Chủ Nhật, 19 tháng 5, 2024

 Vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh vào xây dựng và phát triển đội ngũ trí thức trẻ ở Việt Nam đáp ứng yêu cầu Cách mạng công nghiệp 4.0

Chủ tịch Hồ Chí Minh với đại biểu trí thức dự Hội nghị Chính trị đặc biệt tháng 3-1964. Ảnh tư liệu.

Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: “Trí thức là vốn liếng quý báu của dân tộc. Ở nước khác như thế, ở Việt Nam càng như thế”. Việc nghiên cứu, vận dụng sáng tạo tư tưởng Hồ Chí Minh là cơ sở lý luận giúp Đảng, Nhà nước tiếp tục xây dựng, hoàn thiện chủ trương, chính sách về xây dựng, phát triển đội ngũ trí thức trẻ đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước nhanh, bền vững trong bối cảnh tác động của Cách mạng công nghiệp 4.0.

1. Một số nội dung cơ bản trong tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng và phát triển đội ngũ trí thức trẻ

Về vị trí, vai trò của đội ngũ trí thức trẻ, Chủ tịch Hồ Chí Minh cho rằng: “Thanh niên là người chủ tương lai của nước nhà. Thật vậy, nước nhà thịnh hay suy, yếu hay mạnh một phần lớn là do các thanh niên”[1]. Trong Thư gửi thanh niên và nhi đồng toàn quốc nhân dịp Tết sắp đến (tháng 1-1946), Người viết: “Một năm khởi đầu từ mùa xuân. Một đời khởi đầu từ tuổi trẻ. Tuổi trẻ là mùa xuân của xã hội”[2]. Suốt cuộc đời hoạt động cách mạng, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn dành tình cảm đặc biệt cho thanh niên, nhất là thanh niên trí thức qua việc bồi dưỡng, giáo dục, rèn luyện.

Theo Người, trí thức trẻ là một bộ phận quan trọng của đội ngũ trí thức Việt Nam, là lực lượng tiên phong trong đội ngũ thanh niên. Họ là lực lượng có tinh thần yêu nước nồng nàn, có khát vọng ý chí vươn lên, có đạo đức cách mạng trong sáng, dám nghĩ, dám làm, dám hy sinh; có vị trí, vai trò quan trọng trong sự nghiệp đấu tranh giải phóng, thống nhất dân tộc và kiến thiết nước nhà. Đồng thời, họ đang công tác, hoạt động và nghiên cứu ở nhiều lĩnh vực kinh tế - xã hội, quốc phòng - an ninh,… quan trọng của đất nước.

Về trách nhiệm của đội ngũ trí thức trẻ, Người nhắc nhở: “Thanh niên muốn làm người chủ tương lai cho xứng đáng thì ngay hiện tại phải rèn luyện tinh thần và lực lượng của mình, phải ra làm việc để chuẩn bị cái tương lai đó”[3] và "Để thật xứng đáng là người chủ của một nước xã hội chủ nghĩa, thanh niên ta quyết tâm thực hiện mấy điều sau đây: Phải thấm nhuần đạo đức cách mạng tức là khiêm tốn, đoàn kết, thực hành chủ nghĩa tập thể, thương yêu, giúp đỡ lẫn nhau, người tiên tiến thì giúp đỡ người kém, người kém phải cố gắng để tiến lên, ra sức cần kiệm xây dựng nước nhà; phải nghiêm khắc chống chủ nghĩa cá nhân như tự tư tự lợi, tự kiêu, tự mãn, chỉ tham việc gì có danh tiếng, xem khinh những công việc bình thường. Phải chống tham ô, lãng phí; phải cố gắng học hỏi để không ngừng nâng cao trình độ chính trị, văn hóa và kỹ thuật để phục vụ Tổ quốc, phục vụ nhân dân”[4].

Về mục tiêu và khát vọng, Hồ Chí Minh nhấn mạnh đến: (1) Mục tiêu xây dựng đội ngũ trí thức trẻ: Trí thức trẻ phải gắn với vận mệnh dân tộc, thể hiện nghĩa vụ và trách nhiệm của mình với đất nước; (2) Đội ngũ trí thức trẻ phải gắn bó thường xuyên, mật thiết với nhân dân, trên tinh thần khiêm tốn học hỏi những điều hay lẽ phải, vì tuổi trẻ đôi khi chưa có kinh nghiệm muốn khẳng định mình dễ dẫn đến vội vàng, nhất là đội ngũ trí thức trẻ thuần túy về khoa học, kỹ thuật. Nhận xét về thanh niên, trong đó có thanh niên trí thức, Người cho rằng: “Ưu điểm của thanh niên ta là hăng hái, giàu tinh thần xung phong. Khuyết điểm là ham chuộng hình thức, thiếu thực tế, bệnh cá nhân, bệnh anh hùng. Rất mong toàn thể thanh niên ta ra sức phát triển những ưu điểm và tẩy sạch những khuyết điểm ấy. Huy hiệu của thanh niên ta là “tay cầm cờ đỏ sao vàng tiến lên”; (3) Đội ngũ trí thức trẻ nhiệt huyết, khao khát được cống hiến để khẳng định mình và phục vụ cho Tổ quốc. Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, đội ngũ trí thức trẻ là những người có học vấn, có năng lực sáng tạo, hoài bão lớn, dám làm những việc lớn, ích nước, lợi dân; (4) Đội ngũ trí thức trẻ năng động, chủ động kết bạn với các quốc gia trên thế giới; (5) Coi trọng giáo dục đạo đức, lý tưởng cách mạng cho trí thức trẻ.

Về quan điểm xây dựng đội ngũ trí thức trẻ, Chủ tịch Hồ Chí Minh đặc biệt quan tâm đến việc đào tạo đội ngũ trí thức cho cách mạng, đề ra phương châm vừa cải tạo và sử dụng những trí thức cũ, vừa xây dựng và phát triển lực lượng trí thức mới. Người đã rất đề cao, coi trọng người trí thức, các biện pháp, chính sách động viên, khuyến khích đội ngũ trí thức tham gia vào sự nghiệp cách mạng; đào tạo trí thức mới, cải tạo trí thức cũ, để xây dựng đội ngũ trí thức có phẩm chất khoa học, có đạo đức và năng lực thực tiễn cao. 

Trong tác phẩm Sửa đổi lối làm việc, Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ: “Sắp xếp thời gian và bài học… phải cho khéo, phải có mạch lạc với nhau, mà không xung đột với nhau”[5]. Trí thức trẻ luôn phải trau dồi, học tập, lĩnh hội kho tàng tri thức của nhân loại là vô tận, người học phải biết chọn lựa nội dung phù hợp... Trí thức không chỉ học mà phải hành. Hành là làm, ứng dụng kiến thức vào thực tiễn. Học với hành phải đi đôi nghĩa là học và hành không thể tách rời, phải coi trọng như nhau. “Hành” được đến đâu, điều đó còn tùy thuộc vào tri thức “học” được phong phú sinh động và sâu sắc thế nào. “Học đi đôi với hành” vì chúng là hai mặt thống nhất với nhau, bổ sung cho nhau. Đó là hai công việc thống nhất với nhau trong quá trình học tập. Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh “Học phải đi đôi với hành” chính là nguyên lý, là phương châm giáo dục, đồng thời là phương pháp học tập đạt hiệu quả cao.

Có thể thấy, tư tưởng về đội ngũ trí thức trẻ đã thể hiện tầm nhìn chiến lược của Chủ tịch Hồ Chí Minh, là cơ sở lý luận và thực tiễn cho Đảng, Nhà nước quan tâm, bồi dưỡng đội ngũ trí thức trẻ. Đồng thời, thể hiện tình cảm, sự quan tâm, chăm lo, dìu dắt của Chủ tịch Hồ Chí Minh dành cho đội ngũ trí thức trẻ. Tư tưởng và tình cảm của Người chính là nguồn động lực, khích lệ ý chí, tinh thần, nghị lực vươn lên chiếm lĩnh những tầm cao mới của đội ngũ trí thức trẻ trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa.

Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng gặp gỡ trí thức trẻ Việt Nam tại Pháp (tháng 3/2018). Ảnh: qdnd.vn.

Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng gặp gỡ trí thức trẻ Việt Nam tại Pháp (tháng 3-2018). Ảnh: qdnd.vn.

2. Một số thành tựu đạt được trong việc vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng đội ngũ trí thức trẻ ở Việt Nam thời gian qua

Trong 38 năm đổi mới, Đảng và Nhà nước ta đã xây dựng và ban hành nhiều chủ trương, chính sách, thể hiện quan điểm nhất quán là đẩy mạnh xây dựng và phát huy vai trò của đội ngũ trí thức trẻ, tạo động lực mạnh mẽ thúc đẩy sự cống hiến, sáng tạo của họ trong công cuộc đổi mới, đẩy mạnh sự nghiệp CNH, HĐH đất nước, hội nhập quốc tế như: Nghị quyết số 27-NQ/TW ngày 6-8-2008 về xây dựng đội ngũ trí thức của Ban Chấp hành Trung ương Đảng, tiếp đó đến Nghị quyết số 20-NQ/TW ngày 31-10-2012 về Phát triển khoa học và công nghệ; Nghị quyết số 26-NQ/TW ngày 19-5-2018 về tập trung xây dựng đội ngũ cán bộ các cấp, nhất là cấp chiến lược, đủ phẩm chất, năng lực và uy tín, ngang tầm nhiệm vụ, Nghị quyết 45-NQ/TW ngày 24-11-2023 Hội nghị lần thứ 8 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII về tiếp tục xây dựng và phát huy vai trò của đội ngũ trí thức đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước nhanh và bền vững trong giai đoạn mới…

Dưới sự lãnh đạo của Đảng, Nhà nước, các cơ quan, ban, ngành đã thực hiện các chính sách xây dựng và từng bước hoàn thiện hệ thống đào tạo, nghiên cứu; đổi mới cơ chế quản lý, tăng cường đầu tư cho sự nghiệp giáo dục và đào tạo, khoa học và công nghệ, văn hóa và văn nghệ; các chính sách sử dụng và tạo môi trường phát huy vai trò của đội ngũ trí thức trẻ; chính sách đãi ngộ, tôn vinh trí thức, các giải thưởng quốc gia, phong tặng các chức danh khoa học và các danh hiệu cao quý; thu hút trí thức trẻ người Việt Nam ở nước ngoài...

Hằng năm, Việt Nam đào tạo được hàng trăm nghìn cử nhân, thạc sĩ, tiến sĩ trẻ về các lĩnh vực, ngành nghề đóng góp vào đội ngũ lao động trình độ cao nguồn lực dồi dào chất lượng, tăng năng suất lao động đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước. Hơn thế nữa đội ngũ trí thức trẻ đã có những đóng góp tích cực trong nhiều mặt đời sống xã hội, có thể kể đến như nhiều trí thức trẻ Việt Nam đoạt giải cao trong các kỳ thi khối ASEAN hay quốc tế,... Đội ngũ trí thức trẻ đóng vai trò quan trọng trong việc sưu tầm, nghiên cứu phổ biến truyền dạy vốn văn hóa - văn nghệ dân gian các dân tộc Việt Nam góp phần bảo vệ vốn văn hóa truyền thống dân tộc. Ngoài ra, trên các lĩnh vực nông nghiệp, kinh tế, chính trị, quốc phòng - an ninh cũng có đông đảo đội ngũ trí thức trẻ tham gia. Nhiều bộ, ban, ngành, cơ quan, địa phương đã xây dựng, đào tạo, thu hút và sử dụng nguồn nhân lực trí thức trẻ một cách hiệu quả. Thành phố Hải Phòng, Đà Nẵng có những giải pháp quyết liệt thu hút, trọng dụng đội ngũ trí thức trẻ.

Những chủ trương, chính sách đúng đắn của Đảng và Nhà nước đã góp phần tích cực thúc đẩy đội ngũ trí thức trẻ phát triển nhanh cả về số lượng và chất lượng. Hiện nay, Việt Nam đã mở rộng giáo dục bậc cao (đại học và sau đại học), trước hết là tăng số lượng các trường đại học, cao đẳng. Tính đến đầu nhiệm kỳ Đại hội XII của Đảng, cả nước có 460 trường đại học và cao đẳng, bao gồm 224 trường đại học và 236 trường cao đẳng; tính bình quân mỗi tỉnh, thành phố có khoảng 6,6 trường đại học, cao đẳng, tổng số sinh viên cả nước có khoảng trên 2,2 triệu, đạt tỷ lệ khoảng 250 sinh viên/1 vạn dân. Trong đó, sinh viên đại học chiếm 66%, cao đẳng chiếm 34%; nữ sinh chiếm 49,6%; số sinh viên học tập tại các trường công lập chiếm 85%, các trường ngoài công lập chiếm khoảng 15% tổng số sinh viên; sinh viên hệ chính quy là 1.962.000. Ngoài ra, có khoảng 80.000 lưu học sinh Việt Nam đang học tập tại gần 40 quốc gia, vùng lãnh thổ trên thế giới. Đây là lực lượng đông đảo, được đào tạo ở những cơ sở uy tín, đã và đang là nguồn bổ sung cho đội ngũ trí thức Việt Nam, cũng chính là động lực tiên quyết để phát triển đội ngũ trí thức Việt Nam và xây dựng đất nước.  

Từ năm 1980 đến năm 2015, sau 24 đợt xét, tổng số lượt giáo sư, phó giáo sư đã được công nhận ở nước ta là 11.619, trong đó có 1.680 giáo sư và 9.939 phó giáo sư. Riêng năm 2016 có thêm 65 giáo sư và 638 phó giáo sư được công nhận; năm 2017, số giáo sư, phó giáo sư đạt chuẩn tăng lên 1.131 người (trong đó giáo sư là 74, phó giáo sư 1.071); năm 2019: 73 giáo sư, 349 phó giáo sư; năm 2020: 39 giáo sư, 300 phó giáo sư; năm 2021: 42 giáo sư, 363 phó giáo sư; năm 2022: 34 giáo sư, 349 phó giáo sư... Đội ngũ trí thức có trình độ chuyên môn học thuật cao hiện đang công tác, cống hiến trên tất cả các lĩnh vực, đặc biệt tham gia vào hoạt động giáo dục và đào tạo ở các trường, đại học, học viện và cao đẳng.

Việt Nam đã chủ động liên kết đào tạo với các nước có nền giáo dục hiện đại trên thế giới, do đó đội ngũ trí thức trẻ có cơ hội học tập, nghiên cứu, tiếp cận những tri thức hiện đại nhất, trở thành nguồn chủ lực trong phát triển kinh tế - xã hội, quốc phòng - an ninh. Đồng thời, tiếp thu những bài học kinh nghiệm về đào tạo nguồn lực trí thức ở các nước phát triển trên thế giới, Việt Nam đã nhìn nhận vai trò của các tập đoàn kinh tế, doanh nghiệp không chỉ tham gia vào hoạt động sản xuất - kinh doanh, mà còn tham gia tích cực vào đào tạo, đào tạo lại và nâng cao chất lượng theo chiều sâu nguồn nhân lực trí thức.

Bên cạnh những thành tựu đạt được, việc đào tạo, bồi dưỡng và sử dụng đội ngũ trí thức trẻ ở Việt Nam còn một số hạn chế, thiếu sót cần khắc phục như: Việt Nam chưa có chiến lược tổng thể về đội ngũ trí thức, và về đội ngũ trí thức trẻ - đây là hạn chế mang tính chất căn cơ dẫn đến tình trạng thiếu đồng bộ, thống nhất trong quá trình xây dựng đội ngũ trí thức. Nhiều chủ trương, chính sách của Ðảng và Nhà nước đối với đội ngũ trí thức chậm đi vào cuộc sống. Một số chủ trương, chính sách không sát với thực tế; có chủ trương, chính sách đúng đắn nhưng thiếu những chế tài đủ mạnh bảo đảm cho việc thực hiện có kết quả… Việc triển khai chính sách thu hút, sử dụng trí thức trẻ thiếu tính đồng bộ. Một thực tế tồn tại phổ biến ở nhiều ngành, địa phương hiện nay là coi trọng việc thu hút trí thức trẻ nhưng lại chưa coi trọng việc sử dụng họ. Mặt khác, chính sách thu hút, trọng dụng trí thức trẻ do các địa phương xây dựng vẫn nặng tính hình thức, chưa được nghiên cứu kỹ lưỡng, chưa được tổng kết trong thực tế triển khai để đánh giá hiệu quả của chính sách. Đặc biệt, để giữ chân người tài làm việc trong nền công vụ thì các văn bản của các bộ, ngành và địa phương mới chỉ chú trọng đến xây dựng chính sách thu hút mà chưa quan tâm chú trọng đến việc sử dụng, đãi ngộ và trọng dụng họ. Hiện tượng bất hợp lý và lãng phí “chất xám” của đội ngũ trí thức trẻ sẽ vẫn tiếp tục diễn ra nếu đơn vị, địa phương “trải thảm đỏ” để thu hút nhân tài về làm việc nhưng bố trí, sắp xếp họ không đúng chuyên môn, năng lực và sở trường công tác.

Hạn chế trên xuất phát từ một số nguyên nhân cơ bản như: một số cấp uỷ đảng, chính quyền và cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp chưa nhận thức đúng về tầm quan trọng của việc xây dựng đội ngũ trí thức trẻ nói chung, cũng như chưa thấy được vai trò, vị trí của đội ngũ trí thức trẻ nói riêng dẫn đến việc đánh giá, sử dụng họ không đúng năng lực và trình độ, dẫn đến "tâm tư" trong một bộ phận trí thức trẻ; bản thân một số trí thức trẻ chưa thấy được hết tầm quan trọng và trách nhiệm của mình trong quá trình hội nhập quốc tế; môi trường làm việc ở một số nơi còn thiếu dân chủ, thiếu tự do sáng tạo, nhất là đối với đội ngũ trí thức trẻ thuộc lĩnh vực khoa học xã hội và văn nghệ sĩ; cho đến nay chưa có một văn bản có tính hệ thống như một nghị quyết hoặc một chiến lược riêng về công tác này.

Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính cùng đại diện trí thức Việt Kiều, thanh niên, sinh viên Việt Nam và cán bộ, nhân viên cơ quan đại diện Việt Nam tại New York, chiều 15/5/2022 - Ảnh: VGP/Nhật Bắc.

Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính cùng đại diện trí thức Việt kiều, thanh niên, sinh viên Việt Nam và cán bộ, nhân viên cơ quan đại diện Việt Nam tại New York, chiều 15-5-2022. Ảnh: VGP/Nhật Bắc.

3. Giải pháp vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng đội ngũ trí thức trẻ nhằm đáp ứng yêu cầu Cách mạng công nghiệp 4.0

Một là, đẩy mạnh công tác tuyên truyền, nâng cao nhận thức về vai trò của trí thức trẻ trong Cách mạng công nghiệp 4.0. Hiện nay, việc nâng cao nhận thức của xã hội về vị trí và vai trò của đội ngũ trí thức trẻ phải được xem là giải pháp mang tính tổng thể, tác động lâu dài và cần duy trì thường xuyên. Vì thế, để thực hiện hiệu quả giải pháp này cần tập trung giải quyết một số nhiệm vụ cơ bản: (i) Tiếp tục đổi mới tuyên truyền nhằm nâng cao nhận thức của các cấp chính quyền và nhân dân về vị trí, vai trò của đội ngũ trí thức trẻ. Luôn phải khẳng định công tác tư tưởng cần được thực hiện thường xuyên và phải gắn với việc giải quyết một cách thỏa đáng vấn đề lợi ích. (ii) Đội ngũ trí thức trẻ không ngừng nâng cao nhận thức về vai trò của mình trong giai đoạn hiện nay: thường xuyên nâng cao năng lực chuyên môn và nhận thức rõ vai trò, trách nhiệm của mình trước đòi hỏi của sự nghiệp CNH, HĐH; phải tự giác sửa chữa những khuyết điểm, khắc phục những hạn chế trong tư duy, cách nghĩ để tham gia một cách tích cực vào quá trình xây dựng và phát triển đất nước.

Hai là, xây dựng và hoàn thiện chính sách đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ trí thức trẻ, nhất là những tài năng trẻ. Việc nghiên cứu đề xuất các giải pháp liên quan đến giáo dục là những giải pháp căn bản, nền tảng, có ý nghĩa chiến lược trong xây dựng đội ngũ trí thức trẻ ở Việt Nam. Để làm được điều đó, cần thực hiện một số giải pháp cơ bản sau: xây dựng chiến lược đào tạo, bồi dưỡng nhân tài đáp ứng yêu cầu phát triển của cuộc Cách mạng công nghiệp 4.0; tạo ra những chuyển biến căn bản trong giáo dục đại học và sau đại học; hoàn thiện chính sách thu hút, sử dụng, trọng dụng, đãi ngộ và tôn vinh đội ngũ trí thức trẻ, trong đó cần có cơ chế, chính sách đặc biệt thu hút, đãi ngộ và tôn vinh đội ngũ trí thức trẻ có trình độ chuyên môn cao đang làm việc ở nước ngoài về nước; tạo môi trường thuận lợi cho trí thức trẻ phát huy năng lực của bản thân trước yêu cầu của cuộc Cách mạng công nghiệp 4.0Để được như như vậy cần thực hiện một số giải pháp cụ thể sau: Tiếp tục cụ thể hóa quy chế dân chủ trong hoạt động khoa học, văn hóa, văn nghệ; xây dựng quy chế nhằm phát huy chức năng phản biện của đội ngũ trí thức dưới nhiều hình thức khác nhau, đặc biệt là trí thức trẻ. Thực hiện được giải pháp này là một việc rất khó khăn nhưng lại có ý nghĩa lớn trong việc khơi dậy và phát huy được tiềm năng sáng tạo của đội ngũ trí thức trẻ trong quá trình phát triển của đất nước.

Ba là, tập trung nguồn lực để thu hút, sử dụng, trọng dụng, đãi ngộ và tôn vinh đội ngũ trí thức trẻ. Thực tiễn cho thấy, muốn họ phát huy được tiềm năng và vai trò của mình thì cần phải thực hiện đồng bộ chính sách thu hút, sử dụng, đãi ngộ và tôn vinh, cụ thể: tiếp tục đổi mới cơ chế quản lý của Nhà nước về thu hút, sử dụng trí thức, nhất là việc tuyển dụng các vị trí công việc cần thực hiện một cách công khai, minh bạch, có tiêu chí rõ ràng. Mặt khác, việc tuyển dụng cần xóa bỏ tư duy bằng cấp mà quan tâm nhiều hơn vào năng lực thực tiễn và khả năng tư duy, sáng tạo để thu nhận được những người có thực lực; trọng dụng đội ngũ trí thức trẻ tài năng, có chế độ khuyến khích và ưu đãi đội ngũ trí thức trẻ chuyên môn giỏi và tâm huyết. Việc xây dựng lực lượng và trọng dụng đội ngũ trí thức trẻ là nhiệm vụ hết sức quan trọng, vì lực lượng trí thức trẻ chính là chủ nhân tương lai của đất nước, là thế hệ sẽ duy trì truyền thống và quyết định vận mệnh của dân tộc trong những chặng đường phát triển tiếp theo. Cần đổi mới chính sách đãi ngộ về vật chất đối với đội ngũ trí thức. Chế độ đãi ngộ đó không những phải bảo đảm cho họ được yên tâm về nhu cầu của bản thân và gia đình mà còn phải mang lại cho họ những chế độ chuyên biệt, đãi ngộ riêng như là ghi nhận của xã hội về công sức, tài năng của họ trong xã hội. Muốn vậy, cần cải cách chế độ tiền lương cho đội ngũ trí thức, nhất là đội ngũ trí thức trẻ mới ra trường. Ngoài cải cách chế độ tiền lương, còn cần có những hỗ trợ vật chất khác cho đội ngũ trí thức trẻ mang tính đặc thù; đổi mới chính sách tôn vinh về tinh thần đối với đội ngũ trí thức. Để làm được điều đó, cần đơn giản hóa các thủ tục hành chính khi xét các danh hiệu đối với đội ngũ trí thức; đổi mới cơ chế xét công nhận chức danh chuyên môn khoa học bảo đảm đúng người, đúng đối tượng, tránh tình trạng bỏ sót người tài, người có cống hiến; đặc biệt tránh định kiến, khắt khe khi xét giải thưởng hay phong tặng với đội ngũ trí thức trẻ có nhiều cống hiến.

Bốn là, tạo môi trường thuận lợi, lành mạnh để phát huy tính độc lập, sáng tạo của đội ngũ trí thức trẻ trước yêu cầu của cuộc Cách mạng công nghiệp 4.0. Môi trường làm việc thuận lợi, lành mạnh là một yếu tố có vai trò quan trọng. Nó có thể tác động, thúc đẩy hoặc kìm hãm năng lực sáng tạo và cống hiến của họ. Trong đó, môi trường dân chủ là yếu tố có tác động mạnh mẽ nhất bởi ở đó người trí thức được tự do sáng tạo, được trình bày, bảo vệ quan điểm nghiêm túc của mình. Muốn xây dựng được môi trường như vậy, cần thực hiện một số biện pháp cụ thể: cụ thể hóa quy chế dân chủ trong hoạt động khoa học, văn hóa, văn nghệ theo quy định của Đảng, Nhà nước; xây dựng quy chế nhằm phát huy chức năng phản biện của đội ngũ trí thức dưới nhiều hình thức khác nhau, đặc biệt là trí thức trẻ…

Năm là, tích cực phát huy tinh thần chủ động, tích cực của đội ngũ trí thức trẻ trước yêu cầu của Cách mạng công nghiệp 4.0 và sự phát triển bền vững của đất nước: Thời gian tới, cần đặt lên vai đội ngũ trí thức trẻ những trọng trách và trách nhiệm to lớn đối với xã hội, được thể hiện thông qua các diễn đàn để phản biện xã hội, nhưng để quá trình phản biện xã hội có tính hiệu quả thì những phản biện của trí thức trẻ phải là những phản biện có tính xây dựng, cần có tổ chức, có phương thức tham vấn phù hợp; giáo dục cho đội ngũ trí thức trẻ sự nhận thức đúng đắn, đầy đủ về cuộc Cách mạng công nghiệp 4.0 cũng như xu hướng phát triển và những tác động tích cực hay tiêu cực của nó đối với đời sống kinh tế - xã hội; xác định rõ năng lực, sở trường của mình để lựa chọn những ngành nghề phù hợp, ưu tiên những ngành nghề đáp ứng được những yêu cầu của cuộc Cách mạng công nghiệp 4.0. Chủ động trước những xu hướng thay đổi, vận động của thị trường lao động hoặc những thay đổi công nghệ của cuộc Cách mạng công nghiệp 4.0 đem lại; tích cực học tập, rèn luyện kỹ năng và nâng cao năng lực bản thân cũng như chủ động tìm hiểu về các yêu cầu của cuộc Cách mạng công nghiệp 4.0 để không bị lạc hậu và có thể trở thành công dân toàn cầu; chủ động, sáng tạo, linh hoạt và làm chủ kỹ năng để có khả năng làm việc với công nghệ hiện đại, thích ứng với sự thay đổi nhanh chóng trong phương thức sản xuất mới, phương thức giao tiếp mới của xã hội, phong cách sống mới của thời đại.

st

 

Hoàn thiện điều kiện bảo đảm sự lãnh đạo của Đảng trong thực hiện quyền tư pháp ở Việt Nam

(LLCT) - Sự lãnh đạo của Đảng với việc thực hiện quyền tư pháp là nhân tố bảo đảm tính thống nhất của quyền lực nhà nước, bảo đảm tính khách quan, công bằng của hoạt động tư pháp. Trên cơ sở phân tích vai trò lãnh đạo của Đảng trong thực hiện quyền tư pháp ở Việt Nam, bài viết đánh giá thực trạng và đề xuất giải pháp hoàn thiện các điều kiện bảo đảm sự lãnh đạo của Đảng trong thực hiện quyền tư pháp, đáp ứng yêu cầu tiếp tục xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong giai đoạn mới.

1. Vai trò lãnh đạo của Đảng trong thực hiện quyền tư pháp ở Việt Nam

Ở Việt Nam, Đảng lãnh đạo thực hiện quyền tư pháp, qua đó bảo đảm sự phối hợp và phát huy sức mạnh tổng hợp của các cơ quan quyền lực nhà nước và cả hệ thống chính trị, tạo điều kiện cho tòa án và các cơ quan tham gia thực hiện quyền tư pháp theo đúng đường lối chính trị của Đảng, hoàn thành mọi nhiệm vụ. Sự lãnh đạo của Đảng đối với việc thực hiện quyền tư pháp có tính chất toàn diện, bao gồm các mặt chính trị, tư tưởng, tổ chức cán bộ. Đảng lãnh đạo việc thực hiện quyền tư pháp không dùng mệnh lệnh hành chính, mà phát huy dân chủ, đề cao tính đảng, tính chủ động và trách nhiệm của tổ chức đảng, đảng viên trong tòa án thực hiện các chủ trương, nghị quyết của Đảng. Thông qua hệ thống tổ chức đảng và đảng viên, Đảng tác động đến cá nhân, tổ chức có liên quan, qua đó tác động đến toàn xã hội. Đảng lãnh đạo, quy tụ sức mạnh toàn dân tộc để đưa các chủ trương, đường lối của Đảng về tư pháp, cải cách tư pháp và thực hiện quyền tư pháp đi vào đời sống xã hội.

Vai trò lãnh đạo của Đảng đối với việc thực hiện quyền tư pháp được thể hiện trên các phương diện sau:

(1) Thúc đẩy việc thực hiện quyền tư pháp tiến hành đồng bộ với thực hiện quyền lập pháp và quyền hành pháp; đẩy mạnh cải cách tư pháp, bảo đảm tính độc lập của tòa án theo thẩm quyền xét xử, thẩm phán và hội thẩm xét xử độc lập và chỉ tuân theo pháp luật;

(2) Xây dựng nền tư pháp chuyên nghiệp, hiện đại, công bằng, nghiêm minh, liêm chính, phụng sự Tổ quốc, phục vụ Nhân dân, bảo vệ công lý, bảo vệ quyền con người, quyền công dân, bảo vệ chế độ XHCN, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của tổ chức, cá nhân(1);

(3) Xây dựng đội ngũ cán bộ tòa án đáp ứng các tiêu chuẩn về chính trị, phẩm chất đạo đức, chuyên môn nghiệp vụ, kinh nghiệm và kiến thức xã hội; để thực hiện tốt các nhiệm vụ, quyền hạn được giao, góp phần thực hiện thắng lợi mục tiêu, phương hướng, nhiệm vụ, cải cách tư pháp đáp ứng yêu cầu xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam;

(4) Phát huy sức mạnh tổng hợp của toàn xã hội trong đấu tranh phòng, chống vi phạm, tội phạm; trong đó tòa án - cơ quan thực hiện quyền tư pháp là chỗ dựa vững chắc của nhân dân trong bảo vệ công lý, quyền con người và giải quyết tranh chấp; bảo đảm sự giám sát của Quốc hội, hội đồng nhân dân các cấp và nhân dân đối với hoạt động thực hiện quyền tư pháp.

2. Thực trạng điều kiện bảo đảm sự lãnh đạo của Đảng trong việc thực hiện quyền tư pháp

Điều kiện bảo đảm sự lãnh đạo của Đảng trong việc thực hiện quyền tư pháp được hiểu là tập hợp những yếu tố có mối quan hệ biện chứng với nhau, làm tiền đề, cơ sở không thể thiếu để Đảng lãnh đạo việc thực hiện quyền tư pháp đáp ứng yêu cầu xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam. Nội dung của các điều kiện bảo đảm sự lãnh đạo của Đảng trong việc thực hiện quyền tư pháp ở Việt Nam gồm: điều kiện chính trị, điều kiện pháp lý, điều kiện kinh tế, điều kiện văn hóa - xã hội, điều kiện nguồn nhân lực. Các điều kiện trên có mối liên hệ chặt chẽ với nhau, bảo đảm sự lãnh đạo của Đảng trong việc thực hiện hiệu quả quyền tư pháp.

Những kết quả đạt được

Thứ nhất, điều kiện chính trị là tiền đề bảo đảm sự lãnh đạo của Đảng trong việc thực hiện quyền tư pháp, đáp ứng yêu cầu Đảng không buông lỏng lãnh đạo, không bao biện làm thay, bảo đảm nguyên tắc thẩm phán và hội thẩm độc lập xét xử, chỉ tuân theo pháp luật. Theo đó, chế độ nhất nguyên chính trị và nền tảng tư tưởng của Đảng là chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; đường lối chính trị đúng đắn; phương thức lãnh đạo phù hợp đóng vai trò quan trọng bảo đảm sự lãnh đạo của Đảng trong việc thực hiện quyền tư pháp ở Việt Nam trong thời gian qua.

Thứ hai, điều kiện văn hóa - xã hội, trong đó có văn hóa chính trị, văn hóa Đảng, văn hóa lãnh đạo... là nguồn sức mạnh, nhân tố quan trọng trong xây dựng văn hóa lãnh đạo của Đảng. Thông qua đề cao các giá trị văn hóa, Đảng lãnh đạo việc thực hiện quyền tư pháp hướng đến mục tiêu bảo đảm công lý, bảo vệ quyền con người, quyền công dân; truyền thống văn hóa, lịch sử tốt đẹp của dân tộc - những điều kiện quan trọng quyết định hiệu quả của đường lối, chủ trương về tư pháp, cải cách tư pháp của Đảng.

Nhờ phát huy bản chất tốt đẹp của văn hóa là liêm chính, đạo đức và các yêu cầu khách quan của công tác xây dựng Đảng, trong quá trình lãnh đạo thực hiện quyền tư pháp, Đảng đã triển khai hiệu quả chủ trương phòng, chống tham nhũng, tiêu cực trong hoạt động điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án, qua đó vừa nâng cao chất lượng xét xử, vừa phát triển sự đoàn kết, thống nhất trong Đảng, đồng thời góp phần củng cố niềm tin của nhân dân với Đảng, Nhà nước và với sự nghiêm minh, công bằng của nền tư pháp.

Thứ ba, thời gian qua, hệ thống pháp luật được xây dựng và ngày càng hoàn thiện, làm cơ sở pháp lý quan trọng, điều kiện bảo đảm sự lãnh đạo của Đảng trong việc thực hiện quyền tư pháp. Hiến pháp năm 2013 quy định vị trí pháp lý, chức năng, nhiệm vụ, cơ cấu tổ chức, nguyên tắc tổ chức và hoạt động của tòa án nhân dân - làm cơ sở hiến định để Đảng lãnh đạo thực hiện quyền tư pháp hiệu quả. Sau 15 năm thực hiện Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 02-6-2005 của Bộ Chính trị về chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020, hệ thống pháp luật về hình sự, dân sự và tố tụng tư pháp đã khá đầy đủ với gần 70 đạo luật, cơ bản thể chế hóa chủ trương của Đảng về lãnh đạo thực hiện quyền tư pháp(2).

Thứ tư, bảo đảm điều kiện kinh tế qua đó tạo nguồn tài chính, cơ sở vật chất phục vụ quá trình hiện thực hóa chủ trương, đường lối của Đảng, nghiên cứu, xây dựng chính sách, pháp luật của Nhà nước, nhất là đổi mới cơ chế phân bổ ngân sách cho tòa án, hiện đại hóa trụ sở làm việc, ứng dụng công nghệ thông tin, xây dựng tòa án điện tử, xây dựng chế độ làm việc, chính sách đãi ngộ hợp lý cho đội ngũ cán bộ, đảng viên làm công tác tham mưu cho Đảng về lĩnh vực tư pháp, nội chính, đội ngũ cán bộ, đảng viên là thẩm phán và các chức danh tư pháp trong tòa án.

Thứ năm, chú trọng phát triển nguồn nhân lực cả về số lượng và chất lượng, xây dựng đội ngũ cán bộ, đảng viên trong các cơ quan tư pháp vững mạnh, có đức, có tài. Trong các nhiệm kỳ Đại hội Đảng gần đây, việc lựa chọn, giới thiệu đảng viên ưu tú, có đủ phẩm chất, năng lực, bản lĩnh và uy tín để bổ nhiệm vào các vị trí chủ chốt trong các cơ quan tư pháp đã được Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư đặc biệt quan tâm. Trình độ chuyên môn và năng lực công tác của đội ngũ cán bộ, đảng viên làm thẩm phán tại các tòa án ngày càng được nâng cao.

Một số hạn chế

Thứ nhất, ở một số cấp ủy, tổ chức đảng, vai trò lãnh đạo của Đảng trong việc thực hiện quyền tư pháp chưa được nhận thức thống nhất, đầy đủ; phương thức lãnh đạo của Đảng đối với việc thực hiện quyền tư pháp chậm đổi mới, chưa kịp thời phát hiện sai phạm của cán bộ, đảng viên có chức danh tư pháp để xử lý, uốn nắn, chấn chỉnh; sự phối hợp trong công việc giữa cấp ủy, tổ chức đảng tòa án với ban cán sự đảng, cấp ủy, chính quyền địa phương đôi khi còn lúng túng.

Thứ hai, vai trò động lực nội sinh của văn hóa chưa được chú trọng trong quá trình tổ chức thực hiện một số chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng về tư pháp. Môi trường văn hóa có nhiều diễn biến phức tạp; đạo đức, lối sống xã hội xuống cấp; tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống của một bộ phận cán bộ, đảng viên vẫn diễn ra; trong đội ngũ thẩm phán có một số cán bộ có biểu hiện lệch chuẩn, nhất là vấn đề liêm chính tư pháp.

Thứ ba, hệ thống quy định pháp luật và các điều kiện về pháp lý chưa toàn diện, thống nhất; còn thiếu một số quy định cụ thể hóa sự lãnh đạo của Đảng trong việc thực hiện quyền tư pháp, nhất là chủ trương phòng, chống tiêu cực trong lĩnh vực xét xử.

Thứ tư, đổi mới kinh tế chưa theo kịp đổi mới chính trị. Một số chủ trương của Đảng về thực hiện quyền tư pháp chưa được thực hiện trên thực tế vì điều kiện kinh tế chưa phù hợp. Một số chủ trương chưa được đánh giá tác động về kinh tế thấu đáo nên khi triển khai thực hiện còn lúng túng, thậm chí không thể triển khai; cơ sở vật chất còn sơ sài, chế độ của thẩm phán, hội thẩm còn thấp, chưa đáp ứng được yêu cầu chủ động thực hiện chức năng, nhiệm vụ của tòa án nhân dân.

Thứ năm, nguồn nhân lực làm công tác đảng và các chức danh tư pháp còn một số hạn chế. Hoạt động kiểm soát chất lượng đào tạo luật chưa được chú trọng; công tác bồi dưỡng kiến thức và lý luận chính trị còn chưa thực chất.

Nguyên nhân của hạn chế

Thứ nhất, tầm quan trọng của việc hoàn thiện điều kiện chính trị, kinh tế, văn hóa - xã hội, pháp lý, nguồn nhân lực nhằm bảo đảm sự lãnh đạo, cầm quyền của Đảng trong việc thực hiện quyền tư pháp chưa được nhận thức đầy đủ, toàn diện.

Thứ hai, công tác nghiên cứu lý luận chính trị, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng được quan tâm, đẩy mạnh, song chưa có biện pháp hữu hiệu trong đấu tranh phản bác các luận điệu xuyên tạc đòi tổ chức tòa án theo nguyên tắc tam quyền phân lập; đòi phi chính trị đối với tòa án... Bên cạnh đó, công tác đánh giá tác động về điều kiện kinh tế - xã hội, chính trị - pháp lý của Việt Nam chưa sát thực tế nên một số chủ trương của Đảng về cải cách tư pháp chậm đi vào cuộc sống.

Thứ ba, chưa có biện pháp thúc đẩy, phát huy truyền thống tốt đẹp của dân tộc, văn hóa pháp lý XHCN; các yếu tố môi trường văn hóa, đạo đức, lối sống, chuẩn mực văn hóa trong ứng xử và giải quyết công việc chưa được đề cao.

Thứ tư, các điều kiện pháp lý bảo đảm tổ chức thực hiện pháp luật với tinh thần “pháp luật bất vi thân” còn bị xem nhẹ. Nhiều vấn đề liên quan đến mối quan hệ giữa Đảng lãnh đạo và tòa án xét xử theo pháp luật chưa được thể chế hóa nên một số cấp ủy, tổ chức đảng còn lúng túng trong lãnh đạo việc thực hiện quyền xét xử.

Thứ năm, nhận thức về đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng chưa sâu sắc, việc ban hành chủ trương, đường lối chưa gắn với công tác kiểm tra, giám sát của Đảng; hoạt động kiểm soát quyền lực đối với việc thực hiện quyền tư pháp còn hình thức; hiệu quả công tác tự kiểm tra, giám sát của tòa án còn thấp.

3. Giải pháp hoàn thiện điều kiện bảo đảm sự lãnh đạo của Đảng trong việc thực hiện quyền tư pháp ở Việt Nam

Một là, thống nhất nhận thức của các cấp ủy, tổ chức đảng, cán bộ, đảng viên về sự lãnh đạo của Đảng trong thực hiện quyền tư pháp ở Việt Nam hiện nay. Tăng cường công tác nghiên cứu lý luận, tổng kết thực tiễn về sự lãnh đạo của Đảng trong việc thực hiện quyền tư pháp; đổi mới phương pháp tuyên truyền, phổ biến chủ trương, chính sách của Đảng; phát huy vai trò của công tác tham mưu chiến lược trong các cơ quan Đảng Trung ương, Ban Nội chính Trung ương, Tòa án nhân dân tối cao nhằm đổi mới tư duy lý luận của Đảng, cung cấp kịp thời luận cứ khoa học cho việc hoạch định đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước và ngày càng sát thực tiễn.

Để thúc đẩy nghiên cứu khoa học lý luận chính trị làm cơ sở cho sự lãnh đạo của Đảng trong việc thực hiện quyền tư pháp, cần nhận thức sâu sắc về chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, nắm vững giá trị tinh túy của các luận điểm kinh điển Mác - Lênin về tư pháp, hoạt động tư pháp và phương thức lãnh đạo, các điều kiện bảo đảm sự lãnh đạo.

Hai là, tiếp tục đổi mới việc ban hành và tổ chức thực hiện đường lối, chủ trương, định hướng lãnh đạo trong việc thực hiện quyền tư pháp. Đề cao tính chủ động, sáng tạo của tòa án nhân dân trong việc tham mưu, đề xuất với các cơ quan lãnh đạo của Đảng trong việc ban hành đường lối, chủ trương có liên quan đến việc thực hiện quyền tư pháp, góp phần xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam. Nâng cao năng lực dự báo, tầm nhìn chiến lược trong đề ra đường lối, chủ trương; tiếp tục hoàn thiện nội dung lãnh đạo của Đảng trong thực hiện quyền tư pháp, trong đó, cần có sự phân định rõ thẩm quyền, trách nhiệm của mỗi tổ chức và cá nhân trong các cơ quan đảng, nhà nước và tòa án nhân dân, tăng cường kiểm soát việc thực thi quyền lực nhà nước của cán bộ, đảng viên.

Đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng trong việc thực hiện quyền tư pháp: bảo đảm tính độc lập, nhất quán, tuân thủ quy trình tố tụng của các hoạt động điều tra, truy tố, xét xử. Trong đó, chú trọng đến tính nghiêm minh, công bằng, độc lập trong xét xử, bảo đảm xét xử đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, không oan, sai, không bỏ lọt tội phạm. Cấp ủy đảng không trực tiếp can thiệp vào công tác xét xử, không quyết định tội danh cũng như khung hình phạt.

Tiếp tục hoàn thiện sự lãnh đạo của Đảng đối với việc giải quyết các vụ án, vụ việc trọng điểm, phức tạp và những vấn đề quan trọng phát sinh trong hoạt động tư pháp; Bộ Chính trị tiếp tục lãnh đạo công tác cải cách tư pháp thông qua kiện toàn Ban Chỉ đạo cải cách tư pháp Trung ương; đổi mới phương thức lãnh đạo của Bộ Chính trị với Ban cán sự đảng Tòa án nhân dân tối cao trong công tác cán bộ và công tác kiểm tra. Quá trình kiểm tra cần dựa vào tổ chức đảng, cán bộ, đảng viên và nhân dân; đối với những nội dung kiểm tra mang tính chuyên môn, phải bảo đảm tính chính xác, không can thiệp đến nguyên tắc độc lập xét xử và chỉ tuân theo quy định của pháp luật. Tăng cường phối hợp kiểm tra của cấp ủy với hoạt động tự kiểm tra; xây dựng cơ chế giám sát xã hội phối hợp với kiểm tra của cấp ủy trong quá trình thực hiện quyền tư pháp; tiếp tục hoàn thiện cơ chế kiểm tra, giám sát của Đảng, tập trung phòng, chống suy thoái tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, xử lý nghiêm cán bộ, đảng viên thuộc tòa án nhân dân và trong các cơ quan tư pháp có biểu hiện suy thoái, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”.

Ba là, hoàn thiện điều kiện pháp lý bảo đảm sự lãnh đạo của Đảng trong việc thực hiện quyền tư pháp: thể chế hóa các chủ trương, đường lối, sự lãnh đạo của Đảng về thực hiện quyền tư pháp thành pháp luật của Nhà nước; thể chế hóa, biến các nguyên tắc chung thành các điều luật, quy định một cách rõ ràng, cụ thể và minh bạch; cần tiến hành các giải pháp đột phá xây dựng và hoàn thiện pháp luật nhằm bảo đảm sự lãnh đạo của Đảng trong việc thực hiện quyền tư pháp.

Bốn là, hoàn thiện điều kiện văn hóa - xã hội bảo đảm sự lãnh đạo của Đảng trong thực hiện quyền tư pháp

(i) Phát triển văn hóa, xã hội hài hòa và ngang tầm với phát triển kinh tế, nâng cao đời sống tinh thần, đề cao các giá trị văn hóa, bảo đảm phát triển bền vững các mục tiêu của Đảng, trong đó có mục tiêu xây dựng nền tư pháp. Đề cao giá trị văn hóa góp phần khơi nguồn sáng tạo, nâng cao chất lượng lãnh đạo thực hiện quyền tư pháp. Ưu tiên phát triển văn hóa để phát huy tính tích cực chính trị, chủ động, tự giác của đảng viên. Đây là biện pháp vừa bảo đảm sự lãnh đạo của Đảng trên nền tảng văn hóa, lãnh đạo việc thực hiện quyền tư pháp trên cơ sở tôn trọng tính độc lập trong xét xử của thẩm phán và hội thẩm nhân dân; đồng thời bảo đảm sự tự giác tuân thủ của thẩm phán, hội thẩm nhân dân đối với sự lãnh đạo của Đảng;

(ii) Xây dựng văn hóa đảng, văn hóa liêm chính, tăng cường công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng. Tiếp tục phát huy truyền thống văn hóa, lịch sử dân tộc, lịch sử Đảng trong quá trình lãnh đạo thực hiện quyền tư pháp. Tiếp thu nền văn minh nhân loại để làm giàu thêm văn hóa Việt Nam, nhất là văn hóa công vụ, văn hóa đảng và trực tiếp ở đây là văn hóa xét xử. Các cấp ủy, tổ chức đảng trong các cơ quan từ Trung ương đến địa phương, nhất là trong các cơ quan tư pháp cần xây dựng kế hoạch chính xác và tổ chức thực hiện nghiêm túc;

(iii) Tiếp tục đẩy mạnh việc học tập, làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh;

(iv) Kiên quyết đấu tranh chống quan liêu, tham nhũng, lợi dụng chức vụ, quyền hạn được giao để tư lợi, làm sai lệch hồ sơ vụ việc, tiếp tay cho các đối tượng chạy án, làm suy giảm niềm tin của nhân dân đối với các cơ quan tư pháp.

Năm là, hoàn thiện điều kiện kinh tế bảo đảm sự lãnh đạo của Đảng trong việc thực hiện quyền tư pháp. Bố trí đủ nguồn lực tài chính cho các hoạt động nghiên cứu lý luận, tổng kết thực tiễn về sự lãnh đạo của Đảng trong thực hiện quyền tư pháp. Bảo đảm chế độ đãi ngộ đặc thù cho cán bộ làm công tác tham mưu cho Đảng về cải cách tư pháp; thu hút và giữ chân được người có năng lực làm công tác tham mưu tại các Ban Đảng và Tòa án,...; Đánh giá tổng thể chủ trương hỗ trợ kinh phí của địa phương cho các Tòa án; Đổi mới cơ chế phân bổ ngân sách, đầu tư cơ sở vật chất và phương tiện làm việc cho Tòa án nhân dân, thẩm phán và các chức danh tư pháp trong tòa án nhân dân tương xứng với yêu cầu nhiệm vụ.

Sáu là, hoàn thiện điều kiện nguồn nhân lực, xác định “xây dựng và phát triển nhân tài tư pháp với tư cách là phát triển một loại nhân tài pháp luật”(3). Cần xác định rõ cơ chế phối hợp giữa các cơ sở đào tạo các chức danh tư pháp của Học viện Tư pháp, Học viện Tòa án, Trường Đại học Kiểm sát, Học viện Cảnh sát nhân dân, Học viện An ninh nhân dân để phân định chương trình đào tạo, chuẩn đầu ra cho từng cơ sở đào tạo, nhất là trong đào tạo 3 chung; xây dựng và hoàn thiện chính sách pháp luật về nhân lực tư pháp quốc gia; triển khai đề án tăng cường kiểm soát chất lượng đào tạo cử nhân luật; chú trọng giáo dục lý luận chính trị, trang bị kiến thức lịch sử Việt Nam và thế giới gắn với sự hình thành, phát triển quan điểm của Đảng và pháp luật của Nhà nước về các lĩnh vực của đời sống; tăng cường giáo dục liêm chính cho cán bộ, học viên, sinh viên, góp phần đào tạo ra những luật gia, luật sư, cán bộ tư pháp giỏi.

st

  Xây dựng Đảng về đạo đức là một trong những nhiệm vụ quan trọng của công tác xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh, được Đảng ta đề cao, thường xuyên quan tâm và đã đạt được nhiều kết quả quan trọng. Bài viết làm rõ các yếu tố tác động đến đạo đức của Đảng; đề xuất một số giải pháp bảo vệ, hoàn thiện đạo đức của Đảng theo yêu cầu phát triển của thời đại. Bài viết là kết quả nghiên cứu của đề tài khoa học và công nghệ cấp quốc gia mã số KX.02.11/21 - 25.

. Mở đầu

Đạo đức của Đảng Cộng sản Việt Nam là đạo đức cách mạng. Đó là các nguyên tắc, quy tắc, chuẩn mực, tiêu chuẩn điều chỉnh tổ chức, hoạt động của Đảng và đảng viên có tính lan tỏa, định hướng đạo đức xã hội nhằm thực hiện mục tiêu, lý tưởng của Đảng; được thấm sâu trong chính trị, tư tưởng và tổ chức của Đảng và chính trị, tư tưởng, tổ chức phải được thực hiện, điều chỉnh một cách có đạo đức, hòa quyện một cách tự nhiên vào đạo đức. Đạo đức đó được thể hiện qua tổ chức đảng và cá nhân thành viên của Đảng (đảng viên).

2. Khái quát về đạo đức của Đảng Cộng sản Việt Nam

Về phương diện đạo đức của tổ chức: Các chuẩn mực cơ bản thể hiện đạo đức của Đảng Cộng sản Việt Nam được khẳng định ngay trong Cương lĩnh chính trị, Điều lệ Đảng, nghị quyết; trong tổ chức, hoạt động lãnh đạo cách mạng và kết quả trong thực tiễn của Đảng. Đó là:

Thứ nhất, về bản chất, mục đích, lý tưởng của Đảng Cộng sản Việt Nam

Từ khi thành lập đến nay, Điều lệ Đảng luôn khẳng định: “Đảng Cộng sản Việt Nam là đội tiên phong của giai cấp công nhân, đồng thời là đội tiên phong của nhân dân lao động và của dân tộc Việt Nam; đại biểu trung thành lợi ích của giai cấp công nhân, của nhân dân lao động và của dân tộc.

Mục đích của Đảng là xây dựng nước Việt Nam độc lập, dân chủ, giàu mạnh, xã hội công bằng, văn minh, không còn người bóc lột người, thực hiện thành công chủ nghĩa xã hội và cuối cùng là chủ nghĩa cộng sản”. “Đảng kết hợp chủ nghĩa yêu nước chân chính với chủ nghĩa quốc tế trong sáng của giai cấp công nhân, góp phần tích cực vào sự nghiệp hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội của nhân dân thế giới”. Đây là những vấn đề có tính cốt lõi về đạo đức của Đảng Cộng sản Việt Nam. Lợi ích của Đảng chính là lợi ích của nhân dân, của quốc gia, của dân tộc, ngoài ra Đảng không có lợi ích nào khác. Điều đó không chỉ nằm ở Cương lĩnh chính trị, Điều lệ Đảng mà được Đảng ta hiện thực hóa trong thực tiễn lãnh đạo cách mạng.

Thứ hai, về nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho mọi hành động của Đảng Cộng sản Việt Nam

Đảng Cộng sản Việt Nam “lấy chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động, phát huy truyền thống tốt đẹp của dân tộc, tiếp thu tinh hoa trí tuệ của nhân loại, nắm vững quy luật khách quan, xu thế thời đại và thực tiễn của đất nước để đề ra Cương lĩnh chính trị, đường lối cách mạng đúng đắn, phù hợp với nguyện vọng của nhân dân”.

Nền tảng tư tưởng đó không chỉ khẳng định bản chất giai cấp công nhân, mà còn là đạo đức, văn minh của Đảng ta. Trên cơ sở kiên định, vận dụng, phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, tinh hoa văn hóa nhân loại được tiếp thu, vận dụng, phát triển sáng tạo phù hợp với đặc điểm chính trị, văn hóa - xã hội và kinh tế Việt Nam từng giai đoạn lịch sử cách mạng; truyền thống yêu nước, tinh thần đoàn kết toàn dân tộc được phát huy, Đảng ta đã có những đường lối, chủ trương cũng như phương pháp lãnh đạo đúng dắn, phù hợp với thực tiễn cách mạng Việt Nam. Đảng đã đưa cách mạng Việt Nam đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác với mục tiêu hướng tới là tất cả vì độc lập, tự do của Tổ quốc, của dân tộc; vì hạnh phúc của nhân dân; độc lập dân tộc gắn liền với CNXH.

Thứ ba, tổ chức chặt chẽ, thống nhất ý chí và hành động; kỷ luật nghiêm minh, luôn tự phê bình và phê bình trên cơ sở Cương lĩnh chính trị, Điều lệ Đảng, Hiến pháp và pháp luật Nhà nước để xây dựng mối đoàn kết, thống nhất, xây dựng tình thương yêu đồng chí, đồng bào

Đảng được tổ chức chặt chẽ, khoa học theo nguyên tắc tập trung dân chủ, thiểu số phục tùng đa số, cấp dưới phục tùng cấp trên, các tổ chức trong toàn Đảng phục tùng Đại hội đại biểu toàn quốc và Ban Chấp hành Trung ương; tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách; đảng viên có ý khác được bảo lưu và báo cáo lên cấp ủy cấp trên cho đến Đại hội đại biểu toàn quốc, nhưng phải chấp hành nghiêm chỉnh nghị quyết, không được truyền bá ý kiến trái với nghị quyết, cấp ủy các cấp không được phân biệt đối xử với đảng viên có ý kiến khác. Những nguyên tắc đó đã làm cho Đảng ta có tổ chức chặt chẽ, thống nhất, có kỷ cương mà rất dân chủ, phát huy được trí tuệ tập thể và vai trò cá nhân; tạo ra sự thống nhất về ý chí và hành động, đoàn kết vì mục đích chung, đấu tranh có hiệu quả với âm mưu, thủ đoạn chống phá từ bên ngoài; phòng ngừa, ngăn chặn, đẩy lùi các nguy cơ từ nội bộ Đảng. Đó cũng là đạo đức, văn minh trong tổ chức và hoạt động của Đảng ta.

Kỷ luật nghiêm minh theo nguyên tắc tự phê bình và phê bình trên cơ sở Cương lĩnh chính trị, Điều lệ Đảng, Hiến pháp và pháp luật Nhà nước đã tạo sự đoàn kết, thống nhất trong Đảng, là yếu tố quan trọng trong xây dựng, bảo vệ, hoàn thiện đạo đức của Đảng. Thực hiện nghiêm túc, hiệu quả nguyên tắc tự phê bình và phê bình sẽ loại bỏ được tư tưởng chủ quan, thỏa mãn, tự cao, tự đại; phòng ngừa vi phạm khuyết điểm của bản thân mình và đồng chí mình; xây dựng, củng cố tình thương yêu đồng chí; làm cho mỗi cán bộ, đảng viên và toàn Đảng ngày càng hoàn thiện đạo đức cách mạng, từ đó lan tỏa tạo ra đoàn kết, đồng thuận trong xã hội, làm nòng cốt cho việc phát huy truyền thống đoàn kết, yêu nước của toàn dân tộc. Chính vì vậy, Đảng ta có uy tín cao trong nhân dân, được nhân dân tin tưởng tuyệt đối, một lòng, một dạ theo Đảng.

Thứ tư, gần dân, quan hệ mật thiết, gắn bó máu thịt với nhân dân, phát huy quyền làm chủ của nhân dân; lấy nhân dân làm trung tâm của mọi chủ trương, chính sách; tin tưởng nhân dân, dựa vào nhân dân để xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh

Đây là đặc điểm nổi bật, quý báu của Đảng Cộng sản Việt Nam. Đặc điểm này tiếp tục khẳng định lợi ích của Đảng chính là lợi ích của nhân dân; Đảng Cộng sản Việt Nam là tổ chức chính trị “chí công vô tư”, tổ chức, hoạt động của Đảng là vì nhân dân; mọi quyết sách của Đảng đều xuất phát từ quyền lợi của quốc gia, dân tộc và của nhân dân. Quan hệ giữa Đảng với nhân dân là mật thiết, máu thịt; Đảng lãnh đạo nhân dân và nhân dân là chỗ dựa tin cậy, vững chắc của Đảng; Đảng luôn tồn tại trong lòng nhân dân, dù bất cứ hoàn cảnh nào thì “Có dân, có Đảng đêm ngày vẫn vui”. Đó không chỉ là công tác lãnh đạo phong trào nhân dân của Đảng ta mà còn là đạo đức, đó là coi nhân dân là gốc, mọi hoạt động của Đảng đều hướng tới phát huy phương châm “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng”. Mọi hoạt động của Đảng và của cán bộ, đảng viên được đánh giá trên cơ sở sự hài lòng và tín nhiệm của nhân dân; Đảng dựa vào dân và nhân dân tham gia giám sát để xây dựng Đảng ngày càng trong sạch, vững mạnh về chính trị, tư tưởng, đạo đức và tổ chức.

Thứ năm, nêu gương - phẩm chất mang đậm bản sắc của một đảng cách mạng chân chính và của đạo đức cách mạng

Nêu gương là phương pháp quan trọng, hiệu quả đối với sự hình thành đạo đức xã hội nói chung và đạo đức cách mạng nói riêng; đó không chỉ là phương thức lãnh đạo mà còn là “đạo đức, văn minh” của Đảng Cộng sản Việt Nam.

Trong hơn 90 năm lãnh đạo cách mạng, Đảng Cộng sản Việt Nam mà trực tiếp là hầu hết các cấp ủy, tổ chức đảng và phần lớn cán bộ, đảng viên của Đảng luôn nêu gương đi đầu trong phong trào cách mạng, thể hiện rõ vai trò hạt nhân chính trị, có sức lan tỏa trong toàn bộ hệ thống chính trị và trong xã hội, trong nhân dân. Khi cấp ủy, tổ chức đảng cũng như cán bộ, đảng viên là tấm gương sáng vì nước, vì dân, vì sự phát triển bền vững của đất nước, của cộng đồng xã hội thì sẽ lan tỏa, truyền cảm hứng mạnh mẽ trong nhân dân; đồng thời làm cho chính quyền, các tổ chức chính trị - xã hội cũng trong sạch, vững mạnh. Điều đó không chỉ nâng cao hiệu lực, hiệu quả lãnh đạo của Đảng, mà còn làm cho nhân dân tin tưởng hơn vào tổ chức Đảng, tin tưởng hơn vào đường lối, chủ trương, sự lãnh đạo của Đảng, từ đó đồng lòng, đồng tâm, đồng sức cùng Đảng thực hiện thắng lợi sự nghiệp xây dựng đất nước phồn vinh, hạnh phúc và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam XHCN.

Về phương diện đạo đức đảng viên: Căn cứ Khoản 1, Điều 1 và Điều 2, Điều lệ Đảng Cộng sản Việt Nam cũng như các quy định trong các văn bản hiện hành của Trung ương và các quy định của pháp luật, có thể rút ra những chuẩn mực đạo đức cơ bản của người đảng viên:

Một là, kiên định với nền tảng tư tưởng của Đảng; tuyệt đối trung thành và suốt đời phấn đấu cho mục đích, lý tưởng của Đảng; chấp hành nghiêm chỉnh Cương lĩnh chính trị, Điều lệ Đảng, nghị quyết, chỉ thị, quy định của Đảng, pháp luật của Nhà nước.

Hai là, phục tùng tuyệt đối sự phân công và điều động của Đảng; sẵn sàng nhận và hoàn thành tốt bất cứ việc gì Đảng giao trong bất cứ hoàn cảnh nào; tận tụy, sáng tạo trong lao động, công tác; dám nghĩ, dám nói, dám làm, dám chịu trách nhiệm vì lợi ích chung; biết sai, biết sửa sai và quyết tâm sửa sai.

Ba là, đặt lợi ích của quốc gia, dân tộc, của Đảng, của nhân dân lên trên hết, trước hết; cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư, kiên quyết chống chủ nghĩa cá nhân và nói không với cục bộ, bản vị ngay trong bản thân mình và với người khác; nói không và kiên quyết đấu tranh với những việc làm sai đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước và những tiêu cực khác phương hại đến lợi ích quốc gia, dân tộc, quyền và lợi ích hợp pháp của nhân dân.

Bốn là, có lối sống lành mạnh; ứng xử văn hóa, văn minh trong công việc cũng như trong giao tiếp xã hội; gần gũi, tôn trọng, bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng của nhân dân, nhất là trong những công việc, lĩnh vực mình được phân công phụ trách, giải quyết.

Năm là, gương mẫu đi đầu trong các phong trào hành động cách mạng, phong trào thi đua yêu nước, trong chấp hành pháp luật, pháp quy của Nhà nước, nội quy, quy định của địa phương, cơ quan, đơn vị. Chấp hành nghiêm quy định về những điều đảng viên không được làm và các quy định của Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư về nêu gương.

Sáu là, nghiêm túc, khách quan, trung thực, cầu thị trong tự phê bình và phê bình; tự giác tuân thủ kỷ luật của Đảng, pháp luật của Nhà nước, điều lệ, quy chế, quy định của tổ chức, cơ quan, địa phương; thường xuyên “tự soi, tự sửa”, biết lỗi và biết khắc phục lỗi lầm; luôn có ý thức và hành động trong xây dựng mối đoàn kết, thống nhất trong Đảng, trong cơ quan, đơn vị và ở khu dân cư.

Đó là yêu cầu, tiêu chuẩn, nhiệm vụ và là những phẩm chất quan trọng, cốt lõi về đạo đức cách mạng của người đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam. Có những phẩm chất đó, người cán bộ, đảng viên sẽ phòng tránh được nguy cơ chệch hướng, suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống; vững vàng trước mọi thử thách và những cám dỗ của danh vọng, tiền tài. Người đảng viên sẽ thực sự là tiên phong, là hạt nhân dẫn dắt để “làng nước đi theo”; góp phần rất to lớn trong việc xây dựng, bảo vệ, hoàn thiện đạo đức của Đảng, để Đảng thực hiện hoàn thành sứ mệnh của mình.

Mối quan hệ giữa chuẩn mực đạo đức của tổ chức đảng với chuẩn mực đạo đức của đảng viên

Chuẩn mực đạo đức của tổ chức đảng là bao trùm, là cái chung định hướng cho mọi hoạt động mà mỗi đảng viên của Đảng cần nhận thức và nghiêm túc thực hiện. Ngược lại, chuẩn mực đạo đức của đảng viên có vai trò to lớn, quan trọng quyết định đạo đức của tổ chức đảng. Đạo đức cách mạng của cán bộ, đảng viên không tách rời đạo đức của tổ chức đảng. Đạo đức của tổ chức đảng cũng chính là chuẩn mực chung được thể hiện qua thái độ, hành vi của mỗi cán bộ, đảng viên. Đảng có trong sạch, vững mạnh về chính trị, tư tưởng và tổ chức hay không phần lớn do việc tu dưỡng, rèn luyện đạo đức cách mạng của mỗi cán bộ, đảng viên. Tổ chức đảng thực sự trong sạch, vững mạnh về chính trị, tư tưởng và tổ chức có vai trò quan trọng tác động đến ý thức, trách nhiệm của cán bộ, đảng viên trong tu dưỡng, rèn luyện phẩm chất đạo đức cách mạng. Từng tổ chức đảng và mỗi cán bộ, đảng viên của Đảng thực hiện tốt, hiệu quả các nguyên tắc, chuẩn mực đạo đức thì Đảng là “đạo đức, văn minh”.

3. Các thành tố tạo nên đạo đức của Đảng

Thứ nhất, bản lĩnh chính trị

Bản lĩnh chính trị thể hiện qua sự kiên định và vận dụng, phát triển sáng tạo nền tảng tư tưởng của Đảng, có vai trò cực kỳ quan trọng trong việc hình thành đạo đức chính trị của Đảng. Kiên định, vận dụng, phát triển sáng tạo nền tảng tư tưởng của Đảng sẽ giữ vững bản chất giai cấp công nhân của Đảng, trung thành với tôn chỉ, mục đích lý tưởng đặt ra; tránh được những sai lầm, chệch hướng về đường lối chính trị. Bài học quý báu trong suốt quá trình lãnh đạo cách mạng, đó là, Đảng Cộng sản Việt Nam luôn kiên định, vận dụng, phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh phù hợp với yêu cầu, đặc điểm từng thời kỳ cách mạng. Vì thế, Đảng ta đã lãnh đạo nhân dân đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác, lập nên những thành tựu vẻ vang của dân tộc, đem lại tự do, ấm no, hạnh phúc cho nhân dân.

Không kiên định với nền tảng tư tưởng, không trung thành với tôn chỉ, mục đích sẽ dẫn đến nguy cơ sai lầm về đường lối chính trị, xa rời mục đích lý tưởng. Điều này được minh chứng rõ qua sự sụp đổ của mô hình CNXH ở Liên Xô và các nước Đông Âu. Trong tiến trình thực hiện công cuộc đổi mới đất nước, có một bộ phận cán bộ, đảng viên suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, trong đó có những cán bộ ngả nghiêng, dao động, bên cạnh đó là chiêu bài đòi đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập, đòi xóa bỏ Điều 4 trong Hiến pháp cũng đã tác động tới tâm tư của một bộ phận cán bộ, đảng viên và nhân dân, thậm chí gây ra sự hoài nghi đối với đường lối lãnh đạo của Đảng, ảnh hưởng nghiêm trọng tới đạo đức của Đảng ta. Tại thời điểm những biến cố lịch sử xảy ra, Đảng ta vẫn vững vàng, kiên định chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, chèo lái con thuyền cách mạng Việt Nam vượt qua mọi chông gai, thử thách; thực hiện từng bước, có hiệu quả công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng; tiếp tục đề ra chủ trương, đường lối đúng đắn, phù hợp quy luật khách quan, hợp lòng dân, vững vàng tiến bước trên con đường cách mạng XHCN với những bước đi vững chắc, thu được nhiều thành quả vẻ vang, được thế giới ghi nhận.

Thứ hai, sự tuân thủ nguyên tắc tổ chức, hoạt động và kỷ luật của Đảng

Đảng Cộng sản Việt Nam được tổ chức và hoạt động theo nguyên tắc tập trung dân chủ với kỷ luật chặt chẽ, nghiêm minh. Đây là nguyên tắc cơ bản của đảng cộng sản nói chung và của Đảng Cộng sản Việt Nam nói riêng. Đó là nguyên tắc cơ bản nhất để xây dựng Đảng ta trở thành một tổ chức chính trị chặt chẽ để phát huy thế mạnh, năng lực, trí tuệ của mỗi đảng viên tạo thành sức mạnh tổng hợp của toàn Đảng. Nguyên tắc này chỉ đạo toàn bộ và xuyên suốt quá trình xây dựng tổ chức, sinh hoạt và lãnh đạo của Đảng. Xa rời hoặc vi phạm nguyên tắc tập trung dân chủ là vi phạm một trong những vấn đề cốt lõi, bản chất của Đảng, phá vỡ sự đoàn kết, thống nhất trong Đảng, làm suy yếu vai trò lãnh đạo, cầm quyền của Đảng, làm giảm sút uy tín của Đảng trong nhân dân. “Không thể có một đảng cách mạng chân chính nào mà lại phủ nhận nguyên tắc tập trung dân chủ. Nếu không có tập trung thì Đảng trở thành một tổ chức biệt phái, hỗn độn, một “câu lạc bộ tranh luận”; nếu xa rời dân chủ, Đảng sẽ bị biến thành một tổ chức chuyên quyền, độc đoán, quan liêu”(1). Do vậy, việc tuân thủ nghiêm nguyên tắc tập trung dân chủ của cấp ủy, tổ chức đảng và của mỗi cán bộ, đảng viên có ý nghĩa quan trọng trong xây dựng Đảng vững mạnh về chính trị, tư tưởng, tổ chức và đạo đức. Đảng ta “là đạo đức, là văn minh” khi và chỉ khi nguyên tắc tập trung dân chủ trong tổ chức, sinh hoạt và lãnh đạo của Đảng được thực hiện nghiêm túc; kỷ luật của Đảng được nghiêm minh.

Thứ ba, thực hiện phương thức lãnh đạo của Đảng

Nói đến sự lãnh đạo của Đảng là nói đến vai trò tiên phong, gương mẫu của Đảng trong định hướng, dẫn dắt, thuyết phục nhân dân và các lực lượng xã hội đi theo Đảng và thực hiện mục đích, lý tưởng của Đảng. Sự lãnh đạo đó không phải là sự cưỡng bức, bắt buộc mà thông qua việc xác định đường lối, chủ trương phù hợp nguyên vọng đại đa số nhân dân và thông qua tính tiên phong, gương mẫu của tổ chức đảng và đảng viên để lôi cuốn, hấp dẫn họ.

Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo hệ thống chính trị và toàn xã hội bằng năm phương thức chủ yếu là: “1) Bằng Cương lĩnh, chiến lược, các định hướng lớn về chính sách và chủ trương lớn; 2) Bằng công tác tuyên truyền, thuyết phục, vận động; 3) Bằng công tác tổ chức, cán bộ và thông qua tổ chức đảng và đảng viên hoạt động trong các tổ chức của hệ thống chính trị; 4) Bằng công tác kiểm tra, giám sát; 5) Bằng hành động gương mẫu của đảng viên”(2).

Thực hiện tốt, có hiệu quả các phương thức đó không chỉ đem đến việc hoàn thành mục tiêu, nhiệm vụ do Đảng đề ra, mà còn là thực hiện chuẩn mực đạo đức của Đảng. Khi các chủ trương, nghị quyết của Đảng được xây dựng sát thực tiễn, dân chủ, phù hợp quy luật khách quan; nhiệm vụ của cấp ủy, tổ chức đảng, của tập thể và cá nhân được xác định rõ ràng về thẩm quyền, trách nhiệm; công tác thông tin, tuyên truyền được thực hiện tốt, định hướng được nhân dân, phát huy được vai trò của Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể chính trị - xã hội và nhân nhân; cán bộ, đảng viên thực hiện tốt trách nhiệm nêu gương, nhất là cán bộ lãnh đạo quản lý, người đứng đầu các cấp; công tác kiểm tra, giám sát được thực hiện thường xuyên, sâu sát thì mục tiêu chính trị của Đảng sẽ được thực hiện thành công, hiệu quả. Ngược lại, nếu các phương thức lãnh đạo đó không được thực hiện tốt thì không chỉ niềm tin của nhân dân đối với Đảng sẽ bị giảm sút, mà cũng sẽ dẫn tới sự hoài nghi của cán bộ, đảng viên, là cơ hội cho những kẻ thoái hóa, biến chất trong Đảng trỗi dậy, làm suy đồi đạo đức của Đảng.

4. Các yếu tố tác động đến đạo đức của Đảng

Thứ nhất, chủ nghĩa cá nhân, cục bộ, bản vị

Chủ nghĩa cá nhân, cục bộ, bản vị là yếu tố ảnh hưởng xấu, không chỉ làm băng hoại đạo đức của cá nhân cán bộ, đảng viên mà còn làm suy yếu đạo đức của Đảng. Chủ nghĩa cá nhân, cục bộ, bản vị thường có những biểu hiện cơ bản là: Không quan tâm đến lợi ích chung, làm việc gì cũng chỉ mưu cầu cho lợi ích cá nhân; sống ích kỷ, thực dụng. Háo danh, tự cao, tự đại, thích được ca ngợi, sùng bái bản thân; tham vọng quyền lực, địa vị, thành tích. Thiếu ý thức và trách nhiệm với tập thể; kén chọn chức danh, vị trí công tác; không tận tâm, tận lực với công việc chung, không sẵn sàng hy sinh vì sự nghiệp cách mạng. Thoái thác trách nhiệm; thành tích thì nhận vào, lỗi lầm thì chối bỏ; thiếu trung thực về các khuyết điểm, sai phạm. Ngại va chạm, dĩ hòa vi quý, “thấy đúng không dám bảo vệ”, “thấy sai không dám đấu tranh”; thiếu trung thực trong tự phê bình và phê bình, thậm chí lợi dụng phê bình để nịnh bợ, lấy lòng nhau nhằm mưu cầu lợi ích cho mình. Lợi dụng chức vụ, quyền hạn, vị trí công tác để tham nhũng, nhận hối lộ; để người thân lợi dụng chức vụ, quyền hạn, vị trí công tác của mình để trục lợi; cố ý làm trái các quy chế, quy định, dung túng, bao che, tiếp tay cho tham nhũng, lãng phí, tiêu cực. Cục bộ, bè phái, lợi ích nhóm để chiếm đoạt công quỹ, tạo bè phái gây mất đoàn kết nội bộ. Độc đoán, gia trưởng, quân phiệt, coi thường tập thể; thờ ơ, vô cảm, bàng quan trước những khó khăn, nguyện vọng chính đáng của nhân dân.

Những biểu hiện nêu trên của cán bộ, đảng viên chính là sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức lối sống, ảnh hưởng xấu đến đạo đức và vai trò lãnh đạo của Đảng.

Thứ hai, mặt trái của kinh tế thị trường, sự phát triển của công nghệ thông tin, hội nhập văn hóa

Kinh tế thị trường là sản phẩm, thành quả của nhân loại. Bên cạnh những mặt tích cực, ưu điểm thì kinh tế thị trường cũng có những mặt trái của nó là dễ phá vỡ sự cân đối nền sản xuất xã hội; tạo sự cạnh tranh khốc liệt, độc quyền, buôn bán gian lận, lừa đảo, phân hóa giàu nghèo, thất nghiệp... là một trong những nguyên nhân chính làm băng hoại đạo đức, lối sống, nhân cách con người trong xã hội.

Thực hiện công cuộc đổi mới, xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa đã xuất hiện nhiều cán bộ, đảng viên có tính quyết đoán, năng động, sáng tạo, tự chủ, tự chịu trách nhiệm; đồng thời, là điều kiện thuận lợi để mỗi người rèn luyện, hoàn thiện về phẩm chất đạo đức, lối sống mới tốt đẹp; các năng lực tiềm ẩn trong nhân dân được giải phóng, đời sống các tầng lớp nhân dân được cải thiện từng bước. Qua đó, niềm tin của nhân dân vào Đảng, Nhà nước, vào sự nghiệp đổi mới được củng cố. Đó là điều kiện tốt để chúng ta xây dựng, củng cố, phát triển nhân cách người cán bộ, đảng viên.

Tuy nhiên, mặt trái của nó cũng đã gây ra những tiêu cực, ảnh hưởng không nhỏ đến nhân cách của đội ngũ cán bộ, đảng viên; phân hóa giàu nghèo làm sâu sắc thêm những mâu thuẫn xã hội; nảy sinh những tệ nạn tham nhũng, tội phạm, bạo lực; kích thích chủ nghĩa thực dụng, chủ nghĩa cá nhân, lối sống chạy theo đồng tiền bất chấp đạo lý. Những vấn đề đó đã làm suy thoái tư tưởng chính trị, đạo đức lối sống trong một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên, ảnh hưởng đến đạo đức của Đảng ta.

Công nghệ thông tin, mạng xã hội phát triển đã đem đến nhiều lợi ích trong đời sống chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội. Tuy nhiên, mạng xã hội cũng đã trở thành môi trường để các thế lực thù địch ra sức truyền bá luận điệu sai trái, thông tin xấu độc, phát ngôn gây thù hận, chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân tộc, âm mưu xóa bỏ chế độ XHCN. Một số người lợi dụng mạng xã hội để thoả mãn cái tôi cá nhân, gây sự chú ý của cộng đồng, cố tình làm cho thông tin bị nhiễu loạn, thật giả lẫn lộn... ảnh hưởng xấu đến trật tự, an ninh xã hội. Những vấn đề đó làm cho người sử dụng mạng xã hội, trong đó có cán bộ, đảng viên dễ sinh ra hoài nghi, giảm sút niềm tin vào đường lối lãnh đạo của Đảng, dẫn đến suy thoái tư tưởng chính trị, đi ngược lại lợi ích của Đảng, của quốc gia, dân tộc, của nhân dân.  

Hội nhập quốc tế về văn hóa cũng được Đảng ta coi trọng và đạt được nhiều thành tựu quan trọng. Truyền thống văn hóa của dân tộc được phát huy, lan tỏa, tinh hoa văn hóa nhân loại được tiếp thu; nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc được xây dựng ngày càng hoàn thiện và phát huy hiệu quả trong mọi mặt đời sống chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội. Tuy nhiên, hội nhập về văn hóa cũng có nhiều vấn đề phức tạp, đó là sự du nhập của những văn hóa ngoại lai không lành mạnh, sự non kém trong quản lý hoạt động văn hóa và trong hội nhập văn hóa dẫn đến tình trạng xuống cấp về văn hóa, đạo đức, sự thiếu tôn trọng các chuẩn mực xã hội... Một số giá trị đạo đức tốt đẹp, thiêng liêng vốn có vị trí quan trọng trong hệ giá trị văn hóa truyền thống của dân tộc ta có nguy cơ bị mai một và tha hóa; lối sống tình nghĩa, tương thân, tương ái bị suy giảm; lối sống hẹp hòi, ích kỷ... có xu hướng gia tăng; nhiều giá trị và phong tục tập quán truyền thống tốt đẹp bị coi nhẹ. Những điều kể trên dẫn đến sự suy thoái về phẩm chất đạo đức và lối sống.

Thứ ba, sự chống phá của các thế lực thù địch

Một trong những trọng tâm mà các thế lực thù địch hướng vào chống phá công cuộc xây dựng đất nước theo con đường CNXH của Việt Nam là tìm mọi cách cổ xúy, truyền bá văn hóa, đạo đức, lối sống độc hại phương Tây để làm phai mờ những giá trị văn hóa truyền thống cách mạng tốt đẹp của Việt Nam. Gieo rắc những sản phẩm văn hóa phản động nhằm tác động đến tư tưởng, đạo đức, lối sống, tâm lý, hành vi của một bộ phận nhân dân, nhất là thanh thiếu niên; làm hủy hoại, xói mòn nền tảng và những giá trị đạo đức tốt đẹp của dân tộc; gieo rắc lối sống thực dụng, vụ lợi, vị kỷ, thích hưởng lạc, sa đọa, phi nhân tính. Xuyên tạc đời tư, bôi nhọ, nói xấu lãnh tụ và các lãnh đạo Đảng, Nhà nước để gây hoang mang trong dư luận xã hội hòng hạ bệ uy tín đạo đức của cán bộ lãnh đạo của Đảng.

Thứ tư, thái độ, hiệu quả học tập, rèn luyện, tu dưỡng của cán bộ, đảng viên và công tác giáo dục, kiểm tra, giám sát của tổ chức đảng

Chủ tịch Hồ Chí Minh đã dạy, đạo đức không phải từ trên trời rơi xuống mà được hình thành trong quá trình học tập, tu dưỡng, rèn luyện của mỗi cán bộ, đảng viên và qua công tác giáo dục, kiểm tra, giám sát của tổ chức. Việc mỗi cán bộ, đảng viên thường xuyên có ý thức tự giác tu dưỡng, rèn luyện theo các chuẩn mực đạo đức cách mạng, thực hiện nghiêm túc nhiệm vụ của người đảng viên, chấp hành tốt các quy định về nêu gương là góp phần quan trọng xây dựng, bảo vệ đạo đức của Đảng. Ngược lại, sẽ làm tổn hại thanh danh, đạo đức của Đảng. Thực tế hiện nay, một bộ phận cán bộ, đảng viên, trong đó có một số cán bộ, đảng viên có chức, có quyền thiếu tu dưỡng, rèn luyện đạo đức, có hành vi tham nhũng, lãng phí, hách dịch, cửa quyền, chạy chức, chạy quyền đã và đang làm hoen ố thanh danh, đạo đức của Đảng.

Công tác giáo dục, kiểm tra, giám sát của tổ chức đảng về xây dựng đạo đức của cán bộ, đảng viên có vị trí hết sức quan trọng. Khi công tác giáo dục được thực hiện hiệu quả, công tác kiểm tra, giám sát chặt chẽ thì vừa phát huy tính tự giác trong học tập, tu dưỡng, rèn luyện đạo đức của cán bộ, đảng viên vừa tăng cường kỷ cương, kỷ luật trong học tập, rèn luyện, đồng thời kịp thời phát hiện, uốn nắn những lệch lạc để việc học tập, tu dưỡng, rèn luyện đạo đức của cán bộ, đảng viên hiệu quả hơn, thực chất hơn.

5. Một số giải pháp cơ bản bảo vệ, hoàn thiện đạo đức của Đảng trong giai đoạn hiện nay

Trong bối cảnh thế giới tiếp tục có những biến động phức tạp, khó lường; sự phát triển mạnh mẽ của khoa học công nghệ, nhất là công nghệ số; trước yêu cầu của hội nhập quốc tế sâu rộng; các nguy cơ Đảng ta chỉ ra vẫn còn hiện hữu, có mặt còn gay gắt hơn thì công tác xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh nói chung, xây dựng Đảng ta “là đạo đức, là văn minh” nói riêng là hết sức cần thiết, cấp bách. Trong đó, công tác xây dựng, bảo vệ, hoàn thiện các chuẩn mực đạo đức của Đảng có vai trò quan trọng. Để hoàn thành nhiệm vụ đó, các cấp uỷ, tổ chức đảng và mỗi cán bộ, đảng viên cần thực hiện nghiêm túc, có hiệu quả một số nhiệm vụ, giải pháp sau:

Một là, kiên định, vận dụng, phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh phù hợp với thực tiễn cách mạng và yêu cầu phát triển của Việt Nam. Các cấp ủy, tổ chức đảng có kế hoạch cụ thể, thường xuyên giáo dục, nâng cao bản lĩnh chính trị cho đảng viên, nhất là làm cho đảng viên nắm được những vấn đề cốt lõi về đường lối, chủ trương của Đảng. Đồng thời, từng cán bộ, đảng viên phải nêu cao tinh thần tự giác, tìm hiểu, nghiên cứu, học tập chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước để củng cố bản lĩnh chính trị, kiên định, vững vàng, không dao động trước bất kỳ hoàn cảnh nào hay trước bất kỳ hành động chống phá nào của các thế lực thù địch.

Hai là, xây dựng, củng cố tổ chức đảng vững mạnh, chặt chẽ, có kỷ luật nghiêm minh; mỗi cán bộ, đảng viên thực sự coi trọng, tự giác trong xây dựng tổ chức đảng vững mạnh, xây dựng đoàn kết, nhất trí trong Đảng. Tuân thủ nghiêm các nguyên tắc tổ chức, sinh hoạt của Đảng và các quy định của pháp luật. Thường xuyên tự phê bình và phê bình với tinh thần cầu thị, “tự soi, tự sửa”, dũng cảm nhận sai lầm và kiên quyết khắc phục, sửa chữa lỗi lầm và với tinh thần thương yêu đồng chí, đồng đội, xây dựng đoàn kết, nhất trí trong Đảng để lan toả ra toàn xã hội.

Ba là, xây dựng Đảng thực sự là đội quân tiên phong của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và của dân tộc Việt Nam; là hạt nhân lãnh đạo của hệ thống chính trị. Các cấp ủy, tổ chức đảng, nhất là cấp cơ sở phải đổi mới mạnh mẽ phương thức, nâng cao chất lượng hoạt động để đạt hiệu quả thực chất trong lãnh đạo, chỉ đạo cũng như trong quản lý, rèn luyện, giáo dục cán bộ, đảng viên; gắn bó mật thiết với nhân dân, cầu thị tiếp thu ý kiến của nhân dân về các hoạt động của Đảng và đảng viên. Các cấp ủy, tổ chức đảng và cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ lãnh đạo, người đứng đầu các cấp, các ngành phải thường xuyên quán triệt, tự giác thực hiện nghiêm túc các quy định về nêu gương. Định kỳ 6 tháng cán bộ lãnh đạo, người đứng đầu và 1 năm đối với đảng viên cần phải được kiểm điểm trước chi bộ về kết quả thực hiện nêu gương theo quy định và theo chức trách của mình.

Bốn là, ngăn chặn, đẩy lùi, xóa bỏ chủ nghĩa cá nhân, cục bộ, bản vị trong cán bộ, đảng viên, trước hết là cán bộ lãnh đạo, người đứng đầu các cấp, các ngành. Mỗi cán bộ, đảng viên phải thực sự hiểu rõ, thấm nhuần và kiên quyết, kiên trì thực hiện: cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư; nói đi đôi với làm; dám nghĩ, dám nói, dám làm, dám chịu trách nhiệm, dám đổi mới, sáng tạo, dám đương đầu với mọi khó khăn, thử thách vì sự nghiệp của Đảng, vì lợi ích của nhân dân. Đồng thời, cấp ủy đảng cũng cần có giải pháp để từng cá nhân phát triển mọi khả năng sáng tạo của mình, hài hòa lợi ích chung với lợi ích riêng; quan tâm tới lợi ích cá nhân nhưng kiên quyết chống chủ nghĩa cá nhân. Đấu tranh không khoan nhượng và kiên quyết xử lý nghiêm minh các hành vi lộng hành, thao túng, chủ nghĩa phường hội, lợi ích nhóm, cục bộ, bản vị, chủ nghĩa cơ hội, thực dụng.

Năm là, nâng cao cảnh giác cho cán bộ, đảng viên trước các âm mưu chống phá của thế lực thù địch; đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng. Việc bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng không chỉ là nhiệm vụ của các cơ quan mà phải đưa thành nhiệm vụ của mỗi cán bộ, đảng viên của Đảng, từ đó lan tỏa trong nhân dân, tạo thành phong trào tự giác bài trừ tư tưởng, hành động chống phá của thế lực thù địch.

Sáu là, thực hiện thường xuyên, có hiệu quả công tác rà soát, phân loại, đưa đảng viên không đủ tư cách ra khỏi Đảng; thông tin kịp thời đường lối, chủ trương, nghị quyết của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, thông tin thời sự và những vấn đề khác cần thiết cho đảng viên thông qua sinh hoạt chi bộ thường kỳ, chuyên đề, đột xuất. Chấn chỉnh công tác kết nạp đảng viên mới để bảo đảm chất lượng (thà ít mà tốt).

Bảy là, thường xuyên kiểm tra, giám sát đảng viên trong học tập, tu dưỡng, rèn luyện về đạo đức cách mạng. Các cấp ủy, tổ chức đảng thực hiện nghiêm túc, hiệu quả công tác kiểm tra, giám sát cán bộ, đảng viên học tập, tu dưỡng, rèn luyện, thực hành các chuẩn mực đạo đức của Đảng. Cấp uỷ cấp trên thường xuyên kiểm tra tổ chức đảng cấp dưới trong công tác triển khai, tổ chức thực hiện. Có giải pháp phù hợp phát huy vai trò của Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức chính trị - xã hội và của nhân dân trong giám sát hoạt động của Đảng và của cán bộ, đảng viên; đồng thời tôn trọng, cầu thị, công tâm, khách quan trong tiếp thu, xử lý các ý kiến góp ý.

6. Kết luận

Việc bảo vệ, hoàn thiện các chuẩn mực đạo đức của Đảng là hết sức quan trọng. Xây dựng Đảng thực sự “là đạo đức, là văn minh” thì vai trò, uy tín của Đảng trong lãnh đạo, cầm quyền được nâng cao; Đảng thực sự là hạt nhân lãnh đạo, là ngọn cờ thiêng liêng của dân tộc ta để xây dựng nước Việt Nam “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”, phồn vinh, hạnh phúc; uy tín của Đảng ta trên trường quốc tế tiếp tục được khẳng định mạnh mẽ và góp phần quan trọng vào công cuộc đấu tranh vì hòa bình trên toàn thế giới.

st

KỲ TÍCH ĐƯỜNG HỒ CHÍ MINH

 Việc mở đường Hồ Chí Minh là một sáng tạo chiến lược độc đáo của Đảng ta trong kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, góp phần tạo nên những kỳ tích trong cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc và công cuộc xây dựng, bảo vệ Tổ quốc hiện nay.

Tuyến vận tải quân sự chiến lược
Thực hiện Nghị quyết Hội nghị Trung ương lần thứ 15 của Đảng về nhiệm vụ chi viện cho miền Nam, việc nhanh chóng mở đường vận chuyển chi viện chiến lược cho các chiến trường trở thành một nhiệm vụ hết sức quan trọng, cấp bách. Trước tình hình đó, tháng 5/1959, Tổng Quân ủy và Bộ Quốc phòng quyết định thành lập Đoàn công tác quân sự đặc biệt (Đoàn 559), làm nhiệm vụ mở đường vận chuyển hàng hóa, tổ chức đưa đón bộ đội, cán bộ từ Bắc vào Nam và từ Nam ra Bắc.
Sau một thời gian chuẩn bị, ngày 19/5/1959, Thường trực Tổng Quân ủy chính thức giao nhiệm vụ cho “Đoàn công tác quân sự đặc biệt” làm nhiệm vụ mở đường chi viện cho chiến trường miền Nam. Đây cũng là ngày truyền thống của Đoàn 559 - Bộ đội Trường Sơn - Đường Hồ Chí Minh.
Từ khi ra đời cho đến cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân năm 1975 toàn thắng, đường Hồ Chí Minh không ngừng được mở rộng, kéo dài, ngày càng phát triển, vươn sâu tới các chiến trường, các hướng chiến lược, chiến dịch. Đến cuối cuộc kháng chiến chống Mỹ, đường Hồ Chí Minh đã mở rộng, vươn dài tới Lộc Ninh (Bình Phước) với tổng chiều dài gần 17.000 km đường cho xe cơ giới (gồm 5 trục dọc, 21 trục ngang); đường giao liên dài trên 3.000 km; đường ống dẫn xăng dầu gần 1.400 km; cùng với hệ thống đường vòng tránh, đường sông, đường thông tin liên lạc. Trên mọi nẻo đường, hệ thống cung trạm, binh trạm, kho tàng, bến bãi, trạm bảo dưỡng sửa chữa xe máy... được xây dựng trong một thế trận ngày càng hoàn chỉnh, đáp ứng yêu cầu ngày càng tăng của chiến trường.
Tính chung trong toàn bộ cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, Bộ đội Trường Sơn, qua tuyến đường Hồ Chí Minh đã vận chuyển chi viện cho các chiến trường trên 1,5 triệu tấn hàng hóa và 5,5 triệu tấn xăng dầu. Cùng với vận chuyển hàng quân sự, tuyến giao thông vận tải Trường Sơn đã bảo đảm cho hơn 1,1 triệu lượt cán bộ, chiến sĩ đi vào chiến trường miền Nam và các hướng mặt trận lớn, đưa hơn 650.000 lượt cán bộ, chiến sĩ từ các chiến trường về hậu phương miền Bắc, trong đó có gần 310.000 thương binh, bệnh binh. Không chỉ là tuyến vận chuyển sức người và hàng hóa từ hậu phương ra tiền tuyến, Trường Sơn còn có một vị trí chiến lược quan trọng như là “xương sống” ở bán đảo Đông Dương, là nơi “đứng chân” của các binh đoàn chủ lực và các đơn vị binh chủng, kỹ thuật; là vùng hậu phương trực tiếp của các chiến trường, là bàn đạp xuất kích đã được chuẩn bị sẵn cho các binh đoàn chủ lực tiến công ra các hướng chiến dịch, chiến lược quan trọng.
Trong suốt 16 năm, Đường Trường Sơn - Đường Hồ Chí Minh và Bộ đội Trường Sơn đã phát huy vai trò to lớn, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ chi viện từ hậu phương lớn cho các chiến trường miền Nam Việt Nam, Lào và Campuchia, góp phần to lớn làm nên cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân năm 1968, cuộc Tiến công chiến lược năm 1972, Chiến thắng Đường 9 - Nam Lào, cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân 1975.
Phát huy kỳ tích đường Hồ Chí Minh trong xây dựng và bảo vệ Tổ quốc
Xuất phát từ nhu cầu cấp thiết cần có một tuyến đường hoàn chỉnh, thống nhất, xuyên suốt nhằm đáp ứng cho hoạt động phát triển kinh tế, thực hiện công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, từ năm 1996, Chính phủ đã giao Bộ Giao thông vận tải nghiên cứu quy hoạch tuyến đường để hình thành trục dọc đường bộ thứ hai ở phía Tây đất nước với tên gọi ban đầu là Xa lộ Bắc Nam (nay là đường Hồ Chí Minh).
Ngày 24/9/1997, Thủ tướng Chính phủ ra Quyết định số 789/QĐ-TTg phê duyệt Quy hoạch tổng thể Xa lộ Bắc Nam với điểm đầu tại Hòa Lạc (Hà Tây, nay là Hà Nội), điểm cuối tại ngã tư Bình Phước (TP. Hồ Chí Minh), tổng chiều dài xấp xỉ 1.800 km, cơ bản bám theo hướng tuyến của các Quốc lộ 21A, 15A, 15B, 14 và 13. Đồng thời, Chính phủ đã giao cho Bộ Giao thông vận tải phối hợp với Bộ Quốc phòng nghiên cứu nhánh phía Tây từ Khe Gát (Quảng Bình) đến Thạnh Mỹ (Quảng Nam).
Ngày 3/12/2004, Quốc hội đã ban hành Nghị quyết số 38/2004/QH11 về chủ trương đầu tư xây dựng đường Hồ Chí Minh là công trình trọng điểm quốc gia với tổng chiều dài toàn tuyến là 3.167 km (trong đó tuyến chính dài 2.667 km, tuyến nhánh phía Tây dài 500 km); điểm đầu là Pác Bó (tỉnh Cao Bằng), điểm cuối là Đất Mũi (tỉnh Cà Mau). Ngày 15/2/2007, Thủ tướng Chính phủ đã ký Quyết định số 242/QĐ-TTg phê duyệt quy hoạch tổng thể đường Hồ Chí Minh.
Ngày 5/4/2000, tại bến phà Xuân Sơn, huyện Bố Trạch, tỉnh Quảng Bình, Thủ tướng Chính phủ đã phát lệnh khởi công xây dựng; đến ngày 21/3/2008, Hội đồng nghiệm thu nhà nước các công trình xây dựng đã tiến hành nghiệm thu chất lượng công trình xây dựng đường Hồ Chí Minh giai đoạn 1 (đoạn từ Thạch Quảng tới Ngọc Hồi).
Không phải đến khi nghiệm thu cấp nhà nước, đường Hồ Chí Minh mới được đưa vào khai thác, mà ngay từ năm 2003, rất nhiều tuyến trên đường Hồ Chí Minh sau khi nghiệm thu cơ sở đã phát huy hiệu quả, tạo ra diện mạo mới cho nhiều vùng quê từ Đông Trường Sơn sang Tây Trường Sơn và từ Bắc chí Nam. Đối với các tỉnh Tây Nguyên, đường Hồ Chí Minh có ý nghĩa cực kỳ quan trọng cả về kinh tế, xã hội và quốc phòng, an ninh. Đường Hồ Chí Minh trở thành trục giao thông chính, nối thông phía Bắc Tây Nguyên với các tỉnh miền Trung và liên thông sang nước bạn Lào và Campuchia.
Đường Hồ Chí Minh là một công trình to lớn, mang theo ý nguyện của Đảng, mong ước của nhân dân, là một công trình có tính chiến lược đối với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc hiện nay. Đến nay, mặc dù chưa hoàn thành 100%, nhưng đường Hồ Chí Minh đã và đang phát huy hiệu quả thực tế. Trong những năm tới, nhất là khi hoàn thành nối thông toàn tuyến từ Pác Bó (Cao Bằng) đến Đất Mũi (Cà Mau), đường Hồ Chí Minh sẽ càng đóng góp to lớn hơn, làm nên những kỳ tích mới trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc./.
Báo Đắk Lắk