Thứ Năm, 16 tháng 5, 2024

CẦN LÀM GÌ ĐỂ ĐẢNG TA GIỮ VỮNG VAI TRÒ LÃNH ĐẠO, CẦM QUYỀN

 Trải qua 94 năm xây dựng, chiến đấu và trưởng thành, Đảng Cộng sản Việt Nam - chính đảng cách mệnh giai cấp công nhân và nhân dân lao động Việt Nam luôn giữ vai trò lãnh đạo đối với Nhà nước và xã hội.

Tại Việt Nam, ngày 3-2-1930, một đảng mác-xít kiểu mới do Chủ tịch Hồ Chí Minh sáng lập, tổ chức, giáo dục và rèn luyện đã chính thức ra đời, chịu sự ủy thác của dân tộc và nhân dân Việt Nam, đã trở thành chính đảng cộng sản duy nhất cầm quyền, lãnh đạo cách mạng Việt Nam, đưa cách mạng Việt Nam đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác. Ý thức sâu sắc vai trò và sứ mệnh vẻ vang của Đảng, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn dành sự quan tâm đặc biệt cho công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng trong điều kiện đảng cầm quyền với tư cách là đảng duy nhất.
Tư tưởng của Người về đảng cộng sản cầm quyền đã được Đảng ta vận dụng sáng tạo trong xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh, góp phần quan trọng vào sự lớn mạnh, trưởng thành của Đảng 94 năm qua.
Trải qua 94 năm, xây dựng, chiến đấu và trưởng thành, Đảng Cộng sản Việt Nam - chính đảng cách mệnh giai cấp công nhân và nhân dân lao động Việt Nam. Đảng Cộng sản Việt Nam là sự kết hợp của ba yếu tố: Chủ nghĩa Mác - Lênin, phong trào công nhân và phong trào yêu nước, luôn giữ vai trò lãnh đạo đối với Nhà nước và xã hội.
Vị trí, vai trò của Đảng ta luôn được giữ vững và thể hiện rõ nét nhất trong sự nghiệp giải phóng dân tộc khỏi xiềng xích của thực dân phong kiến bù nhìn, là 2 cuộc kháng chiến trường kì thắng lợi chủ nghĩa thực dân, đế quốc và là công cuộc xây dựng, đấu tranh giữ vững chủ quyền quốc gia dân tộc, đặc biệt trong công cuộc đổi mới đất nước hiện nay, vị trí vai trò của Đảng Cộng sản Việt Nam càng được thể hiện rõ nét.
Phải xây dựng một chính đảng cách mạng mác-xit cầm quyền, trước hết phải hiểu đảng cầm quyền là gì, đảng cộng sản đối với các nước XHCN có những đặc điểm gì?
Vận dụng, kế thừa, phát triển sáng tạo, sau gần 40 năm đổi mới, dưới sự lãnh đạo tài tình của Đảng ta, sự đoàn kết thống nhất cao của khối đại đoàn kết dân tộc, đã đạt được nhiều thành tựu to lớn về kinh tế, chính trị, xã hội, quốc phòng, an ninh... đưa đất nước ta ngày càng sánh ngang với bạn bè năm châu quốc tế, nâng tầm vị thế của quốc gia, dân tộc từng bị coi là nhỏ bé.
Hiện nay, tình hình thế giới, khu vực và trong nước có nhiều chuyển biến nhanh, nhiều điểm nóng xung đột vũ trang; các thế lực thù địch trong và ngoài nước ngày càng dùng nhiều thủ đoạn tinh vi và xảo quyệt để chống phá cách mạng nước ta, nhằm xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng, tiến tới đa nguyên chính trị, đa đảng, nhất là trên lĩnh vực văn hóa tư tưởng.
Để sự nghiệp xây dựng thành công CNXH và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam CXHCN Việt Nam, cần kiên cường, bền bỉ trong “cuộc chiến” giữ vững vị thế, uy tín, thanh danh của Đảng Cộng sản Việt Nam. Trong đó cần:
(1) Kiên trì bồi đắp niềm tin, lý tưởng cao đẹp cho cán bộ, đảng viên và nhân dân, trong đó tập trung xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị gắn với thực hiện Chỉ thị số 05-CT/TW của Bộ Chính trị. Đặc biệt, cán bộ, đảng viên phải kiên trì, kiên quyết đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực; thực hành tiết kiệm, chống lãng phí… Xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh sẽ góp phần củng cố và nâng cao hơn nữa niềm tin của nhân dân đối với Đảng và chế độ XHCN.
(2) Mục tiêu của việc bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh chống lại các quan điểm sai trái, thù địch là giữ vững vai trò lãnh đạo của Đảng, sự ổn định chính trị - xã hội, nâng cao nhận thức chính trị cho cán bộ, đảng viên và quần chúng nhân dân, phát huy sức mạnh khối đại đoàn kết toàn dân tộc, xây dựng đất nước Việt Nam giàu mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh, nhân dân có cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc. Nếu xa rời nguyên tắc này thì việc bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh chống lại các quan điểm sai trái, thù địch cũng không có tính mục đích.
(3) Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh chống lại các quan điểm sai trái, thù địch phải góp phần vào việc tuyên truyền chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, nghiên cứu, phổ biến, tuyên truyền đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước cho cán bộ, đảng viên và quần chúng. Mặt khác, thực hiện hiệu quả nhiệm vụ này sẽ góp phần bồi dưỡng lập trường, tư tưởng, ý thức hệ, thế giới quan khoa học, nhân sinh quan cách mạng cho đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý, hình thành tư duy lý luận chính trị cho những người xây dựng và hoạch định chính sách, cũng như những nhà nghiên cứu khoa học lý luận nói chung; góp phần vào việc bổ sung, phát triển những nguyên lý, lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, làm sâu sắc thêm những vấn đề lý luận trong nền tảng tư tưởng của Đảng.
(4) Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh chống các quan điểm sai trái, thù địch phải góp phần hình thành, bồi đắp niềm tin, lý tưởng của cán bộ, đảng viên và quần chúng trong công cuộc xây dựng xã hội mới, con người mới. Sự vững vàng về lý luận chính trị của đội ngũ cán bộ lãnh đạo chủ chốt các cấp trong hệ thống chính trị chính là hiệu quả thiết thực trong việc bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, góp phần củng cố niềm tin vững chắc vào con đường cách mạng mà Đảng, Bác Hồ đã lựa chọn.
(5) Trong công tác bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng hiện nay, chúng ta cần vận dụng phương pháp mà các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác - Lênin đã đấu tranh trực diện với những quan điểm sai trái, thù địch nhằm phủ nhận, xuyên tạc, bôi nhọ chủ nghĩa Mác - Lênin.
(6) Chiến lược bảo vệ Tổ quốc và Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội là hai chiến lược nền tảng trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Trong đó, thế trận lòng dân là một trong những nhân tố có ý nghĩa quyết định trong chiến lược bảo vệ Tổ quốc. Cần phát huy khối đại đoàn kết toàn dân tộc trên cơ sở quan điểm, chủ trương, chính sách hợp lòng dân vì lợi ích của toàn thể dân tộc Việt Nam của Đảng và Nhà nước. Tạo sự gắn kết từng con người Việt Nam, cộng đồng các dân tộc Việt Nam, cả trong nước và nước ngoài với khát vọng xây dựng đất nước Việt Nam giàu mạnh, xứng đáng vị thế ngày càng cao của Việt Nam trên trường quốc tế.
Đối với thế hệ thanh niên Việt Nam, đang học tập, công tác trên các lĩnh vực, nhất là khối các doanh nghiệp, ngân hàng cần phải thực hiện một số nội dung sau:
Một là, quán triệt đầy đủ mọi văn bản chỉ thị, hướng dẫn, quy định, nghị quyết... các cấp, nhất là Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng, các nghị quyết về công tác xây dựng và chỉnh đốn Đảng, gắn với thực hiện hiệu quả Chỉ thị số 05-CT/TW của Bộ Chính trị; Nghị quyết Đảng bộ Khối lần thứ III và nghị quyết đảng bộ các cấp nhiệm kỳ 2020-2025.
Hai là, phải nhất quán kiên định, trung thành tuyệt đối với chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh trong sự nghiệp xây dựng CNXH và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN. Thực tiễn cách mạng nước ta từ khi có Đảng lãnh đạo đã cho thấy, trên nền tảng những nguyên lý lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin và vận dụng sáng tạo, phù hợp điều kiện của Việt Nam, Đảng Cộng sản Việt Nam đã đề ra chủ trương, đường lối, phương pháp cách mạng đúng đắn để lãnh đạo nhân dân Việt Nam giành những thắng lợi vĩ đại.
Ba là, kiên quyết, kiên trì đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, phòng và chống suy thoái về tư tưởng chính trị. Chú trọng học tập, nâng cao chất lượng, hiệu quả việc học tập, nghiên cứu, vận dụng và phát triển chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh để hiểu sâu sắc bản chất và tin tưởng vững chắc vào chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, vào con đường đi lên CNXH và công cuộc đổi mới do Đảng khởi xướng, lãnh đạo.
Bốn là, xây dựng, đào tạo và phát triển đội ngũ cán bộ giác ngộ sâu sắc về chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh có trình độ chuyên môn chuyên sâu, có năng lực nghiên cứu lý luận và tổng kết thực tiễn. Mỗi cán bộ, đảng viên tiếp tục học tập nâng cao trình độ về mọi mặt./.
St

GIỮ VỮNG NIỀM TIN CHÍNH TRỊ CỦA NHÂN DÂN VỚI ĐẢNG

 Niềm tin của nhân dân với Đảng là cội nguồn sức mạnh làm nên thắng lợi của cách mạng Việt Nam. Trong suốt quá trình lãnh đạo sự nghiệp cách mạng, Đảng ta luôn quan tâm tới việc giữ vững niềm tin chính trị của nhân dân, bởi như phát biểu của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng bế mạc Hội nghị Trung ương 6 khóa XII: “Ta làm hợp lòng dân thì dân tin và chế độ ta còn, Đảng ta còn. Ngược lại, nếu làm cái gì trái lòng dân, để mất niềm tin là mất tất cả”. Để tiếp tục củng cố và nhân lên sức mạnh của niềm tin chính trị của nhân dân, Đại hội XIII của Đảng đã đề ra những mục tiêu, nhiệm vụ cụ thể để mỗi cấp ủy và tổ chức đảng quán triệt và phấn đấu thực hiện.

Niềm tin chính trị của nhân dân - yếu tố quyết định thành công của sự nghiệp cách mạng
Theo quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lê-nin, niềm tin là một hình thái của ý thức xã hội thuộc về kiến trúc thượng tầng, ra đời trên cơ sở hạ tầng tương ứng. Trong xã hội có giai cấp, niềm tin của con người không thể không có quan hệ với chính trị. Nói cách khác, dù nhận biết được hay không nhận biết được, dù ít hay nhiều, niềm tin trong xã hội có giai cấp đều liên quan đến chính trị, xuất phát từ chính trị, do chính trị chi phối.
Niềm tin chính trị của nhân dân là sự tin tưởng, kỳ vọng vào đảng phái chính trị nhất định, cụ thể là vào chủ trương, đường lối của đảng chính trị, truyền thống và những giá trị của đảng chính trị cũng như uy tín của lãnh tụ đảng đó. Niềm tin đó từ phía quần chúng nhân dân được hình thành qua đời sống chính trị của đất nước, qua hoạt động thực tiễn của chính đảng trong nỗ lực để bảo đảm rằng niềm tin đó sẽ được đền đáp. Vì thế, niềm tin chính trị được hình thành phải trải qua sự thử thách lâu dài, mà những kết quả thực tế trong hoạt động chính trị sẽ là sự bảo đảm cho uy tín chính trị của đảng, để khẳng định rằng niềm tin chính trị của quần chúng nhân dân dành cho đảng có vững chắc hay không.
Những yếu tố cơ bản của niềm tin chính trị của nhân dân gồm có:
Thứ nhất, sự hiểu biết về chính trị của quần chúng nhân dân ngày càng tăng lên. Đây là điều kiện cần. Điều này chính là sự giải thích cho quyết định của quần chúng nhân dân rằng, nên đi theo đảng chính trị nào và chủ trương, đường lối của đảng đó có lợi hay không có lợi cho mình. Chính trị là một vấn đề phức tạp, có thể tương đối xa lạ với đa số quần chúng nhân dân, bởi vậy họ chỉ nhận biết về chính trị từ những điều giản dị, gần gũi với cuộc sống hằng ngày của mình, qua những cá nhân mà mình biết.
Tuy nhiên, quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lê-nin khẳng định rằng, cách mạng là ngày hội của những người bị áp bức, lực lượng chính của cuộc cách mạng vô sản chính là đông đảo quần chúng nhân dân bị áp bức, vì thế đảng cộng sản phải trang bị cho họ những hiểu biết nhất định về chính trị nói chung, về chủ trương, chính sách của mình nói riêng, để từ đó bước đầu hình thành niềm tin chính trị của nhân dân, tạo nên sức mạnh tinh thần to lớn; từ sức mạnh tinh thần đó mà biến thành sức mạnh vật chất - các phong trào hành động chính trị dưới sự lãnh đạo của đảng cộng sản. Điều này được V.I. Lê-nin nhấn mạnh: “Nhiệm vụ thứ nhất của bất cứ một chính đảng nào có trọng trách đối với tương lai là thuyết phục cho đa số nhân dân thấy được sự đúng đắn của cương lĩnh và sách lược của mình”.
Thứ hai, những kinh nghiệm chính trị của nhân dân trong thực tiễn cách mạng ngày càng trở nên phong phú. Đây là điều kiện đủ. Khi sự hiểu biết về chính trị của quần chúng nhân dân là điều kiện cần của niềm tin chính trị, thì kinh nghiệm chính trị của họ chính là điều kiện đủ, quyết định họ sẽ kiên định đi theo sự lãnh đạo của đảng; đồng thời, thể hiện đảng đã thành công trong việc cuốn hút họ theo đường lối của mình. Những trải nghiệm chính trị, những bài học kinh nghiệm “xương máu” được quần chúng nhân dân đúc rút từ thực tiễn cách mạng dưới sự lãnh đạo của đảng khiến cho nhận thức chính trị của họ càng thêm sâu sắc, từ đó niềm tin chính trị vào chính đảng càng thêm sâu nặng. Lúc này, niềm tin chính trị không chỉ là kết quả từ nỗ lực của đảng chính trị, mà còn có sự đóng góp to lớn của quần chúng nhân dân, khi họ tham gia một cách tích cực, tự giác vào phong trào cách mạng dưới sự lãnh đạo của đảng cộng sản với lý tưởng chính trị rõ ràng. Điều này được V.I. Lê-nin chỉ rõ, qua thực tiễn cách mạng vô sản Nga: “Khi đụng đến một phong trào bao gồm hàng triệu quần chúng nhân dân, thì chỉ những lời nói thôi không đủ; quần chúng nhân dân phải có kinh nghiệm của bản thân họ để họ tự kiểm nghiệm những chỉ thị và tin vào kinh nghiệm của bản thân”.
Qua thực tiễn cách mạng dưới sự lãnh đạo của đảng cộng sản, sự hiểu biết chính trị của quần chúng nhân dân được nâng lên; đồng thời, kinh nghiệm chính trị của họ cũng dần được tích lũy, thông qua việc tham dự tích cực, kiên quyết vào các phong trào rộng lớn trên các lĩnh vực của sự nghiệp cách mạng. Qua đó, quần chúng nhân dân hiểu được vị trí, vai trò, sức mạnh của mình trong cuộc cách mạng theo lý luận chủ nghĩa Mác - Lê-nin và thu được những kinh nghiệm thực tế để từng bước trưởng thành dần dưới sự lãnh đạo của đảng cộng sản.
Thứ ba, thực tiễn lãnh đạo chính trị thuyết phục của đảng cộng sản. Đây là điều kiện quyết định, thể hiện năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của đảng, thông qua tính đúng đắn của các chủ trương, đường lối lãnh đạo cách mạng của đảng đem lại những thành công nhất định trên các lĩnh vực, qua đó thu hút càng nhiều quần chúng nhân dân đi theo đảng. Bên cạnh đó, những hy sinh, phấn đấu vì độc lập dân tộc, tự do, hạnh phúc cho nhân dân của đội ngũ đảng viên và lãnh tụ của đảng; sự hòa quyện bởi nhân cách cá nhân người đảng viên với uy tín chính trị của đảng đã thực sự thuyết phục và củng cố niềm tin chính trị của nhân dân với đảng.
Điều này rất quan trọng từ thực tiễn cách mạng Việt Nam, thể hiện qua sự đúc kết của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong câu nói: “Một tấm gương sống còn có giá trị hơn một trăm bài diễn văn tuyên truyền”. Chính những hy sinh, phấn đấu của đội ngũ đảng viên của Đảng Cộng sản Việt Nam đã góp phần quan trọng nâng cao uy tín chính trị của Đảng trong nhân dân. Điều đó làm nên những thành tựu to lớn của sự nghiệp cách mạng của dân tộc.
Thứ tư, sự tham gia tích cực của các tầng lớp nhân dân vào sự nghiệp cách mạng. Đây là điều kiện bảo đảm cho tính bền vững của niềm tin chính trị của nhân dân. Niềm tin chính trị của nhân dân được hình thành bởi quá trình hoạt động có chủ đích của Đảng Cộng sản Việt Nam, đó là vì hạnh phúc của nhân dân; nhưng đồng thời, nhân dân cũng tích cực tham gia vào quá trình đó để theo đuổi lý tưởng của mình, hiện thực hóa lý tưởng đó, nên chính nhân dân đã góp phần xây dựng niềm tin chính trị của mình, bao hàm những mong muốn, yêu cầu thông qua thực tiễn chính trị đất nước dưới sự lãnh đạo của Đảng. Điều đó thể hiện rõ bản chất cuộc cách mạng vô sản, với Đảng là người tổ chức, lãnh đạo nhân dân; nhân dân là người trực tiếp xây dựng xã hội của mình, cho mình. Do đó, niềm tin chính trị là kết quả của sự cộng hưởng nỗ lực từ Đảng và quần chúng nhân dân cùng chung mục tiêu xây dựng và hiện thực hóa niềm tin chính trị về một nước Việt Nam xã hội chủ nghĩa phồn vinh, hạnh phúc và luôn giữ gìn và phát triển niềm tin đó qua mọi giai đoạn cách mạng.
Quá trình lãnh đạo cách mạng của Đảng ta cho thấy, cơ chế hình thành niềm tin của nhân dân với Đảng là việc kết hợp nhuần nhuyễn giữa tính khoa học, cách mạng của chủ nghĩa Mác - Lê-nin thông qua năng lực lãnh đạo của Đảng, với việc phát huy tính chủ động, tích cực chính trị của nhân dân trong sự nghiệp xây dựng chế độ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam.
Những yếu tố bảo đảm tính bền vững của niềm tin chính trị của nhân dân với Đảng
Một là, sự lãnh đạo của Đảng là nhân tố quyết định bảo đảm thực hiện mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”.
Đảng Cộng sản Việt Nam không có lợi ích nào khác ngoài việc phấn đấu cho cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc của nhân dân. Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển năm 2011) xác định rõ xã hội xã hội chủ nghĩa mà nhân dân ta xây dựng là một xã hội dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh; do nhân dân làm chủ. Để hiện thực hóa điều đó, các kỳ Đại hội Đảng đồng thời đưa ra các mục tiêu, nhiệm vụ cụ thể ở từng lĩnh vực, để nỗ lực thực hiện. Đại hội XIII của Đảng xác định mục tiêu đến giữa thế kỷ XXI, nước ta trở thành nước phát triển, thu nhập cao, theo định hướng xã hội chủ nghĩa.
Nhận thức rõ vị trí, vai trò của mình trong sự nghiệp cách mạng của dân tộc và sự kỳ vọng của nhân dân, Đảng Cộng sản Việt Nam luôn nỗ lực phấn đấu để xứng đáng với niềm tin đó trong mọi giai đoạn cách mạng. Đánh giá về vai trò lãnh đạo của Đảng với sự nghiệp cách mạng của dân tộc, nhất là từ khi nước ta tiến hành đổi mới năm 1986, Đại hội XIII của Đảng đã khẳng định: “Đường lối đổi mới của Đảng ta là đúng đắn, sáng tạo; sự lãnh đạo của Đảng là nhân tố hàng đầu quyết định mọi thắng lợi của cách mạng Việt Nam. Cương lĩnh chính trị của Đảng tiếp tục là ngọn cờ tư tưởng, lý luận dẫn dắt dân tộc ta vững vàng tiếp tục đẩy mạnh toàn diện, đồng bộ công cuộc đổi mới; là nền tảng để Đảng ta hoàn thiện đường lối xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa trong giai đoạn mới”; và dưới sự lãnh đạo tài tình, sáng suốt của Đảng, “chúng ta đã đạt được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử, phát triển mạnh mẽ, toàn diện hơn so với những năm trước đổi mới. Với tất cả sự khiêm tốn, chúng ta vẫn có thể nói rằng: Đất nước ta chưa bao giờ có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế như ngày nay”.
Hai là, nhân dân tham gia tích cực, nhiệt tình vào các phong trào xây dựng và phát triển đất nước dưới sự lãnh đạo của Đảng.
Nhân dân có vai trò vô cùng quan trọng trong thực hiện các phong trào thi đua yêu nước của tiến trình đổi mới hiện nay. Điều này đã được Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng chỉ rõ: “Đằng sau những gương điển hình tiên tiến, đằng sau những việc làm tốt là những tấm lòng yêu nước, yêu chế độ, trọng nghĩa tình, tương thân tương ái với đồng bào, đồng chí và đồng đội; là quyết tâm làm giàu cho mình và cho quê hương, đất nước”.
Tính tích cực chính trị của nhân dân trong các phong trào xây dựng và bảo vệ Tổ quốc thể hiện ở sự tham gia ngay từ những khâu đầu tiên, từ việc xác định mục tiêu, nhiệm vụ của phong trào cho đến huy động lực lượng cũng như trực tiếp thực hiện. Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã chỉ rõ điều này: “Bên cạnh việc xác định chủ trương, đường lối đúng, bảo đảm vai trò lãnh đạo của Đảng, phải phát huy mạnh mẽ vai trò sáng tạo, sự ủng hộ và tham gia tích cực của nhân dân. Nhân dân tiếp nhận, ủng hộ và nhiệt tình tham gia thực hiện đường lối của Đảng vì thấy đường lối đó đáp ứng đúng yêu cầu, nguyện vọng của mình. Sức mạnh nhân dân là cội nguồn sâu xa của thắng lợi, của phát triển”.
Trong đường lối lãnh đạo và phương pháp chỉ đạo thực tiễn của Đảng, vấn đề này đã được đúc kết lại bằng phương châm “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra” tại Đại hội VIII, đến Đại hội XIII của Đảng, phương châm này được bổ sung hoàn chỉnh hơn, thành “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng”. Tổ chức thực hiện nghiêm túc, có hiệu quả phương châm này trong thực tế chính là sự bảo đảm về lâu dài tính tích cực chính trị của nhân dân trong việc tham gia các phong trào xây dựng và bảo vệ Tổ quốc dưới sự lãnh đạo của Đảng.
Ba là, nhân dân được thụ hưởng trên thực tế những thành quả của sự nghiệp cách mạng dưới sự lãnh đạo của Đảng.
Nhân dân đi theo Đảng, hưởng ứng phong trào cách mạng dưới sự lãnh đạo của Đảng trước hết vì những mục tiêu rất thực tế, để đáp ứng những nhu cầu thiết thân hằng ngày, mong ước cuộc sống ngày càng tốt hơn, cả về vật chất và tinh thần. Việc những mong muốn hợp lý, chính đáng và hợp pháp của các tầng lớp nhân dân được từng bước đáp ứng, sẽ là yếu tố quyết định tới việc củng cố và giữ vững niềm tin chính trị của nhân dân với Đảng.
Sau hơn 35 năm tiến hành đổi mới, sự nghiệp cách mạng của dân tộc dưới sự lãnh đạo của Đảng đã giành được những kết quả nổi bật, qua đó nhân dân thụ hưởng ngày càng nhiều hơn các giá trị về mọi mặt của cuộc sống, từ đó góp phần giữ vững niềm tin chính trị của nhân dân với Đảng. “Việc thực hiện đường lối đổi mới đã đem lại những chuyển biến rõ rệt, hết sức sâu sắc và tích cực ở Việt Nam: kinh tế phát triển, lực lượng sản xuất được tăng cường; nghèo đói giảm nhanh, liên tục; đời sống nhân dân được cải thiện, nhiều vấn đề xã hội được giải quyết; chính trị, xã hội ổn định, quốc phòng, an ninh được bảo đảm; đối ngoại và hội nhập quốc tế ngày càng được mở rộng; thế và lực của quốc gia được tăng cường; niềm tin của nhân dân vào sự lãnh đạo của Đảng được củng cố”. Với những kết quả đó, “Liên hợp quốc đã công nhận Việt Nam là một trong những nước đi đầu trong việc hiện thực hóa các Mục tiêu Thiên niên kỷ. Năm 2019, chỉ số phát triển con người (HDI) của Việt Nam đạt mức 0,704, thuộc nhóm nước có HDI cao của thế giới, nhất là so với các nước có cùng trình độ phát triển”.
Ở mức độ cao hơn, sự trưởng thành về niềm tin chính trị sẽ dẫn đến những yêu cầu, mong đợi cao hơn nữa của nhân dân đối với sự lãnh đạo của Đảng. Người dân yêu cầu và kỳ vọng Đảng lãnh đạo nhân dân xây dựng thành công một nước Việt Nam xã hội chủ nghĩa dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh, mọi người dân được hưởng một cuộc sống tự do, ấm no, hạnh phúc. Chủ nghĩa xã hội luôn là mục tiêu, lý tưởng của Đảng Cộng sản và nhân dân Việt Nam, là ước vọng cao nhất và là đỉnh cao về niềm tin chính trị của nhân dân với Đảng. Đại hội XIII của Đảng nhấn mạnh: “Khơi dậy mạnh mẽ tinh thần yêu nước, ý chí tự cường dân tộc, sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc và khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc”. Để đạt được mục tiêu này, thực tiễn đang đặt ra những yêu cầu ngày càng cao hơn, đòi hỏi sự quyết tâm, phấn đấu không ngừng của toàn Đảng và toàn dân tộc, để biến mục tiêu thành hiện thực, để dân tộc ta ngày càng cường thịnh, nhân dân ta ngày càng hạnh phúc, đất nước ta ngày càng phồn vinh, qua đó niềm tin chính trị của nhân dân đối với Đảng ngày càng được củng cố vững chắc.
Quyết tâm giữ vững và phát huy niềm tin chính trị của nhân dân theo tinh thần Đại hội XIII của Đảng
Thứ nhất, tiếp tục xây dựng, chỉnh đốn Đảng trong sạch, vững mạnh, xứng đáng là người lãnh đạo sự nghiệp cách mạng, đại biểu trung thành cho lợi ích của toàn thể dân tộc.
Đây là nhiệm vụ quan trọng để giữ vững và phát huy niềm tin chính trị của nhân dân với Đảng. Đảng là tổ chức đại diện và bảo vệ cho quyền lợi của toàn thể nhân dân, vì thế tiếp tục xây dựng, chỉnh đốn Đảng trong sạch, vững mạnh là điều kiện để thực hiện nhiệm vụ quan trọng đó. Muốn vậy, Đảng phải đề ra được đường lối, chủ trương đúng đắn, đồng thời lãnh đạo hiệu quả việc thực hiện có kết quả đường lối, chủ trương đó trong thực tiễn cách mạng.
Công tác tổng kết thực tiễn, nghiên cứu lý luận được Đảng ta coi trọng và đẩy mạnh, góp phần cung cấp cơ sở khoa học cho việc hoạch định đường lối, chủ trương, giúp nâng cao chất lượng việc xây dựng các nghị quyết, quy định…, để cấp ủy các cấp sớm đưa chủ trương của Đảng vào cuộc sống, thực hiện thành công nhiệm vụ chính trị ở mỗi địa phương, ngành, lĩnh vực. “Các cấp ủy, tổ chức đảng đã kịp thời cụ thể hóa đường lối, chủ trương của Đảng thành các nghị quyết, chỉ thị, đề án, kế hoạch, chương trình hành động sát với tình hình thực tế của địa phương, cơ quan, đơn vị. Nhiều cấp ủy, tổ chức đảng đã ban hành các nghị quyết chuyên đề để lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện có hiệu quả các nhiệm vụ trọng tâm, khâu đột phá; khắc phục điểm yếu, giải quyết kịp thời những vấn đề phức tạp của địa phương, cơ quan, đơn vị”. Những nỗ lực đó của cấp ủy các cấp thể hiện ở kết quả của việc thực hiện nhiệm vụ chính trị qua mỗi nhiệm kỳ đại hội đảng bộ mỗi địa phương, cơ quan, đơn vị; qua đó, góp phần vào thành công chung của sự nghiệp đổi mới, nâng cao toàn diện đời sống của các tầng lớp nhân dân.
Công tác xây dựng Đảng cả về chính trị, tư tưởng, tổ chức, đạo đức và cán bộ đều đạt được những kết quả quan trọng. Đặc biệt, thời gian qua, “công tác xây dựng Đảng về đạo đức được Trung ương và các cấp ủy, tổ chức đảng đề cao, nhận thức và hành động của đội ngũ cán bộ, đảng viên, nhất là đảng viên giữ vị trí lãnh đạo, quản lý có chuyển biến tích cực”; “việc thực hiện trách nhiệm nêu gương và chuẩn mực đạo đức của cán bộ, đảng viên có chuyển biến tích cực, nhất là vai trò tiền phong, gương mẫu của các đồng chí Ủy viên Bộ Chính trị, Ủy viên Ban Bí thư, Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương. Nhìn chung, đội ngũ cán bộ, đảng viên đã đề cao tinh thần trách nhiệm, giữ gìn phẩm chất, đạo đức, lối sống; gương mẫu đi đầu, tận tụy với công việc, hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao. Việc xử lý kỷ luật nghiêm những đảng viên vi phạm, suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, cả cán bộ đương chức và nghỉ hưu đã giúp mỗi cán bộ, đảng viên tự soi, tự sửa, tự điều chỉnh hành vi, tích cực rèn luyện đạo đức, lối sống, tác phong công tác”; qua đó, nâng cao hiệu lực, hiệu quả lãnh đạo của cấp ủy các cấp, nâng cao đạo đức đội ngũ cán bộ, đảng viên, làm trong sạch và vững mạnh tổ chức, góp phần nâng cao niềm tin của nhân dân đối với Đảng.
Để tiếp tục phát huy những thành quả đạt được, thời gian tới, nhiệm vụ xây dựng, chỉnh đốn Đảng trong sạch, vững mạnh, xứng đáng là người lãnh đạo sự nghiệp cách mạng, đại biểu trung thành cho lợi ích của toàn thể dân tộc đã được Đại hội XIII của Đảng chỉ rõ: “Tăng cường công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng về chính trị, tư tưởng, đạo đức, tổ chức và cán bộ; nâng cao năng lực lãnh đạo, năng lực cầm quyền, sức chiến đấu của Đảng và hiệu lực, hiệu quả quản lý của Nhà nước… Nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của tổ chức cơ sở đảng và chất lượng đội ngũ đảng viên;…Tập trung xây dựng đội ngũ cán bộ các cấp, nhất là cấp chiến lược và người đứng đầu đủ phẩm chất, năng lực và uy tín, ngang tầm nhiệm vụ. Xây dựng, hoàn thiện chính sách phát hiện, thu hút, sử dụng nhân tài; có cơ chế bảo vệ những cán bộ năng động, sáng tạo, dám nghĩ, dám nói, dám làm, dám chịu trách nhiệm, dám đương đầu với khó khăn, thử thách, quyết liệt trong hành động vì lợi ích chung, đồng thời xử lý nghiêm các trường hợp vi phạm. Nâng cao hiệu lực, hiệu quả công tác kiểm tra, giám sát, kỷ luật đảng và kiểm soát chặt chẽ quyền lực. Đẩy mạnh đấu tranh, ngăn chặn, đẩy lùi tham nhũng, lãng phí”.
Thứ hai, tiếp tục phát huy hơn nữa tinh thần tự giác, lòng nhiệt tình cách mạng của nhân dân.
Để phát huy hơn nữa vai trò chủ động, tích cực của các tầng lớp nhân dân trong sự nghiệp cách mạng của dân tộc, cần hiện thực hóa mục tiêu dân được thụ hưởng trong phương châm: “Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng” của Đại hội XIII của Đảng.
“Thực hành và phát huy rộng rãi dân chủ xã hội chủ nghĩa, quyền làm chủ và vai trò chủ thể của nhân dân; phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc; củng cố, nâng cao niềm tin của nhân dân, tăng cường đồng thuận xã hội; tiếp tục đổi mới tổ chức, nội dung, phương thức hoạt động của Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị - xã hội”. Bên cạnh đó, cần “giáo dục tinh thần yêu nước, tự hào, tự tôn dân tộc, truyền thống và lịch sử dân tộc, ý thức trách nhiệm xã hội cho các tầng lớp nhân dân, nhất là thế hệ trẻ; giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc tốt đẹp của người Việt Nam; khơi dậy khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa”.
Thứ ba, thắt chặt hơn nữa mối quan hệ mật thiết giữa Đảng với nhân dân, dựa vào nhân dân để xây dựng Đảng.
Chỉ khi giữ vững được mối quan hệ mật thiết với nhân dân, Đảng ta mới có thể tiến hành thành công sự nghiệp cách mạng của dân tộc. Mỗi tổ chức đảng và đội ngũ đảng viên khi thực hiện nhiệm vụ cần khắc sâu điều đó trong mỗi quyết sách chính trị của mình. Lấy kết quả công việc, sự hài lòng và tín nhiệm của nhân dân làm tiêu chí quan trọng, thước đo để đánh giá chất lượng tổ chức bộ máy và chất lượng cán bộ, đảng viên.
Thời gian qua, với sự nỗ lực của các cấp ủy và tổ chức đảng các cấp, “công tác dân vận được chú trọng và tiếp tục đổi mới; quan điểm “dân là gốc”, là chủ thể của công cuộc đổi mới được nhận thức và thực hiện ngày càng sâu sắc, đầy đủ hơn; mối quan hệ mật thiết giữa Đảng với nhân dân được củng cố, tăng cường”.
Để thắt chặt hơn nữa mối quan hệ gắn bó máu thịt giữa Đảng với nhân dân, Đại hội XIII của Đảng chỉ ra nhiệm vụ thời gian tới của các tổ chức đảng và đội ngũ đảng viên là: “Tiếp tục xây dựng đội ngũ cán bộ thật sự “trọng dân, gần dân, tin dân, hiểu dân, học dân, dựa vào dân và có trách nhiệm với dân”… Tiếp tục đổi mới, nâng cao hiệu quả công tác dân vận của các cơ quan đảng, nhà nước và chính quyền các cấp… phát huy vai trò của nhân dân tham gia xây dựng Đảng, xây dựng chính quyền và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh trong tình hình mới”.
Muốn hoàn thành tốt mục tiêu, nhiệm vụ nói trên, mỗi cấp ủy, tổ chức đảng và đội ngũ đảng viên cần nâng cao năng lực lãnh đạo, giữ vững tư cách, phẩm chất người đảng viên cộng sản; lãnh đạo các đoàn thể nhân dân hoàn thành tốt nhiệm vụ chính trị; thực hành dân chủ rộng rãi và thực chất, đi đôi với tăng cường pháp chế, bảo đảm kỷ cương, thượng tôn pháp luật; tổ chức tốt các phong trào hành động cách mạng có sự tham gia của đông đảo các tầng lớp nhân dân; khơi dậy lòng nhiệt tình và chủ động của nhân dân tham gia, hưởng ứng tích cực các chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc… Qua những hoạt động đó, Đảng phát huy vai trò lãnh đạo nhân dân thực hiện tốt các nhiệm vụ chính trị; dựa vào nhân dân để xây dựng và chỉnh đốn Đảng, hệ thống chính trị ngày càng trong sạch, vững mạnh./.
St

HỒ CHÍ MINH: DANH NGÔN TƯ TƯỞNG VÀ ĐẠO ĐỨC

  Cuốn sách "Hồ Chí Minh: Danh ngôn tư tưởng và đạo đức" do giáo sư, tiến sỹ Nguyễn Như Ý (chủ biên) dày công sưu tầm, chọn lọc, sắp xếp, suy ngẫm từ hơn 10.000 trang sách trong 15 tập Hồ Chí Minh toàn tập (Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia, Hà Nội 2011) để rút ra gần 5000 câu danh ngôn (hoặc có tính chất danh ngôn) trong minh triết Hồ Chí Minh.

Đó là những câu, những đoạn, những lời hay, khúc triết, hàm súc, dễ vào lòng người nhất được sắp xếp thành một hệ thống theo dạng từ điển để người đọc vừa trực tiếp đọc, suy ngẫm trước tác của Người không phải qua sự phân tích hay bình luận gián tiếp nào vừa có thể, khi cần thiết, liên kết các "danh ngôn" theo từng chủ đề cụ thể.
Mỗi câu được trích dẫn trong công trình này đều có chú thích đầy đủ xuất xứ để khi người đọc cần hiểu toàn diện hơn có thể dễ dàng tìm về nguồn gốc. Có thể nói, đây là công trình rất sáng tạo, độc đáo, thiết thực và thực sự có ý nghĩa chính trị, tư tưởng và văn hóa.
Không giống như các sách viết về Hồ Chí Minh ở các thể loại: hồi ký, thơ, truyện, chuyên khảo, báo cáo chuyên đề... "Hồ Chí Minh: Danh ngôn Tư tưởng - Đạo đức" tiếp cận tư tưởng Hồ Chí Minh theo một cách khác: không thuyết trình, giảng giải, phân tích, chứng minh bằng lời lẽ của người viết sách, để cho độc giả "đọc" trực tiếp vào trong tư duy, trong suy nghĩ, trong những ấp ủ, dự định, toan tính, những trăn trở, hy vọng và tin tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh, suốt cả cuộc đời hoạt động cách mạng bằng một công cụ đặc biệt trong tay, là những lời nói, những câu danh ngôn của chính Người.
Gần 5.000 câu trích nguyên bản có tính triết lý, giáo huấn sâu sắc, sinh động, dễ hiểu, hết sức thấm thía từ các trước tác (bài nói, bài viết, diễn văn, báo cáo chính trị, thư, điện, sách...) của Chủ tịch Hồ Chí Minh thể hiện một cách toàn diện tư tưởng của Người về những vấn đề cơ bản của cách mạng Việt Nam, về tư cách đạo đức, tác phong của người cán bộ, trước hết là cán bộ trong các cơ quan Đảng và Chính phủ.
Đó là: tư tưởng về giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp, giải phóng con người; tư tưởng về độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội, kết hợp giữa sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại; tư tưởng về sức mạnh của nhân dân, của khối đại đoàn kết dân tộc; tư tưởng về quyền làm chủ của nhân dân, xây dựng nhà nước thật sự của dân, do dân, vì dân; tư tưởng về quốc phòng toàn dân, xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân... Đó còn là tư tưởng về phát triển kinh tế và văn hóa, không ngừng nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân; tư tưởng về đạo đức cách mạng, cần, kiệm, liêm chính, chí công vô tư; tư tưởng về chăm lo bồi dưỡng thế hệ cách mạng cho đời sau; tư tưởng về xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh, cán bộ, đảng viên vừa là người lãnh đạo, vừa là người đầy tớ thật trung thành của nhân dân…
Những nội dung cơ bản trên được hình thành, từng bước bổ sung, phát triển, định hình và hoàn thiện trong toàn bộ quá trình hoạt động cách mạng của Chủ tịch Hồ Chí Minh, đặc biệt được thể hiện, đúc kết trong các trước tác cực kỳ phong phú, đa dạng của Người. Đó là một hệ thống quan điểm toàn diện, sâu sắc về những vấn đề cơ bản của cách mạng Việt Nam không chỉ có ý nghĩa quyết định cho mọi thắng lợi của cách mạng 90 năm qua, còn là ánh sáng mãi mãi soi đường cho sự nghiệp xây dựng, phát triển, bảo vệ Tổ quốc Việt Nam trong tương lai sau này.
Nhận thức sâu sắc về giá trị to lớn, bền vững của "gia tài tinh thần" đó, những năm qua, dưới sự chỉ đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, việc học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh đã được thực hiện trong toàn Đảng, toàn quân và toàn dân. Hàng triệu người đã được tiếp cận với cuộc đời, sự nghiệp, tư tưởng, đạo đức, phong cách Bác Hồ. Những kết quả bước đầu đã được khẳng định, song, từ đòi hỏi của thực tiễn, việc học tập đó không có điểm dừng, bởi vì tư tưởng Hồ Chí Minh "mãi mãi soi đường cho sự nghiệp cách mạng của nhân dân ta".
Nhà xuất bản Thông tấn hy vọng cuốn sách "Hồ Chí Minh: Danh ngôn Tư tưởng - Đạo đức" sẽ trực tiếp góp phần làm cho minh triết Hồ Chí Minh đi vào đời sống của dân tộc, của người dân Việt Nam như một sức mạnh, một động lực, củng cố niềm tin khoa học vững chắc để dân tộc ta đi tới, đi đúng, đi xa hơn nữa vì mục đích cao đẹp mà cả đời mình Chủ tịch Hồ Chí Minh theo đuổi "phấn đấu cho quyền lợi của Tổ quốc và hạnh phúc của quốc dân."
Qua cuốn sách có thể thấy những nội dung căn cốt nhất, cái hồn của minh triết Hồ Chí Minh được thể hiện sinh động và nguyên gốc; đồng thời, qua đó, còn thấy hiện lên sáng rõ những phẩm chất vô cùng cao quý nhưng bình dị của nhân cách một con người vĩ đại - nhân cách Hồ Chí Minh.
Sách dày 616 trang khổ 16 x 24 cm, bìa cứng carton bồi, có áo bìa, được trình bày trang trọng, đẹp mắt, được Nhà xuất bản Thông tấn gửi tới bạn đọc gần xa./.
St

KỶ NIỆM 134 NĂM NGÀY SINH CỦA BÁC: HÌNH ẢNH BÁC HỒ TRONG TÂM THỨC KIỀU BÀO TẠI LÀO

 “Đối với người Việt Nam ở nước ngoài có lẽ sau lá cờ Tổ quốc thì Bác Hồ chính là hình ảnh thân thương, thiêng liêng nhất của hai tiếng quê hương”, đó là chia sẻ của cô Nguyễn Thị Lan Chi, Phó hiệu trưởng Trường song ngữ Lào - Việt Nam Nguyễn Du về Chủ tịch Hồ Chí Minh nhân kỷ niệm 134 năm Ngày sinh của Người (19/5/1890 - 19/5/2024).

Đánh giá về ý nghĩa của tư tưởng Hồ Chí Minh, cô Lan Chi cho biết tư tưởng của Người không chỉ khơi dậy sức mạnh của chủ nghĩa yêu nước và tinh thần dân tộc, là ngọn cờ dẫn dắt sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc, là nguồn động lực mạnh mẽ trong sự nghiệp đấu tranh, bảo vệ Tổ quốc Việt Nam trước đây, mà còn có giá trị bền vững, lâu dài đối với sự nghiệp đổi mới, thực hiện khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc trong giai đoạn hiện nay ở Việt Nam.
Cô Lan Chi nhấn mạnh, việc Việt Nam đang tiến hành công cuộc xây dựng và phát triển toàn diện đất nước vì mục tiêu "Dân giàu, nước mạnh, xã hội dân chủ, công bằng, văn minh" là sự tiếp tục con đường cách mạng độc lập dân tộc, gắn liền với chủ nghĩa xã hội mà Chủ tịch Hồ Chí Minh đã lựa chọn.
Thấm nhuần tư tưởng Hồ Chí Minh, Phó hiệu trưởng Trường song ngữ Lào - Việt Nam Nguyễn Du cho biết bản thân cô luôn nêu cao tinh thần yêu nước, có ý chí vươn lên trong lao động, học tập và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa. Cô cũng luôn cố gắng truyền giảng để giúp học trò hiểu và nhận thức sâu sắc về tình yêu quê hương, đất nước và luôn hướng về Tổ quốc; hiểu được ý nghĩa của việc gắn bó, cố kết cộng đồng và luôn tự hào về lịch sử, văn hóa của dân tộc.
Đánh giá về sự quan tâm của Đảng và Nhà nước Việt Nam đối với cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài nói chung và ở Lào nói riêng, cô Lan Chi cho biết là người có 14 năm sinh sống tại Lào, cô nhận thấy Đảng và Nhà nước Việt Nam đã có những chính sách phù hợp, đúng đắn và nhất quán về người Việt Nam ở nước ngoài. Cô khẳng định các chính sách quan tâm đến bà con kiều bào ở nước ngoài của Đảng và Nhà nước Việt Nam có vai trò quan trọng trong việc kết nối kiều bào với đồng bào trong nước.
Cụ thể, Luật đất đai sửa đổi vừa được Quốc hội chính thức thông qua vào tháng 1 không chỉ tạo điều kiện cho Việt kiều có nhu cầu có thể trở về nước sở hữu tài sản, mà còn tránh được những bất cập như trước đây khi muốn sở hữu đất trong nước. Chính sách này đã làm bà con kiều bào ở nước ngoài ngày càng tin tưởng vào đường lối chính sách, cũng như sự quan tâm đặc biệt của Đảng và Nhà nước Việt Nam.
Theo Phó hiệu trưởng Trường song ngữ Lào - Việt Nam Nguyễn Du, bên cạnh các chính sách quan tâm đến bà con kiều bào ở nước ngoài, các hoạt động thường niên nhằm kết nối bà con với đất nước của Đảng và Nhà nước như Chương trình Xuân Quê hương; Đoàn kiều bào thăm huyện đảo Trường Sa và nhà giàn DK1; Chương trình Trại hè Việt Nam,… cũng góp phần làm tăng thêm sự kết nối giữa kiều bào với đồng bào trong nước, khiến người Việt Nam dù ở bất cứ đâu trên thế giới đều hướng về nguồn cội, hướng về quê hương, đất nước.
Chia sẻ về tình cảm của bản thân cũng như của cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài với Chủ tịch Hồ Chí Minh và với quê hương đất nước, cô Lan Chi nhấn mạnh, đối với người Việt Nam ở nước ngoài, có lẽ sau lá cờ Tổ quốc thì Bác Hồ chính là hình ảnh thân thương, thiêng liêng nhất của hai tiếng quê hương, đây là điều lý giải vì sao tại rất nhiều gia đình Việt Nam ở nước ngoài có lập ban thờ Bác Hồ.
Theo cô Lan Chi, vì tình yêu và sự kính trọng vô bờ với Bác, tại Lào, bà con kiều bào đã chung tay xây dựng Khu lưu niệm Chủ tịch Hồ Chí Minh ở tỉnh Khammuane, và cứ mỗi dịp sinh nhật Bác, bà con từ nhiều tỉnh thành tại Lào lại có các hoạt động về nguồn, dâng hương tưởng niệm để ghi nhớ và tri ân công ơn Người. Tại trường Song ngữ Lào - Việt Nam Nguyễn Du, nhà trường cũng thường xuyên tổ chức các hoạt động để giúp các học sinh hiểu về thân thế, sự nghiệp, phong cách và đạo đức của Bác Hồ, qua đó khuyến khích học sinh học tập, làm theo những đức tính cao đẹp của Bác...
Cô chia sẻ dù sinh sống ở nước ngoài, nhưng bản thân cô và bà con vẫn luôn dành nhiều tình cảm và luôn hướng về quê hương đất nước. Tại Lào, nhiều gia đình Việt kiều dù đã sinh sống ở Lào nhiều đời vẫn gìn giữ tốt phong tục, tiếng nói và chữ viết dân tộc. Mỗi khi bà con ở quê hương gặp phải thiên tai, hoạn nạn, bản thân cô và kiều bào ở Lào luôn hướng về Tổ quốc bằng những đóng góp thiết thực./.
St

CHUYỆN BỨC TRANH BÁC HỒ VỚI THIẾU NHI GIỮA THỦ ĐÔ

 Nhiều năm qua, người dân và du khách đã quen ngắm nhìn bức tranh cổ động khổ lớn vẽ Bác Hồ bế em bé được treo trang trọng trên mặt tiền tòa nhà Thông tin-Triển lãm thành phố Hà Nội ở khu vực ngã tư phố Đinh Tiên Hoàng-Tràng Tiền (ngay góc Hồ Hoàn Kiếm). Song, ít người biết rằng, bức họa ấy đã hiện diện ở đó gần nửa thế kỷ.

Tác giả bức tranh là một tên tuổi trong giới mỹ thuật, có phong cách giản dị, khiêm nhường. Ông là họa sĩ, nhà giáo Trần Từ Thành (sinh năm 1944 tại huyện Hương Khê, tỉnh Hà Tĩnh), nguyên Phó Hiệu trưởng Trường đại học Mỹ thuật Công nghiệp Hà Nội.
Sinh ra và trưởng thành khi đất nước vẫn còn chiến tranh, có nhiều người thân trong gia đình tham gia kháng chiến hoặc qua đời vì bom đạn, họa sĩ Trần Từ Thành say mê với đề tài chiến tranh cách mạng, khát vọng hòa bình.
Ông được yêu mến với nhiều tác phẩm vẽ quê hương Hà Tĩnh, đồng thời sở hữu nhiều giải thưởng cao trong nước và quốc tế cho thể loại tranh cổ động.
Có thể kể đến một số tác phẩm tiêu biểu như: “Hòa bình hữu nghị” (Giải thưởng đồ họa quốc tế 1985), “Truông Bồn”, “Đèo Ngang”, “Ngã ba Đồng Lộc” (Triển lãm Mỹ thuật toàn quốc 1995), “Trăng quan họ” (Giải thưởng của UNESCO năm 2011)...
Nhưng có lẽ tác phẩm thành công nhất của ông, để lại ấn tượng và cảm xúc sâu đậm nhất với công chúng dù bao năm tháng qua đi chính là bức tranh cổ động nổi tiếng nằm bên bờ hồ Hoàn Kiếm.
Bức tranh ban đầu được tác giả đặt tên là “1976”, sau đổi thành “Độc lập Thống nhất - Hòa bình Hạnh phúc”, còn công chúng thường gọi là bức “Bác Hồ với thiếu nhi”.
Kể về tác phẩm để đời của mình, lão họa sĩ đã ở tuổi bát thập vẫn nhớ từng chi tiết. Sau ngày 30/4/1975 lịch sử, đất nước thống nhất, non sông nối liền một dải, họa sĩ Trần Từ Thành lúc đó là giảng viên Trường đại học Mỹ thuật Công nghiệp Hà Nội đã ấp ủ một tác phẩm mừng đất nước bước sang trang sử mới.
Một phần ý tưởng của ông được hình thành khi nhớ đến mong muốn của Bác Hồ trong Di chúc của Người, trong đó Bác nhắc nhiều đến thanh niên, thiếu niên, nhi đồng, nhắc đến hòa bình, độc lập, thống nhất đất nước...
Sau nhiều tháng suy nghĩ, cho đến một ngày ông tìm được cảm hứng từ những câu thơ trong bài “Ta đi tới” của nhà thơ Tố Hữu: Lòng ta chung một cụ Hồ/Lòng ta chung một Thủ đô/Lòng ta chung một cơ đồ Việt Nam.
Lựa chọn hình thức tranh cổ động, dễ hiểu và dễ phổ biến đến đại chúng, họa sĩ Trần Từ Thành bắt tay phác họa bức tranh bằng bột màu trên giấy, khổ 79x54cm, kiệm màu, kiệm nét. Tranh vẽ Bác Hồ tươi cười trìu mến ôm một em bé, phía sau nền là chú chim bồ câu ngậm cành ô-liu tượng trưng cho hòa bình.
Dáng hình bồ câu sải cánh tựa như bản đồ Việt Nam, còn con mắt mang màu cờ đỏ sao vàng nằm ở vị trí Thủ đô Hà Nội. Tranh có bố cục hài hòa và chặt chẽ, từng đường nét mềm mại và gọn gàng, tuy đơn giản mà thể hiện sâu sắc niềm vui độc lập, thống nhất của toàn dân tộc Việt Nam, cũng như hy vọng gửi gắm vào thế hệ mai sau.
Năm 1976, tác phẩm được gửi tham dự Triển lãm Mỹ thuật toàn quốc tổ chức lần đầu và giành giải nhì. Danh họa Trần Văn Cẩn lúc bấy giờ là giám khảo chấm thi, đã nhận xét bức tranh cô đọng, ấn tượng, bao quát được những ý lớn: Bác Hồ với nhân dân, Bác Hồ với thiếu nhi và Bác Hồ với sự nghiệp thống nhất đất nước.
Sau khi được trưng bày cùng tác phẩm của họa sĩ khắp ba miền tại Trung tâm triển lãm Vân Hồ (Hà Nội), bức tranh được Bộ Văn hóa và Thông tin (nay là Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch) cho in 50.000 bản, phát hành cả nước chào mừng Tổng tuyển cử bầu Quốc hội của nước Việt Nam thống nhất.
Năm 1978, bức tranh được thành phố Hà Nội in khổ lớn và treo trước tòa nhà 93 Đinh Tiên Hoàng, trở thành một trong những biểu tượng không thể tách rời của Hà Nội-Thành phố vì hòa bình suốt 46 năm qua.
Bên cạnh đó, bức tranh được tái hiện nhiều lần trên bưu thiếp, trong các công trình mỹ thuật công cộng khắp cả nước. Bản in tác phẩm được trưng bày ở các bảo tàng tại Nga, Cuba...
Thành tựu ấy, niềm tự hào lớn lao ấy có lẽ là điều họa sĩ Trần Từ Thành không dám hình dung khi còn là một thanh niên 16 tuổi mê vẽ, rời quê ra Hà Nội thi vào Trường cao đẳng Mỹ thuật (nay là Trường đại học Mỹ thuật Việt Nam).
Vượt qua 2.000 người dự thi năm đó, ông trở thành một trong số 46 thí sinh thi đỗ. Đặc biệt, khi còn là sinh viên, họa sĩ Trần Từ Thành vinh dự được gặp Chủ tịch Hồ Chí Minh, cảm nhận sự uyên bác và tình cảm ấm áp của Người với mọi tầng lớp nhân dân.
Lời Bác Hồ căn dặn “Văn hóa nghệ thuật cũng là một mặt trận” theo suốt cuộc đời làm nghệ thuật của ông, thôi thúc ông nỗ lực và cống hiến. Năm 1969, họa sĩ Trần Từ Thành tiếp tục theo học chuyên ngành Đồ họa tại Trường đại học Mỹ thuật Công nghiệp Hà Nội rồi làm công tác giảng dạy và trở thành nhà quản lý.
Hơn 40 năm đứng trên bục giảng, ông góp phần đào tạo nhiều thế hệ nhà thiết kế, họa sĩ cho các cơ sở đào tạo mỹ thuật ở Hà Nội, Huế, Thành phố Hồ Chí Minh. Họa sĩ Trần Từ Thành chính là người thiết kế mẫu thẻ Đảng được hàng triệu đảng viên sử dụng trong 20 năm qua.
Ngoài bức vẽ “Bác Hồ với thiếu nhi”, ông còn sáng tác hơn 20 tác phẩm đặc sắc khác về Bác, có thể kể đến như: Bức tranh lụa “Bác đi chiến dịch ở Việt Bắc” (lưu trữ tại Bảo tàng Lịch sử Quốc gia); tranh sơn mài “Nhật ký Khuổi Nậm”; tranh sơn dầu “Ngày về”...
Năm 2019, bản gốc bức tranh “Bác Hồ với thiếu nhi” được tác giả trao tặng Bảo tàng Hồ Chí Minh, để di sản được tôn vinh và lan tỏa tinh thần yêu tự do, yêu chuộng hòa bình, chăm lo cho thế hệ tương lai của Bác.
Hằng năm, vào các dịp kỷ niệm trọng đại của đất nước như sinh nhật Bác (19/5), Quốc khánh (2/9), giữa dòng người tấp nập qua lại trung tâm Thủ đô, họa sĩ Trần Từ Thành đều dành thời gian đến và lặng lẽ đứng một góc Bờ Hồ để ngắm nhìn bức tranh.
Ông thổ lộ, đời người nghệ sĩ không gì hãnh diện hơn khi tác phẩm của mình gắn liền với góc phố lớn của Hà Nội, được nhiều người yêu mến, du khách nước ngoài thích thú chụp ảnh. Bức tranh “Bác Hồ với thiếu nhi” đã đi vào cuộc sống thường nhật như một điều giản dị, tự nhiên không thể thay thế./.
St

RỰC RỠ LỄ HỘI SEN ĐỒNG THÁP NĂM 2024

 Tại Lễ hội Sen Đồng Tháp năm 2024, Bản đồ Việt Nam được kết từ 5.000 chậu hoa sen các loại vô cùng đặc sắc thu hút nhiều du khách.

Tối ngày 16-5, tại Quảng Trường Văn Miếu, TP Cao Lãnh (Đồng Tháp), Lễ hội Sen năm 2024 chính thức khai mạc và kéo dài đến ngày 19-5.
Phát biểu khai mạc, Chủ tịch UBND tỉnh Đồng Tháp Phạm Thiện Nghĩa cho biết: Tiếp nối thành công của Lễ hội Sen lần thứ I, Lễ hội lần này là một bước tiến mới trên hành trình xây dựng thương hiệu, đẩy mạnh xúc tiến thương mại, du lịch, đưa sản phẩm Sen Đồng Tháp vươn lên tầm cao mới.
"Có thể nói, đây là sự kiện được đông đảo nhân dân, du khách trong và ngoài nước yêu mến, đón đợi và mong về. Về đây, không chỉ được đắm mình trong không khí lễ hội vui tươi, rộn ràng mà còn bị cuốn hút bởi thiên nhiên xinh đẹp, ngỡ ngàng với những cánh đồng Sen đang vào mùa nở rộ, rực rỡ nhất trong năm.
Về đây, không chỉ được thưởng thức chương trình nghệ thuật đặc sắc, được đắm mình vào đêm nhạc, đêm thơ dặt dìu, say lòng du khách, mà còn vô cùng mãn nhãn trước đại cảnh trưng bày 100.000 chậu sen đang khoe sắc cùng dòng sông sen, không gian giới thiệu sản phẩm, trưng bày Sen quốc tế, triển lãm tranh, ảnh nghệ thuật rực rỡ sắc sen.
Về đây, để được thưởng thức nhiều món ăn, thức uống được chế biến từ sen, cảm nhận mỹ vị của Sen Đồng Tháp, một đặc trưng văn hóa ẩm thực độc đáo mà không phải nơi nào cũng có.
Về đây, để có những trải nghiệm thú vị, cùng hòa mình vào không gian Sen, thấu cảm những chân giá trị, sức sống mãnh liệt và sự lan tỏa mạnh mẽ của Sen trong tâm thức cũng như trong đời sống. Tất cả cùng hòa quyện làm thỏa lòng du khách muốn khám phá nét đẹp của đất và người nơi đây", Chủ tịch UBND tỉnh Đồng Tháp chia sẻ.
Chủ tịch tỉnh Đồng Tháp cũng gửi lời tri ân các thế hệ lãnh đạo đã dầy công gầy dựng, phát triển ngành hàng Sen từ không đến có.
Trong khuôn khổ chương trình có nhiều hoạt động hấp dẫn như không gian trưng bày 52 giống sen tỉnh Đồng Tháp. Mỗi giống sen sẽ có mã QR phục vụ người dân, du khách tìm hiểu thông tin. Bên cạnh đó, có 100 bức ảnh thời sự, nghệ thuật chủ đề "Rạng ngời sắc sen" cũng được trưng bày trong Quảng trường Văn Miếu, thu hút nhiều người đến thưởng thức.
Cùng với đó là các hoạt động như: phố ẩm thực sen, hội chợ công thương quy tụ 250 gian hàng, không gian trưng bày chuỗi ngành hàng sen...
Đặc biệt là tại khu vực hồ trong Quảng trường, Ban tổ chức đã thực hiện bản đồ Việt Nam được kết từ 5.000 chậu hoa sen các loại vô cùng đặc sắc.
Chị Cẩm Hồng (ngụ TP Cần Thơ) cho biết vô cùng ấn tượng với Lễ hội Sen. "Lễ hội Sen năm ngoái tôi chưa có dịp để đi nhưng nghe người thân kể lại là rất đẹp và đặc sắc, do đó năm nay nghe thông tin tin về Lễ hội Sen là tranh thủ đi liền. Đúng là quá trời đẹp luôn, Ban tổ chức trang trí tiểu cảnh đẹp mê, quá trời sen luôn. Chiều giờ vợ chồng tôi đi vòng vòng các gian hàng tham quan, mua sắm quá trời, đặc biệt là các sản phẩm từ sen vô cùng đa dạng. Ăn no cứng cả bụng rồi. Mọi người tranh thủ đi chơi nha nếu không là tiếc lắm đó", chị Hồng chia sẻ./.
St

MỞ ĐƯỜNG HỒ CHÍ MINH: MỘT QUYẾT ĐỊNH LỊCH SỬ MANG TẦM CHIẾN LƯỢC

 Năm 1959, cách mạng miền Nam đứng trước một bước ngoặt, đòi hỏi Đảng ta phải có quyết sách kịp thời. Thực hiện Nghị quyết Hội nghị Ban Chấp hành TW Đảng Lao động Việt Nam lần thứ 15, khóa II (tháng 1/1959) về mở tuyến đường vận chuyển chiến lược từ miền Bắc chi viện cho chiến trường miền Nam, tháng 5/1959, Tổng Quân ủy và Bộ Quốc phòng quyết định thành lập Đoàn công tác quân sự đặc biệt (sau gọi là Đoàn 559), làm nhiệm vụ mở đường vận chuyển hàng hóa, tổ chức đưa đón bộ đội, cán bộ từ Bắc vào Nam và ngược lại. Con đường được khai sinh vào đúng ngày sinh của Chủ tịch Hồ Chí Minh, nên được mang tên đường Hồ Chí Minh. Trong suốt 16 năm kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (1959-1975), Đoàn 559 - Bộ đội Trường Sơn đã phát huy vai trò to lớn, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ chi viện cho các chiến trường miền Nam, góp phần quan trọng làm nên cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968, Cuộc tiến công chiến lược 1972, Chiến thắng Đường 9-Nam Lào và Đại thắng mùa Xuân 1975 với Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử, thống nhất đất nước./.

St

ĐẠI TƯỚNG LƯƠNG CƯỜNG GIỮ CHỨC THƯỜNG TRỰC BAN BÍ THƯ

-Trước khi tiến hành Hội nghị lần thứ chín Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá XIII diễn ra vào sáng nay (16/5), Bộ Chính trị báo cáo Ban Chấp hành Trung ương Đảng về việc Bộ Chính trị đã quyết định phân công đồng chí Đại tướng Lương Cường, Uỷ viên Bộ Chính trị, Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị Quân đội nhân dân Việt Nam tham gia Ban Bí thư và giữ chức vụ Thường trực Ban Bí thư. Chúc Đại tướng Lương Cường hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ mới

Sẵn sàng cho đợt phúc tra kho xăng, dầu cấp chiến thuật toàn quân.

Thực hiện chỉ lệnh của Bộ trưởng Bộ Quốc phòng và chỉ thị của Chủ nhiệm Tổng cục Hậu cần (TCHC), từ ngày 16-5-2024, TCHC bắt đầu tổ chức phúc tra kho xăng, dầu chiến thuật toàn quân năm 2024 với sự tham gia của 20 kho xăng, dầu chiến thuật thuộc các loại hình đơn vị. Thiếu tướng Huỳnh Tấn Hùng, Phó chủ nhiệm, Tham mưu trưởng Tổng cục Hậu cần, Trưởng ban chỉ đạo phúc tra cho biết: Năm 2009, TCHC đã tổ chức thi kho xăng, dầu cấp chiến thuật toàn quân, qua đó góp phần đưa công tác quản lý, sử dụng và thực hành tiết kiệm xăng, dầu đi vào nền nếp, nâng cao chất lượng, hiệu quả; công tác bảo đảm an toàn kho xăng, dầu được duy trì chặt chẽ, nghiêm túc... Tuy nhiên đến nay, nhiều kho xăng, dầu chiến thuật đã xuống cấp; công tác quản lý, duy trì chế độ, nền nếp công tác ngành có đơn vị chưa thực hiện thường xuyên; hệ thống văn kiện, sổ sách chưa điều chỉnh kịp thời, thống nhất theo các văn bản chỉ đạo, hướng dẫn của ngành; việc sử dụng xăng, dầu có đơn vị còn để xảy ra hao hụt quá định mức cho phép... Vì vậy, năm 2024, TCHC quyết định tổ chức phúc tra kho xăng, dầu cấp chiến thuật nhằm kịp thời củng cố, nâng cao chất lượng công tác bảo đảm xăng, dầu ở các cấp, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trong tình hình mới. Sẵn sàng cho đợt phúc tra kho xăng, dầu cấp chiến thuật toàn quân Chỉ huy Sư đoàn 301 (Bộ tư lệnh Thủ đô Hà Nội) kiểm tra công tác chuẩn bị phúc tra của kho xăng, dầu thuộc Sư đoàn. Ảnh: MẠNH QUANG Trao đổi với Thiếu tướng Nguyễn Văn Lực, Cục trưởng Cục Xăng dầu (TCHC), Phó trưởng ban chỉ đạo, Trưởng ban tổ chức phúc tra, chúng tôi được biết thêm: Việc tổ chức phúc tra kho xăng, dầu chiến thuật toàn quân năm 2024 còn nhằm xây dựng, củng cố kho xăng, dầu cấp chiến thuật ngày càng chính quy, an toàn, tiết kiệm, phù hợp với yêu cầu xây dựng ngành xăng, dầu Quân đội vững mạnh, đáp ứng tốt yêu cầu nhiệm vụ trong tình hình mới; đồng thời thúc đẩy Phong trào thi đua “Quản lý, sử dụng xăng, dầu an toàn, tiết kiệm, hiệu quả” trong toàn quân ngày càng đi vào chiều sâu, thiết thực. Thông qua phúc tra rút ra những kinh nghiệm thực tiễn để chỉ đạo nâng cao chất lượng công tác xăng, dầu trong toàn quân những năm tiếp theo. Theo Đại tá Nguyễn Thế Hào, Trưởng phòng Tham mưu-Kế hoạch (Cục Xăng dầu), đợt này, TCHC sẽ tổ chức phúc tra 20 kho xăng, dầu cấp chiến thuật, tập trung vào các nội dung: Công tác lãnh đạo, chỉ đạo của cấp ủy đảng, chỉ huy đơn vị đối với công tác kho xăng, dầu; thực hiện phong trào thi đua ngành xăng, dầu; chính quy trong quy hoạch kho, doanh trại, khu bể chứa xăng, dầu, công nghệ, trạm bơm, trạm cấp phát, nhà kho; thực hiện nền nếp chính quy của các kho; hệ thống sổ sách, kế hoạch, biển, bảng; nhận thức của cán bộ, nhân viên, chiến sĩ kho xăng, dầu... Đối với công tác nghiệp vụ kho xăng, dầu sẽ phúc tra các mặt liên quan đến thực hiện chế độ thống kê, thanh quyết toán; quản lý số lượng, chất lượng xăng, dầu, phương tiện kỹ thuật, vật tư xăng, dầu; công tác thực hành tiết kiệm, chống thất thoát, lãng phí; công tác an toàn kho xăng, dầu, nhất là bảo đảm an toàn phòng, chống cháy, nổ, bảo vệ kho xăng, dầu, an toàn vệ sinh lao động; đánh giá năng lực báo cáo và xử trí tình huống của kho trong thực hiện kế hoạch chiến đấu bảo vệ đơn vị... Tìm hiểu công tác chuẩn bị tham gia phúc tra của kho xăng, dầu Lữ đoàn 45 (Binh chủng Pháo binh), chúng tôi được Trung tá Đỗ Thanh Tuấn, Chủ nhiệm Hậu cần-Kỹ thuật Lữ đoàn chia sẻ: Đến nay, Lữ đoàn đã củng cố, cải tạo nhà kho, làm mới hệ thống biển, bảng, khẩu hiệu; củng cố lán và trang thiết bị cứu hỏa, bảo dưỡng hệ thống trang thiết bị, công nghệ kho... Cùng với đó, thực hiện quản lý chặt chẽ chất lượng xăng, dầu; bảo quản, bảo dưỡng, niêm cất phương tiện kỹ thuật, vật tư xăng, dầu theo quy định, không để xảy ra lãng phí, thất thoát, xuống cấp do chủ quan. Các hạng mục công trình trong kho được bố trí phù hợp, bảo đảm khoảng cách an toàn; các khu vực đều được trang bị đầy đủ thiết bị phòng cháy, chữa cháy, đặt tại nơi dễ thấy, dễ lấy. Hệ thống chống sét, đèn chiếu sáng của kho bảo đảm đủ, đúng quy định; khu bể chứa xăng, dầu, hệ thống đường ống thường xuyên được bảo quản, bảo dưỡng, không rò chảy... Trao đổi với Thiếu tá Nguyễn Đăng Võ, Trưởng ban Xăng dầu, Phòng Hậu cần-Kỹ thuật Sư đoàn 10 (Quân đoàn 3), chúng tôi được biết, Kho Hậu cần 31 của đơn vị tham gia phúc tra đã tiến hành cải tạo, nâng cấp, làm mới một số hạng mục công trình như: Lắp đặt hệ thống hàng rào thép gai bảo vệ kho; xây mới trạm cấp phát xăng, dầu với 2 máy bơm cấp phát và 2 cột tra nhiên liệu cấp phát lẻ; xây mới nhà để máy bơm cứu hỏa; sơn lại hệ thống nhà kho, cổng, cửa kho chứa nhiên liệu, nhà kho dầu mỡ; đổ bê tông sân, đường nội bộ; nâng cấp, sửa chữa hệ thống đường nhập nhiên liệu đã bị xuống cấp, bảo đảm kết cấu vững chắc, an toàn. Với sự triển khai bài bản, khoa học của Ban tổ chức, công tác chuẩn bị nghiêm túc, kỹ lưỡng, sự vào cuộc đồng bộ của các cơ quan, đơn vị liên quan, tin rằng phúc tra kho xăng, dầu chiến thuật toàn quân năm 2024 sẽ thành công tốt đẹp, thiết thực góp phần xây dựng ngành xăng, dầu Quân đội ngày càng vững mạnh, chính quy, hiện đại, đáp ứng tốt yêu cầu nhiệm vụ trong tình hình mới.

Đề xuất người lao động được chuyển vùng, tăng lương tối thiểu 2 lần từ 1/7/2024.

 

Bộ LĐTB&XH đã đề xuất Chính phủ từ ngày 1/7/2024 tăng lương tối thiểu từ 200.000 đồng – 280.000 đồng và điều chỉnh các vùng áp dụng mức lương tối thiểu.

Đây là nội dung đề xuất tại Tờ trình dự thảo Nghị định Nghị định quy định mức lương tối thiểu đối với người lao động làm việc theo hợp đồng lao động, đã được Bộ LĐTB&XH gửi Chính phủ.

Bộ LĐTB&XH đề xuất điều chỉnh mức lương tối thiểu tăng bình quân 6% so với mức hiện hành để áp dụng từ ngày 1/7/2024.

Theo đề xuất của Bộ LĐTB&XH, từ ngày 1/7/2024 sẽ có nhiều người lao động được tăng lương 2 lần tiên tiếp. Ảnh minh họa: Internet.
Theo đề xuất của Bộ LĐTB&XH, từ ngày 1/7/2024 sẽ có nhiều người lao động được tăng lương 2 lần tiên tiếp. Ảnh minh họa: Internet.

Theo đó, các mức lương tối thiểu tháng theo 4 vùng, bao gồm: vùng I là 4.960.000 đồng/tháng, vùng II là 4.410.000 đồng/tháng, vùng III là 3.860.000 đồng/tháng, vùng IV là 3.450.000 đồng/tháng.

Mức lương tối thiểu vùng nêu trên tăng từ 200.000 đồng – 280.000 đồng so với mức lương tối thiểu hiện hành, cao hơn so với mức sống tối thiểu của người lao động dự kiến đến hết năm 2024 và cơ bản đảm bảo mức sống tối thiểu năm 2025.

Cùng với đó, Bộ LĐTB&XH đề xuất tăng lương tối thiểu giờ theo 4 vùng: vùng I là 23.800 đồng/giờ, vùng II là 21.200 đồng/giờ, vùng III là 18.600 đồng/giờ, vùng IV là 16.600 đồng/giờ.

Về địa bàn áp dụng mức lương tối thiểu, Bộ LĐTB&XH đề xuất: địa bàn phân vùng, nguyên tắc áp dụng phân vùng cơ bản kế thừa theo danh mục quy định hiện hành. Ngoài ra, có sự rà soát, cập nhật lại tên một số địa bàn sau khi có sự thay đổi do phải thực hiện sắp xếp lại địa giới hành chính theo các Nghị quyết của Ủy ban Thường vụ Quốc hội và những địa bàn có sự thay đổi về hạ tầng, mức độ phát triển thị trường lao động, vùng thu hút đầu tư theo đề nghị của UBND cấp tỉnh. Cụ thể:

- Điều chỉnh từ vùng II lên vùng I đối với: TP Hải Dương thuộc tỉnh Hải Dương; thị xã Quảng Yên, thị xã Đông Triều, TP Uông Bí, TP Móng Cái thuộc tỉnh Quảng Ninh; huyện Thống Nhất thuộc tỉnh Đồng Nai; TP Tân An, huyện Đức Hòa, huyện Bến Lức, huyện Cần Giuộc thuộc tỉnh Long An.

- Điều chỉnh từ vùng III lên vùng II đối với: TP Bắc Giang, thị xã Việt Yên và huyện Yên Dũng thuộc tỉnh Bắc Giang; TP Chí Linh, thị xã Kinh Môn và các huyện Cẩm Giàng, Bình Giang, Tứ Kỳ, Gia Lộc, Nam Sách, Kim Thành thuộc tỉnh Hải Dương; TP Thái Bình thuộc tỉnh Thái Bình; TP Thanh Hóa, TP Sầm Sơn, thị xã Nghi Sơn, thị xã Bỉm Sơn thuộc tỉnh Thanh Hóa; huyện Tân Phú, huyện Cẩm Mỹ thuộc tỉnh Đồng Nai; thị xã Ninh Hòa thuộc tỉnh Khánh Hòa; TP Sóc Trăng thuộc tỉnh Sóc Trăng; thị xã Kiến Tường thuộc tỉnh Long An.

- Điều chỉnh từ vùng IV lên vùng III đối với: các huyện Ninh Giang, Thanh Miện, Thanh Hà thuộc tỉnh Hải Dương; các huyện Thái Thụy, Tiền Hải thuộc tỉnh Thái Bình; các huyện Triệu Sơn, Thọ Xuân, Yên Định, Vĩnh Lộc, Thiệu Hóa, Hà Trung, Hậu Lộc, Nga Sơn, Hoằng Hóa, Nông Cống thuộc tỉnh Thanh Hóa; huyện Ninh Phước thuộc tỉnh Ninh Thuận.

Như vậy, khi Chính phủ phê duyệt đề xuất của Bộ LĐTB&XH về điều chỉnh lương tối thiểu và vùng áp dụng, đồng nghĩa với việc từ ngày 1/7/2024 sẽ có nhiều người lao động được tăng lương 2 lần liên tiếp. Đó là người lao động được tăng lương tối thiểu vùng và tăng lương do điều chỉnh địa bàn áp dụng.

"Việc điều chỉnh vùng của các địa phương nêu trên nhằm tạo sự cân đối hợp lý về giá nhân công giữa các địa bàn lân cận, do các địa bàn trên có sự phát triển hơn về thị trường lao động, hình thành các khu, cụm công nghiệp, điều kiện cơ sở hạ tầng được cải thiện đáng kể, giáp với các địa bàn khác có mức lương tối thiểu cao hơn" - Bộ LĐTB&XH cho hay.


Công tác bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch đạt nhiều kết quả tích cực

Thời gian qua, nhờ có sự lãnh đạo sáng suốt, đúng đắn của Đảng, sự chỉ đạo, điều hành quyết liệt, kịp thời của Chính phủ, sự vào cuộc đồng bộ, tích cực của cả hệ thống chính trị, cùng với sự đồng tình, hưởng ứng, ủng hộ mạnh mẽ của nhân dân cả nước và đồng bào ta ở nước ngoài, chúng ta đã khắc phục, vượt qua được những khó khăn rất lớn, những tác động tiêu cực do dịch bệnh, thiên tai, bão lụt, hạn hán xảy ra. Đó là minh chứng sinh động, khẳng định tính ưu việt của chế độ; truyền thống đoàn kết, yêu nước, lòng nhân ái và ý chí kiên cường của nhân dân ta. Càng trong khó khăn, thử thách, truyền thống và ý chí đó càng được nhân lên gấp bội, là nguồn lực và động lực to lớn, không một thế lực nào có thể ngăn cản, để xây dựng Đảng ngày càng vững mạnh, đất nước tiếp tục đi lên, dân tộc phát triển cường thịnh, trường tồn. Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng khẳng định: “Những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử là kết tinh sức sáng tạo của Đảng và nhân dân ta, khẳng định con đường đi lên chủ nghĩa xã hội của nước ta là phù hợp với thực tiễn Việt Nam và xu thế phát triển của thời đại; khẳng định sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng là nhân tố hàng đầu quyết định thắng lợi của cách mạng Việt Nam”(8). Trong đó, phải kể đến công tác bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch được Đảng ta đặc biệt quan tâm, đạt nhiều kết quả tích cực. Cụ thể: Thứ nhất, chất lượng lãnh đạo của cấp ủy, tổ chức đảng trong đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch ngày càng được nâng cao. Nhờ vậy, cán bộ, đảng viên và quần chúng nhận thức đúng đắn sách lược của Đảng, pháp luật của Nhà nước. Quán triệt rõ, công tác đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng là nhiệm vụ của cả hệ thống chính trị từ Trung ương đến địa phương, đồng thời là trách nhiệm của toàn dân nhằm đấu tranh hiệu quả với những quan điểm sai trái, thù địch, góp phần tạo nên sức mạnh tổng thể của cả hệ thống chính trị, kết hợp với sức mạnh của nhân dân. Trên cơ sở quán triệt nhận thức, tư duy, xác định rõ tính chất nguy hại và tác động tiêu cực của những quan điểm sai trái, thù địch đối với an ninh, trật tự, an toàn xã hội; nhận diện rõ các quan điểm sai trái, thù địch để có chủ trương, biện pháp chỉ đạo phù hợp; phân định được sự khác biệt của quan điểm sai trái, thù địch với nhận thức lệch lạc, phiến diện, ý kiến phê bình, nhưng thiếu xây dựng. Từ đó, có cách thức phản biện khoa học, phương thức đấu tranh phù hợp, giải pháp áp dụng phát huy hiệu quả cao. Thứ hai, sử dụng đa dạng giải pháp bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch. Lấy giá trị thực tiễn làm phương thức đấu tranh, nhưng luôn bảo đảm tính khách quan, thuyết phục; đồng thời, sử dụng biện pháp đấu tranh mềm dẻo, cương quyết, nhưng dân chủ. Áp dụng biện pháp khoa học - kỹ thuật để nhận diện, đấu tranh và xử lý kịp thời thông tin vu khống, xuyên tạc, nội dung xấu, độc, luận thuyết sai trái (phủ nhận giá trị khoa học của chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh...). Sử dụng hiệu quả công cụ pháp lý để bảo đảm tính tuân thủ, bình đẳng, khách quan trước pháp luật; xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa làm công cụ về thể chế để đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng. Thứ ba, Đảng ta đã sử dụng các phương thức, giải pháp có tính bản lề, kết hợp “xây” và “chống”. Phương thức này bảo đảm các giá trị về tạo lập tinh thần cách mạng, có sự kết hợp với đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch. Trong đó, “xây” là chính và “chống” là quan trọng, cấp bách, đã được quan tâm, thường xuyên triển khai thực hiện. Xác định rõ trọng tâm, cốt lõi về mặt bản chất, Đảng ta đã trưởng thành từ nhân dân và “Đảng Cộng sản Việt Nam gắn bó mật thiết với Nhân dân, phục vụ Nhân dân, chịu sự giám sát của Nhân dân, chịu trách nhiệm trước Nhân dân về những quyết định của mình”(9). Do vậy, bằng nhiều phương thức khác nhau, Đảng ta đã xây dựng được niềm tin của nhân dân theo tinh thần “Dân tin thì Đảng còn và ngược lại”. Quán triệt quan điểm lấy dân làm gốc, xây dựng và củng cố vững chắc “thế trận lòng dân”, Đảng ta đã dựa vào nhân dân, thông qua sự ủng hộ, bằng sức mạnh của nhân dân để hình thành tổ chức và lực lượng bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch. Thông qua các diễn đàn, phương tiện truyền thông, người dân thẳng thắn bày tỏ quan điểm, tinh thần yêu nước, ủng hộ Đảng và chế độ. Trên các phương tiện truyền thông xã hội thời gian qua, nhiều tài khoản đã tham gia tích cực vào công tác này, như nhóm “Đấu tranh chống luận điệu xuyên tạc” với 91.468 thành viên; trang “Chống luận điệu xuyên tạc” có 44.000 người thích, 48.000 người theo dõi; trang “Tiếng nói thế hệ trẻ” có 14.392 người thích, 15.224 người theo dõi; trang “Thông tin chống phản động” có 149.000 người thích, 190.000 người theo dõi; trang “Chống phản động” có 189.349 người thích, 229.136 người theo dõi(10)... Thứ tư, kết hợp cùng lúc nhiều phương thức, giải pháp, như đấu tranh, phản bác với nêu gương; tuyên truyền, phổ biến với giáo dục ý thức cách mạng, chủ nghĩa yêu nước; đấu tranh, phản biện với chứng minh, đối chứng, so sánh (“chứng cứ thật, giá trị thật”); đấu tranh, phản biện với sử dụng biện pháp mạnh (“xử lý không có vùng cấm”, “không chấp nhận lợi ích cục bộ, lợi ích nhóm”, “trục lợi chính sách”).