh doanh. Sau gần 40 năm đổi mới, quy mô nền kinh tế Việt Nam tăng từ khoảng 4 tỷ USD khi bắt đầu đổi mới, lên hơn 430 tỷ USD  năm 2023.

Thực lực của nền kinh tế tăng lên; kinh tế vĩ mô cơ bản ổn định; lạm phát được kiểm soát; tăng trưởng kinh tế được duy trì hợp lý và được đánh giá là thuộc nhóm nước có mức tăng trưởng khá cao trên thế giới. Từ một nền kinh tế nông nghiệp lạc hậu với 90% dân số làm nông nghiệp, chúng ta đã xây dựng được cơ sở vật chất - kỹ thuật, hạ tầng kinh tế - xã hội từng bước đáp ứng cho sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa, tạo ra môi trường thu hút nguồn lực xã hội cho phát triển.

Cơ cấu kinh tế của Việt Nam đã bước đầu chuyển dịch theo hướng hiện đại. Cơ cấu ngành kinh tế chuyển dịch theo hướng giảm khu vực nông nghiệp, tăng khu vực dịch vụ và công nghiệp(5). Cơ cấu thành phần kinh tế tiếp tục chuyển dịch theo hướng phát huy tiềm năng của các thành phần kinh tế và đan xen nhiều hình thức sở hữu. Cơ cấu lao động có sự chuyển đổi tích cực gắn liền với quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế. Cơ cấu hàng hóa xuất khẩu có cải thiện đáng kể. Tổng kim ngạch xuất khẩu tăng mạnh(6). Một số sản phẩm xuất khẩu của Việt Nam có khối lượng, giá trị đứng vào “tốp” đầu của thế giới, như gạo, cà-phê, cao-su, hạt tiêu, hàng dệt may. Xuất khẩu chuyển dịch theo hướng tăng dần tỷ trọng sản phẩm công nghiệp và giảm dần tỷ trọng sản phẩm nông nghiệp, giảm dần sản phẩm nguyên liệu thô... Hình thành các vùng kinh tế trọng điểm để làm động lực cho phát triển kinh tế vùng, miền và cả nước. Phát triển các khu kinh tế, khu công nghiệp tập trung nhằm thu hút vốn đầu tư phát triển, đồng thời hình thành các vùng chuyên môn hóa cây trồng, vật nuôi gắn với chế biến nông nghiệp.

Thứ hai, hình thành hệ thống chủ thể kinh doanh đa dạng, năng động của nền kinh tế thị trường.

Qua gần 40 năm đổi mới kinh tế cũng đã chứng kiến vai trò tích cực của các chủ thể kinh tế trong nền kinh tế quốc dân, tự do kinh doanh và cạnh tranh theo quy định của pháp luật: Kinh tế nhà nước dần phát huy tốt hơn vai trò chủ đạo; hệ thống doanh nghiệp nhà nước từng bước được cơ cấu lại, cổ phần hóa, hoạt động theo Luật Doanh nghiệp và đang giảm mạnh về số lượng. Kinh tế tập thể bước đầu được đổi mới, các hình thức hợp tác kiểu mới được hình thành phù hợp hơn với cơ chế thị trường. Kinh tế tư nhân tăng nhanh về số lượng, từng bước nâng cao hiệu quả kinh doanh, giải quyết việc làm, đóng góp ngày càng lớn vào GDP(7)Kinh tế có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) được khuyến khích phát triển, doanh nghiệp FDI đã có những đóng góp quan trọng vào việc thực hiện mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội, giải quyết việc làm và xuất khẩu(8).

Như vậy, bên cạnh các chủ thể sản xuất, kinh doanh chủ yếu trước đây là doanh nghiệp nhà nước, hợp tác xã, đã từng bước hình thành và phát triển nhanh các chủ thể kinh doanh khác dựa trên sở hữu tư nhân và sở hữu nước ngoài, góp phần nhanh chóng hình thành hệ thống chủ thể ngày càng năng động của nền kinh tế thị trường. Những thay đổi lớn về cơ cấu chủ thể kinh doanh cũng như sự thay đổi của từng loại hình chủ thể kinh doanh được thực hiện theo hướng ngày càng thích nghi với môi trường sản xuất, kinh doanh mới của kinh tế thị trường.

Thứ ba, phát triển đồng bộ hệ thống các loại thị trường, hình thành thể chế kinh tế thị trường định hướng XHCN.

Sự phát triển nhanh chóng theo hướng đa dạng chủ thể kinh doanh đã tạo thuận lợi cho việc chuyển đổi nhanh chóng phương thức tương tác qua lại giữa các chủ thể kinh doanh từ kế hoạch hóa mệnh lệnh sang cùng hợp tác và cạnh tranh trên thị trường, tạo điều kiện cho sự hình thành và phát triển hệ thống thị trường ngày càng đồng bộ. Bên cạnh sự phát triển và thay đổi căn bản của thị trường hàng tiêu dùng và dịch vụ từ bao cấp sang hoạt động theo cơ chế thị trường, các thị trường yếu tố sản xuất dần được hình thành và phát triển theo yêu cầu phát triển sản xuất, kinh doanh, như thị trường tài chính, thị trường lao động, thị trường bất động sản, thị trường khoa học - công nghệ...

Thị trường hàng hóa, dịch vụ đã có bước phát triển và hoàn thiện về quy mô, cơ cấu hàng hóa - thị trường trong và ngoài nước, kết cấu hạ tầng thương mại, dịch vụ, cơ chế quản lý, mức độ cạnh tranh. Quy mô thị trường trong nước liên tục tăng. Tính chung trong những năm gần đây, tốc độ tăng trưởng bình quân của thương mại bán lẻ luôn cao từ 2 - 3 lần so với tốc độ tăng trưởng bình quân của GDP cùng kỳ. Thị trường tài chính, tiền tệ phát triển khá mạnh và sôi động. Bên cạnh kênh huy động vốn từ ngân hàng, thị trường chứng khoán đã hình thành, góp phần đa dạng hóa nguồn vốn đầu tư. Đồng thời, hoạt động của thị trường bảo hiểm đã đóng góp tích cực vào việc ổn định sản xuất và đời sống dân cư, huy động vốn cho sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Tỷ giá đồng tiền, giá ngoại tệ, giá vàng cơ bản giữ được ổn định. Thị trường bất động sản có bước phát triển nhất định, nhiều dự án khu nhà ở, khu đô thị mới với hệ thống hạ tầng kỹ thuật, hạ tầng xã hội tương đối đồng bộ hình thành, góp phần đô thị hóa và dịch chuyển cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa, thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội của đất nước(9)Thị trường lao động được hình thành trên phạm vi cả nước. Nguồn cung lao động khá dồi dào và gia tăng với tốc độ nhanh. Quy mô lực lượng lao động từ 15 tuổi trở lên tăng từ 50,51 triệu người (cuối năm 2010) lên 52,4 triệu người (cuối năm 2023) và lao động có việc làm trong quý IV-2023 là 51,5 triệu người. Thị trường khoa học - công nghệ đang hình thành và phát triển, số lượng và giá trị giao dịch công nghệ có bước tiến đáng kể trong những năm gần đây. Thị trường một số loại dịch vụ công cơ bản, nhất là về y tế, giáo dục có bước phát triển mới, huy động được sự tham gia của nhiều nguồn lực ngoài ngân sách nhà nước. Thể chế, chính sách phát triển thị trường khoa học - công nghệ từng bước được hoàn thiện; nguồn cung hàng hóa đã tăng đáng kể, tốc độ tăng giá trị giao dịch bình quân hằng năm đạt 22%; kết quả nghiên cứu của các viện, trường, nhà khoa học dần trở thành hàng hóa được doanh nghiệp đón nhận; nhu cầu, năng lực tiếp nhận, hấp thụ và làm chủ công nghệ mới, tiên tiến của doanh nghiệp ngày càng được gia tăng và cải thiện; các tổ chức trung gian thị trường khoa học - công nghệ, sàn giao dịch công nghệ từng bước được hình thành và phát triển, công tác xúc tiến quảng bá, kết nối cung cầu sản phẩm khoa học - công nghệ tiếp tục được duy trì và đẩy mạnh.

Quan hệ kinh tế đối ngoại đã có bước phát triển nhanh, thúc đẩy các hoạt động xuất, nhập khẩu, thu hút đầu tư nước ngoài, giúp cho nền kinh tế từng bước đổi mới công nghệ, nâng cao sức cạnh tranh. Sự hình thành và phát triển hệ thống thị trường đã từng bước tạo ra nền tảng quan trọng cho nền kinh tế vận hành theo cơ chế thị trường, đẩy nhanh quá trình chuyển đổi nền kinh tế sang kinh tế thị trường.

Cùng với đó, trong gần 40 năm đổi mới, đã ba lần sửa đổi và ban hành Hiến pháp, sửa đổi và ban hành nhiều bộ luật và luật. Việc ban hành Luật Đất đai năm 2024 cùng nhiều luật quan trọng khác góp phần hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng XHCN và thúc đẩy chuyển đổi mô hình tăng trưởng, cơ cấu lại nền kinh tế. Các văn bản quy phạm pháp luật này về cơ bản tạo cơ sở pháp lý hình thành và thúc đẩy việc xây dựng thể chế kinh tế thị trường định hướng XHCN.

Ứng dụng công nghệ trong sản xuất công nghiệp_Nguồn: nhiepanhdoisong.vn

Thứ tư, quan hệ phân phối bảo đảm công bằng và tạo động lực cho phát triển.

Thực hiện chế độ phân phối chủ yếu theo kết quả lao động, hiệu quả kinh tế, đồng thời theo mức đóng góp vốn cùng các nguồn lực khác và phân phối thông qua hệ thống an sinh xã hội, phúc lợi xã hội. Luôn gắn kinh tế với xã hội, thống nhất chính sách kinh tế với chính sách xã hội, tăng trưởng kinh tế đi đôi với thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội ngay trong từng bước, từng chính sách và trong suốt quá trình phát triển. Mỗi chính sách kinh tế đều hướng tới mục tiêu phát triển xã hội; mỗi chính sách xã hội tạo ra động lực thúc đẩy phát triển kinh tế; khuyến khích làm giàu hợp pháp đi đôi với xóa đói, giảm nghèo bền vững, chăm sóc người có công, người có hoàn cảnh khó khăn. Đây là một yêu cầu có tính nguyên tắc cho sự phát triển lành mạnh, bền vững, theo định hướng XHCN.

Trong gần 40 năm đổi mới, thành tựu xây dựng con người của nước ta còn được thể hiện qua Chỉ số phát triển con người (HDI) có xu hướng tăng đều và khá ổn định, cả về giá trị tuyệt đối cũng như thứ hạng. Năm 2022, chỉ số HDI của Việt Nam đạt mức 0,737, thuộc nhóm nước có HDI cao của thế giới, nhất là so với các nước có trình độ phát triển cao hơn. Chỉ số hạnh phúc của Việt Nam năm 2023 được xếp thứ 65/137 quốc gia được xếp hạng(10).

Theo kết quả Khảo sát mức sống dân cư năm 2021 của Tổng cục Thống kê, tỷ lệ hộ nghèo tiếp cận đa chiều năm 2022 của Việt Nam là 4,3%, giảm 0,5 điểm phần trăm so với năm 2020. Tỷ lệ hộ nghèo đã giảm liên tục trong giai đoạn 2016 - 2022, trung bình mỗi năm giảm khoảng 1 điểm phần trăm.

Thứ nămkinh tế Việt Nam ngày càng tham gia sâu và khẳng định được vị trí trong chuỗi giá trị toàn cầu.

Gần 40 năm đổi mới cũng là một chặng đường hội nhập kinh tế quốc tế sâu rộng trên nhiều cấp độ, đa dạng về hình thức, theo nguyên tắc và chuẩn mực của thị trường toàn cầu. Việt Nam đã thiết lập được nhiều quan hệ đối tác chiến lược về kinh tế. Tích cực xây dựng Cộng đồng ASEAN và hoàn thiện thị trường trong nước đầy đủ hơn theo cam kết của Tổ chức Thương mại thế giới (WTO); đàm phán, ký kết và thực hiện nhiều FTA song phương và đa phương thế hệ mới. Các yếu tố nền tảng cơ bản của kinh tế thị trường dần được hình thành và được nhiều nước thừa nhận.

Việc tham gia đàm phán, ký kết và thực hiện các hiệp định FTA có tác động tích cực tới phát triển kinh tế, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia, doanh nghiệp và sản phẩm, phát triển nông nghiệp, nông thôn, giải quyết lao động, tạo việc làm...

Việc hội nhập kinh tế quốc tế sâu rộng và đa dạng đã tác động tích cực đến sự phát triển kinh tế nước ta. Thị trường xuất khẩu của Việt Nam được mở rộng đến 230 quốc gia và vùng lãnh thổ, kim ngạch xuất khẩu tăng bình quân trên 10%/năm. Năm 2022, xuất khẩu đạt khoảng 371,5 tỷ USD, tăng 10,5% so với năm 2021. Đây là lần đầu tiên kim ngạch xuất, nhập khẩu của Việt Nam lập kỷ lục mới, vượt mốc 730 tỷ USD (tốp 20 nền kinh tế hàng đầu về thương mại quốc tế). Môi trường kinh doanh ngày càng được cải thiện, tạo thuận lợi cho doanh nghiệp chủ động hơn trong việc tham gia chuỗi giá trị toàn cầu. Một số sản phẩm của Việt Nam bước đầu khẳng định thương hiệu và có khả năng cạnh tranh trên thị trường quốc tế. 

Thứ hạng của Việt Nam trong tất cả bảng xếp hạng quan trọng của quốc tế đều được cải thiện. Chỉ số về trình độ phát triển của thị trường Việt Nam tăng 12 bậc so với năm 2020, từ vị trí thứ 34 lên vị trí thứ 22. Các nhóm chỉ số về thương mại, đa dạng hóa và quy mô thị trường tăng từ vị trí thứ 49 lên vị trí thứ 15 - một sự thay đổi hết sức mạnh mẽ; hay chỉ số đa dạng hóa các ngành trong nước cũng xếp thứ hạng khá cao (9/134 nước)(11).

(1) Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2021, t. II, tr. 59
(2) Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIIISđd, t. I, tr. 128
(3) Văn kiện Hội nghị lần thứ sáu Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2022, tr. 120 - 121
(4) Báo cáo Triển vọng thế giới của Quỹ Tiền tệ quốc tế (IMF) năm 2023
(5) Tỷ trọng của khu vực nông - lâm - ngư nghiệp trong tổng sản phẩm xã hội năm 1990 là 38,74%, của khu vực công nghiệp và xây dựng là 22,67% và của khu vực dịch vụ là 38,59%; năm 2000, nông nghiệp còn 24,53%, công nghiệp 36,73%, dịch vụ 38,74%; năm 2010 nông nghiệp là 18,89%, công nghiệp 38,23%, dịch vụ 42,88% và đến năm 2022 nông nghiệp, lâm nghiệp và thủy sản chiếm tỷ trọng 11,88%, khu vực công nghiệp và xây dựng chiếm 38,26%, khu vực dịch vụ chiếm 41,33%, thuế sản phẩm trừ trợ cấp sản phẩm chiếm 8,53%
(6) Năm 1990, tổng kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam là 2,4 tỷ USD, năm 2000 là 14,5 tỷ USD, năm 2010 là 72,2 tỷ USD, năm 2022 là 371,85 tỷ USD
(7) Kinh tế tư nhân liên tục duy trì tốc độ tăng trưởng khá, chiếm tỷ trọng 40 - 43% GDP; thu hút khoảng 85% lực lượng lao động, góp phần quan trọng trong huy động nguồn lực xã hội cho đầu tư phát triển sản xuất, kinh doanh, tăng trưởng kinh tế, chuyển dịch cơ cấu kinh tế, tăng thu ngân sách nhà nước
(8) Sau gần 40 năm đổi mới, Việt Nam đã thu hút được xấp xỉ 400 tỷ USD vốn FDI với trên 70 nghìn dự án FDI. Dòng vốn FDI đã thực sự đóng góp quan trọng cho phát triển kinh tế - xã hội, như bổ sung nguồn vốn đầu tư còn thiếu hụt, đẩy mạnh xuất khẩu, chuyển giao công nghệ, phát triển nguồn nhân lực và tạo việc làm, tăng nguồn thu cho ngân sách nhà nước... Tính chung, khu vực FDI ở Việt Nam đóng góp khoảng 20% GDP, khoảng 25% tổng vốn đầu tư toàn xã hội và chiếm hơn 40% giá trị sản xuất công nghiệp, hơn 50% tổng kim ngạch xuất, nhập khẩu và khoảng 30% tổng thu cho ngân sách quốc gia
(9) Hiện nay, cả nước ước tính đã và đang thực hiện trên 5.000 dự án với tổng vốn đầu tư hơn 4,5 triệu tỷ đồng, tăng hơn gấp 3 lần so với năm 2009, có hơn 100.000 doanh nghiệp xây dựng và 15.000 doanh nghiệp kinh doanh bất động sản cùng với hơn 1.000 sàn giao dịch bất động sản được thành lập
(10) Xem: Nguyễn Phú Trọng: “Tự hào và tin tưởng dưới lá cờ vẻ vang của Đảng, quyết tâm xây dựng một nước Việt Nam ngày càng giàu mạnh, văn minh, văn hiến và anh hùng”, Tạp chí Cộng sản, số 1030 (1-2024) tr. 11
(11) Vũ Thị Thu Hằng: “Đổi mới sáng tạo ở Việt Nam hiện nay”, Tạp chí Cộng sản điện tử, ngày 18-10-2022, https://tapchicongsan.org.vn/web/guest/nghien-cu/-/2018/826023/doi-moi-sang-tao-o-viet-nam-hien-nay.aspx

Siết chặt kỷ luật, kỷ cương đi đôi với tạo môi trường để khuyến khích, bảo vệ cán bộ dám nghĩ, dám làm, dám đột phá, không ngừng đổi mới, sáng tạo - Bài học kinh nghiệm của Đảng bộ thành phố Hà Nội.

 Trong những năm qua, Đảng bộ thành phố Hà Nội luôn quán triệt và thực hiện nhất quán quan điểm coi công tác cán bộ là nhiệm vụ “then chốt” của “then chốt” trong công tác xây dựng Đảng, là công việc có vai trò, ý nghĩa đặc biệt quan trọng, nhân tố quyết định sự thành công. Theo đó, Đảng bộ thành phố Hà Nội vừa chú trọng siết chặt kỷ luật, kỷ cương, vừa tạo môi trường để khuyến khích, bảo vệ cán bộ năng động, sáng tạo, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm vì lợi ích chung, góp phần xây dựng Thủ đô anh hùng, ngày càng phát triển.

Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Thành ủy Hà Nội Đinh Tiến Dũng kiểm tra tình hình thực hiện dự án đầu tư xây dựng đường vành đai 4 - vùng Thủ đô Hà Nội_Ảnh: TTXVN

Tập trung triển khai thực hiện chủ trương, nghị quyết

Những kết quả đã đạt được sau nửa nhiệm kỳ thực hiện Nghị quyết Đại hội đại biểu Đảng bộ thành phố Hà Nội lần thứ XVII, nhiệm kỳ 2020 - 2025, có ý nghĩa quan trọng để Ban Chấp hành Đảng bộ thành phố xác định nhiệm vụ trọng tâm, khâu đột phá trong thời gian còn lại của nhiệm kỳ; đồng thời, phát huy thành tích, lợi thế, tiềm năng sẵn có, tranh thủ sự ủng hộ, giúp đỡ của Trung ương, các bộ, ban, ngành và các tỉnh, thành phố trong cả nước, nhằm gương mẫu xây dựng Đảng bộ và hệ thống chính trị thành phố trong sạch, vững mạnh; khơi dậy ý chí, phát huy truyền thống nghìn năm văn hiến, anh hùng, sức mạnh khối đại đoàn kết toàn dân tộc; đẩy mạnh đổi mới sáng tạo và hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng; xây dựng Thủ đô ngày càng giàu đẹp, văn minh, hiện đại.

Ban Chấp hành Đảng bộ thành phố Hà Nội coi “phát huy dân chủ trong Đảng và trong xã hội gắn liền với kỷ cương” là một trong năm bài học kinh nghiệm; xác định việc tạo chuyển biến mạnh mẽ về kỷ luật, kỷ cương, ý thức, trách nhiệm, chất lượng và hiệu quả phục vụ doanh nghiệp và nhân dân của đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức là một trong ba khâu đột phá của thành phố trong nhiệm kỳ này. Đại hội đại biểu Đảng bộ thành phố Hà Nội lần thứ XVII, nhiệm kỳ 2020 - 2025, quyết tâm đẩy mạnh đổi mới sáng tạo, góp phần xây dựng Thủ đô phát triển xứng tầm với các thành phố lớn trong khu vực và thế giới.

Triển khai thực hiện Nghị quyết Đại hội đại biểu Đảng bộ thành phố Hà Nội lần thứ XVII, ngay từ năm đầu tiên của nhiệm kỳ 2020 - 2025, Ban Chấp hành Đảng bộ thành phố đã ban hành Chương trình số 01-CTr/TU, ngày 17-3-2021, về “Tăng cường công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng, xây dựng Đảng bộ và hệ thống chính trị thành phố trong sạch, vững mạnh; đẩy mạnh cải cách hành chính giai đoạn 2021 - 2025”. Đây là một trong mười chương trình công tác toàn khóa của Thành ủy Hà Nội, được xác định là chương trình cốt lõi; trong đó, yêu cầu tăng cường công tác quản lý, giám sát đội ngũ cán bộ, đảng viên về mức độ hoàn thành nhiệm vụ và phẩm chất đạo đức, lối sống trong sạch, lành mạnh, kỷ cương, kỷ luật; có tinh thần trách nhiệm cao, gương mẫu, đi đầu trong công tác của cán bộ lãnh đạo chủ chốt các cấp; siết chặt kỷ luật, kỷ cương gắn với nâng cao trách nhiệm và tăng cường kiểm tra, giám sát thực hiện nhiệm vụ của đảng viên. Đồng thời, Đảng bộ thành phố Hà Nội tiếp tục lãnh đạo xây dựng đội ngũ cán bộ bảo đảm đồng bộ, có tính kế thừa và phát triển, có số lượng và cơ cấu hợp lý; có bản lĩnh chính trị vững vàng, có đạo đức, lối sống lành mạnh, không quan liêu, tham nhũng, lãng phí, tiêu cực; có tư duy đổi mới, sáng tạo, có kiến thức chuyên môn, nghiệp vụ đáp ứng yêu cầu của thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa; có tinh thần đoàn kết, hợp tác, ý thức tổ chức, kỷ luật cao và phong cách làm việc khoa học, tôn trọng tập thể, gắn bó với nhân dân, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm vì lợi ích chung.

Thành ủy Hà Nội đã chỉ đạo ban hành nhiều văn bản, nổi bật như Nghị quyết số 04-NQ/TU, ngày 31-5-2021, của Ban Thường vụ Thành ủy Hà Nội, về “Tập trung xây dựng và nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ các cấp nhiệm kỳ 2020 - 2025 và những năm tiếp theo”; Kế hoạch số 67-KH/TU, ngày 15-3-2022, của Ban Thường vụ Thành ủy Hà Nội, về “Thực hiện Kết luận số 14-KL/TW, ngày 22-9-2021, của Bộ Chính trị khóa XIII, “Về chủ trương khuyến khích và bảo vệ cán bộ năng động, sáng tạo vì lợi ích chung””; lựa chọn chủ đề công tác ba năm liên tiếp, từ năm 2021 đến năm 2023, là “Kỷ cương, trách nhiệm, hành động, sáng tạo, phát triển”; chỉ đạo xây dựng Đề án phân cấp quản lý nhà nước, ủy quyền trên địa bàn thành phố Hà Nội,...

Thành ủy Hà Nội đã tập trung lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện đồng bộ, hiệu quả công tác cán bộ, bám sát các quan điểm, nguyên tắc của Đảng trong công tác cán bộ, nhất là nguyên tắc tập trung dân chủ và nguyên tắc Đảng thống nhất lãnh đạo trực tiếp, toàn diện công tác cán bộ và quản lý đội ngũ cán bộ trong hệ thống chính trị, đi đôi với phát huy quyền và trách nhiệm của các tổ chức và người đứng đầu các tổ chức trong hệ thống chính trị về công tác cán bộ. Qua đó, công tác cán bộ được đổi mới, thực hiện nền nếp, hiệu quả hơn; đã chăm lo, xây dựng được đội ngũ cán bộ các cấp của Thủ đô có đủ phẩm chất, năng lực, uy tín và từng bước ngang tầm nhiệm vụ.

Phương thức lãnh đạo của Thành ủy Hà Nội thông qua công tác cán bộ có nhiều đổi mới theo hướng khoa học, công khai, dân chủ, sát thực tiễn hơn; đã được thể chế hóa và cụ thể hóa thành nghị quyết, kết luận, các quy định, quy chế. Xuyên suốt trong quan điểm chỉ đạo của Thành ủy Hà Nội về công tác cán bộ trong những năm vừa qua là, đội ngũ cán bộ, nhất là cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp của thành phố Hà Nội trước hết phải có tư duy, khát vọng đổi mới; tạo môi trường, điều kiện thuận lợi để cán bộ phát huy năng lực, sở trường, “dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm”, cống hiến cho sự nghiệp xây dựng, phát triển Thủ đô.

Ban Thường vụ Thành ủy Hà Nội ban hành Nghị quyết số 04-NQ/TU, ngày 31-5-2021, “Về tập trung xây dựng và nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ các cấp, nhiệm kỳ 2020 - 2025 và những năm tiếp theo”; đồng thời, sửa đổi, bổ sung đồng bộ hệ thống quy chế, quy định về công tác cán bộ bảo đảm ngày càng sát thực tiễn, công khai, minh bạch, dân chủ, hướng vào những khâu quan trọng, có tính đột phá, liên thông. Đổi mới công tác đánh giá, đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, gắn với công tác quy hoạch, luân chuyển và bố trí, sử dụng cán bộ(1). Đây thực sự là những văn bản quan trọng, làm cơ sở để thực hiện đồng bộ, nâng cao chất lượng, hiệu quả các khâu của công tác cán bộ, tạo bước đột phá trong thực hiện các nhiệm vụ chính trị của thành phố, bảo đảm dân chủ, khách quan, công khai, minh bạch, đúng nguyên tắc và quy trình theo quy định của Đảng. 

Nhằm siết chặt kỷ luật, kỷ cương đối với đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức, đảng viên trong toàn hệ thống chính trị, Thành ủy Hà Nội đặc biệt coi trọng việc quán triệt, triển khai Quy định số 37-QĐ/TW, ngày 25-10-2021, của Ban Chấp hành Trung ương, “Về những điều đảng viên không được làm” để toàn thể đảng viên trong Đảng bộ nắm chắc, hiểu đúng, thực hiện đúng. Từ đó, Thành ủy Hà Nội chỉ đạo các cơ quan tham mưu, các cấp, các ngành cụ thể hóa nội dung của Quy định vào các văn bản liên quan theo hướng để mỗi đảng viên tự soi mình, “dễ nhớ, dễ nhận diện, dễ thực hiện” và tổ chức đảng dễ giám sát, các cơ quan kiểm tra của Đảng kịp thời phát hiện, xử lý cán bộ, đảng viên mắc khuyết điểm; đồng thời, tiếp tục thực hiện các quy định của Trung ương và của thành phố Hà Nội(2). Tăng cường biện pháp và công cụ quản lý của cấp ủy, cơ quan, đơn vị; phát huy mạnh mẽ vai trò của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức chính trị - xã hội thành phố trong việc giám sát đội ngũ cán bộ, đảng viên về mức độ hoàn thành nhiệm vụ và phẩm chất, đạo đức, lối sống trong sạch, lành mạnh, kỷ luật, kỷ cương, tinh thần trách nhiệm, tính tiền phong, gương mẫu, đấu tranh chống quan liêu, tham nhũng, lãng phí và các tiêu cực khác. Đặc biệt, năm 2022, Ban Thường vụ Thành ủy Hà Nội thực hiện kiểm tra, giám sát đối với 35 tổ chức đảng và 42 đảng viên trong công tác lãnh đạo, chỉ đạo và tổ chức thực hiện một số chương trình, kết luận, nhiệm vụ trọng tâm theo Quy định số 37-QĐ/TW, ngày 25-10-2021, của Ban Chấp hành Trung ương, “Về những điều đảng viên không được làm”. Kết quả thực hiện đã góp phần quan trọng vào công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng, tăng cường kỷ cương, kỷ luật của Đảng và giữ gìn phẩm chất chính trị, đạo đức cách mạng, tính tiền phong, gương mẫu của đảng viên, nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của tổ chức đảng, củng cố niềm tin của nhân dân với Đảng và góp phần xây dựng hệ thống chính trị ngày càng trong sạch, vững mạnh.

Đẩy mạnh công tác đánh giá, luân chuyển đội ngũ cán bộ, đảng viên

Thực hiện đổi mới công tác đánh giá cán bộ, nhằm siết chặt kỷ luật, kỷ cương, từ năm 2018, thành phố Hà Nội là một trong những địa phương đầu tiên trên cả nước ban hành Quyết định số 3814-QĐ/TU, ngày 16-5-2018, của Ban Thường vụ Thành ủy, “Quy định khung tiêu chí đánh giá hằng tháng đối với cán bộ, công chức, viên chức, lao động hợp đồng trong hệ thống chính trị thành phố Hà Nội” và Quyết định số 3251-QĐ/TU, ngày 16-8-2022, của Thành ủy Hà Nội, “Về sửa đổi, bổ sung một số điều của Quy định đánh giá, xếp loại hằng tháng đối với cán bộ, công chức, viên chức, lao động hợp đồng trong hệ thống chính trị thành phố Hà Nội”. Đây là những bước đi chủ động nhằm thực hiện Nghị quyết số 26-NQ/TW, ngày 19-5-2018, của Hội nghị Trung ương 7 khóa XII; theo đó, thực hiện đánh giá đa chiều, liên tục và lượng hóa được kết quả thực hiện nhiệm vụ của từng cán bộ, công chức, viên chức, người lao động, gắn với kết quả công tác của từng bộ phận, cơ quan, đơn vị. Từ ngày 1-1-2022 đến nay, Thành ủy Hà Nội luôn duy trì tốt việc đánh giá đội ngũ cán bộ hằng tháng trên hệ thống phần mềm của thành phố, với hơn 177 nghìn tài khoản người dùng; kết quả đánh giá hằng tháng tính chung toàn thành phố thời gian vừa qua, tỷ lệ hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ chiếm khoảng 13%, hoàn thành tốt nhiệm vụ chiếm khoảng 85%, hoàn thành nhiệm vụ chiếm khoảng 1% và không hoàn thành nhiệm vụ chiếm khoảng 0,01%.

Trong luân chuyển, điều động và chuyển đổi vị trí công tác theo Nghị định số 59/2019/NĐ-CP, ngày 1-7-2019, của Chính phủ, “Quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Phòng, chống tham nhũng”, đối với cán bộ, công chức, viên chức thành phố Hà Nội, thực hiện đúng nguyên tắc của Nghị quyết số 04-NQ/TU, ngày 31-5-2021, của Ban Chấp hành Đảng bộ thành phố, “Về tập trung xây dựng và nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ các cấp nhiệm kỳ 2020 - 2025 và những năm tiếp theo”. Trong đó, kiên quyết, kịp thời thay thế, điều chuyển cán bộ lãnh đạo, quản lý, nhất là cán bộ chủ chốt sở, ban, ngành, quận, huyện, thị xã và xã, phường, thị trấn thiếu quyết liệt trong thực hiện chức trách, nhiệm vụ được giao, chậm trễ trong lãnh đạo doanh nghiệp cổ phần hóa; để địa phương, đơn vị phát triển không tương xứng với tiềm năng, lợi thế và đầu tư của thành phố; tín nhiệm thấp, “dĩ hòa vi quý”, “kéo bè kéo cánh” gây chia rẽ, mất đoàn kết nội bộ, có sai phạm, nhưng chưa đến mức bị kỷ luật; có dư luận cán bộ, đảng viên và đơn, thư phản ánh tiêu cực mà không chờ hết nhiệm kỳ, hết thời hạn bổ nhiệm, đến tuổi nghỉ hưu.

Thực hiện Quy định số 07-QĐ/TU, ngày 17-11-2021, của Ban Thường vụ Thành ủy, về “Luân chuyển, điều động, chuyển đổi vị trí công tác cán bộ, công chức, viên chức thuộc thành phố”, đến nay đã có hơn 50 đồng chí cán bộ thuộc diện Ban Thường vụ Thành ủy quản lý được luân chuyển, điều động; bước đầu tạo chuyển biến tích cực, trước hết từ nhận thức của cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp, có tác dụng “cảnh báo, răn đe”; từ đó, kết quả thực hiện nhiệm vụ của một số địa phương, đơn vị sau khi điều động, thay thế cán bộ được nâng lên. Bên cạnh đó, công tác kiểm tra, giám sát tiếp tục được tăng cường, thi hành kỷ luật đảng nghiêm minh. Trong 2 năm (từ năm 2021 đến năm 2022) đã thi hành kỷ luật bằng hình thức khiển trách 1.679 trường hợp, cảnh cáo 259 trường hợp, cách chức 25 trường hợp, khai trừ 237 trường hợp.

Tạo bước chuyển biến về nhận thức và trách nhiệm thực hiện chủ trương khuyến khích, bảo vệ cán bộ năng động, sáng tạo vì lợi ích chung

Thực hiện Kết luận số 14-KL/TW, ngày 22-9-2021, của Bộ Chính trị khóa XIII, “Về chủ trương khuyến khích và bảo vệ cán bộ năng động, sáng tạo vì lợi ích chung”, Ban Thường vụ Thành ủy Hà Nội ban hành Kế hoạch số 67-KH/TU, ngày 15-3-2022, về “Thực hiện Kết luận số 14-KL/TW, ngày 22-9-2021, của Bộ Chính trị khóa XIII, về chủ trương khuyến khích và bảo vệ cán bộ năng động, sáng tạo vì lợi ích chung”; trong đó, đặt ra mục tiêu tạo bước chuyển biến về nhận thức và trách nhiệm của cấp ủy, hệ thống chính trị và đội ngũ cán bộ, đảng viên trong thực hiện chủ trương khuyến khích, bảo vệ cán bộ năng động, sáng tạo vì lợi ích chung. Từ đó, phát huy tinh thần, quyết tâm đổi mới, sáng tạo, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm, thúc đẩy hành động đổi mới, đột phá vì lợi ích chung của đội ngũ cán bộ, đảng viên Thủ đô; lan tỏa thành phong trào đổi mới, sáng tạo, tạo động lực, sức mạnh tổng hợp xây dựng Đảng bộ thành phố thực sự gương mẫu, trong sạch, vững mạnh; xây dựng đội ngũ cán bộ năng động, sáng tạo, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm vì lợi ích chung của tập thể, cộng đồng, quốc gia, dân tộc, đáp ứng yêu cầu xây dựng và phát triển của Thủ đô trong giai đoạn mới; tập trung xác định rõ nội dung thực hiện, gắn với phân công nhiệm vụ, trách nhiệm cụ thể của từng cơ quan, đơn vị trong thực hiện chủ trương này.

Thành ủy Hà Nội có chỉ đạo rất cụ thể để thực hiện giải pháp hết sức quan trọng, đó là khuyến khích đội ngũ cán bộ có tư duy sáng tạo, cách làm đột phá: 1- Trong quá trình thực hiện chức trách, nhiệm vụ được giao, xuất phát từ yêu cầu, đòi hỏi cấp thiết của thực tiễn, nhằm giải quyết “điểm nghẽn”, “nút thắt” trong cơ chế, chính sách trong phạm vi thành phố, cần tập trung vào những vấn đề chưa được quy định hoặc đã có quy định, nhưng chưa hiệu quả, không còn phù hợp với thực tiễn trên tất cả lĩnh vực, như công tác xây dựng Đảng và hệ thống chính trị; phát triển kinh tế - xã hội; bảo đảm an ninh, quốc phòng,... Khuyến khích cán bộ có tư duy đổi mới, sáng tạo, mạnh dạn đề xuất ý tưởng, quyết đoán trong hành động; dám đi đầu, đổi mới loại bỏ cái cũ lạc hậu; tháo gỡ, khơi thông “điểm nghẽn” để bứt phá, giải quyết “nút thắt”, vướng mắc, ách tắc trong thực tiễn; tạo được chuyển biến mạnh mẽ, mang lại hiệu quả cao trong thực hiện chức trách, nhiệm vụ, đóng góp tích cực vào sự phát triển chung của thành phố, địa phương; 2- Các cấp ủy, tổ chức đảng, người đứng đầu, tập thể lãnh đạo cơ quan, đơn vị quan tâm hỗ trợ nguồn lực, tạo mọi điều kiện thuận lợi để cán bộ triển khai thực hiện; 3- Cấp ủy, chính quyền nghiên cứu, cụ thể hóa chủ trương khuyến khích cán bộ có tư duy đổi mới, sáng tạo, cách làm đột phá thành các quy chế, quy định và các văn bản khác, bảo đảm tính khả thi, hiệu quả, phù hợp với thực tiễn địa phương, đơn vị, tạo cơ sở pháp lý để động viên, khuyến khích và bảo vệ cán bộ năng động, sáng tạo vì lợi ích chung. Trước hết, nghiên cứu, bổ sung, cập nhật nội dung khuyến khích, bảo vệ cán bộ năng động, sáng tạo vì lợi ích chung vào trong quy chế làm việc của cấp ủy, chính quyền để thống nhất chỉ đạo và tổ chức thực hiện; 4- Đảng đoàn Hội đồng nhân dân, Ban Cán sự đảng Ủy ban nhân dân thành phố căn cứ tình hình thực tế để chỉ đạo rà soát, thể chế hóa chủ trương khuyến khích, bảo vệ cán bộ năng động, sáng tạo vì lợi ích chung trong các văn bản quy phạm pháp luật của thành phố, tạo cơ sở pháp lý để nhân rộng mô hình, cách làm sáng tạo, hiệu quả; 5 - Khuyến khích cấp ủy, chính quyền địa phương, cơ quan, đơn vị nghiên cứu, tổ chức thí điểm một số mô hình, cơ chế, nhất là tổ chức thí điểm giao và thực hiện việc đột phá, đổi mới đối với một số chức danh cán bộ theo thẩm quyền; trước mắt, tập trung vào những việc mới, việc khó, bức xúc,... tại địa phương, cơ quan, đơn vị nơi cán bộ công tác.

Ủy viên Trung ương Đảng, Phó Bí thư Thường trực Thành ủy Hà Nội Nguyễn Thị Tuyến thăm, động viên cán bộ, công nhân viên, người lao động Công ty cổ phần công nghệ thiết bị Tân Phát (xã Thanh Liệt, huyện Thanh Trì)_Nguồn: thanhtri.hanoi.gov.vn

Đặc biệt, Ban Thường vụ Thành ủy Hà Nội đã giao cho Ủy ban Kiểm tra Thành ủy trong quá trình thực hiện nhiệm vụ kiểm tra, giám sát cần kịp thời phát hiện nhân tố mới, tích cực để phát huy; phải bảo vệ cái đúng, bảo vệ người tốt, cán bộ dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm vì lợi ích chung theo Kết luận số 14-KL/TW, ngày 22-9-2021, của Bộ Chính trị khóa XIII và Quy định số 22-QĐ/TW, ngày 28-7-2021, của Ban Chấp hành Trung ương, “Về công tác kiểm tra, giám sát và kỷ luật của Đảng”.

Thực hiện Nghị định số 73/2023/NĐ-CP, ngày 29-9-2023, của Chính phủ, “Quy định về khuyến khích, bảo vệ cán bộ năng động, sáng tạo, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm vì lợi ích chung”, Thành ủy Hà Nội đã ban hành kế hoạch triển khai đến 100% cấp ủy trực thuộc Thành ủy để tổ chức thực hiện đồng bộ. Thời gian qua, có một số đảng bộ trực thuộc Thành ủy Hà Nội đã tiên phong trong thực hiện nội dung này, như Ban Thường vụ Quận ủy Tây Hồ đã triển khai đến các đồng chí Ủy viên Ban Chấp hành Đảng bộ quận Tây Hồ, bí thư các tổ chức cơ sở đảng trực thuộc, trưởng các tổ chức chính trị - xã hội quận, trưởng các phòng, ban, ngành thuộc quận đăng ký đảm nhận chỉ đạo giải quyết hiệu quả nhiệm vụ khó khăn, phức tạp thuộc thẩm quyền, trách nhiệm được giao năm 2023 về các nội dung: 1- Nhiệm vụ trọng tâm năm 2023 của đơn vị; 2- Nhiệm vụ khó khăn, phức tạp cần tập trung chỉ đạo giải quyết; 3- Việc giải quyết các hạn chế cần khắc phục đã được nêu qua kiểm điểm năm 2022. Mỗi đồng chí đăng ký đảm nhận giải quyết từ 2 đến 3 nhiệm vụ. Kết quả đã có 35 đồng chí Ủy viên Ban Chấp hành Đảng bộ quận Tây Hồ đăng ký với 89 nội dung (có 3/3 đồng chí Thường trực Quận ủy Tây Hồ gương mẫu đăng ký 9 nội dung).

Một số bài học kinh nghiệm

Qua triển khai thực hiện các nhiệm vụ của Đảng bộ Thành phố Hà Nội nói chung, việc siết chặt kỷ luật, kỷ cương đi đôi với tạo môi trường cho cán bộ dám nghĩ, dám làm, dám đột phá, không ngừng đổi mới, sáng tạo nói riêng, bước đầu có thể rút ra một số kinh nghiệm như sau:

Một là, đẩy mạnh tuyên truyền, giáo dục, nâng cao nhận thức, trách nhiệm của mỗi cán bộ, công chức, viên chức về tinh thần, thái độ, ý thức, trách nhiệm, vai trò tiền phong, gương mẫu và thực hiện kỷ luật, kỷ cương trong thực thi công vụ, về văn hóa, đạo đức công vụ; trong đó, tập trung quán triệt triển khai thực hiện tốt Nghị quyết Hội nghị Trung ương 4 khóa XI, XII và Kết luận số 21-KL/TW, ngày 25-10-2021, Hội nghị Trung ương 4 khóa XIII, “Về đẩy mạnh xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị; kiên quyết ngăn chặn, đẩy lùi, xử lý nghiêm cán bộ, đảng viên suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa””; Chỉ thị số 05-CT/TW, ngày 15-5-2016, của Bộ Chính trị, Kết luận số 01-KL/TW, ngày 18-5-2021, của Bộ Chính trị, “Về tiếp tục thực hiện Chỉ thị số 05-CT/TW của Bộ Chính trị “Về đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh””; quy định về những điều đảng viên không được làm và các quy định về nêu gương của cán bộ, đảng viên.

Hai là, đổi mới mạnh mẽ phương thức lãnh đạo của Đảng theo tinh thần Nghị quyết số 28-NQ/TW, ngày 17-11-2022, Hội nghị lần thứ sáu Ban Chấp hành Trung ương khóa XIII, “Về tiếp tục đổi mới phương thức lãnh đạo, cầm quyền của Đảng đối với hệ thống chính trị trong giai đoạn mới”, bảo đảm đồng bộ, hiệu quả trên cả 6 nhiệm vụ, giải pháp đã nêu tại Nghị quyết; trọng tâm là đổi mới phong cách, phương pháp công tác, lề lối làm việc bảo đảm sự lãnh đạo, chỉ đạo thông suốt, kịp thời của cấp ủy, tổ chức đảng. Thực hiện đúng quan điểm, những vấn đề thực tiễn đòi hỏi đã rõ, thực tiễn chứng minh là đúng, có sự thống nhất cao thì kiên quyết đổi mới, kiên quyết thực hiện. Những vấn đề cần thiết, nhưng chưa rõ, còn nhiều ý kiến khác nhau thì tiếp tục nghiên cứu tổng kết thực tiễn, thực hiện thí điểm. Chủ trương đã thực hiện, nhưng không phù hợp thì nghiên cứu điều chỉnh, sửa đổi kịp thời; không nóng vội, nhưng cũng không bỏ qua hoặc để chậm, ảnh hưởng đến sự phát triển chung của Thủ đô Hà Nội.

Thực hiện nghiêm các nguyên tắc tổ chức và hoạt động của Đảng; tăng cường vai trò, trách nhiệm của người đứng đầu trong việc chỉ đạo tổ chức thực hiện nhiệm vụ được giao; đẩy mạnh cải cách hành chính, ứng dụng công nghệ thông tin, chuyển đổi số trong các cơ quan của hệ thống chính trị thành phố, gắn với xây dựng, áp dụng các tiêu chí, chỉ số đánh giá hiệu quả, chất lượng tổ chức, hoạt động của cơ quan, đơn vị, địa phương.

Ba là, tăng cường, nâng cao hiệu lực, hiệu quả công tác kiểm tra, giám sát của Đảng; xử lý kiên quyết, nghiêm minh, kịp thời tổ chức đảng, đảng viên sai phạm theo đúng Quy định số 69-QĐ/TW, ngày 6-7-2022, của Bộ Chính trị, “Về kỷ luật tổ chức đảng, đảng viên vi phạm”; phát huy vai trò, trách nhiệm của cơ quan tham mưu, giúp việc của Đảng trong kiểm tra, giám sát các hoạt động thuộc lĩnh vực được giao. Đổi mới phương pháp, quy trình, nâng cao kỹ năng kiểm tra, giám sát, bảo đảm khách quan, dân chủ, khoa học, đồng bộ, thống nhất, thận trọng, chặt chẽ. Thực hiện giám sát mở rộng, kiểm tra có trọng tâm, trọng điểm; chủ động phòng ngừa, ngăn chặn khuyết điểm, vi phạm của tổ chức đảng, cán bộ, đảng viên từ sớm, từ xa, không để vi phạm nhỏ tích tụ thành sai phạm lớn. Sớm thể chế hóa chủ trương của Đảng, Nghị định của Chính phủ về khuyến khích, bảo vệ cán bộ năng động, sáng tạo, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm vì lợi ích chung. Phối hợp chặt chẽ, đồng bộ giữa công tác kiểm tra, giám sát của Đảng với công tác thanh tra, kiểm toán, điều tra của Nhà nước.

Tăng cường thanh tra công vụ và kiểm tra đột xuất việc chấp hành kỷ luật, kỷ cương hành chính theo tinh thần Chỉ thị số 26/CT-TTg, ngày 5-9-2016, của Thủ tướng Chính phủ, “Về tăng cường kỷ luật, kỷ cương trong các cơ quan hành chính nhà nước các cấp”, Chỉ thị số 10/CT-TTg, ngày 22-4-2019, của Thủ tướng Chính phủ, “Về việc tăng cường xử lý, ngăn chặn có hiệu quả tình trạng nhũng nhiễu, gây phiền hà cho người dân, doanh nghiệp trong giải quyết công việc” và các văn bản liên quan. Phát huy vai trò giám sát của nhân dân thông qua cơ chế giám sát của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội trong việc thực hiện quy định của Đảng và pháp luật của Nhà nước về kỷ luật, kỷ cương hành chính, giám sát việc thực hiện quy tắc ứng xử, đạo đức nghề nghiệp và những việc không được làm của đội ngũ cán bộ, đảng viên, người có chức vụ, quyền hạn trong bộ máy nhà nước./.

------------------------

(1) Như: Quy định số 04-QĐ/TU, ngày 11-8-2021, của Ban Thường vụ Thành ủy Hà Nội, “Về quản lý cán bộ, phân cấp quản lý cán bộ và bổ nhiệm, giới thiệu cán bộ ứng cử”; Quy định số 07-QĐ/TU, ngày 17-11-2021, của Ban Thường vụ Thành ủy Hà Nội, “Về luân chuyển, điều động, chuyển đổi vị trí công tác cán bộ, công chức, viên chức thuộc thành phố”; Quy định số 08-QĐ/TU, ngày 15-3-2022, của Ban Thường vụ Thành ủy Hà Nội, “Về công tác quy hoạch cán bộ”; Quyết định số 1841-QĐ/TU, ngày 28-10-2021, của Ban Thường vụ Thành ủy Hà Nội, “Về đánh giá, xếp loại hằng tháng đối với cán bộ, công chức, viên chức, người lao động trong hệ thống chính trị thành phố”,...

(2) Như: Quy định số 101-QĐ/TW, ngày 7-6-2012, của Ban Bí thư, “Về trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ lãnh đạo chủ chốt các cấp”; Quy định số 55-QĐ/TW, ngày 19-12-2016, của Bộ Chính trị, “Về một số việc cần làm ngay để tăng cường vai trò nêu gương của cán bộ, đảng viên” và gần đây nhất là Quy định số 08-QĐi/TW, ngày 25-10-2018, của Ban Chấp hành Trung ương, về “Trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên, trước hết là Ủy viên Bộ Chính trị, Ủy viên Ban Bí thư, Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương”; Quyết định số 522/QĐ-UBND, ngày 25-1-2017, của Ủy ban nhân dân thành phố, “Về việc Ban hành Quy tắc ứng xử của cán bộ, công chức, viên chức, người lao động trong các cơ quan thuộc thành phố Hà Nội”. 

Mối quan hệ giữa mục đích và phương pháp thực hiện mục đích của cách mạng Việt Nam qua Văn kiện Đại hội XIII của Đảng.

 Trong quá trình hoạt động thực tiễn của con người, mục đích và phương pháp thực hiện mục đích có quan hệ chặt chẽ với nhau. Sự phù hợp giữa chúng là điều kiện bảo đảm cho thành công của hành động. Trong quá trình lãnh đạo cách mạng Việt Nam, Đảng ta luôn coi trọng mối quan hệ đó và điều này cũng được thể hiện rõ nét trong Văn kiện Đại hội XIII của Đảng.

Mục đích và mối quan hệ với phương pháp trong việc thực hiện mục đích

Cơ sở khoa học của việc xác định mục đích

Trong tác phẩm Bút ký triết học, V.I. Lê-nin viết: “Sự không hoàn thành những mục đích (của hoạt động của con người) có nguyên nhân (Grund) là người ta coi thực tại là cái không tồn tại (nichtig), là người ta không thừa nhận tính hiện thực khách quan của nó (của thực tại)”(1). Như vậy, hành động của con người muốn đạt được kết quả như mong muốn thì việc xây dựng mục đích ban đầu không thể chỉ xuất phát từ ý muốn chủ quan, mà như V.I. Lê-nin đã chỉ ra, còn phải căn cứ vào thực tại khách quan. Nghĩa là, mục đích hoạt động của con người vừa phụ thuộc vào thế giới khách quan, vừa phụ thuộc vào nhận thức chủ quan, nhưng thế giới khách quan mới là yếu tố quyết định. Tuy nhiên, mỗi cá nhân tiếp nhận thế giới khách quan một cách khác nhau thông qua lăng kính chủ quan của mình, dựa trên trình độ nhận thức, ý thức của từng người. Chính vì thế mới dẫn đến kết quả khác nhau trong nhận thức về thế giới khách quan.

Trong hoạt động thực tiễn nói chung, hoạt động cách mạng nói riêng, nếu chủ thể chỉ xuất phát từ ý muốn chủ quan, không nhận thức đúng các yếu tố và quy luật khách quan của lịch sử thì sẽ thất bại. Thất bại này của chủ thể hành động phản ánh sự không tôn trọng quy luật nói chung, mối quan hệ giữa mục đích và phương pháp nói riêng. Học thuyết phản ánh và sáng tạo của chủ nghĩa duy vật biện chứng đã chỉ rõ, khi con người nhận thức đúng đắn quy luật khách quan, nắm được tác động và chiều hướng vận động của nó để vận dụng được vào hoạt động thực hiện mục đích của mình thì sẽ đạt được kết quả như mong muốn.

Thế giới khách quan luôn luôn vận động và phát triển ngày càng đa dạng, phức tạp, luôn xuất hiện nhiều yếu tố, xu hướng khác nhau. Nhận thức được thực trạng thế giới như vậy là vấn đề rất khó khăn; đồng thời, không thể chỉ dừng lại ở những hiện tượng bên ngoài theo nhu cầu và lợi ích trước mắt của chủ thể một cách phiến diện. Con người phải đứng trên quan điểm toàn diện, lịch sử - cụ thể, phát triển; phải đi sâu vào bản chất, phát hiện ra những mâu thuẫn, những xung đột, những yếu tố ẩn náu sâu xa trong thế giới thì mới có thể nhận thức được quy luật khách quan, tạo cơ sở hình thành mục đích đúng đắn cho hoạt động thực tiễn của mình.

Những người xuất phát từ lợi ích cá nhân, “lợi ích nhóm”, lợi ích cục bộ, chỉ nhìn nhận thế giới một cách phiến diện theo quan điểm thực dụng, sẽ không thể nhận thức được bản chất của thế giới, không thể nhận thức đúng đắn quy luật khách quan; do đó, không thể xác định được mục đích hoạt động thực tiễn một cách khoa học, dẫn tới những sai lầm nghiêm trọng. Việc xác định được mục đích bảo đảm tính đúng đắn và khoa học đã khó, nhưng có thể hiện thực hóa mục đích ấy hay không còn khó khăn gấp bội, bởi nó còn phụ thuộc vào phương pháp và cách thức thực hiện mục đích của chủ thể trong những hoàn cảnh, điều kiện lịch sử - cụ thể.

Mối quan hệ giữa mục đích và phương pháp thực hiện mục đích

Trong tác phẩm Bút ký triết học, V.I. Lê-nin đã chỉ ra rằng, nhận thức của con người đối với hiện thực là quá trình đi sâu (thâm nhập) vào khách thể; quá trình đó được thực hiện thông qua thực tiễn, thông qua hoạt động có mục đích của con người. Theo V.I. Lê-nin, quá trình đó như là sự quá độ “từ khái niệm chủ quan và từ mục đích chủ quan đến chân lý khách quan”(2).

Như vậy, quá trình chuyển từ mục đích thành hiện thực sinh động - hiện thực hóa mục đích - là quá trình phức tạp, vừa phụ thuộc vào phương pháp thực hiện mục đích, vừa phụ thuộc vào ý chí trong hành động của con người. Mục đích đúng nhưng phải có phương pháp thực hiện mục đích phù hợp thì mới mang lại kết quả. Việc xác định được mục đích đúng đã thể hiện năng lực của chủ thể và điều đó đã chứa đựng khả năng có được mục đích phù hợp với phương pháp và cách thức hành động. Tuy nhiên, để bảo đảm có được phương pháp đúng và phù hợp với mục đích, chủ thể hành động cần lưu ý đến các yếu tố cơ bản sau đây:

Trước hết, cần có thế giới quan khoa học. Đó là thế giới quan duy vật biện chứng, đòi hỏi xem xét sự vật, hiện tượng một cách khách quan, tôn trọng quy luật khách quan của sự phát triển lịch sử - xã hội; đồng thời, cần phê phán quan điểm, tư tưởng duy tâm, chủ quan, duy ý chí, phản khoa học. Tiếp đến, cần có phương pháp luận khoa học tương ứng, đó là phương pháp luận của phép biện chứng duy vật để nhìn nhận sự vật, hiện tượng luôn luôn trong sự liên hệ ràng buộc, thâm nhập vào nhau, tác động và chuyển hóa lẫn nhau, luôn luôn vận động và phát triển theo quy luật khách quan. Phép biện chứng duy vật đòi hỏi khi xem xét sự kiện lịch sử - xã hội phải đứng trên quan điểm toàn diện, lịch sử - cụ thể; biết phát hiện bản chất sâu xa của sự vật, hiện tượng, không nhầm lẫn giữa bản chất và hiện tượng, không mơ hồ trước những hiện tượng xuyên tạc bản chất. Cuối cùng, chủ thể còn cần có phương pháp tiếp cận và các phương pháp cụ thể thích hợp để tổ chức thực hiện mục đích đã đề ra. Đó là những cách thức, những bước đi và giải pháp cụ thể phù hợp, chính xác trong việc tổ chức thực hiện mục đích của chủ thể.

Một yếu tố không kém phần quan trọng trong quá trình thực hiện phương pháp khoa học là phải có nhân sinh quan khoa học, cách mạng. Mọi hoạt động có mục đích của con người đều là hoạt động có ý thức. Nhân sinh quan cách mạng tạo cơ sở nâng cao ý thức cách mạng, giữ vững ý chí và nghị lực trong thực hiện mục đích. Ý thức càng sâu sắc, ý chí, nghị lực càng cao, sẽ càng sáng tạo trong thực hiện mục đích; còn khi ý thức mờ nhạt, ý chí và nghị lực thấp kém, nặng về lợi ích cá nhân, “lợi ích nhóm” thì không thể vận dụng được các phương pháp khoa học để thực hiện mục đích.

Như vậy, thế giới quan và nhân sinh quan cách mạng cùng với các phương pháp luận và phương pháp tiếp cận khoa học là những yếu tố cơ bản gắn bó chặt chẽ với nhau trong quá trình biến mục đích thành hiện thực. Đó là một quá trình sáng tạo của con người, quá trình mà trong đó con người vừa là “đạo diễn”, vừa là “diễn viên” trong vở kịch lịch sử - xã hội của chính mình. Con người vừa là chủ thể, vừa là khách thể sáng tạo lịch sử - xã hội

Nhìn lại mối quan hệ mục đích - phương pháp từ thực tiễn lịch sử cách mạng Việt Nam

Tiếp thu đường lối cách mạng của V.I. Lê-nin và Cách mạng Tháng Mười Nga, kế thừa những tinh hoa của dân tộc Việt Nam, lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc đã nhận rõ bản chất của thời đại, quy luật phát triển khách quan của lịch sử - xã hội và đã khẳng định: “Muốn cứu nước và giải phóng dân tộc không có con đường nào khác con đường cách mạng vô sản(3); “chỉ có chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa cộng sản mới giải phóng được các dân tộc bị áp bức và những người lao động trên thế giới khỏi ách nô lệ”(4). Quan điểm, tư tưởng chủ đạo của lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc đã trở thành sợi chỉ đỏ xuyên suốt sự nghiệp cách mạng của dân tộc Việt Nam và có tác dụng tích cực, cổ vũ nhiều dân tộc bị áp bức trên thế giới đứng lên đấu tranh giải phóng dân tộc mình.

Bác Hồ đọc Tuyên ngôn Độc lập _Ảnh: Tư liệu

Cuộc Tổng khởi nghĩa Tháng 8 năm 1945 thành công là minh chứng hùng hồn của việc thực hiện tư tưởng thiên tài của Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh. Đó là cuộc cách mạng giải phóng dân tộc đầu tiên thành công ở một nước thuộc địa và phụ thuộc, do chính đảng của giai cấp công nhân lãnh đạo. Cách mạng Tháng Tám năm 1945 cũng chính là điển hình tiêu biểu của sự thống nhất giữa mục đích và phương pháp cách mạng. Để thực hiện một cuộc khởi nghĩa thành công theo mục đích đã được xác định, một loạt các phương pháp cách mạng đã được tiến hành, kết hợp đấu tranh vũ trang với đấu tranh chính trị rộng khắp của toàn dân, tạo nên sức mạnh tổng hợp, lật đổ chính quyền phong kiến, đế quốc, thực dân, thành lập chính quyền công nông đầu tiên ở Đông Nam Á.

Thắng lợi của Tổng khởi nghĩa Tháng 8 năm 1945 đã tạo cơ sở khoa học và chính trị cho sự tiếp tục vận dụng sáng tạo, thực hiện sự thống nhất giữa mục đích và phương pháp cách mạng, đưa cuộc trường kỳ kháng chiến tới thắng lợi, với đỉnh cao là thắng lợi lịch sử của chiến dịch Điện Biên Phủ lừng lẫy năm châu, chấn động địa cầu. Từ thời điểm đó, cách mạng Việt Nam chuyển sang giai đoạn mới với mục đích và phương pháp cách mạng mới, đó là tiến hành xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc, làm hậu phương lớn để tiếp tục tiến hành cách mạng giải phóng dân tộc ở miền Nam, tiến tới thống nhất đất nước, bước vào kỷ nguyên mới, kỷ nguyên độc lập dân tộc và xây dựng chủ nghĩa xã hội.

Tuy nhiên, trong thực tiễn cũng có những giai đoạn nhỏ của cuộc cách mạng xuất hiện trục trặc, mâu thuẫn, xung đột trong quan hệ giữa mục đích và phương pháp thực hiện mục đích, dẫn đến hạn chế kết quả của cách mạng, như việc tiến hành cải cách ruộng đất, quá trình cải tạo công - thương nghiệp tư bản tư doanh, việc duy trì nền kinh tế kế hoạch hóa, quan liêu, bao cấp kéo dài, không phát huy được vai trò của lực lượng sản xuất, rơi vào khủng hoảng kinh tế - xã hội nghiêm trọng, đời sống nhân dân gặp phải vô vàn khó khăn. Trước tình hình thế giới có biến động và nhu cầu cấp bách của đời sống kinh tế - xã hội trong nước, Đảng ta đã nhận rõ sai lầm của mình, kiên quyết nhìn thẳng vào sự thật, đề ra đường lối đổi mới đất nước tại Đại hội VI của Đảng (năm 1986). Điều này chứng minh chân lý mà V.I. Lê-nin đã từng nói: “Chỉ khi nào chúng ta không sợ thừa nhận những thất bại và những thiếu sót của mình, chỉ khi nào chúng ta nhìn thẳng vào sự thật, dù là sự thật đáng buồn nhất đi nữa, - chỉ khi đó chúng ta mới học được cách chiến thắng”(5).

Đại hội VI của Đảng đã tự kiểm điểm nghiêm túc, nhìn thẳng vào sự thật, vạch ra những sai lầm trong nhận thức lý luận và hoạt động thực tiễn, đề ra đường lối đổi mới có ý nghĩa chiến lược, tạo nên bước ngoặt lịch sử to lớn của đất nước. Từ đó trở đi, qua mỗi kỳ đại hội của Đảng, mục đích và phương pháp cách mạng cũng như mối quan hệ giữa chúng lại được kế thừa, bổ sung, hoàn chỉnh và phát triển, phù hợp với xu thế phát triển của thời đại và nhu cầu thực tiễn của đất nước.

Mục đích và phương pháp cách mạng trong Văn kiện Đại hội XIII của Đảng

Mục đích của đường lối cách mạng Việt Nam trong Văn kiện Đại hội XIII của Đảng

Đại hội XIII của Đảng khẳng định: “Con đường đi lên chủ nghĩa xã hội của chúng ta là đúng đắn, phù hợp với quy luật khách quan, với thực tiễn Việt Nam và xu thế phát triển của thời đại”(6). Thực tiễn xây dựng và phát triển đất nước thời gian qua đã tạo cơ sở và điều kiện để Đảng ta tiếp tục xác định một cách đúng đắn mục tiêu cách mạng trong thời gian tới. Đại hội XIII của Đảng nhấn mạnh: “Qua 35 năm tiến hành công cuộc đổi mới, 30 năm thực hiện Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, lý luận về đường lối đổi mới, về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta ngày càng được hoàn thiện và từng bước được hiện thực hóa… Với tất cả sự khiêm tốn, chúng ta vẫn có thể nói rằng: Đất nước ta chưa bao giờ có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế như ngày nay(7).

Kết hợp sức mạnh thời đại với những thành tựu to lớn đã đạt được trong những năm qua, Đảng ta xác định trong thời gian tới là “phải kiên định và vận dụng, phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; kiên định đường lối đổi mới của Đảng; kiên định các nguyên tắc xây dựng Đảng; bảo đảm cao nhất lợi ích quốc gia - dân tộc trên cơ sở các nguyên tắc cơ bản của luật pháp quốc tế, bình đẳng, hợp tác, cùng có lợi để xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa”(8). Đây có thể coi là sự trình bày một cách đầy đủ nhất mục đích tổng thể của cách mạng Việt Nam, cũng như phương pháp thực hiện mục đích đó. Trong đó, mục đích là kiên định độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; phương pháp tổng thể để thực hiện mục đích đó chính là kiên định và vận dụng, phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh vào thực tiễn cách mạng Việt Nam.

Để hiện thực hóa mục đích, Đại hội XIII của Đảng đề ra chiến lược phát triển tổng thể là: “Đẩy mạnh toàn diện, đồng bộ công cuộc đổi mới, phát triển nhanh và bền vững đất nước; bảo đảm gắn kết chặt chẽ và triển khai đồng bộ các nhiệm vụ, trong đó: Phát triển kinh tế - xã hội là trung tâm; xây dựng Đảng là then chốt; phát triển văn hóa là nền tảng tinh thần; bảo đảm quốc phòng, an ninh là trọng yếu, thường xuyên”(9).

Ủy viên Bộ Chính trị, Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính thăm cán bộ, chiến sĩ Đồn Biên phòng Pò Hèn và đồng bào dân tộc xã Hải Sơn, thành phố Móng Cái, tỉnh Quảng Ninh_Ảnh: TTXVN

Trên cơ sở xác định mục đích của đường lối cách mạng, Đảng ta đã xác định các mục tiêu cụ thể để phát triển đất nước trong những thập niên sắp tới: “Đến năm 2025: Là nước đang phát triển, có công nghiệp theo hướng hiện đại, vượt qua mức thu nhập trung bình thấp. Đến năm 2030: Là nước đang phát triển, có công nghiệp hiện đại, thu nhập trung bình cao. Đến năm 2045: Trở thành nước phát triển, thu nhập cao”(10).

Những phương pháp cách mạng chủ yếu để thực hiện mục đích đề ra trong Văn kiện Đại hội XIII của Đảng

Để thực hiện mục đích và mục tiêu của đường lối cách mạng đã được xác định một cách khoa học, với phương pháp luận biện chứng, toàn diện và lịch sử - cụ thể, Đảng ta đã nêu ra các phương pháp phù hợp với các mục đích và mục tiêu nói trên; cụ thể như sau:

1- Tiếp tục đổi mới mạnh mẽ tư duy, xây dựng và hoàn thiện đồng bộ thể chế phát triển bền vững đất nước, hoàn thiện toàn diện, đồng bộ thể chế phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.

2- Một trong những phương pháp xuyên suốt quá trình thực hiện đường lối cách mạng, đó là phát huy mạnh mẽ vai trò của nhân dân trên cơ sở phát huy nền dân chủ xã hội chủ nghĩa, phát huy quyền làm chủ của nhân dân, quán triệt sâu sắc quan điểm “dân là gốc”, mọi việc phải dựa vào dân, thực hiện phương châm “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng(11).

3- Xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân, xây dựng hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh, tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả, tiếp tục đẩy mạnh đấu tranh phòng, chống tham nhũng, lãng phí, quan liêu, tiêu cực.

4- Một trong những phương pháp, biện pháp then chốt là tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh toàn diện gắn với đổi mới phương thức lãnh đạo, cầm quyền của Đảng.

5- Phát triển con người toàn diện: Con người là trung tâm, chủ thể, là nguồn lực chủ yếu và mục tiêu của sự phát triển; đồng thời, “phát triển toàn diện, đồng bộ các lĩnh vực văn hóa, môi trường văn hóa, đời sống văn hóa…; vừa phát huy những giá trị tốt đẹp của dân tộc, vừa tiếp thu tinh hoa văn hóa của nhân loại để văn hóa thực sự là nền tảng tinh thần, nguồn lực nội sinh và động lực đột phá cho phát triển kinh tế - xã hội và hội nhập quốc tế”(12).

6- Đổi mới căn bản, toàn diện nền giáo dục - đào tạo và nâng cao hơn nữa vai trò của khoa học - công nghệ, vì đó là do nhu cầu của nguồn nhân lực có chất lượng cao, do nhu cầu của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, gắn với nền kinh tế tri thức, kinh tế số, việc xây dựng đô thị thông minh...

Nghiên cứu khoa học tại Viện Công nghệ Nano, Đại học quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh_Nguồn: vnuhcm.edu.vn

7- Tăng cường quốc phòng, an ninh, bảo đảm trật tự, an toàn xã hội; kiên quyết, kiên trì bảo vệ độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc đi đôi với giữ vững môi trường hòa bình. Đây là một trong những phương pháp được Đảng ta thường xuyên nhấn mạnh để bảo đảm thực hiện có hiệu quả các mục đích trên.

Cùng với một số phương pháp cơ bản trên đây, tùy theo quá trình thực hiện mục đích và mục tiêu trong từng giai đoạn cụ thể, Đảng ta vận dụng linh hoạt, mềm dẻo cách tiếp cận và phương pháp cụ thể một cách thích hợp.

Trước bối cảnh đại dịch COVID-19 gây ra khủng hoảng nghiêm trọng về nhiều mặt trên toàn cầu, Đảng và Nhà nước ta đã nhanh chóng ứng phó kịp thời, điều chỉnh mục tiêu, bổ sung phương pháp thích hợp. Với tinh thần “chống dịch như chống giặc” và thực hiện “mục tiêu kép” vừa chống dịch, vừa phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm tốt nhất sức khỏe và đời sống của nhân dân, toàn Đảng, toàn quân, toàn dân ta, cả hệ thống chính trị đã vào cuộc, cùng với sự hỗ trợ của quốc tế, chúng ta đã phòng, chống dịch có hiệu quả, tạo điều kiện để toàn xã hội trở lại trạng thái bình thường mới, khôi phục và phát triển sản xuất. Thực tiễn phòng, chống đại dịch COVID-19 vừa qua thể hiện rõ sự nhanh nhạy và quyết tâm cao trong quá trình vận dụng các phương pháp khoa học một cách sáng tạo của Đảng ta.

Thực tiễn phát triển của thế giới và của đất nước trong quá trình toàn cầu hóa, hội nhập quốc tế sâu rộng càng ngày càng xuất hiện nhiều vấn đề phức tạp, khó khăn, khó dự báo, đòi hỏi các chủ thể phải không ngừng chủ động, sáng tạo khi thực hiện mục đích, mục tiêu và phương pháp cách mạng. Tuy nhiên, việc sáng tạo trong xác định mục đích, mục tiêu và thực hiện các phương pháp khoa học phụ thuộc chủ yếu vào nhân tố con người.

Để biến mục đích thành hiện thực, đòi hỏi con người không chỉ có nhận thức đúng, mà còn phải có động cơ đúng và phương pháp thực hiện mục đích đúng trong hành động. Xét cho cùng, con người có thực hiện được mục đích hay không là còn tùy thuộc vào việc tổ chức thực hiện. Tổ chức thực hiện chính là việc xây dựng và sử dụng các công cụ, là cách thức để biến mục đích thành hiện thực. Tổ chức thực hiện có kết quả chính là quá trình chủ thể chuyển ý chí, nghị lực thành những tác động vật chất nhằm cải biến đối tượng, cải biến hoàn cảnh theo mục đích đã được xác định. Sự vật, hiện tượng nói chung, đời sống xã hội nói riêng, luôn luôn vận động, biến đổi, luôn luôn xuất hiện nhiều tình huống, nhiều khả năng khó lường. Vấn đề đặt ra là làm thế nào để chủ thể chủ động phát hiện tình huống, phát hiện các khả năng, dự báo cho đúng và tổ chức thực hiện thành công.

Trong thời đại ngày nay, do tác động của nhiều yếu tố, nên có nhiều diễn biến phức tạp, do vậy, việc chủ thể chủ động biến tình huống nảy sinh thành thời cơ thuận lợi, nhận thức cho được khả năng cho phép hành động đúng đắn là một vấn đề khoa học. Tính năng động, sáng tạo của người cách mạng là ở chỗ, trước nhiều khả năng cùng xuất hiện trong thời gian, không gian nhất định, phải biết lựa chọn khả năng nào sẽ tạo ra cơ hội thuận lợi cho việc thực hiện mục đích và chủ thể cần tạo điều kiện để biến khả năng đó thành hiện thực; với khả năng nào không có lợi cho việc thực hiện mục đích thì tìm giải pháp hạn chế sự phát triển của nó. Muốn biến khả năng thành hiện thực, chủ thể phải biết kết hợp, tổ chức các lực lượng vật chất và lực lượng tinh thần tạo nên sức mạnh tổng hợp trong việc thực hiện mục đích của đường lối cách mạng.

Mục đích và phương pháp thực hiện mục đích nói chung luôn luôn thống nhất với nhau, không tách rời nhau. Mục đích và phương pháp thực hiện mục đích của đường lối cách mạng Việt Nam nói chung và đường lối cách mạng do Đại hội XIII của Đảng đề ra đã thể hiện sự thống nhất trong suốt quá trình lịch sử cách mạng Việt Nam. Qua mỗi giai đoạn của cách mạng, qua mỗi kỳ đại hội của Đảng, Đảng ta kiên trì và kiên định mục tiêu “độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội”. Bám sát hoàn cảnh lịch sử của phong trào cách mạng thế giới và sự diễn biến của thời đại, Đảng Cộng sản Việt Nam luôn luôn sáng tạo, vận dụng các phương pháp phù hợp với yêu cầu của thực tiễn, để từng bước hiện thực hóa đường lối xây dựng và phát triển đất nước Việt Nam theo con đường xã hội chủ nghĩa, bảo đảm độc lập, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc, vì hạnh phúc của nhân dân./.

---------------

(1) V.I. Lê-nin: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2006, t. 29, tr. 235
(2) V.I. Lê-nin: Toàn tập, Sđd, t. 29, tr. 203
(3) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2011, t. 12, tr. 30
(4) Hồ Chí Minh: Toàn tậpSđd, t. 12, tr. 563
(5) V.I. Lê-nin: Toàn tập, Sđd, t. 44, tr. 379
(6) Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2021, t. I, tr. 26
(7) Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIIISđd, t. I, tr. 25
(8) Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIIISđd, t. I, tr. 33
(9) Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIIISđd, t. I, tr. 33 - 34
(10) Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIIISđd, t. I, tr. 36
(11) Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIIISđd, t. I, tr. 27
(12) Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIIISđd, t. I, tr. 47

Phát huy giá trị văn hóa đạo đức của con người Việt Nam theo tinh thần Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng.

  Phát huy giá trị văn hóa đạo đức của con người Việt Nam theo tinh thần Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng được nhấn mạnh ở các nội dung: Khơi dậy mạnh mẽ tinh thần yêu nước của nhân dân; nguồn lực con người và lòng trung thành với Đảng, với Tổ quốc, với nhân dân; tinh thần đại đoàn kết dân tộc gắn bó cộng đồng và đoàn kết quốc tế cao cả; sự khiêm tốn, cần cù, tự giác, dũng cảm, kiên cường, mưu trí, sáng tạo...

Ủy viên Bộ Chính trị, Chủ tịch nước Nguyễn Xuân Phúc thăm và tặng quà Mẹ Việt Nam Anh hùng Nguyễn Thị Giới tại huyện Đông Giang, tỉnh Quảng Nam_Ảnh: TTXVN

Giá trị văn hóa đạo đức là bộ phận của hệ giá trị văn hóa, biểu hiện ở hành vi đạo đức của con người. Giá trị văn hóa đạo đức là hệ thống chuẩn mực được xã hội thừa nhận và được biểu hiện trong hành vi ứng xử của con người, với tự nhiên, với xã hội (giữa con người với con người). Giá trị văn hóa đạo đức trước hết là một bộ phận của hệ giá trị văn hóa.

Xét ở góc độ giá trị, đây là một hệ thống các giá trị được hình thành và phát triển trong suốt quá trình sinh sống, hoạt động của con người. Đó là, lý tưởng nhân đạo, lối sống nhân đạo; hòa bình, hòa hợp, dân chủ, công bằng; bình đẳng, công lý, nhân quyền, dân quyền; lòng nhân ái, vị tha, tính lương thiện; sáng tạo, tự giác, tự trọng, thận trọng; vẻ đẹp tâm hồn, yêu thiên nhiên, bảo vệ môi trường,...

Xét ở góc độ truyền thống, giá trị văn hóa đạo đức là hồn cốt dân tộc, là lương tri, đạo lý, là tuyên ngôn, tiếng nói, chữ viết riêng của một dân tộc; là vẻ đẹp đạo đức của mỗi cá nhân trong tổng thể môi trường chung sống hòa bình, hòa hợp và hạnh phúc của đất nước. Giá trị đó không hòa tan khi hội nhập quốc tế, mà vẫn giữ được cốt cách, hồn cốt truyền thống văn hóa của dân tộc.

Xét ở góc độ lịch sử, là đặc tính dân tộc được hình thành và phát triển trong suốt quá trình dựng nước và giữ nước cho đến ngày nay. Về vấn đề này, Chủ tịch Hồ Chí Minh viết: “Các em cảm tử để cho Tổ quốc quyết sinh. Các em là đại biểu cái tinh thần tự tôn tự lập của dân tộc ta mấy nghìn năm để lại, cái tinh thần quật cường đó đã kinh qua Hai Bà Trưng, Lý Thường Kiệt, Trần Hưng Đạo, Lê Lợi, Quang Trung, Phan Đình Phùng, Hoàng Hoa Thám, truyền lại cho các em. Nay các em gan góc tiếp tục cái tinh thần bất diệt đó, để truyền lại cho nòi giống Việt Nam muôn đời về sau”(1). Đây là một giá trị văn hóa đạo đức xã hội cao quý xuất phát từ truyền thống dựng nước và giữ nước của dân tộc ta. Chính vì lẽ đó, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định: “Sự hy sinh anh dũng của các liệt sĩ đã chuẩn bị cho đất nước ta nở hoa độc lập, kết quả tự do”(2). Sự nghiệp bảo vệ nền độc lập, tự do của đất nước là động lực to lớn của mỗi người dân Việt Nam, bởi mỗi người dân “đã hy sinh tiểu gia đình của họ, họ đã không ngại rời cha mẹ, bỏ quê hương, ra xông pha bom đạn, để phụng sự đại gia đình dân tộc gồm cả gia đình của mỗi đồng bào”(3). Chính vì thế, Đảng ta khẳng định: “Văn hóa là hồn cốt của dân tộc, là nền tảng tinh thần vững chắc của xã hội, là sức mạnh nội sinh quan trọng bảo đảm sự phát triển bền vững và bảo vệ vững chắc Tổ quốc, vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”(4).

Trước tình hình mới và trong bối cảnh hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng, giá trị văn hóa đạo đức càng cần được quan tâm bồi dưỡng, giáo dục để phát triển, hội nhập nhưng không hòa tan, không làm mất đi bản sắchồn cốt truyền thống văn hóa của dân tộc Việt Nam. Vì thế, phát huy giá trị văn hóa đạo đức con người Việt Nam theo tinh thần Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng, cần tập trung vào một số vấn đề:

Một là, khơi dậy mạnh mẽ tinh thần yêu nước của nhân dân.

Yêu nước là lý tưởng thiêng liêng, lẽ sống cao đẹp, là tình cảm chủ đạo và định hướng giá trị cho hành động và cách ứng xử của con người Việt Nam. Đây là giá trị tiêu biểu hàng đầu trong giá trị văn hóa đạo đức của dân tộc ta.

Chủ nghĩa yêu nước Việt Nam cần nhìn nhận từ phương diện giá trị văn hóa đạo đức thì mới thấy hết được lương tri của cả dân tộc trong đó. Chủ nghĩa yêu nước phản ánh truyền thống yêu nước của dân tộc Việt Nam, là hệ thống quan điểm, tư tưởng, tình cảm tốt đẹp, yêu mến và gắn bó tha thiết với quê hương; ý chí và hành động của con người Việt Nam đối với đất nước; lòng tự hào, tự tôn dân tộc được hình thành và phát triển lâu dài trong lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc; biểu hiện ở tình yêu quê hương, xứ sở, sự cống hiến sức lực, trí tuệ, trở thành động lực tinh thần to lớn thúc đẩy mỗi người dân Việt Nam phấn đấu vì sự trường tồn, phồn vinh của đất nước.

Đại hội XIII của Đảng nhấn mạnh phải “giáo dục tinh thần yêu nước, tự hào, tự tôn dân tộc, truyền thống và lịch sử dân tộc, ý thức trách nhiệm xã hội cho các tầng lớp nhân dân, nhất là thế hệ trẻ”(5). Vì vậy, muốn phát huy giá trị văn hóa đạo đức con người Việt Nam cần phải khơi dậy mạnh mẽ tinh thần yêu nước của nhân dân ta.

Giáo dục tinh thần yêu nước, truyền thống và lịch sử dân tộc cho thế hệ trẻ (Trong ảnh: Chiến sĩ Điện Biên kể chuyện)_Nguồn: vapa.org.vn

Ngày nay, yêu nước phải gắn với yêu chủ nghĩa xã hội, phải thể hiện ở lòng tự hào, tự tôn dân tộc của người dân Việt Nam, dù có đi đâu, ở đâu, cũng luôn có tình cảm gắn bó tha thiết với quê hương, đất nước và đều có tinh thần kiên quyết, sẵn sàng xả thân vì sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Giá trị đó không phai mờ, không hề mất đi cùng với thời gian và không bị “hòa tan” trong quá trình hội nhập quốc tế. Do vậy, cần phải bồi dưỡng phẩm chất, đạo đức, lối sống, niềm tin, ý chí quyết tâm, tình cảm, thôi thúc người dân hành động tự giác, thực hiện mục tiêu, lý tưởng cách mạng.

Hai là, khơi dậy tối đa nguồn lực con người Việt Nam, nhất là nguồn lực cán bộ, đảng viên.

Để phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc, phải khơi dậy tối đa nguồn lực con người, coi con người là trung tâm, vừa là mục tiêu, vừa là động lực của sự phát triển, là chủ thể của công cuộc đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Do đó, cần phải khơi dậy các nguồn lực, tiềm năng sáng tạo, quyền làm chủ của nhân dân và phát huy tối đa dân chủ xã hội chủ nghĩa. Theo đó, một mặt, phải đổi mới mạnh mẽ giáo dục và đào tạo, khoa học và công nghệ, để thực sự trở thành động lực then chốt thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội. Mặt khác, phải đẩy mạnh công tác tư tưởng, vừa kịp thời, chính xác, định hướng dư luận xã hội, vừa mang tính thuyết phục cao, giải đáp kịp thời, sáng tỏ và khoa học những vấn đề thực tiễn đặt ra, đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước.

Tuyệt đối trung thành đối với Đảng, với Tổ quốc, với nhân dân, sẵn sàng chiến đấu để bảo vệ nhân dân, quên mình vì quê hương, vì nhân dân, vì đất nước là một trong những giá trị văn hóa đạo đức. Lòng trung thành đó được biểu hiện ở sự giác ngộ sâu sắc và quyết tâm phấn đấu thực hiện mục tiêu, lý tưởng cách mạng của Đảng, lấy đó làm mục đích hoạt động của mình, suốt đời đấu tranh cho Đảng, cho cách mạng, hết lòng, hết sức phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân; thương yêu, giúp đỡ đồng chí, đồng đội; luôn có ý thức cộng đồng, đặt lợi ích của Đảng của Tổ quốc, lên trên lợi ích cá nhân; kiên quyết chống bệnh quan liêu, gia trưởng, cửa quyền, thói kiêu ngạo, ức hiếp quần chúng và cấp dưới; hy sinh lợi ích cá nhân phục vụ cho lợi ích chung; có lối sống “mình vì mọi người”; gương mẫu trước quần chúng. Lòng trung thành đó đã được Chủ tịch Hồ Chí Minh khái quát: “Trung với nước, hiếu với dân”; “cần kiệm liêm chính, chí công vô tư”, “Việc gì có lợi cho dân, ta phải hết sức làm. Việc gì hại đến dân, ta phải hết sức tránh”, phải “lo trước thiên hạ, vui sau thiên hạ”, biết yêu thương con người, có tình cảm quốc tế trong sáng...”(6).

Ba là, khơi dậy tinh thần đại đoàn kết dân tộc gắn bó cộng đồng và đoàn kết quốc tế cao cả.

Đoàn kết dân tộc gắn bó cộng đồng là một trong những giá trị văn hóa đạo đức Việt Nam, phản ánh bản chất, truyền thống tốt đẹp trong đánh giặc, giữ nước của nhân dân ta, thể hiện thái độ, trách nhiệm của nhân dân trước vận mệnh của đất nước.

Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ rõ: “Sử ta dạy cho ta bài học này: Lúc nào dân ta đoàn kết muôn người như một thì nước ta độc lập, tự do... Vậy nay ta phải biết đoàn kết, đoàn kết mau, đoàn kết chắc chắn”(7). Chỉ có đoàn kết mới giành được thắng lợi, càng gặp kẻ thù lớn, càng khó khăn, gian khổ bao nhiêu lại càng cần phải đoàn kết chặt chẽ, rộng rãi và vững chắc bấy nhiêu; chỉ có đoàn kết dân tộc mới có sức sống bền vững và trường tồn, đưa đất nước phát triển. Không chỉ đoàn kết dân tộc trong đấu tranh giải phóng đất nước, mà phải đoàn kết trong mọi giai đoạn phát triển của cách mạng, tạo thành khối đại đoàn kết dân tộc vững chắc. Điều này đã được Chủ tịch Hồ Chí Minh huấn thị: “Ta đoàn kết để đấu tranh cho thống nhất và độc lập của Tổ quốc; ta còn phải đoàn kết để xây dựng nước nhà”(8).

Sau hơn 35 năm đổi mới, chúng ta đã đạt được nhiều thành tựu to lớn có ý nghĩa lịch sử, chính là do khối đại đoàn kết dân tộc ngày càng được phát huy. Nhờ xây dựng khối đại đoàn kết dân tộc, nhân dân ta đang vượt qua mọi khó khăn, thách thức, để phát triển kinh tế - xã hội, thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước; luôn nêu cao tinh thần cảnh giác, sẵn sàng đánh bại mọi âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch; kiên quyết bảo vệ toàn vẹn lãnh thổ, lãnh hải, thềm lục địa, bảo vệ Đảng, Nhà nước, bảo vệ nhân dân và bảo vệ chế độ; thực hiện thắng lợi nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.

Thực hiện nhất quán đường lối đối ngoại, Việt Nam luôn là bạn, là đối tác tin cậy và thành viên có trách nhiệm của cộng đồng quốc tế nhằm phục vụ mục tiêu giữ vững môi trường hòa bình, ổn định, tranh thủ tối đa các nguồn lực bên ngoài để phát triển đất nước, nâng cao đời sống nhân dân; nâng cao vị thế, uy tín của đất nước và góp phần vào sự nghiệp hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội trên thế giới. Một mặt, vừa tiếp thu có chọn lọc tinh hoa văn hóa nhân loại phù hợp với thực tiễn Việt Nam, mặt khác, phải kiên quyết đấu tranh, loại bỏ các sản phẩm, thông tin độc hại, xuyên tạc, phản động ảnh hưởng xấu đến ổn định chính trị - xã hội, thuần phong mỹ tục.

Bốn là, khơi dậy đức tính khiêm tốn, cần cù, tự giác, dũng cảm, kiên cường, mưu trí, sáng tạo của nhân dân và khát vọng phát triển đất nước.

Người Việt Nam có truyền thống khiêm tốn, cần cù, tự giác, dũng cảm, kiên cường, mưu trí, sáng tạo trong mọi điều kiện, hoàn cảnh, trong chiến đấu và lao động, sản xuất. Giá trị đó luôn được mỗi người dân phát huy trong cuộc sống thường ngày, trong sự nghiệp cách mạng chung, đặt lợi ích của Đảng, của Tổ quốc, của nhân dân, của tập thể lên trên hết, trước hết; luôn sống “vì mọi người”, vì đồng chí, đồng đội; giải quyết hài hòa mối quan hệ giữa cống hiến và hưởng thụ. Đúng như lời của Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Thời đại của chúng ta là thời đại văn minh, thời đại cách mạng, mọi việc càng phải dựa vào lực lượng của tập thể, của xã hội; cá nhân càng không thể đứng riêng lẻ mà càng phải hòa mình trong tập thể, trong xã hội”(9).

Khát vọng chiến thắng_Nguồn: vnexpress.net

Đại hội XIII của Đảng đã chỉ rõ mục tiêu: “Khơi dậy khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc”(10). Khát vọng đó càng trở nên mạnh mẽ, cháy bỏng hơn bao giờ hết trên cơ sở đất nước ta chưa bao giờ có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế như ngày nay. Mặt khác, trên thế giới, tình hình diễn biến rất nhanh chóng, phức tạp, khó lường; trong nước, bốn nguy cơ mà Đảng ta đã chỉ ra còn tồn tại, có mặt còn gay gắt hơn. “Nền kinh tế phát triển chưa bền vững, còn nhiều hạn chế, yếu kém, đứng trước nhiều khó khăn, thách thức mới do tác động của đại dịch COVID-19 và khủng hoảng kinh tế toàn cầu gây ra”(11). Chính vì vậy, Đảng và Nhà nước ta đã có nhiều chủ trương, giải pháp đồng bộ, khả thi, nổi bật là tạo môi trường và điều kiện xã hội thuận lợi nhất để khơi dậy truyền thống yêu nước, niềm tự hào dân tộc, ý chí tự cường, niềm tin, tài năng, trí tuệ, phẩm chất của con người Việt Nam; phát huy giá trị văn hóa, sức mạnh con người Việt Nam trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Đó là chủ trương hoàn toàn đúng đắn để phấn đấu đến năm 2045, kỷ niệm 100 năm thành lập nước, Việt Nam trở thành nước phát triển, thu nhập cao như Đại hội XIII của Đảng đã xác định.

Để phát huy giá trị văn hóa đạo đức Việt Nam, toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta cần tiếp tục đẩy mạnh thực hiện Kết luận số 01-KL/TW, ngày 8-5-2021, về tiếp tục thực hiện Chỉ thị số 05-CT/TW, ngày 15-5-2016, của Bộ Chính trị khóa XII, “Về đẩy mạnh việc học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh” và tổ chức thực hiện Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng có hiệu quả. Điều đó đòi hỏi mỗi cán bộ, đảng viên phải luôn đặt lợi ích của Tổ quốc, của Đảng, của dân tộc, của nhân dân lên trên hết, trước hết. Hành động đúng tôn chỉ, mục đích của Đảng, để khi gặp khó khăn, gian khổ thì không nản chí, lùi bước; khi thuận lợi, thành công vẫn luôn giữ vững tinh thần khiêm tốn, luôn “lo trước thiên hạ, vui sau thiên hạ”, góp phần xây dựng, bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. /.

------------------

(1) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2011, t. 5, tr. 44
(2) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t. 12, tr. 401
(3) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t. 7, tr. 335
(4) Kết luận số 76-KL/TW, ngày 04/6/2020 của Bộ Chính trị Về tiếp tục thực hiện Nghị quyết số 33-NQ/TW của Ban chấp hành Trung ương khóa XI về xây dựng và phát triển văn hóa, con người Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững đất nước
(5) Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2021, t. I, tr. 136
(6) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t. 1, tr. XXVII
(7) Hồ Chí Minh:  Toàn tập, Sđd, t. 3, tr. 256
(8), (9) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t. 9, tr. 244
(10) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t. 11, tr. 600
(11) Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIIISđd, t. I, tr. 111, 107-108.