Sáng 16/5, Hội nghị lần thứ chín Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII đã khai mạc trọng thể tại Thủ đô Hà Nội.
Sáng 16/5, Hội nghị lần thứ chín Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII đã khai mạc trọng thể tại Thủ đô Hà Nội.
Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng phát biểu khai mạc Hội nghị Trung ương lần thứ chín, khóa XIII.
Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng chủ trì, phát biểu khai mạc Hội nghị.
Ủy viên Bộ Chính trị, Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính điều hành Phiên khai mạc.
Tại Hội nghị lần thứ chín Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII, Trung ương sẽ bàn về các nội dung: Đề cương các văn kiện trình Đại hội XIV của Đảng; chuẩn bị cho việc chỉ đạo tiến hành đại hội đảng bộ các cấp tiến tới Đại hội XIV của Đảng và một số vấn đề quan trọng khác.
Chuẩn bị đề cương các văn kiện trình Đại hội XIV của Đảng
Phát biểu khai mạc Hội nghị, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng nêu rõ, theo kế hoạch, Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng sẽ diễn ra vào đầu năm 2026, sau đúng một nhiệm kỳ 5 năm toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta nỗ lực phấn đấu thực hiện Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng, Chiến lược phát triển kinh tế-xã hội 10 năm 2021-2030 và đất nước ta đã trải qua 40 năm đổi mới, 50 năm giải phóng hoàn toàn miền Nam thống nhất đất nước và hướng tới kỷ niệm Đảng ta tròn 100 năm thành lập. Đây sẽ là một sự kiện chính trị trọng đại, một dấu mốc rất quan trọng trên con đường phát triển cường thịnh, trường tồn của đất nước ta, dân tộc ta; khích lệ, cổ vũ, động viên, định hướng toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta tự hào và tự tin dưới lá cờ vẻ vang của Đảng, tiếp tục kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, đẩy mạnh toàn diện, đồng bộ công cuộc đổi mới, phát triển nhanh, bền vững đất nước, bảo vệ vững chắc Tổ quốc, xây dựng một nước Việt Nam ngày càng giàu mạnh, dân chủ, phồn vinh, văn minh, hạnh phúc; phấn đấu thực hiện thắng lợi các mục tiêu đến năm 2030 khi Đảng ta tròn 100 năm tuổi và đến năm 2045 khi nước Việt Nam dân chủ cộng hòa, nay là nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam tròn 100 năm thành lập.
Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng cho biết, thời gian qua, thực hiện Nghị quyết Hội nghị Trung ương 8 khóa XIII của Đảng, Tiểu ban Kinh tế-Xã hội và Tiểu ban Điều lệ Đảng đã khẩn trương, nghiêm túc chuẩn bị dự thảo Đề cương Báo cáo chính trị, Báo cáo kinh tế-xã hội, Báo cáo xây dựng Đảng và thi hành Điều lệ Đảng; xin ý kiến Bộ Chính trị tiếp tục hoàn thiện để trình Trung ương xem xét, cho ý kiến tại Hội nghị này.
Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng yêu cầu, Trung ương dành thời gian nghiên cứu kỹ lưỡng các tài liệu, thảo luận, cho ý kiến đối với các đề xuất cụ thể nêu trong các Tờ trình và dự thảo Đề cương Báo cáo, trước hết là về các vấn đề: Chủ đề và phương châm của Đại hội; tiêu đề của Báo cáo chính trị, Báo cáo kinh tế-xã hội, Báo cáo xây dựng Đảng và thi hành Điều lệ Đảng; kết cấu và những nội dung lớn của đề cương các báo cáo, đặc biệt là những vấn đề lớn cần được tập trung nghiên cứu làm rõ trong quá trình xây dựng các văn kiện đã được nêu trong dự thảo Đề cương chi tiết Báo cáo chính trị và Tờ trình của Tiểu ban Văn kiện.
Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng chủ trì và phát biểu khai mạc Hội nghị. Ảnh: Trí Dũng/TTXVN
Trong quá trình thảo luận, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng lưu ý, cần làm rõ tính chất, mục tiêu, yêu cầu và phạm vi của mỗi báo cáo và mối quan hệ giữa các báo cáo. Báo cáo chính trị là văn kiện trung tâm của Đại hội, có nhiệm vụ tiếp tục cụ thể hóa Cương lĩnh của Đảng để lãnh đạo toàn Đảng, toàn dân, toàn quân xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong nhiệm kỳ mới. Nội dung của Báo cáo chính trị phải mang tầm khái quát cao những vấn đề thuộc về quan điểm, đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng trên các lĩnh vực của đời sống xã hội.
Về Báo cáo kinh tế-xã hội, Báo cáo xây dựng Đảng và thi hành Điều lệ Đảng, cần có sự phù hợp, nhất quán với quan điểm, định hướng lớn nêu trong Báo cáo chính trị, nhưng không trùng lắp với Báo cáo chính trị. Đặc biệt là, Báo cáo xây dựng Đảng và thi hành Điều lệ Đảng cần làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn của việc bổ sung, sửa đổi Điều lệ Đảng (nếu có) và xây dựng dự thảo Điều lệ mới của Đảng trình Đại hội XIV xem xét, quyết định.
Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng cùng các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước và đại biểu dự Hội nghị Trung ương lần thứ chín, khóa XIII. Ảnh: Trí Dũng/TTXVN
Đề cương các văn kiện trình Hội nghị lần này mới nêu định hướng, có tính chất mở với nhiều phương án khác nhau để Trung ương cho ý kiến chỉ đạo, lựa chọn một bước, sau đó tiếp tục nghiên cứu, chuẩn bị theo quy trình, qua các bước thảo luận tại đại hội đảng bộ các cấp, cuối cùng Trung ương sẽ quyết định để trình ra Đại hội toàn quốc của Đảng.
Riêng về kết cấu của các báo cáo thì cần được quyết định sớm ngay tại Hội nghị này, để kịp hoàn thiện dự thảo đề cương và biên soạn nội dung chi tiết. Về cách viết cũng nên có sự đổi mới sao cho sinh động, ngắn gọn, dễ hiểu, dễ nhớ, dễ thực hiện.
Định hướng chuẩn bị Đại hội đảng bộ các cấp tiến tới Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng
Về định hướng chuẩn bị Đại hội đảng bộ các cấp tiến tới Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng nêu rõ, để thống nhất lãnh đạo, chỉ đạo việc chuẩn bị và tiến hành đại hội đảng bộ các cấp, tiến tới Đại hội toàn quốc lần thứ XIV của Đảng, Bộ Chính trị cần ban hành Chỉ thị về vấn đề này. Đây là công việc quan trọng, bảo đảm thành công của đại hội đảng bộ các cấp và góp phần cho thành công của Đại hội toàn quốc lần thứ XIV của Đảng, cần được Trung ương cho ý kiến.
Phiên khai mạc Hội nghị Trung ương lần thứ chín, khóa XIII. Ảnh: Trí Dũng/TTXVN
Thời gian qua, Bộ Chính trị đã chỉ đạo tổng kết việc thực hiện Chỉ thị số 35-CT/TW, ngày 30/5/2019 của Bộ Chính trị khóa XIII về vấn đề này; khẳng định những kết quả, bài học kinh nghiệm cần được kế thừa, phát huy; đồng thời chỉ rõ những hạn chế, khiếm khuyết cần rút kinh nghiệm và kịp thời điều chỉnh. Trên cơ sở đó, xây dựng dự thảo Chỉ thị mới trình Ban Chấp hành Trung ương cho ý kiến để hoàn chỉnh trước khi ban hành.
Các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước và đại biểu dự Hội nghị Trung ương lần thứ chín, khóa XIII. Ảnh: Trí Dũng/TTXVN
Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đề nghị, Trung ương quan tâm thảo luận cụ thể về Tờ trình và dự thảo Chỉ thị, tập trung làm rõ mục đích, yêu cầu, nội dung đại hội đảng bộ các cấp và công tác chuẩn bị nhân sự và bầu cử cấp ủy, đặc biệt là về cơ cấu, số lượng cấp ủy tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương; tỉ lệ cán bộ trẻ, cán bộ nữ, cán bộ người dân tộc thiểu số của cấp ủy tỉnh, thành phố; tiêu chuẩn, độ tuổi tham gia cấp ủy tỉnh, thành phố (về tuổi tái cử và lần đầu tham gia cấp ủy khi đã nâng tuổi nghỉ hưu lên 60 đối với nữ và 62 đối với nam); về bầu cử cấp ủy và bầu đại biểu đi dự đại hội Đảng bộ cấp trên…
Các đại biểu dự Hội nghị Trung ương lần thứ chín, khóa XIII. Ảnh: Trí Dũng/TTXVN
Chương trình Hội nghị Trung ương lần này có ý nghĩa quan trọng đối với việc hoàn thành nhiệm vụ chính trị của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII chuẩn bị các văn kiện trình Đại hội XIV của Đảng và chỉ đạo chuẩn bị Đại hội đảng bộ các cấp tiến tới Đại hội XIV của Đảng. Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đề nghị Trung ương phát huy trí tuệ, tinh thần trách nhiệm, tập trung nghiên cứu, thảo luận kỹ lưỡng, cho ý kiến để hoàn thiện các báo cáo, đề án và xem xét, quyết định vào cuối kỳ họp.
Nghị quyết Đại hội Đảng bộ Quân sự tỉnh lần thứ VII, nhiệm kỳ 2020 - 2025 đề ra 3 khâu đột phá là: Nâng cao chất lượng huấn luyện, khả năng sẵn sàng chiến đấu; nâng cao chất lượng xây dựng nền nếp chính quy, chấp hành kỷ luật, pháp luật gắn với cải cách hành chính quân sự; xây dựng đội ngũ cán bộ mẫu mực, tiêu biểu, trách nhiệm cao, hành động kiên quyết hiệu quả. Qua 4 năm triển khai thực hiện, các cấp ủy đảng, cán bộ, đảng viên và quần chúng trong lực lượng vũ trang tỉnh đã cụ thể hóa các nhiệm vụ và đạt được nhiều kết quả tích cực.
ổi mới công tác huấn luyện
Đối với nhiệm vụ nâng cao chất lượng huấn luyện, Đảng ủy, Bộ CHQS tỉnh chú trọng đổi mới nội dung và phương pháp. Trong đó, lấy công tác đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ huấn luyện làm then chốt. Việc tổ chức huấn luyện tác chiến cho bộ đội được thực hiện trong điều kiện, môi trường phức tạp; tăng cường huấn luyện cơ động, dã ngoại... Sự đổi mới được áp dụng toàn diện trong huấn luyện cả bộ đội địa phương, quân nhân dự bị và dân quân tự vệ.
Theo Đại tá Nguyễn Ra - Phó Chỉ huy trưởng, kiêm Tham mưu trưởng Bộ CHQS tỉnh, các nội dung huấn luyện được tổ chức tăng dần độ khó, cường độ cao, sát nhiệm vụ, đối tượng, địa bàn, môi trường tác chiến và thực tế chiến đấu. Kết hợp chặt chẽ giữa huấn luyện với giáo dục, đào tạo gắn với huấn luyện chiến đấu, lấy thực hành làm chính. Đồng thời, nâng cao khả năng khai thác, sử dụng hiệu quả các loại trang bị kỹ thuật có trong biên chế, nhất là các trang bị kỹ thuật mới.
Cùng với yếu tố con người, thì cơ sở vật chất đảm bảo cho huấn luyện cũng được quan tâm đầu tư. Trong 4 năm qua, các cơ quan, đơn vị đã tham mưu cho chính quyền các địa phương bố trí ngân sách đầu tư cơ sở vật chất phục vụ công tác huấn luyện cho lực lượng vũ trang. Cụ thể, các địa phương đã đầu tư gần 2,5 tỷ đồng, cùng với hơn 6,2 nghìn ngày công bộ đội để làm mới, mua mới hơn 2,4 nghìn mô hình, vật chất huấn luyện; sửa chữa gần 3,7 nghìn mô hình, học cụ; củng cố, sửa chữa 46 thao trường chiến thuật và thao trường kỹ thuật, 53 sân, bãi tập điều lệnh, thể lực và 1 hồ bơi.
Tăng cường kỷ luật, xây dựng nền nếp chính quy
Thực hiện khâu đột phá nâng cao chất lượng xây dựng nền nếp chính quy, chấp hành kỷ luật, pháp luật gắn với cải cách hành chính quân sự, cấp ủy, chỉ huy các cấp đã đề ra nhiều chủ trương, biện pháp để giáo dục, rèn luyện và quản lý bộ đội. Hằng năm, mỗi cán bộ, đảng viên phải xây dựng cam kết phấn đấu rèn luyện; đăng ký chấp hành an toàn giao thông. Cùng với đó, tổ chức duy trì nghiêm công tác kiểm soát quân sự ngoài doanh trại để kịp thời phát hiện, chấn chỉnh việc vi phạm kỷ luật, pháp luật của quân nhân. Trong 4 năm qua, các đơn vị đã tổ chức hơn 4,9 nghìn đợt kiểm soát quân sự, với gần 18 nghìn lượt cán bộ; kiểm tra 829 lượt quân nhân, 343 lượt xe quân sự, gần 700 xe cá nhân.
Bên cạnh đó, để tạo sự đoàn kết, thống nhất trong thực hiện nhiệm vụ, chỉ huy các cấp đã quan tâm tổ chức gặp gỡ, đối thoại với cán bộ, chiến sĩ để kịp thời nắm bắt tâm tư, nguyện vọng, nhanh chóng giải quyết những kiến nghị chính đáng của cán bộ, chiến sĩ. Trong đó, Bộ CHQS tỉnh đã tổ chức 8 đợt gặp gỡ, đối thoại với 152 lượt cơ quan, đơn vị; cấp trung đoàn, ban CHQS cấp huyện, phòng thuộc Bộ CHQS tỉnh tổ chức gặp gỡ, đối thoại hằng quý 720 đợt ở các đại đội.
Thực hiện khâu đột phá xây dựng đội ngũ cán bộ mẫu mực, tiêu biểu, trách nhiệm cao, hành động kiên quyết hiệu quả, Đảng ủy Quân sự tỉnh quán triệt phương châm “trên mẫu mực, dưới tích cực làm theo”. Cùng với đó, quan tâm, chỉ đạo chặt chẽ công tác đào tạo, bồi dưỡng nâng cao trình độ đội ngũ cán bộ. Trong 4 năm qua, có trên 290 cán bộ được cử đi đào tạo, bồi dưỡng tại các học viện chuyên ngành; có 55 cán bộ được đào tạo cao cấp lý luận chính trị... Thực hiện chủ trương tinh giản biên chế theo phương châm “tinh, gọn, mạnh”, Đảng ủy, Bộ CHQS tỉnh từng bước cơ cấu lại đội ngũ cán bộ. Gắn trách nhiệm cá nhân trong thực hiện theo phương châm một người làm được nhiều việc, nhưng một việc chỉ giao cho một cơ quan chủ trì, một người đảm nhiệm. Hằng năm tiến hành rà soát, xây dựng kế hoạch luân chuyển cán bộ “từ cơ quan về đơn vị và ngược lại”.
Đại tá Võ Tấn Tài - Phó Bí thư Thường trực Đảng ủy, Chính ủy Bộ CHQS tỉnh cho biết, yếu tố để đạt được kết quả tích cực trong thực hiện 3 khâu đột phá đó là vai trò của người đứng đầu cấp ủy trong tổ chức nghiên cứu, quán triệt chủ trương của cấp trên và năng lực lãnh đạo, chỉ đạo toàn diện của người chỉ huy. Đồng thời, vai trò tham mưu của các tổ chức đảng và tổ chức quần chúng được phát huy. Cùng với đó, việc tổ chức biên chế, trang bị và công tác đảm bảo phù hợp với yêu cầu nhiệm vụ... Đó là những kinh nghiệm mà Đảng ủy Quân sự tỉnh rút ra để thực hiện các nhiệm vụ trong thời gian đến.
Trong đêm diễn gần đây, ca sĩ Đàm Vĩnh Hưng, vốn được fan cuồng gọi là “ông hoàng”, xuất hiện với bộ quân phục pha trộn kiểu “đông tây y kết hợp cúng bái” khiến dư luận bất bình. Bộ quân phục này có phảng phất kiểu sĩ quan SS với mớ huân chương, huy hiệu tả pí lù; thậm chí có vật thể giống “Biệt công bội tinh” thời chế độ Sài Gòn. Sau khi nhận phản hồi từ người xem, Đàm Vĩnh Hưng trần tình rằng mình không có ý gì, và hứa sẽ không dùng trong buổi diễn tiếp theo.
Hình ảnh rất phản cảm trong show diễn là những vũ công vai người lính khom lưng quỳ gối để “ông hoàng” thản nhiên giẫm lên. Tuy có những phản ứng gay gắt nhưng với những khán giả bao dung hơn thì họ không nâng quan điểm quá nặng nề mà chỉ coi tiết mục nọ là kết quả của sự “khiếm thị” văn hóa.
Môi trường văn hóa hiện nay đã cởi mở rất nhiều nhưng không có nghĩa có thể làm bất kỳ điều gì thiếu suy nghĩ. Chấp nhận mở cửa nghĩa là chấp nhận những cơn gió vào nhà và biết chắc chắn sẽ có bụi bẩn. Vấn đề là phải chăm quét dọn. Vừa rồi, một giáo viên của một trường quốc tế phát một cuốn sách nhạy cảm cho học sinh nghiên cứu thảo luận. Cuốn sách khiến phụ huynh và những người quan tâm tá hỏa khi có những trang mô tả trần trụi cảnh “giường chiếu” với quan hệ kiểu đồng giới. Những cuốn sách như trên được lưu hành trong môi trường giáo dục sẽ có những hệ lụy khôn lường.
Như đã đề cập, đời sống “cầu vồng” là một hiện tượng lây lan mang tính xã hội. Hiện tượng này được các nước phương Tây cấp tiến thả nổi ở mức cổ súy nhưng các nước có nền văn hóa khác lại nghiêm cấm. Tại những nước được coi là “bảo thủ” này, mặc dù người thuộc giới “cầu vồng” được tôn trọng nhưng sẽ là phạm pháp nếu họ tuyên truyền lan tỏa lối sống này. Tại World Cup Qatar, bảy đội bóng châu Âu muốn đội trưởng đeo băng màu cầu vồng để ủng hộ giới cầu vồng này đã bị chủ nhà Qatar phản đối. Tuy vậy, đội Đức đã chọn hình thức chụp ảnh che miệng để phản đối. Đây là những thái độ trịch thượng áp đặt văn hóa.
Không phải cứ nhân danh giáo dục phương Tây là khai phóng và hoàn hảo.
Trên mạng xã hội có video quay cảnh một vloger phỏng vấn một bé gái chừng 10 tuổi rằng cháu biết gì về Điện Biên Phủ? Cháu nói không biết. Có tiếng một phụ nữ (có thể là mẹ cháu) giải thích là cháu học trường quốc tế nên không giỏi tiếng Việt. Lạ chưa? Hiện nay có một số phụ huynh tự hào khi con nói tiếng Anh giỏi và không thạo tiếng Việt. Tiếng Anh là một phương tiện mưu sinh thực dụng quốc tế nhưng là con người đâu phải chỉ có một nhu cầu mưu sinh.
Tháp Maslow được giảng dạy rất nhiều với hình tam giác chia nhu cầu. Khái quát thì các tầng đáy là nhu cầu vật chất, tầng cao và đỉnh thuộc về nhu cầu tinh thần, khẳng định đẳng cấp. Một dân tộc cũng vậy, phần đáy là đảm bảo quyền sống, tầng cao là thể hiện đẳng cấp của dân tộc mình. Hiện nay, vị thế Việt Nam được nhiều quốc gia ngưỡng mộ, vậy tại sao người Việt lại thiếu đi sự tự hào về dân tộc mình? Thiếu tinh thần tự hào tự tôn thì đào tạo khó thành người hoàn chỉnh. Vì sao môi trường giáo dục quốc tế lại sinh ra “giặc dốt”?
Trong những ngày cả nước tưng bừng kỷ niệm 70 năm chiến thắng Điện Biên lừng lẫy năm châu, chấn động địa cầu thì vẫn thấy những phương tiện tuyên truyền mắc lỗi. Một bức poster của tỉnh nọ in khẩu hiệu về Điện Biên Phủ lại kèm ảnh giải phóng miền Nam 1975. Trên một chương trình truyền hình, khi trám hình cho một nhân vật binh chủng tăng thiết giáp kể chuyện thì lại lẫn một đoạn phim pháo tự hành của quân đội Sài Gòn duyệt binh. Những sơ suất như vậy không nên nói giảm nói tránh mà phải nói thẳng là dốt. Dốt văn hóa và dốt sử khó mà tách rời.
Hy vọng trong tương lai gần chúng ta sẽ có bộ sách giáo khoa về văn hóa Việt Nam. Truyền thống tương thân tương ái, bầu ơi thương lấy bí cùng, tối lửa tắt đèn, lòng yêu nước nồng nàn mới khiến cho dân tộc được lớn mạnh, trường tồn. Ngay cả các bậc phụ huynh nhiều khi cũng đồng lõa với con cái, coi môn giáo dục công dân là môn học phụ nên chỉ tập trung vào các môn chính như toán, văn. Nếu không được rèn về đạo đức đầy đủ thì con em chúng ta có thể trở thành các VIP chưa chắc đã lắm tài nhưng lại nhiều tật và tiềm ẩn nhiều hệ lụy, sai lầm phải trả giá đắt trong cuộc sống.
Con người trước tiên phải thuộc về cộng đồng mình sinh ra, lớn lên. Học sinh cần được dạy về lòng biết ơn tổ tiên và các thế hệ đi trước chứ không phải chỉ một mục tiêu mưu sinh ích kỷ. Phải có ngàn đời hy sinh thì chúng ta mới có Tổ quốc. Ngày 27/7, học sinh các cấp nên được đến các đài tưởng niệm liệt sĩ để chăm sóc nơi an nghỉ và tưởng niệm những người có công với nước. Hiểu rộng ra, ngày đó không chỉ ghi công những tấm gương vì nước trong thời đại Hồ Chí Minh mà còn tưởng nhớ cha ông nghìn năm dựng và giữ nước. Đó sẽ là ngày dạy lịch sử hiệu quả nhất.
Ngày 15/5 tại New York đã diễn ra phiên họp cấp đại sứ của Nhóm bạn bè về giáo dục và học tập trọn đời. Tham dự phiên họp có Phó Tổng Thư ký Liên hợp quốc (LHQ) Amina J.Mohammad, Trợ lý Tổng giám đốc Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa LHQ (UNESCO) về Giáo dục Stefania Giannini cùng Đại sứ, Trưởng Phái đoàn và đại diện của gần 30 nước thành viên LHQ.
Theo phóng viên TTXVN tại New York, Phó Tổng Thư ký Amina J.Mohammad đã ghi nhận vai trò quan trọng của Nhóm bạn bè trong việc thúc đẩy vấn đề giáo dục trong chương trình nghị sự của LHQ, nhấn mạnh cần tập trung vào đảm bảo tài chính cho giáo dục, quan tâm đến việc đảm bảo quyền lợi cho giáo viên, tận dụng chuyển đổi số trong giáo dục để đưa việc thực hiện Mục tiêu phát triển bền vững (SDG) 4 về giáo dục trở lại đúng quỹ đạo. Đại diện các nước thành viên Nhóm bạn bè cũng đã chia sẻ về các ưu tiên trong thúc đẩy giáo dục tại các diễn đàn LHQ thời gian tới.
Phát biểu tại phiên họp, Đại sứ Đặng Hoàng Giang, Trưởng Phái đoàn Thường trực Việt Nam tại LHQ, nhấn mạnh Việt Nam với tư cách là thành viên tích cực của Hội đồng chấp hành UNESCO luôn ủng hộ vai trò của UNESCO trong thúc đẩy giáo dục trên toàn cầu. Đại sứ đánh giá cao việc Nhóm bạn bè đã thúc đẩy nhiều nội hàm, cam kết quan trọng liên quan đến giáo dục trong dự thảo Văn kiện Hội nghị Thưởng đỉnh Tương lai, sự kiện quan trọng nhất của LHQ trong năm 2024 và đề xuất nhóm tiếp tục thúc đẩy lập trường chung tại các khuôn khổ khác. Đại sứ Đặng Hoàng Giang cũng đề xuất khả năng tổ chức các hoạt động của Nhóm với các nước thành viên LHQ khác đề tăng cường đối thoại, chia sẻ thông tin về các hoạt động quan trọng, sáng kiến và kinh nghiệm, thực tiễn của mỗi nước về giáo dục.
Nhóm bạn bè về giáo dục và học tập trọn đời được thành lập từ năm 2020 nhân dịp Ngày quốc tế về giáo dục 24/1 và hiện có gần 50 thành viên. Nhóm bạn bè hoạt động với mục đích thúc đẩy vấn đề giáo dục trong chương trình nghị sự của LHQ, cũng như chia sẻ các sáng kiến, thực tiễn tốt về đảm bảo quyền giáo dục của các nước thành viên.
Trung tướng, Giám đốc Học viện Chính trị Công an nhân dân
10:17, ngày 19-04-2022
TCCS - Trong sự nghiệp đổi mới, cùng với chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh giữ vai trò là nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động của cách mạng Việt Nam. Đại hội XIII của Đảng đã tiếp tục vận dụng, phát triển tư tưởng của Người, thông qua việc khơi dậy khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc.
Tư tưởng Hồ Chí Minh soi sáng sự nghiệp đổi mới đất nước
Trước hết,con đường cứu nước của Chủ tịch Hồ Chí Minh là con đường đổi mới, tìm đến chân lý của thời đại, đưa chủ nghĩa Mác - Lê-nin vào thực tiễn Việt Nam, gắn độc lập dân tộc với chủ nghĩa xã hội.
Trước cảnh giang sơn chìm đắm trong nỗi nhục mất nước, người thanh niên Nguyễn Tất Thành vừa bước qua tuổi 21 đã ra đi tìm đường cứu nước với hành trang duy nhất là lòng yêu nước, thương dân vô hạn và hoài bão cứu nước, cứu dân. Người quyết định tìm một hướng đi mới, chưa ai làm, đó là sang phương Tây, vào tận “sào huyệt của kẻ thù” để tìm đường cứu nước. Sự sáng tạo đầu tiên trong hành trình đó đã chứng tỏ bản lĩnh, trí tuệ, nhãn quan chính trị sắc bén, đổi mới trong con người Hồ Chí Minh và chuyến đi kéo dài hơn 30 năm của Nguyễn Tất Thành trở thành một trong những cuộc hành trình kỳ lạ, vĩ đại trong lịch sử dân tộc(1).
Người đã trải qua nhiều khó khăn, gian khổ, hòa mình vào đời sống của các tầng lớp nhân dân lao động để từ đó, mở mang nhận thức, tìm ra chân lý cách mạng. Người tìm hiểu, so sánh cuộc cách mạng Pháp, cách mạng Mỹ với Cách mạng Tháng Mười Nga, học hỏi nền văn hóa phương Đông và nền văn hóa phương Tây, tiếp thu những giá trị của Nho giáo, Phật giáo, Lão giáo, đọc những tác phẩm của các nhà khai sáng Pháp... Đến khi đọc Sơ thảo lần thứ nhất những luận cương về vấn đề dân tộc và vấn đề thuộc địa của V.I. Lê-nin, Người đã tìm thấy con đường cứu nước đúng đắn cho dân tộc Việt Nam - con đường cách mạng vô sản, gắn độc lập dân tộc với chủ nghĩa xã hội theo ánh sáng của chủ nghĩa Mác - Lê-nin. Sự lựa chọn của Người cũng chính là sự lựa chọn của dân tộc Việt Nam. Từ đây, dưới sự lãnh đạo của Người, nhân dân Việt Nam đã làm nên Cách mạng Tháng Tám vĩ đại, lật đổ ách thống trị của ngoại bang giành độc lập dân tộc, lật nhào chế độ phong kiến tồn tại cả nghìn năm để xây dựng nên nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, mở ra bước phát triển vĩ đại của dân tộc. Tổng Bí thư Lê Duẩn đã đúc kết: “Công lao vĩ đại đầu tiên của Hồ Chủ tịch là đã gắn phong trào cách mạng Việt-nam với phong trào công nhân quốc tế, đưa nhân dân Việt-nam đi theo con đường mà chính Người đã trải qua, từ chủ nghĩa yêu nước đến chủ nghĩa Mác - Lê-nin”(2). Người đã để lại tấm gương sáng ngời về đổi mới ngay từ khi lựa chọn con đường cứu nước, giải phóng dân tộc để hình thành nên quy luật phát triển và thắng lợi của cách mạng Việt Nam - độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội.
Chủ tịch Hồ Chí Minh thăm khu công nghiệp Liên hợp gang thép Thái Nguyên nhân dịp lò cao số 1 ra mẻ gang đầu tiên, ngày 1-1-1964_Nguồn: hochiminh.vn
Thứ hai,Chủ tịch Hồ Chí Minh là tấm gương mẫu mực của tư duy đổi mới, ham học hỏi, tiếp thu cái mới, cái tiến bộ; soi sáng, dẫn đường sự nghiệp đổi mới đất nước dưới sự lãnh đạo của Đảng.
Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, đổi mới là bản chất của cách mạng, của phát triển. Trong tác phẩm “Đường Cách mệnh”, Người chỉ rõ: “Cách mệnh là phá cái cũ đổi ra cái mới, phá cái xấu đổi ra cái tốt”(3). Nói về công cuộc kiến thiết đất nước sau khi cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước thắng lợi, Người nhấn mạnh đó là cuộc chiến đấu chống lại những cái gì đã cũ kỹ, hư hỏng, để tạo ra những cái mới mẻ, tốt tươi. Triết lý đổi mới, chân lý đổi mới trong tư tưởng Hồ Chí Minh là ích nước, lợi dân: “Việc gì lợi cho dân, ta phải hết sức làm. Việc gì hại đến dân, ta phải hết sức tránh”(4).
Nói đến phát triển thì phải luôn luôn thể hiện và gắn liền với sự sáng tạo, đổi mới; bởi lẽ, đó vừa là đường dẫn, vừa là linh hồn của phát triển. Người luôn suy nghĩ, tìm tòi, đổi mới trong công việc, không cứng nhắc, bảo thủ, đóng khung mà rất linh hoạt, mềm dẻo khi xử lý, giải quyết từng vấn đề, sự việc cụ thể. Phong cách làm việc của Người không chấp nhận tư duy lối mòn, kinh nghiệm chủ quan, mà hướng tới sự mới mẻ, hiệu quả để ngày càng đạt kết quả tốt hơn.
Sự nghiệp đổi mới ở Việt Nam được soi sáng bởi chính tư duy, trí tuệ Việt Nam trên cơ sở kế thừa, phát triển các giá trị truyền thống tốt đẹp của dân tộc và tinh hoa văn hóa nhân loại, vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lê-nin vào điều kiện cụ thể của Việt Nam, với nền tảng, gốc rễ là tư tưởng Hồ Chí Minh.
Thứ ba, Chủ tịch Hồ Chí Minh là trung tâm quy tụ ý chí, khát vọng, niềm tin và sức mạnh của sự nghiệp đổi mới của cách mạng Việt Nam.
Trong cuộc khủng hoảng và đổ vỡ của mô hình chủ nghĩa xã hội hiện thực ở Liên Xô và các nước Đông Âu cuối thế kỷ XX, trong khi nhiều lãnh tụ cầm quyền ở các nước xã hội chủ nghĩa bị công kích thì Chủ tịch Hồ Chí Minh lại được loài người tiến bộ tôn vinh là Anh hùng giải phóng dân tộc, Danh nhân văn hóa kiệt xuất. Giữa lúc nhiều nước xã hội chủ nghĩa có trình độ phát triển kinh tế - xã hội cao hơn Việt Nam, tiến hành cải tổ không thành công thì công cuộc đổi mới ở Việt Nam lại đạt được thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử. Câu hỏi ở đây là: Vì sao có thực tế vĩ đại đó? Đó là bởi, tư tưởng, nhân cách văn hóa, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh đã soi sáng, dẫn đường cho cách mạng Việt Nam; dưới ánh sáng ấy, Đảng Cộng sản Việt Nam vượt qua muôn vàn khó khăn, thách thức, trở ngại, dũng cảm nhìn vào sự thật, để sửa chữa những sai lầm, khuyết điểm của chính mình, từ đó đề ra được đường lối đổi mới kịp thời, đúng đắn, sáng suốt nhất.
Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng là tấm gương sáng ngời trong phòng, chống tệ quan liêu, tham nhũng, nêu gương đạo đức liêm khiết, mẫu mực, tận trung với nước, tận hiếu với dân. Điểm đặc sắc trong tư tưởng của Người là hàm chứa trí tuệ cao gắn liền với tình cảm cách mạng sâu sắc, được diễn đạt một cách giản dị, giữa “nói đi đôi với làm”, rất gần với lối cảm, lối nghĩ của quần chúng. Chính vì vậy, tư tưởng Hồ Chí Minh đã đi vào lòng người một cách tự nhiên, thẩm thấu, đọng lại sâu sắc, lan tỏa trong trái tim, khối óc của mỗi người dân Việt Nam, trở thành nguồn động lực tinh thần vô giá để xây dựng nước Việt Nam “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh” như tâm nguyện của Người.
Thấm đẫm giá trị và tầm vóc của tư tưởng Hồ Chí Minh, Đảng Cộng sản Việt Nam khẳng định tư tưởng Hồ Chí Minh là kết quả của sự vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lê-nin trong điều kiện cụ thể của Việt Nam, và tư tưởng của Người đã trở thành một tài sản tinh thần quý báu của Đảng và dân tộc ta. Tại Đại hội VI (tháng 12-1986) - Đại hội khởi xướng công cuộc đổi mới - Đảng đã nhấn mạnh: “Muốn đổi mới tư duy, Đảng ta phải nắm vững bản chất cách mạng và khoa học của chủ nghĩa Mác - Lênin, kế thừa di sản quý báu về tư tưởng và lý luận cách mạng của Chủ tịch Hồ Chí Minh”(5). Tại Đại hội VII (tháng 6-1991), thông qua Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, Đảng ta lần đầu tiên đưa tư tưởng Hồ Chí Minh vào văn kiện và khẳng định: “Đảng lấy chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động”(6), và tổng kết thành bài học: “Điều kiện cốt yếu để công cuộc đổi mới giữ được định hướng xã hội chủ nghĩa và đi đến thành công là trong quá trình đổi mới Đảng phải kiên trì và vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh”(7). Đại hội IX của Đảng khẳng định, những bài học đổi mới do các Đại hội VI, VII, VIII nêu lên, vẫn còn nguyên giá trị, mà bài học hàng đầu vẫn là: “Trong quá trình đổi mới phải kiên trì mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội trên nền tảng chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh”(8).
Tiếp đó, Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (Bổ sung, phát triển năm 2011) tại Đại hội XI (năm 2011) của Đảng tiếp tục khẳng định: “Đảng lấy chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động”(9). Tại Đại hội XIII (năm 2021), Đảng ta chỉ rõ: “Kiên định và vận dụng, phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; kiên định đường lối đổi mới của Đảng... để xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa”(10).
Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Nguyễn Phú Trọng và các đại biểu dự Đại hội XIII của Đảng, tháng 1-2021_Ảnh: Tư liệu
Bước phát triển trong tư duy, nhận thức và hoạt động thực tiễn của Đảng đã cho thấy, cùng với chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh luôn là một bộ phận cơ bản cấu thành hệ tư tưởng, thế giới quan, phương pháp luận của Đảng Cộng sản Việt Nam. Đồng thời, sự khẳng định này cũng bảo đảm sự thống nhất nhận thức trong toàn Đảng, thể hiện rõ ý chí kiên quyết đấu tranh đối với những luận điệu sai trái, thù địch, đi ngược lại tư tưởng cách mạng và khoa học của chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh. Thực tế cho thấy, nếu xa rời tư tưởng Hồ Chí Minh thì cách mạng Việt Nam sẽ gặp khó khăn, thử thách. Tư tưởng Hồ Chí Minh đã trở thành yếu tố tất yếu, không thể thiếu trong toàn bộ quá trình hình thành và phát triển của cách mạng Việt Nam.
Như vậy, trong suốt tiến trình cách mạng Việt Nam, trong sự nghiệp đổi mới, Đảng ta luôn nhận thức đúng đắn, nhất quán, quán triệt, vận dụng sáng tạo và bảo vệ bản chất khoa học, cách mạng, nhân văn của tư tưởng Hồ Chí Minh trong lãnh đạo Nhà nước và xã hội. Đây chính là nhân tố quyết định, làm nên mọi thắng lợi của cách mạng Việt Nam.
Tư tưởng Hồ Chí Minh - ngọn cờ dẫn dắt đất nước đến phồn vinh, hạnh phúc
Tư tưởng Hồ Chí Minh không chỉ là ngọn cờ dẫn dắt sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc, mà còn có giá trị bền vững, lâu dài đối với sự nghiệp đổi mới, thực hiện khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc.
Khác với sự ra đời của nhiều tư tưởng, lý luận trên thế giới, tư tưởng Hồ Chí Minh được hình thành, phát triển trong quá trình đi tìm đường cứu nước, giải phóng dân tộc của Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh, từ khát vọng làm cho dân tộc độc lập, đất nước hùng cường, phồn vinh, nhân dân được ấm no, tự do, hạnh phúc. Đó là sự đúc rút, tổng kết từ cuộc đấu tranh cách mạng đầy gian khổ, hy sinh, nhưng vô cùng sôi nổi, phong phú, cao đẹp và trong sáng của Người.
Một là,Chủ tịchHồ Chí Minh nuôi dưỡng và truyền cảm hứng về khát vọng phát triển đất nước Việt Nam phồn vinh, hạnh phúc.
Khi cách mạng vừa thành công, đất nước trong tình thế “ngàn cân treo sợi tóc”, Người đã nêu khát vọng đưa dân tộc Việt Nam “bước tới đài vinh quang”, “sánh vai với các cường quốc năm châu”. Đó chính là nỗi niềm chung, mong muốn chung của cả dân tộc, là cái đích mà toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta phấn đấu đạt tới. Để thực hiện mong muốn này, Chủ tịch Hồ Chí Minh sớm đề ra các biện pháp giải quyết các nhiệm vụ cấp bách, như nạn đói, nạn mù chữ, xây dựng Hiến pháp dân chủ, bảo đảm tín ngưỡng tự do, lương giáo đoàn kết, thực hiện cần, kiệm, liêm, chính trong đội ngũ cán bộ, đảng viên... Người nêu rõ mong muốn, khát vọng mãnh liệt “...là làm sao cho nước ta được hoàn toàn độc lập, dân ta được hoàn toàn tự do, đồng bào ai cũng có cơm ăn áo mặc, ai cũng được học hành”. Người yêu cầu phải thực hiện ngay “làm cho dân có ăn; làm cho dân có mặc; làm cho dân có chỗ ở; làm cho dân có học hành”.
Hai là, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã định hướng, vạch ra con đường, biện pháp để xây dựng, phát triển đất nước Việt Nam “đàng hoàng hơn, to đẹp hơn”, phồn vinh, hạnh phúc.
Trong bản Di chúc thiêng liêng, Người trăn trở, suy nghĩ về kế hoạch xây dựng lại thành phố và làng mạc bị chiến tranh tàn phá; khôi phục và mở rộng các ngành kinh tế; sửa đổi chế độ giáo dục cho hợp với hoàn cảnh mới của nhân dân; trồng cây thành rừng tốt cho phong cảnh, lợi cho nông nghiệp... Người mong muốn toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta đoàn kết phấn đấu, xây dựng một nước Việt Nam hòa bình, thống nhất, độc lập, dân chủ, giàu mạnh và góp phần xứng đáng vào sự nghiệp cách mạng thế giới.
Ba là, Chủ tịch Hồ Chí Minh là biểu tượng, là tinh hoa của tinh thần khoan dung, nhân ái, yêu chuộng hòa bình, văn minh Việt Nam và tiến bộ của thế giới.
Khoan dung, nhân ái, yêu chuộng hòa bình Hồ Chí Minh cũng chính là biểu hiện của tinh thần tiến bộ, văn minh Việt Nam và thế giới trong thời đại mới. Đó là lòng yêu thương sâu sắc đối với con người, ở cái nhìn rộng lượng đối với những sự khác biệt với mình, ở sự tôn trọng niềm tin của người khác; xa lạ với mọi thái độ cuồng tín, giáo điều. Đối với các tôn giáo, Người tôn trọng đức tin của người có đạo, tìm điểm tương đồng về giá trị giữa lý tưởng của các bậc sáng lập tôn giáo với mục tiêu giải phóng dân tộc và mưu cầu hạnh phúc cho nhân dân, của Đảng ta. Người được cả dân tộc và nhân loại tôn vinh là chiến sĩ vì hòa bình, đấu tranh chống lại những bất công, tàn bạo, nâng đỡ, giúp đỡ con người được sống một cuộc sống đúng nghĩa của con người.
Hiện thực hóa khát vọng đổi mới, sáng tạo và xây dựng nước Việt Nam phồn vinh, hạnh phúc theo tư tưởng Hồ Chí Minh
Nhìn lại hơn 35 năm thực hiện công cuộc đổi mới, 30 năm thực hiện Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, lý luận về đường lối đổi mới, con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta ngày càng sáng rõ hơn và từng bước được hiện thực hóa. Đất nước ta đã đạt được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử, chưa bao giờ có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế như ngày nay. Quy mô, trình độ nền kinh tế được nâng lên. Đời sống nhân dân cả về vật chất và tinh thần được cải thiện rõ rệt. Đây là niềm tự hào, là động lực, nguồn lực quan trọng, là niềm tin để toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta vượt qua mọi khó khăn, thách thức, tiếp tục vững bước trên con đường đổi mới toàn diện, đồng bộ; phát triển nhanh và bền vững đất nước. Ý chí và khát vọng về một dân tộc Việt Nam hùng cường của Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đặt nền móng, từng bước đưa dân tộc Việt Nam tiến cùng nhịp bước với trào lưu tiến bộ trên thế giới và ý nguyện hòa bình, phát triển của nhân loại.
Đại hội XIII của Đảng là sự kiện chính trị có ý nghĩa lịch sử đặc biệt, là dấu mốc quan trọng trong quá trình phát triển của Đảng ta, dân tộc ta, đất nước ta. Tại Đại hội XIII, lần đầu tiên trong chủ đề của Đại hội và trong các văn kiện chính trị đề cập đến “khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc”. Đây là một điểm rất mới và là một dấu ấn rất quan trọng. Khát vọng thịnh vượng đã được khơi dậy, truyền cảm hứng và như một lời hiệu triệu với non sông, đất nước, với gần một trăm triệu người dân Việt Nam mà ở đó, mục tiêu rõ nhất là làm cho người dân được hạnh phúc dưới ánh sáng tư tưởng, đạo đức, phong cách và khát vọng Hồ Chí Minh.
Hiện nay, bên cạnh xu thế tích cực là chủ đạo, tình hình thế giới vẫn còn nhiều diễn biến phức tạp, khó lường; chủ nghĩa dân tộc cực đoan, chủ nghĩa cường quyền nước lớn, chủ nghĩa thực dụng, chủ nghĩa dân túy trong quan hệ quốc tế có xu hướng gia tăng. Các nước đang phát triển, nhất là các nước nhỏ, đứng trước nhiều khó khăn, thách thức mới. Kinh tế thế giới lâm vào khủng hoảng, suy thoái nghiêm trọng và có thể còn kéo dài do tác động của đại dịch COVID-19. Các quốc gia, nhất là các nước lớn, điều chỉnh lại chiến lược phát triển, giảm bớt sự phụ thuộc vào bên ngoài, làm thay đổi các chuỗi cung ứng. Cạnh tranh kinh tế, chiến tranh thương mại, tranh giành thị trường, các nguồn tài nguyên, công nghệ, nhân lực chất lượng cao giữa các nước ngày càng gay gắt, quyết liệt, tác động mạnh đến chuỗi sản xuất và phân phối toàn cầu.
Ở trong nước, bên cạnh những thuận lợi cơ bản, đất nước ta đang phải đối diện với những khó khăn, thử thách và trở ngại không hề nhỏ. Nền kinh tế phát triển chưa bền vững, còn nhiều hạn chế, yếu kém, lại phải đối diện với nhiều khó khăn, thách thức mới do tác động của đại dịch COVID-19 và khủng hoảng kinh tế toàn cầu gây ra. Bốn nguy cơ mà Đảng ta đã chỉ ra vẫn còn tồn tại, có mặt còn gay gắt hơn. Các thế lực thù địch tiếp tục tăng cường chống phá Đảng, Nhà nước và đất nước ta. Bảo vệ độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ, giữ vững môi trường hòa bình, ổn định và thích ứng với biến đổi khí hậu là yêu cầu cấp thiết, đồng thời là những thách thức rất lớn đối với nước ta trong thời gian tới.
Để hiện thực hóa khát vọng đổi mới sáng tạo và xây dựng nước Việt Nam phát triển phồn vinh, hạnh phúc theo tư tưởng Hồ Chí Minh, cần vận dụng sáng tạo tư tưởng của Người trong bối cảnh mới của thời đại, phù hợp với tình hình thực tiễn của đất nước trên những nội dung sau:
Thứ nhất, kiên định, trung thành với lý tưởng, mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội mà Chủ tịch Hồ Chí Minh, Đảng và dân tộc ta đã lựa chọn. Đổi mới là một quá trình cách mạng toàn diện, sâu sắc và triệt để trên mọi lĩnh vực của đời sống xã hội. Đổi mới không phải là từ bỏ, thay đổi mục tiêu chủ nghĩa xã hội mà là làm cho mục tiêu ấy được thực hiện có hiệu quả, để chủ nghĩa xã hội phát huy được bản chất ưu việt, không giáo điều, trì trệ và xơ cứng trong tư duy và tư tưởng, làm sống động những giá trị bền vững của chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh trong thực tiễn đổi mới của Việt Nam.
Thứ hai, khơi dậy mạnh mẽ tinh thần yêu nước, ý chí tự cường dân tộc, sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc và khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc; phát huy dân chủ xã hội chủ nghĩa, tăng cường kỷ luật, kỷ cương, sức mạnh tổng hợp của nền văn hóa, con người Việt Nam, bồi dưỡng sức dân, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, thu hút, trọng dụng nhân tài, thúc đẩy đổi mới sáng tạo, ứng dụng mạnh mẽ khoa học và công nghệ, nhất là những thành tựu của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, tạo động lực mới cho phát triển nhanh và bền vững đất nước.
Ủy viên Bộ Chính trị, Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính thăm nhà máy sản xuất, lắp ráp ô tô, xe máy của Tập đoàn Thaco tại Khu kinh tế mở Chu Lai, tỉnh Quảng Nam_Ảnh: TTXVN
Thứ ba, gắn phát triển kinh tế với phát triển xã hội, bảo đảm an sinh xã hội, chăm lo bảo vệ môi trường vì sự phát triển bền vững của đất nước và phục vụ cuộc sống, vì cuộc sống bình yên của người dân. Không phải ngẫu nhiên mà trong hệ mục tiêu của đổi mới, Đảng ta đặt “dân giàu, nước mạnh” lên hàng đầu. Các chính sách kinh tế phải thống nhất với các chính sách xã hội, lấy sự phát triển toàn diện của con người làm mục tiêu, là thước đo của sự phát triển.
Thứ tư, tiếp tục xây dựng, chỉnh đốn Đảng toàn diện; đổi mới phương thức lãnh đạo, nâng cao năng lực lãnh đạo, cầm quyền của Đảng; xây dựng hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh, tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả; xây dựng đội ngũ cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức, nhất là cán bộ cấp chiến lược có đủ phẩm chất, năng lực và uy tín, ngang tầm nhiệm vụ; làm tốt công tác tư tưởng, lý luận; chú trọng công tác bảo vệ Đảng, bảo vệ chính trị nội bộ; tăng cường công tác kiểm tra, giám sát, kỷ luật của Đảng.
Thứ năm, kiên quyết, kiên trì bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc; bảo vệ Đảng, Nhà nước, nhân dân và chế độ xã hội chủ nghĩa. Giữ vững an ninh chính trị, bảo đảm trật tự, an toàn xã hội, an ninh kinh tế, an ninh mạng, an ninh con người, xây dựng xã hội trật tự, kỷ cương. Chủ động ngăn ngừa các nguy cơ chiến tranh, xung đột từ sớm, từ xa; phát hiện sớm và xử lý kịp thời những nhân tố bất lợi, nhất là những nhân tố có thể gây đột biến; đẩy mạnh đấu tranh làm thất bại mọi âm mưu và hoạt động chống phá của các thế lực thù địch./.
Viện Hồ Chí Minh và các lãnh tụ của Đảng, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh
10:32, ngày 27-06-2022
TCCS - Hiện nay, đất nước ta tiếp tục đẩy mạnh toàn diện, đồng bộ công cuộc đổi mới và hội nhập quốc tế sâu rộng, với những thời cơ, thuận lợi và thách thức, khó khăn đan xen. Tình hình đó đặt ra yêu cầu tiếp tục vận dụng, phát triển sáng tạo tư tưởng đổi mới của Chủ tịch Hồ Chí Minh để có những phương hướng, biện pháp nhằm góp phần hiện thực hóa khát vọng Việt Nam phát triển mạnh mẽ, hùng cường, phồn vinh, hạnh phúc.
Tư tưởng Hồ Chí Minh về đổi mới
Tư tưởng Hồ Chí Minh về đổi mới là hệ thống các quan điểm mang tính định hướng sâu sắc về sự thay thế cái cũ bằng cái mới tiến bộ, từ nhận thức mới để đổi mới đường lối, chính sách, phương thức hoạt động và tổ chức lực lượng thực hiện trong điều kiện một nước Việt Nam lạc hậu, kém phát triển, với mục tiêu xây dựng đất nước trở thành một quốc gia độc lập, tự cường, tiên tiến, phát triển sánh vai với các cường quốc năm châu. Tư tưởng Hồ Chí Minh về đổi mới bao gồm những nội dung chủ yếu sau:
Thứ nhất, tư duy về lý luận và động lực xây dựng chủ nghĩa xã hội
Thấm nhuần sâu sắc chủ nghĩa Mác - Lê-nin, nhất là học thuyết hình thái kinh tế - xã hội phát triển thay thế lẫn nhau, từ bậc thấp lên bậc cao, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định tính tất yếu về sự tiến bộ của xã hội loài người: “Không có lực lượng gì ngăn trở được mặt trời mọc. Không có lực lượng gì ngăn trở được lịch sử loài người tiến lên. Cũng không có lực lượng gì ngăn trở được chủ nghĩa xã hội phát triển”(1). Trong quá trình trực tiếp lãnh đạo cách mạng Việt Nam, Người luôn coi trọng vai trò của lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất phù hợp, của các nhân tố kinh tế, động lực lợi ích đối với sự phát triển. Người đặc biệt quan tâm và nỗ lực thực hiện việc giải phóng lực lượng lao động, nhằm tạo ra động lực quan trọng cho sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam.
Chủ tịch Hồ Chí Minh thăm khu công nghiệp Liên hợp gang thép Thái Nguyên nhân dịp lò cao số 1 ra mẻ gang đầu tiên (năm 1964)_Nguồn: hochiminh.vn
Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn chú trọng việc bảo đảm công bằng trong phân phối lợi ích dựa trên nguyên tắc: “Ai làm nhiều thì ăn nhiều, ai làm ít thì ăn ít, ai không làm thì không ăn, tất nhiên là trừ những người già cả, đau yếu và trẻ con”(2). Người kêu gọi phải chống chủ nghĩa cá nhân, vì đó là “kẻ thù của chủ nghĩa xã hội”, nhưng không được giày xéo lên cá nhân, mà phải tôn trọng lợi ích chính đáng của mỗi cá nhân. Sự ưu việt của chế độ mới là mỗi người đều được thụ hưởng những thành quả cách mạng một cách công bằng, hợp lý mà thể chế mang bản chất tốt đẹp do “dân là chủ” và “dân làm chủ” mang lại. Nhưng, để xây dựng và phát triển đất nước, theo Người, cần phải phát huy tối đa động lực lợi ích (trước mắt và lâu dài, vật chất và tinh thần, chính đáng và công bằng trong xã hội). Vì vậy, Người viết “Lời kêu gọi thi đua ái quốc” nhằm chăm lo, phát huy mạnh mẽ phong trào thi đua yêu nước; đồng thời, chú trọng xây dựng nền dân chủ trong chính trị và trong xã hội, bởi dân chủ có thực chất thì mới tạo ra đoàn kết thực chất và đồng thuận thực chất.
Thứ hai, tư duy về tổ chức và thiết chế xã hội chủ nghĩa.
Chủ tịch Hồ Chí Minh có tư duy mới về sự ra đời, tầm quan trọng và bản chất của tổ chức lãnh đạo cách mạng. Người cho rằng: “Cách mệnh trước hết phải có cái gì? Trước hết phải có đảng cách mệnh, để trong thì vận động và tổ chức dân chúng, ngoài thì liên lạc với dân tộc bị áp bức và vô sản giai cấp mọi nơi. Đảng có vững cách mệnh mới thành công, cũng như người cầm lái có vững thuyền mới chạy”(3). Việc xuất hiện một đảng kiểu mới ở Việt Nam xuất phát từ quá trình nhận thức và vận dụng đúng đắn lý luận về quy luật ra đời của Đảng, là sự kết hợp chủ nghĩa Mác - Lê-nin với phong trào công nhân và phong trào yêu nước Việt Nam. Người nói rõ về bản chất, bản chất giai cấp, tính nhân dân và tính dân tộc của Đảng. Trách nhiệm cao cả của Đảng là phải có đường lối, chỉ thị, nghị quyết, kế hoạch sẵn sàng, rõ ràng, chu đáo “để tránh khỏi bị động, thiếu sót và sai lầm”. Đảng phải thật sự trong sạch, đoàn kết và “thanh khiết từ to đến nhỏ” thì mới có thể lãnh đạo được nhân dân và cách mạng “nhất định thắng lợi”. Đảng phải thực hiện tốt những nguyên tắc hoạt động, như tập trung dân chủ, tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách; tự phê bình và phê bình, hoạt động theo đúng pháp luật; có tinh thần đoàn kết, kỷ luật, thống nhất,... Đặc biệt, công tác bồi dưỡng, giáo dục, rèn luyện cán bộ, đảng viên là “công việc gốc của Đảng” để làm cho Đảng thực sự “là đạo đức, là văn minh” và đổi mới phải bắt đầu từ Đảng. Việc xây dựng, chỉnh đốn Đảng gắn với phòng, chống những biểu hiện của chủ nghĩa cá nhân phải được thực hiện thường xuyên, liên tục, vì Đảng “không phải là một tổ chức để làm quan phát tài”, mà phải vì “lợi ích của dân tộc, của Tổ quốc”.
Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, xét về bản chất thì Nhà nước ta là Nhà nước kiểu mới, thể hiện tính dân chủ nhân dân và phục vụ lợi ích của dân tộc. Nhà nước phải thực sự “phục vụ nhân dân”, tôn trọng và bảo đảm các quyền công dân, quyền con người. Nhà nước có hệ thống pháp luật dân chủ, thể hiện ý chí, lợi ích của nhân dân và điều hành, quản lý xã hội một cách nghiêm minh, công bằng, kỷ cương. Như vậy, từ rất sớm, Người đã có tư duy mới về xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân.
Thứ ba, tư duy về sức mạnh của đổi mới là nhân dân.
Chủ tịch Hồ Chí Minh nhấn mạnh, đổi mới là một cuộc chiến đấu chống lại những gì đã cũ kỹ, hư hỏng, để tạo ra những cái mới mẻ, tốt tươi, nhưng phải theo phương châm bắt đầu từ con người, vì con người, do con người và trở về với con người. Người khẳng định: “Công việc đổi mới, xây dựng là trách nhiệm của dân”(4). Có lực lượng dân chúng thì việc to tát mấy, khó khăn đến đâu cũng giải quyết được. Công cuộc đổi mới phải dựa chắc vào đồng bào, phải học - hỏi - hiểu dân chúng, “theo đúng đường lối dân chúng”, “sao cho được lòng dân”; từ đó, mang tài dân, sức dân, kinh nghiệm và sáng kiến của dân để làm lợi cho nhân dân trong sự nghiệp đổi mới.
Sự nghiệp cách mạng đòi hỏi cần phải đại đoàn kết rộng rãi toàn dân thành một khối thống nhất, bền vững và lớn mạnh trong Mặt trận dân tộc thống nhất. Do vậy, Người đặc biệt đề cao phương pháp đoàn kết “hết thảy”; tăng cường tuyên truyền, vận động, thuyết phục, cảm hóa, thậm chí còn phải “khoan hồng đại độ” với những người “thế này hay thế khác”, kể cả những người lầm đường lạc lối. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã giải quyết đúng đắn mối quan hệ giữa dân tộc và giai cấp, bảo đảm hài hòa quyền lợi các giai tầng, tạo sự đồng thuận cao trong xã hội. Người khẳng định: “Đoàn kết giữa đồng bào toàn quốc, từ Bắc chí Nam. Nói rộng hơn nữa: Đoàn kết giữa nhân dân ta và nhân dân các nước bạn, nhân dân châu Á, nhân dân nước Pháp và nhân dân yêu chuộng hòa bình thế giới”(5). Đây là chủ trương sáng tạo, thể hiện tư duy mới, nhạy bén và phù hợp với thực tiễn đất nước ta.
Thứ tư, tư duy về chiến lược “trồng người” và phát triển nguồn lực con người.
Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn quan tâm đào tạo những người kế tục sự nghiệp cách mạng của Đảng và nhân dân ta, Người yêu cầu cán bộ lãnh đạo các ngành, các cấp phải chú trọng đẩy mạnh “sự nghiệp giáo dục của ta lên những bước phát triển mới”. Người khẳng định: “Thanh niên muốn làm người chủ tương lai cho xứng đáng thì ngay hiện tại phải rèn luyện tinh thần và lực lượng của mình, phải ra làm việc để chuẩn bị cái tương lai đó”(6). Con người phải được đào tạo, giáo dục và rèn luyện về mọi mặt để có tài và có đức; phải làm cho văn hóa thấm sâu vào mọi lĩnh vực của xã hội. Theo đó, cần đẩy mạnh giáo dục toàn diện để xây dựng đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp có tri thức, trình độ, trở thành động lực phát triển trong công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội; gắn việc học tập với thực hành, phát huy nhân tố con người, nhằm rèn luyện, bồi dưỡng, đào tạo ra những con người tốt, cán bộ tốt, đóng góp quan trọng vào việc phát triển nguồn nhân lực có phẩm chất chính trị vững vàng, có đủ chuyên môn để phục vụ sự nghiệp cách mạng của Đảng và dân tộc.
Thứ năm, tư duy về phát triển kinh tế xã hội chủ nghĩa.
Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn quan tâm phát triển kinh tế, nhằm bảo đảm lợi ích thiết thực cho mỗi người dân; cho nên, Người yêu cầu cán bộ lãnh đạo các cấp thực hiện ngay những việc làm cho dân có ăn, mặc, ở, học hành, đi lại, chữa bệnh,... Xây dựng chủ nghĩa xã hội chính là hướng đến việc không ngừng nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân, trước hết là của nhân dân lao động. Việc thực hiện mục tiêu nâng cao đời sống của nhân dân cũng là cơ sở quan trọng để xây dựng đường lối, kế hoạch và cách thức tổ chức sản xuất, phát triển kinh tế xã hội chủ nghĩa.
Công nghiệp hóa là xu hướng tất yếu để phát triển kinh tế bền vững, góp phần thúc đẩy phát triển sản xuất xã hội, giải phóng sức lao động, huy động nguồn vốn và công nghệ hiện đại, tạo ra năng suất cao. Ngay từ thời kỳ đầu xây dựng chế độ xã hội mới, Người đã có chủ trương: “Nước Việt Nam dành sự tiếp nhận thuận lợi cho đầu tư của các nhà tư bản, nhà kỹ thuật nước ngoài trong tất cả các ngành kỹ nghệ của mình,... Nước Việt Nam chấp nhận tham gia mọi tổ chức hợp tác kinh tế quốc tế dưới sự lãnh đạo của Liên hợp quốc”(7). Người định hướng con đường Việt Nam phải đi là “con đường công nghiệp hóa nước nhà”,mở cửa hợp tác tạo ra cơ hội lớn để có thể kiến thiết quốc gia và nâng cao đời sống nhân dân trên cơ sở ứng dụng những thành tựu khoa học, kỹ thuật vào hoạt động sản xuất. Công nghiệp hóa đặt ra những yêu cầu mới đối với hoạt động lãnh đạo và quản lý kinh tế ở các đơn vị, mà khâu then chốt phải chú trọng là “đẩy mạnh quản lý xí nghiệp và cán bộ, công nhân phải thạo kỹ thuật; các cơ quan lãnh đạo thì phải đi sâu đi sát, phục vụ sản xuất”(8); theo đó, tiết kiệm là yêu cầu bắt buộc trong hoạch định và thực thi chiến lược phát triển kinh tế; không chỉ tiết kiệm về của cải, tiền bạc, thời gian, sức lực (sức dân), mà còn phải thực hiện tiết kiệm cả trong tiêu dùng hằng ngày.
Chính phủ có vai trò quan trọng trong xây dựng cơ chế, chính sách, xác lập và duy trì hệ thống các nguyên tắc quản lý kinh tế và tạo ra các “đòn bẩy” kích thích sự phát triển kinh tế. Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ, việc quản lý một nước cũng như quản lý một doanh nghiệp, đều phải có lãi. Cái gì ra, cái gì vào, việc gì phải làm ngay, việc gì chờ, hoãn, hay bỏ, món nào đáng tiêu, người nào đáng dùng, tất cả mọi thứ đều phải được tính toán cẩn thận. Trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, Người chủ trương xây dựng nền kinh tế với các hình thức sở hữu chính: “Sở hữu của Nhà nước tức là của toàn dân. Sở hữu của hợp tác xã tức là sở hữu tập thể của nhân dân lao động. Sở hữu của người lao động riêng lẻ. Một ít tư liệu sản xuất thuộc sở hữu của nhà tư bản”(9). Người tổng kết, trong chế độ dân chủ mới, có năm loại kinh tế khác nhau: “A- Kinh tế quốc doanh (thuộc chủ nghĩa xã hội, vì nó là của chung của nhân dân). B- Các hợp tác xã (nó là nửa chủ nghĩa xã hội, và sẽ tiến đến chủ nghĩa xã hội). C- Kinh tế của cá nhân, nông dân và thủ công nghệ (có thể tiến dần vào hợp tác xã, tức là nửa chủ nghĩa xã hội). D- Tư bản của tư nhân. E- Tư bản của Nhà nước (như Nhà nước hùn vốn với tư bản tư nhân để kinh doanh)”(10). Tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh về phát triển kinh tế chứa đựng tư duy mới, hiện đại, khoa học và cách mạng, có ý nghĩa thời sự và giá trị định hướng sâu sắc đối với quá trình xây dựng và phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam hiện nay.
Vận dụng tư tưởng đổi mới của Chủ tịch Hồ Chí Minh để hiện thực hóa khát vọng Việt Nam hùng cường
Thành tựu của hơn 35 năm đổi mới, 30 năm thực hiện Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (năm 1991), 10 năm thực hiện Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển năm 2011) tiếp tục khẳng định đường lối đổi mới của Đảng ta, trên cơ sở quán triệt, vận dụng tư tưởng đổi mới của Chủ tịch Hồ Chí Minh, là đúng đắn, sáng tạo; con đường đi lên chủ nghĩa xã hội là phù hợp với thực tiễn Việt Nam và xu thế phát triển của thời đại; sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng là nhân tố hàng đầu quyết định thắng lợi của cách mạng Việt Nam. Thời gian tới, Đảng và dân tộc ta cần tiếp tục vận dụng sáng tạo và phát triển tư tưởng đổi mới của Người nhằm khơi dậy khát vọng phát triển đất nước hùng cường, phồn vinh, hạnh phúc trên những phương diện chủ yếu sau:
Một là, kiên định mục tiêu độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội phù hợp với đặc điểm và tính chất của thời đại mới.
Hiện nay, tình hình thế giới, khu vực diễn biến nhanh chóng, phức tạp, khó lường; đại dịch COVID-19 đã làm cho thế giới rơi vào khủng hoảng nghiêm trọng về nhiều mặt; đất nước ta đang đứng trước cả thời cơ, thuận lợi và khó khăn, thách thức đan xen, nhiều vấn đề mới đặt ra cần phải giải quyết. Bối cảnh đó đòi hỏi phải có sự đột phá, đổi mới tư duy một cách toàn diện, đồng bộ trong tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội, trên cơ sở đánh giá đúng xu thế, nắm bắt trúng thời cơ. Yêu cầu đặt ra cấp thiết hiện nay là phải coi trọng tổng kết thực tiễn, đẩy mạnh nghiên cứu lý luận và nâng tầm tư duy lý luận, tạo thế đột phá để phát triển đất nước trên cơ sở kiên định đường lối đổi mới, kế thừa và phát triển, chú trọng cả chiến lược và sách lược. Vì vậy, tư tưởng đổi mới của Chủ tịch Hồ Chí Minh trở thành bài học quý báu, “kim chỉ nam” cho Đảng ta và dân tộc ta trong việc đánh giá đúng thực tiễn và hoạch định đường lối, chính sách phù hợp, góp phần củng cố và phát triển cơ sở lý luận về đường lối đổi mới.
Cần tiếp tục quán triệt sâu sắc trong nhận thức, hành động của toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta là “phải kiên định và vận dụng, phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh; kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; kiên định đường lối đổi mới của Đảng”(11). Thực tiễn đã chứng minh, Việt Nam tiến lên chủ nghĩa xã hội là một tất yếu khách quan; theo đó, việc đổi mới tư duy để phát triển là rất quan trọng, vừa kiên định với chủ nghĩa Mác - Lê-nin, vừa phải tiếp thu, kế thừa những thành tựu to lớn mà nhân loại đã đạt được trong hình thái kinh tế - xã hội tư bản chủ nghĩa, đặc biệt là các thành tựu về khoa học và công nghệ, để phát triển nhanh lực lượng sản xuất, xây dựng và phát triển nền kinh tế hiện đại.
Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng thăm dây chuyền sản xuất sản phẩm thấu kính quang học cao cấp của Công ty TNHH nghiên cứu kỹ thuật R Việt Nam (tỉnh Hòa Bình) xuất khẩu sang các thị trường Nhật Bản, Malaysia, Đức... _Ảnh: Tư liệu
Hai là, đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng, hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa.
Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng đã quyết định phương hướng, mục tiêu, nhiệm vụ 5 năm, 10 năm tới và tầm nhìn đến năm 2045. Trong đó, có vấn đề mang tính hệ trọng là: “Tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh; khơi dậy khát vọng phát triển đất nước, phát huy ý chí, sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc kết hợp với sức mạnh thời đại; tiếp tục đẩy mạnh toàn diện, đồng bộ công cuộc đổi mới; xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc, giữ vững môi trường hòa bình, ổn định; phấn đấu đến giữa thế kỷ XXI, nước ta trở thành nước phát triển, theo định hướng xã hội chủ nghĩa”(12). Thực hiện các mục tiêu đó phải trên tinh thần kế thừa, bổ sung, phát triển sáng tạo lý luận của Đảng, nhưng vẫn phải giữ vững những nguyên lý mà Chủ tịch Hồ Chí Minh đã luận giải về bản chất của Đảng, về phương thức lãnh đạo của Đảng và hoạt động xây dựng, chỉnh đốn Đảng. Trong những năm tới, Đảng phải đặc biệt coi trọng và “Tăng cường công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng về chính trị, tư tưởng, đạo đức, tổ chức và cán bộ”(13); ban hành những nghị quyết, chỉ thị đáp ứng tiêu chí phù hợp giữa “ý Đảng” với “lòng dân”, đáp ứng niềm tin của nhân dân đối với Đảng; nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng; tăng cường công tác kiểm tra, giám sát và kỷ luật đảng; tích cực đấu tranh, phản bác có hiệu quả các quan điểm sai trái của các thế lực thù địch, phản động và cơ hội chính trị; phát huy, đổi mới vai trò lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước trong điều kiện mới.
Quá trình đổi mới tư duy, bổ sung, hoàn chỉnh cả về lý luận và thực tiễn xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở nước ta đã được xác định ngày càng rõ ràng hơn. Quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công, phối hợp và kiểm soát giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp. Xây dựng nền hành chính nhà nước phục vụ nhân dân, dân chủ, pháp quyền, chuyên nghiệp, hiện đại, trong sạch, vững mạnh, công khai, minh bạch. Thường xuyên tổng kết thực tiễn, rút kinh nghiệm, sửa đổi, điều chỉnh tổ chức, nâng cao hiệu quả, hiệu lực hoạt động quản lý của Nhà nước. Đẩy mạnh xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật và tổ chức thực hiện pháp luật; bảo đảm quyền lực “đều ở nơi dân”, tránh lạm quyền, độc quyền, lộng quyền. Đẩy mạnh đấu tranh phòng, chống “đặc quyền”, “đặc lợi”, “tham ô, lãng phí, quan liêu” và những hiện tượng tiêu cực khác trong bộ máy nhà nước. Xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức đủ phẩm chất, năng lực, coi đây là nhiệm vụ “then chốt của then chốt”, nhằm đáp ứng yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân trong giai đoạn mới.
Ba là,tiếp tục phát huy dân chủ và tăng cường củng cố khối đại đoàn kết toàn dân tộc.
Trong quá trình đổi mới, xã hội càng phát triển thì đòi hỏi dân chủ ngày càng được tôn trọng và thực hiện hiệu quả. Do vậy, Đảng, Nhà nước luôn quán triệt tư tưởng “lấy dân làm gốc”; phát huy vai trò dân là chủ và dân làm chủ, phải đẩy mạnh thực hành dân chủ trong hoạt động chính trị và trong đời sống xã hội một cách thực chất, phát huy dân chủ đến cao độ. Tuy nhiên, dân chủ phải đi liền với bảo đảm trật tự, kỷ cương, tuân thủ pháp luật; vì vậy, dân chủ trong điều kiện mới phải thể hiện trong các thiết chế và trong mọi hoạt động của Đảng, Nhà nước, hệ thống chính trị và của xã hội. Để tư tưởng “Đoàn kết, đoàn kết, đại đoàn kết - Thành công, thành công, đại thành công” được tiếp tục phát huy hiệu quả, cần thực hiện tốt phương châm “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng”, đi đôi với cụ thể hóa, công khai hóa những chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước làm cho nhân dân có quyền lợi và nghĩa vụ tương xứng trên thực tế.
Theo đó, để xây dựng xã hội “dân giàu” thì phải bảo đảm “dân sinh”; Đảng, Nhà nước tiếp tục đẩy mạnh việc xây dựng, tổ chức thực hiện có hiệu quả các chính sách an sinh xã hội, phúc lợi xã hội, nhất là tập trung nâng cao dân trí và từng bước nâng cao đời sống, thu nhập của nhân dân để giữ vững ổn định và tạo điều kiện phát triển; giảm thiểu sự thiếu đồng bộ, chênh lệch giữa miền núi, vùng sâu, vùng xa với vùng đồng bằng, đô thị; thực hiện giảm nghèo bền vững. Cần có biện pháp để huy động “tài dân”, “sức dân”, khuyến khích phát triển kinh tế cá thể và hộ gia đình; có chính sách thu hút mọi nguồn lực từ đồng bào Việt Nam ở nước ngoài là những nhiệm vụ quan trọng, cấp bách cần tập trung thực hiện tốt trong thời kỳ mới.
Bốn là, phát triển giáo dục - đào tạo, tạo nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp đổi mới.
Thực hiện chiến lược “trồng người”, cùng với khoa học và công nghệ là quốc sách hàng đầu, giữ vai trò là động lực then chốt để phát triển đất nước. Văn kiện Đại hội XIII của Đảng nhấn mạnh: “Đẩy mạnh phát triển nguồn nhân lực, nhất là nhân lực chất lượng cao, đáp ứng yêu cầu của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư và hội nhập quốc tế. Phát triển đội ngũ chuyên gia, nhà khoa học đầu ngành; chú trọng đội ngũ nhân lực kỹ thuật, nhân lực số, nhân lực quản trị công nghệ, nhân lực quản lý, quản trị doanh nghiệp; nhân lực quản lý xã hội và tổ chức cuộc sống, chăm sóc con người”(14). Đảng và Nhà nước ta tiếp tục ban hành những quan điểm chỉ đạo, giải pháp đồng bộ và toàn diện về phát triển giáo dục - đào tạo và phát triển nguồn lực con người trong thời gian tới để đáp ứng yêu cầu phát triển nhanh, bền vững đất nước.
Đẩy mạnh phát triển nguồn nhân lực, chú trọng đội ngũ nhân lực kỹ thuật, nhân lực số, nhân lực quản trị công nghệ..._Nguồn: tapchicongthuong.vn
Trong phát triển nguồn nhân lực, cần chú trọng gắn kết 3 khâu đào tạo, sử dụng, đãi ngộ; theo đó, đào tạo con người theo hướng có đạo đức, kỷ luật, kỷ cương, ý thức trách nhiệm công dân, xã hội; có kỹ năng sống, kỹ năng làm việc, ngoại ngữ, công nghệ thông tin, công nghệ số, tư duy sáng tạo và hội nhập quốc tế. Phải thực hiện xã hội hóa việc học tập; đồng thời, đổi mới và nâng cao chất lượng giáo dục nghề nghiệp theo hướng mở để nâng cao trình độ nguồn nhân lực toàn diện. Tập trung nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, chuyển dịch nhanh cơ cấu lao động, nhất là lao động ở nông thôn; có cơ chế tuyển dụng, sử dụng, trọng dụng nhân tài trong quản lý, quản trị nhà nước, khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo. Đặc biệt, chú trọng, tăng cường hơn nữa việc phát hiện, bồi dưỡng, có chế độ đãi ngộ, thu hút sử dụng nhân tài cho phát triển kinh tế - xã hội. Hình thành đội ngũ lao động lành nghề, góp phần nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia, gắn kết chặt chẽ giữa đào tạo và sử dụng lao động.
Năm là, đẩy mạnh phát triển kinh tế - lĩnh vực đột phá của đổi mới.
Chính phủ và các cơ quan quản lý nhà nước cần đổi mới tư duy, bộ máy và phương thức quản lý, điều hành, hoạch định cơ chế, chính sách để thích ứng kịp thời với sự thay đổi có tính cách mạng về khoa học - công nghệ, đòi hỏi sự đổi mới sáng tạo...; nâng cao chất lượng nguồn nhân lực có trí tuệ, có trình độ, có sức khỏe, sáng tạo, năng động. Khơi dậy khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc, phát huy mạnh mẽ giá trị văn hóa con người Việt Nam và sức mạnh thời đại, huy động mọi nguồn lực, phát triển nhanh và bền vững trên cơ sở khoa học - công nghệ, đổi mới sáng tạo; phấn đấu “Đến năm 2030: Là nước đang phát triển, có công nghiệp hiện đại, thu nhập trung bình cao. Đến năm 2045: Trở thành nước phát triển, thu nhập cao”(15).
Xác định rõ nội dung, bản chất và các bước tuần tự trong phát triển các ngành, các lĩnh vực kinh tế; tập trung phát triển những ngành công nghiệp then chốt để phục vụ tốt cho phát triển nông nghiệp và công nghiệp nhẹ; đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, cơ cấu lại nền kinh tế gắn với đổi mới mô hình tăng trưởng, bảo đảm thực chất, hiệu quả; phát triển nền kinh tế số; thúc đẩy tăng trưởng nhanh, bền vững trên cơ sở ổn định kinh tế vĩ mô,...đóchính là sự vận dụng sáng tạo tư tưởng phát triển kinh tế của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong giai đoạn hiện nay.
Trong quản lý kinh tế và phát triển kinh tế cần tuân thủ sự kết hợp giữa xây dựng mới và cải tiến, nâng cấp công nghệ hiện có; kết hợp các loại hình công nghệ từ thô sơ đến trung bình; đồng thời, phải mạnh dạn ứng dụng công nghệ hiện đại trong từng hạng mục (từ đơn lẻ đến đồng bộ) để tạo ra sản phẩm có chất lượng cao, theo tiêu chuẩn, có sức cạnh tranh cao. Đây được coi là khâu đột phá “đi tắt, đón đầu” của Việt Nam để bắt kịp với tốc độ phát triển hết sức nhanh chóng trên thế giới.
Chúng ta tin tưởng sâu sắc rằng, với tầm nhìn chiến lược và quyết tâm chính trị cao, Đảng, Nhà nước ta tiếp tục đẩy mạnh công cuộc đổi mới toàn diện và hội nhập quốc tế sâu rộng đạt nhiều kết quả, góp phần quan trọng tạo nên những thành tựu mới vì một Việt Nam phồn vinh, hạnh phúc, giàu đẹp, thực hiện thành công tâm nguyện của Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại và khát vọng hùng cường của dân tộc Việt Nam./.