Thứ Sáu, 17 tháng 5, 2024
KHÔNG THỂ PHỦ NHẬN VIỆC ĐẨY MẠNH HỌC TẬP, LÀM THEO TƯ TƯỞNG, ĐẠO ĐỨC, PHONG CÁCH HỒ CHÍ MINH
LỢI DỤNG MẠNG XÃ HỘI ĐỂ CAN THIỆP VÀO VẤN ĐỀ NHÂN QUYỀN Ở VIỆT NAM
KỶ NIỆM 134 NĂM NGÀY SINH CHỦ TỊCH HỒ CHÍ MINH: ĐỂ THÀNH CÔNG TRONG LÃNH ĐẠO, CẦN KIẾN TẠO VÀ DUY TRÌ SỰ ĐOÀN KẾT
HỒ CHÍ MINH KẾT TINH TRUYỀN THỐNG DÂN TỘC VỚI GIÁ TRỊ THỜI ĐẠI
Nghiên cứu di sản Hồ Chí Minh về CNXH thấy rõ đặc trưng, mục tiêu, động lực của CNXH khoa học vẫn theo học thuyết Mác - Lê-nin nhưng rất Việt Nam, xây dựng CNXH gắn với bản sắc và đặc điểm Việt Nam.
Hiếm có nước nào trên thế giới có được truyền thống chống ngoại xâm vẻ vang như dân tộc Việt Nam. Từ thời Hai Bà Trưng giương cờ “Lĩnh Nam riêng một triều đình” giành độc lập đầu công nguyên đến nay đã trải qua nhiều cuộc kháng chiến chống ngoại xâm, trong đó, hiển hách nhất là vào thời đại Hồ Chí Minh.
Trước ách đô hộ của thực dân Pháp, Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh cho rằng, không thể đánh đuổi chúng bằng cách “đuổi hổ cửa trước, rước beo cửa sau”, mà cần phải bằng một con đường khác. Người đã đi khắp năm châu, bắt gặp được chủ nghĩa Mác - Lê-nin để rồi vận dụng vào hoàn cảnh của Việt Nam vạch ra lộ trình cách mạng: “Làm tư sản dân quyền cách mạng và thổ địa cách mạng để đi lên xã hội cộng sản”, với ý chí: “Thà hy sinh tất cả chứ nhất định không để mất nước, không chịu làm nô lệ”. Cách mạng Việt Nam từ một nước thuộc địa lạc hậu, giành được độc lập, thoát khỏi ách thực dân, xây dựng chế độ dân chủ nhân dân tiến lên CNXH là một sáng tạo chưa từng có trong tiền lệ lịch sử loài người; đóng góp về lý luận và thực tiễn vào kho tàng chủ nghĩa Mác - Lê-nin và kinh nghiệm quý báu cho các dân tộc cùng hoàn cảnh.
Tư duy Hồ Chí Minh cách mạng là đổi mới, Người nói: “Khi tình thế đổi mới, ta đủ gan góc, đủ tinh thần phụ trách để quyết định phương hướng chính trị mới, thay đổi cách thức công tác và đấu tranh”. Một thế giới ngày càng đổi mới, xã hội ngày càng phát triển thì “hành động, năng lực, sáng kiến của ta cũng phải thay đổi cho kịp”.
Với Việt Nam hàng ngàn năm dưới chế độ phong kiến, gần trăm năm thuộc địa, với nền công nghiệp lạc hậu, trình độ khoa học kỹ thuật thấp kém, xã hội tiêu điều, đói khổ, đi lên bằng cách nào để nước nhà độc lập, để ai cũng có cơm ăn, ai cũng có áo mặc, ai cũng được học hành… quả là một cuộc chiến đấu không kém gì với đánh giặc. Người chỉ ra rằng: “Cuộc cách mạng XHCN là cuộc cách mạng biến đổi khó khăn nhất và sâu sắc nhất. Chúng ta phải xây dựng một xã hội hoàn toàn mới xưa nay chưa hề có trong lịch sử dân tộc ta”…
Vận dụng Cách mạng Tháng Mười nhưng Hồ Chí Minh cho rằng, Việt Nam đi lên CNXH không giống như ở Nga. Việt Nam vừa kháng chiến vừa kiến quốc, vừa tiến hành cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân, vừa bước vào thời kỳ quá độ xây dựng CNXH. Trong hoàn cảnh đó, Hồ Chí Minh cho rằng, cần phải có nội dung, cách làm và biện pháp xây dựng XHCN phù hợp với hoàn cảnh của nước ta. Nghiên cứu di sản Hồ Chí Minh về CNXH thấy rõ đặc trưng, mục tiêu, động lực của CNXH khoa học vẫn theo học thuyết Mác - Lê-nin nhưng rất Việt Nam, xây dựng CNXH gắn với bản sắc và đặc điểm Việt Nam. Đó là CNXH đi liền với độc lập dân tộc, là do dân, vì dân, là “mở ra một chân trời cho phát triển vô hạn của dân tộc, xã hội và con người”. Đó chính là mục tiêu tiến hành công cuộc đổi mới do Đảng khởi xướng: “Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”, xây dựng một nước Việt Nam hùng cường, thịnh vượng, phồn vinh, hạnh phúc, sánh vai cùng với cường quốc năm châu.
Tư duy mang tầm thời đại của Hồ Chí Minh ở chỗ khi tiếp thu chủ nghĩa Mác-Lê-nin, Người cho rằng: Việt Nam không làm cách mạng vô sản mà làm cách mạng giải phóng dân tộc theo con đường cách mạng vô sản. Đảng Cộng sản ở Việt Nam không chỉ kết hợp chủ nghĩa Mác - Lê-nin với phong trào công nhân mà còn là “Đảng của giai cấp công nhân, Nhân dân lao động và của dân tộc Việt Nam”. Đây là điều rất mới về xác định tính chất của Đảng, là cống hiến về lý luận xây dựng Đảng Cộng sản mang giá trị thời đại.
Cùng với việc tập trung tố cáo tội ác của chủ nghĩa thực dân, Hồ Chí Minh đã nêu ra cách làm cần thiết để thức tỉnh các dân tộc thuộc địa đang chìm đắm trong sự áp bức, bóc lộc đứng lên tranh đấu. Người nêu cao ngọn cờ giải phóng dân tộc gắn với quyền con người và mở rộng, nâng cao quyền con người thành quyền của các dân tộc, đây là điểm mới. Chỉ có Hồ Chí Minh với tư duy thời đại mới nhận ra vẫn có điểm chung mưu cầu hạnh phúc cho loài người, mưu cầu phúc lợi cho xã hội giữa chủ nghĩa Mác - Lê-nin với chủ nghĩa Tôn Dật Tiên, Khổng Tử giáo, Thiên chúa giáo và Phật giáo. Chính tư duy đó mà Hồ Chí Minh đã tạo ra cơ hội để gắn kết các dân tộc, sợi dây nối liền, xóa bỏ rào cản của các nền văn hóa khác nhau liên quan đến chủng tộc, màu da, ngôn ngữ, tôn giáo và thể chế chính trị.
Truyền thống dân tộc và giá trị thời đại trong tư tưởng Hồ Chí Minh bắt nguồn từ triết lý nhân văn, bởi vậy UNESCO đã vinh danh Hồ Chí Minh là Nhà văn hóa kiệt xuất. Khi Hồ Chí Minh nói: “Không có gì quý hơn độc lập, tự do” đó là khẳng định khát vọng về những giá trị chung không chỉ của dân tộc Việt Nam mà là của toàn cầu, của nhân loại, theo tinh thần: “Năm châu, bốn biển đều là anh em”, là tình hữu nghị, hữu ái giữa nhân dân các nước, là thái độ và tấm lòng vị tha, nhân văn, nhân đạo cao cả.
Người đã kết tinh được phẩm giá của nhân loại tiến bộ, tỏa sáng giá trị nhân văn trường tồn mang tầm thời đại như Chủ tịch Hội đồng Hòa bình thế giới Romesh Chandra đã đánh giá: “Bất cứ nơi nào chiến đấu cho độc lập, tự do, ở đó có Hồ Chí Minh và ngọn cờ Hồ Chí Minh bay cao. Bất cứ ở đâu chiến đấu cho hòa bình và công lý, ở đó có Hồ Chí Minh và ngọn cờ Hồ Chí Minh bay cao. Bất cứ ở đâu chiến đấu cho một thế giới mới, chống đói nghèo, ở đó có Hồ Chí Minh và ngọn cờ Hồ Chí Minh bay cao”.
Dân tộc Việt Nam tự hào về Hồ Chí Minh, con người của thời đại, người con của dân tộc, Bác Hồ của chúng ta; Người tiêu biểu cho những giá trị của nhân loại và thời đại: Hòa bình, hợp tác, độc lập dân tộc, tự do, bình đẳng và tiến bộ; Người sống mãi với non song đất nước, trường tồn với lịch sử nhân loại./.
THẾ GIỚI VẤN ĐỀ SỰ KIỆN: NƯỚC NGA ĐÃ SẴN SÀNG KHI V.PUTIN “CHÚNG TA CẦN GÌ MỘT THẾ GIỚI, NẾU KHÔNG CÓ NGA?”
TÌM HIỂU GIÚP BẠN: MỞ ĐƯỜNG HỒ CHÍ MINH "MỘT QUYẾT ĐỊNH LỊCH SỬ MANG TẦM CHIẾN LƯỢC"!
CĂN BỆNH UNG THƯ TÂM HỒN
KHÔNG NÊN TỰ KIÊU MÀ CẦN KHIÊM TỐN
BIẾT ĐIỂM DỪNG
Bệnh giáo điều mới trong một bộ phận cán bộ, đảng viên
Trước thời kỳ đổi mới, đất nước ta lâm vào khủng hoảng kinh tế-xã hội. Nguyên nhân căn bản được Đại hội VI đánh giá là do chúng ta rơi vào tình trạng máy móc, giáo điều. Đại hội VI đã mở ra thời kỳ mới, trên cơ sở trung thành với Chủ nghĩa Mác-Lênin, Đảng đã vận dụng linh hoạt để tiến hành công cuộc đổi mới.
Cuộc bứt phá ra khỏi chủ nghĩa giáo điều đã giúp đất nước ta thoát khỏi tình trạng nghèo nàn, kinh tế đất nước ngày càng đi lên. Sau gần 40 năm đổi mới, bên cạnh những thành tựu to lớn, chúng ta lại thấy ở đâu đó xuất hiện căn bệnh giáo điều mới, ảnh hưởng lớn đến phát triển đất nước.
Nhận diện những biểu hiện mới của căn bệnh giáo điều
Giáo điều là những nguyên lý, những quan điểm, nguyên tắc mà con người tiếp thu mù quáng, không cần chứng minh, không có phê phán, không chú ý điều kiện ứng dụng nó. Giáo điều cũng để chỉ tư tưởng và hành động tuyệt đối hóa lý luận, coi thường, hạ thấp thực tiễn, hoặc áp dụng lý luận mà không tính tới thực tiễn. Có thể phân thành hai dạng: Giáo điều lý luận: Vận dụng lý luận không căn cứ vào điều kiện thực tiễn cụ thể, vận dụng mà không hiểu bản chất của lý luận. Giáo điều kinh nghiệm: Vận dụng kinh nghiệm của ngành khác, người khác, địa phương khác, nước khác vào thực tiễn một cách máy móc, không tính tới điều kiện thực tiễn cụ thể. Bệnh giáo điều có thể hiểu là tình trạng nhận thức, hành động giáo điều cả về lý luận và thực tiễn kéo dài trong một bộ phận cán bộ, đảng viên, cần phải nhận biết và có cách khắc phục. Bệnh giáo điều mới trong một bộ phận cán bộ, đảng viên có nhiều biểu hiện, song tựu trung lại có thể khái quát trên một số vấn đề sau đây:
Giáo điều hóa nghị quyết: Ở mỗi giai đoạn tính chất nhiệm vụ khác nhau, vì vậy, nghị quyết phải có những chủ trương, giải pháp thực hiện khác nhau. Tuy nhiên hiện nay, trong sinh hoạt lãnh đạo, nhất là sinh hoạt ra nghị quyết, một số cấp ủy, bí thư còn tình trạng nhận thức cho rằng nhiệm vụ cơ quan, đơn vị là “xuân thu nhị kỳ”, quanh năm ngày tháng lặp đi lặp lại không có gì mới. Nên ở không ít tổ chức đảng, nhất là cấp cơ sở, nghị quyết lãnh đạo được xây dựng theo kiểu khuôn mẫu, sao chép nguyên như trước, chỉ thay ngày đổi tháng. Hiện nay, trong một số tổ chức đảng, nhất là cấp chi bộ, việc chuẩn bị dự thảo và ban hành nghị quyết mang tính hình thức, thậm chí để đối phó với việc kiểm tra, giám sát của tổ chức đảng cấp trên. Điều đó dẫn tới tình trạng nghị quyết tháng sau, quý sau, năm sau cũng như trước, cùng lắm chỉ bổ sung một vài nội dung gọi là cho khác trước. Biểu hiện mới này không chỉ là giáo điều lý luận, thực tiễn mà còn thể hiện sự thiếu trách nhiệm của một bộ phận cán bộ, đảng viên.
Ngoại hóa chủ trương: Thời gian qua, trong đội ngũ cán bộ, đảng viên ở nhiều bộ, ngành, địa phương có tình trạng tổ chức nhiều cuộc đi khảo sát, tham quan học tập kinh nghiệm nước ngoài. Mục đích của chuyến đi rõ ràng được định vị là mang những kiến thức, kinh nghiệm tổ chức quản lý, phát triển kinh tế-xã hội từ các nước, nhất là nước tiên tiến về để ứng dụng vào Việt Nam. Tuy nhiên, nhiều cán bộ có chức vụ, tầm ảnh hưởng lớn đi học tập ở nước ngoài về bê nguyên các mô hình từ nước ngoài đặt vào Việt Nam, cho rằng đó là học hỏi, sáng tạo, tiếp thu cái mới. Việc áp dụng mang tính áp đặt này chưa nghĩ đến điều kiện kinh tế-xã hội, điều kiện kết cấu hạ tầng của ta chưa phù hợp, chưa thể hấp thụ được nguyên vẹn kinh nghiệm đó. Hậu quả là gây thất thoát, lãng phí lớn cho các nguồn lực xã hội. Dự án đường dành riêng cho xe buýt nhanh BRT ở Thủ đô Hà Nội là một ví dụ điển hình cho bệnh giáo điều mới, học tập kinh nghiệm nước tiên tiến, bê nguyên xi vào Việt Nam. Do không phù hợp với điều kiện hạ tầng giao thông Việt Nam nên dự án trên có nguy cơ cao phải dừng hoạt động, tốn kém rất nhiều nguồn lực đầu tư.
![]() |
| Ảnh minh họa / tuyengiao.vn |
Sợ sai nên rập khuôn công thức, quy trình cũ trong công việc mới, bất chấp hiệu quả thấp: Tình trạng sợ sai, không dám nghĩ, không dám làm, không dám chịu trách nhiệm trong một bộ phận cán bộ, đảng viên dẫn tới tình trạng cứ làm như người trước, tháng trước, năm trước, quy trình trước, nhiệm kỳ trước mà không dám đột phá nhằm bảo đảm an toàn cho bản thân. Những cán bộ, đảng viên dạng này chỉ lo giữ mình an toàn trong “chiếc kén nhỏ”, không chịu đổi mới, học hỏi, chỉ gói gọn trong tư duy nhiệm kỳ, tránh va chạm để cuối cùng là "hạ cánh an toàn". Do vậy dẫn tới trong lãnh đạo, chỉ đạo có tình trạng lặp lại “công thức”; “quy trình cũ” trong công việc mới. Từ chỗ "mũ ni che tai", không dám nói ra những điều mình suy nghĩ, trăn trở, dần dần trở nên dửng dưng với những biến động của xã hội, dửng dưng với nhiệm vụ của cơ quan, đơn vị và chức trách, nhiệm vụ của bản thân.
Thái độ ba phải: Biểu hiện của nó là không thể hiện chính kiến của mình trong sinh hoạt cấp ủy, tổ chức đảng. Căn bệnh này tồn tại hai dạng: Dạng thứ nhất, người cán bộ, đảng viên thực chất là có ý tưởng nhưng do ngại va chạm, ngại thể hiện nên mọi thứ đều đồng ý, dẫn đến “mười lăm cũng ừ, mười tư cũng gật”, “nhất trí cao”. Đây là biểu hiện xuôi chiều trong lãnh đạo. Hệ lụy của nó là người đảng viên co ro trong "cái kén" của chính mình, nhìn thấy nhiều vấn đề, có ý tưởng đổi mới, có sáng kiến nhưng không dám trình bày, không dám thể hiện. Dạng thứ hai là người lười tư duy, lười suy nghĩ, coi việc lãnh đạo là của cấp ủy, của tập thể tổ chức đảng nên không chủ động trong việc tham gia đóng góp thảo luận xây dựng nghị quyết và những quyết sách khác. Cả hai dạng đều cho một đáp số là không huy động được trí tuệ, trách nhiệm tập thể vào các quyết sách lãnh đạo.
Những hậu quả khôn lường
Hậu quả lớn nhất chính là nếu căn bệnh này kéo dài sẽ là lực cản gây ra sự trì trệ, kéo lùi sự phát triển. Bởi nghị quyết lãnh đạo không thực sự là sự cụ thể hóa nghị quyết cấp trên, càng không phải là nghị quyết lãnh đạo trong giai đoạn mới, mà chỉ là nghị quyết được bê nguyên xi như trước. Một nghị quyết như vậy là vô hiệu, không thể có chủ trương, giải pháp mang tính sáng tạo, đột phá và hoàn toàn thiếu sức sống, xa rời thực tiễn, không sát với yêu cầu nhiệm vụ. Chính vì vậy, hoạt động của cơ quan, đơn vị, địa phương diễn ra một cách đơn điệu, bình bình, không có sự đột phá, dẫn tới sự trì trệ, thụt lùi, tụt hậu do thực tiễn đời sống kinh tế-xã hội luôn có sự biến động, thay đổi.
Bệnh giáo điều mới còn là sự cản trở đưa nghị quyết vào cuộc sống. Bởi ngay trong nhận thức của một bộ phận cán bộ, đảng viên đã đánh mất chính vai trò lãnh đạo của mình. Vì vậy, trong hoạt động thực tiễn, họ khó nêu cao được trách nhiệm để đưa nghị quyết vào cuộc sống; họ sẽ hành động theo thói quen, được chăng hay chớ. Rõ ràng, một bộ phận cán bộ, đảng viên như vậy, cho dù là ở cấp cơ sở cũng sẽ là lực cản làm giảm năng lực lãnh đạo, năng lực cầm quyền của Đảng. Bởi điều mà Đảng, Nhà nước, nhân dân, cơ quan, tổ chức mong chờ ở họ là sự tâm huyết, cống hiến công sức, trí tuệ, ý tưởng sáng tạo cho sự nghiệp đổi mới, sự nghiệp xây dựng, phát triển cơ quan, đơn vị, địa phương thì không có.
Việc áp dụng máy móc, giáo điều cả về lý luận và thực tiễn mà không chịu tính toán đến điều kiện kinh tế-xã hội sẽ gây lãng phí nguồn lực lớn của đất nước, của cơ quan, đơn vị, địa phương, gây bức xúc trong dư luận nhân dân, làm giảm sút uy tín lãnh đạo của Đảng, mất uy tín của cán bộ, đảng viên. Bên cạnh đó, bệnh giáo điều mới còn là mảnh đất màu mỡ cho chủ nghĩa độc đoán, chuyên quyền, sự chủ quan, duy ý chí có cơ hội phát triển. Điều đó cũng có nghĩa là những cái sai, cái tiêu cực trong công tác lãnh đạo không được đấu tranh loại bỏ, cái sai nối tiếp cái sai. Điều này sẽ dẫn tới hậu quả khôn lường là tập thể mất vai trò lãnh đạo, các nguyên tắc tổ chức sinh hoạt Đảng bị coi nhẹ, không huy động được trí tuệ, trách nhiệm tập thể cho việc đưa ra các quyết sách lãnh đạo, quản lý.
Liều thuốc khắc phục căn bệnh giáo điều mới
Trên cơ sở nhận diện rõ những biểu hiện của bệnh giáo điều mới, cần có các giải pháp để mỗi cán bộ, đảng viên, tổ chức đảng khắc phục hiệu quả những biểu hiện của căn bệnh này. Theo đó cần thực hiện tốt một số giải pháp sau đây:
Một là, tiếp tục nghiên cứu tổng kết thực tiễn, bổ sung, phát triển lý luận Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh trong điều kiện mới của cách mạng Việt Nam. Đến nay, điều kiện lịch sử, bối cảnh, thế và lực của đất nước ta đã có sự thay đổi, phát triển hơn nhiều. Chính vì vậy, trên cơ sở lấy Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho mọi hành động, Đảng ta cần đẩy mạnh việc nghiên cứu tổng kết thực tiễn để làm sáng tỏ, bổ sung phát triển lý luận Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh trong bối cảnh mới. Kết quả tổng kết và những bài học kinh nghiệm sẽ là luận cứ để định hướng hoạch định đường lối, chủ trương lãnh đạo của Đảng sát với yêu cầu, đòi hỏi của thực tiễn. Đồng thời làm cơ sở để tổ chức đảng, đảng viên các cấp nghiên cứu quán triệt, vận dụng sáng tạo vào thực tiễn hoạt động của bộ, ngành, tỉnh, thành phố, cơ quan, đơn vị mình.
Hai là, hoàn thiện cơ chế thúc đẩy tinh thần "7 dám" trong đội ngũ cán bộ, đảng viên. Việc thúc đẩy tinh thần "7 dám", nhất là tinh thần dám làm, dám chịu trách nhiệm của người cán bộ chủ trì, đứng đầu rất cần có cơ chế để quản lý, định hướng, bảo vệ cán bộ. Cơ chế ấy phải được thể chế hóa thành pháp luật, để vừa thông thoáng, mở ra hành lang đủ rộng cho đội ngũ cán bộ, đảng viên phát huy cao nhất tinh thần "7 dám", nhưng vẫn đúng pháp luật để cán bộ, đảng viên tránh được những vướng mắc, sai phạm.
Ba là, tiếp tục đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng Hồ Chí Minh về tính thực tiễn trong đội ngũ cán bộ, đảng viên. Phong cách thực tiễn của Người thể hiện sâu sắc nhất ở chỗ không áp dụng máy móc, giáo điều mà luôn đứng trên mảnh đất hiện thực cách mạng Việt Nam, văn hóa, con người Việt Nam để nghiên cứu, bảo vệ, phát triển, vận dụng Chủ nghĩa Mác-Lênin. Mỗi cán bộ, đảng viên cần nắm chắc, hiểu sâu chức trách nhiệm vụ, đi sâu đi sát thực tiễn, rèn luyện phương pháp tác phong lãnh đạo, chỉ đạo sâu sát, cụ thể, bảo đảm tính khoa học, hiệu quả.
Bốn là, tạo đột phá trong đào tạo bồi dưỡng gắn với rèn luyện thử thách đội ngũ cán bộ các cấp của Đảng. Đây được xác định là khâu đột phá bởi người cán bộ bên cạnh được đào tạo cơ bản về kiến thức, bồi dưỡng kỹ năng lãnh đạo, chỉ đạo còn cần được trải qua thử thách, rèn luyện trong thực tiễn. Thực tiễn công tác càng nhiều, càng dày thì càng giúp cho kinh nghiệm lãnh đạo, chỉ đạo của cán bộ, đảng viên hiệu quả, sát thực tế, tránh được duy ý chí, giáo điều, máy móc.
Năm là, phát huy dân chủ trong phản biện chính sách, nhất là đối với người đứng đầu ở tất cả các cấp. Cần phát huy dân chủ rộng rãi trong phản biện chính sách, dân chủ phải được thực hiện ngay trong nội bộ tổ chức đảng, nội bộ cơ quan, đơn vị. Đối với người đứng đầu địa phương còn phải làm tốt công tác vận hành hệ thống phản biện xã hội để phản hồi thông tin từ thực tiễn thực thi các quyết sách, chính sách của cấp ủy đảng, chính quyền địa phương các cấp, thông qua đó giúp cấp ủy, bí thư, người đứng đầu có cái nhìn toàn diện về hiệu quả thực thi chính sách, kịp thời phát hiện những bất cập để điều chỉnh.
Bệnh giáo điều mới trong một bộ phận cán bộ, đảng viên là vấn đề cần được nhận diện và có định hướng khắc phục. Trong đó trọng tâm là tiếp tục đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, phong cách thực tiễn của Chủ tịch Hồ Chí Minh, đồng thời hoàn thiện cơ chế thúc đẩy tinh thần "7 dám" trong đội ngũ cán bộ, đảng viên, nhất là người đứng đầu. Đó là cách thiết thực để bảo vệ, bổ sung, phát triển Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh trong tình hình mới, bảo đảm được vai trò, sứ mệnh của Đảng và từng cán bộ, đảng viên trong thực tiễn lãnh đạo, chỉ đạo xây dựng, bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.
QĐND
Tăng cường quan hệ hữu nghị, thúc đẩy hợp tác hai cơ quan lập pháp Việt Nam - Bỉ
Chiều 15-5, tại Hà Nội, Ủy viên Bộ Chính trị, Phó chủ tịch Thường trực Quốc hội Trần Thanh Mẫn tiếp Hạ Nghị sĩ André Flahaut, Bộ trưởng Quốc vụ, nguyên Chủ tịch Hạ viện Vương quốc Bỉ.
Tại buổi tiếp, Phó chủ tịch Thường trực Quốc hội Trần Thanh Mẫn nêu
rõ, Việt Nam luôn coi Bỉ là đối tác quan trọng trong Liên minh châu Âu; đồng
thời nhấn mạnh, quan hệ hợp tác nhiều mặt giữa hai nước, bao gồm cả hợp tác
liên nghị viện, đã phát triển rất tốt đẹp trong thời gian qua. Chuyến thăm Việt
Nam của Bộ trưởng Quốc vụ sẽ góp phần củng cố hơn nữa quan hệ tốt đẹp giữa
hai nước và Quốc hội hai nước.
Thay mặt Quốc hội và nhân dân Việt Nam, Phó chủ
tịch Thường trực Quốc hội cảm ơn Hạ viện Bỉ nói chung, những đóng góp của
Bộ trưởng Quốc vụ Vương quốc Bỉ nói riêng, đã thông qua Nghị quyết
kêu gọi ủng hộ nạn nhân chất độc da cam Việt Nam (vào tháng 10-2023), góp phần
thúc đẩy sự quan tâm, ủng hộ của cộng đồng quốc tế đối với việc khắc phục
hậu quả chiến tranh ở Việt Nam. Phó chủ tịch Thường trực Quốc hội mong muốn,
hai bên tiếp tục phối hợp chặt chẽ, triển khai các hình thức hỗ trợ thiết thực
về tài chính, công nghệ, phát triển nhân lực giúp Việt Nam xử lý hậu quả chất
độc da cam tại một số khu vực bị ảnh hưởng.
Hai bên vui mừng nhận thấy, quan hệ giữa Quốc
hội/Nghị viện hai nước không ngừng được củng cố và phát triển tốt đẹp, trên cả
khuôn khổ song phương và đa phương. Để đẩy mạnh hợp tác nhiều mặt giữa hai
nước, tăng cường tin cậy chính trị và hiểu biết lẫn nhau, Phó chủ tịch Thường
trực Quốc hội đề nghị hai nước tăng cường trao đổi đoàn các cấp, đặc biệt là
cấp cao trên tất cả các kênh, trong đó có kênh Nghị viện.
Cảm ơn phía Bỉ đã tích cực phối hợp trong triển
khai ký kết Thỏa thuận hợp tác giữa Quốc hội Việt Nam và Nghị viện Bỉ, Phó chủ
tịch Thường trực Quốc hội nhấn mạnh, hai bên cần tiếp tục đẩy mạnh hơn nữa trao
đổi đoàn cấp cao, cấp ủy ban và cơ quan phục vụ Quốc hội/Nghị viện; tăng cường
phối hợp, ủng hộ lẫn nhau tại các diễn đàn liên nghị viện khu vực và thế giới
như Liên minh Nghị viện thế giới, Liên minh Nghị viện Pháp ngữ... Việt Nam sẵn
sàng làm cầu nối thúc đẩy quan hệ Bỉ - ASEAN, quan hệ Nghị viện Bỉ - AIPA; phát
huy vai trò cầu nối của Nhóm Nghị sĩ hữu nghị hai nước, thúc đẩy trao đổi đoàn,
mở rộng các hình thức giao lưu hợp tác mới; thúc đẩy hợp tác vùng/địa phương và
doanh nghiệp hai nước.
Về hợp tác hai nước trên một số lĩnh vực thời gian
qua, Phó chủ tịch Thường trực Quốc hội đánh giá, kinh tế là trụ cột quan
trọng trong quan hệ hai nước, đã đạt nhiều kết quả tích cực; cho rằng, hai nước
vẫn còn nhiều dư địa để phát triển mạnh mẽ hơn nữa.
Phó chủ tịch Thường trực Quốc hội mong muốn Hạ viện
Bỉ sớm hoàn tất phê chuẩn Hiệp định Bảo hộ đầu tư Việt Nam - Liên minh châu Âu
(EVIPA) trước khi kết thúc nhiệm kỳ nhằm tối đa hóa tiềm năng hợp tác giữa hai
nước trong lĩnh vực đầu tư; đề nghị Bỉ ủng hộ, thúc đẩy EC sớm gỡ bỏ “thẻ vàng”
IUU với xuất khẩu thủy sản của Việt Nam, tính đến nỗ lực nghiêm túc của Việt
Nam thực hiện các khuyến nghị của EC về phát triển nghề cá bền vững.
Bên cạnh đó, Phó chủ tịch Thường trực Quốc
hội cảm ơn sự hỗ trợ quý báu của Chính phủ Bỉ dành cho Việt Nam những năm
qua trong lĩnh vực nước sạch, xử lý rác thải, tăng cường thể chế, nông nghiệp
và phát triển nông thôn, y tế, giáo dục, góp phần đổi mới và phát triển kinh tế
- xã hội đất nước; mong muốn tiếp tục nhận được sự hỗ trợ và hợp tác hiệu quả
của Bỉ trong lĩnh vực này.
Với tư cách là một người bạn của Việt Nam, chứng
kiến những cột mốc hợp tác quan trọng trong quan hệ hai nước, Phó chủ tịch
Thường trực Quốc hội mong muốn, Bộ trưởng André Flahaut sẽ tiếp tục ủng hộ việc
tăng cường quan hệ hữu nghị và hợp tác nhiều mặt của hai nước trong giai đoạn
tới, vì lợi ích của nhân dân hai nước, vì hòa bình, hợp tác và phát triển ở khu
vực và trên thế giới.
Cảm ơn Phó chủ tịch Thường trực Quốc hội Trần Thanh
Mẫn dành thời gian tiếp, Bộ trưởng André Flahaut chia sẻ, hơn 51 năm qua, quan
hệ hai nước đã đạt được những kết quả hết sức tốt đẹp, từ chính trị, ngoại giao
cho đến quan hệ về kinh tế, văn hóa, giao lưu nhân dân.
Bộ trưởng Quốc vụ Vương quốc Bỉ vui mừng cho biết,
Nghị viện Bỉ đã hoàn tất các thủ tục liên quan đến Thỏa thuận hợp tác giữa
cơ quan lập pháp hai nước và sẽ sớm chuyển đến Quốc hội Việt Nam văn kiện quan
trọng này; cho rằng, đây sẽ là nền tảng rất tốt để Quốc hội/Nghị viện
và các cơ quan của Quốc hội/Nghị viện hai nước tăng cường hợp tác, qua đó thúc
đẩy quan hệ hai nước phát triển mạnh mẽ hơn nữa trong thời gian tới.
Chia sẻ về những nỗ lực trong các hoạt động hợp
tác, hỗ trợ Việt Nam khắc phục hậu quả chiến tranh, hỗ trợ nạn nhân chất độc da
cam, Bộ trưởng André Flahaut cho biết, Hạ viện Bỉ là cơ quan lập pháp đầu
tiên trên thế giới thông qua Nghị quyết kêu gọi ủng hộ nạn nhân chất độc da cam
Việt Nam với tỷ lệ 100% và sẽ tiếp tục thúc đẩy các hoạt động này trong
thời gian tới.
Nhất trí với ý kiến của Phó chủ tịch Thường trực
Quốc hội Trần Thanh Mẫn, Bộ trưởng Quốc vụ Vương quốc Bỉ cho rằng, Quốc
hội/Nghị viện hai nước cần thực hiện hiệu quả hơn nữa chức năng giám sát và
tăng cường phối hợp giám sát việc triển khai thực hiện các cơ chế, hiệp
định/thỏa thuận hợp tác mà Chính phủ hai nước đã ký kết cũng như những dự án
hợp tác quan trọng giữa hai nước.
Cẩn trọng thực hiện sản phẩm truyền thông liên quan đến di tích lịch sử
Quay, chia sẻ các đoạn video ngắn nhảy, múa tại các địa điểm di tích lịch sử, văn hóa đang trở thành một xu hướng của người trẻ trên các nền tảng mạng xã hội. Cũng từ đây, cuộc tranh luận về sáng tạo và tôn trọng di tích được mở ra.
Giới
trẻ tỏ ra thích thú với trào lưu chụp ảnh, quay và chia sẻ (share) video ngắn
về những bài nhảy, bài múa tại nhiều bối cảnh không gian khác nhau, trong đó có
cả các địa điểm di tích văn hóa, lịch sử. Người trẻ hưởng ứng nhiệt tình càng
khiến cho xu hướng này "nở rộ".
Đa dạng góc nhìn
Trường
phái ủng hộ nêu quan điểm đây là một trong những cách thức hiệu quả nhằm thu
hút sự chú ý của thế hệ trẻ đối với các di tích.
Việc
kết hợp nhảy múa đương đại tại các địa điểm lịch sử, văn hóa không chỉ đem đến
những trải nghiệm mới lạ cho những người thực hiện mà còn tạo cảm xúc cuốn hút,
hấp dẫn đối với công chúng.
Từ
đó, giúp lan tỏa văn hóa, lịch sử, thúc đẩy sự nhận thức và quan tâm di tích
của cộng đồng xã hội.
Ở
góc nhìn ngược lại, xem đây là hành động thiếu tôn trọng, tác động tiêu cực đến
công tác bảo tồn, bảo quản di tích, gây ra trình trạng lệch chuẩn nhận thức đối
với người trẻ về di tích.
Các
hành động quay video nhảy múa (thậm chí tương lai có thể là những hành vi phức
tạp hơn) có thể làm giảm sự trang nghiêm, giảm giá trị lịch sử, văn hóa hoặc
làm hư hại các di tích.
Nhiều
du khách cũng than phiền rằng chuyến tham quan của họ bị ảnh hưởng vì liên tục
phải né vào khung hình của các máy quay. Không gian công cộng bị xâm chiếm,
tính chất trang nghiêm bị xâm phạm.
Tổng
hợp các góc nhìn cho thấy việc quay video ngắn nhảy, múa tại các điểm di tích
lịch sử, văn hóa hoặc các hành động khác tương tự là một vấn đề cần được cân
nhắc kỹ lưỡng, thấu đáo, để phát huy tính tính cực, hạn chế mặt tiêu cực.
Đâu là giải pháp?
Rộng
hơn, đây là cơ hội để chúng ta nhìn lại công tác truyền thông di tích. Dường
như chúng ta quên rằng truyền thông di tích (như sách báo, phim ảnh, chương
trình truyền hình, sự kiện, video trực tuyến, mạng xã hội…) cũng là một phần
không thể thiếu, đóng vai trò quan trọng trong chỉnh thể hoạt động bảo tồn và
phát triển di tích lịch sử, văn hóa.
Về
phía các đơn vị quản lý di tích, chúng ta cần thấy rằng mạng xã hội phát triển
không ngừng đã tạo ra một cộng đồng trực tuyến kết nối con người với quá khứ,
nơi mọi người có thể giao lưu, tăng cường nhận thức và sự tôn trọng đối với di
tích.
Thế
nên, chúng ta cần chủ động tạo ra các trào lưu truyền thông di tích hơn là chỉ
ở thế bị động, băn khoăn nên ngăn chặn hay khuyến khích người trẻ quay video
như hiện nay.
Cần
tránh tư tưởng “quản không được thì cấm”, dẫn đến hệ lụy người trẻ càng thêm xa
rời quá khứ, xa rời di tích văn hóa, lịch sử.
Thay
vào đó, chúng ta nên có quy định, biển báo chỉ dẫn cụ thể khu vực nào được quay
video nhảy, múa. Đồng thời, chủ động cung cấp các thông tin chính xác về di
tích để tránh trường hợp các bạn trẻ tiếp cận với những thông tin không chính
thống, thiếu kiểm chứng đang tràn lan trên Internet.
Về
phía những nhà sáng tạo nội dung văn hóa, việc quay video nhảy múa, hay các
hoạt động tương tự (chẳng hạn thiết kế trang phục, sản xuất đồ lưu niệm, quay
phim ngắn, phim ca nhạc… có ý tưởng cảm hứng từ di tích văn hóa, lịch sử) thì
việc hiểu biết và thái độ tôn trọng lịch sử, văn hóa là cực kỳ quan trọng.
Không
thể viện lý do muốn lan tỏa văn hóa, lịch sử nhưng quá trình thực hiện lại làm
méo mó, hư hại di tích. Mặt khác, chúng ta cần hợp tác với các cơ quan quản lý
khi muốn thực hiện một sản phẩm truyền thông liên quan đến di tích.
Điều
này thể hiện trách nhiệm cá nhân đối với những việc mình làm, đồng thời là
trách nhiệm cộng đồng xã hội, đóng góp vào việc bảo tồn, phát triển di tích một
cách tích cực và bền vững.


