Thứ Tư, 15 tháng 5, 2024

Nâng niu bóng hình đất nước ở Trường Sa

 Món quà đặc biệt nhất đối với bất kỳ ai từng đến Trường Sa là được mang về từ biển một lá cờ Tổ quốc.

Kỷ vật thiêng liêng đó dù có bạc màu vì sóng gió nhưng đó là bóng hình đất nước, là vị mặn mòi của biển, đảo Việt Nam, là hồn thiêng của những anh hùng liệt sĩ đã hòa trong sóng nước Trường Sa, vun đắp vững chãi cột mốc chủ quyền.
Tổ quốc giữa trùng khơi
Hú những hồi còi dài chào cảng, chào đất liền, chào đồng chí, đồng đội, tàu KN-491 rẽ sóng, đưa đoàn công tác số 2 năm 2024 hướng về huyện đảo Trường Sa (tỉnh Khánh Hòa). Trên đỉnh tháp tàu, lá cờ đỏ sao vàng kiêu hãnh tung bay trong nắng mai.
Suốt dọc dài hải trình, một trong những hình ảnh tôi thích ngắm nhìn nhất là lá cờ Tổ quốc. Giữa mênh mông biển cả, giữa cao xanh trời biển hay trong hoàng hôn chiều tà, lá cờ như ngọn lửa rực trên cột cờ những con tàu vận tải, tàu đánh cá; trên đỉnh tháp tàu hải quân, tàu kiểm ngư và tàu cảnh sát biển; trên đuôi những chiếc xuồng vận chuyển giữa tàu và đảo. Trên cột cờ của các đảo, nhà giàn, trên ngực áo bộ đội, trên những cột mốc chủ quyền và trên vòng hoa tưởng nhớ các anh hùng liệt sĩ đã mãi mãi nằm sâu trong lòng biển để bảo vệ từng tấc đất quê hương, những lá cờ ở nhiều sắc độ, kích thước khác nhau, lúc reo vui trong nắng gió, khi phần phật dữ dội, lúc yên ả trên vòng hoa dập dềnh trên mặt biển... Tất cả đều gợi lên một tình cảm thân thương đến lạ kỳ. Đó là niềm tự hào và vững tin bởi quốc kỳ ở đâu là Tổ quốc ở đó.
Ở Trường Sa, những lá cờ treo nơi đầu sóng ngọn gió, trong điều kiện gió muối, khí hậu vô cùng khắc nghiệt, thường xuyên có gió giật nên chỉ một tuần là bị bạc màu hoặc sờn rách. Khi lá cờ không còn nguyên vẹn, người lính đảo hạ cờ xuống, thay mới. Những lá cờ đã từng hiên ngang giữa đất trời Trường Sa được chỉ huy đảo cẩn thận ký, đóng dấu lên và gìn giữ như một kỷ vật. Đó sẽ là món quà thiêng liêng của Trường Sa dành tặng những đoàn công tác ra thăm đảo.
Trong chuyến công tác lần này, Đại úy QNCN Nguyễn Thu Liên, cán bộ Cục Khoa học Quân sự ấp ủ việc xin một lá cờ Trường Sa. Phấn khởi cầm lá cờ kỷ niệm của đảo Cô Lin, Thu Liên khoe với tôi: “Vậy là nguyện vọng của em đã đạt được! Đối với em lá cờ ở đảo nào cũng rất trân quý. Đó là những lá cờ đã “thẩm thấu” gió sương và vị mặn mòi của biển, đảo quê hương, khẳng định chủ quyền Việt Nam ở quần đảo Trường Sa. Với em, lá cờ ở đảo Cô Lin còn có một ý nghĩa đặc biệt vì đây là khu vực gần nhất với nơi 64 cán bộ, chiến sĩ hy sinh trong cuộc chiến bảo vệ đảo Gạc Ma của Việt Nam”. Thu Liên cho hay, khi về nhà sẽ đặt lá cờ vào một chiếc hộp bằng mika và trưng bày ở vị trí trang trọng trong phòng khách của gia đình.
Cờ xin không nhanh là hết, bởi vậy mãi đến khi vào đảo Núi Le, phóng viên Phạm Đức Minh, Trung tâm Phát thanh Truyền hình Quân đội và Thiếu tá QNCN Nguyễn Phương Thảo, cán bộ Cục Dân quân tự vệ mới xin được cờ. Trong ráng chiều tuyệt đẹp, hình ảnh Đại úy Lê Thanh Cảnh, Chỉ huy trưởng đảo Núi Le đang ký trên lá quốc kỳ được Thảo và Minh nâng niu trên tay, ngay bên cầu tàu trước khi rời đảo, khiến lòng người xốn xang. Phương Thảo nói: “Đến với Trường Sa là hành trình ý nghĩa trong cuộc đời mỗi người. Bao nhiêu câu chuyện về sự hy sinh lẫm liệt, về những máu xương ngã xuống bên sắc cờ Tổ quốc giữa trùng khơi, nhưng phải phút giây này, chuyền tay nhau ôm lá cờ đã thấm đẫm những kiên cường của Trường Sa vào lòng, tôi càng thấu hiểu lá cờ là hiện hữu của quê hương, của Tổ quốc giữa trùng khơi”.
Trao gửi tinh thần Trường Sa
Những kỷ vật là lá cờ Tổ quốc đã từng được treo trên 21 điểm đảo thuộc huyện đảo Trường Sa không chỉ là món quà ý nghĩa của các chiến sĩ Trường Sa gửi đất liền mà đó còn là sự gửi gắm, trao truyền một tình yêu nối dài. Trung tá Bùi Văn Hiếu, Chính trị viên phó đảo Phan Vinh chia sẻ: “Việc xin cờ đối với các đoàn là tình cảm của đất liền dành cho cán bộ, chiến sĩ nơi đảo xa và cũng là tình cảm của chúng tôi gửi về đất liền thân thương. Đó là tình yêu Tổ quốc. Tất cả quốc kỳ treo trên đảo đều được lưu giữ lại, khi các đoàn tới thăm, có mong muốn được tặng cờ thì đảo sẽ tặng. Những lá cờ chỉ treo 1 tuần là rách, điều đó chứng tỏ thời tiết khắc nghiệt ở đảo và người lính đã gìn giữ lá cờ-máu thịt của quê hương như thế nào”.
Nhận món quà từ Trường Sa, cô giáo Đỗ Thị Thanh Nga, giáo viên môn Địa lý, Trường THPT Chu Văn An, Hà Nội xúc động chia sẻ: "Từ nay lá cờ Tổ quốc thấm đẫm tinh thần của quân dân Trường Sa sẽ theo suốt cuộc đời dạy học của tôi". Niềm vui dạy học và những câu chuyện xung quanh lá cờ nhanh chóng lan tỏa khắp các lớp học. Cô Nga kể: “Học trò đã rất bất ngờ khi tôi mở đầu tiết học bằng việc treo một lá cờ không còn nguyên vẹn lên bảng. Nhưng khi được nghe giải thích lý do vì sao lá cờ lại có hiện trạng như vậy; được nghe kể câu chuyện Trường Sa, chuyện về những người chiến sĩ hải quân, những người dân Trường Sa đang ngày đêm can trường vượt khó bảo vệ những hòn đảo tiền tiêu của Tổ quốc... các em đã thực sự xúc động”.
“Kiến thức về biển, đảo không chỉ là hành trang giúp các em vượt qua kỳ thi cuối cấp mà còn nuôi dưỡng hành trình vào đời, khơi dậy ước mơ, mong muốn làm được điều gì đó cho cuộc sống ở Trường Sa, cho biển, đảo quê hương. Và hơn hết, các con được truyền cảm hứng vượt gian khó từ các chiến sĩ Trường Sa. Tôi mong những thầy, cô giáo dạy Lịch sử, Địa lý khắp mọi miền đất nước được đi thực tế ở Trường Sa, để trở về lan tỏa tinh thần Trường Sa tới các thế hệ học sinh và người dân”, cô Thanh Nga bộc bạch.
Nhìn thấy lá cờ đã để lại một phần hình hài ở Trường Sa, em Nguyễn Hoàng Hải, học sinh lớp 12 Sử, Trường THPT Chu Văn An, Hà Nội cứ ngỡ lá cờ là kỷ vật từ cuộc chiến đấu nào trong quá khứ. “Khi biết lá cờ được mang về từ Trường Sa, em hiểu rằng để bảo vệ chủ quyền Tổ quốc, thời nào cũng giống nhau, đều là những cống hiến, sẵn sàng nhận hy sinh về mình”.
Mong muốn được đóng góp cho Trường Sa, em Ngô Minh Sơn, học sinh lớp 12 Địa cho rằng: “Trước hết chúng em cần có đầy đủ những suy nghĩ, nhận thức về chủ quyền biển, đảo của Việt Nam. Từ đó có thêm động lực để phát triển bản thân, đóng góp trí tuệ cho đất nước. Em mong muốn tìm hiểu công nghệ kỹ thuật mới hoặc những giải pháp hữu hiệu nhất để giải quyết những bài toán, vấn đề khó khăn của người dân và bộ đội ở Trường Sa”.
Trường Sa có bao điều để nhớ, bao điều để tự hào. Dưới lá cờ mang bóng hình đất nước là tình yêu, trách nhiệm của những người lính hải quân, của ngư dân vươn khơi bám biển và là sự chung lòng của cả nước, để Trường Sa xanh mãi niềm tin, vững vàng giữa bốn bề sóng vỗ.

PHÊ PHÁN LUẬN ĐIỆU XUYÊN TẠC QUAN ĐIỂM CỦA V.I.LÊNIN “MỘT CUỘC CÁCH MẠNG CHỈ CÓ GIÁ TRỊ KHI NÓ BIẾT TỰ VỆ”!

         Một trong những luận điểm khoa học cơ bản trong học thuyết của V.I.Lênin về bảo vệ Tổ quốc là: “Một cuộc cách mạng chỉ có giá trị khi nó biết tự vệ”. Tuy nhiên, sau khi Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa (XHCN) ở Đông Âu sụp đổ, các thế lực thù địch, phản động đã bóp méo, xuyên tạc quan điểm đúng đắn của Lenin!

Tỉnh táo trước âm mưu xuyên tạc không cần bảo vệ Tổ quốc XHCN
Ngay từ năm 1916, đêm trước của cuộc cách mạng vô sản ở nước Nga, Lênin chỉ rõ: “Không cầm vũ khí bảo vệ nước cộng hòa XHCN, thì chúng ta không thể tồn tại được. Giai cấp thống trị không bao giờ nhường chính quyền cho giai cấp bị trị. Nhưng giai cấp bị trị phải chứng minh trên thực tế rằng họ không những có khả năng lật đổ bọn bóc lột, mà còn có khả năng tự tổ chức, huy động hết thảy để tự bảo vệ lấy mình”; và: “Một cuộc cách mạng chỉ có giá trị khi nó biết tự vệ”. Bởi tự vệ là để bảo vệ chính quyền và bảo vệ các thành quả cách mạng đã giành được là một tất yếu khách quan, mang tính chính nghĩa, đó là một trong những vấn đề có tính quy luật của cách mạng vô sản. Lenin còn cho rằng, “không phải cách mạng có thể biết ngay được cách tự vệ”, vì “cách tự vệ là một khoa học và nghệ thuật của cách mạng, cách mạng chỉ có thể đi tới thành công đến nơi đến chốn khi biết cách tự vệ đúng".

Sau khi tư tưởng “Một cuộc cách mạng chỉ có giá trị khi nó biết tự vệ” của Lênin ra đời đã bị các thế lực thù địch, phản động chống phá quyết liệt. Chúng phủ nhận việc bảo vệ thành quả cách mạng của giai cấp vô sản khi tiến hành cách mạng thành công. Theo chúng, cách mạng vô sản giành thắng lợi xong không cần lập nên chính quyền nhà nước vì đã thành công rồi. Để đập tan luận điệu này, ngay sau khi Cách mạng Tháng Mười Nga thành công, Lenin chỉ rõ: “Kể từ ngày 25-10-1917, chúng ta là những người chủ trương bảo vệ tổ quốc. Chúng ta tán thành "bảo vệ tổ quốc", nhưng cuộc chiến tranh giữ nước mà chúng ta đang đi tới, là một cuộc chiến tranh bảo vệ tổ quốc XHCN, bảo vệ chủ nghĩa xã hội với tính cách là tổ quốc". 

Thời gian qua, lợi dụng hệ thống XHCN thoái trào và sự biến động mau lẹ, khó lường của tình hình thế giới, các thế lực thù địch, phản động càng ra sức chống phá các nước XHCN còn lại, trong đó có Việt Nam. Chúng cho rằng hiện nay không cần phải bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN vì không còn kẻ thù xâm lược và nếu có bảo vệ thì chỉ bảo vệ Tổ quốc chứ không bảo vệ chế độ XHCN. Đây là luận điệu hết sức thâm độc, dễ gây sự ngộ nhận trong việc thực hiện nghĩa vụ quân sự bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN của công dân Việt Nam hiện nay.

Cả về phương diện lý luận và thực tiễn đã chứng minh rằng, mọi cuộc cách mạng nổ ra đều gắn với một giai cấp đứng ở vị trí trung tâm của thời đại và bao giờ vấn đề giành chính quyền cũng đều là vấn đề cơ bản của mọi cuộc cách mạng gắn với một quốc gia, dân tộc cụ thể. Như vậy, không bao giờ có Tổ quốc tách rời với một chế độ xã hội, mà bao giờ cũng gắn chặt với một chế độ xã hội nhất định như chế độ xã hội chiếm hữu nô lệ, chế độ xã hội phong kiến, chế độ xã hội tư bản chủ nghĩa, chế độ XHCN.

Nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc ở mỗi thời kỳ lịch sử đều gắn liền với chế độ ở giai đoạn lịch sử, quốc gia, dân tộc đó. Đáng tiếc là, ngoài sự chống phá của các thế lực phản động, thù địch, một số người trong nước vẫn ngộ nhận, chủ quan, không thấy hết các nguy cơ của đất nước và chế độ, không nhận thức được sự thống nhất giữa độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội ở nước ta nên có biểu hiện coi nhẹ nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc XHCN; không nhận thức đầy đủ mối quan hệ biện chứng giữa xây dựng và bảo vệ Tổ quốc XHCN. Thậm chí một số người Việt Nam tuy mang trong mình dòng máu Lạc Hồng và đang được hưởng thành quả cách mạng nhưng quay lưng lại với dân tộc, ra sức công kích, xuyên tạc đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, rắp tâm phá hoại thành tựu của công cuộc đổi mới đất nước, cuộc sống thanh bình của nhân dân. 

Tăng cường sức mạnh tổng hợp, bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam XHCN
Việc trung thành, vận dụng sáng tạo tư tưởng của Lênin “Một cuộc cách mạng chỉ có giá trị khi nó biết tự vệ” có ý nghĩa rất quan trọng trong thời đại ngày nay. Vì vậy, chúng ta cần quán triệt, thực hiện hiệu quả Chiến lược bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới theo tinh thần Nghị quyết của Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng lần thứ 8, khóa XIII.

Thấm nhuần tư tưởng nêu trên của Lênin và kế thừa truyền thống, quy luật dựng nước đi đôi với giữ nước của dân tộc ta, ngay sau thắng lợi của cuộc Cách mạng Tháng Tám năm 1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã tuyên bố trước thế giới dứt khoát rằng: “Nước Việt Nam có quyền hưởng tự do và độc lập, và sự thật đã thành một nước tự do, độc lập. Toàn thể dân tộc Việt Nam quyết đem tất cả tinh thần và lực lượng, tính mạng và của cải để giữ vững quyền tự do, độc lập ấy”. Kể từ đó, xuyên suốt cuộc trường chinh 30 năm dưới sự lãnh đạo của Đảng và Bác Hồ, nhân dân ta đã tiến hành thắng lợi hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ xâm lược, thống nhất đất nước, thu non sông về một mối, cả nước cùng bước vào công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam XHCN.

Thực tiễn cho thấy, sự sụp đổ của chủ nghĩa xã hội ở Liên Xô và các nước Đông Âu cuối những năm 80, đầu những năm 90 của thế kỷ 20 đã chứng minh rằng việc giành chính quyền đã khó nhưng giữ gìn, sử dụng chính quyền để xây dựng và bảo vệ chế độ XHCN còn khó hơn nhiều. Một trong những nguyên nhân chủ yếu của sự sụp đổ đó là do sai lầm của các đảng cộng sản trong quá trình cải tổ, cải cách, sự mất cảnh giác và tự làm suy yếu, mất sức đề kháng từ bên trong của các đảng cộng sản và lực lượng cách mạng trước âm mưu, thủ đoạn thâm độc, xảo quyệt của các thế lực thù địch.

Đúng như Lênin đã từng cảnh báo: “Không ai có thể tiêu diệt được chúng ta ngoài những sai lầm của bản thân chúng ta nếu chúng ta không mắc sai lầm, tự đánh đổ mình”. Như vậy, bài học thành công và thất bại về công cuộc bảo vệ Tổ quốc XHCN từ sau Cách mạng Tháng Mười ở các nước XHCN không chỉ khẳng định tư tưởng của Lenin “Một cuộc cách mạng chỉ có giá trị khi nó biết tự vệ” mà còn là cơ sở để xác định ý chí, quyết tâm trong nâng cao ý thức trách nhiệm của mỗi chúng ta trong đấu tranh, phản bác quan điểm sai trái, thù địch hiện nay.

Giải pháp quan trọng hàng đầu là đẩy mạnh công tác tuyên truyền, giáo dục, nâng cao nhận thức cho cán bộ, đảng viên và nhân dân về sự cần thiết phải bảo vệ Tổ quốc gắn liền với bảo vệ chế độ XHCN, bảo vệ Đảng, Nhà nước và nhân dân. Đó là cơ sở để củng cố lập trường chính trị giai cấp, niềm tin và sự kiên định vào mục tiêu, lý tưởng của Đảng vào con đường đi lên chủ nghĩa xã hội của đất nước. 

Bên cạnh đó, cần chú trọng giáo dục thống nhất nhận thức về đối tượng, đối tác và mục tiêu bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN. Sự phân định đối tác, đối tượng là rất cần thiết, tuy nhiên cần phải mềm dẻo, uyển chuyển trong nhận thức. Trong thực tế, ranh giới giữa đối tác và đối tượng đôi khi rất mong manh, có tính tương đối, nhận thức không phải dễ dàng, đơn giản. Do đó, cần xác định rõ những tiêu chí và quan điểm trong nhận thức và xử lý vấn đề này. Một trong những tiêu chí rất quan trọng để xác định đối tác đó là lợi ích. Bởi lợi ích (hiểu theo nghĩa đầy đủ của nó) phải được bảo đảm cho cả hai phía: Phía chúng ta và phía đối tác, làm sao để đôi bên cùng có lợi, phù hợp với pháp luật Việt Nam và thông lệ quốc tế. Tiêu chí “cùng có lợi” trở thành cơ sở của quan hệ giữa các đối tác. Trên cơ sở lợi ích chung của quốc gia, dân tộc, cần quán triệt sâu sắc quan điểm của Đảng và Nhà nước ta trong xác định đối tượng và đối tác là: Những ai chủ trương tôn trọng độc lập, chủ quyền, thiết lập và mở rộng quan hệ hữu nghị, hợp tác bình đẳng cùng có lợi với Việt Nam đều là đối tác của chúng ta. Bất kể thế lực nào có âm mưu và hành động phá mục tiêu của nước ta trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc đều là đối tượng đấu tranh.

Về mục tiêu bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN là toàn diện, bảo vệ cả phương diện tự nhiên-lịch sử và phương diện chính trị-xã hội trong chỉnh thể thống nhất bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN, theo tinh thần Nghị quyết Trung ương 8, khóa XIII đã chỉ ra: “Bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc, bảo vệ Đảng, Nhà nước, nhân dân, chế độ XHCN, nền văn hóa và lợi ích quốc gia, dân tộc; giữ vững môi trường hòa bình, ổn định chính trị, an ninh quốc gia, an ninh con người; xây dựng xã hội trật tự, kỷ cương, an toàn, lành mạnh để phát triển đất nước theo định hướng XHCN”.

Trong bối cảnh hiện nay, cần làm cho toàn Đảng, toàn dân, toàn quân nhận thức đúng phương châm bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN từ sớm, từ xa, giữ nước từ khi nước chưa nguy, với nhiều kế sách linh hoạt, mềm dẻo, kiên quyết tạo thành sức mạnh tổng hợp vững chắc trong công cuộc giữ nước. 

Sức mạnh bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN là sức mạnh tổng hợp của khối đại đoàn kết toàn dân tộc, của cả hệ thống chính trị dưới sự lãnh đạo của Đảng, trong đó lực lượng vũ trang nhân dân giữ vai trò nòng cốt, trụ cột. Đó là sức mạnh tổng hợp của các yếu tố chính trị, quân sự, kinh tế, khoa học-công nghệ, văn hóa, đối ngoại, biểu hiện trong sức mạnh vật chất, tinh thần của khoảng 100 triệu dân Việt Nam trong nước và hơn 5 triệu người Việt Nam sinh sống, học tập, lao động, công tác ở nước ngoài luôn hướng về Tổ quốc. Đó là sức mạnh bên trong với sức mạnh bên ngoài, sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại trong bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN hiện nay./.
Môi trường ST.

Những bữa cơm gia đình

 Một người bạn công tác trong khu vực miền Trung vừa gọi điện cho tôi tâm sự, đã mấy tháng nay bạn chưa được về thăm cha mẹ ở quê.

Các anh, chị, em đều đã trưởng thành, mỗi người một phương lập thân, lập nghiệp nên ít có dịp gặp. Cuộc sống hiện đại, kinh tế đủ đầy, muốn ăn gì là có đấy, nhưng bạn chỉ thèm được ăn bữa cơm gia đình, có đủ các thành viên như ngày còn niên thiếu, dẫu nghèo, đói và thiếu thốn, nhưng khi nào cũng đầy ắp tiếng cười. Ngay với gia đình riêng của mình, có khi đến cả tháng, vợ, chồng mới nấu được bữa cơm, đông đủ cả nhà cùng ăn vào dịp cuối tuần.
Câu chuyện trên đây có lẽ cũng là thực tế chung của nhiều gia đình, là suy tư của nhiều người đang ở trong guồng quay của thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Ở khu vực thị thành, hầu như chỉ có bữa cơm tối và những ngày cuối tuần, các gia đình mới được quây quần cùng nhau bên mâm cơm gia đình. Nhưng nhịp sống của thời công nghiệp hiện đại, công việc chi phối đã cuốn mỗi thành viên đi một hướng và chỉ gặp mặt nhau khi đã tối muộn, nên những bữa cơm có đông đủ các thành viên trong gia đình cứ thưa dần. Đối với nhiều gia đình trẻ, ưa thích sự tiện ích, hiện đại, họ lựa chọn ăn ở nhà hàng, đặt đồ ăn nhanh thay vì nấu ăn tại nhà. Bữa cơm gia đình vì thế cứ thưa dần và trở thành “nếp sống cũ”.
Bữa cơm gia đình là nét văn hóa truyền thống của dân tộc ta, được hình thành, tiếp nối và trao truyền từ bao đời nay. Trong mỗi giai đoạn, bữa cơm gia đình của người Việt luôn có sự tiếp biến văn hóa để ngày càng tiệm cận và bắt nhịp với nếp sống văn minh, hiện đại và vẫn luôn giữ gìn được bản sắc văn hóa vùng, miền. Xét ở khía cạnh văn hóa, bữa cơm gia đình là một phần quan trọng không thể thiếu trong đời sống tinh thần của người Việt Nam.
Ngay trong bữa cơm gia đình đã hàm chứa đầy đủ không gian, thời gian của sự gắn kết, của văn hóa truyền thống gia đình. Ở đó, các thành viên cùng nhau chuẩn bị bữa ăn, rồi quây quần, sum tụ quanh mâm cơm, cùng nhau trò chuyện, sẻ chia vui, buồn. Đó là khoảng thời gian quý báu, là sợi dây gắn kết tình cảm giữa các thành viên trong gia đình; để những bậc ông, bà, cha, mẹ giữ gìn và dạy bảo con, cháu về nền nếp gia phong, truyền thống gia đạo.
Bởi vậy, dù cuộc sống hiện đại đến đâu, kinh tế mỗi gia đình dù khá giả, giàu có thế nào thì bữa cơm gia đình vẫn là phần không thể thiếu trong đời sống, sinh hoạt hằng ngày. Gia đình là nền tảng của xã hội và giáo dục từ gia đình chính là yếu tố căn cốt, nền tảng để hình thành nhân cách của mỗi người.

Bác bỏ những luận điệu xuyên tạc đòi phủ nhận vai trò của giai cấp công nhân

 Chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và thực tiễn hoạt động của Đảng Cộng sản Việt Nam đều có những luận chứng hết sức thuyết phục về sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân, đó là xóa bỏ mọi sự áp bức, bóc lột, bất công, nghèo nàn, lạc hậu trên phạm vi toàn thế giới.

Trải qua quá trình hoạt động, giai cấp công nhân Việt Nam là giai cấp có tinh thần cách mạng triệt để và là giai cấp lãnh đạo cách mạng thông qua đội tiên phong của mình là Đảng Cộng sản. Giai cấp công nhân cũng là một lực lượng xã hội to lớn, ngày càng đa dạng về cơ cấu ngành, nghề, trình độ học vấn, chuyên môn, kỹ năng nghề nghiệp và gắn với nền công nghiệp hiện đại.
Giai cấp công nhân Việt Nam đại diện cho phương thức sản xuất tiên tiến, là lực lượng nòng cốt trong liên minh giữa giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức dưới sự lãnh đạo của Đảng.
Tuy nhiên, các thế lực thù địch, phản động đã và đang sử dụng một số luận điệu xuyên tạc bản chất, phủ nhận sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân và vai trò của tổ chức công đoàn Việt Nam.
Vẫn là những chiêu trò cũ nhưng được sử dụng lại, đặc biệt là trước, trong và sau Đại hội XIII Công đoàn Việt Nam nhằm tác động vào tư tưởng, tâm lý, tình cảm của giai cấp công nhân Việt Nam.
Đầu tiên là những xuyên tạc, bóp méo vào hệ tư tưởng. Các thế lực phản động, cơ hội, thế lực thù địch thường xuyên có các chiêu trò xuyên tạc, phủ nhận Chủ nghĩa Mác - Lênin.
Trong đó, chúng rêu rao rằng, Chủ nghĩa Mác – Lênin là đúng đắn nhưng chỉ trong điều kiện Cách mạng công nghiệp lần thứ nhất (thời kỳ hưng thịnh của động cơ hơi nước) gắn với nền sản xuất dựa trên máy móc cơ khí ở thế kỷ thứ XIX; hiện nay, nhân loại đã chuyển mình sang Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, kỷ nguyên của kinh tế tri thức, kinh tế số, toàn cầu hóa, tin học hóa, dữ liệu lớn (big data)… nên Chủ nghĩa Mác – Lênin không còn phù hợp nữa.
Chúng cũng đưa ra những luận điệu hết sức lạc lõng rằng, giai cấp công nhân chỉ là những người có học vấn hạn chế nên chỉ có thể lật đổ chế độ cũ, chứ không thể xây dựng được một xã hội mới tốt đẹp, nhất là trong thời đại khoa học phát triển hiện nay.
Mặt khác, trong nền sản xuất hiện đại, việc đưa robot (người máy) vào sản xuất ngày càng nhiều, với dây chuyền tự động hóa, việc tuyển dụng và sử dụng người công nhân ngày càng ít đi, cho nên học thuyết về sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân không còn phù hợp nữa.
Tất nhiên, đây chỉ là những luận điệu, quan điểm không có cơ sở khoa học, thiếu căn cứ thực tiễn về vai trò, sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân, cần phải kiên quyết đấu tranh bác bỏ.
Thực tế quá trình cách mạng đã khẳng định, giai cấp công nhân chính là sản phẩm của nền đại công nghiệp và không ngừng phát triển cả về số lượng và chất lượng, họ tự ý thức được vị trí, vai trò của mình trong tiến trình phát triển của lịch sử xã hội loài người.
Mặc dù chủ nghĩa tư bản đã và đang có sự điều chỉnh thích nghi do sự đấu tranh quyết liệt của chủ nghĩa xã hội, của giai cấp công nhân và quần chúng nhân dân lao động, song bản chất bóc lột của chế độ tư bản không hề thay đổi, mà nó ngày càng tinh vi, xảo quyệt hơn.
Sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân Việt Nam trong giai đoạn hiện nay đều được đề cập tới trong các Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X, XI, XII, XIII.
Đặc biệt là trong Nghị quyết Hội nghị Trung ương 6 khoá X đã khái quát: “Giai cấp công nhân nước ta có sứ mệnh lịch sử to lớn: Là giai cấp lãnh đạo cách mạng thông qua đội tiền phong là Đảng Cộng sản Việt Nam; giai cấp đại diện cho phương thức sản xuất tiên tiến, giai cấp tiên phong trong sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội, lực lượng đi đầu trong sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh; lực lượng nòng cốt trong liên minh giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức dưới sự lãnh đạo của Đảng”.
Nghị quyết Hội nghị Trung ương 6 khoá X khẳng định: “Sự lớn mạnh của giai cấp công nhân là một điều kiện tiên quyết bảo đảm thành công của công cuộc đổi mới, công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước”.
Trong bài viết: “Tự hào và tin tưởng dưới lá cờ vẻ vang của Đảng, quyết tâm xây dựng một nước Việt Nam ngày càng giàu mạnh, văn minh, văn hiến và anh hùng” nhân dịp 94 năm kỷ niệm thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã khẳng định: Thực tiễn phong phú và sinh động của cách mạng Việt Nam từ ngày có Đảng đến nay đã chứng tỏ, sự lãnh đạo đúng đắn và sáng suốt của Đảng là nhân tố hàng đầu quyết định mọi thắng lợi của cách mạng, lập nên nhiều kỳ tích trên đất nước Việt Nam.
Điều 4, Hiến pháp nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam đã khẳng định: “Đảng Cộng sản Việt Nam - Đội tiên phong của giai cấp công nhân, đồng thời là đội tiên phong của Nhân dân lao động và của dân tộc Việt Nam, đại biểu trung thành lợi ích của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và của cả dân tộc, lấy Chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng, là lực lượng lãnh đạo Nhà nước và xã hội”.
Như vậy, có thể thấy, vai trò và sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân Việt Nam là không thể phủ nhận. Giai cấp công nhân nước ta có sứ mệnh lịch sử to lớn như Đảng ta đã khẳng định: “Trong thời kỳ đổi mới, giai cấp công nhân nước ta có sứ mệnh lịch sử to lớn; là giai cấp lãnh đạo cách mạng thông qua đội tiên phong là Đảng Cộng sản Việt Nam; giai cấp đại diện cho phương thức sản xuất tiên tiến, giai cấp tiên phong trong sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội, lực lượng đi đầu trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh, lực lượng nòng cốt trong liên minh giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức dưới sự lãnh đạo của Đảng”.

Nhận diện những âm mưu chống phá tổ chức Công đoàn

 Không chỉ xuyên tạc, phủ nhận vai trò của giai cấp công nhân, các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị cũng ra sức đưa ra những thông tin méo mó, xuyên tạc về hình ảnh Công đoàn.

Những phương thức hoạt động, những chiêu trò chống phá ngày càng tinh vi, lợi dụng triệt để mạng internet, mạng xã hội để thông tin xuyên tạc, sai sự thật, xấu độc… tác động không tốt đến tư tưởng, tình cảm của một bộ phận Nhân dân, trong đó có cả cán bộ, đảng viên.
Về vai trò của tổ chức Công đoàn, các thế lực phản động xuyên tạc trắng trợn rằng, Công đoàn hiện nay không còn phát huy vai trò là tổ chức bảo vệ quyền lợi cho người lao động; hoạt động của tổ chức Công đoàn ở các doanh nghiệp, nhất là doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài chỉ mang tính hình thức, không dám đấu tranh với lãnh đạo doanh nghiệp, với ông chủ; họ cũng chỉ là người làm thuê và chịu sự quản lý của người sử dụng lao động và thậm chí, có thể bị sa thải nếu làm trái ý chủ doanh nghiệp (?!)...
Những luận điệu sai trái và xuyên tạc được chúng gieo rắc như: Công đoàn Việt Nam chỉ là bù nhìn; tổ chức Công đoàn Việt Nam không phải là để đại diện quyền lợi công nhân, mà là để theo dõi công nhân rồi đàn áp họ…
Đồng thời kích động, lôi kéo tham gia vào các hoạt động trái pháp luật và các cuộc tranh cãi, bày tỏ ý kiến, chia sẻ vụ việc, vấn đề cá nhân lên không gian mạng.
Đặc biệt, trong dịp Đại hội XIII Công đoàn Việt Nam, triệt để lợi dụng chủ trương lấy ý kiến xây dựng dự thảo văn kiện Đại hội, chúng tấn công vào các vấn đề liên quan đến tài chính công đoàn; công khai, dân chủ trong hoạt động công đoàn…
Những hoạt động của các thế lực thù địch, cơ hội chính trị gây chia rẽ, phân hóa giai cấp công nhân. Các thế lực thù địch cũng tiến hành nhiều phương thức tiếp cận để lôi kéo, liên kết, hợp tác để từng bước chuyển hóa, sử dụng thế lực phản động ngoài nước câu kết với nhóm phản động và những kẻ cơ hội trong nước để chống phá.
Sự thật là, qua quá trình hoạt động với bề dày truyền thống 95 năm, dưới sự lãnh đạo của Đảng, Công đoàn Việt Nam đã và đang phát huy vai trò, sứ mệnh của mình, là tổ chức đại diện, chăm lo, bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng cho người lao động. Thực tế đã chứng minh, không có tổ chức nào ngoài Công đoàn xứng đáng là đại diện, bảo vệ quyền lợi người lao động.
Vai trò của tổ chức Công đoàn Việt Nam được hiến định trong Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và được cụ thể hóa trong Luật Công đoàn Việt Nam.
Điều 10, Hiến pháp nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam - đã khẳng định: Công đoàn Việt Nam là tổ chức chính trị - xã hội của giai cấp công nhân và của người lao động được thành lập trên cơ sở tự nguyện, đại diện cho người lao động, chăm lo và bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp, chính đáng của người lao động; tham gia quản lý nhà nước, quản lý kinh tế - xã hội; tham gia kiểm tra, thanh tra, giám sát hoạt động của cơ quan nhà nước, tổ chức, đơn vị, doanh nghiệp về những vấn đề liên quan đến quyền, nghĩa vụ của người lao động; tuyên truyền, vận động người lao động học tập, nâng cao trình độ, kỹ năng nghề nghiệp, chấp hành pháp luật, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.
Thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của mình, quy mô của Công đoàn Việt Nam ngày càng được mở rộng, chất lượng nhiều mặt công tác được nâng lên, đã chủ động, linh hoạt trong công tác chỉ đạo và tổ chức thực hiện, xuất hiện nhiều mô hình mới, cách làm hiệu quả, có sức lan tỏa, được đoàn viên, người lao động, cấp ủy, chính quyền và người sử dụng lao động ghi nhận… đóng góp xứng đáng vào sự nghiệp phát triển và đổi mới đất nước.
Gần nhất, trong nhiệm kỳ vừa qua (2018-2023), như Nghị quyết Đại hội XIII Công đoàn Việt Nam đã khẳng định: “Các cấp Công đoàn đã chủ động, tích cực đổi mới và nâng cao chất lượng tham gia xây dựng chính sách, pháp luật liên quan đến người lao động và hoạt động công đoàn; phát hiện, đề xuất nhiều kiến nghị, góp ý xây dựng luật để chăm lo, bảo vệ tốt hơn quyền lợi cho người lao động. Vai trò của Công đoàn trong việc tham gia xây dựng quan hệ lao động hài hòa, ổn định và tiến bộ trong doanh nghiệp tiếp tục được khẳng định…”.
Thông qua nhiều hoạt động đa dạng, phong phú, tổ chức Công đoàn giúp cho công nhân hiểu biết về hoạt động sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp; nâng cao năng suất lao động và chất lượng sản phẩm; nêu cao tinh thần trách nhiệm trong sản xuất và công tác; thi đua giỏi việc nước, đảm việc nhà, lao động sáng tạo; đồng thời, tuyên truyền trong công nhân, viên chức, người lao động về đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; nắm bắt tình hình tư tưởng, tâm tư, nguyện vọng của công nhân, viên chức, người lao động để kịp thời phản ánh, kiến nghị với Đảng, Nhà nước nghiên cứu, giải quyết;
Đồng thời, tuyên truyền, phổ biến chính sách, pháp luật về lao động, về tổ chức Công đoàn trong công nhân, viên chức, người lao động và người sử dụng lao động thuộc các thành phần kinh tế, nhất là ở khu vực kinh tế ngoài nhà nước và có vốn đầu tư nước ngoài…

Lan tỏa các gương điển hình tiên tiến, đóng góp vào sự phát triển của đất nước

 Những thành tựu trong 40 năm đổi mới của đất nước có đóng góp của các tập thể, cá nhân được vinh danh trong chương trình Vinh quang Việt Nam 2024. Ở các mức độ khác nhau, các gương điển hình này đã lan tỏa, truyền cảm hứng, tạo động lực cho xã hội.

Tác nhân thúc đẩy các phong trào thi đua yêu nước
Ông Ngọ Duy Hiểu – Phó Chủ tịch Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam (Tổng LĐLĐVN), Chủ tịch Hội đồng xét chọn nhân vật trong Chương trình Vinh quang Việt Nam 2024 – nhấn mạnh khi phát biểu tại buổi họp báo Vinh quang Việt Nam tôn vinh những anh hùng – điển hình tiên tiến với chủ đề “20 năm khơi nguồn sức mạnh Việt Nam”, diễn ra vào ngày 14.5. Buổi họp báo do Báo Lao Động tổ chức, dưới sự chỉ đạo của Tổng LĐLĐVN.
Với chủ đề “20 năm khơi nguồn sức mạnh Việt Nam”, Chương trình Vinh quang Việt Nam lần này sẽ vinh danh 20 tập thể, cá nhân xuất sắc, tiêu biểu trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội; đồng thời cũng sẽ nhìn lại chặng đường 20 năm tổ chức Công đoàn bền bỉ, liên tục tìm kiếm, vinh danh, nhân rộng những gương điển hình tiên tiến, góp phần quan trọng nuôi dưỡng, thúc đẩy các phong trào thi đua yêu nước, động viên công chức, viên chức, người lao động cả nước sáng tạo, cống hiến hết mình xây dựng một Việt Nam phồn vinh, hạnh phúc.
Ông Ngọ Duy Hiểu cho biết, 20 gương điển hình được lựa chọn lần này gắn với 20 năm tổ chức chương trình, các tập thể, cá nhân được chọn đều tiêu biểu, xứng đáng.
“Bên cạnh những tập thể được nhiều người biết đến rộng rãi thì có những người lao động trực tiếp, tận tụy làm việc trong nhà máy, ít được nhiều người biết đến trên các diễn đàn. Điều này thể hiện tính toàn diện của chương trình” – ông Ngọ Duy Hiểu thông tin.
Phó Chủ tịch Tổng LĐLĐVN đánh giá, trải qua 20 năm, Chương trình Vinh quang Việt Nam đã trở thành tác nhân rất quan trọng thúc đẩy các phong trào thi đua yêu nước, đổi mới đất nước.
Tự hào, xúc động khi được vinh danh
Chia sẻ niềm tự hào khi được vinh danh trong chương trình Vinh quang Việt Nam 2024, đại diện Công ty Cổ phần VinBrain – Tập đoàn Vingroup – cho biết, công ty có sứ mệnh đưa trí tuệ nhân tạo vào trong lĩnh vực kinh tế để nâng cao năng suất lao động, cải thiện cuộc sống.
“Tập đoàn Vingroup, trong đó có Công ty Cổ phần VinBrain đang sử dụng các nguồn lực, trong đó có công nghệ để đóng góp cho sự phát triển của nước. Sau khi được vinh danh lần này, chúng tôi rất mong sẽ có thêm sự quan tâm, hỗ trợ của cơ quan Nhà nước và cộng đồng để các sản phẩm về công nghệ sẽ tiến xa, vươn xa đến toàn cầu” – đại diện công ty cho biết.
Trong khi đó, NSƯT Kiều Minh Hiếu – Phó Giám đốc Nhà hát Kịch Việt Nam – cho biết, vô cùng xúc động khi nhận được thông tin Nhà hát kịch Việt Nam là 1 trong 10 tập thể được vinh danh trong Chương trình Vinh quang Việt Nam 2024.
Theo NSƯT Kiều Minh Hiếu, Vinh quang Việt Nam không phải là một giải thưởng mà có thể dễ dàng nhận được chỉ thông qua thời gian ngắn phấn đấu. Những tập thể được vinh danh đều trải qua thời gian dài cố gắng, tích lũy. Cá nhân người đứng đầu và đội ngũ nhân viên đều có sự cống hiến bền bỉ.
“Hiện tại, vai trò của nghệ sĩ Nhà hát kịch Việt Nam được thể hiện trên nhiều khía cạnh, nhiều yếu tố. Người nghệ sĩ của Nhà hát kịch Việt Nam không chỉ làm tốt chuyên môn, diễn tốt các đêm biểu diễn. Chúng tôi quan niệm người nghệ sĩ phải có sức lan tỏa, phải đóng góp vào những hoạt động của xã hội, phải tích lũy tri thức” – NSƯT Kiều Minh Hiếu nhấn mạnh.
* Tính đến năm 2024, đã có tổng số 294 tập thể, cá nhân được vinh danh qua 19 kỳ Vinh quang Việt Nam, trong đó có 110 tập thể, 184 cá nhân.
Chương trình Vinh quang Việt Nam năm 2024 sẽ được tổ chức trang trọng vào hồi 14h30 ngày Chủ Nhật (19.5.2023) tại Nhà hát Lớn Thành phố Hà Nội – số 1 Tràng Tiền, Hà Nội; phát sóng trực tiếp trên Báo Lao Động điện tử và Cổng Thông tin điện tử Công đoàn Việt Nam.
Danh sách các tập thể, cá nhân được vinh danh trong Chương trình Vinh Quang Việt Nam 2024
Tập thể:
1. Bộ Tư lệnh Cảnh sát Cơ động, Bộ Công an.
2. Tập đoàn Công nghiệp – Viễn thông Quân đội (Viettel).
3. Ngân hàng Chính sách Xã hội.
4. Cục thuế Doanh nghiệp lớn – Tổng cục Thuế.
5. Cục Gìn giữ hòa bình Việt Nam, Bộ Quốc phòng.
6. Công ty Cổ phần VinBrain – Tập đoàn Vingroup.
7. Vụ Ngoại giao Văn hóa và UNESCO – Bộ Ngoại giao.
8. Bệnh viện Trung ương Huế.
9. Nhà hát kịch Việt Nam.
10. Vườn Quốc gia Cúc Phương.
Cá nhân:
1. PGS.TS Nguyễn Trúc Lê – Bí thư Đảng ủy, Chủ tịch Hội đồng trường – Trường Đại học Kinh tế, Đại học Quốc gia Hà Nội.
2. Vận động viên Phạm Quang Huy – Đội tuyển Bắn súng quốc gia.
3. Bà Trần Thị Kim Thia – Chi hội phó Chi hội Phụ nữ ấp 4, xã Hưng Thạnh, huyện Tháp Mười, tỉnh Đồng Tháp.
4. Ông Trần Việt Hưng – kỹ sư Công ty TNHH Samsung Electronics Việt Nam Thái Nguyên.
5. Ông Nguyễn Quang Trường, Công nhân kỹ thuật, Trưởng bộ phận Đúc cán đồng nhôm, Công ty Cổ phần Cáp điện và Hệ thống LS Vina.
6. PGS.TS Đào Việt Hà – Viện trưởng Viện Hải dương học, Viện Hàn lâm Khoa học Công nghệ Việt Nam.
7. Ông Vũ Văn Tùng – Giáo viên Trường Tiểu học và THCS Đinh Núp, xã Pờ Tó, huyện Ia Pa, tỉnh Gia Lai.
8. Ông Đặng Dương Minh Hoàng – Chủ nhiệm Mạng lưới Lương Định Của toàn quốc; Giám đốc Nông trại Thiên Nông Bình Phước; Giám đốc Hợp tác xã Dịch vụ Nông nghiệp số Bình Phước.
9. Trung tá Nguyễn Chí Thành – Phó Đội trưởng, Đội Công tác chữa cháy và cứu nạn, cứu hộ, Phòng Cảnh sát phòng cháy, chữa cháy và cứu nạn, cứu hộ, Công an Thành phố Hồ Chí Minh.
10. PGS.TS Trần Minh Điển – Giám đốc Bệnh viện Nhi Trung ương.

QUAN ĐIỂM CỦA V.I.LENIN VỀ CỐNG HIẾN VĨ ĐẠI CỦA KARL MARX!

     Là người bảo vệ, kế thừa, bổ sung và phát triển sáng tạo Chủ nghĩa Marx trong điều kiện mới, chủ nghĩa tư bản chuyển từ tự do cạnh tranh sang chủ nghĩa đế quốc, đặc biệt là trong thời kỳ quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội trên phạm vi toàn thế giới đánh dấu bằng thắng lợi của Cách mạng Tháng Mười Nga vĩ đại, V.I.Lenin đã khái quát những cống hiến vĩ đại của Karl Marx đối với phong trào cộng sản và công nhân quốc tế!

Karl Marx là người sáng tạo ra Chủ nghĩa Marx
V.I.Lenin khẳng định cống hiến vĩ đại này là công lao to lớn của Karl Marx và Friedrich Engels, nhất là của Karl Marx. Mặc dù là người đồng sáng tạo ra học thuyết - Chủ nghĩa Marx nhưng thành quả vĩ đại này lại chỉ mang tên Karl Marx là sự khẳng định cống hiến lớn lao của Karl Marx; chính Friedrich Engels đã thừa nhận điều này và rất khiêm nhường coi mình là “cây vĩ cầm thứ hai, bên cạnh Marx”.

Hai phát kiến vĩ đại của Karl Marx là chủ nghĩa duy vật lịch sử, học thuyết giá trị thặng dư và phát hiện phạm trù sứ mệnh lịch sử toàn thế giới của giai cấp công nhân là “linh hồn”, hòn đá tảng của Chủ nghĩa Marx. Nhận xét cống hiến về mặt triết học, V.I.Lenin khẳng định “Chủ nghĩa duy vật lịch sử của Karl Marx là thành tựu vĩ đại nhất của tư tưởng khoa học” (1). Vận dụng lý luận chủ nghĩa duy vật lịch sử vào “giải phẫu” chủ nghĩa tư bản, Karl Marx và Friedrich Engels đã có phát kiến vĩ đại: Học thuyết giá trị thặng dư trong chủ nghĩa tư bản. Karl Marx đã làm một cuộc cách mạng trong lĩnh vực kinh tế - chính trị học, chỉ ra quy luật vận động kinh tế của chủ nghĩa tư bản, vạch trần “bí mật” của chế độ tư bản là bóc lột giá trị thặng dư do sức lao động của những người lao động làm thuê tạo ra. Bóc lột giá trị thặng dư là bản chất, mục tiêu cơ sở tồn tại của chủ nghĩa tư bản. Đó là nguồn gốc của mọi mâu thuẫn đối kháng và giai cấp tư sản không thể điều hòa giữa giai cấp vô sản, không thể giải quyết được trong phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa.

Từ hai phát kiến vĩ đại đó, Karl Marx đã tìm ra quy luật phát triển của lịch sử loài người, nhất là tìm ra quy luật vận động riêng của phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa. Từ đó, Karl Marx đã tìm ra sứ mệnh lịch sử toàn thế giới của giai cấp công nhân là lãnh đạo quần chúng nhân dân đấu tranh nhằm lật đổ chủ nghĩa tư bản để tự giải phóng mình, giải phóng toàn nhân loại và xây dựng xã hội xã hội chủ nghĩa. Vì vậy, V.I.Lenin nhấn mạnh “Điểm chủ yếu trong học thuyết Marx là ở chỗ nó làm sáng tỏ vai trò lịch sử thế giới của giai cấp vô sản là người xây dựng xã hội xã hội chủ nghĩa” (2).

V.I. Lenin khẳng định cống hiến nổi bật của Karl Marx trong việc thành lập tổ chức có tính chất quốc tế của giai cấp công nhân.
Với tài năng tổ chức xuất chúng của mình, trên cơ sở quan niệm đúng đắn về vai trò hoạt động thực tiễn và sứ mệnh lịch sử của giai cấp vô sản, Karl Marx và Friedrich Engels đã tích cực tham gia phong trào công nhân như: Thành lập Hội Công nhân Đức ở Brúc-xen; liên hệ với nhóm cách mạng trong phong trào Hiến chương ở Anh; cao trào cách mạng 1848-1849 ở Pháp và Đức v.v... Mong muốn của Karl Marx và Friedrich Engels là thành lập đảng của giai cấp vô sản. Hai ông cho rằng, nếu giai cấp vô sản không thành lập được chính đảng của mình thì không thể hành động độc lập và tự giải phóng được mình.

Hoạt động nỗ lực của Karl Marx và Friedrich Engels đã đưa đến việc cải tổ “Đồng minh những người chính nghĩa” thành “Đồng minh những người cộng sản” vào năm 1847. Khi thấy mọi điều kiện đã chín muồi, năm 1847, Karl Marx và Friedrich Engels nhận lời tham gia “Đồng minh những người chính nghĩa”. Việc cải tổ Đồng minh được thực hiện tại Đại hội lần thứ nhất vào tháng 6 năm 1847. Đại hội quyết định đổi tên là “Đồng minh những người cộng sản”; xây dựng một cơ quan báo chí; khai trừ những người theo Vâytơlinh ra khỏi đồng minh và thay châm ngôn “Tất cả mọi người đều là anh em” bằng khẩu hiệu “Vô sản tất cả các nước liên hiệp lại”; quy định nguyên tắc làm việc và tổ chức trên tinh thần tập trung dân chủ. Đồng minh những người cộng sản là một tổ chức công nhân quốc tế đầu tiên lấy Chủ nghĩa Marx làm ngọn cờ tư tưởng, đã mở ra quá trình kết hợp Chủ nghĩa Marx với phong trào công nhân.

Đại hội II của Đồng minh họp ở Luân Đôn vào cuối tháng 11 năm 1847. Đại hội thông qua điều lệ mới với những nội dung quan trọng như: mục đích hoạt động của Đồng minh là lật đổ giai cấp tư sản, xóa bỏ xã hội tư bản, giành chính quyền về tay giai cấp vô sản, xây dựng xã hội mới không có tư hữu về tư liệu sản xuất, không có giai cấp; quy định nguyên tắc tổ chức tập trung dân chủ v.v... Đại hội giao cho Karl Marx và Friedrich Engels nhiệm vụ quan trọng là soạn thảo bản Tuyên ngôn thành lập Đồng minh những người cộng sản. Đó chính là tác phẩm “Tuyên ngôn của đảng cộng sản” mà hai ông hoàn thành vào tháng 2 năm 1848.

“Tuyên ngôn của đảng cộng sản” là tác phẩm lý luận đánh dấu sự chín muồi ra đời Chủ nghĩa Marx, đồng thời cũng là bản cương lĩnh chính trị đầu tiên của giai cấp vô sản. Nó chỉ ra những nhiệm vụ chiến lược cơ bản của giai cấp công nhân. Tuyên ngôn khẳng định sự nghiệp giải phóng giai cấp công nhân là sự nghiệp của bản thân giai cấp công nhân và nó chỉ có thể thực hiện được với điều kiện: Vô sản tất cả các nước liên hiệp lại và đồng thời giải phóng cho toàn nhân loại. Tuyên ngôn chỉ ra rằng, trong cuộc đấu tranh để tự giải phóng, giai cấp vô sản phải lập ra chính đảng độc lập của mình và sử dụng con đường cách mạng bạo lực. Giai cấp vô sản trước hết phải tiêu diệt giai cấp tư sản nước mình. Ở những nước chưa làm cách mạng dân chủ tư sản, những người cộng sản có trách nhiệm ủng hộ mọi phong trào cách mạng chống chế độ đương thời, và tìm mọi cách liên minh với các lực lượng dân chủ tiến bộ. Trong quá trình liên minh, những người cộng sản phải giữ vững tính độc lập của mình. Cuối cùng bản Tuyên ngôn kêu gọi “Vô sản tất cả các nước liên hiệp lại”. Sự ra đời và ý nghĩa lịch sử, thời đại của “Tuyên ngôn của đảng cộng sản” được V.I.Lenin nhận xét: “Cuốn sách nhỏ ấy có giá trị bằng hàng bộ sách: tinh thần của nó, đến bây giờ vẫn cổ vũ và thúc đẩy toàn thể giai cấp vô sản có tổ chức và đang chiến đấu của thế giới văn minh” (3). Với những nội dung khoa học và cách mạng ấy, giai cấp vô sản toàn thế giới đã nghiên cứu Tuyên ngôn của Đảng cộng sản, coi đó là kim chỉ nam cho mọi hoạt động của mình.

Cùng với Friedrich Engels, Karl Marx có công lao to lớn trong việc thành lập Quốc tế I (Internationale Arbeiter Association) - Hội liên hiệp lao động quốc tế (Quốc tế I) - Là tổ chức quần chúng có tính chất quốc tế đầu tiên của giai cấp vô sản, được tổ chức vào năm 1864 tại hội nghị công nhân quốc tế ở Luân Đôn, do các công nhân Anh và Pháp triệu tập. Việc thành lập Quốc tế I là kết quả của cuộc đấu tranh ngoan cường nhiều năm của Karl Marx và Friedrich Engels nhằm thành lập đảng cách mạng của giai cấp công nhân. Karl Marx là người tổ chức và người lãnh đạo Quốc tế I, là tác giả thảo ra bản “Tuyên ngôn thành lập” của Quốc tế này, bản điều lệ và những tài liệu khác có tính chất cương lĩnh và sách lược. Như V.I.Lenin vạch rõ: “Quốc tế I đã đặt nền tảng cho cuộc đấu tranh vô sản, có tính chất quốc tế, để thực hiện chủ nghĩa xã hội” (4).

Nghiên cứu quan điểm của V.I.Lenin về cống hiến vĩ đại của Karl Marx nhân Kỷ niệm 206 năm Ngày sinh nhật Karl Marx (5-5-1818/5-5-2024) - Nhà bác học thiên tài, nhà tư tưởng, lãnh tụ vĩ đại của giai cấp công nhân toàn thế giới là dịp giai cấp công nhân, nhân dân lao động và lực lượng tiến bộ trên toàn thế giới tôn vinh, khắc cốt, ghi tâm và tri ân những cống hiến to lớn, nổi bật của Karl Marx; đồng thời, tiếp tục kiên trì con đường cách mạng mà Karl Marx đã tiên phong chỉ lối./.
----------------------------
(1) (2) V.I. Lênin, Toàn tập, tập 23, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, tr.54; tr.1.
(3) Sđd, tập 2, tr.10.
(4) Sđd, tập 38, tr.363.
Theo QĐND.
Yêu nước ST.

KARL MARX ĐẤU TRANH CHỐNG CHỦ NGHĨA CƠ HỘI VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ ĐẶT RA HIỆN NAY!

     Đã gần 180 năm kể từ khi còn là “bóng ma ám ảnh châu Âu” và trong suốt quá trình phát triển của mình, Chủ nghĩa Mác luôn vấp phải sự chống phá quyết liệt của những quan điểm phi mác-xít nói chung, của chủ nghĩa cơ hội trong phong trào cộng sản và công nhân quốc tế nói riêng!
Do vậy, Karl Marx và những người đồng chí của mình đã phải tiến hành cuộc đấu tranh quyết liệt chống lại các chủ nghĩa cơ hội dưới mọi màu sắc. Cuộc đấu tranh đó có ý nghĩa lý luận và thực tiễn to lớn, đồng thời đã để lại những bài học kinh nghiệm quý báu cho Đảng ta trong cuộc đấu tranh chống lại những biểu hiện cơ hội chủ nghĩa hiện nay.

Cuộc "đấu tranh sống mái"
Chủ nghĩa cơ hội ra đời đã gây ra những tác hại rất lớn đối với sự nghiệp cách mạng của giai cấp công nhân. Chính những tác động tiêu cực của chủ nghĩa cơ hội nên Karl Marx và những người đồng chí của mình đã phải tiến hành cuộc “đấu tranh sống mái”(1) chống lại chủ nghĩa cơ hội dưới nhiều màu sắc khác nhau như: Chủ nghĩa Proudhon, Lassalle, Bakunin... để phong trào công nhân quốc tế mau chóng hồi phục và phát triển.

Thứ nhất, đấu tranh chống Chủ nghĩa Proudhon. Chủ nghĩa Proudhon là chủ nghĩa cải lương và trào lưu vô chính phủ lưu hành trong phong trào công nhân Pháp từ những năm 40 đến những năm 90 của thế kỷ 19, đại biểu là P.J.Proudhon. Đứng trên lập trường của tầng lớp tiểu tư sản, Proudhon kịch liệt phản đối các cuộc đấu tranh của giai cấp công nhân chống lại chế độ tư bản. Ông đã ảo tưởng cải tạo xã hội một cách hòa bình và đưa ra tư tưởng cải cách dần dần từ bên trên. Với những quan điểm của mình, Chủ nghĩa Proudhon đã gây trở ngại nghiêm trọng cho sự truyền bá chủ nghĩa xã hội khoa học trong phong trào cộng sản, công nhân quốc tế lúc bấy giờ. Trước tình hình đó, Karl Marx đã viết nhiều tác phẩm: "Bản thảo kinh tế-triết học" (1844), "Hệ tư tưởng Đức" (1846), "Sự khốn cùng của triết học" (1847), "Bàn về Proudhon" (1865)... phê phán nghiêm khắc lý luận vô sách lược của Chủ nghĩa Proudhon. Karl Marx trình bày những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa xã hội khoa học, phê phán lý luận “cách mạng xã hội” của Chủ nghĩa Proudhon. Karl Marx đã chỉ ra sự ảo tưởng trong việc cải tạo xã hội một cách hòa bình và chứa đầy mâu thuẫn về mặt lý luận của Proudhon. Trong khi phê phán Proudhon, Karl Marx đã lập luận học thuyết đấu tranh giải phóng giai cấp vô sản, đó là sự thống nhất giữa đấu tranh kinh tế và đấu tranh chính trị nhằm cải thiện đời sống sinh hoạt vật chất tiến tới giải phóng bản thân, lật đổ nền thống trị của giai cấp tư sản. Cuộc đấu tranh của những người sáng lập Chủ nghĩa Mác chống chủ nghĩa vô chính phủ của Proudhon kéo dài suốt mấy chục năm, tới khi Công xã Paris thất bại mới triệt để xóa bỏ được nó. Và từ đây, chủ nghĩa cơ hội Proudhon đã không còn ảnh hưởng gì trong phong trào cộng sản và công nhân quốc tế.

Thứ hai, đấu tranh chống Chủ nghĩa Lassalle. Chủ nghĩa Lassalle hình thành ở nước Đức vào những năm 60 của thế kỷ 19, là trào lưu cơ hội chủ nghĩa mà đứng đầu là F.Lassalle (1825-1864). Đây là một trào lưu cơ hội chủ nghĩa có ảnh hưởng xấu đến sự phát triển của phong trào công nhân Đức và phong trào công nhân quốc tế. Bên cạnh việc tuyên truyền cái gọi là “quy luật sắt về tiền công”, Lassalle cổ vũ cho quan điểm duy tâm chủ nghĩa về nhà nước, kêu gọi thực hiện chủ nghĩa xã hội thông qua quyền phổ thông đầu phiếu, biến nhà nước chuyên chế Phổ thành “nhà nước tự do”, sau đó, nhà nước ấy sẽ đem tiền của dùng vào chiến tranh để xây dựng các hợp tác xã, làm cho công nhân thoát khỏi nghèo khổ. Tư tưởng của F.Lassalle thực tế là thỏa hiệp và theo đuôi giai cấp tư sản. Karl Marx đã viết tác phẩm "Phê phán Cương lĩnh Gotha"(1875), phê phán những sai lầm thỏa hiệp, hữu khuynh vô nguyên tắc của những người lãnh đạo Đảng Dân chủ xã hội Đức, vạch trần bản chất cơ hội, cải lương của phái Lassalle. Karl Marx đã vạch trần tính chất sai lầm và phản động của F.Lassalle trên nhiều vấn đề; trong đó, ông phê phán luận điểm nhảm nhí về “nhà nước tự do” dựa theo quan điểm siêu giai cấp của Lassalle. Cũng thông qua cuộc đấu tranh này, Karl Marx đã phát triển lý luận về hình thái kinh tế-xã hội cộng sản chủ nghĩa, làm nổi bật tính tất yếu, vai trò lịch sử của chuyên chính vô sản và phát triển thêm một bước học thuyết về nhà nước.

Thứ ba, đấu tranh chống chủ nghĩa vô chính phủ Bakunin. Chủ nghĩa Bakunin là một trào lưu tư tưởng chính trị tiểu tư sản và chủ nghĩa vô chính phủ có ảnh hưởng rộng rãi nhất trong phong trào cộng sản và công nhân quốc tế vào những năm 70 của thế kỷ 19. Bakunin đòi xóa bỏ mọi hình thức chính quyền, kể cả chuyên chính vô sản bằng các cuộc bạo động có tính chất âm mưu; khước từ mọi hoạt động chính trị của giai cấp công nhân... Cuộc đấu tranh của Karl Marx chống lại tư tưởng cơ hội tiểu tư sản và vô chính phủ của Bakunin được đưa lên hàng đầu trong Quốc tế I. Karl Marx đã chỉ ra tư tưởng của Bakunin là “sai lầm về mặt lý luận và phản động về mặt thực tiễn”, dẫn giai cấp công nhân đi theo chủ nghĩa cải lương. Ông chỉ ra rằng không thể thủ tiêu chủ nghĩa tư bản bằng việc xóa bỏ quyền thừa kế mà phải sử dụng chuyên chính vô sản. Thông qua sự đấu tranh quyết liệt của mình, Karl Marx đã đánh bại Chủ nghĩa Bakunin và năm 1872 khai trừ Bakunin ra khỏi Quốc tế I, đồng thời đưa Chủ nghĩa Mác phát triển lên một tầm cao mới trong lý luận về nhà nước chuyên chính vô sản.

Có thể nói, Karl Marx đã tiến hành cuộc đấu tranh triệt để chống lại chủ nghĩa cơ hội trong những năm 1844-1873 và đã bác bỏ gần như toàn bộ học thuyết cơ hội trong giai đoạn đầu của phong trào cộng sản và công nhân quốc tế. Cuộc đấu tranh này có ý nghĩa lý luận và thực tiễn sâu sắc, góp phần đưa phong trào công nhân quốc tế phát triển đúng hướng. Đồng thời còn tạo ra một bước phát triển vượt bậc của hệ tư tưởng vô sản, ngày càng khẳng định tính đúng đắn, khoa học của học thuyết này, tạo cơ sở vững chắc cho những thắng lợi của các cuộc cách mạng vô sản sau này.

Những vấn đề đặt ra đối với đấu tranh chống tư tưởng, biểu hiện cơ hội chủ nghĩa ở Việt Nam hiện nay
Trong Đảng ta hiện nay chưa có chủ nghĩa cơ hội như thời của Karl Marx, tức là chưa có những trào lưu tư tưởng, học thuyết hay một tổ chức công khai đối lập với Đảng, tuy nhiên, những tư tưởng, biểu hiện cơ hội chủ nghĩa xuất hiện dưới những mức độ, tính chất khác nhau. Biểu hiện cơ hội chủ nghĩa ở trong Đảng ta thể hiện dưới những dạng cơ hội chính trị và cơ hội thực dụng mà Hội nghị lần thứ tư Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa XII) chỉ ra đó là 27 biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, các biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ. Những t­ư t­ưởng, biểu hiện cơ hội chủ nghĩa đã và đang làm giảm sút năng lực lãnh đạo, năng lực cầm quyền, sức chiến đấu của các tổ chức đảng, đe dọa tới sự tồn vong của chế độ. Do vậy, kế thừa những bài học, kinh nghiệm từ cuộc đấu tranh của Karl Marx chống chủ nghĩa cơ hội, để có thể ngăn chặn, đẩy lùi những biểu hiện cơ hội chủ nghĩa ở nước ta hiện nay, cần phải tập trung giải quyết những vấn đề sau:
Một là, cần giáo dục, nâng cao nhận thức, trách nhiệm cho đội ngũ cán bộ, đảng viên và quần chúng nhân dân trong đấu tranh chống những tư tưởng, biểu hiện cơ hội chủ nghĩa. Cho dù các phần tử cơ hội chủ nghĩa dưới nhiều màu sắc, song chúng đều có một trong 27 biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”. Do đó, cần tuyên truyền, giáo dục để đội ngũ cán bộ, đảng viên và nhân dân phát hiện ra những phần tử cơ hội chủ nghĩa trong Đảng, thấy rõ tác hại của chúng, trên cơ sở đó, nâng cao trách nhiệm trong đấu tranh phòng, chống những phần tử cơ hội chủ nghĩa, góp phần xây dựng Đảng và hệ thống chính trị trong sạch vững mạnh.

Hai là, phải có thái độ đấu tranh dứt khoát, kiên quyết, triệt để, không khoan nhượng với những tư tưởng, biểu hiện cơ hội chủ nghĩa. Các phần tử cơ hội chủ nghĩa như những “ung nhọt”, “vi trùng rất độc”, “khối u ác tính”; là một tai họa hiển nhiên, do vậy, toàn Đảng cần đấu tranh chống lại chúng ở mọi nơi, mọi lúc; trên tất cả lĩnh vực; không cho chúng cơ hội trở thành một chủ nghĩa, một trào lưu tư tưởng có ảnh hưởng lớn tới sự nghiệp cách mạng. Cần phải có thái độ rõ ràng, đấu tranh một cách kịp thời, triệt để, dứt khoát, không cho chúng có “mảnh đất” để tồn tại. Kiên quyết xử lý, loại bỏ chúng dù ở bất cứ vị trí nào, cần “tẩy rửa chất mủ ấy đi càng nhanh và càng kỹ chừng nào càng tốt chừng nấy, dù cho việc mổ xẻ ấy có làm cho ta phải tạm thời chịu đau đớn kịch liệt đi nữa”(2).

Ba là, xác định nội dung, phư­ơng pháp, hình thức phù hợp để đấu tranh hiệu quả với các biểu hiện cơ hội chủ nghĩa. Cuộc đấu tranh chống các phần tử cơ hội chủ nghĩa phải đư­ợc tiến hành trên mọi mặt trận, ở mọi nơi, từ đấu tranh lý luận đến đấu tranh thực tiễn. Nâng cao chất lượng công tác tư tưởng lý luận, đẩy mạnh tổng kết thực tiễn, nghiên cứu lý luận. “Tăng cường bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, kiên quyết và thường xuyên đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch, cơ hội chính trị; đấu tranh, ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ” (3). Kết hợp chặt chẽ giữa nâng cao chất lượng giáo dục, rèn luyện đội ngũ đảng viên với thực hiện nghiêm túc các khâu, các bước trong công tác cán bộ, thực hiện tốt công tác bảo vệ chính trị nội bộ. Kết hợp chặt chẽ giữa tự phê bình và phê bình trong nội bộ với công tác kiểm tra, giám sát của cấp ủy, ủy ban kiểm tra các cấp, sự giám sát của các phương tiện thông tin đại chúng, của quần chúng nhân dân và công tác thanh tra, điều tra, xét xử của các cơ quan chức năng. Qua đó kịp thời phát hiện, ngăn chặn, loại bỏ những phần tử cơ hội chủ nghĩa “luồn sâu, leo cao” vào trong bộ máy của Đảng.

Nói tóm lại, cuộc đấu tranh chống chủ nghĩa cơ hội của Karl Marx đã để lại những ý nghĩa cả về lý luận và thực tiễn hết sức sâu sắc, trong đó chỉ dẫn cho cuộc đấu tranh phòng, chống những tư tưởng, biểu hiện cơ hội chủ nghĩa trong Đảng ta hiện nay. Để đấu tranh chống các phần tử cơ hội chủ nghĩa đòi hỏi cần phải xây dựng Đảng trong sạch vững mạnh cả về chính trị, tư tưởng, đạo đức, tổ chức và cán bộ, không ngừng nâng cao năng lực lãnh đạo, năng lực cầm quyền và sức chiến đấu của Đảng. Có như vậy, Đảng mới tăng cường “sức đề kháng” và đủ sức loại bỏ được những phần tử cơ hội chủ nghĩa ra khỏi bộ máy./.
------------------------------------
(1) K.Marx và F.Engels, Toàn tập, tập 4, NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 1995, tr.58
(2) V.I.Lenin, Toàn tập, tập 27, NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2005, tr.154
(3) Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, tập 1, NXB Chính trị Quốc gia-Sự thật, Hà Nội, 2021, tr.183.
Theo QĐND.
Yêu nước ST.

ĐỪNG QUÁ SÍNH NGOẠI!

         Thấy ông Phi, bạn hàng xóm đang lúi húi gấp đồ cho vào ba lô có vẻ chuẩn bị đi xa, ông Tài ngạc nhiên hỏi:
- Ông Phi định đi đâu mà thấy chuẩn bị đồ đạc lỉnh kỉnh thế?

- À, tôi đang chuẩn bị đồ để trưa nay lên thành phố trông cháu giúp vợ chồng con trai út. Rõ khổ! Đang đi học tự nhiên trường vỡ nợ, có nguy cơ giải tán, giờ bố mẹ chúng chẳng biết gửi con ở đâu?

Ông Tài hỏi dồn:

- Có phải cháu nội của ông học cái trường quốc tế gì đó mà mấy hôm nay trên ti vi nhắc đến liên tục không ông?

- Đúng rồi! Trường đó tên toàn tiếng nước ngoài nên tôi cũng không nhớ.

- Cái trường ấy tôi thấy có dấu hiệu lừa đảo đấy ông ạ! Khổ thân các cháu học sinh, đang yên đang lành tự nhiên lại chẳng được đi học nữa. Mà nói thật với ông, tôi chẳng thích mấy cái trường sính ngoại quá ấy đâu!

- Sao ông lại nói thế? Tôi thấy mô hình trường quốc tế hiện cũng khá phổ biến và có những mặt tích cực mà. Cơ bản là do chế tài, cách quản lý của ta thôi!

- Thì tôi thấy trường đó đặt trên đất nước ta, dạy các cháu người Việt Nam mà cả giáo viên lẫn học sinh đều chỉ giao tiếp bằng tiếng nước ngoài, lại còn bỏ không dạy Lịch sử là môn rất quan trọng đối với mỗi người Việt Nam. Như thế, chẳng có nguy cơ làm các cháu học sinh "mất gốc", không biết về lịch sử, truyền thống, văn hóa dân tộc; thậm chí gây nguy hại cho nước nhà hay sao? 

- Ông nói lạ! Làm gì có chuyện trường học mở trên nước mình mà lại không sử dụng ngôn ngữ của ta? Mà môn Lịch sử quan trọng thế, tôi nghĩ trường nào chẳng phải dạy, nhất là đối với các cháu học sinh tiểu học.

Thấy bạn vẫn nghi ngờ, ông Tài liền mở điện thoại, bấm bấm một hồi rồi đưa cho bạn:

- Đấy, ông đọc đi! Thông tin trên trang chủ của nhà trường do họ giới thiệu đấy nhé!

Ông Phi đọc một lượt phần giới thiệu của nhà trường, rồi hốt hoảng:

- Chết thật! Sao trường dạy cho thế hệ trẻ người Việt mà lại không sử dụng tiếng Việt nhỉ? Đã thế còn không đưa môn Lịch sử vào giảng dạy nữa? Như vậy làm sao mà đám trẻ thấm nhuần, hun đúc được tinh thần, cốt cách của người Việt Nam mình? Thảo nào lần trước cháu về quê, tôi dắt đến thăm mấy di tích lịch sử gần nhà thờ các anh hùng dân tộc, thấy cháu hờ hững lắm. Hỏi về các vị anh hùng, tướng lĩnh lừng danh của dân tộc mà cháu trả lời rất mù mờ, nhầm lẫn lung tung...

- Khi xem ti vi, lúc đầu, tôi cũng ngạc nhiên lắm, nhưng sau tìm hiểu mới biết, có một số trường khác cũng đang áp dụng phương pháp giảng dạy này. Thành thử nhiều học sinh mù tịt về lịch sử cha ông, truyền thống dân tộc. Cứ đà này, tôi lo sẽ có nhiều cháu thiếu tinh thần yêu nước, tự tôn dân tộc, rỗng kiến thức lịch sử, văn hóa Việt, rồi chỉ nhìn đất nước, quê hương bằng ánh mắt tiêu cực... 

- Đúng vậy ông ạ! Ông nói làm tôi cũng thấy lo lắng. Chiều nay tôi phải góp ý với vợ chồng thằng út tìm trường khác cho con học! Trường quốc tế cũng tốt, hội nhập cũng tốt, nhưng vẫn phải giữ được nền tảng, cốt cách của người Việt Nam mình chứ ông nhỉ? Tiếng nước mình không thạo, lịch sử nước nhà không biết thì có giỏi đến đâu cũng chẳng trông mong gì đâu!
Yêu nước ST.

Lớp bồi dưỡng kiến thức QPAN khoá 95, Học viện Quốc phòng tọa đàm về phát triển kinh tế-xã hội, củng cố quốc phòng-an ninh trên địa bàn miền Trung-Tây Nguyên

Nhân chuyến thực tế tại Gia Lai, chiều 13-5, tại Công ty 74, đoàn công tác Học viện Quốc phòng phối hợp với Binh đoàn 15 tổ chức tọa đàm về thực hiện nhiệm vụ quân đội tham gia phát triển kinh tế-xã hội gắn với củng cố quốc phòng-an ninh trên địa bàn miền Trung-Tây Nguyên.

Đồng chí Thượng tướng, PGS, TS Trần Việt Khoa-Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Ủy viên Quân ủy Trung ương, Giám đốc Học viện Quốc phòng và Thiếu tướng Hoàng Văn Sỹ-Tư lệnh Binh đoàn 15 chủ trì buổi tọa đàm.

Buổi tọa đàm đã ghi nhận nhiều ý kiến đóng góp, thảo luận từ đại diện lớp bồi dưỡng kiến thức quốc phòng và an ninh khóa 95 về việc thực hiện nhiệm vụ quân đội tham gia phát triển kinh tế-xã hội gắn với củng cố quốc phòng-an ninh trên địa bàn miền Trung-Tây Nguyên của Binh đoàn 15 trong thời gian qua và định hướng những năm tiếp theo.

Nhân dịp này, đoàn công tác của Học viện Quốc phòng đã trao tặng 10 máy lọc nước, 2 tủ lạnh cho các điểm trường của Trường Mầm non Hoa Hồng thuộc Công ty 74; tặng 60 suất quà cho 60 già làng, trưởng thôn có uy tín trên địa bàn Binh đoàn 15 đứng chân. Tổng giá trị quà tặng gần 200 triệu đồng.

NGĂN NGỪA SUY THOÁI TỪ LỐI SỐNG SÍNH NGOẠI, BÀI NỘI!

     Sự việc một trường quốc tế ở phía Nam cho học sinh đọc tài liệu tham khảo bằng truyện khiêu dâm đã gây xôn xao dư luận những ngày qua. Hồi chuông báo động về tình trạng lệch chuẩn trong giáo dục có yếu tố quốc tế lại tiếp tục được gióng lên. Trên thực tế, tư duy và lối sống kiểu sính ngoại, bài nội đã gây ra nhiều hệ lụy, nhưng không phải ai cũng nhận ra...

Xin kể chuyện này...
17 năm trước, khi vừa chuyển công tác từ Cần Thơ về TP Hồ Chí Minh, tôi được một người anh trong nghề mời đến nhà chơi. Lúc bấy giờ, gia đình anh là một mẫu hình lý tưởng đối với chúng tôi. Anh chị có địa vị xã hội, kinh tế vững, hai con đều học trường quốc tế. Trong bữa cơm gia đình, anh chị khuyên chúng tôi nên cho con đi học trường quốc tế để các cháu có tương lai tươi sáng. “Ở đó họ dạy toàn bằng tiếng Anh, chương trình đào tạo theo chuẩn quốc tế.

Học sinh bước vào cổng trường là không được nói tiếng Việt. Em nào vi phạm sẽ bị thầy cô giáo nhắc nhở, kiểm điểm ngay. Nhờ đó mà kỹ năng tiếng Anh của các cháu phát triển rất nhanh. Về nhà, anh chị cũng khuyến khích các cháu giao tiếp bằng tiếng Anh. Mình học theo con nên kỹ năng sử dụng tiếng Anh của anh vào loại tốt nhất ở cơ quan đấy”-anh nói, đầy tự hào và hãnh diện!

Hai con của anh chị khi lớn lên lại tiếp tục được đầu tư cho đi du học, rồi ở lại nước ngoài làm việc, định cư, lấy vợ Tây, chồng Tây. Đến nay, anh chị đã có 4 cháu, cả nội lẫn ngoại. Mới đây, anh bị bệnh phải điều trị dài ngày ở bệnh viện. Chúng tôi vào thăm, anh chị buồn bã dốc bầu tâm sự rằng, đến bây giờ anh chị mới thấm thía và trả giá đắt cho lối suy nghĩ sính ngoại, bài nội của mình. Tuổi cao, sức yếu, bệnh tật, anh chị phải tự lo cho nhau.

Thuê người giúp việc thì cũng chỉ đỡ được phần nào. Con cháu định cư ở nước ngoài, vài ba năm mới lần lượt về quê thăm cha mẹ, ông bà được một lần. Mỗi lần về, chúng đều ở khách sạn. Tiếp cận với môi trường giáo dục bằng tiếng Anh từ nhỏ, nếp nghĩ và lối sống của các con, các cháu của anh chị đã “quốc tế hóa” hoàn toàn. Chúng xa lạ với phong tục, nền nếp gia phong, thậm chí 4 đứa cháu dù đã lớn nhưng không đứa nào nói được tiếng Việt.

Ông bà ngồi bên cháu mà như hai thế giới xa lạ, từ hình dáng bề ngoài đến bất đồng ngôn ngữ, khác biệt văn hóa. Tình cảm máu mủ ruột rà, vì thế, thật khó để gắn kết thân mật. Cái sự “mất gốc” của văn hóa do sính ngoại, bài nội đến từ rất sớm và hệ lụy của nó cứ âm ỉ, kiểu “mưa dầm thấm lâu”. Đến lúc nhận ra thì đã quá muộn, không còn cơ hội cứu vãn được nữa. “Tiền nhiều để làm gì? Con cái thành đạt để làm gì? Bây giờ tôi chỉ ước ao có được những khoảnh khắc bình yên, ấm áp bên con cháu, sum vầy không khí gia đình. Nhưng ước ao ấy giờ là xa xỉ rồi. Chú cứ lấy câu chuyện của nhà tôi ra mà viết, để giúp những người còn có tư tưởng sính ngoại, bài nội sớm tỉnh ngộ. Chú đừng bêu tên anh chị lên mặt báo là được!”. Lời tâm sự đẫm nước mắt của người ở tuổi ngấp nghé “cổ lai hy” khiến chúng tôi bùi ngùi...

Giáo dục “khai phóng” và bài học từ gia đình, nhà trường đến xã hội
Chuyện sính ngoại dẫn đến “mất gốc” nền nếp gia phong, truyền thống tiên tổ xảy ra không hiếm trong thời đại ngày nay. Nhưng vì nó thuộc yếu tố cảm tính nên một bộ phận không nhỏ trong đời sống xã hội cứ coi đó là chuyện của mỗi nhà. Sự chia sẻ, nếu có, cũng chỉ mang tính riêng tư. Tuy nhiên, trong mối quan hệ gia đình-nhà trường-xã hội, bất cứ một biểu hiện lệch chuẩn nào cũng đều có tác động qua lại lẫn nhau.

Tại Hội nghị văn hóa toàn quốc năm 2021, Đảng ta đã nhấn mạnh, cảnh báo về tình trạng một bộ phận cán bộ, đảng viên, người làm công tác văn hóa chưa coi trọng đúng mức và có biện pháp tích cực để giữ gìn, bảo vệ, phát huy những giá trị văn hóa tốt đẹp, đặc sắc của dân tộc. Nhiều khi bắt chước nước ngoài một cách nhố nhăng, phản cảm, không có chọn lọc... Đó cũng chính là những biểu hiện của lối sống sính ngoại, bài nội. Nó xuất phát từ chiếc nôi gia đình, ảnh hưởng từ môi trường giáo dục (đặc biệt là giáo dục ngoài công lập, hợp tác giáo dục có yếu tố nước ngoài).

Với việc hô hào những thứ được xưng tụng, khoa trương như là những “triết lý giáo dục”, kiểu: “Khai phóng”, “tự do”, “không giới hạn”... không ít đơn vị giáo dục quốc tế đã tuyệt đối hóa yếu tố quốc tế, coi nhẹ, sao nhãng, thậm chí là bỏ qua các tiêu chí, nội dung giáo dục quốc nội. Đơn cử như lễ khai giảng, tổng kết, bế giảng... nhiều trường không tổ chức cho giáo viên, học sinh hát Quốc ca; trang trí khánh tiết không có Quốc kỳ, tượng Bác Hồ; thay vào đó là những hình ảnh, biểu trưng của cái gọi là “khai phóng”, “tự do”, “không giới hạn”... theo văn hóa phương Tây.

Khi con em của chúng ta được giáo dục ngay trên chính quê hương mình mà lại khước từ tinh túy, tinh hoa của văn hóa truyền thống, thì hệ lụy đối với tương lai là rất khó lường. Nó không chỉ khiến cha mẹ “mất” con, gia đình mất nền nếp gia phong, mà vốn quý của đất nước, bản sắc văn hóa của dân tộc... cũng bị phai nhạt. Như vậy, sính ngoại, bài nội cũng là một dạng biểu hiện suy thoái phẩm chất đạo đức, lối sống. Nếu chúng ta không tỉnh ngộ, cứ để nó “mưa dầm thấm lâu” thì nguy cơ “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” là một bước ngắn, thậm chí rất ngắn, nguy hại cho Đảng, cho đất nước.

Thời gian gần đây, trên một số nền tảng mạng xã hội lan truyền video clip của một người trẻ tự xưng là du học sinh Việt Nam tại Mỹ. Trong video clip này, cô gái tự nhận mình là người đã được “mở mang” đầu óc, tầm nhìn khi ra nước ngoài du học, nghiên cứu. Bên cạnh ca ngợi hết lời cái hay, cái đẹp nơi xứ người, cô quay sang chỉ trích người Việt, chê bai văn hóa Việt, xuyên tạc chính sách hòa hợp dân tộc của Đảng, Nhà nước; phủ nhận công lao của thế hệ ông cha trong đấu tranh giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước...

Những gì cô gái nói đều là những luận điệu xuyên tạc cũ rích của các thế lực thù địch ở hải ngoại. Tuy nhiên, khi được thốt ra từ miệng của một người trẻ đi du học, tính chất của nó đã khác đi nhiều. Nhận thức chính trị mơ hồ, yếu bản lĩnh, dễ dao động, ngả nghiêng... là những biểu hiện của suy thoái trong một bộ phận người trẻ. Nó xuất phát từ kiểu sính ngoại, bài nội trong công tác giáo dục và tự giáo dục, từ gia đình đến nhà trường và xã hội...

Ngăn ngừa bằng cách nào?
Ở đâu, môi trường nào dễ xuất hiện mầm mống suy thoái thì phải có các hình thức, giải pháp phòng ngừa, ngăn chặn ngay ở nơi đó. Trước hết, cần phải khẳng định, việc đẩy mạnh hợp tác giáo dục, trong đó có mô hình các trường quốc tế, là một tất yếu trong xu thế hội nhập. Giáo dục quốc tế không có lỗi. Lỗi là ở những hạn chế, bất cập trong phương thức quản lý, điều hành.

Câu chuyện ở một trường quốc tế cấp cho học sinh tài liệu tham khảo là truyện khiêu dâm khiến dư luận xôn xao, phụ huynh bất bình vừa qua là một ví dụ. Nó thể hiện những “khoảng trắng”, “khoảng trống” trong công tác quản lý, giám sát của cơ quan có thẩm quyền và tư duy giáo dục của hội đồng quản trị, ban giám hiệu, đội ngũ giáo viên của đơn vị giáo dục đó. Nếu chúng ta tiếp tục coi nhẹ, buông lỏng trong quản lý, giám sát, chấn chỉnh... thì cái “sảy” sẽ nảy cái “ung”. Mầm mống suy thoái trong môi trường giáo dục sẽ nảy nở, phát sinh từ những “việc nhỏ”, tích tụ dần thành hệ lụy khó lường.

Văn kiện Đại hội XIII của Đảng đã xác định rõ chiến lược phát triển giáo dục, đào tạo là: Chú trọng giáo dục phẩm chất, năng lực sáng tạo và các giá trị cốt lõi, nhất là giáo dục tinh thần yêu nước, tự hào, tự tôn dân tộc, khơi dậy khát vọng phát triển, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc... Như vậy, cho dù là giáo dục công lập hay ngoài công lập, các nhà quản lý và các đơn vị giáo dục đều phải có trách nhiệm, bổn phận thấm nhuần phương châm, định hướng giáo dục.

Đặc biệt, cái gốc của vấn đề vẫn là từ gia đình. Tại Hội nghị văn hóa toàn quốc năm 2021, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng trong bài phát biểu chỉ đạo hội nghị đã nhấn mạnh yêu cầu cán bộ, đảng viên phải giữ lấy “nếp nhà”, giữ lấy “chân quê”! Đó là cách tu từ để nói về tầm quan trọng của việc giữ gìn nền nếp gia phong, truyền thống, bản sắc văn hóa dân tộc trong giáo dục, bồi dưỡng thế hệ cách mạng cho đời sau. Khi một bộ phận phụ huynh, nhất là những gia đình có điều kiện về kinh tế vẫn cứ sính ngoại, bài nội trong định hướng, giáo dục con cái, thì những câu chuyện buồn như trên vẫn còn phổ biến. Mầm mống suy thoái cũng từ đó mà ra...
Yêu nước ST.