Thứ Tư, 15 tháng 5, 2024

Đảng Cộng sản Việt Nam và niềm tin hiện thực hóa khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc

 

Đảng Cộng sản Việt Nam và niềm tin hiện thực hóa khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc

PGS, TS TRẦN THỊ THU HƯƠNG
Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh
10:46, ngày 08-03-2024

TCCS - Mùa Xuân năm 1930, Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời - một sự kiện trọng đại đã tạo ra bước ngoặt căn bản, làm thay đổi cả vận mệnh dân tộc, thân phận của người dân và vị thế của quốc gia Việt Nam. Những thắng lợi vĩ đại, những thành tựu đáng tự hào của đất nước dưới sự lãnh đạo của Đảng trong 94 năm qua chính là niềm tin, là nhân tố cơ bản để toàn thể dân tộc tiếp tục hiện thực hóa khát vọng đưa đất nước phát triển phồn vinh, hạnh phúc trong giai đoạn mới.

Những bước ngoặt căn bản của cách mạng Việt Nam từ khi Đảng ra đời đến nay

Giữa thế kỷ XIX đến đầu thế kỷ XX, khi thực dân Pháp xâm lược và đặt ách thống trị trên đất nước ta, các phong trào yêu nước Việt Nam liên tục diễn ra, nhưng đều lâm vào khủng hoảng, bế tắc về đường lối cứu nước. Trước bối cảnh đó, ngày 3-2-1930, Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời, với Cương lĩnh chính trị đúng đắn đã đáp ứng kịp thời đòi hỏi của phong trào yêu nước của nhân dân Việt Nam. Đánh giá về sự kiện này, Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: “Việc thành lập Đảng là một bước ngoặt vô cùng quan trọng trong lịch sử cách mạng Việt Nam ta. Nó chứng tỏ rằng giai cấp vô sản ta đã trưởng thành và đủ sức lãnh đạo cách mạng”(1). Ngay từ khi ra đời, Đảng đã thực sự trở thành người lãnh đạo, đưa cách mạng Việt Nam vượt qua muôn vàn khó khăn, thử thách, từng bước đi lên, làm nên những kỳ tích vĩ đại trong lịch sử dân tộc Việt Nam, đáp ứng khát vọng của nhân dân Việt Nam và phù hợp với xu thế phát triển của lịch sử. Cương lĩnh chính trị đầu tiên của Đảng đã thể hiện bản lĩnh chính trị độc lập, tự chủ, sáng tạo trong việc xác định đường lối chiến lược và sách lược của cách mạng Việt Nam; đồng thời, xác định phương pháp cách mạng, nhiệm vụ cách mạng và lực lượng của cách mạng để thực hiện đường lối chiến lược và sách lược đã đề ra. Lần đầu tiên, cách mạng Việt Nam có một cương lĩnh chính trị đáp ứng những nhu cầu cơ bản và cấp bách của xã hội Việt Nam, phù hợp với xu thế của thời đại, định hướng chiến lược đúng đắn cho tiến trình phát triển của cách mạng Việt Nam; trong đó, mục tiêu, lý tưởng của Đảng phù hợp, đáp ứng đúng nguyện vọng của giai cấp công nhân, các tầng lớp nhân dân lao động và của toàn dân tộc, đó là: “Làm cho nước Nam được hoàn toàn độc lập”(2), “Thâu hết ruộng đất của đế quốc chủ nghĩa làm của công chia cho dân cày nghèo”(3). Chính vì vậy, chỉ sau 15 năm đi theo con đường cách mạng được Đảng hoạch định trong Cương lĩnh chính trị đầu tiên, với sự bổ sung, hoàn thiện về con đường cách mạng giải phóng dân tộc (qua Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương tháng 11-1939; tháng 11-1940 và Hội nghị lần thứ 8 khóa I của Ban Chấp hành Trung ương Đảng (tháng 5-1941)), dân tộc Việt Nam đã giành được thắng lợi vĩ đại - Cách mạng Tháng Tám năm 1945 thành công. Cách mạng Tháng Tám năm 1945 đã đập tan ách thống trị của thực dân, phong kiến, lập nên nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa - một nhà nước kiểu mới, nhà nước dân chủ nhân dân đầu tiên ở Đông Nam Á -  đưa dân tộc Việt Nam tiến vào kỷ nguyên độc lập, tự do: “... lần đầu tiên trong lịch sử cách mạng của các dân tộc thuộc địa và nửa thuộc địa, một Đảng mới 15 tuổi đã lãnh đạo cách mạng thành công, đã nắm chính quyền toàn quốc(4).

Thiêng liêng Lễ Thượng cờ trên Quảng trường Ba Đình_Nguồn: zingnews.vn

Bước vào thời kỳ Đảng nắm chính quyền, có những thời điểm khó khăn như “ngàn cân treo sợi tóc”, nhưng tiếp tục triển khai Cương lĩnh năm 1930 với điều kiện lịch sử mới, Đảng đã phát động toàn thể dân tộc Việt Nam đứng lên thực hiện lời thề trong “Tuyên ngôn Độc lập”: “... quyết đem tất cả tinh thần và lực lượng, tính mệnh và của cải để giữ vững quyền tự do và độc lập”(5), làm nên thắng lợi vĩ đại của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và can thiệp Mỹ (1945 - 1954), bảo vệ và phát triển thành quả của Cách mạng Tháng Tám năm 1945, chấm dứt ách thống trị của thực dân Pháp, giải phóng miền Bắc, đưa cách mạng Việt Nam bước sang giai đoạn mới - giai đoạn xây dựng chủ nghĩa xã hội (CNXH) ở miền Bắc và tiếp tục tiến hành cách mạng giải phóng ở miền Nam.

Tiếp tục trải qua 21 năm chiến đấu (1954 - 1975) kiên cường, không sờn lòng trước khó khăn, gian khổ, nhân dân Việt Nam đã đánh thắng cuộc chiến tranh xâm lược kiểu mới của đế quốc Mỹ, giải phóng hoàn toàn miền Nam, kết thúc vẻ vang 30 năm chiến tranh giải phóng dân tộc, bảo vệ Tổ quốc, chấm dứt vĩnh viễn ách thống trị kéo dài hơn một thế kỷ của chủ nghĩa thực dân trên đất nước ta, hoàn thành về cơ bản cuộc cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân trên cả nước, non sông thu về một mối. Thắng lợi đó đã đánh dấu một bước ngoặt quyết định mở đường cho dân tộc Việt Nam tiến vào kỷ nguyên mới - kỷ nguyên cả nước hòa bình, thống nhất, quá độ đi lên CNXH.

Sau 30 năm chiến tranh, cả nước bước vào công cuộc xây dựng CNXH từ những buổi đầu mới mẻ, đối diện với thách thức, khó khăn gay gắt cả trong nước, trong khu vực và trên trường quốc tế, đặc biệt là sự chống phá điên cuồng của các thế lực thù địch. Trước bối cảnh đó, Đảng đã kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và CNXH, giữ vững vai trò lãnh đạo, chèo lái con thuyền cách mạng vượt qua sóng gió, tiếp tục tiến hành công cuộc đổi mới; kiên trì lãnh đạo và từng bước bổ sung, hoàn thiện đường lối đổi mới, bước đầu hình thành một hệ thống quan điểm và nguyên tắc chỉ đạo công cuộc đổi mới, khai phá con đường đi lên CNXH phù hợp với thực tế của đất nước.

Qua gần 40 năm đổi mới, đất nước ta đã vượt qua thử thách hiểm nghèo, phá được thế bao vây, cấm vận, phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội, mở rộng quan hệ quốc tế, tạo tiền đề vững chắc để đất nước ngày càng phát triển, vì mục tiêu “Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”. Mấy năm gần đây, mặc dù tình hình thế giới có diễn biến phức tạp, nhanh chóng cùng nhiều yếu tố mới, bất ngờ, xuất hiện các rủi ro trong cả ngắn hạn và dài hạn, tác động đa chiều đến tình hình kinh tế - xã hội Việt Nam, nhưng với những quyết sách, giải pháp quyết liệt, kịp thời, sát thực tế, chưa từng có tiền lệ trong lịch sử của Đảng, nền kinh tế Việt Nam đã cơ bản vững vàng vượt qua mọi khó khăn, thách thức. Các diễn giả, chuyên gia trong nước, quốc tế đều đánh giá cao môi trường chính trị - kinh tế - xã hội ổn định của Việt Nam. Quỹ Tiền tệ quốc tế (IMF) nhận định Việt Nam là một điểm sáng trong “bức tranh xám màu” của kinh tế toàn cầu(6). Cùng với tăng trưởng 8,02% trong năm 2022, quy mô GDP theo giá hiện hành của Việt Nam đứng thứ 38 thế giới, nếu tính theo sức mua tương đương PPP, đứng thứ 10 châu Á và thứ 24 thế giới (theo IMF). Quy mô ngoại thương năm 2022 của chúng ta đạt gần 735 tỷ USD, thu hút đầu tư FDI lũy kế đạt gần 450 tỷ USD từ 143 quốc gia, vùng lãnh thổ(7).

Thực tiễn lịch sử ấy chứng tỏ đúng như niềm tự hào mà Đảng đã khẳng định: “Với tất cả sự khiêm tốn, chúng ta vẫn có thể nói rằng: Đất nước ta chưa bao giờ có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế như ngày nay”(8).

Niềm tin về sự hiện thực hóa khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc

Thực tiễn lịch sử 94 năm qua kể từ khi Đảng ra đời và lãnh đạo cách mạng Việt Nam cho đến nay là cơ sở khách quan và là niềm tin vững chắc về tiến trình hiện thực hóa khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc “phấn đấu đến giữa thế kỷ XXI, nước ta trở thành một nước phát triển, theo định hướng xã hội chủ nghĩa(9) như Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng đề ra, trên một số khía cạnh sau:

Thứ nhất, Đảng Cộng sản Việt Nam luôn đặt lợi ích của dân tộc, của nhân dân lên trên hết; vì vậy, đã thu phục, tập hợp, khơi dậy được khát vọng của toàn thể dân tộc trong hiện thực hóa mục tiêu, lý tưởng của Đảng qua các chặng đường cách mạng.

Ngay từ khi ra đời, trong Cương lĩnh chính trị đầu tiên, Đảng đã xác định rõ mục tiêu, lý tưởng của Đảng là giải phóng dân tộc, giải phóng nhân dân thoát khỏi ách thống trị của thực dân, phong kiến. Tinh thần ấy đã xuyên suốt trong cuộc vận động giải phóng dân tộc với sức thu hút to lớn, nhanh chóng lan tỏa của Mặt trận Việt Minh trên khắp mọi miền đất nước, tạo nên đội quân cách mạng đông đảo, góp phần quan trọng làm nên thắng lợi vĩ đại của Cách mạng Tháng Tám năm 1945. Khi Đảng mới cầm quyền, chính quyền cách mạng còn non trẻ, trước âm mưu tìm mọi cách tiêu diệt Đảng Cộng sản của các thế lực thù địch, Đảng đã rút vào hoạt động bí mật để tránh tổn thất cho nhân dân. “Thông cáo tự giải tán Đảng Cộng sản” chỉ rõ: “... những đảng viên cộng sản là những chiến sĩ tiền phong của dân tộc, bao giờ cũng hy sinh tận tụy vì sự nghiệp giải phóng của toàn dân, sẵn sàng đặt quyền lợi quốc gia lên trên quyền lợi của giai cấp, hy sinh quyền lợi riêng của đảng phái cho quyền lợi chung của dân tộc”(10).

Đặc biệt, từ sau khi trở thành đảng cầm quyền, Đảng luôn luôn phấn đấu, hy sinh vì lợi ích của giai cấp, của dân tộc và của các tầng lớp nhân dân. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng chỉ rõ: “Hễ còn có một người Việt Nam bị bóc lột, bị nghèo nàn, thì Đảng vẫn đau thương, cho đó là vì mình chưa làm tròn nhiệm vụ. Cho nên Đảng vừa lo tính công việc lớn như đổi nền kinh tế và văn hóa lạc hậu của nước ta thành một nền kinh tế và văn hóa tiên tiến, đồng thời lại luôn luôn quan tâm đến những việc nhỏ như tương cà mắm muối cần thiết cho đời sống hằng ngày của nhân dân”(11). Vì vậy, sau khi đất nước thống nhất, non sông thu về một mối, tiếp tục thực hiện con đường cách mạng đã lựa chọn, Đảng xác định đưa cả nước bước sang chặng đường mới - đó là “tiến lên chế độ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam, để thực hiện tự do, hạnh phúc cho giai cấp công nhân, nhân dân lao động và tất cả các dân tộc đa số, thiểu số Việt Nam”(12)

Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng thăm hỏi nhân dân huyện Thái Thụy, tỉnh Thái Bình_Nguồn: laodong.vn

Lợi ích của giai cấp, của nhân dân, của toàn thể dân tộc là mục tiêu, lý tưởng phấn đấu của Đảng và cũng chính là cội nguồn sức mạnh của Đảng qua các chặng đường lịch sử cách mạng Việt Nam. Do vậy, không chỉ mọi chủ trương, đường lối của Đảng đều xuất phát từ lợi ích, nguyện vọng của nhân dân, mà trong quá trình lãnh đạo, Đảng luôn xác định quan hệ mật thiết với nhân dân được coi như một nguyên tắc tổ chức, sinh hoạt đảng: “Giữ chặt mối liên hệ với dân chúng và luôn luôn lắng tai nghe ý kiến của dân chúng, đó là nền tảng lực lượng của Đảng và nhờ đó mà Đảng thắng lợi./ Vì vậy, cách xa dân chúng, không liên hệ chặt chẽ với dân chúng, cũng như đứng lơ lửng giữa trời, nhất định thất bại”(13).

Trong mọi thời điểm, Đảng luôn quán triệt quan điểm “dân là gốc”, vì lợi ích của nhân dân, dựa vào nhân dân, phát huy vai trò làm chủ, tinh thần trách nhiệm, sức sáng tạo và mọi nguồn lực của nhân dân; phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc. Ngay trong Cương lĩnh chính trị đầu tiên, Đảng đã xác định chủ trương đoàn kết tất cả giai cấp, lực lượng tiến bộ, yêu nước để tập trung chống đế quốc và tay sai. Đảng “phải thu phục cho được đại bộ phận giai cấp mình”, đồng thời “Đảng phải hết sức liên lạc với tiểu tư sản, trí thức, trung nông... để kéo họ đi vào phe vô sản giai cấp”(14). Đến Chính cương của Đảng Lao động Việt Nam (năm 1951), nhận thức về lực lượng cách mạng Việt Nam đã được phát triển cụ thể hơn: “Động lực của cách mạng Việt Nam lúc này là: công nhân, nông dân, tiểu tư sản thành thị, tiểu tư sản trí thức và tư sản dân tộc; ngoài ra là những thân sĩ (địa chủ) yêu nước và tiến bộ. Những giai cấp, tầng lớp và phần tử đó họp thành nhân dân”(15). Trong Báo cáo chính trị tại Đại hội II của Đảng (tháng 2-1951), Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định: “Trong giai đoạn này, quyền lợi của giai cấp công nhân và nhân dân lao động và của dân tộc là một. Chính vì Đảng Lao động Việt Nam là Đảng của giai cấp công nhân và nhân dân lao động, cho nên nó phải là Đảng của dân tộc Việt Nam”(16).

Bước sang thời kỳ đổi mới, Đảng xác định “Quan liêu, tham nhũng, xa rời nhân dân sẽ dẫn đến những tổn thất khôn lường đối với vận mệnh của đất nước, của chế độ xã hội chủ nghĩa và của Đảng”(17). Chính vì vậy, trước bối cảnh lịch sử mới, Đảng khẳng định: “... kiên trì thực hiện phương châm “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng”. Nhân dân là trung tâm, là chủ thể của công cuộc đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc... lấy hạnh phúc, ấm no của nhân dân làm mục tiêu phấn đấu”(18). Với tinh thần ấy, công cuộc đổi mới theo định hướng xã hội chủ nghĩa (XHCN) là mục tiêu, lý tưởng của Đảng cũng chính là khát vọng của nhân dân. Một khi “ý Đảng hợp với lòng dân” thì đường lối của Đảng sẽ được hiện thực hóa bằng phong trào cách mạng của quần chúng.

Thứ hai, Đảng đã vận dụng sáng tạo học thuyết cách mạng và khoa học vào thực tiễn cách mạng Việt Nam, phù hợp với xu thế phát triển của lịch sử.

Trong quá trình tìm đường cứu nước, lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc đã đến với chủ nghĩa Mác - Lê-nin và khẳng định đây chính là “chủ nghĩa chân chính nhất, chắc chắn nhất, cách mệnh nhất” để giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp và giải phóng con người. Tuy nhiên, Người cũng chỉ rõ: “Chủ nghĩa Mác - Lênin là kim chỉ nam cho hành động, chứ không phải là kinh thánh”(19). Quán triệt tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh, Đảng Cộng sản Việt Nam đã vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lê-nin vào thực tiễn Việt Nam để giải quyết những nhiệm vụ cách mạng trong từng giai đoạn lịch sử. Đó là sự kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và CNXH trong mọi hoàn cảnh lịch sử.

Cuối thập niên 80 của thế kỷ XX, các nước XHCN trên thế giới lâm vào khủng hoảng toàn diện, trầm trọng, dẫn tới sự sụp đổ chế độ XHCN ở các nước Đông Âu và Liên Xô. Trước bối cảnh vô cùng khó khăn của đất nước khi đó, Đảng đã khẳng định dứt khoát, đối với Việt Nam “không còn con đường nào khác để có độc lập dân tộc thực sự và tự do, hạnh phúc cho nhân dân. Cần nhấn mạnh rằng đây là sự lựa chọn của chính lịch sử, sự lựa chọn đã dứt khoát từ năm 1930 với sự ra đời của Đảng ta”(20). Tại Đại hội VII, lần đầu tiên Đảng giương cao ngọn cờ tư tưởng Hồ Chí Minh và khẳng định: “Đảng Cộng sản Việt Nam lấy chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động”(21).

Sau gần 40 năm tiến hành đổi mới đất nước, trên cơ sở tổng kết thực tiễn của Việt Nam, Đảng tiếp tục khẳng định: “Kiên định chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; tiếp tục nghiên cứu phát triển, vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh phù hợp thực tiễn Việt Nam”(22). Đây chính là nền tảng tư tưởng đã soi đường, dẫn lối để “... tiếp tục đưa đất nước từng bước quá độ lên chủ nghĩa xã hội với nhận thức và tư duy mới đúng đắn, phù hợp thực tiễn Việt Nam”(23). Sự ra đời của Đảng Cộng sản Việt Nam là kết quả của sự kết hợp giữa chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh với phong trào công nhân và phong trào yêu nước. Từ khi ra đời đến nay, các cương lĩnh, đường lối của Đảng là thành quả của sự vận dụng sáng tạo và phát triển chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh vào điều kiện lịch sử mới. Do vậy, đường lối đó đã phản ánh được ý chí, nguyện vọng và lợi ích của giai cấp công nhân, của nhân dân lao động và của cả dân tộc, phản ánh sự kiên định mục tiêu độc lập dân tộc gắn liền với CNXH của cách mạng Việt Nam. Thực tiễn đó của cách mạng Việt Nam đã gắn bó Đảng với nhân dân bằng cả chiều dài và cả chiều sâu lịch sử, không có lực lượng chính trị nào thay thế được vị trí, vai trò đó của Đảng trong lòng dân tộc.

Thứ ba, để hoàn thành sứ mệnh lịch sử đối với dân tộc, trong quá trình lãnh đạo cách mạng, Đảng Cộng sản Việt Nam luôn tự đổi mới và chỉnh đốn.

Ngay trong văn kiện đầu tiên của Đảng được thông qua tại Hội nghị thành lập Đảng (năm 1930), Đảng đã xác định nội dung về xây dựng, chỉnh đốn Đảng: “Đảng là đội tiên phong của vô sản giai cấp phải thu phục cho được đại bộ phận giai cấp mình, phải làm cho giai cấp mình lãnh đạo được dân chúng”(24). Cương lĩnh xác định vai trò lãnh đạo của Đảng, nhưng để lãnh đạo được thì Đảng phải “thu phục cho được đại bộ phận giai cấp mình” và muốn “thu phục” thì phải tự đổi mới, tự chỉnh đốn, phải nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của Đảng; đồng thời, để “làm cho giai cấp mình lãnh đạo được dân chúng” thì Đảng phải thường xuyên chú trọng xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh toàn diện cả về chính trị, tư tưởng, đạo đức, tổ chức và cán bộ. Luận cương của Đảng thông qua tháng 10-1930, tiếp tục khẳng định: “... điều kiện cốt yếu cho sự thắng lợi của cuộc cách mạng ở Đông Dương là cần phải có một Đảng Cộng sản có một đường chánh trị đúng, có kỷ luật, tập trung, mật thiết liên lạc với quần chúng, và từng trải tranh đấu mà trưởng thành”(25). Chính vì vậy, trong cuộc vận động giải phóng dân tộc, Tổng Bí thư Nguyễn Văn Cừ đã viết tác phẩm “Tự chỉ trích (năm 1939),  tiến hành sinh hoạt “tự phê bình” sâu rộng, khắc phục hạn chế, giải quyết vấn đề về tư tưởng và tổ chức của Đảng. Chỉ sau một thời gian ngắn Đảng cầm quyền, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã viết tác phẩm “Sửa đổi lối làm việc (năm 1947). Đây là tác phẩm rất quan trọng về xây dựng, chỉnh đốn Đảng. Người vừa nêu lên ưu điểm, vừa phê phán sai lầm, khuyết điểm của cán bộ, đảng viên; xác định 12 chuẩn mực về tư cách của Đảng chân chính cách mạng. Năm 1969, với bản Di chúc, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã để lại những giá trị cốt lõi về vấn đề xây dựng và chỉnh đốn Đảng cầm quyền. Với quan điểm “TRƯỚC HẾT NÓI VỀ ĐẢNG”, “Việc cần phải làm trước tiên là chỉnh đốn lại Đảng”, Người khẳng định “Đảng ta là Đảng cầm quyền” và để làm tròn nhiệm vụ của một đảng cách mạng, tiền phong, đáp ứng được nhiệm vụ lãnh đạo xã hội, Đảng phải luôn trong sạch, vững mạnh.

Quán triệt tư tưởng của Người, trong thời kỳ cả nước quá độ lên CNXH, Đảng ngày càng thấy rõ sự cần thiết phải đổi mới và chỉnh đốn Đảng. Đến Đại hội VII của Đảng, vấn đề đổi mới Đảng gắn liền với chỉnh đốn Đảng được đặt ra: “Để đảm đương được vai trò lãnh đạo, Đảng phải vững mạnh về chính trị, tư tưởng và tổ chức, phải thường xuyên tự đổi mới, tự chỉnh đốn, ra sức nâng cao trình độ trí tuệ, năng lực lãnh đạo(26). Đặc biệt từ Đại hội VIII của Đảng đến nay, Đảng đã ban hành nhiều nghị quyết quan trọng về xây dựng và chỉnh đốn Đảng, như Nghị quyết Hội nghị Trung ương 6 (lần 2) khóa VIII (tháng 1-1999); Nghị quyết Hội nghị Trung ương 4 khóa XI (tháng 1-2012);  Nghị quyết Hội nghị Trung ương 4 khóa XII (tháng 10-2016); Nghị quyết Hội nghị Trung ương 4 khóa XIII (tháng 10-2021). Các nghị quyết về công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng vừa cơ bản, lâu dài và hợp lòng dân, vừa tập trung vào những vấn đề trọng tâm, cấp bách trước mắt; với quan điểm nhìn thẳng vào sự thật, nói rõ sự thật, đánh giá đúng sự thật, gắn chặt phòng ngừa với chủ động tiến công để xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh. Đây là những vấn đề quan trọng, cấp bách trong xây dựng Đảng hiện nay, cũng là khẳng định vai trò lãnh đạo của Đảng đối với nhiệm vụ cách mạng, trong đó việc xây dựng và chỉnh đốn Đảng luôn được coi là “nhiệm vụ then chốt, đặc biệt quan trọng, có ý nghĩa sống còn đối với Đảng ta, chế độ ta”. Thông điệp này góp phần củng cố niềm tin, tiếp thêm sức mạnh cho mỗi cán bộ, đảng viên và nhân dân trên con đường mà Đảng đã chọn.

Từ nhiệm kỳ khóa XII đến nay, Đảng đã tăng cường công tác kiểm tra, giám sát việc phòng, chống tham nhũng, tiêu cực, lãng phí, nhất là dấu hiệu suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong một bộ phận cán bộ, đảng viên. Từ đầu nhiệm kỳ khóa XIII đến nay, có hơn 1.400 tổ chức đảng, hơn 66.000 đảng viên bị kỷ luật. Chỉ tính riêng trong năm 2023, qua kiểm tra kết luận 213 tổ chức đảng có vi phạm, phải thi hành kỷ luật 87 tổ chức đảng; có 1.814 đảng viên vi phạm, phải thi hành kỷ luật 1.287, đã thi hành kỷ luật 1.169 đảng viên(27). Việc tăng cường công tác kiểm tra, giám sát không chỉ phòng ngừa góp phần cảnh báo từ sớm, từ xa những vụ việc tham nhũng, tiêu cực, lãng phí, suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong đội ngũ cán bộ, đảng viên, nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của Đảng, mà còn củng cố và tăng cường niềm tin của nhân dân đối với Đảng.

Nhìn lại quá trình xây dựng và chỉnh đốn Đảng, cho thấy rõ, xuất phát từ yêu cầu, nhiệm vụ cách mạng, từ sứ mệnh lịch sử của Đảng đối với dân tộc mà trong mọi thời kỳ cách mạng, Đảng đều thường xuyên quan tâm chăm lo xây dựng, chỉnh đốn Đảng trong sạch, vững mạnh về mọi mặt. Chính vì vậy, Đảng đã xác lập, củng cố và ngày càng nâng cao vai trò lãnh đạo, sức mạnh và uy tín của mình bằng chính bản lĩnh, nghị lực, trí tuệ; bằng đường lối đúng đắn mang lại lợi ích thiết thân cho nhân dân, cho đất nước; bằng sự nêu gương, hy sinh quên mình, phấn đấu không mệt mỏi của đội ngũ cán bộ, đảng viên; bằng một tổ chức đoàn kết, thống nhất chặt chẽ, vững chắc; bằng mối liên hệ mật thiết với nhân dân, được nhân dân hết lòng tin yêu, ủng hộ và bảo vệ.

Thứ tư, chủ trương kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại của Đảng đã tạo nên sức mạnh tổng hợp, đưa cách mạng Việt Nam phát triển phù hợp với xu thế chung của nhân loại.

Ngay từ khi mới thành lập, Đảng đã xác định tính tự lực, tự cường, đồng thời xác định rõ lực lượng đồng minh quốc tế - đó là sự đoàn kết, ủng hộ của các dân tộc bị áp bức và giai cấp vô sản thế giới, nhất là giai cấp vô sản Pháp: “... trong khi tuyên truyền cái khẩu hiệu nước An Nam độc lập, phải đồng tuyên truyền và thực hành liên lạc với bị áp bức dân tộc và vô sản giai cấp thế giới, nhất là vô sản giai cấp Pháp”(28). Đảng chủ trương không chỉ đặt cách mạng Việt Nam trong dòng chảy của cách mạng giải phóng dân tộc trên khắp thế giới, nhằm phát huy sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại, mà còn đặt cách mạng Việt Nam trong mối quan hệ chặt chẽ và sự chủ động của cách mạng giải phóng dân tộc với phong trào cách mạng vô sản thế giới. Thành quả của Cách mạng Tháng Tám năm 1945 là thực tiễn sinh động minh chứng cho chủ trương biết kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại trong bối cảnh lịch sử khi chưa có chính quyền. Đến cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, chủ trương đối ngoại của Đảng đã có bước phát triển rõ rệt: “Những nguyên tắc của chính sách ngoại giao là nước ta và các nước tôn trọng độc lập dân tộc, chủ quyền lãnh thổ, thống nhất quốc gia của nhau và cùng nhau bảo vệ hòa bình dân chủ thế giới, chống bọn gây chiến... Mở rộng ngoại giao nhân dân; giao thiệp thân thiện với chính phủ nước nào tôn trọng chủ quyền của Việt Nam, đặt quan hệ ngoại giao với các nước đó theo nguyên tắc tự do, bình đẳng và có lợi cho cả hai bên”(29). Những nguyên tắc đó đã được hiện thực hóa, kết hợp sức mạnh đoàn kết và sự sáng tạo của nhân dân Việt Nam với việc tranh thủ tối đa điều kiện thuận lợi để mở rộng và phát huy sự ủng hộ, giúp đỡ của bạn bè quốc tế và các lực lượng tiến bộ trên thế giới, góp phần quan trọng làm nên thắng lợi vĩ đại của 30 năm kháng chiến chống ngoại xâm.

Bước vào công cuộc đổi mới đất nước, lần đầu tiên Văn kiện quan trọng của Đảng (năm 1991) tuyên bố: “Hợp tác bình đẳng và cùng có lợi với tất cả các nước không phân biệt chế độ chính trị - xã hội khác nhau trên cơ sở những nguyên tắc cùng tồn tại hòa bình”(30). Hai mươi năm sau, với vị thế của Việt Nam đã thay đổi trên chính trường quốc tế, Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (Bổ sung, phát triển năm 2011) của Đảng khẳng định rõ hơn sự chủ động hội nhập quốc tế: “Thực hiện nhất quán đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, hòa bình, hợp tác và phát triển; đa phương hóa, đa dạng hóa quan hệ, chủ động tích cực hội nhập quốc tế”(31). Như vậy, nhận thức về đường lối đối ngoại của Đảng đã có bước phát triển, thể hiện ở sự khẳng định Việt Nam không chỉ “là bạn, đối tác tin cậy và thành viên có trách nhiệm trong cộng đồng quốc tế”, mà còn “góp phần tích cực vào cuộc đấu tranh vì hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội trên thế giới”(32). Sau 35 năm đổi mới, Đại hội XIII của Đảng (tháng 1-2021) xác định nền ngoại giao Việt Nam toàn diện, hiện đại bao gồm ba trụ cột là đối ngoại đảng, ngoại giao nhà nước và đối ngoại nhân dân. Từ một nước bị bao vây, cấm vận, đến nay, Việt Nam đã có quan hệ ngoại giao với 193 quốc gia, trong đó có 6 nước đối tác chiến lược toàn diện, 12 nước đối tác chiến lược và 12 nước đối tác toàn diện. Cùng với đó, khuôn khổ quan hệ với nhiều đối tác quan trọng đã được nâng lên tầm cao mới, tin cậy chính trị với nhiều nước được củng cố vững chắc, hợp tác ngày càng mở rộng, thực chất và hiệu quả; vị thế, uy tín và tiếng nói của Việt Nam được khẳng định nổi bật tại nhiều diễn đàn, cơ chế đa phương quan trọng.

Tổng Thư ký Liên hợp quốc António Guterres tham quan Hoàng thành Thăng Long trong chuyến thăm chính thức Việt Nam nhân dịp kỷ niệm 45 năm Việt Nam tham gia Liên hợp quốc_Nguồn: vietnamnet.vn

Hiện nay, thế giới đang trải qua những biến động to lớn, diễn biến rất nhanh chóng, phức tạp, khó dự báo. Hòa bình, hợp tác và phát triển vẫn là xu thế lớn, song đang đứng trước nhiều trở ngại, khó khăn; cạnh tranh chiến lược giữa các nước lớn, xung đột cục bộ tiếp tục diễn ra dưới nhiều hình thức, phức tạp và quyết liệt hơn, làm gia tăng rủi ro đối với môi trường kinh tế, chính trị, an ninh quốc tế. Chủ trương đối ngoại của Đảng mang đậm bản sắc “cây tre Việt Nam”: “gốc vững, thân chắc, cành uyển chuyển”, “mềm mại, khôn khéo, nhưng rất kiên cường”. Phương hướng, nhiệm vụ cơ bản của đối ngoại là: “... phải đẩy mạnh đổi mới tư duy, mạnh dạn đột phá, sáng tạo trong công tác, tìm ra cách làm mới, mở rộng ra các lĩnh vực mới, tìm kiếm các đối tác mới, hướng đi mới,... trên cơ sở giữ vững nguyên tắc, chắc chắn, thận trọng, kiên định mục tiêu và chân thành, khiêm tốn”(33).

Đường lối đối nội và đối ngoại của Đảng qua các thời kỳ lịch sử đã phản ánh được quy luật khách quan của xã hội Việt Nam, đáp ứng nhu cầu cơ bản và cấp bách của xã hội Việt Nam, phù hợp với xu thế của thời đại, định hướng chiến lược đúng đắn cho tiến trình phát triển của cách mạng Việt Nam. Những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử đã đạt được càng có ý nghĩa trong bối cảnh tình hình chính trị, kinh tế thế giới trải qua nhiều diễn biến nhanh chóng, phức tạp, như cạnh tranh chiến lược ngày càng gay gắt, cuộc xung đột Nga - U-crai-na xảy ra đến nay vẫn chưa có hồi kết, kinh tế - xã hội toàn cầu gặp nhiều khó khăn lớn...

Vẫn biết rằng, trước những thách thức do xung đột địa - chính trị và sự gia tăng cạnh tranh chiến lược giữa các nước lớn, nguy cơ lạm phát tại các thị trường chủ chốt của Việt Nam vẫn tiềm ẩn, quy mô thị trường trong nước còn nhỏ, đầu tư khu vực tư nhân chưa phục hồi..., nhưng với một chính đảng đã có bề dày truyền thống, với bản lĩnh chính trị vững vàng, đường lối chính trị đúng đắn, sáng tạo trên cơ sở kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và CNXH, “ý Đảng hợp lòng dân”, và những điểm sáng của nền kinh tế trong năm 2023, những động lực cho tăng trưởng hiện nay sẽ tạo đà tăng trưởng cho năm 2024 và các năm tiếp theo. Đó chính là cơ sở quan trọng, là niềm tin vững chắc vào sự hiện thực hóa khát vọng đưa đất nước phát triển hùng cường, thịnh vượng vào thời điểm 100 năm thành lập nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, nay là nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, như Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng đã xác định./.

------------------------

Nhiều mô hình hay, cách làm sáng tạo trong thi đua làm theo lời Bác.

 

“Học tập và làm theo tư tưởng, tấm gương đạo đức và phong cách Hồ Chí Minh” là một trong những nội dung quan trọng đã được các cấp Công đoàn tỉnh Quảng Ngãi triển khai tích cực, tạo chuyển biến mạnh mẽ trong cán bộ, công nhân viên lao động.

Việc học tập Bác từ những điều giản dị nhất đã được các cấp Công đoàn gắn với các phong trào thi đua yêu nước, qua đó xuất hiện nhiều tấm gương cá nhân, tập thể điển hình, trở thành động lực thúc đẩy các phong trào ngày càng phát triển.

Việc học tập Bác từ những điều giản dị nhất đã được các cấp Công đoàn gắn với các phong trào thi đua yêu nước, qua đó xuất hiện nhiều tấm gương cá nhân, tập thể điển hình, trở thành động lực thúc đẩy các phong trào ngày càng phát triển.

Để học sinh được ăn bữa cơm đúng nghĩa

Chú thích ảnh
Cô giáo Nguyễn Thị Kim Mến chăm sóc học sinh trong bữa ăn trưa bán trú. 

Sau khi tốt nghiệp ngành Giáo dục Mầm non, Trường Đại học Sư phạm Quy Nhơn, năm 2017, cô giáo Nguyễn Thị Kim Mến (sinh năm 1989) đến công tác tại Trường Mầm non Ba Bích, huyện Ba Tơ, tỉnh Quảng Ngãi. Qua gần 8 năm công tác, cô giáo Mến đã không ngừng nâng cao chất lượng dạy học của mình. Đặc biệt là từ năm 2022 đến nay, khi được phân công giảng dạy tại Điểm trường Mầm non Làng Vào, cô đã có nhiều cách làm hay, sáng tạo, nhận được sự tin tưởng, ủng hộ của phụ huynh học sinh.

Cô Mến cho biết, xã Ba Bích có một điểm trường mầm non chính và 2 điểm trường lẻ. Học sinh được ăn bán trú tại điểm trường chính, tại các điểm lẻ, các em phải tự mang theo cơm trưa. “Hộp cơm trưa của các em chỉ có một ít cơm cùng với một ít đồ ăn mặn, không có rau, canh, nên rất khô khan, thậm chí có bạn chỉ mang cơm trắng, tội lắm. Thấy vậy, chúng tôi phải chia đồ ăn của cô cho trò, có bữa thì nấu tạm gói mì tôm cho các cháu ăn”, cô Mến nói.

Để giải bài toán làm sao cho các em có cơm, canh nóng để ăn, cô Mến đã vận động phụ huynh đến dọn cỏ trong khuân viên điểm trường, cùng nhau đi lấy đất bãi bồi, phân chuồng để trồng rau. Khi đã có rau xanh, cô Mến lại chủ động nấu canh cho trẻ ăn và gọi phụ huynh đến xem các con được ăn bữa cơm có đầy đủ thịt, cá, canh. Từ đó, cô Mến phân tích cho các phụ huynh biết lợi ích của việc cho các con ăn đầy đủ sẽ giúp các con có đủ chất dinh dưỡng để phát triển cả thể chất và trí tuệ. Nhưng nhiệm vụ của giáo viên là đứng lớp, không thể bỏ các em để đi nấu ăn, cô Mến vận động các phụ huynh thay nhau đến trường nấu cơm, canh cho các con.

“Ban đầu, nhiều phụ huynh cũng không chịu, ai cũng báo bận. Nhưng mình vẫn kiên trì thuyết phục, vận động nên có một số phụ huynh đã đồng ý và đứng ra làm trước. Thấy được lợi ích khi các cơn được ăn cơm nóng, canh ngon nên từ đó, các phụ huynh thay nhau thực hiện”, cô Mến cho biết.

Rau xanh chủ yếu được lấy trong vườn trường, còn kinh phí để mua gạo, thịt, cá, rau... đều do Hội phụ huynh tự đóng góp, quản lý. Chị Phạm Thị Xiên, phụ huynh học sinh của cô Mến cho biết: "Từ ngày phụ huynh đến nấu ăn cho các con, thấy các con rất vui, ăn ngon nên ai cũng đồng tình ủng hộ. Đến đây, chúng tôi không chỉ được xem các con học, ăn, ngủ ra sao mà còn được trao đổi cách nuôi dạy con.

Không chỉ vậy, thấm nhuần lời dạy của Bác Hồ “Mỗi thầy, cô giáo là một tấm gương đạo đức tự học và sáng tạo”, cô Mến đã đem hết tình yêu thương, tâm huyết và kiến thức của mình để nuôi dạy và chăm sóc học sinh. Với phương pháp giáo dục lấy trẻ làm trung tâm, bài giảng của cô luôn có đầy đủ đồ dùng dạy học, đồ chơi phong phú để gây hứng thú cho trẻ, từ đó giúp trẻ tích cực, chủ động trong mọi hoạt động tìm tòi, khám phá thế giới xung quanh. Ngoài ra, cô Mến còn tuyên truyền, vận động phụ huynh cho trẻ uống sữa nóng vào buổi xế chiều, cung cấp đủ dinh dưỡng cho trẻ để phát triển chiều cao...

Nhận xét về cô giáo Nguyễn Thị Kim Mến, Hiệu trưởng Trường Mầm non Ba Bích Vũ Thị Tuyết Lan cho biết: "Cô Mến là một giáo viên trẻ tâm huyết với nghề, yêu trẻ. Những việc làm thiết thực của cô Mến không chỉ nhận được sự ghi nhận của đồng nghiệp mà còn nhận được sự ủng hộ cao của phụ huynh học sinh. Chúng tôi đánh giá cao về cách làm sáng tạo của Mến. Mô hình làm vườn rau xanh, vận động phụ huynh nấu ăn trưa cho trẻ của cô Mến đã được nhiều điểm trường khác trên địa bàn huyện Ba Tơ học tập".

Đoàn công tác Học viện Quốc phòng viếng Nghĩa trang liệt sĩ tỉnh Đắk Lắk

 https://www.qdnd.vn/giao-duc-khoa-hoc/nha-truong-quan-doi/doan-cong-tac-hoc-vien-quoc-phong-vieng-nghia-trang-liet-si-tinh-dak-lak-777047

Không đưa thông tin sai lệch lên mạng xã hội dù chỉ là hài hước

 Chiều 13/5, ông Lê Quang Tự Do, Cục trưởng Cục Phát thanh, truyền hình và thông tin điện tử (Bộ Thông tin và Truyền thông) đã dành thời gian trả lời các câu hỏi liên quan đến việc xử phạt nghệ sỹ, người nổi tiếng có phát ngôn lệch chuẩn; xử lý các đơn vị quảng cáo cờ bạc trái phép và việc "đu trend" (bám theo xu hướng, hiện tượng, chủ đề nổi bật được nhiều người quan tâm) "truy tìm kho báu" liệu có vi phạm pháp luật hay không?...

Thông tin về việc xử phạt các nghệ sỹ, người nổi tiếng, KOL (Người có sức ảnh hưởng), KOC (Những người tiêu dùng có sức ảnh hưởng lớn trong thị trường)... phát ngôn lệch chuẩn trên mạng xã hội, Cục trưởng Cục Phát thanh, truyền hình và thông tin điện tử Lê Quang Tự Do khẳng định: Tất cả các hành vi của công dân, trong đó có nghệ sỹ, người nổi tiếng đều đã đã có quy định pháp luật và chế tài xử lý.
Những năm gần đây, Bộ Thông tin và Truyền thông đã chỉ đạo các Sở Thông tin và Truyền thông tăng cường, chủ động xử lý các trường hợp, trong đó, rất nhiều đối tượng là nghệ sỹ, người nổi tiếng, KOL, KOC kể cả các nhà báo thông tin sai sự thật đều đã bị xử lý nghiêm. Tuy nhiên, đối với một bộ phận người dân, trong đó có các nghệ sỹ, việc xử phạt hành chính chưa đủ sức răn đe. Vì vậy, Bộ Thông tin và Truyền thông đã đề xuất Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch có chế tài xử lý: Hạn chế hình ảnh của các nghệ sỹ, người nổi tiếng khi để xảy ra sai phạm. Hiện, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch đang triển khai việc này và sẽ có thông tin trong thời gian tới.
Bộ Thông tin và Truyền thông đã trình Chính phủ nghị định thay thế Nghị định số 72/2013/NĐ-CP về quản lý cung cấp, sử dụng dịch vụ internet và thông tin trên mạng, trong đó có các quy định về hoạt động phát ngôn trên không gian mạng, việc tăng mức phạt tiền, các hình phạt bổ sung đối với các hành vi trên không gian mạng.
Trước tình trạng nhiều người dùng trên mạng xã hội "đu trend" trào lưu "rủ nhau ra khơi truy tìm kho báu 673.000 tỷ đồng của Trương Mỹ Lan", ông Lê Quang Tự Do nêu rõ: Theo thông tin phản ánh, Cục Phát thanh, truyền hình và thông tin điện tử đã đi kiểm tra và xác định hiện tượng trên bắt nguồn từ việc cắt ghép các nội dung phát ngôn của bà Trương Mỹ Lan (Chủ tịch Hội đồng quản trị Tập đoàn Vạn Thịnh Phát) tại phiên tòa xét xử. Tiếp đó, các hình ảnh, dòng trạng thái liên quan đến "truy tìm kho báu" xuất hiện dày đặc. Tuy nhiên, trend này chỉ lan truyền, tồn tại trong thời gian rất ngắn, từ ngày 13-19/4.
Bà Trương Mỹ Lan hoàn toàn không nói "tiền giấu ở ngoài biển" như nội dung cắt ghép tại video trên mạng. Việc cắt ghép, tạo nội dung như video mang tính chất hài hước, chưa phải nội dung có ý đồ xấu hay mục đích lừa đảo. Tuy nhiên, đây là hành vi đăng tải thông tin sai sự thật. Do quá nhiều tài khoản tham gia trào lưu này, các cơ quan chức năng không thể chặn, gỡ hết được trên không gian mạng. Cục Phát thanh, truyền hình và thông tin điện tử đã phối hợp với nhiều cơ quan chức năng để truy tìm người cắt ghép, đăng tải video gốc nhưng chưa được. Cục đã yêu cầu gỡ bỏ một số tài khoản video có lượng tương tác lớn; đồng thời thông tin đến báo chí để người dùng mạng xã hội biết không nên đưa những thông tin sai sự thật dù mục đích chỉ là hài hước - ông Lê Quang Tự Do nêu rõ.
Đối với việc xử phạt hành vi quảng cáo cờ bạc, Cục trưởng Cục Phát thanh, truyền hình và thông tin điện tử Lê Quang Tự Do khẳng định: Bộ Thông tin và Truyền thông đang phối hợp với Bộ Công an xử lý các hành vi quảng cáo cá cược cờ bạc. Từ năm 2023 đến nay, các cơ quan chức năng đã gỡ 1.574 website quảng cáo cờ bạc, link quảng cáo cờ bạc trên mạng xã hội, cũng như truyền hình. Gần đây nhất, Thanh tra Bộ Thông tin và Truyền thông đã xử phạt Đài Truyền hình Việt Nam (VTV) 50 triệu đồng và Công ty Cổ phần viễn thông FPT (FPT Telecom) 85 triệu đồng do để xuất hiện nội dung quảng cáo cá độ trên sóng truyền hình trong khuôn khổ một trận bóng đá. Cục cũng đã có công văn cho các doanh nghiệp, đài phát thanh, truyền hình lưu ý để không tái diễn tình trạng này, hạn chế thấp nhất nội dung quảng cáo sai phạm trên sóng truyền hình. Ngoài ra, Cục Phát thanh, truyền hình và thông tin điện tử cũng thực hiện chiến dịch tuyên truyền trên các phương tiện thông tin đại chúng về nội dung này.

Vững niềm tin vào công tác cán bộ của Đảng

 Đọc bài viết Tự hào và tin tưởng dưới lá cờ vẻ vang của Đảng, quyết tâm xây dựng một nước Việt Nam ngày càng giàu mạnh, văn minh, văn hiến và anh hùng của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng, chúng ta càng thấm thía công cuộc phòng, chống tham nhũng, tiêu cực được Ban Chấp hành Trung ương Đảng, đứng đầu là đồng chí Tổng Bí thư chỉ đạo và thực hiện quyết liệt với tinh thần “không có vùng cấm, không có ngoại lệ, bất kể người đó là ai”; nhiều cán bộ cao cấp là Ủy viên Trung ương Đảng, Ủy viên Bộ Chính trị bị xử lý kỷ luật đảng, xử lý hình sự theo quy định của pháp luật.

Đáng chú ý, đối với các đồng chí cán bộ cấp chiến lược đang giữ trọng trách đứng đầu Nhà nước, Quốc hội có dấu hiệu sai phạm, Ban Chấp hành Trung ương Đảng đã xử lý rất kịp thời và nghiêm khắc bằng hình thức cho thôi đảm nhiệm các chức vụ được phân công và nghỉ công tác. Điều này cho thấy rõ quyết tâm chính trị của Đảng là làm trong sạch bộ máy để Đảng ta thật sự vững mạnh, xứng đáng với sự tin tưởng của nhân dân.
Tuy nhiên, các thế lực thù địch lại cố tình nhìn sai sự việc và lợi dụng mạng xã hội để xuyên tạc rằng: “Đang có đấu đá nội bộ”; “Việt Nam mất ổn định chính trị”... Trước những luận điệu đó, trong dư luận xã hội có những ý kiến bất bình và cũng có những băn khoăn.
Đối với các đồng chí cán bộ cấp chiến lược đang giữ trọng trách đứng đầu Nhà nước, Quốc hội có dấu hiệu sai phạm, Ban Chấp hành Trung ương Đảng đã xử lý rất kịp thời và nghiêm khắc bằng hình thức cho thôi đảm nhiệm các chức vụ được phân công và nghỉ công tác. Điều này cho thấy rõ quyết tâm chính trị của Đảng là làm trong sạch bộ máy để Đảng ta thật sự vững mạnh, xứng đáng với sự tin tưởng của nhân dân.
Điều đó cho thấy, cán bộ, đảng viên và quần chúng nhân dân không thờ ơ, mà ngược lại, rất quan tâm tới công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng, gửi gắm niềm tin và sự kỳ vọng vào các quyết sách của Đảng, sự lãnh đạo, điều hành của Ban Chấp hành Trung ương Đảng đứng đầu là Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng về công tác cán bộ, về xây dựng hệ thống chính trị, về đường lối, chủ trương phát triển đất nước.
Được Chủ tịch Hồ Chí Minh sáng lập và rèn luyện, trải qua hơn 90 năm xây dựng, chiến đấu và trưởng thành, Đảng Cộng sản Việt Nam luôn hướng tới mục tiêu tất cả vì độc lập dân tộc, tự do và hạnh phúc của nhân dân, vì sự phồn vinh của đất nước.
Trong suốt quá trình lãnh đạo cách mạng, lợi ích của quốc gia, dân tộc luôn được Đảng ta đặt lên trên hết, trước hết. Bởi lẽ đó, việc kịp thời xử lý kỷ luật cán bộ, tiến hành miễn nhiệm, thay thế cán bộ là để nhằm củng cố tổ chức, nâng cao chất lượng bộ máy, góp phần tiếp tục triển khai thực hiện tốt chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng và không hề gây ảnh hưởng đến sự ổn định chính trị của đất nước.
Thực tế qua hơn 40 năm tiến hành công cuộc đổi mới đã chứng minh, dưới sự lãnh đạo sáng suốt của Đảng, quần chúng nhân dân tin tưởng vào sự điều hành của đội ngũ cán bộ các cấp, đồng thuận và hưởng ứng các quan điểm đổi mới trên nhiều lĩnh vực, tham gia các chương trình, kế hoạch phát triển kinh tế-xã hội, tạo nên những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử, toàn diện trên các lĩnh vực.
Những thành tựu đổi mới của chúng ta được cộng đồng quốc tế đánh giá cao, ghi nhận Việt Nam là một đất nước năng động, hòa bình, phát triển, ổn định về chính trị, là bạn, là đối tác tin cậy của các quốc gia trên toàn cầu.
Trong không khí hào hùng kỷ niệm ngày lễ lớn của dân tộc, triệu triệu trái tim người con đất Việt hướng về Điện Biên Phủ để tôn vinh và tri ân những người anh hùng, những đồng bào, chiến sĩ dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, của Chủ tịch Hồ Chí Minh đã anh dũng chiến đấu bảo vệ Tổ quốc, đưa dân tộc thoát khỏi ách xâm lược của thực dân, bảo vệ nền độc lập nước nhà.
Tự hào về truyền thống vẻ vang của Đảng, mãi mãi không quên công lao của các thế hệ cán bộ, đảng viên đã sống, chiến đấu quên mình vì Tổ quốc, vì nhân dân, chúng ta giữ vững niềm tin vào Ban Chấp hành Trung ương Đảng, đứng đầu là đồng chí Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng tiếp tục sáng suốt và quyết liệt trong cuộc đấu tranh “chống giặc nội xâm”, đẩy lùi tệ tham nhũng, tiêu cực, xây dựng đội ngũ cán bộ các cấp, nhất là cấp chiến lược thật sự có năng lực, có phẩm chất đạo đức, đáp ứng yêu cầu của đất nước trong tình hình mới.
Cùng với đó, chúng ta kiên quyết bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, bảo vệ đường lối phát triển đất nước; cảnh giác cao độ trước những luận điệu xuyên tạc của các thế lực thù địch và có những hành động thiết thực không để cho những luận điệu đó len lỏi làm ảnh hưởng xấu tới môi trường xã hội, nhất là tác động tiêu cực tới tâm lý của tầng lớp thanh, thiếu niên.

Vinh quang Việt Nam – Anh hùng cứu hỏa Nguyễn Chí Thành hơn 20 năm tận hiến với nghề

 Trung tá Nguyễn Chí Thành – Phó Đội trưởng Đội Công tác chữa cháy và cứu nạn cứu hộ (PCCC và CNCH), Phòng Cảnh sát PCCC và CNCH (PC07), Công an TPHCM, một người lính bản lĩnh, say nghề và dấn thân. Hơn 20 năm qua, anh dốc lòng cùng đồng đội hoàn thành trách nhiệm của người lính thời bình.

Nghĩ đến nạn nhân trước hết
Đầu tháng 5, bữa cơm của Đội Công tác PCCC và CNCH (PC07) bị gián đoạn bởi chuông báo động có nhiệm vụ khẩn cấp. “Vừa có người đuối nước ở Quận 5, anh em khẩn trương” – Trung tá Thành thông báo.
Bỏ ngang chén cơm, cả đội tức tốc lấy trang phục, thiết bị, lên xe trong vòng 1 phút để đến hiện trường. Sau khi hoàn thành nhiệm vụ, họ trở về đơn vị cũng đã vào giữa khuya. Anh Thành chia sẻ với chúng tôi, đó là một trong những ngày làm việc “nhẹ nhàng nhất” của đội. Bởi có những trường hợp ứng cứu, anh cùng đồng đội phải thực hiện trong nhiều ngày liền, với hoàn cảnh hết sức nguy hiểm.
Trung tá Nguyễn Chí Thành quê gốc Thái Bình, sinh ra, lớn lên ở Củ Chi (TPHCM). Gia đình anh từng sống ven sông Sài Gòn. Nhiều lần anh chứng kiến cảnh người dân bị tai nạn đuối nước, thi thể không còn nguyên vẹn sau nhiều ngày tìm kiếm, nhất là khi người thân của mình cũng bị đuối nước mất – rất thương tâm. “Hình ảnh ấy khiến tôi đau xót”, anh xúc động nhớ lại, cho biết, đó là động lực thôi thúc anh theo nghiệp cứu hộ cứu nạn.
Tốt nghiệp lớp 12, do gia đình khó khăn, Nguyễn Chí Thành không thi đại học mà ở nhà làm thuê kiếm sống. Năm 2001, anh tham gia nghĩa vụ CAND, rồi được phân công về làm lính chữa cháy tại Đội PCCC, Trung tâm PCCC 23, Công an TPHCM.
Tháng 4.2002, anh được điều động thực hiện nhiệm vụ chữa cháy tại rừng quốc gia U Minh Thượng ở Kiên Giang – nhiệm vụ khó khăn đầu tiên trong sự nghiệp. Khi đó, anh cùng 30 CBCS, 20 máy bơm và 3 xe chữa cháy lên đường “ra trận”. Nơi cứu hộ, địa hình rừng hiểm trở, diện tích lớn, cây cối dày đặc, bùn sâu, có nhiều động, thực vật nguy hiểm… trong khi công cụ phục vụ chữa cháy không thể triển khai, xe chữa cháy không thể tiếp cận hiện trường…
“Chúng tôi phải dùng sức người đào kênh dẫn nước 4km vào rừng, cứ khoảng 200m lại đặt một máy bơm chữa cháy” – anh nhớ lại.
Ở rừng, muỗi như trấu, nước tắm không có, điều kiện ăn ở vô cùng khó khăn, anh bị sốt cao phải đi cấp cứu. Tuy nhiên, rời trạm y tế anh lại xung phong trở lại chữa cháy. Sau nhiều ngày, anh Thành cùng đồng đội hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ, bảo vệ 700ha rừng nguyên sinh và ngăn chặn không để cháy lan sang 10.000ha rừng trồng.
Tháng 10.2002, Nguyễn Chí Thành tham gia chữa cháy và CNCH tại Trung tâm thương mại quốc tế ITC (Quận 1). Anh và đồng đội đã giải cứu gần 200 người bị mắc kẹt. “Đó là một trong những kỷ niệm tôi không quên được” – anh nói.
23 năm trong nghề, anh Thành tâm sự, khi đối mặt với người bị nạn, anh không có thời gian để nghĩ đến chính mình, chỉ nghĩ làm sao có thể cứu sống họ nhanh nhất có thể, hoặc ít ra cũng đưa nạn nhân về được với gia đình…
Mong được tận hiến với nghề trọn đời
Vụ việc đưa hài cốt thanh niên bị rơi xuống vực sâu tại Cao Bằng năm 2019 là minh chứng cho điều anh nói. Anh Thành đánh giá, đây là vụ CNCH khó nhất ở Việt Nam, chưa có tiền lệ, bởi nạn nhân mất dưới hang gần 3 năm, không có phương tiện gì xuống được. Hang sâu trên 220m, gần như thẳng đứng và nhỏ hẹp, có chỗ chỉ 50-60cm.
“Biết xuống hang sẽ nguy hiểm, thiếu dưỡng khí sẽ hy sinh hoặc phương tiện gặp trục trặc sẽ không lên được, chưa kể gặp chướng ngại vật, vật thể lạ dưới hang mà mình không lường trước… nhưng nếu dừng lại thì nạn nhân sẽ mãi nằm ở đó, nỗi đau của gia đình nạn nhân vẫn còn mãi, nên tôi đã xung phong xuống” – anh nói.
Mất khoảng 2 tiếng đồng hồ anh mới xuống được hang, dùng tay đào bới, lượm từng miếng xương của nạn nhân bị vùi dưới lớp đá gần 1m. “Khi đưa được nạn nhân lên, người nhà đã chạy đến bên tôi quỳ xuống, chắp tay vái tạ. Nhưng tôi nghĩ đơn giản, khi người dân cần thì vất vả, nguy hiểm, hay thậm chí hy sinh cũng vẫn thực hiện” – trung tá Thành nhấn mạnh.
Nhớ lại lần cùng Đoàn công tác Bộ Công an Việt Nam tham gia CNCH thảm họa động đất tại Thổ Nhĩ Kỳ, anh Thành kể, đó là chuyến công tác suốt đời không bao giờ quên. Khi đến nơi, cả đội chưa kịp nghỉ ngơi đã phải bắt tay vào tìm kiếm dưới nhiệt độ -6 độ C, trong điều kiện không điện, không nước, phải sinh hoạt ở lều tạm.
Đội được giao vị trí trước đó nhiều nước bạn đã tìm kiếm nhưng chưa thấy sự sống. “Bằng nỗ lực của đội, chúng tôi đào từ sáng sớm tới tối, cắt sắt, dùng máy dò tìm thân nhiệt, dùng các giác quan để phát hiện nạn nhân và kỳ tích đã xảy ra” – anh xúc động kể.
Cả đội đã tiếp cận, cứu được nam thanh niên 17 tuổi ra khỏi đống đổ nát trong sự mừng vui của người nhà nạn nhân, chính quyền địa phương, các lực lượng CNCH quốc tế. Sau đó, anh tiếp tục cùng đoàn tìm kiếm được 14 thi thể.
Trung tá Thành cho biết, thời điểm đó Chính phủ và nhân dân Thổ Nhĩ Kỳ, cũng như bạn bè quốc tế đánh giá rất cao tinh thần trách nhiệm, năng lực, phương tiện hiện đại và tính chuyên nghiệp của Đoàn Việt Nam.
Không biết bao lần Nguyễn Chí Thành bị thương, rơi từ tầng 3 xuống, chấn thương cột sống, đứt chân, đứt tay, bị ho, viêm phổi… nhưng sau đó cứ được triệu tập là anh sẵn sàng lên đường.
Ngày 13.6.2023, trung tá Nguyễn Chí Thành – Phó Đội trưởng Đội Công tác chữa cháy và cứu nạn, cứu hộ (CNCH), Phòng Cảnh sát phòng cháy, chữa cháy và CNCH Công an TPHCM (PC07) là cá nhân duy nhất trong 7 tập thể, cá nhân được Chủ tịch nước phong tặng danh hiệu “Anh hùng Lực lượng Vũ trang Nhân dân”. Trung tá Nguyễn Chí Thành là một trong những cá nhân được đề cử vinh danh trong chương trình Vinh quang Việt Nam năm nay.

“Xuyên tạc cuộc đời, sự nghiệp Chủ tịch Hồ Chí Minh là không thể chấp nhận được”

 “Xúc phạm tới Hồ Chí Minh là xúc phạm đến toàn thể nhân dân chúng ta và xúc phạm đến danh nhân văn hóa thế giới. Đó là điều không thể chấp nhận được”.

Chủ tịch Hồ Chí Minh được UNESCO tôn vinh là danh nhân văn hoá thế giới. Người đã cống hiến trọn vẹn cuộc đời cho sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc của nhân dân Việt Nam và nhân dân thế giới. Vì thế, tên gọi Hồ Chí Minh được bạn bè quốc tế nhắc đến với sự cảm phục, ngưỡng mộ. Đó là sự thật, là minh chứng khẳng định giá trị và tầm vóc trong di sản tư tưởng mà Người đã để lại cho nhân loại. Đồng thời, cũng là cơ sở đập tan những luận điệu, công kích, xuyên tạc cuộc đời và thân thế, sự nghiệp Hồ Chí Minh.
Phóng viên VOV phỏng vấn GS.TS Mạch Quang Thắng, Giảng viên Cao cấp, Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh về nội dung này.
PV: Sau khi hệ thống mô hình chủ nghĩa xã hội ở Liên Xô và Đông Âu sụp đổ, xuất hiện những quan điểm cho rằng, con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam do Đảng và Bác Hồ lựa chọn là không đúng với xu thế lịch sử. Giáo sư có bình luận như thế nào về quan điểm này?
GS Mạch Quang Thắng: Việc lựa chọn mục tiêu và con đường phát triển của một dân tộc là chuyện rất hệ trọng, vì “sai một ly đi một dặm”. Mục tiêu phát triển của dân tộc Việt Nam mà Bác Hồ đã lựa chọn đó là con đường đi tới chủ nghĩa cộng sản, mà giai đoạn đầu là chủ nghĩa xã hội.
Nói Bác Hồ lựa chọn thì đúng rồi, nhưng tôi muốn nhấn mạnh rằng, đó là sự lựa chọn của lịch sử Việt Nam. Khi các phong trào cứu nước theo các hệ tư tưởng phong kiến, hệ tư tưởng tư sản bế tắc, không tiêu biểu cho xu hướng phát triển của dân tộc Việt Nam nữa thì xuất hiện một xu hướng mới, đó là xu hướng cứu nước theo hệ tư tưởng vô sản.
Xu hướng này đáp ứng được nhu cầu phát triển của dân tộc Việt Nam. Bác Hồ là người tìm đường, mở đường và dẫn đường cho sự phát triển của dân tộc.
Có thể hiện nay một số người cho rằng, con đường đó là sai lầm, là cụt. Việc đó tuỳ nhận thức của từng người. Có thể hệ thống xã hội chủ nghĩa trước đây có khiếm khuyết này, khiếm khuyết nọ, hay là hiện nay nước ta có điểm này, điểm nọ chưa tốt trong việc xây dựng chủ nghĩa xã hội, nhưng không thể vì thế mà nói rằng con đường lựa chọn của Bác Hồ là sai.
PV: Bác Hồ được UNESCO vinh danh là danh nhân văn hoá thế giới. Tuy nhiên, nhiều đối tượng có ý đồ xấu, mục đích xấu lại tung ra các bài viết, các ý kiến hoài nghi về sự thật này. Là người có nhiều năm nghiên cứu về Bác Hồ và đã trực tiếp viết cuốn sách “UNESCO với sự kiện tôn vinh Chủ tịch Hồ Chí Minh”, Giáo sư có thể cho biết rõ hơn về sự kiện quan trọng này?
GS Mạch Quang Thắng: Tôi là một trong những người nghiên cứu về Bác Hồ. Chúng ta đọc văn bản, biên bản hồ sơ của UNESCO hiện nay đang lưu giữ ở Paris – đây là trụ sở của UNESCO. Bản này đã gửi cho chúng ta, Bảo tàng Hồ Chí Minh đang lưu giữ.
Tổ chức UNESCO sử dụng 6 ngôn ngữ chính thức gồm: Pháp, Anh, Nga, Ả rập, Hán và Tây Ban Nha. Nghị quyết này trong phiên họp đó có tôn vinh 6 người, Bác Hồ là 1 trong 6 danh nhân đó.
Nghị quyết ghi rất rõ, ở đoạn đầu tiên: “Việc tổ chức kỷ niệm ngày sinh các nhân vật trí thức lỗi lạc và các danh nhân văn hóa trên phạm vi quốc tế, góp phần thực hiện các mục tiêu của UNESCO và đóng góp vào sự hiểu biết trên thế giới”.
Sau khi có đoạn đó, năm 1990 đánh dấu 100 năm kỷ niệm ngày sinh của Chủ tịch Hồ Chí Minh, Anh hùng giải phóng dân tộc và nhà văn hóa kiệt xuất của Việt Nam.
Hai đoạn trong nghị quyết của UNESCO cho thấy, UNESCO tôn vinh Bác Hồ là Anh hùng giải phóng dân tộc và nhà văn hóa kiệt xuất của Việt Nam, và nằm trong khung đoạn đầu tiên: “Đây là kỷ niệm ngày sinh các nhân vật trí thức lỗi lạc và các danh nhân văn hóa trên phạm vi quốc tế”. Lời rất rõ và trong văn bản lưu trữ ghi rất rõ như vậy.
PV:Bác Hồ là danh nhân văn hoá thế giới, là Anh hùng giải phóng dân tộc, Nhà văn hoá kiệt xuất của Việt Nam và nhân loại. Vậy thì những ai xuyên tạc, xúc phạm Bác Hồ cũng chính là xúc phạm đến danh nhân văn hoá thế giới và xúc phạm đến toàn thể dân tộc Việt Nam, thưa ông?
GS Mạch Quang Thắng: Đúng vậy. Việc có một số người, không phải bây giờ và cũng không phải từ khi Liên Xô, Đông Âu sụp đổ, mà trước đó họ cũng có ý kiến này, ý kiến nọ đến nhiều danh nhân quốc tế, trong đó có xúc phạm đến Chủ tịch Hồ Chí Minh.
Chúng ta biết rằng, cuộc đời và sự nghiệp của Bác Hồ gắn liền với dân tộc Việt Nam, hay nói cách khác gắn liền với sự phát triển của dân tộc Việt Nam. Trong điếu văn của Ban Chấp hành Trung ương Đảng Lao động Việt Nam đọc sáng mùng 9/9/1969, do Bí thư thứ nhất Lê Duẩn đọc, có một đoạn tôi rất tâm đắc. Đoạn đó viết là “Dân tộc ta, Nhân dân ta, non sông đất nước ta đã sinh ra Hồ Chủ tịch, người Anh hùng dân tộc vĩ đại đã làm rạng rỡ dân tộc ta, Nhân dân ta và non sông, đất nước ta”.
Như vậy, nói đến Việt Nam là nói đến Hồ Chí Minh và ngược lại nói đến Hồ Chí Minh là nói đến Việt Nam. Xúc phạm tới Hồ Chí Minh là xúc phạm đến toàn thể nhân dân chúng ta và xúc phạm đến danh nhân văn hóa quốc tế. Đó là điều không thể chấp nhận được.
PV: Chủ tịch Hồ Chí Minh được cả nhân loại tôn vinh, ngợi ca và ngưỡng phục. Vì sao mà vẫn còn một số người lại cố tình xúc phạm Bác Hồ như vậy?
GS Mạch Quang Thắng: Những người như thế là những người nhắm mắt làm ngơ, vì họ có cái tâm không lành. Khi mà con người ta tâm không lành, thì nhìn sự việc nó méo mó.
Đại thi hào Nguyễn Du có viết “Chữ tâm kia mới bằng ba chữ tài”. Cái tâm quan trọng lắm. Cái tâm của anh không lành thì nhìn sự nghiệp chống Mỹ cứu nước của chúng ta là xấu, nhìn sự nghiệp chống Pháp là không nên, nhìn sự nghiệp đổi mới là đầy màu đen.
PV: Tâm không lành thì đương nhiên mục đích và ý đồ của họ cũng đầy màu đen, thưa ông?
GS Mạch Quang Thắng: Đúng vậy! Việc này cũng giống như đến ngày kỷ niệm thành lập Đảng, ngày Giải phóng miền Nam 30/4, hay chuẩn bị đến ngày Quốc khánh 2/9 thì rộ lên trên các phương tiện thông tin, trên mạng xã hội, trên Internet, trên chỗ này, chỗ nọ, họ công kích sự nghiệp cách mạng của chúng ta, nói xấu Đảng, nói xấu Bác Hồ.
Cái đích của họ nhắm đến là dễ hiểu thôi. Họ phủ nhận sự thật lịch sử, muốn lái đất nước đi theo mục tiêu con đường khác, không chấp nhận chế độ chính trị hiện hành. Cho nên họ phủ nhận lịch sử, phủ nhận công lao của Bác Hồ. Và như vậy, họ không có tấm lòng với đất nước.
PV:Xin cảm ơn ông.
Trường Giang/Phát thanh QĐND
Giáo sư, Tiến sĩ Mạch Quang Thắng

Nâng niu bóng hình đất nước ở Trường Sa

 Món quà đặc biệt nhất đối với bất kỳ ai từng đến Trường Sa là được mang về từ biển một lá cờ Tổ quốc.

Kỷ vật thiêng liêng đó dù có bạc màu vì sóng gió nhưng đó là bóng hình đất nước, là vị mặn mòi của biển, đảo Việt Nam, là hồn thiêng của những anh hùng liệt sĩ đã hòa trong sóng nước Trường Sa, vun đắp vững chãi cột mốc chủ quyền.
Tổ quốc giữa trùng khơi
Hú những hồi còi dài chào cảng, chào đất liền, chào đồng chí, đồng đội, tàu KN-491 rẽ sóng, đưa đoàn công tác số 2 năm 2024 hướng về huyện đảo Trường Sa (tỉnh Khánh Hòa). Trên đỉnh tháp tàu, lá cờ đỏ sao vàng kiêu hãnh tung bay trong nắng mai.
Suốt dọc dài hải trình, một trong những hình ảnh tôi thích ngắm nhìn nhất là lá cờ Tổ quốc. Giữa mênh mông biển cả, giữa cao xanh trời biển hay trong hoàng hôn chiều tà, lá cờ như ngọn lửa rực trên cột cờ những con tàu vận tải, tàu đánh cá; trên đỉnh tháp tàu hải quân, tàu kiểm ngư và tàu cảnh sát biển; trên đuôi những chiếc xuồng vận chuyển giữa tàu và đảo. Trên cột cờ của các đảo, nhà giàn, trên ngực áo bộ đội, trên những cột mốc chủ quyền và trên vòng hoa tưởng nhớ các anh hùng liệt sĩ đã mãi mãi nằm sâu trong lòng biển để bảo vệ từng tấc đất quê hương, những lá cờ ở nhiều sắc độ, kích thước khác nhau, lúc reo vui trong nắng gió, khi phần phật dữ dội, lúc yên ả trên vòng hoa dập dềnh trên mặt biển... Tất cả đều gợi lên một tình cảm thân thương đến lạ kỳ. Đó là niềm tự hào và vững tin bởi quốc kỳ ở đâu là Tổ quốc ở đó.
Ở Trường Sa, những lá cờ treo nơi đầu sóng ngọn gió, trong điều kiện gió muối, khí hậu vô cùng khắc nghiệt, thường xuyên có gió giật nên chỉ một tuần là bị bạc màu hoặc sờn rách. Khi lá cờ không còn nguyên vẹn, người lính đảo hạ cờ xuống, thay mới. Những lá cờ đã từng hiên ngang giữa đất trời Trường Sa được chỉ huy đảo cẩn thận ký, đóng dấu lên và gìn giữ như một kỷ vật. Đó sẽ là món quà thiêng liêng của Trường Sa dành tặng những đoàn công tác ra thăm đảo.
Trong chuyến công tác lần này, Đại úy QNCN Nguyễn Thu Liên, cán bộ Cục Khoa học Quân sự ấp ủ việc xin một lá cờ Trường Sa. Phấn khởi cầm lá cờ kỷ niệm của đảo Cô Lin, Thu Liên khoe với tôi: “Vậy là nguyện vọng của em đã đạt được! Đối với em lá cờ ở đảo nào cũng rất trân quý. Đó là những lá cờ đã “thẩm thấu” gió sương và vị mặn mòi của biển, đảo quê hương, khẳng định chủ quyền Việt Nam ở quần đảo Trường Sa. Với em, lá cờ ở đảo Cô Lin còn có một ý nghĩa đặc biệt vì đây là khu vực gần nhất với nơi 64 cán bộ, chiến sĩ hy sinh trong cuộc chiến bảo vệ đảo Gạc Ma của Việt Nam”. Thu Liên cho hay, khi về nhà sẽ đặt lá cờ vào một chiếc hộp bằng mika và trưng bày ở vị trí trang trọng trong phòng khách của gia đình.
Cờ xin không nhanh là hết, bởi vậy mãi đến khi vào đảo Núi Le, phóng viên Phạm Đức Minh, Trung tâm Phát thanh Truyền hình Quân đội và Thiếu tá QNCN Nguyễn Phương Thảo, cán bộ Cục Dân quân tự vệ mới xin được cờ. Trong ráng chiều tuyệt đẹp, hình ảnh Đại úy Lê Thanh Cảnh, Chỉ huy trưởng đảo Núi Le đang ký trên lá quốc kỳ được Thảo và Minh nâng niu trên tay, ngay bên cầu tàu trước khi rời đảo, khiến lòng người xốn xang. Phương Thảo nói: “Đến với Trường Sa là hành trình ý nghĩa trong cuộc đời mỗi người. Bao nhiêu câu chuyện về sự hy sinh lẫm liệt, về những máu xương ngã xuống bên sắc cờ Tổ quốc giữa trùng khơi, nhưng phải phút giây này, chuyền tay nhau ôm lá cờ đã thấm đẫm những kiên cường của Trường Sa vào lòng, tôi càng thấu hiểu lá cờ là hiện hữu của quê hương, của Tổ quốc giữa trùng khơi”.
Trao gửi tinh thần Trường Sa
Những kỷ vật là lá cờ Tổ quốc đã từng được treo trên 21 điểm đảo thuộc huyện đảo Trường Sa không chỉ là món quà ý nghĩa của các chiến sĩ Trường Sa gửi đất liền mà đó còn là sự gửi gắm, trao truyền một tình yêu nối dài. Trung tá Bùi Văn Hiếu, Chính trị viên phó đảo Phan Vinh chia sẻ: “Việc xin cờ đối với các đoàn là tình cảm của đất liền dành cho cán bộ, chiến sĩ nơi đảo xa và cũng là tình cảm của chúng tôi gửi về đất liền thân thương. Đó là tình yêu Tổ quốc. Tất cả quốc kỳ treo trên đảo đều được lưu giữ lại, khi các đoàn tới thăm, có mong muốn được tặng cờ thì đảo sẽ tặng. Những lá cờ chỉ treo 1 tuần là rách, điều đó chứng tỏ thời tiết khắc nghiệt ở đảo và người lính đã gìn giữ lá cờ-máu thịt của quê hương như thế nào”.
Nhận món quà từ Trường Sa, cô giáo Đỗ Thị Thanh Nga, giáo viên môn Địa lý, Trường THPT Chu Văn An, Hà Nội xúc động chia sẻ: "Từ nay lá cờ Tổ quốc thấm đẫm tinh thần của quân dân Trường Sa sẽ theo suốt cuộc đời dạy học của tôi". Niềm vui dạy học và những câu chuyện xung quanh lá cờ nhanh chóng lan tỏa khắp các lớp học. Cô Nga kể: “Học trò đã rất bất ngờ khi tôi mở đầu tiết học bằng việc treo một lá cờ không còn nguyên vẹn lên bảng. Nhưng khi được nghe giải thích lý do vì sao lá cờ lại có hiện trạng như vậy; được nghe kể câu chuyện Trường Sa, chuyện về những người chiến sĩ hải quân, những người dân Trường Sa đang ngày đêm can trường vượt khó bảo vệ những hòn đảo tiền tiêu của Tổ quốc... các em đã thực sự xúc động”.
“Kiến thức về biển, đảo không chỉ là hành trang giúp các em vượt qua kỳ thi cuối cấp mà còn nuôi dưỡng hành trình vào đời, khơi dậy ước mơ, mong muốn làm được điều gì đó cho cuộc sống ở Trường Sa, cho biển, đảo quê hương. Và hơn hết, các con được truyền cảm hứng vượt gian khó từ các chiến sĩ Trường Sa. Tôi mong những thầy, cô giáo dạy Lịch sử, Địa lý khắp mọi miền đất nước được đi thực tế ở Trường Sa, để trở về lan tỏa tinh thần Trường Sa tới các thế hệ học sinh và người dân”, cô Thanh Nga bộc bạch.
Nhìn thấy lá cờ đã để lại một phần hình hài ở Trường Sa, em Nguyễn Hoàng Hải, học sinh lớp 12 Sử, Trường THPT Chu Văn An, Hà Nội cứ ngỡ lá cờ là kỷ vật từ cuộc chiến đấu nào trong quá khứ. “Khi biết lá cờ được mang về từ Trường Sa, em hiểu rằng để bảo vệ chủ quyền Tổ quốc, thời nào cũng giống nhau, đều là những cống hiến, sẵn sàng nhận hy sinh về mình”.
Mong muốn được đóng góp cho Trường Sa, em Ngô Minh Sơn, học sinh lớp 12 Địa cho rằng: “Trước hết chúng em cần có đầy đủ những suy nghĩ, nhận thức về chủ quyền biển, đảo của Việt Nam. Từ đó có thêm động lực để phát triển bản thân, đóng góp trí tuệ cho đất nước. Em mong muốn tìm hiểu công nghệ kỹ thuật mới hoặc những giải pháp hữu hiệu nhất để giải quyết những bài toán, vấn đề khó khăn của người dân và bộ đội ở Trường Sa”.
Trường Sa có bao điều để nhớ, bao điều để tự hào. Dưới lá cờ mang bóng hình đất nước là tình yêu, trách nhiệm của những người lính hải quân, của ngư dân vươn khơi bám biển và là sự chung lòng của cả nước, để Trường Sa xanh mãi niềm tin, vững vàng giữa bốn bề sóng vỗ.