Chủ Nhật, 19 tháng 5, 2024

 

Bác Hồ với Bộ đội Trường Sơn, Bộ đội Trường Sơn với Bác Hồ

Bộ đội Trường Sơn ra đời ngày 19-5-1959, đúng ngày sinh của Bác Hồ. Sinh thời, Bác đặc biệt quan tâm đến Bộ đội Trường Sơn. Cán bộ, chiến sĩ, thanh niên xung phong công tác, chiến đấu, lao động trên tuyến chi viện mang tên Bác kính yêu cũng luôn hướng về Bác với những tình cảm đặc biệt.

Bác Hồ dành tình cảm đặc biệt cho Bộ đội Trường Sơn

Tôi có 47 năm quân ngũ, hơn 10 năm sống và chiến đấu trên đường Trường Sơn, 17 năm công tác tại Binh đoàn 12 (đơn vị kế tục truyền thống Bộ đội Trường Sơn), từng đảm nhiệm Trưởng phòng Tổ chức Cục Chính trị Đoàn 559, Chính ủy Binh trạm Đoàn 559, Chính ủy Sư đoàn 471, 472 Đoàn 559, rồi Phó chủ nhiệm Chính trị Đoàn 559, Phó chủ nhiệm Chính trị Bộ đội Trường Sơn, Bí thư Đảng ủy-Phó tư lệnh về Chính trị Binh đoàn 12. Trong những năm chiến đấu vô cùng gian khổ ở Trường Sơn, chúng tôi luôn tự hào vì đơn vị được mang tên Chủ tịch Hồ Chí Minh kính yêu (Bộ đội Đường Hồ Chí Minh). Chúng tôi có điểm tựa vững vàng về tinh thần, đó là Đảng ta và Bác Hồ vĩ đại. Sinh thời, Bác đặc biệt quan tâm đến Bộ đội Trường Sơn.  

Thiếu tướng Võ Bẩm, Đoàn trưởng đầu tiên của Đoàn 559 kể: Năm 1962, đồng chí Võ Bẩm lên gặp Bác, báo cáo với Bác rằng cán bộ, chiến sĩ ta có tinh thần trách nhiệm cao, đã vượt qua mọi hy sinh, gian khổ để hoàn thành nhiệm vụ. Còn đồng bào các dân tộc ở Trường Sơn địa phận nước ta cũng như trên đất nước Lào, do ở những vùng quá xa xôi, hẻo lánh, lại bị địch thường xuyên càn quét, khủng bố nên thiếu lương thực, thiếu muối đến mờ cả mắt, rụng cả tóc, nhiều người phù thũng, hầu hết đều rách rưới, có người thiếu cả khố che thân. Nghe báo cáo, Bác vô cùng xúc động, ứa nước mắt thương cảm, căn dặn các đồng chí lãnh đạo, chỉ huy chú ý chăm sóc đời sống và sức khỏe cho cán bộ, chiến sĩ và phải tìm cách cứu giúp đồng bào. Dịp Quốc khánh 2-9-1962, chấp hành chỉ thị của Người, Đoàn 559 đã chuyển đến đồng bào các dân tộc ở Trường Sơn 30 tấn muối, 10 tấn vải và nhiều lương thực.

Năm 1965, đồng chí Phan Trọng Tuệ, nguyên Bộ trưởng, đồng chí Nguyễn Tường Lân, nguyên Thứ trưởng Bộ Giao thông vận tải trước khi vào Trường Sơn nhận chức Tư lệnh kiêm Chính ủy Đoàn 559 và Phó tư lệnh Đoàn 559 đã đến gặp Bác và nghe Bác căn dặn nhiều điều quý giá. Bác Hồ biết ở Trường Sơn có hàng vạn thanh niên xung phong (TNXP) mà non nửa là con gái, đời sống hết sức khó khăn, thiếu thốn nên Người đã căn dặn các đồng chí lãnh đạo: Tiêu chuẩn các cháu TNXP phải lo đầy đủ như Quân đội. Phải chăm sóc và cải thiện sinh hoạt văn hóa, giải trí cho các cháu. Bác còn nói: Các cháu ở nhà có cha mẹ, anh chị chăm sóc, lên công trường, các chú cán bộ phải thay cha mẹ, anh chị họ mà chăm sóc cho chu đáo. Phải lo tỉ mỉ cho các cháu từ cái kim, sợi chỉ, cái kéo cắt tóc, chiếc lược bí chải đầu...

Khi nhận được những món quà mang đậm tình thương bao la của Bác, các chiến sĩ TNXP rất cảm động, càng ra sức vượt mọi khó khăn, nguy hiểm, dũng cảm chiến đấu, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ trên tuyến đường Trường Sơn gian lao mà anh dũng.

Sau khi hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ chi viện cho các hướng chiến trường mở cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân 1968, Đoàn 559 đã vinh dự nhận được lẵng hoa của Bác Hồ.

Bộ đội Trường Sơn làm theo lời Bác

Thực hiện lời căn dặn của Bác Hồ, bộ đội, TNXP, công nhân hỏa tuyến trên tuyến chi viện mang tên Người đã liên tục “Xẻ dọc Trường Sơn đi cứu nước/ Mà lòng phơi phới dậy tương lai”. Nhà thơ Tố Hữu đã viết trong bài thơ “Nước non ngàn dặm”: “Trường Sơn, xẻ dọc, rọc ngang/ Xẻng tay mà viết nên trang sử hồng/ Trường Sơn, vượt núi, băng sông/ Xe đi trăm ngả, chiến công bốn mùa/ Trường Sơn, đông nắng, tây mưa/ Ai chưa đến đó, như chưa rõ mình”.

Đã có khá nhiều câu chuyện xúc động, bài thơ hay, bài hát lay động lòng người về tình cảm của Bộ đội Trường Sơn với Bác Hồ kính yêu.

Tháng 9-1969, nghe tin Bác đi xa, cả chiến trường Trường Sơn bồi hồi xúc động. Chính từ sự xúc động dâng lên đến đỉnh điểm của sự tiếc thương vô hạn đối với Người, nên Phạm Thông-người chiến sĩ của Bộ đội Trường Sơn, người con của quê hương Quảng Nam trên tuyến đầu đánh Mỹ, đã thốt lên khi nghe tin Người đi vào cõi vĩnh hằng: “Giữa Trường Sơn nghe tin Bác mất/ Núi sông này quặn thắt nỗi đau” (trích trong bài thơ “Nghe tin Bác mất”). Phạm Thông cũng như tất cả những người chiến đấu, công tác trên tuyến chi viện chiến lược mang tên Chủ tịch Hồ Chí Minh đều nức nở, tiếc thương Người: “Tháng chín miền Trung mưa giăng lối/ Đường hành quân ra trận lệ nhòa”.  Và trong niềm tin yêu kính trọng, tiếc thương vô hạn đối với Bác Hồ đã được người chiến sĩ Trường Sơn nhắn gửi: “Dưới hầm sâu, giữa lòng địch hậu/ Nơi lao tù, trước lúc hiểm nguy/ Chúng con khẽ gọi thầm tên Bác/ Thắp niềm tin soi sáng lối đi”.

Bộ đội, TNXP trên đường Trường Sơn ngày ấy không có lễ vật gì để tổ chức tang lễ cho Bác. Họ chỉ có cái tâm, tình thương hướng về Bác với tấm lòng tôn kính: “...Tìm đâu ra dẫu một nén hương”, cho thấy cái khốc liệt cuộc chiến, sự mất mát quá lớn bởi chiến tranh. Và hình ảnh cảm động đó được nhà thơ Phạm Thông ghi lại: “Giữa đại ngàn nghe chim nức nở/ Hoa chuối rừng đỏ nỗi tiếc thương”. Khổ thơ kết của bài thơ “Nghe tin Bác mất” là lời khẳng định của tác giả, cũng là lời hứa quyết tâm của Bộ đội Trường Sơn trước anh linh của Bác: “Bác Hồ ơi! Xin Bác yên lòng/ Lý tưởng Người luôn mãi sáng trong/ Nhằm phía quân thù chúng con tiến bước”.  

 Trong kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, đường Trường Sơn là tuyến đường huyết mạch nối liền hậu phương với tiền tuyến.

Nhà thơ Nguyễn Trung Thu viết bài thơ “Đêm Trường Sơn nhớ Bác” trong một đêm rất khuya năm 1972 trên đường Trường Sơn. Khi Bác Hồ đã qua đời 3 năm, cả dân tộc Việt Nam đang bước vào cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước vô cùng cam go và khốc liệt. Nằm trong căn hầm, nhìn ra không gian vằng vặc ánh trăng chiếu sáng khắp núi rừng tĩnh lặng, hình ảnh Bác Hồ, người Cha già kính yêu của LLVT nhân dân Việt Nam và bài thơ "Cảnh khuya" được Người viết trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp bất chợt hiện về, xao động tâm tư, Nguyễn Trung Thu lấy lòng bàn tay mình và ghi trên ấy những dòng thơ đầu tiên trào dâng tha thiết, để rồi sáng hôm sau thì thi phẩm hoàn thành một cách nhẹ nhàng ngỡ như phúc lộc trời cho. Nhạc sĩ Trần Chung đọc bài thơ trên Báo Nhân Dân, ngay lập tức những nốt nhạc đầu tiên ra đời, hân hoan và đậm chất tráng ca.

Bài thơ mở đầu thật khơi gợi qua không gian Trường Sơn vằng vặc ánh trăng vàng. Từ ánh trăng sáng giữa núi rừng đã khiến nhà thơ hoài niệm nhớ thương Bác. “Đêm Trường Sơn/ Chúng cháu nhìn trăng, nhìn cây/ Cảnh về khuya như vẽ.../ Bâng khuâng chúng cháu nghĩ/ Bác như đã đến nơi này...”. Bài thơ, bài hát “Đêm Trường Sơn nhớ Bác” đã nói hộ tâm trạng của cán bộ, chiến sĩ Bộ đội Trường Sơn chiến đấu, lao động, công tác trên tuyến đường này: “Súng trĩu nặng vượt dốc cao ngàn thước/ Đường Trường Sơn chúng cháu dồn chân bước/ Con đường Bác mới đi qua”.

Giữa núi rừng Trường Sơn, nhìn những đoàn quân nối tiếp ra mặt trận, nhạc sĩ Vũ Trọng Hối cảm xúc, phác thảo một bản hành khúc ngắn gọn. Ông đặt tựa đề là “Chiến sĩ Trường Sơn” và hát thử cho anh em trong đoàn nghe, được mọi người tán thưởng. Đó là vào cuối tháng 4-1966. Bài hát sau được đổi tên là “Bước chân trên dải Trường Sơn”, một hành khúc trầm hùng, nội dung tinh tế, sâu sắc, đậm chất trữ tình: “Ta vượt trên triền núi cao Trường Sơn/ Đá mòn mà đôi gót không mòn.../...Ta đi theo ánh lửa từ trái tim mình...”.

Thực hiện lời hứa trước anh linh của Bác Hồ kính yêu, Bộ đội Trường Sơn đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ chi viện sức người, sức của cho các chiến trường. Tính chung trong toàn bộ cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, Đoàn 559-Bộ đội Trường Sơn đã vận chuyển chi viện cho các chiến trường hơn 1,5 triệu tấn hàng hóa và 5,5 triệu tấn xăng dầu; bảo đảm cho hơn 1,1 triệu lượt cán bộ, chiến sĩ vào chiến trường miền Nam và các hướng mặt trận, đưa hơn 650.000 lượt cán bộ, chiến sĩ từ các chiến trường ra hậu phương miền Bắc. Các lực lượng trên tuyến vận tải chiến lược Trường Sơn đã chiến đấu hơn 2.500 trận, diệt 18.740 tên địch, bắt 1.200 tên, gọi hàng hơn 10.000 tên, bắn rơi 2.455 máy bay địch, phá hủy hàng vạn tấn vũ khí và phương tiện chiến tranh khác của địch.

Có thể nói, Đường Trường Sơn-Đường Hồ Chí Minh là đỉnh cao của nghệ thuật quân sự, nghệ thuật vận tải chiến lược trong chiến tranh của Quân đội ta, đồng thời là biểu tượng sáng ngời tình đoàn kết của 3 nước Việt Nam-Lào-Campuchia và sự ủng hộ, giúp đỡ to lớn của bạn bè quốc tế.

Để lập nên những chiến công oanh liệt và huyền thoại Trường Sơn, gần 2 vạn cán bộ, chiến sĩ, TNXP đã anh dũng hy sinh, hơn 3 vạn người bị thương, hàng nghìn người bị ảnh hưởng nặng nề bởi chất độc da cam...

 

                 Ánh sáng Hồ Chí Minh tỏa sáng trong đời sống bộ đội

Năm 1941, sau 30 năm bôn ba tìm đường cứu nước, Bác Hồ trở về Việt Bắc trực tiếp lãnh đạo cách mạng Việt Nam. Nhân dân vùng Việt Bắc chưa biết ông Cụ là ai nhưng cảm nhận là một con người vô cùng giản dị, gần gũi. Họ nghĩ về Cụ với một tình cảm thiêng liêng, trìu mến vô hạn.

 Văn hóa Hồ Chí Minh, nguồn cảm hứng bất tận

 Khát vọng của Hồ Chí Minh

Mấy năm sau lại xuất hiện một đội quân hoàn toàn mới, Đội Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng quân (năm 1944) với lời thề sắt son vì mục tiêu cao cả giải phóng Tổ quốc, giành độc lập, tự do và chiến đấu quên mình vì nhân dân. Bà con ở chiến khu tự đặt câu hỏi, đó là bộ đội của ai? Do ai thành lập? Nghĩ đến ông Cụ, ông Ké, mọi người đều cho rằng, đó là “Bộ đội ông Cụ”, “Bộ đội ông Ké”.

Đại tướng Võ Nguyên Giáp trong hồi ký của mình kể lại: “Tôi nhớ rằng từ trong khu giải phóng Việt Bắc, đồng bào các dân tộc đã trìu mến gọi các đơn vị vũ trang của ta là “Bộ đội ông Ké”, “Bộ đội ông Cụ” một cách thân thương, chân chất như tấm lòng của đồng bào với lãnh tụ của mình mà nhiều người lúc đó chưa biết tên Bác. Có lẽ về sau khi biết tên Người, đó là Bác Hồ, là Chủ tịch Hồ Chí Minh của nước Việt Nam mới, mọi người đã gọi “Bộ đội ông Ké” là Bộ đội Cụ Hồ và cũng từ Chiến khu Việt Bắc, tên gọi yêu dấu ấy xuất hiện từ thời kỳ đầu của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp”.

Từ đó đến nay, hình ảnh và tên gọi Bộ đội Cụ Hồ là hiện tượng rất độc đáo trong lịch sử đấu tranh vũ trang của dân tộc Việt Nam nói chung và văn hóa Việt Nam nói riêng. Ít có dân tộc nào trên thế giới mà nhân dân nghĩ ra và lấy tên lãnh tụ tối cao của dân tộc mình đặt cho Quân đội. Mặt khác, đây vừa là tình cảm đặc biệt, vừa là niềm tin sắt đá của quần chúng dành cho lực lượng vũ trang. Hiếm có một dân tộc nào mà hình ảnh người lính lại được toàn dân coi là hình mẫu của con người thời đại mới để hết lòng tin yêu, quý trọng, động viên các thế hệ con cháu kế tiếp và noi theo gương sáng Bộ đội Cụ Hồ như dân tộc Việt Nam ta.

Nhân dân ta gọi bộ đội là Bộ đội Cụ Hồ có lý do sâu xa chỉ ở Việt Nam, từ khi Đội Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng quân được thành lập theo chỉ thị của Chủ tịch Hồ Chí Minh (22-12-1944) đến nay, nhân nhân ta đã cảm nhận sâu sắc quan hệ tình cảm đặc biệt hiếm có giữa Bác Hồ với Quân đội, Bác và những người chiến sĩ, và giữa bộ đội-từ chiến sĩ đến các tướng lĩnh với Bác Hồ.

Bác Hồ là người khai sinh ra Quân đội, là người Cha thân yêu của các LLVT nhân dân Việt Nam. Bác chăm lo từng bước đi lên của Quân đội, giáo dục chiến sĩ, khuyên bảo cán bộ... Nét đặc sắc trong đạo đức, tình cảm của Bác Hồ là vô cùng gần gũi, yêu thương bộ đội như con em ruột thịt của Người; tin tưởng tinh thần dũng cảm và sáng tạo của bộ đội; hiểu thấu, thông cảm những gian khổ, khó khăn khốc liệt, những hy sinh cao cả vì Tổ quốc, vì nhân dân của những người chiến sĩ.

Bác đã “tư chiến sĩ” trong nhiều đêm không ngủ và trước lúc đi xa, Người còn để lại “muôn vàn tình thương yêu” cho toàn thể bộ đội và căn dặn cần chọn những chiến sĩ trẻ tuổi, ưu tú trong Quân đội và thanh niên xung phong để đào tạo thành những cán bộ, công nhân giỏi, coi đó là đội quân chủ lực trong công cuộc tái thiết và phục hưng đất nước sau này.

Bác Hồ với các chiến sĩ hải quân, ngày 31-3-1959. 

Các thế hệ cán bộ và chiến sĩ của chúng ta luôn tự hào và cảm động khi nhìn thấy Bác mặc quân phục trong nhiều đợt đi công tác và ngồi trên đỉnh núi cao quan sát, chỉ đạo Chiến dịch Biên giới. Hình ảnh đặc biệt đó như nói rằng, Bác Hồ không chỉ là người lãnh tụ tối cao của dân tộc mà còn là người đồng đội thực sự và vĩ đại của tất cả cán bộ, chiến sĩ Quân đội, từ binh nhì, binh nhất đến các tướng lĩnh qua các thế hệ suốt 80 năm qua.

Nhân dân gọi bộ đội ta là Bộ đội Cụ Hồ còn có một ý nghĩ sâu xa, đó là niềm tin, là mong muốn, là đòi hỏi và là khẳng định, mỗi người chiến sĩ và toàn quân phải không ngừng luyện rèn, vươn lên đạt tới những phẩm chất cao quý của Bác Hồ. 

Trải qua 80 năm chiến đấu và trưởng thành, cán bộ và chiến sĩ Quân đội luôn luôn xứng đáng với niềm tin đó của nhân dân và của Bác Hồ. Hình ảnh Bộ đội Cụ Hồ trở thành một mẫu hình về con người mới có lý tưởng cao đẹp, có đạo đức trong sáng, gắn bó máu thịt với nhân dân, thực hiện trọn vẹn xuất sắc chỉ thị, những lời căn dặn và niềm tin sâu sắc của nhân dân và của Bác Hồ. Mỗi bước trưởng thành, mỗi chiến công của Quân đội đều gắn liền với sự giáo dục, rèn luyện và mong đợi của Bác Hồ-kể từ những năm Người còn sống và khi Người đã đi xa. Vâng, đúng như thơ của Tố Hữu: “Ta bên Người, Người tỏa sáng trong ta/ Ta bỗng lớn ở bên Người một chút”.

Ánh sáng Hồ Chí Minh luôn tỏa sáng trong đời sống Quân đội ta. Đó không phải là một luận đề hoa mỹ mà đó là một thực tế lịch sử suốt 80 năm qua. Người lính nào được rèn luyện và trưởng thành trong Quân đội đều có một niềm tự hào từ trong chiều sâu tinh thần, tình cảm của mình là Bộ đội Cụ Hồ. Hàng vạn cựu chiến binh về với đời thường, dù khó khăn đến mấy vẫn luôn giữ vững và tự hào với danh hiệu Bộ đội Cụ Hồ. Biết bao chiến sĩ ngã xuống trên chiến trường vì độc lập, tự do, thống nhất Tổ quốc đều xứng đáng là "dáng đứng Việt Nam tạc vào thế kỷ", biểu tượng hy sinh cao cả của Bộ đội Cụ Hồ.

Trong kháng chiến chống Mỹ, cứu nước ở miền Nam, sau ngày Bác Hồ qua đời, để tưởng nhớ công lao trời biển của Người, nhân dân ta đã lập đền thờ Bác Hồ ở nhiều nơi. Tôi đã được đến thăm đền thờ Bác Hồ ở Trà Vinh và được nghe kể về những cuộc chiến đấu giằng co liên tục giữa nhân dân và quân giải phóng với bọn tay sai Mỹ-Thiệu để bảo vệ bằng được sự nguyên vẹn và linh thiêng của đền thờ Bác Hồ. Đó là biểu tượng tuyệt vời của sự thủy chung và gắn bó giữa Bác Hồ và bộ đội, nhân dân miền Nam.

Khi được phân công về làm Đoàn trưởng Đoàn Ca múa nhạc Quân đội (nay là Nhà hát Ca múa nhạc Quân đội), tôi băn khoăn trước một nhiệm vụ mới và khó. Nhưng vào Phòng truyền thống của Đoàn, đọc thư của Bác Hồ gửi cán bộ, nhân viên của Đoàn với những tình cảm ấm áp của người Cha và được biết Bác đã nhiều lần thăm Đoàn, một số nghệ sĩ đã đến biểu diễn nơi Bác làm việc, được Bác quan tâm, dặn dò ân cần, tôi không thể nào khác, tự nguyện vượt khó khăn về nhận nhiệm vụ Đoàn trưởng. Tôi nhớ vào năm 1958, khi đang học lớp 7, tôi được trực tiếp gặp Bác trên Quảng trường Ba Đình. Tôi cứ ngẩn người nhìn Bác. Bác vui vẻ nói với tôi: “Cháu nhanh vào chụp ảnh đi”. Kỷ niệm đó ăn sâu trong trí nhớ của tôi, và chắc chắn rằng đó là động lực lớn nhất giúp tôi trụ vững và phát triển trong mấy chục năm quân ngũ sau này.

Khi được thủ trưởng Tổng cục Chính trị giao nhiệm vụ theo dõi, tham mưu về lĩnh vực văn hóa-văn nghệ Quân đội, cùng với đồng đội mình, chúng tôi bàn nhiều lần làm sao để Bác Hồ vẫn như đang sống với bộ đội, mặc dầu Bác đã đi xa, về cõi vĩnh hằng. Phòng Hồ Chí Minh ở cấp đại đội trong toàn quân ra đời từ đó. Những hình ảnh tiêu biểu nhất trong cuộc đời và sự nghiệp của Bác Hồ và những tình cảm đặc biệt của Bác dành cho bộ đội được thể hiện sinh động, cô đọng, trung thực trong Phòng Hồ Chí Minh. Ở đó còn nổi bật những tấm gương sáng của cán bộ, chiến sĩ, những thành tích trong chiến đấu, công tác, lao động được biểu dương.

Phòng Hồ Chí Minh, từ nhiều năm, trở thành nơi sinh hoạt ấm cúng, trang trọng, nơi kết nạp Đảng, nơi hội tụ của Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh. Ở đó là nơi bồi đắp tâm hồn, giúp cán bộ, chiến sĩ ở cấp cơ sở tự soi mình, vượt lên chính mình để cố gắng xứng đáng với danh hiệu Bộ đội Cụ Hồ. Những năm trong quân ngũ, cùng với các đồng đội ở Cục Tuyên huấn, Tổng cục Chính trị, chúng tôi luôn tìm cách mới để cô đọng hơn, hấp dẫn hơn, cụ thể hơn nội hàm của Phòng Hồ Chí Minh với một mong ước cháy bỏng rằng, mỗi cán bộ, chiến sĩ hôm nay và mãi mãi về sau vẫn cảm nhận sâu sắc “Bác vẫn cùng chúng cháu hành quân”, dù Bác đã vĩnh viễn đi xa.

Trong nhiều năm lãnh đạo cuộc cách mạng và kháng chiến vĩ đại của dân tộc, Bác Hồ đã hàng nghìn lần đi tới với nhân dân. Bác đã đến chỉ đạo, ân cần dặn dò, hướng dẫn, chăm sóc hầu hết đơn vị Quân đội ta, từ cấp đại đội đến cấp sư đoàn, quân, binh chủng và toàn quân. Biết bao lời nói, hình ảnh của Bác đã thấm sâu trong trái tim, khối óc cán bộ, chiến sĩ, trở thành những giá trị văn hóa cao đẹp, bền vững mà cô đọng, giản dị.

Cùng với đồng đội, đồng nghiệp của mình, chúng tôi đã ghi tạc những điều đó trong hơn 20 bảo tàng và hàng trăm nhà truyền thống trong toàn quân. Tất cả đơn vị trong Quân đội đều ghi lòng tạc dạ những dặn dò và hình ảnh thân thương của Bác khi Người đến thăm. Trong hàng nghìn lời căn dặn, chỉ bảo của Bác đối với bộ đội, đã có rất nhiều câu trở thành danh ngôn như những chân lý sáng ngời, thuyết phục. Chỉ xin lấy ngẫu nhiên vài câu ngắn gọn, cô đúc: “Cán bộ không có đội viên, lãnh tụ không có quần chúng thì không làm gì được”, hoặc “Người trước súng sau”...

Hệ thống các nhà bảo tàng, nhà truyền thống, Phòng Hồ Chí Minh trong toàn quân đã lưu giữ và khẳng định sự gắn bó máu thịt giữa lãnh tụ Hồ Chí Minh và bộ đội chúng ta, một đặc trưng văn hóa chỉ có riêng trong lịch sử cách mạng Việt Nam, trong đời sống Quân đội ta. Chính vì vậy nên trong những năm gần đây, mọi cuộc vận động thi đua trong Quân đội đều có hai trụ vững: Phát huy truyền thống Bộ đội Cụ Hồ và ra sức phấn đấu hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ mới mà Đảng, Nhà nước và nhân dân giao phó cho Quân đội. Ánh sáng Hồ Chí Minh mãi mãi tỏa sáng trong đời sống Quân đội ta, hôm nay và mai sau. 

NGƯỜI CÓ HƠN 175 TÊN GỌI, BÚT DANH, BÍ DANH NHƯNG CHỈ DUY NHẤT MỘT TẤM LÒNG - ĐÓ LÀ LÒNG THƯƠNG DÂN, YÊU NƯỚC ❤

"Tôi chỉ có một sự ham muốn, ham muốn tột bậc, là làm sao cho nước ta được hoàn toàn độc lập, dân ta được hoàn toàn tự do, đồng bào ai cũng có cơm ăn áo mặc, ai cũng được học hành".

Lịch sử dựng nước và giữ nước hơn 4000 năm của dân tộc Việt Nam, chưa từng xuất hiện một con người kiệt xuất và vĩ đại như thế, một con người dành cả cuộc đời để bôn ba khắp nơi đi tìm đường cứu nước, một con người thà bị cùm gông chứ nhất định phải phá tan xiềng xích nô lệ của dân tộc. Một con người cả đời không vợ, không con nhưng cả dân tộc đều nhận là con của Người.

Chẳng có một con người Việt Nam nào lại có nhiều cái tên như thế, hơn 175 tên gọi, bút danh, bí danh gắn liền với con đường cứu nước của Người, mỗi cái tên là một bản thể cách mạng ẩn náu dưới sự lùng sục của thực dân và đế quốc.

Từ Nguyễn Sinh Cung, Nguyễn Tất Thành, đến đến chàng trai phụ bếp Văn Ba trên con tàu viễn dương đưa Người đi khắp nơi. Từ Nguyễn Ái Quốc đến Hồ Chí Minh, những cái tên của vị Lãnh tụ vĩ đại đã trở thành nguồn cảm hứng của các dân tộc bị áp bức trên toàn thế giới.

Thế nhưng, tất thảy những bản thể đó lại chính là mảnh ghép làm nên sự nghiệp cách mạng của Người, tạo ra một nhân cách Hồ Chí Minh vĩ đại của dân tộc Việt Nam.

(Nhà thơ: Đi Exciter)

St.ankhe.

NHỚ VỀ NGƯỜI CHA!

Con lại nhớ về Người Cha năm ấy Dẫu chưa lần con được thấy mặt Cha Người anh hùng vì đất nước xông pha Cha đã sống như loài hoa bất tử. Thời chiến tranh đã bao đêm không ngủ Thao thức hoài đếm đủ cả năm canh Lo cho dân được cuộc sống an lành Quên tuổi trẻ… tìm thanh bình cho nước. Người cũng từng có bao niềm mơ ước Về đời tư chung bước với bóng hồng Nhưng vì đâu Người chẳng thể chờ mong Khi đất nước còn trong làn khói lửa. Chiến tranh qua… cuộc đời Người hơn nửa Vẫn một mình… lo từng bữa cơm dân Người quên đi sức khỏe đã vơi dần Mà chỉ biết ân cần lo đất nước. Người là gương cho chúng con tiếp bước Dẫu bây giờ đất nước trọn niềm vui Nhớ về Cha lòng con thấy bùi ngùi Xin kính chúc Người an vui giấc ngủ💜🌹

TÌM HIỂU GIÚP BẠN: CÁN BỘ TRƯỚC HẾT "PHẢI LÀM MỰC THƯỚC CHO NGƯỜI TA BẮT CHƯỚC"!

     Cán bộ, đảng viên nói chung, đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý nói riêng phải nêu gương về đạo đức cách mạng, tu dưỡng đạo đức cách mạng để xứng đáng là người lãnh đạo, người đầy tớ thật trung thành của nhân dân, góp phần nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng, ngăn chặn, đẩy lùi sự thoái hóa, biến chất, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ, củng cố niềm tin của cán bộ, đảng viên và nhân dân vào sự lãnh đạo của Đảng!


CÁN BỘ PHẢI LUÔN NÊU GƯƠNG VỀ ĐẠO ĐỨC CÁCH MẠNG
Thấu hiểu sâu sắc rằng: "Cán bộ là gốc của mọi công việc" và “nói chung các dân tộc phương Đông đều giàu tình cảm, và đối với họ một tấm gương sống còn có giá trị hơn một trăm bài diễn văn tuyên truyền”[1], cho nên ngay từ khi chuẩn bị về chính trị, tư tưởng và tổ chức cho sự ra đời của Đảng Cộng sản Việt Nam, Hồ Chí Minh đã yêu cầu người cách mạng phải rèn luyện và nêu gương đạo đức theo các chuẩn mực: “Tự mình phải: Cần kiệm. Hòa mà không tư. Cả quyết sửa lỗi mình. Cẩn thận mà không nhút nhát. Hay hỏi. Nhẫn nại (chịu khó). Hay nghiên cứu, xem xét. Vị công vong tư. Không hiếu danh, không kiêu ngạo. Nói thì phải làm. Giữ chủ nghĩa cho vững. Hy sinh. Ít lòng tham muốn về vật chất. Bí mật. Đối với người phải: Với từng người thì khoan thứ. Với đoàn thể thì nghiêm. Có lòng bày vẽ cho người. Trực mà không táo bạo. Hay xem xét người. Làm việc phải: Xem xét hoàn cảnh kỹ càng. Quyết đoán. Dũng cảm. Phục tùng đoàn thể”[2].

Điều đó có nghĩa là, để có thể cổ vũ, tập hợp được lực lượng, vận động được quần chúng tham gia cách mạng, mỗi cán bộ, đảng viên nhất định phải:
1) Có đạo đức cách mạng và thường xuyên rèn luyện đạo đức cách mạng, vì “người cách mạng phải có đạo đức, không có đạo đức thì dù tài giỏi mấy cũng không lãnh đạo được nhân dân”[3]. Hơn nữa, “đạo đức cách mạng không phải từ trên trời sa xuống. Nó do đấu tranh, rèn luyện bền bỉ hằng ngày mà phát triển và củng cố. Cũng như ngọc càng mài càng sáng, vàng càng luyện càng trong”[4], do đó cán bộ, đảng viên phải thường xuyên tu dưỡng đạo đức cách mạng. Cụ thể, mỗi người “tự mình phải” hằng ngày khiêm tốn học hỏi, nỗ lực trau dồi tri thức chuyên môn, kỹ năng, nghiệp vụ và đạo đức cách mạng cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư, để “khi gặp khó khăn, gian khổ, thất bại, cũng không sợ sệt, rụt rè, lùi bước... Khi cần, thì sẵn sàng hy sinh cả tính mạng của mình cũng không tiếc”[5]; “đối với người” phải luôn chân thành yêu thương, luôn giúp đỡ đồng chí, đồng bào, khoan dung, độ lượng để quy tụ và đoàn kết mọi người trong từng tổ chức, tạo sự thống nhất trong tư tưởng và hành động; khi “làm việc phải” tận tâm, tận lực theo nguyên tắc “dĩ công vi thượng”, “chí công vô tư”, gương mẫu đi đầu “lo trước thiên hạ, vui sau thiên hạ”.

2) Thực hiện nêu gương bằng hành động, thống nhất giữa nói và làm, vì: “Trước mặt quần chúng, không phải ta cứ viết lên trán chữ “cộng sản” mà ta được họ yêu mến. Quần chúng chỉ quý mến những người có tư cách, đạo đức. Muốn hướng dẫn nhân dân, mình phải làm mực thước cho người ta bắt chước… Muốn làm cách mạng, phải cải cách tính nết mình trước tiên”[6]. Để xứng đáng với vị thế vừa là người lãnh đạo vừa là người đày tớ thật trung thành của nhân dân, mỗi cán bộ, đảng viên phải nêu gương bằng hành động cụ thể trong công tác lãnh đạo, chỉ đạo và tổ chức thực hiện, không được nói một đằng làm một nẻo, hứa mà không làm. Hơn nữa, cũng theo Người, “lấy gương người tốt, việc tốt để hàng ngày giáo dục lẫn nhau là một trong những cách tốt nhất để xây dựng Đảng, xây dựng các tổ chức cách mạng, xây dựng con người mới, cuộc sống mới”[7], cho nên sự nêu gương, thống nhất giữa nói đi đôi với làm trong mọi mặt công tác và cuộc sống đời thường của mỗi cán bộ, đảng viên là nguyên tắc trước hết cần pahir nghiêm túc thực hiện.

Nêu gương và noi gương có mối quan hệ chặt chẽ, bởi noi theo, làm theo những tấm gương tốt để cả xã hội cùng đổi mới và phát triển tốt đẹp là góp phần làm cho ý nghĩa những gương điển hình ấy lớn lao hơn, sức lan tỏa rộng lớn hơn. Hồ Chí Minh từng nói, biển cả là do “từng giọt nước nhỏ thấm vào lòng đất, chảy về một hướng mới thành suối, thành sông. Biết bao nhiêu giọt nước nhỏ hợp lại mới thành biển cả. Một pho tượng hay một lâu đài cũng phải có cái nền rất vững chắc mới đứng vững được”[8], do đó, sự nêu gương của mỗi cán bộ, đảng viên không chỉ góp phần làm đẹp hơn những giá trị đạo đức truyền thống của dân tộc được hình thành và bồi đắp qua hàng ngàn năm lịch sử dựng nước và giữ nước mà còn trở thành những hạt giống tốt, là những điển hình mực thước trong rèn luyện đạo đức cách mạng để mọi người cùng phấn đấu, học tập. Mang giá trị và ý nghĩa lớn lao, sự nêu gương của mỗi cán bộ, đảng viên, sự lan tỏa “hữu xạ tự nhiên hương” của những tấm gương điển hình tiên tiến nảy sinh trong thực tiễn sẽ lan tỏa, góp phần truyền tải giá trị tinh thần cao quý trong cộng đồng.

HỒ CHÍ MINH - MỘT MẪU MỰC VỀ NÊU GƯƠNG
Hồ Chí Minh không chỉ yêu cầu mỗi cán bộ, đảng viên phải rèn luyện và nêu gương về đạo đức cách mạng mà Người còn là một mẫu mực về thực hành đạo đức cách mạng. Ở Người, thống nhất giữa nói đi đôi với làm không chỉ là nguyên tắc đạo đức, là lẽ sống mà còn là biểu hiện sinh động của sự thống nhất giữa lý luận với thực tiễn, giữa suy nghĩ và hành động, giữa tư tưởng, đạo đức và tác phong. Ở bất kỳ thời điểm nào, Hồ Chí Minh cũng luôn nhất quán thực hành đạo đức, tu dưỡng đạo đức, kiên quyết phê bình, đấu tranh phòng và chống bệnh nói nhiều làm ít, nói một đằng làm một nẻo, nói mà không làm. Tất cả những việc Người nói, những việc Người làm đều không ngoài một “sự ham muốn, ham muốn tột bậc, là làm sao cho nước ta được hoàn toàn độc lập, dân ta được hoàn toàn tự do, đồng bào ai cũng có cơm ăn áo mặc, ai cũng được học hành”[9].

Hồ Chí Minh luôn nêu gương sáng về đạo đức, nhất quán giữa nói và làm, nhất là tự mình gương mẫu làm làm trước. Sau khi Cách mạng Tháng Tám năm 1945 thành công, nguy cơ “giặc đói, giặc dốt và giặc ngoại xâm” vẫn đang đe dọa nền độc lập dân tộc vừa giành được. Trong tình thế cấp bách đó, Người đã kêu gọi toàn dân thực hiện “Sẻ cơm nhường áo”: “Tôi xin đề nghị với đồng bào cả nước, và tôi xin thực hành trước: Cứ 10 ngày nhịn ăn một bữa, mỗi tháng nhịn 3 bữa, đem gạo đó (mỗi bữa một bơ) để cứu dân nghèo”[10]. Đồng thời, khi “Hô hào nhân dân chống nạn đói”, Người cũng nhắc nhở cán bộ, đảng viên phải nêu gương và thực hành trước và nhấn mạnh rằng, “đối với chữ CẦN, chữ KIỆM, chữ HY SINH, chữ CÔNG BẰNG thì các bạn phải thực hành trước, phải làm gương cho dân chúng theo”[11].

Là người đứng ở đỉnh cao quyền lực nhưng trong quan hệ và ứng xử, Hồ Chí Minh không bao giờ dựa vào quyền lực, dùng quyền lực để hưởng đặc quyền mà luôn chấp hành quy định, pháp luật của một công dân. Trong cuộc Tổng tuyển cử bầu Quốc hội khóa I (6/1/1946), tại Hà Nội, 118 Chủ tịch các Ủy ban nhân dân và tất cả các giới đại biểu làng xã công bố một bản kiến nghị: “Yêu cầu Cụ Hồ Chí Minh được miễn phải ứng cử trong cuộc Tổng tuyển cử sắp tới vì Cụ đã được toàn dân suy tôn làm Chủ tịch vĩnh viễn của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa”. Đáp lại tình cảm tin yêu đó, Người viết thư cảm tạ và đề nghị đồng bào để mình được thực hiện quyền công dân: “Tôi là một công dân của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà, nên không thể vượt qua thể lệ Tổng tuyển cử đã định. Tôi đã ra ứng cử ở thành phố Hà Nội, nên không thể ra ứng cử ở nơi nào khác nữa. Tôi xin thành thực cảm tạ đồng bào nam, phụ, lão ấu khu vực ngoại thành Hà Nội”[12].

Cuộc sống đời thường của Người trong kháng chiến chống thực dân Pháp cũng như khi đã là một nguyên thủ quốc gia cũng vẫn giản dị, tiết kiệm như là lẽ sống của Người. Khi Thủ đô Hà Nội được giải phóng, Người chuyển về sống và làm việc tại Phủ Chủ tịch, nhưng đã khước từ ngôi nhà sang trọng của Toàn quyền Ðông Dương trước đây mà chỉ ở ngôi nhà của người thợ điện. Trong mỗi chuyến đi thăm và làm việc tại các địa phương, nhất là các chuyến đi trong ngày, Người thường mang theo cơm nắm với muối vừng, vì không muốn địa phương phải chăm lo cho mình… Vì thế, đến với vị lãnh tụ luôn sống cuộc đời cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư; đến với khung cảnh thiên nhiên trong lành của Phủ Chủ tịch, từ các đồng chí lãnh đạo cao cấp đến những người dân lao động bình thường, từ chính khách đến em nhỏ mồ côi đều cảm thấy tự tin và ấm lòng. Trước một Hồ Chí Minh hiền hậu như một nhà hiền triết phương Đông, trong một khung cảnh thiên nhiên đầy hoa thơm và cá lội… phần tốt trong mỗi con người dường như được nhân lên, cái ác sẽ không còn chỗ để chung sống nữa.

Là một lãnh tụ xa lạ với quyền lực, Hồ Chí Minh coi việc mình làm Chủ tịch nước là do nhân dân ủy thác cho, là “người lính vâng mệnh lệnh của quốc dân ra trước mặt trận”, là “người đày tớ trung thành của đồng bào”. Đồng chí Hoàng Tùng, nguyên Bí thư Trung ương Đảng từng viết: Hồ Chí Minh là kiểu người lãnh đạo hiếm thấy. Ngay từ những ngày đầu tiên Đảng ta trở thành đảng cầm quyền, Người đã thẳng thắn nói: “Đảng không có lợi ích nào khác ngoài lợi ích của nhân dân”; đồng thời, “luôn luôn từ chối nắm quyền lực” và Hồ Chí Minh thường “nêu ra vai trò tập thể Bộ Chính trị, Hội đồng Nhà nước, Hội đồng chính phủ. Người dứt khoát bác bỏ tham vọng quyền lực, chỉ muốn sẻ bớt cho người khác, nhưng làm việc hết sức mình với tinh thần trách nhiệm gương mẫu”[13]. Thủ tướng Phạm Văn Đồng đã viết: “Hồ Chí Minh bắt đầu sự nghiệp cách mạng là bắt đầu giáo dục lý tưởng cách mạng và đạo đức cách mạng cho những người yêu nước, cho thanh niên, quần chúng nhân dân, chủ yếu là cho đảng viên và cán bộ. Suốt đời, Bác quan tâm việc đó. Hồ Chí Minh không chỉ là người giáo dục đạo đức cách mạng mà còn là hiện thân của đạo đức cách mạng, nêu gương cho toàn Đảng, toàn dân ta”[14].

Hết lòng tận trung với nước, tận hiếu với dân, trước khi đi xa về cỗi vĩnh hằng, Hồ Chí Minh không hối hận điều gì, “chỉ tiếc là tiếc rằng không được phục vụ nhân dân lâu hơn nữa, nhiều hơn nữa”[15]. Chúng ta học được từ tấm gương của Hồ Chí Minh - một vĩ nhân giản dị cho mình và cũng giản dị cho đời trong cốt cách đời thường. Việc riêng của Người cũng là việc chung của dân tộc, nên chuẩn bị cho chuyến đi xa vĩnh viễn của mình, Người căn dặn “sau khi tôi qua đời, chớ nên tổ chức đám đình, lãng phí ngày giờ và tiền bạc của nhân dân…. Tro xương thì tìm một quả đồi mà chôn….Trên mộ, nên xây một cái nhà giản đơn, rộng rãi, chắc chắn, mát mẻ để những người đến thăm viếng có chỗ nghỉ ngơi”[16]. Sự nêu gương của Hồ Chí Minh, sự thống nhất giữa nói và làm của người đã được Đại tướng Võ Nguyên Giáp khẳng định: “Bao trùm lên tất cả ở Hồ Chí Minh là sự quên mình vì mọi người, chính là sự ham muốn duy nhất, ham muốn tột bậc của Người là làm sao mang lại thật nhiều hạnh phúc cho dân, cho nước. Cuộc sống hoàn toàn không chút bợn riêng tư, đã tạo nên ở Người một cái gì vô cùng trong sáng”[17].

Cuộc đời Hồ Chí Minh và đức độ của Người là hiện thân của sự kết tinh những truyền thống tốt đẹp của dân tộc gắn liền với phẩm chất cao quý của người cộng sản trong thời đại mới, mà biểu hiện rực rỡ nhất là tình đoàn kết quốc tế trong sáng. Hồ Chí Minh không chỉ yêu Tổ quốc và nhân dân mình, Người còn luôn mơ ước, phấn đấu cho một xã hội tốt đẹp, hoà bình và hạnh phúc cho tất cả những người cùng khổ. Là Người trân trọng truyền thống của dân tộc mình, song Hồ Chí Minh không bao giờ để cho chủ nghĩa dân tộc ràng buộc mình, hoặc trái lại biến dần thành chủ nghĩa dân tộc. Không chỉ dừng lại ở điều đó, dường như chủ nghĩa sô vanh, chủ nghĩa chủng tộc, bài ngoại hay biệt lập đều xa lạ với Hồ Chí Minh, xa lạ với lý tưởng cao đẹp của Người: “Cho đến những ngày cuối đời, Chủ tịch Hồ Chí Minh vẫn trung thành với những nguyên tắc cao cả của chủ nghĩa quốc tế vô sản, thể hiện mối liên hệ qua lại khăng khít và biện chứng giữa tính dân tộc và tính quốc tế”[18]. Cuộc đời Hồ Chí Minh thực sự là một tấm gương đạo đức và nhân cách thanh cao của người chiến sĩ cách mạng, hết lòng tận trung với nước, tận hiếu với dân, luôn thống nhất giữa nói và làm, mà “gia đình của Người là Nhân dân, là Đảng và Tổ quốc. Bởi lẽ đó, tất thảy điều gì Hồ Chí Minh dạy và làm, thì mọi người đều ngưỡng mộ và làm theo không chút đắn đo”[19].

HỌC VÀ LÀM THEO TƯ TƯỞNG, ĐẠO ĐỨC, PHONG CÁCH HỒ CHÍ MINH VỀ NÊU GƯƠNG
Trong những năm qua, để phát huy hơn nữa vai trò nêu gương của cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ lãnh đạo, quản lý, người đứng đầu cơ quan, địa phương, đơn vị, toàn Đảng đã triển khai thực hiện Nghị quyết Đại hội XII của Đảng, Chỉ thị 05-CT/TW của Bộ Chính trị khóa XII về “Đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh” (Chỉ thị 05) gắn với Nghị quyết Trung ương 4 khóa XII về “Tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng; ngăn chặn đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ” (Nghị quyết Trung ương 4), Nghị quyết số 26-NQ/TW khóa XII về “Tập trung xây dựng đội ngũ cán bộ các cấp, nhất là cấp chiến lược đầy đủ phẩm chất, năng lực và uy tín, ngang tầm nhiệm vụ” (Nghị quyết 26), với Quy định 101-QÐ/TW của Ban Bí thư Trung ương Đảng khóa XI về “Trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ lãnh đạo chủ chốt các cấp” (Quy định 101), Quy định 55-QĐ/TW của Bộ Chính trị khóa XII về “Một số việc cần làm ngay để tăng cường vai trò nêu gương của cán bộ, đảng viên” (Quy định 55) và Quy định số 08-QĐ/TW về “Trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên, trước hết là Ủy viên Bộ Chính trị, Ủy viên Ban Bí thư, Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương” (Quy định 08)… Có thể nói, việc thực hiện các Chỉ thị, Nghị quyết, Quy định này là một giải pháp quan trọng trong công tác giáo dục chính trị tư tưởng, phòng, chống và ngăn chặn sự suy thoái về đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ, góp phần rèn luyện nhân cách của cán bộ, đảng viên trong hệ thống chính trị các cấp nói chung, các đồng chí lãnh đạo cấp cao nói riêng, củng cố, bồi đắp niềm tin của nhân dân vào sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý, điều hành của chính quyền.

Hội nghị lần thứ 7 Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam khóa XII đã thông qua Nghị quyết số 26-NQ/TW về "Tập trung xây dựng đội ngũ cán bộ các cấp, nhất là cấp chiến lược đầy đủ phẩm chất, năng lực và uy tín, ngang tầm nhiệm vụ".

Được xây dựng trên nguyên lý có xây, có chống và xây trước, chống sau, kết hợp giữa nói và làm mà điểm cốt lõi là cán bộ giữ chức vụ càng cao thì càng phải gương mẫu, theo tinh thần của các Chỉ thị, Nghị quyết và Quy định nêu trên, cán bộ, đảng viên, cán bộ lãnh đạo chủ chốt, người đứng đầu, trước hết là các đồng chí Ủy viên Bộ Chính trị, Ủy viên Ban Bí thư, Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương phải gương mẫu đi đầu và nêu gương học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh; kết hợp sự gương mẫu đi đầu trong rèn luyện đạo đức cách mạng và nâng cao bản lĩnh chính trị của mỗi người, nhất quán giữa nói và làm, nói trước và gương mẫu làm trước trong mọi mặt công tác và cuộc sống đời thường tại mỗi cơ quan, địa phương, đơn vị hay nơi địa bàn cư trú. Việc nêu gương, phát huy vai trò nêu gương của cán bộ, đảng viên, nhất là đội ngũ cán bộ lãnh đạo chủ chốt, người đứng đầu các ngành, các cấp, lãnh đạo cấp cao phải trở thành việc làm tự giác, thường xuyên, liên tục theo 8 nội dung “phải gương mẫu đi đầu thực hiện” và 8 nội dung “phải nghiêm khắc với bản thân và kiên quyết chống” của Quy định 08.

Cụ thể, “đối với tự mình”, cán bộ, đảng viên có chức vụ càng cao càng phải gương mẫu; phải nêu gương về đức khiêm tốn, giản dị; tác phong sâu sát thực tế, gần gũi để thấu hiểu tâm tư, nguyện vọng chính đáng của quần chúng, trước hết trong tổ chức, cơ quan, đơn vị công tác và nơi cư trú; phải là tấm gương tự phê bình và phê bình, gương mẫu thực hiện nghĩa vụ công dân nơi cư trú để cấp dưới noi theo; phải kiên quyết đấu tranh với những biểu hiện vô cảm, quan liêu, cửa quyền, hách dịch và các hành vi nhũng nhiễu, gây phiền hà nhân dân; kiên quyết chống tư tưởng cục bộ, bè phái và các biểu hiện cơ hội, thực dụng, mưu cầu lợi ích cá nhân, “lợi ích nhóm”. Quá trình thực hiện nêu gương của mỗi cán bộ, đảng viên dựa trên cơ sở các nội dung quy định, nội dung đăng ký thực hiện gắn với học và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh. Mỗi cán bộ, đảng viên thực hiện nêu gương bắt đầu từ việc xây dựng nội dung, kế hoạch và cam kết thực hiện; thể hiện ở tác phong, tinh thần, thái độ, kết quả thực hiện nhiệm vụ được giao; thể hiện trong quan hệ với cán bộ, đảng viên ở cơ quan, địa phương, đơn vị, với nhân dân nơi địa bàn cư trú.

“Đối với người phải” được thể hiện bằng hành động nói đi đôi với làm trong mọi mặt công tác và quan hệ với nhân dân. Trách nhiệm gương mẫu, tự giác đi đầu, nói trước, làm trước của cán bộ, đảng viên, cán bộ lãnh đạo quản lý và người đứng đầu phải thể hiện toàn diện trên các mặt tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, tác phong; tự phê bình và phê bình, thực hành dân chủ để xây dựng địa phương, cơ quan, đơn vị đoàn kết, thống nhất. Trong đó, phải thương yêu, giúp đỡ đồng chí, đồng sự của mình, tạo điều kiện để mỗi người phát huy sáng kiến, sáng tạo trong công tác, góp phần vào thành tích chung của địa phương, cơ quan, đơn vị. Trong công tác lãnh đạo, chỉ đạo và tổ chức thực hiện, cán bộ, đảng viên phải nêu gương tự phê bình và phê bình một cách rõ ràng, thiết thực, ngay thẳng, thành thật, không nể nang, không thêm bớt trên tinh thần trân trọng nhân cách con người, trân trọng đồng chí, đồng sự. Theo lời Người thì, trong công việc cũng như khi tiến hành tự phê bình và phê bình, mỗi cán bộ, đảng viên “phải có tính đồng chí thương yêu lẫn nhau” và chú trọng “tinh thần nhân ái và lập trường cách mệnh” để thuyết phục, cảm hóa, tránh dùng lời mỉa mai, chua cay, đâm thọc. Điều quan trọng của sự nêu gương chính là tự mình soi, tự mình sửa và luôn “phải lấy lòng thân ái, lấy lòng thành thật mà ráo riết phê bình đồng chí mình”, giúp đồng chí mình sửa chữa khuyết điểm và ngày càng tiến bộ.

“Làm việc phải”chính là nội dung nêu gương thể hiện ở tinh thần trách nhiệm, tận tụy, chủ động, sáng tạo, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm để hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao của cán bộ, đảng viên. Trong đó, làm việc phải có nguyên tắc, kỷ cương, có lý, có tình, không lạm dụng chức vụ, quyền hạn trong công tác, nói đi đôi với làm, đã nói thì phải làm, kiên quyết chống thói nói một đằng làm một nẻo, hứa mà không làm; thường xuyên, nghiêm túc thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ, tự phê bình và phê bình, kiểm tra và giám sát, v.v.. để nâng cao chất lượng và hiệu quả công việc được giao. Qua đó, góp phần phòng, chống, đấu tranh để quét sạch chủ nghĩa cá nhân, chống các hiện tượng chạy quy hoạch, chạy chức, chạy quyền, chạy bằng cấp, chạy thi đua, các biểu hiện lộng quyền, lạm quyền, lợi dụng quyền lực để mưu lợi ích cá nhân và nhóm lợi ích nhằm “vinh thân phì gia” …

Việc triển khai thực hiện sự gương mẫu, nêu gương của đội ngũ cán bộ, đảng viên trong hệ thống chính trị các cấp nói chung, các đồng chí lãnh đạo cấp cao nói riêng đã tạo sự chuyến biến quan trọng từ nhận thức đến hành động trong rèn luyện đạo đức cách mạng, phòng, chống và từng bước đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ. Qua đó, góp phần nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng, nâng cao chất lượng công tác cán bộ; củng cố niềm tin của cán bộ, đảng viên và nhân dân vào sự lãnh đạo của Đảng, sự điều hành của các cấp chính quyền…

Tuy nhiên, kết quả đạt được trong việc thực hiện các Chỉ thị, Nghị quyết chuyên đề về xây dựng và chỉnh đốn Đảng, về cán bộ và các Quy định nêu trên nói chung, nhất là sự gương mẫu, nêu gương của đội ngũ cán bộ, đảng viên, người đứng đầu nói riêng có nơi, có lúc vẫn chưa đáp ứng yêu cầu đặt ra. Tính tự giác gương mẫu đi đầu, vai trò nêu gương, thống nhất giữa nói và làm của một bộ phận cán bộ, đảng viên có chức có quyền chưa thật rõ nét, còn hình thức, chung chung, chưa tạo sự tâm phục, khẩu phục trong cán bộ, đảng viên và quần chúng nhân dân.
Thực tế là, đã có không ít cán bộ, đảng viên trong công tác lãnh đạo và chỉ đạo thực tiễn chỉ dừng lại ở việc hô hào, khẩu hiệu, hình thức, nói suông trong chương trình, kế hoạch mà không thực hành trong thực tiễn. Ở họ, chỉ là “nói một đàng, làm một nẻo”, “diễn gương”, “là cơ hội chính trị” chứ không phải “nêu gương”, không “tiền phong gương mẫu”; thậm chí không ít người đã suy thoái ở các mức độ khác nhau và vi phạm kỷ luật Đảng, vi phạm pháp luật. Thông qua việc nghiêm túc tiến hành kiểm điểm, kiểm tra, giám sát, điều tra, xét hỏi được thực hiện rộng rãi, những tổ chức Đảng, cán bộ, đảng viên vi phạm các quy định của Đảng, Nhà nước đã bị xử lý kỷ luật, không có ngoại lệ, không có vùng cấm (dù đang đương chức hay đã nghỉ hưu) đúng như Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã nhấn mạnh: “Nhiều cán bộ, đảng viên, trong đó có cán bộ lãnh đạo chủ chốt các cấp chưa xác định rõ trách nhiệm và chưa thật sự gương mẫu trong rèn luyện, giữ gìn phẩm chất, đạo đức, lối sống, tác phong với những biểu hiện như nói không đi đôi với làm, nói nhiều làm ít, có cán bộ còn trục lợi, tham nhũng, lãng phí, tiêu cực; đặc biệt có cán bộ lãnh đạo cấp cao, cả đương chức và nghỉ hưu, đã vi phạm nghiêm trọng kỷ luật của Đảng, pháp luật của Nhà nước, gây dư luận xấu trong cán bộ, đảng viên và nhân dân”[20]. Thực tế, cấp có thẩm quyền đã kỷ luật một tổ chức đảng, 13 đảng viên thuộc diện Bộ Chính trị, Ban Bí thư quản lý. Từ đầu nhiệm kỳ khóa XII đến nay, đã có trên 70 cán bộ, đảng viên thuộc diện Bộ Chính trị, Ban Bí thư quản lý bị kỷ luật Đảng và xử lý hình sự.

Trước tình hình trên, trong nhóm các giải pháp quan trọng để xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh ngang tầm nhiệm vụ, Đảng đặc biệt chú trọng vai trò nêu gương của cán bộ, đảng viên, cán bộ lãnh đạo chủ chốt các cấp, nhất là các đồng chí lãnh đạo cấp cao. Cụ thể là, để tiếp tục thực hiện Nghị quyết số 26-NQ/TW ngày 19/5/2018 khóa XII về “Tập trung xây dựng đội ngũ cán bộ các cấp, nhất là cấp chiến lược đầy đủ phẩm chất, năng lực và uy tín, ngang tầm nhiệm vụ” và Chỉ thị số 35-CT/TW ngày 30/5/2019 của Bộ Chính trị về “Đại hội đảng bộ các cấp tiến tới Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng”, các cấp ủy Đảng, chính quyền, ban, ngành chức năng từ Trung ương đến địa phương cần phải:
Một là, thấu triệt sâu sắc hơn những chỉ dẫn của Hồ Chí Minh về nêu gương và học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh về rèn luyện đạo đức cách mạng. Đồng thời, đẩy mạnh tuyên truyền, giáo dục tinh thần nêu gương thực hành cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư cho đội ngũ cán bộ, đảng viên gắn với thực hiện Nghị quyết Trung ương 4 khóa XII để mỗi người tự soi, tự sửa, tự rèn luyện theo 3 chuẩn mực đạo đức cách mạng và nêu gương về đạo đức cách mạng: “Tự mình phải”, “Đối với người phải”, “làm việc phải”; coi đó là việc làm thường xuyên, liên tục, nền nếp, là nhu cầu tự thân của mỗi cán bộ, đảng viên.

Hai là, nâng cao trách nhiệm và phát huy vai trò gương mẫu của đội ngũ cán bộ, đảng viên nói chung, cán bộ lãnh đạo, quản lý, người đứng đầu mỗi địa phương, cơ quan, đơn vị nói riêng theo nguyên tắc “trên trước, dưới sau”, chức vụ càng cao càng phải gương mẫu rèn luyện đạo đức cách mạng, nêu gương đạo đức cách mạng trong công việc lẫn đời tư, tại nơi công tác cũng như địa bàn cư trú. Đồng thời, thực hiện nghiêm kỷ luật Đảng, Điều lệ Đảng, quy định về những điều đảng viên không được làm và các quy định về nêu gương… Thông qua đó, nâng cao tinh thần, ý thức chấp hành chỉ thị, nghị quyết của Đảng, chính sách, pháp luật của nhà nước trong mỗi cán bộ, đảng viên và kiên quyết đưa ra khỏi Đảng, miễn nhiệm, thay thế, buộc từ chức và đưa ra khỏi Đảng đối với những cán bộ, đảng viên suy thoái, bất liêm, bất chính, tham ô, tham nhũng,v.v.., đã mất uy tín trong Đảng và trong nhân dân.

Ba là, tiếp tục phát huy vai trò nêu gương của cán bộ, đảng viên trong thực hiện nhiệm vụ chuyên môn và sinh hoạt thường kỳ của chi bộ; trong đó, xây dựng những chuyên đề cụ thể về nêu gương thực hiện cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư; nêu gương về tự phê bình và phê bình; nêu gương trong đảm nhận việc khó… với những nội dung thiết thực, để nâng cao chất lượng sinh hoạt chi bộ, góp phần nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của các cấp ủy, chính quyền, đoàn thể. Thông qua đó, xây dựng tác phong, lề lối làm việc tận tụy phụng sự nhân dân của đội ngũ cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức tại các cơ quan công quyền phù hợp với đặc điểm, tình hình, yêu cầu nhiệm vụ chính trị của cơ quan, đơn vị và theo đúng chức năng, nhiệm vụ của từng cán bộ, đảng viên.

Bốn là, phát huy vai trò của nhân dân, dựa vào nhân dân để “sửa chữa cán bộ và tổ chức ta” trong giám sát các cơ quan, tổ chức Đảng và cán bộ, đảng viên. Tạo cơ chế pháp lý để nhân dân giám sát cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ, đảng viên có chức, có quyền các cấp thực hiện Điều lệ Đảng, kỷ luật Đảng, các quy định về nêu gương trong rèn luyện đạo đức cách mạng, phòng, chống và ngăn chặn các biểu hiện của chủ nghĩa cá nhân: cậy quyền, ỷ thế, lạm dùng quyền trong thi hành công vụ, chấp hành chủ trương, chính sách, quy định của Đảng, pháp luật của Nhà nước tại cơ quan công tác và địa bàn cư trú mà không sợ bị đe dọa, trả thù, trù úm... Thông qua đó, làm cho việc học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh, nhất là nâng cao tinh thần trách nhiệm nêu gương của mỗi cán bộ, đảng viên, mỗi tổ chức cơ sở Đảng trở thành việc làm thiết thực hằng ngày, góp phần xây dựng và chỉnh đốn Đảng.

Năm là, chú trọng và đổi mới công tác tuyên truyền, xây dựng các chuyên trang, chuyên mục về thực hiện công tác cán bộ, xây dựng đội ngũ cán bộ các cấp, nhất là cấp chiến lược ngang tầm nhiệm vụ theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh. Trong đó, lựa chọn và xây dựng các gương cán bộ, đảng viên điển hình trong rèn luyện đạo đức cách mạng: cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư, hết lòng, hết sức phục vụ nhân dân với tinh thần phụng sự và liêm chính. Nhân rộng những gương điển hình của cá nhân, tập thể, cấp ủy đó để tạo sự lan tỏa trong cộng đồng, để những bông hoa đẹp sẽ góp phần làm cho vườn hoa đẹp, rừng hoa đẹp ngày một ngát hương hơn./.
--------------------------
[1] Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia - Sự Thật, Hà Nội, 2011, t.1, tr.284
[2] Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia - Sự Thật, Hà Nội, 2011, t.2, tr.280-281
[3] Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia - Sự Thật, Hà Nội, 2011, t.5, tr.292
[4] Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia - Sự Thật, Hà Nội, 2011, t.11, tr.612            
[5] Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia - Sự Thật, Hà Nội, 2011, t.11, tr.602
[6] Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia - Sự Thật, Hà Nội, 2011, t.6, tr.16
[7] Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia - Sự Thật, Hà Nội, 2011, t.15, tr.672
[8]Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia - Sự Thật, Hà Nội, 2011, t.15, tr.663
[9] Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia - Sự Thật, Hà Nội, 2011, t.4, tr.187
[10] Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia - Sự Thật, Hà Nội, 2011, t.4, tr.33
[11] Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia - Sự Thật, Hà Nội, 2011, t.4, tr.109
[12] Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia - Sự Thật, Hà Nội, 2011, t.4, tr.136
[13] Hoàng Tùng: Từ tư duy truyền thống đến tư tưởng Hồ Chí Minh, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1998, tr.113
[14] Tư tưởng Hồ Chí Minh về đạo đức, Nxb. Giáo dục, Hà Nội, 2006, tr.21
[15]Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia - Sự Thật, Hà Nội, 2011, t.15, tr.623 
[16] Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia - Sự Thật, Hà Nội, 2011, t.15, tr.613
[17] Võ Nguyên Giáp: Những chặng đường lịch sử, Nxb. Văn học, Hà Nội, 1997, tr.304
[18] Viện Hồ Chí Minh: Hồ Chí Minh sống mãi trong trái tim nhân loại, Nxb. Lao Động, Nxb. Quân đội nhân dân, Hà Nội, 1993, tr.114
[19] Hội thảo quốc tế về Chủ tịch Hồ Chí Minh (Trích tham luận của đại biểu quốc tế), Nxb. Khoa học xã hội, Hà Nội, 1990, tr.130
[20] Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng: Phát biểu khai mạc Hội nghị Trung ương 8 khóa XII, ngày 2/10/2018
Yêu nước ST.

NHỮNG BÀI HỌC TRONG CÔNG TÁC XÂY DỰNG ĐẢNG VỀ ĐẠO ĐỨC TỪ CHỈ DẪN CỦA CHỦ TỊCH HỒ CHÍ MINH!

         Từ những chỉ dẫn của Chủ tịch Hồ Chí Minh về nâng cao đạo đức cách mạng, quét sạch chủ nghĩa cá nhân, có thể rút ra những bài học trong công tác xây dựng đảng về đạo đức giai đoạn hiện nay!

Đạo đức cách mạng và chủ nghĩa cá nhân là hai cặp phạm trù đối lập nhau nhưng có mối quan hệ biện chứng với nhau. Đạo đức cách mạng cần phải xây dựng và củng cố, chủ nghĩa cá nhân cần phải đấu tranh để loại bỏ. Đạo đức cách mạng là sức mạnh chống chủ nghĩa cá nhân, chống chủ nghĩa cá nhân là để bảo vệ và củng cố đạo đức cách mạng.

Trong tư tưởng Hồ Chí Minh, đạo đức cách mạng là hệ thống các quy tắc, chuẩn mực đạo đức của người cộng sản mà mỗi cán bộ, đảng viên phải phấn đấu tu dưỡng, rèn luyện, tạo nên phẩm chất, nhân cách của người cộng sản. Đạo đức cách mạng được xây dựng trên quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin, kế thừa và phát huy những giá trị đạo đức truyền thống tốt đẹp của dân tộc, tinh hoa đạo đức nhân loại. Đạo đức cách mạng là “đạo đức mới”, mang bản chất cách mạng, khoa học và nhân văn. Hồ Chí Minh khẳng định, đạo đức mới là đạo đức vĩ đại, nó không phải vì danh vọng cá nhân mà vì lợi ích chung của Đảng, của dân tộc, của loài người; phản ánh lợi ích của giai cấp công nhân và nhân dân lao động trong sự nghiệp đấu tranh để giải phóng mình và giải phóng nhân loại, xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản.

Chủ nghĩa cá nhân là đề cao, tuyệt đối hoá lợi ích cá nhân, luôn nghĩ đến lợi ích của mình tr­ước hết, trên hết; không muốn vì lợi ích của mọi người, của tập thể. Chủ nghĩa cá nhân tuyệt đối hóa “cái tôi”, coi nhẹ cái “chúng ta” trong khi cái chúng ta mới là cơ sở tồn tại của đời sống xã hội loài người. Chủ nghĩa cá nhân là: “bất kỳ việc gì cũng xuất phát từ lòng tham muốn danh lợi, địa vị cho cá nhân mình, chứ không nghĩ đến lợi ích của giai cấp, của nhân dân”(1). Chủ nghĩa cá nhân gây ra những hậu quả xấu về mọi mặt, làm hại đến lợi ích của Đảng, của cách mạng và của nhân dân; gây chia rẽ, mất đoàn kết trong nội bộ Đảng và nhân dân, đe dọa đến vai trò cầm quyền của Đảng, sự tồn vong của chế độ. Chủ tịch Hồ Chí Minh phân tích, chủ nghĩa cá nhân sẽ “Che lấp đạo đức cách mạng, để ngǎn trở ta một lòng một dạ đấu tranh cho sự nghiệp cách mạng”(2); chủ nghĩa cá nhân “khéo dỗ dành người ta đi xuống dốc”… Do đó, người đảng viên ngoài việc phải tu dưỡng và rèn luyện đạo đức cách mạng còn phải quyết tâm đấu tranh chống mọi kẻ địch, luôn luôn cảnh giác và không chịu khuất phục trước chủ nghĩa cá nhân - hiện thân của cái xấu, cái ác, cái phản tiến bộ.

Cả cuộc đời Chủ tịch Hồ Chí Minh, cùng với những nỗ lực không mệt mỏi để xây dựng, củng cố và hoàn thiện nền đạo đức mới - đạo đức cách mạng là sự đấu tranh triệt để, kiên quyết, không khoan nhượng chống chủ nghĩa cá nhân. Những chỉ dẫn của Người để lại những bài học lớn cho chúng ta trong xây dựng Đảng về đạo đức giai đoạn hiện nay.

Thứ nhất, xây dựng Đảng về đạo đức phải được tiến hành thường xuyên, liên tục, lâu dài và bền bỉ.
Đạo đức của xã hội nói chung, đạo đức của Đảng nói riêng và của mỗi con người cụ thể không tự nhiên có được mà phải trải qua quá trình rèn luyện, đấu tranh không ngừng mới hình thành, củng cố và hoàn thiện. Hồ Chí Minh khẳng định: “Đạo đức cách mạng không phải trên trời sa xuống. Nó do đấu tranh, rèn luyện bền bỉ hằng ngày mà phát triển và củng cố. Cũng như ngọc càng mài càng sáng, vàng càng luyện càng trong”(3). Mặt khác, Người phân tích, “tư tưởng cộng sản với tư tưởng cá nhân ví như lúa với cỏ dại. Lúa phải chăm bón rất khó nhọc thì mới tốt được. Còn cỏ dại không cần chăm sóc cũng mọc lu bù. Tư tưởng cộng sản phải rèn luyện gian khổ mới có được. Còn tư tưởng cá nhân thì cũng như cỏ dại, sinh sôi, nảy nở rất dễ”(4). Hơn nữa, đạo đức thuộc về hình thái ý thức xã hội, khi tồn tại xã hội thay đổi, ý thức xã hội thay đổi theo. Điều đó có nghĩa, vào mỗi giai đoạn, đặc biệt là khi trải qua những bước ngoặt quan trọng, Đảng và đội ngũ cán bộ, đảng viên cần phải kế thừa và bổ sung, hoàn thiện những chuẩn mực đạo đức mới để thích ứng với tình hình mới. Những điều đó cho thấy rằng, xây dựng Đảng về đạo đức không phải là công việc có giới hạn về thời gian mà là công việc phải được tiến hành thường xuyên, liên tục, lâu dài và bền bỉ.

Nhận thức rất rõ tầm quan trọng của vấn đề đạo đức trong Đảng, Đảng đã quan tâm chỉ đạo rất sát sao công tác xây dựng Đảng nói chung và xây dựng Đảng về đạo đức nói riêng. Đó cũng chính là sự trở lại với những chỉ dẫn quan trọng của Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Trong rất nhiều tác phẩm của mình. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã phân tích sâu sắc về chủ nghĩa cá nhân, Người đưa ra định nghĩa chủ nghĩa cá nhân, nhận diện những biểu hiện của chủ nghĩa cá nhân, nguyên nhân dẫn đến chủ nghĩa cá nhân, hậu quả của chủ nghĩa cá nhân và những biên pháp để nâng cao đạo đức cách mạng, quét sách chủ nghĩa cá nhân và Hồ Chí Minh chính là tấm gương về sự bền bỉ, kiên trì và kiên quyết chống chủ nghĩa cá nhân. Trên cơ sở những chỉ dẫn của Người về chống chủ nghĩa cá nhân, Đảng Cộng sản Việt Nam chú trọng xây đi đôi với chống, một mặt xây dựng đạo đức, mặt khác chống những biểu hiện phi đạo đức, phản đạo đức. Nghị quyết số 04-NQ/TW của Đảng đã chỉ rõ 27 biểu hiện suy thoái thuộc 3 nhóm tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, và những biểu hiện "tự diễn biến", "tự chuyển hoá" trong nội bộ... Đây là sự phát triển lý luận về xây dựng Đảng trong điều kiện đảng cầm quyền hiện nay, là điểm nhấn quan trọng, định hướng công tác xây dựng Đảng, thể hiện rõ nét dấu ấn việc vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh.

Trong thời gian tới và trong bất cứ giai đoạn nào của quá trình lãnh đạo sự nghiệp đổi mới, Đảng cần phải tiếp tục nhận thức sâu sắc và toàn diện, quán triệt và nghiêm túc trong tổ chức thực hiện tinh thần nâng cao đạo đức cách mạng, chống chủ nghĩa cá nhân của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Sự sao nhãng, lơ là hoặc thiếu thực chất trong xây dựng Đảng về đạo đức đều là mảnh đất mẫu mỡ cho sự phát triển của chủ nghĩa cá nhân và sự suy thoái của Đảng cầm quyền.

Thứ hai, nêu gương là một giải pháp đặc biệt quan trọng và hiệu quả.
Nêu gương là một giải pháp quan trọng trong xây dựng đạo đức cách mạng và chống chủ nghĩa cá nhân vì nêu gương có ưu thế vượt trội so với các phương pháp khác ở sự sinh động, thực tế, bằng người thật, việc thật, bằng những tấm gương sống, do đó có sức thuyết phục cao, hiệu quả, tạo nên sức mạnh to lớn để lôi cuốn quần chúng nhận thức và hành động theo. Người cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ lãnh đạo, quản lý nêu gương trong thực hành đạo đức và chống chủ nghĩa cá nhân, nói đi đôi với làm, không chỉ tác động đến tư tưởng, nhận thức mà còn tác động đến tình cảm, niềm tin của cấp dưới và của nhân dân, qua đó tạo được uy tín của của họ trong tổ chức và nhân dân. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng nói “Một tấm gương sống có giá trị hơn một trăm bài diễn văn tuyên truyền”(5).

Trong Nâng cao đạo đức cách mạng, quét sạch chủ nghĩa cá nhân (1969), Chủ tịch Hồ Chí Minh mở đầu tác phẩm bằng hai mệnh đề: “Nhân dân ta thường nói: “Đảng viên đi trước, làng nước theo sau. Đó là một lời khen chân thành đối với đảng viên và cán bộ chúng ta”(6). Thực chất, đây chính là sự nhìn nhận, đánh giá của nhân dân đối với sự hy sinh, tiên phong, gương mẫu của cán bộ, đảng viên. Người viết, “Trong lịch sử đấu tranh của Đảng và trong mọi hoạt động hằng ngày, nhất là trên mặt trận chiến đấu và sản xuất, rất nhiều cán bộ, đảng viên ta đã tỏ ra anh dũng, gương mẫu, gian khổ đi trước, hưởng thụ đi sau và đã làm nên những thành tích rất vẻ vang”(7). Người tự hào, “Đảng ta đã đào tạo một thế hệ thanh niên cách mạng, gái cũng như trai, rất hăng hái, dũng cảm trong mọi công tác”(8). Đó chính là “những bông hoa tươi thắm của chủ nghĩa anh hùng cách mạng”.

Nhân cách, đạo đức, trí tuệ, tính tiên phong gương mẫu của cán bộ, đảng viên, nhất là đội ngũ lãnh đạo, quản lý, đặc biệt là những cán bộ cấp cao của Đảng và Nhà nước là biểu hiện thực tế, sinh động và thuyết phục nhất đối với nhân dân về tính chân chính và đạo đức của Đảng. Thực tế thời gian qua cho thấy, ở cấp ủy, tổ chức Đảng nào có người đứng đầu luôn gương mẫu, chí công vô tư, trong sáng về đạo đức thì cấp ủy, tổ chức Đảng đó luôn đoàn kết, thống nhất, phát huy tốt vai trò lãnh đạo và ở đó cũng không có hoặc có rất ít hiện tượng đảng viên suy thoái về đạo đức, lối sống. Do đó, nêu gương về đạo đức ngày càng trở nên quan trọng trước những bước ngoặt của cách mạng, khi những biến cố chính trị đang làm thay đổi tình hình một cách nhanh chóng, mau lẹ và khó dự báo.

Thấm nhuần tư tưởng Hồ Chí Minh, để xây dựng đạo đức của Đảng, chống lại chủ nghĩa cá nhân, trước hết, cần phải đề cao tính tiên phong, gương mẫu, tự tu dưỡng, rèn luyện của người đứng đầu các tổ chức đảng. Cụ thể, Người đứng đầu cấp ủy, tổ chức Đảng phải gương mẫu về đạo đức, lối sống cho cán bộ, đảng viên noi theo; đảng viên đi trước phải làm gương cho đảng viên đi sau; đảng viên giữ cương vị, chức vụ càng cao thì phải càng gương mẫu, trong sáng về đạo đức; đảng viên là cán bộ lãnh đạo, quản lý; những đảng viên có vị trí, địa vị quan trọng; những đảng viên có uy tín và những đảng viên có thâm niên công tác cũng có những tác động rất lớn đến xây dựng Đảng về đạo đức. Nếu những đảng viên này thực sự nêu gương về đạo đức thì trong lãnh đạo sẽ mang lại hiệu quả to lớn.

Hồ Chí Minh từng khẳng định: “Mỗi người đảng viên phải cố gắng cho xứng đáng là một người trong những người đại biểu của dân tộc. Nhất là những người cán bộ và lãnh tụ, càng phải làm cho xứng đáng lòng tin cậy của Đảng, của dân tộc”(9). Có như vậy, công tác xây dựng Đảng về đạo đức mới đạt hiệu quả, thiết thực.

Thứ ba, mỗi cá nhân phải có ý thức không ngừng tu dưỡng đạo đức và có bản lĩnh chống chủ nghĩa cá nhân.
Trong tác phẩm Nâng cao đạo đức cách mạng, quét sạch chủ nghĩa cá nhân, Chủ tịch Hồ Chí Minh yêu cầu mỗi cá nhân phải tu dưỡng những phẩm chất đạo đức sau: Phải đặt lợi ích của cách mạng, của Đảng, của nhân dân lên trên hết và trước hết. Phải kiên quyết quét sạch chủ nghĩa cá nhân, nâng cao đạo đức cách mạng. Phải bồi dưỡng tư tưởng tập thể, tinh thần đoàn kết, tính tổ chức và tính kỷ luật. Phải cố gắng học tập, rèn luyện, nâng cao trình độ hiểu biết để làm tốt mọi nhiệm vụ(10). Để thực hiện được những chữ “phải” đó, cán bộ, đảng viên phải thực sự nghiêm khắc khép mình vào sự tự tu dưỡng, rèn luyện không ngừng về đạo đức và có bản lĩnh chống chủ nghĩa cá nhân.

Trong thời gian vừa qua, đa số đảng viên giữ được phẩm chất đạo đức cách mạng, có lối sống lành mạnh, giữ gìn được nhân cách trong những hoàn cảnh khó khăn. Nhiều cán bộ, đảng viên luôn giản dị, khiêm tốn, mẫu mực trong cơ quan, đơn vị, gia đình, dòng họ và nơi cư trú, gần gũi với nhân dân, hiểu và lắng nghe ý kiến của nhân dân, được nhân dân tin tưởng, yêu mến. Nhiều tấm gương sáng về đạo đức cách mạng luôn đi đầu trong các phong trào, mẫu mực trong ứng xử; kiên quyết, kiên trì đấu tranh chống biểu hiện tiêu cực về đạo đức, lối sống và những hành vi vi phạm pháp luật, vi phạm đạo đức.

Tuy nhiên, bên cạnh đó là một bộ phận cán bộ, đảng viên thiếu ý thức tu dưỡng, dẫn đến vi phạm điều lệ Đảng, pháp luật của Nhà nước và các chuẩn mực đạo đức, biểu hiện cụ thể đó là, số lượng đảng viên vi phạm đạo đức ngày càng tăng; hành vi suy thoái đạo đức ngày càng đa dạng, tinh vi, phức tạp và ngày càng nghiêm trọng; suy thoái đạo đức của cán bộ, đảng viên và tổ chức đảng diễn ra từ Trung ương đến địa phương... Suy thoái đó diễn ra trước hết trong đội ngũ cán bộ, đảng viên có chức, có quyền. Không ít cán bộ lãnh đạo, quản lý bị suy thoái đạo đức do không giữ vững được bản lĩnh chính trị và phẩm chất cách mạng, bị các thế lực thù địch lôi kéo, mua chuộc, bị cám dỗ trước những lợi ích vật chất tầm thường, thiếu gương mẫu trong thực hiện các nghĩa vụ công dân, trách nhiệm của người đảng viên...

Để xây dựng đạo đức của Đảng, xây dựng “sức đề kháng” tốt nhất chống chủ nghĩa cá nhân, điều kiện tiên quyết là ý thức tu dưỡng đạo đức của mỗi cá nhân. Đây không chỉ được coi là một nguyên tắc mà còn là một trình độ, đòi hỏi mỗi cán bộ, đảng viên phải đạt tới. Tu dưỡng về mặt đạo đức phải trở thành một hành động tự giác, có hệ thống mà mỗi cá nhân thực hiện đối với bản thân mình nhằm khắc phục những hành vi trái đạo đức và bồi dưỡng, củng cố những hành vi đạo đức của mình, thúc đẩy sự phát triển nhân cách.

Cần thấm nhuần lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh về phận sự của đảng viên và cán bộ là “cần phải luôn luôn tự hỏi mình, tự kiểm điểm mình và đồng chí mình”. Thường xuyên tu dưỡng đạo đức, đòi hỏi phải kiểm điểm, tự phê bình những lời đã nói, những việc đã làm, phải thường xuyên xem xét, đánh giá những điều hay - dở, đúng - sai để phát triển điều hay, sửa chữa khuyết điểm. Hồ Chí Minh chỉ rõ, sau mỗi công việc, cần rút kinh nghiệm để tìm ra ưu điểm để phát huy, nhân rộng; đồng thời chỉ rõ khuyết điểm, nguyên nhân để sửa chữa, khắc phục kịp thời, không để sai lầm từ một người thành sai lầm của nhiều người, sai lầm của một tổ chức thành của nhiều tổ chức.

Thứ tư, nhân dân phải thực sự là một chủ thể xây dựng Đảng về đạo đức.
Nhân dân là một bộ phận quan trọng trong việc xây dựng, bổ sung và phát triển những chuẩn mực đạo đức để Đảng thích ứng với những thay đổi của thực tiễn trong quá trình lãnh đạo. Đạo đức cách mạng của Hồ Chí Minh thuộc hệ tư tưởng đạo đức Mác - Lênin. Người đã kế thừa, phát triển sáng tạo quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin về bản chất, nguồn gốc, nội dung của đạo đức cộng sản, đồng thời, tiếp thu có chọn lọc những tư tưởng đạo đức tiến bộ của nhân loại để xây dựng những quan điểm về một nền đạo đức mới trong Đảng, trong nhân dân. Tuy nhiên, yếu tố tiên quyết hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh về đạo đức trong Đảng chính là những giá trị đạo đức truyền thống đã được nhân dân Việt Nam hun đúc và xây dựng lên qua nhiều thế hệ.

Theo Hồ Chí Minh, nhân dân giúp xây dựng Đảng bằng cách: hiểu rõ Đảng, ủng hộ Đảng, hưởng ứng những lời kêu gọi của Đảng, giúp Đảng nắm rõ tình hình trong nhân dân, đối với công tác của Đảng thì thật thà phê bình và nêu ý kiến của mình. Đảng là của dân tộc, của nhân dân, ở một khía cạnh nào đó, nhân dân với tư cách là một khách thể, ngoài Đảng, sự phê bình, góp ý của nhân dân về đạo đức của Đảng bao giờ cũng khách quan hơn so với việc nội bộ Đảng tự phê bình, góp ý cho nhau. Không những thế, nhân dân còn có vai trò quan trọng trong việc kiểm tra, giám sát, phát hiện và xử lý những vi phạm đạo đức của tổ chức đảng và đội ngũ cán bộ, đảng viên. Đối với việc xây dựng Đảng về đạo đức, việc tu dưỡng, rèn luyện của mỗi cán bộ, đảng viên, Chủ tịch Hồ Chí Minh yêu cầu phải đặt dưới sự kiểm tra, giám sát trực tiếp của người dân.

Chỉ dẫn của Chủ tịch Hồ Chí Minh để lại cho chúng ta bài học quan trọng về phát huy vai trò tích cực, chủ động của nhân dân trong xây dựng Đảng về đạo đức. Để thực hiện được vai trò đó của nhân dân trong giai đoạn hiện nay, chúng ta cần tiếp tục phát huy dân chủ trong nhân dân, phát huy vai trò tích cực của dư luận xã hội, của thông tin đại chúng, tạo cơ chế để nhân dân tham gia giám sát và kiểm soát những hoạt động của cán bộ, đảng viên.

Đặc biệt, để nâng cao vai trò giám sát của nhân dân đòi hỏi Đảng, Nhà nước cần có những giải pháp quyết liệt để nhân dân thực hiện quyền lực Nhà nước thực sự có hiệu quả bằng cả dân chủ trực tiếp và dân chủ gián tiếp; không ngừng nâng cao trình độ văn hóa, chính trị, pháp luật, quản lý cho nhân dân, đồng thời nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân, cung cấp thông tin đầy đủ, tạo mọi điều kiện để “Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng”.

Trước thực trạng đạo đức trong xã hội nói chung và đạo đức của đội ngũ cán bộ, đảng viên trong Đảng nói riêng hiện nay, chúng ta càng thầm nhuần hơn nữa những chỉ dẫn của Chủ tịch Hồ Chí Minh về nâng cao đạo đức cách mạng, quét sạch chủ nghĩa cá nhân./.
Môi trường ST.

Thứ Bảy, 18 tháng 5, 2024

TÌM HIỂU GIÚP BẠN: TOÀN VĂN QUY ĐỊNH 144-QĐ/TW VỀ CHUẨN MỰC ĐẠO ĐỨC CÁCH MẠNG CỦA CÁN BỘ, ĐẢNG VIÊN GIAI ĐOẠN MỚI!

     Ngày 9/5 thay mặt Bộ Chính trị, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng ký ban hành Quy định số: 144-QĐ/TW về chuẩn mực đạo đức cách mạng của cán bộ, đảng viên trong giai đoạn mới!
Trân trọng giới thiệu toàn văn "Quy định chuẩn mực đạo đức cách mạng của cán bộ, đảng viên giai đoạn mới" của Trung ương:

- Căn cứ Điều lệ Đảng;

- Căn cứ Quy chế làm việc của Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư khóa XIII;

- Căn cứ Kết luận số 21-KL/TW, ngày 25/10/2021 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng về đẩy mạnh xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị; kiên quyết ngăn chặn, đẩy lùi, xử lý nghiêm cán bộ, đảng viên suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, biểu hiện "tự diễn biến", "tự chuyển hóa,"

Bộ Chính trị quy định chuẩn mực đạo đức cách mạng của cán bộ, đảng viên trong giai đoạn mới như sau:

Điều 1. Yêu nước, tôn trọng Nhân dân, tuyệt đối trung thành với Đảng, với Tổ quốc

1. Suốt đời phấn đấu cho mục đích, lý tưởng cách mạng của Đảng; nêu cao tinh thần yêu nước, lòng tự hào dân tộc, tuyệt đối trung thành với Tổ quốc, với sự nghiệp cách mạng của Đảng; hết lòng, hết sức phụng sự Tổ quốc, phục vụ Nhân dân.

2. Tôn trọng, tin tưởng, gần gũi và gắn bó mật thiết với Nhân dân. Quan tâm chăm lo đời sống vật chất, tinh thần của Nhân dân; bảo vệ quyền, lợi ích chính đáng, hợp pháp của Nhân dân; tạo điều kiện để Nhân dân phát huy quyền làm chủ, dựa vào Nhân dân để xây dựng Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh. Việc gì có lợi cho dân phải hết sức làm, việc gì có hại đến dân phải hết sức tránh.

3. Đặt lợi ích quốc gia-dân tộc, lợi ích chung của Đảng, Nhà nước và của Nhân dân lên trên hết, trước hết; kiên quyết, kiên trì đấu tranh với mọi hành vi gây phương hại đến lợi ích quốc gia - dân tộc, lợi ích của Đảng, Nhà nước và của Nhân dân.

Điều 2. Bản lĩnh, đổi mới, sáng tạo, hội nhập

1. Kiên định và vận dụng, phát triển sáng tạo chủ nghĩa Marx-Lenin, tư tưởng Hồ Chí Minh; kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; kiên định đường lối đổi mới của Đảng và các nguyên tắc xây dựng Đảng. Kiên quyết, kiên trì bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch. Thực hiện nghiêm Cương lĩnh chính trị, Điều lệ Đảng, đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước.

2. Nêu cao tinh thần độc lập, tự chủ, tự lực, tự cường, ý chí vươn lên, cống hiến cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, góp phần phát triển đất nước, địa phương, cơ quan, đơn vị.

3. Xây dựng bản lĩnh chính trị vững vàng trước mọi khó khăn, thử thách. Dám nghĩ, dám nói, dám làm, dám chịu trách nhiệm, dám đổi mới, sáng tạo, dám đương đầu với khó khăn, thách thức, hành động vì lợi ích chung, vì nước, vì dân.

4. Chủ động nâng cao kiến thức, kỹ năng; năng lực công tác, làm việc trong môi trường quốc tế. Tích cực tham gia quá trình hội nhập quốc tế toàn diện, sâu rộng theo đường lối đối ngoại của Đảng phù hợp với luật pháp quốc tế, góp phần xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa, xây dựng cộng đồng vì hòa bình, ổn định, tiến bộ và phát triển.

Quy định chuẩn mực đạo đức cách mạng của cán bộ, đảng viên giai đoạn mới- Ảnh 2.
Đại biểu Quốc hội Nguyễn Anh Trí (đoàn Hà Nội) cho rằng tham nhũng vặt diễn ra đa dạng và ngày càng tinh vi.

Điều 3. Cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư

1. Tâm huyết, trách nhiệm, dấn thân, nỗ lực hoàn thành tốt nhất nhiệm vụ được giao, có ý chí, quyết tâm thực hiện thắng lợi công cuộc đổi mới do Đảng lãnh đạo, góp phần xây dựng đất nước giàu mạnh, phồn vinh, văn minh, hạnh phúc.

2. Quản lý, sử dụng tài sản công đúng mục đích, đúng quy định; tiết kiệm và hiệu quả; không xa hoa, lãng phí thời gian, tiền bạc, công sức và các nguồn lực vật chất khác của tập thể và cá nhân.

3. Trong sạch, không tham ô, tham nhũng, tiêu cực, không gây phiền hà, sách nhiễu. Chủ động phòng ngừa, đấu tranh ngăn chặn tham nhũng, tiêu cực, suy thoái về tư tưởng, chính trị, đạo đức, lối sống, chủ nghĩa cá nhân, lợi ích nhóm, những biểu hiện "tự diễn biến", "tự chuyển hóa" trong nội bộ.

4. Trung thực, thẳng thắn, khách quan, công tâm, tích cực đấu tranh tự phê bình và phê bình, không giấu khuyết điểm, không nói sai sự thật; thấy đúng phải bảo vệ, thấy sai phải đấu tranh.

5. Nêu cao lòng tự trọng, danh dự, không cơ hội chính trị, tham vọng quyền lực, giữ gìn phẩm giá của người cán bộ, đảng viên, không để tác động lôi kéo, cám dỗ tiêu cực. Không để gia đình, người thân và người khác lợi dụng chức vụ, vị trí công tác để trục lợi; bảo vệ uy tín, danh dự của bản thân và tổ chức đảng. Thực hiện văn hóa từ chức khi không đủ khả năng, uy tín.

Điều 4. Đoàn kết, kỷ cương, tình thương, trách nhiệm

1. Luôn luôn giữ gìn sự đoàn kết, thống nhất trong Đảng, cơ quan, tổ chức và trong Nhân dân, trước hết là ở chi bộ, cơ quan, đơn vị công tác, khu dân cư; kiên quyết đấu tranh với những biểu hiện chia rẽ, bè phái, cục bộ, lợi ích nhóm; xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị thật sự trong sạch, vững mạnh toàn diện.

2. Nêu cao ý thức tổ chức kỷ luật, kỷ cương, nhất là kỷ luật phát ngôn. Nói và làm theo đúng chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; chấp hành các quy định của cơ quan, đơn vị; phục tùng sự phân công của Đảng, của tổ chức.

3. Sống có nghĩa tình, chân thành, thương yêu, đối xử, giúp đỡ đồng chí, đồng nghiệp và mọi người theo lẽ phải, phù hợp với đạo lý dân tộc, cùng nhau tiến bộ.

4. Nêu cao trách nhiệm trong công tác và sinh hoạt; sẵn sàng đảm nhận và hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao. Kiên quyết đấu tranh, phê phán mọi hành vi né tránh, đùn đẩy, hoặc có tư tưởng trung bình chủ nghĩa, làm việc cầm chừng, sợ trách nhiệm, không dám làm. Làm tốt trách nhiệm, bổn phận, nghĩa vụ đối với gia đình, cộng đồng, xã hội.

Điều 5. Gương mẫu, khiêm tốn, tu dưỡng rèn luyện, học tập suốt đời

1. Gương mẫu trong công tác và sinh hoạt, tích cực học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh. Cán bộ, đảng viên chức vụ càng cao càng phải gương mẫu, cấp trên gương mẫu trước cấp dưới, cấp ủy gương mẫu trước đảng viên, đảng viên gương mẫu trước quần chúng.

2. Tích cực vận động, thuyết phục gia đình, người thân chấp hành tốt chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước.

3. Khiêm tốn, cầu thị, giản dị; không ngừng học tập, tu dưỡng, rèn luyện, nâng cao phẩm chất, đạo đức, trình độ, năng lực công tác. Nói đi đôi với làm, làm đi đôi với nói, đã nói là làm.

Điều 6. Tổ chức thực hiện

1. Các cấp ủy, tổ chức đảng, người đứng đầu có trách nhiệm lãnh đạo, chỉ đạo triển khai thực hiện Quy định này phù hợp với chức năng, nhiệm vụ, tình hình của địa phương, cơ quan, đơn vị. Cán bộ, đảng viên nêu cao tinh thần gương mẫu, thực hiện nghiêm Quy định này.

2. Ban Tuyên giáo Trung ương chủ trì, phối hợp với Ban Tổ chức Trung ương, Ủy ban Kiểm tra Trung ương, Ban Nội chính Trung ương và các cơ quan liên quan tham mưu Bộ Chính trị, Ban Bí thư tổ chức quán triệt Quy định; hướng dẫn, theo dõi, kiểm tra, giám sát, đôn đốc việc tổ chức thực hiện; định kỳ sơ kết, tổng kết, báo cáo Bộ Chính trị, Ban Bí thư.

Trong quá trình thực hiện nếu phát sinh vướng mắc, báo cáo Bộ Chính trị xem xét, quyết định (qua Ban Tuyên giáo Trung ương).

Quy định này có hiệu lực từ ngày ký và phổ biến đến chi bộ để thực hiện./.
Yêu nước ST.