Chủ Nhật, 19 tháng 5, 2024

Đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, xuyên tạc trên không gian mạng về chủ quyền biển, đảo Việt Nam

 

Đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, xuyên tạc trên không gian mạng về chủ quyền biển, đảo Việt Nam

Ảnh minh họa.

Ảnh minh họa.

CÁC QUAN ĐIỂM SAI TRÁI, XUYÊN TẠC TRÊN KHÔNG GIAN MẠNG VỀ CHỦ QUYỀN BIỂN, ĐẢO VIỆT NAM

Thứ nhất, xuyên tạc Việt Nam nhu nhược, làm ngơ trước những vấn đề liên quan đến Biển Đông.

Các đối tượng thù địch, phản động lợi dụng những sự kiện như: tàu Viking 02 và tàu Bình Minh 02 của Việt Nam bị cắt cáp năm 2011 và 2012; dàn khoan Hải Dương 981 xâm phạm chủ quyền biển, đảo của Việt Nam trên biển Đông năm 2014; Mỹ và các nước đồng minh ngày càng can dự sâu hơn vào vấn đề Biển Đông; sự cố môi trường do Formosa gây ra đối với các tỉnh miền Trung; nước ngoài triển khai trên thực địa, tăng cường các biện pháp nhằm gia tăng sức mạnh quân sự và thực hiện ý đồ kiểm soát, hiện thực hóa các yêu sách phi pháp tại Biển Đông; tình hình tội phạm, vi phạm pháp luật trên biển diễn biến phức tạp; các tàu công vụ của nước ngoài tiếp tục kiểm soát, ngăn cản, xua đuổi, khống chế, thu giữ hải sản và ngư cụ của các tàu cá Việt Nam đang hoạt động bình thường ở khu vực quần đảo Hoàng Sa, vùng biển giáp ranh giữa Việt Nam và Indonesia; tình hình ngư dân Việt Nam đánh bắt trái phép hải sản ở vùng biển của quốc gia khác, bị lực lượng quản lý biển của các nước bắt giữ, xử lý… để tung ra các luận điệu xuyên tạc về tình hình Biển Đông và công tác đấu tranh bảo vệ chủ quyền biển, đảo của Việt Nam; gây hoang mang dư luận, đánh lạc hướng dư luận; “tung hỏa mù” hòng “che mắt” và gây mất niềm tin trong nhân dân. Chúng tung ra những “khẩu hiệu” sặc mùi gây hấn và kích động nhằm  ý đồ - mục đích: kêu gọi những người nhẹ dạ, thiếu chín chắn, bất mãn tham gia biểu tình, gây rối nhằm tạo sự chia rẽ, bất ổn trong nước cũng như làm phức tạp mối quan hệ quốc tế giữa Việt Nam với Trung Quốc và các nước láng giềng trong khu vực; sâu xa hơn là hô hào biểu tình gây bạo loạn lật đổ...

Thứ hai, vừa xuyên tạc vừa “khuyến cáo” Việt Nam “bài Trung, thân Mỹ” hòng gây bất ổn chính trị, mất đoàn kết trong nước và quốc tế, ảnh hưởng đến lợi ích quốc gia, dân tộc.

Chúng lấy cớ việc Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ bác bỏ hầu hết yêu sách chủ quyền trên biển Đông của Trung Quốc để tái diễn nhiều chiêu trò, luận điệu xuyên tạc về chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước Việt Nam; cổ súy cho việc “bài Trung, thân Mỹ” hòng gây mất ổn định, mất đoàn kết trong nước và quốc tế làm tổn hại lợi ích quốc gia, dân tộc. Cùng với đó, chúng tung ra các bài viết, bình luận, phỏng vấn của những “chuyên gia” từ hải ngoại với những “luận điểm trọng tâm” là phê phán Việt Nam thực hiện chính sách quốc phòng “bốn không” là “tự trói mình” vì tiềm lực kinh tế, quốc phòng - an ninh Việt Nam hiện nay quá yếu, không thể ba không, bốn không mà xoay xở được. Vì thế, chỉ có “một viễn cảnh tươi đẹp” cho Việt Nam là cần phải liên minh với Mỹ để “giữ được chủ quyền biển, đảo và bảo vệ được lợi ích quốc gia - dân tộc”(!)

Thứ ba, lợi dụng vấn đề Biển Đông và chủ quyền biển, đảo để xuyên tạc, gắn với những vấn đề chính trị khác như công tác nhân sự Đại hội Đảng toàn quốc; các “mật ước bán nước”...

Chúng “dựng chuyện” trên một số nền tảng mạng xã hội như Youtube, rêu rao rằng một số lãnh đạo Đảng, Nhà nước Việt Nam “im lặng” “thỏa hiệp” với nước ngoài để đổi lấy vị trí cao trong Đảng; chúng tìm mọi cách kích động nhân dân “hãy lên tiếng”, “hãy tham gia biểu tình”, “hãy tẩy chay Trung Quốc...

Thứ tư, tối ưu hóa, đa dạng hóa các thủ đoạn tuyên truyền xuyên tạc, phản động trên không gian mạng.

Cùng với tăng cường các nội dung xuyên tạc, chống phá trên các cơ quan báo chí hải ngoại lâu nay vẫn đưa tin tức thiếu thiện chí về Việt Nam như: BBC, RFAVOA, RFI.... các tổ chức phản động lưu vong như “Việt Tân”, “Chính phủ quốc gia Việt Nam lâm thời”, “Triều Đại Việt”, “Tập hợp dân chủ đa nguyên” cùng những hội nhóm trá hình trong nước như “Lập Quyền Dân”, “Diễn đàn xã hội dân sự”, “Tập hợp Quốc dân Việt”… đã không ngừng duy trì và phát triển các website,  tăng cường đưa ra những thông tin bịa đặt, bình luận bát nháo, hình ảnh cắt ghép... để xuyên tạc về vấn đề Biển Đông và chủ quyền biển, đảo của Việt Nam. “Cộng hưởng” với những giọng điệu chống phá đó là những tài khoản mạng xã hội trở thành những “trợ thủ đắc lực” trong tuyên truyền xuyên tạc, chống phá, vi pham pháp luật Việt Nam.

Nhiều website phản động, chống phá Việt Nam được “nuôi dưỡng” khá mạnh về tài chính, có hệ thống máy chủ, đội ngũ kỹ thuật và chuyên gia bảo mật riêng. Vì thế, “việc của chúng” chỉ là ra sức tung tin, phát tán các tài liệu xuyên tạc tình hình biển, đảo; thủ đoạn quen thuộc của chúng vẫn là lợi dụng, tranh thủ những “điểm nóng” trên Biển Đông để “nhai đi nhai lại” các giọng điệu bóp méo, bịa đặt, ngụy tạo về quan điểm, chủ trương của Đảng và Nhà nước trong cuộc đấu tranh bảo vệ chủ quyền biển, đảo...

Thứ năm, thông qua mạng xã hội, các thế lực thù địch, phản động đã tìm mọi cách móc nối, cấu kết với một số cán bộ, đảng viên tha hóa, biến chất; lôi kéo, mua chuộc, tạo dựng ngọn cờ tập hợp lực lượng chống phá từ bên trong...

Đối tượng chúng hướng đến để tuyên truyền các luận điệu xuyên tạc là các tầng lớp nhân dân, nhưng trọng tâm, trọng điểm là giới trẻ để tạo lập lực lượng đối lập với Đảng, Nhà nước. Dưới danh nghĩa “đấu tranh bảo vệ chủ quyền biển, đảo”, “yêu nước”,... các đối tượng ở nước ngoài cấu kết với số đối tượng trong nước tìm cách hình thành, phát triển cái gọi là “xã hội dân sự” cùng các tổ chức, hội nhóm bất hợp pháp. Trong đó, các thế lực bên ngoài chỉ đạo, hỗ trợ kinh phí hoạt động; các đối tượng trong nước tích cực tập hợp lực lượng, thu thập tin tức để cung cấp cho bên ngoài tuyên truyền các luận điệu xuyên tạc về tình hình Biển Đông và bảo vệ chủ quyền biển, đảo của Việt Nam. Ngoài ra, chúng còn tìm cách tiếp cận, mua chuộc cán bộ, đảng viên thoái hóa, biến chất đang làm việc trong các bộ phận trọng yếu, cơ mật để cung cấp tài liệu, thông tin bí mật quốc gia cho chúng sử dụng chống phá Việt Nam.

LUẬN CỨ TRONG ĐẤU TRANH PHẢN BÁC CÁC QUAN ĐIỂM SAI TRÁI, XUYÊN TẠC TRÊN KHÔNG GIAN MẠNG

Bảo vệ chủ quyền quốc gia, dân tộc là cuộc chiến lâu dài.

Bảo vệ chủ quyền quốc gia, dân tộc là cuộc chiến lâu dài.

Một là, thực tế đã chứng minh rằng, trong quá trình xây dựng và phát triển đất nước, việc bảo vệ chủ quyền quốc gia, trong đó có chủ quyền quốc gia trên biển là nhiệm vụ trọng yếu, thường xuyên của Đảng và Nhà nước ta: “Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là một nước độc lập, có chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ, bao gồm đất liền, hải đảo, vùng biển và vùng trời”. “Mọi hành vi chống lại độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ, chống lại sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc đều bị nghiêm trị”(1).

Vì thế, cần khẳng định rằngViệt Nam thường xuyên lên tiếng hoặc lên án đối với các hành vi, hoạt động xâm lấn trái phép trên Biển Đông của Trung Quốc và các nước khác trong khu vực; phản đối công khai, rộng rãi và vận động dư luận quốc tế, sự ủng hộ của các nướctăng cường trao đổi, tích cực đối thoại song phương. Trong một số trường hợp, Việt Nam đã gửi Công hàm phản đối, bày tỏ lập trường rõ ràng, nhất quán của Việt Nam...

Trước sau như một, chủ trương giải quyết của Việt Nam là: “Mọi hoạt động trên biển cần được tiến hành dựa trên cơ sở của UNCLOS 1982, tôn trọng chủ quyền, quyền chủ quyền, quyền tài phán của các quốc gia ven biển, tại các vùng biển được xác lập theo công ước. Việt Nam mong các nước sẽ nỗ lực đóng góp, thực hiện mục tiêu, nguyện vọng chung của các nước trong khu vực và cộng đồng quốc tế, về việc duy trì hòa bình, ổn định, an ninh, thượng tôn pháp luật ở Biển Đông”.

Hai là, Việt Nam ngày càng hoàn thiện chính sách, pháp luật về quản lý, thực thi và bảo vệ chủ quyền biển, đảo.

Nhận thức rõ tầm quan trọng, vị trí chiến lược của biển, đảo Việt Nam, Đảng và Nhà nước ta đã có nhiều chủ trương, chính sách đúng đắn và nhất quán về biển, đảo. Với việc thông qua Nghị quyết số 09-NQ/TW (khóa X), ngày 9/2/2007 về Chiến lược biển Việt Nam đến năm 2020”, lần đầu tiên chúng ta có một Chiến lược biển toàn diện, tầm nhìn rộng, bao quát cao trên các lĩnh vực kinh tế - xã hội, quốc phòng - an ninh, đối ngoại, hợp tác quốc tế, môi trường... Cùng với đó, Nhà nước cũng đã ban hành hàng loạt văn bản quy phạm pháp luật nhằm thể chế hóa các chủ trương lớn của Đảng về quản lý và bảo vệ chủ quyền biển, đảo, như: Bộ Luật Hàng hải năm 1991; Luật Hàng không dân dụng Việt Nam năm 1991; Luật Dầu khí năm 1993; Pháp lệnh Bộ đội Biên phòng năm 1997; Pháp lệnh lực lượng cảnh sát biển Việt Nam năm 1998; Luật Biển Việt Nam 2012; Luật Tài nguyên, môi trường biển và hải đảo năm 2015...

Đặc biệt, tại Hội nghị Trung ương 8, khóa XII đã thông qua Nghị quyết số 36-NQ/TW về Chiến lược phát triển bền vững kinh tế biển Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045, trong đó xác định các mục tiêu tổng quát như: đưa Việt Nam trở thành quốc gia biển mạnh; đạt cơ bản các tiêu chí về phát triển bền vững kinh tế biển; hình thành văn hóa sinh thái biển; chủ động thích ứng với biến đổi khí hậu, nước biển dâng; ngăn chặn xu thế ô nhiễm, suy thoái môi trường biển, tình trạng sạt lở bờ biển và biển xâm thực; phục hồi và bảo tồn các hệ sinh thái biển quan trọng; tham gia chủ động và có trách nhiệm vào giải quyết các vấn đề quốc tế và khu vực về biển và đại dương...

Ba là, Việt Nam luôn ý thức rất rõ, để bảo vệ chủ quyền lãnh thổ hiện nay, phải luôn tự chủ, độc lập, tự cường, “dĩ bất biến, ứng vạn biến”, kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại dựa trên cơ sở luật pháp quốc tế, chứ không thể chỉ dựa vào việc liên minh quân sự với một cường quốc.

Sách trắng Quốc phòng Việt Nam năm 2019 đã nêu rõ chủ trương: “Không tham gia liên minh quân sự; không liên kết với nước này để chống nước kia; không cho nước ngoài đặt căn cứ quân sự hoặc sử dụng lãnh thổ để chống lại nước khác; không sử dụng vũ lực hoặc đe dọa sử dụng vũ lực trong quan hệ quốc tế”.

Đảng ta cũng xác định: “Kiên quyết, kiên trì đấu tranh bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ, biển, đảo, vùng trời; giữ vững môi trường hòa bình, ổn định để phát triển đất nước”. Theo đó, phải phát huy cao nhất sức mạnh tổng hợp của toàn dân tộc, của hệ thống chính trị kết hợp với sức mạnh của thời đại, tranh thủ tối đa sự đồng tình, ủng hộ của cộng đồng quốc tế để bảo vệ vững chắc độc lập chủ quyền, thống nhất toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc, bảo vệ Đảng, Nhà nước, nhân dân, chế độ xã hội chủ nghĩa, nền văn hóa và lợi ích quốc gia - dân tộc. Bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa, giữ nước từ khi nước chưa nguy.

Quan điểm thống nhất, xuyên suốt của Việt Nam là bảo vệ vững chắc chủ quyền quốc gia, toàn vẹn lãnh thổ và các lợi ích hợp pháp trên Biển Đông, đồng thời giữ vững môi trường hòa bình, ổn định để xây dựng và phát triển đất nước, củng cố quan hệ hữu nghị, hợp tác với Trung Quốc, các nước ASEAN và các nước khác.

Bốn làtrong giai đoạn mới, Đảng, Nhà nước và cả hệ thống chính trị không ngừng điều chỉnh, tăng cường, bổ sung các giải pháp hiệu quả, phù hợp hơn để bảo vệ vững chắc chủ quyền quốc gia trên biển cũng như loại bỏ các thông tin xấu độc, chống phá. Xác định binh chủng thông tin - tuyên truyền là một trong những mũi nhọn xung kích, cùng với các binh chủng khác giữ vững ổn định chính trị và đảm bảo an ninh quốc gia - dân tộc.

Theo đó, tiếp tục đẩy mạnh công tác thông tin - tuyên truyền, chú trọng hơn nữa đến công tác thông tin đối ngoại, trên cơ sở đảm bảo các nguyên tắc: 1) Tiếp tục tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với sự nghiệp bảo vệ chủ quyền biển, đảo2) Tăng cường công tác tuyên truyền, giáo dục chính trị, tư tưởng, nâng cao nhận thức, trách nhiệm về bảo vệ chủ quyền biển, đảo cho cả hệ thống chính trị và toàn xã hội, minh bạch các chính sách, chính xác hóa và cụ thể hóa thông tin về tình hình biển, đảo của Việt Nam. 3) Phát huy vai trò của báo chí, truyền thông internet trong việc đấu tranh bảo vệ chủ quyền biển, đảo của đất nước, tăng cường bảo đảm an ninh mạng và áp dụng các giải pháp kỹ thuật tăng cường rà quét, bóc gỡ, ngăn chặn những thông tin xấu độc về tình hình biển Đông nói chung và vấn đề chủ quyền biển, đảo của Việt Nam nói riêng.../.

Không thể phủ nhận việc đẩy mạnh học tập, làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh

 

Không thể phủ nhận việc đẩy mạnh học tập, làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh

Bác Hồ với nữ chiến sĩ thi đua miền Bắc _Tranh của họa sĩ Vương Trình, sáng tác năm 1967

Bác Hồ với nữ chiến sĩ thi đua miền Bắc _Tranh của họa sĩ Vương Trình, sáng tác năm 1967

NHẬN DIỆN NHỮNG LUẬN ĐIỆU SAI TRÁI CỦA CÁC THẾ LỰC THÙ ĐỊCH, PHẢN ĐỘNG, CƠ HỘI CHÍNH TRỊ

Chủ tịch Hồ Chí Minh là lãnh tụ vĩ đại của dân tộc Việt Nam nên tư tưởng, đạo đức, phong cách của Người chính là tài sản tinh thần quý giá của cả dân tộc ta. Do vậy, thời gian qua, các thế lực thù địch, phản động và cơ hội chính trị không chỉ đưa ra các luận điệu chống phá thân thế, cuộc đời, sự nghiệp của Hồ Chí Minh mà còn xuyên tạc, phủ nhận chủ trương “Đẩy mạnh học tập, làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh”.

Các luận điệu xuyên tạc, chống phá về chủ trương này tập trung trên những bình diện chính sau:

Một là, có ý kiến cho rằng tư tưởng Hồ Chí Minh chẳng qua chỉ là sự “bắt chước”, “sao chép” chủ nghĩa Mác - Lênin và khi áp dụng vào Việt Nam chỉ là sự “khiên cưỡng”, “gán ghép” nên việc học tập, làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh chỉ mang tính hình thức theo kiểu “hô hào khẩu hiệu”! Để lý giải điều này, các thế lực thù địch viện dẫn rằng chủ nghĩa Mác - Lênin ra đời từ những năm 40, 50 của thế kỷ XIX dựa trên tiền đề kinh tế - xã hội của các nước châu Âu khác xa so với Việt Nam. Do đó, Hồ Chí Minh vận dụng chủ nghĩa Mác - Lênin vào thực tiễn Việt Nam là “không phù hợp”. Có ý kiến còn cáo buộc rằng sở dĩ Việt Nam trong suốt gần hết thế kỷ XX rơi vào cảnh “nồi da nấu thịt” là do Hồ Chí Minh đã vận dụng lý luận về đấu tranh giai cấp của chủ nghĩa Mác - Lênin. Vì thế, việc học tập, làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh là “một sự phi lý”!

Hai là, có ý kiến cho rằng, tư tưởng Hồ Chí Minh tuy là “kim chỉ nam” cho cách mạng Việt Nam trong phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc nhưng hiện nay, thực tiễn đã thay đổi nên tư tưởng Hồ Chí Minh đã “lỗi thời”, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh không còn phù hợp, từ đó cho rằng việc Bộ Chính trị đề ra Chỉ thị 05-CT/TW là “sai lầm”, “sẽ không có kết quả”. Ở góc độ này, một số phần tử cơ hội chính trị lấy danh nghĩa đề cao sự sáng suốt, đúng đắn của Đảng Cộng sản Việt Nam khi vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh trong giai đoạn lãnh đạo đất nước tiến hành đấu tranh giải phóng dân tộc nhưng lại bài xích việc Đảng ta tiếp tục vận dụng, phát triển tư tưởng Hồ Chí Minh trong giai đoạn đổi mới và phát triển đất nước hiện nay. Họ cho rằng “đó là sự phi lý về mặt lịch sử”, “trái với quá trình lịch sử - tự nhiên”!

Ba là, với chiêu bài “hạ bệ thần tượng”, có thế lực thù địch còn cho rằng “Hồ Chí Minh không phải là một con người hoàn thiện” vì “chỉ biết sống vì dân tộc”, “xem nhẹ gia đình”. Có kẻ còn cố tình bóp méo, xuyên tạc khi đánh đồng hai khái niệm “học tập ” và “ bắt chước ”. Họ cho rằng, học tập Hồ Chí Minh thì phải “bắt chước” giống Người, từ hình thức ăn mặc đến lời nói, việc làm, lối sống. Có kẻ còn cáo buộc, vu khống rằng “Càng thi đua học tập theo gương Hồ Chí Minh, càng lộ nhiều quan chức tham nhũng” hay “Học tập, làm theo tấm gương Hồ Chí Minh là vô bổ, tốn ngân sách, hình thành một thế hệ làm theo một hình mẫu do người khác định hướng không được tự do khám phá và thể hiện khả năng bản thân”!

Có thể nhận thấy, những luận điệu trên lộ rõ ý đồ chống phá, không chỉ với mục tiêu xuyên tạc tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh mà còn phủ nhận giá trị, ý nghĩa tích cực của cuộc vận động “Đẩy mạnh học tập, làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh” do Đảng ta phát động. Do đó, cần hết sức cảnh giác trước luận điệu chống phá này.

Ảnh: Tư liệu

Ảnh: Tư liệu

NHỮNG GIÁ TRỊ KHÔNG THỂ PHỦ NHẬN

Tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh được ra đời và kết tinh trong suốt quá Người lãnh đạo cách mạng Việt Nam. Đó là tài sản tinh thần vô giá của Đảng ta và nhân dân ta, soi sáng sự nghiệp cách mạng của dân tộc ta và hiện đang vẫn là “kim chỉ nam” cho nước ta trên con đường đổi mới và phát triển. Tư tưởng, đạo đức, phong cách của Người không chỉ được cả dân tộc Việt Nam tôn vinh mà còn được đông đảo bạn bè trên khắp thế giới ghi nhận và đánh giá cao.

Nhà nghiên cứu Hélène Tourmaire từng nhận định: “Hình ảnh của Hồ Chí Minh đã hoàn chỉnh với sự kết hợp đức khôn ngoan của Phật, lòng bác ái của Chúa, triết học Mác, thiên tài cách mạng của Lênin và tình cảm của người chủ gia tộc, tất cả bao bọc trong một dáng dấp rất tự nhiên”(1). Chủ tịch Hội đồng hòa bình thế giới, ông Romesh Chandra đánh giá: “Bất cứ nơi nào chiến đấu cho độc lập tự do, ở đó có Hồ Chí Minh và ngọn cờ Hồ Chí Minh bay cao. Bất cứ ở đâu chiến đấu cho hòa bình và công lý, ở đó có Hồ Chí Minh và ngọn cờ Hồ Chí Minh bay cao. Ở bất cứ đâu, nhân dân chiến đấu cho một thế giới mới, chống lại đói nghèo, ở đó có Hồ Chí Minh và ngọn cờ Hồ Chí Minh bay cao”(2). Đó những ghi nhận rất khách quan của dư luận quốc tế về tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh.

Chủ tịch Hồ Chí Minh là biểu tượng cao đẹp nhất của chủ nghĩa yêu nước và chủ nghĩa anh hùng cách mạng. Người là kết tinh rạng ngời của đạo đức, trí tuệ, khí phách, lương tri của dân tộc và thời đại. Trọn cả cuộc đời, Người dâng hiến cho sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp và giải phóng con người. Ở Hồ Chí Minh, tư tưởng của Người không chỉ là hệ thống những vấn đề mang tính lý luận mà có sự thống nhất giữa “tri” và “hành”, giữa tư tưởng với đạo đức và phong cách. Với Người, lý luận và thực tiễn, nói và làm luôn đi liền với nhau. Do đó, học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức và phong cách của Chủ tịch Hồ Chí Minh là việc làm rất cần thiết, là nhiệm vụ hết sức quan trọng, thường xuyên, không thể thiếu đối với toàn Đảng, toàn dân ta. Điều đó giúp cho Đảng ta ngày càng trong sạch, vững mạnh; giúp cho mỗi cán bộ, đảng viên luôn biết “tự soi”, “tự sửa”, “nêu gương”, “dám nghĩ”, “dám làm”, “dám chịu trách nhiệm”.

Sinh thời Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn khuyến khích khả năng độc lập tư duy, sáng tạo và khám phá, Người luôn đề cao sự tự học, tự nghiên cứu và học hỏi, khuyến khích mọi người phát triển trí tuệ và tư duy sáng tạo của mình. Do đó, không thể cho rằng học tập làm theo tấm gương Hồ Chí Minh là “vô bổ”, “hình thức”, hình thành một thế hệ làm theo một hình mẫu do người khác vạch sẵn. Đó là sự cố tình xuyên tạc, quy chụp nhằm tạo ra sự lệch lạc về nhận thức trong quần chúng nhân dân. Đây không chỉ là chiêu bài “hạ bệ thần tượng” mà còn nhằm mục đích chống phá, xuyên tạc một cuộc vận động rất có ý nghĩa, được tổ chức sâu rộng, thường xuyên, liên tục trong thời gian dài.

Thực tiễn cho thấy, thời gian qua, việc học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh ngày càng đi vào chiều sâu, thiết thực, hiệu quả; trở thành phong trào, được triển khai sâu rộng trong toàn hệ thống chính trị từ Trung ương đến cơ sở. Từ đó, đã xuất hiện nhiều tập thể, cá nhân điển hình “học Bác”, “noi gương Bác”; sẵn sàng vượt qua mọi khó khăn, thách thức, hết lòng phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân, góp sức cho sự phát triển đất nước. Không chỉ có cán bộ, đảng viên noi gương mà đông đảo quần chúng nhân dân thuộc mọi giai tầng xã hội cũng ra sức học tập theo tấm gương đạo đức, phong cách của Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Trong thực tiễn, đã có những câu chuyện cảm động về những tấm gương bình dị mà cao quý trong học tập và làm tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh. Đó là người giáo viên đã 80 tuổi nhưng vẫn không một ngày ngơi nghỉ với công tác khuyến học, khuyến tài, vận động nhân dân xây dựng “dòng họ học tập”, “tổ dân phố học tập”. Đó là những cô giáo còn rất trẻ nhưng đã dành cả tuổi thanh xuân của mình dũng cảm ngày ngày chèo đò qua sông đưa học trò tới lớp. Đó là người bác sĩ sẵn sàng từ bỏ những bệnh viện lớn của thành phố, rời xa cuộc sống phồn hoa đô thị để chăm sóc sức khỏe nhân dân vùng cao với mong muốn mang đến nụ cười cho trẻ em khuyết tật. Đó là những cán bộ, chiến sĩ sẵn sàng đến với miền núi, hải đảo, vùng sâu, vùng xa, không quản khó khăn, nguy hiểm vì sự bình yên và hạnh phúc của nhân dân…

Những tấm gương điển hình trong học tập và làm theo Bác tuy có những cách thể hiện khác nhau song đều có một điểm chung, đó là đều học Bác tinh thần sẵn sàng hy sinh cho sự phát triển của đất nước và cuộc sống bình yên, hạnh phúc cho nhân dân. Điều đó chứng tỏ việc học tập, làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh không phải kiểu “hô hào khẩu hiệu”, “mang tính hình thức” như luận điệu mà các thế lực thù địch thường rêu rao. Điều đó đã thật sự ăn sâu, bám rễ vào đời sống tinh thần, tư tưởng của nhân dân Việt Nam; thực sự khơi dậy và tạo động lực cho mọi giai tầng trong xã hội phát huy được năng lực, ý chí, bản lĩnh, tinh thần trách nhiệm và khát vọng cống hiến của mình cho đất nước. Mỗi tập thể, cá nhân điển hình tiên tiến đó là “những bông hoa đẹp”, đang từng ngày, từng giờ vun góp, góp phần tạo nên “rừng hoa đẹp” cho đất nước. Do đó, không thể quy chụp một cách phiến diện rằng việc “đẩy mạnh học tập, làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh” là “vô bổ”, “kém hiệu quả”!

Có thể khẳng định, thời gian qua việc “Học tập, làm theo tư tưởng, đạo đức Hồ Chí Minh" đã tạo nên những dấu ấn nổi bật cả trong công tác lãnh đạo, chỉ đạo; tuyên truyền, lan tỏa; tổ chức thực hiện… Những kết quả tích cực trên đây đã góp phần đấu tranh ngăn chặn có hiệu quả tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hoá” trong đội ngũ cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ lãnh đạo, quản lý và người đứng đầu các tổ chức, cơ quan, đơn vị; xây dựng đội ngũ cán bộ có bản lĩnh chính trị vững vàng, phẩm chất đạo đức trong sáng, có trách nhiệm và động cơ đúng đắn, tiên phong, gương mẫu, hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao, góp phần tạo ra những đột phá trong việc phát triển kinh tế - xã hội.

Lần đầu tiên GDP của nước ta đạt mức 430 tỷ USD, đứng thứ 3 trong ASEAN và thuộc nhóm 40 nền kinh tế lớn nhất thế giới, 20 nền kinh tế hàng đầu về thương mại, thu hút đầu tư nước ngoài

Lần đầu tiên GDP của nước ta đạt mức 430 tỷ USD, đứng thứ 3 trong ASEAN và thuộc nhóm 40 nền kinh tế lớn nhất thế giới, 20 nền kinh tế hàng đầu về thương mại, thu hút đầu tư nước ngoài

TIẾP TỤC ĐẨY MẠNH HỌC TẬP VÀ LÀM THEO TƯ TƯỞNG, ĐẠO ĐỨC, PHONG CÁCH HỒ CHÍ MINH

Trước tình trạng một bộ phận cán bộ, đảng viên có biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, Đại hội XIII của Đảng đã chỉ rõ: “Kiên quyết, kiên trì thực hiện Nghị quyết Trung ương 4 khóa XI, Nghị quyết Trung ương 4 khóa XII về xây dựng Đảng gắn với đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh bằng các giải pháp mạnh mẽ, quyết liệt, đồng bộ để ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ”(3). Do đó, để tiếp tục thực hiện có hiệu quả việc “Đẩy mạnh học tập làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh” trong thời gian tới, cần tập trung vào những giải pháp cơ bản sau:

Một là, tiếp tục tuyên truyền, quán triệt nâng cao nhận thức về nội dung, ý nghĩa, tầm quan trọng của việc đẩy mạnh học tập, làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh. Mỗi cấp ủy đảng các cấp cần tiếp tục tuyên truyền, quán triệt sâu rộng đến cán bộ, đảng viên và nhân dân về nội dung, ý nghĩa, tầm quan trọng của cuộc vận động này để mọi người có nhận thức đầy đủ, sâu sắc, coi việc học tập, làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh là một nhu cầu tự thân, tự nguyện, tự giác thực hiện. Phát huy tốt hơn nữa vai trò của báo chí, truyền thông trong việc tuyên truyền, lan tỏa những cá nhân thực hiện tốt việc học tập, làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh để nhân rộng những tấm gương điển hình tiên tiến, tạo động lực và cổ vũ cán bộ, đảng viên, nhân dân thực hiện có hiệu quả cuộc vận động này.

Hai là, đổi mới nội dung, hình thức thực hiện việc đẩy mạnh học tập, làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh theo hướng thiết thực, hiệu quả. Việc “Đẩy mạnh học tập, làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh” đã được triển khai trong thời gian dài nên để thu hút được đông đảo sự tham gia của toàn xã hội, cần tạo thêm một luồng sinh khí mới với việc đổi mới nội dung, hình thức thực hiện. Các nội dung thực hiện cần gắn với những nhiệm vụ cụ thể của từng cán bộ, đảng viên và nhân dân thông qua những hình thức phong phú, phù hợp với từng chủ thể thực hiện. Theo đó, việc đánh giá hiệu quả thực hiện cũng cần có những tiêu chí riêng, tránh rập khuôn máy móc nhưng cũng tránh tùy tiện, qua loa. Ngoài ra, cần gắn việc thực hiện học tập, làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh với các nhiệm vụ chính trị khác như vấn đề “tự soi”, “tự sửa”, tự chịu trách nhiệm”, “nêu gương” của cán bộ, đảng viên, nhất là người đứng đầu. Điều đó làm cho việc học tập, làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh ngày càng thực chất, hiệu quả hơn, tránh lối hình thức, xáo mòn.

Ba là, chủ động phòng ngừa, kiên quyết đấu tranh với những âm mưu lợi dụng việc xuyên tạc, phủ nhận việc đẩy mạnh học tập, làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh để chống phá Đảng, Nhà nước. Gần đây, một thực tế không thể phủ nhận là các thế lực thù địch ngày càng tấn công vào nền tảng tư tưởng của Đảng theo chiều sâu. Đó là bên cạnh việc xuyên tạc, bôi nhọ thân thế, cuộc đời, sự nghiệp, tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh, các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị còn xuyên tạc, phủ nhận cả những hoạt động của Đảng ta trong việc lan tỏa, tôn vinh đóng góp của Người với dân tộc. Biểu hiện rõ nét nhất là những luận điệu xuyên tạc, phủ nhận việc Đảng ta đẩy mạnh học tập, làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh. Do đó, cần nhạy bén hơn nữa trong việc nắm bắt những thông tin sai trái, xấu độc về vấn đề này, kịp thời định hướng, tuyên truyền cho nhân dân theo phương châm “lấy cái đẹp dẹp cái xấu”, “lấy cái tích cực đẩy lùi cái tiêu cực” để tránh việc bị các luận điệu sai trái chiếm lĩnh thông tin. Ngoài ra, cần tổ chức đấu tranh phản bác có hiệu quả với những luận điệu sai trái về việc học tập, làm theo tư tưởng, đạo đức phong cách Hồ Chí Minh, nhất là trong những thời điểm đất nước có những sự kiện chính trị quan trọng để tiếp tục tuyên truyền, lan tỏa tính đúng đắn trong những chỉ thị, nghị quyết của Đảng cũng như chính sách, pháp luật của Nhà nước.

Như vậy, có thể khẳng định việc “Đẩy mạnh học tập, làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh” là một chủ trương đúng đắn của Đảng ta. Điều đó một mặt làm cho tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh tiếp tục ăn sâu, bám rễ hơn nữa vào đời sống tinh thần, tư tưởng và tiếp tục trở thành “kim chỉ nam” cho cán bộ, đảng viên và nhân dân trong hoạt động thực tiễn. Mặt khác, điều đó cũng góp phần củng cố, phát triển nền tảng tư tưởng của Đảng ta trong bối cảnh mới; đồng thời cung cấp luận cứ khoa học và thực tiễn vững chắc để đấu tranh có hiệu quả với các luận điệu sai trái của các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị. Mỗi cán bộ, đảng viên, nhân dân cần tiếp tục nỗ lực phấn đấu hơn nữa, nhân lên những điều tốt đẹp, lan tỏa và góp phần làm cho tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh thực sự trở thành nền tảng tinh thần vững chắc trong đời sống xã hội./.

Phản bác luận điệu sai trái, xuyên tạc về di sản Hồ Chí Minh

 Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đi xa song Người để lại cho hậu thế những di sản vô cùng quý giá. Di sản Hồ Chí Minh luôn sống mãi trong sự nghiệp cách mạng, là kim chỉ nam dẫn đường, chỉ lối cho công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Di sản ấy là toàn bộ những giá trị vật chất và tinh thần do chính Người sáng tạo, để lại cho Đảng, dân tộc Việt Nam.

Sự thật cái gọi là "Việt Nam vi phạm nhân quyền"

 

Những năm qua, Việt Nam luôn nhất quán chính sách thúc đẩy và bảo vệ quyền con người; coi con người là trung tâm, là động lực của quá trình đổi mới và phát triển đất nước. Tuy nhiên, với động cơ thiếu trong sáng, vẫn có một số tổ chức quốc tế cố tình đưa ra những báo cáo phiến diện nhằm xuyên tạc tình hình, phủ nhận các thành tựu trong bảo vệ và thực thi quyền con người ở Việt Nam.

Nguy hại của sự dối trá

 


Dối trá là một thói xấu nhưng vẫn có ở nhiều người, trong cả cán bộ, đảng viên, gây ra những hậu quả khó lường. Người dối trá cố tình cung cấp thông tin sai sự thật, dẫn đến nhìn nhận, đánh giá không đúng sự việc, vấn đề, con người và nghiêm trọng hơn là sự dối trá gây bức xúc, mất đoàn kết nội bộ, niềm tin, kìm hãm sự phát triển của cá nhân, tập thể và đất nước... Đấu tranh, ngăn chặn thói dối trá là việc rất cần thiết để phòng, chống “tự diễn biến, tự chuyển hóa” trong nội bộ hiện nay.

Bệnh sính thành tích và “nghệ thuật” che giấu khuyết điểm

 


Thành tích là kết quả tốt đẹp do sự cố gắng, nỗ lực mà đạt được. Thành tích đi liền với biểu dương, khen thưởng sẽ là động lực cho sự phát triển. Đáng tiếc hiện nay, nhiều “thành tích” ảo vì bị một bộ phận cán bộ, đảng viên nhào nặn mà thành.

Có thể thấy, họ ham thích đến mức sính thành tích, trở thành một căn bệnh của xã hội-bệnh sính thành tích. Những người này làm việc gì cũng chỉ vì thành tích, sẵn sàng làm gian dối, thích được ca ngợi, thích được tung hô, vì vậy, họ cố tình “báo cáo khống”, có một báo mười, thậm chí hàng trăm, hàng nghìn để thổi phồng thành tích. Một số khác (thường là những cá nhân có chức, có quyền) lại sử dụng công quỹ và nhân danh tập thể để rùm beng, biến thành tích của đơn vị, địa phương thành thành tích cá nhân.

Khắc phục tình trạng cán bộ né việc


Thời gian qua, tình trạng cán bộ né việc, né trách nhiệm diễn ra khá phổ biến ở nhiều ngành, nhiều lĩnh vực, ảnh hưởng nghiêm trọng tới kinh tế-xã hội đất nước, gây bức xúc trong xã hội.

Mặc dù lãnh đạo Đảng, Nhà nước đã chỉ đạo quyết liệt để khắc phục, tuy nhiên tình trạng trên vẫn chưa chấm dứt. Do đó, cần có những giải pháp quyết liệt hơn nữa để làm thay đổi nhận thức, thái độ của cán bộ, đảng viên trong thực hiện chức trách, nhiệm vụ được giao, đồng thời kiên quyết thay thế những cán bộ thiếu trách nhiệm, không đáp ứng được yêu cầu nhiệm vụ.

HỌC AI? AI HỌC?

 

Chủ tịch Hồ Chí Minh, vị lãnh tụ kính yêu của dân tộc đã hiến dâng trọn đời mình cho dân, cho nước, cho sự nghiệp cách mạng của dân tộc. Học tập, làm theo tấm gương của Người là niềm vinh dự, tự hào đối với mỗi cán bộ, đảng viên, mỗi người dân Việt Nam.
Trước tình hình suy thoái tư tưởng chính trị, phẩm chất, đạo đức, lối sống và nạn tham nhũng đáng lo ngại trong một bộ phận cán bộ, lãnh đạo, đảng viên gần đây đã ảnh hưởng rất lớn đến vai trò lãnh đạo, uy tín của Đảng và sự tồn vong của chế độ; Bộ Chính trị ban hành Chỉ thị số 05-CT/TW, ngày 15-5-2016 về đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh” gắn với Nghị quyết số 04-NQ/TW, ngày 30-10-2016, của BCHTW về tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng; ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” có ý nghĩa cực kỳ quan trọng; nhận được sự đồng tình ủng hộ của nhân dân; được triển khai sâu rộng trong toàn Đảng. Rất tiếc, kết quả đạt được còn hạn chế, phần nhiều mang tính hình thức. Trước hết, Bác Hồ không những là lãnh tụ vĩ đại của dân tộc mà còn là vĩ nhân của thế giới. Học tập và làm theo tấm gương của người là cực kỳ khó đối với người dân Việt Nam. Học tập và làm theo tấm gương của Bác trước hết phải là người đứng đầu Đảng, Nhà nước, Quốc hội, bộ, ngành, địa phương chứ không phải chỉ đảng viên, công chức, dân thường. Làm lãnh đạo mà suy thoái phẩm chất chính trị, tư tưởng, đạo đức, lối sông; vi phạm những điều Đảng viên không được làm; thiếu nêu gương thì sao dạy dỗ cấp dưới, bắt cấp dưới noi theo.
Cần phải nghiêm trị loại bỏ các phần tử thoái hoá, biến chất đó ra khỏi hệ thống chính trị càng nhanh càng tốt. Chậm một ngày chúng sẽ trở thành nguy cơ cho Đảng, cho đất nước, cho chế độ. Chúng ăn trộm mà không nói là trôm; cướp mà không nói là cướp; ăn bẩn mà nói mình trong sạch; ở ác mà dạy đạo đức cho người khác thì sao dân tin, dân học được? Chúng không học và làm theo Bác thi sao bắt dân?
Phan Trung Can

TRỞ VỀ SAU CUỘC CHIẾN

 

Lính Cụ Hồ trở về sau cuộc chiến
Chẳng huân chương, danh tiếng cho mình
Chút tiền dành dụm để mua búp bê xinh
Về làm quà cho con mình còn bé.
Bao năm qua nó sống trong tình mẹ
Cưới mẹ rồi, bố lặng lẽ chia tay
Bao năm qua nó tính nhẩm từng ngày
Nhìn mắt mẹ, ướt cay...chờ tin bố.
Chiến tranh thương đau, biết có ngày hội ngộ?
Cả ngày, đêm làng phố nhận... tin buồn
Ra chiến trường, bố cứ im bặt luôn
Đêm vắng lặng, mẹ vô buồng thầm khóc.
Vì Tổ quốc, mẹ vượt bao khó nhọc
Vất vả nuôi con, nay tóc đã bạc rồi
Gửi hết tình vào chiến trường xa xôi
Để cho bố vượt núi đồi đánh Mỹ.
Chiến thắng rồi, bố ra quân bình dị
Bộ quần áo quân nhân, chẳng vũ khí bên mình
Gia tài chỉ là một chiếc balo xinh
Chiếc thùng đạn, bạn bè thân tình cho kỷ niệm.
Người lính Cụ Hồ trở về sau cuộc chiến
Tuổi thanh xuân đã cống hiến cho đời
Đất nước thanh bình, cảm xúc thật đầy vơi
Lòng thanh thản, chia tay... rời quân ngũ./.
(Phan Trung Can)

CĂN BỆNH UNG THƯ TÂM HỒN

 

Mạng xã hội (MXH) đã và đang khẳng định vị thế quyền lực của mình trong dẫn dắt tư tưởng, tạo bão dư luận, điều tiết hành vi sống của con người. Sự thật không thể bác bỏ là hàng giờ, hàng ngày, MXH cung cấp một lượng khổng lồ thông tin phong phú, đa chiều và có tác dụng rất lớn trong việc cập nhật những tin tức và tình hình thời sự nóng bỏng nhất đang diễn ra, nhưng chính nó cũng đang phát bệnh, một môi trường lý tưởng để lây lan dịch bệnh tin giả.
Khác với các phương tiện thông tin đại chúng mang tính truyền thống (báo chí, truyền hình, phát thanh, cổ động) của một lực lượng giới hạn phóng viên, tuyên truyền viên, MXH biến hàng chục triệu người online thành "tác giả" thông tin chỉ bằng với một câu hỏi "Bạn nghĩ gì ?". Ít nhiều, trong phạm vi nhóm hay toàn xã hội thì sự ảnh hưởng, lây lan là mặc nhiên (kể cả cái tốt và cái xấu). Mấy năm lăn lộn, ngụp lặn trong mạng ấy bỗng một ngày chợt nhận ra qua phân tích và tổng hợp những nội dung đăng tải trên MXH thì nổi lên là 4 nhóm "tác giả" có tính đại diện:
💢 I. Nhóm thứ nhất: Luôn tìm những ưu điểm, những tích cực của Đất Nước và chế độ để biểu dương và ca ngợi.
💢 II. Nhóm thứ hai: Luôn phản ánh hiện thực khách quan những vấn đề về xã hội nhưng lại mang tính đóng góp và xây dựng cho chế độ và Đất Nước bằng những phản biện.
💢 III. Nhóm thứ ba: Luôn tìm những tiêu cực, những yếu kém của chế độ để chỉ trích, miệt thị và chống phá.
💢 IV. Nhóm thứ tư: Chỉ chú mục quảng bá hình ảnh cá nhân, vui chơi giải trí còn đối với Đất Nước, chế độ và cộng đồng xã hội thì dù thấy đúng cũng không ủng hộ, thấy sai cũng không phản đối.
Nếu đứng ở bình diện "yêu nước" theo lời Bác Hồ dạy mà nhận diện thì thấy rằng, 4 hạng người nói trên đều có điều cần bàn.
Một Đất Nước hay một chế độ chính trị muốn tồn tại và phát triển thì rất cần đến những "tác giả" ở nhóm (I) và nhóm (II). Ở họ, đều có cái tâm với Dân tộc, mong muốn cái tốt, cái đúng được khẳng định, phát triển, mong muốn gạn đục, khơi trong cho dòng chảy Dân tộc. Nhóm I dẫu đôi khi vì hăng hái thái quá mà ca ngợi có lúc một chiều hay lạc quan tếu thì đấy cũng là hành động "đáng yêu". Nhóm (II) có lúc gay gắt nhưng rất đáng trân quý những lời nói can gián, những phân tích có tính phản biện nhằm mục đích xây dựng Đất Nước như tinh thần "tự phê bình và phê bình" mà Bác Hồ đã dạy. Nhóm (I) và nhóm (II) cần được nhân lên bởi họ giàu trách nhiệm và năng lượng để cùng Đất Nước tiến lên. Họ đủ lạc quan, tin tưởng vào thắng lợi cuối cùng và tương lai tươi sáng để làm hạt nhân đoàn kết cộng đồng xã hội cùng vượt qua khó khăn, nguy nan như thế hệ cha ông chúng ta sẵn sàng hy sinh, chiến đấu với kẻ thù để thực hiện cho được mục tiêu giải phóng Dân tộc, thống nhất Đất Nước.
Nhóm (III) thể hiện rất rõ về quan điểm bất đồng chính kiến đối với chế độ. Họ luôn trong tâm thế phủ bóng đen lên xã hội, phủ định sạch trơn, tạo tâm lý bất mãn, thù ghét nhằm gây bạo động xã hội, lật đổ chế độ, không quan tâm đến hậu quả đối với Đất Nước và Nhân Dân. Ngoài việc tự sỉ nhục Đất Nước, ca ngợi, thần phục, trông chờ ngoại bang thì chẳng có phương kế gì thực tế để giúp Dân, giúp Nước. Trong số họ nhiều người ngoài miệng nói lý tưởng vì Dân vì Nước, nhưng thực chất đã bị tha hóa đạo đức, mua chuộc bởi tiền bạc. Khi Nhân Dân bị thiên tai, địch họa, chẳng ai trong số này bỏ một đồng xu nào ra để tương trợ. Họ phải bị lên án bởi dư luận, trừng trị vì những việc làm vi phạm pháp luật, trái với đạo đức, truyền thống yêu nước của Dân tộc.
Còn nhóm thứ (IV), nếu nghĩ đơn giản thì chỉ thấy những sản phẩm của họ trên mạng là vô hại, nhưng thực chất lại là nhóm đáng lo ngại nhất. Nhiều "tác giả" trong nhóm thứ (IV) có đủ điều kiện về nhận thức, về kinh nghiệm sống nhưng họ không quan tâm hoặc tỏ ra không quan tâm với bất cứ tình hình gì của xã hội liên quan tới cuộc sống cộng đồng. Trong y học, đó không phải là một loại bệnh, nhưng trong xã hội có thể coi đây là căn bệnh của cách hành xử, căn bệnh của lối sống, căn bệnh "ung thư tâm hồn".
Tính nhân văn, lòng nhân ái, thái độ trách nhiệm lẽ ra phải là ngọn lửa sưởi ấm, là ánh sáng trong cuộc đời mỗi con người, mỗi gia đình cũng như toàn xã hội, thế nhưng ngày nay, bên cạnh nhiều nét đẹp vẫn luôn hiện hữu trong cuộc sống của những con người luôn biết đồng cảm, chia sẻ, giúp đỡ người khác, thì cũng có không ít kẻ sống ích kỷ, vô trách nhiệm, vô cảm, vô đạo đức.
Nếu là những "tác giả" tuổi còn quá trẻ, mới tham gia mạng xã hội, chưa có ý thức nhiều đối với cộng đồng thì còn thông cảm, nhưng đối với những doanh nhân, những nhà khoa học, những cán bộ quản lý đương chức, đương quyền, những cán bộ lão thành đã có nhiều năm cống hiến cho Đất Nước, hưởng bổng lộc của chế độ mà lại thể hiện sự trơ lì cảm xúc đối với những hiện tượng đời sống xung quanh, chỉ quan tâm đến quyền lợi của bản thân thì không thể coi đó là chuyện bình thường. Những con người này không biết quá khứ họ đã cống hiến những gì nhưng hiện tai thấy cái tốt họ không ủng hộ, thấy cái xấu không dám phê phán. Nguy hại hơn, thấy lợi ích Dân tộc, chế độ (mà họ đã được hưởng bổng lộc) có nguy cơ đe dọa nhưng làm ngơ. Loại như vậy trước đây chỉ là số ít, nhưng giờ đây nó đang có chiều hướng lây lan thành căn bệnh có tính xã hội và vô cùng xấu cho an nguy chế độ và cộng đồng.
Nhiều "tác giả" trong nhóm thứ (IV) đã và đang thừa hưởng thành quả của chế độ ban cho nhưng họ lại cho rằng mình cống hiến thế đủ rồi, bây giờ xã hội thế nào đã có người khác lo, có người khác làm. Họ nghĩ đó là cách sống chuẩn nhất, thậm chí cho rằng đó mới là chuẩn mực đạo đức của họ nhưng thực ra họ chỉ là những kẻ công thần và vô cảm, họ đang bị suy thoái về đạo đức, suy đồi về lối sống, và có thể đang bị cả “ung thư” trong chính tâm hồn họ.
Trong bối cảnh đang toàn cầu hóa và hội nhập Quốc tế, cùng với việc tiếp thu những tinh hoa của văn minh nhân loại, thì lối sống kiểu “mũ ni che tai” đang tác động mạnh đến tâm lý xã hội và dần dần hình thành một lối sống thực dụng, vô cảm trong một bộ phận con người Việt Nam. Đừng để thờ ơ, vô cảm trở thành căn bệnh "ung thư tâm hồn" tiềm ẩn trong chính con người bạn !

KHÔNG NÊN TỰ KIÊU MÀ CẦN KHIÊM TỐN


“Công trạng của cá nhân chủ yếu là nhờ tập thể mà có. Vì vậy người có công trạng không nên tự kiêu mà cần khiêm tốn”[4]
Là lời căn dặn của Chủ tịch trong bài nói chuyện tại lớp chỉnh huấn cán bộ trung, cao cấp Bộ Quốc phòng và các lớp trung cấp của các tổng cục vào tháng 5 năm 1957.
Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn quan tâm đến việc rèn luyện đội ngũ cán bộ của Đảng nói chung, cán bộ quân đội nói riêng về “đức” và “tài”; trong đó, Bác luôn lấy “đức” làm gốc và đề cao đức tính khiêm tốn. Bởi khiêm tốn là một trong những đức tính quan trọng nhất của con người. Người khiêm tốn luôn là người biết mình, hiểu người, không tự mình đề cao vai trò, ca tụng chiến công, thành tích của cá nhân, cũng không bao giờ chấp nhận một tinh thần chủ bại mang nhiều mặc cảm của cuộc đời đối với mọi người. Khiêm tốn sẽ giúp mỗi người có được sự tỉnh táo, để nhận thức chân lý một cách đúng đắn, khách quan; đồng thời nhận được sự ủng hộ, giúp đỡ của mọi người. Khiêm tốn luôn là một đức tính tốt mà mỗi người cần trau dồi, rèn luyện, đặc biệt đối với người cán bộ, đảng viên, những người lập được thành tích, công trạng lớn.
Học tập và làm theo lời Bác dạy, các thế hệ cán bộ, chiến sĩ Quân đội ta luôn đề cao và thực hành đức tính khiêm tốn trong sinh hoạt, học tập, công tác và chiến đấu, trở thành một nét đẹp văn hóa ẩn sâu trong nhân cách người quân nhân cách mạng, trở thành lời thề danh dự “… thắng không kiêu, bại không nản” được nhân dân luôn tin tưởng, yêu mến, dành tặng cho danh hiệu cao quý “Bộ đội Cụ Hồ”.
Đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh và Cuộc vận động “Phát huy truyền thống, cống hiến tài năng, xứng danh Bộ đội Cụ Hồ” thời kỳ mới, cán bộ, chiến sĩ toàn quân nêu cao tinh thần, trách nhiệm, thi đua “rèn đức, luyện tài”, tích cực “tự soi, tự sửa”, “Làm việc theo chức trách, nêu gương trong hành động”, đoàn kết tốt, khiêm tốn, học hỏi, phấn đấu hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ được giao. Đối với đội ngũ cán bộ chủ trì, người đứng đầu các cơ quan, đơn vị học và làm theo Bác luôn gương mẫu, đi đầu trong thực hiện chức trách, nhiệm vụ, đề cao tính khiêm tốn, học hỏi, rèn luyện tác phong lãnh đạo, chỉ huy dân chủ, quần chúng, luôn tôn trọng và chân thành lắng nghe, tiếp thu sự phê bình từ cấp dưới và quần chúng. Kiên quyết đấu tranh với các biểu hiện tự kiêu, tự đại, độc tôn chân lý, cửa quyền, hách dịch, thờ ơ, vô cảm…

VÕ NGUYÊN GIÁP VỊ ĐẠI TƯỚNG CỦA NHÂN DÂN

Đại tướng Võ Nguyên Giáp là vị tướng tài ba, là người "Anh Cả” của Quân đội nhân dân Việt Nam. Từ một thầy giáo dạy lịch sử và trở thành người học trò xuất sắc, gần gũi của Chủ tịch Hồ Chí Minh, dù ở đâu và trong hoàn cảnh nào, Đại tướng Võ Nguyên Giáp cũng luôn quán triệt sâu sắc tư tưởng Hồ Chí Minh vào hoạt động thực tiễn. Đặc biệt, thực hiện lời căn dặn của Chủ tịch Hồ Chí Minh làm cách mạng phải “Dĩ công vi thượng”, Đại tướng Võ Nguyên Giáp luôn đặt lợi ích của Đảng, của quốc gia, dân tộc, lợi ích của nhân dân lên trên hết, trước hết, luôn hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ Đảng, Nhà nước và nhân dân giao phó, đưa Tướng Giáp trở thành vị “Đại tướng của nhân dân”.
Cuộc đời hoạt động cách mạng của Đại tướng Võ Nguyên Giáp không chỉ có nhiều cống hiến xuất sắc đối với sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc, dựng xây đất nước và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam. Mà còn để lại nhiều di sản quý báu đối với công cuộc đổi mới, công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế hiện nay, đặc biệt là đối với sự nghiệp xây dựng Quân đội cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại. Đó là những vấn đề về nghệ thuật quân sự, khoa học quân sự, lý luận quân sự mà Đại tướng đã đúc kết từ thực tiễn lãnh đạo, chỉ đạo xây dựng, chiến đấu và trưởng thành của Quân đội cũng như thực tiễn chỉ đạo kháng chiến trong 30 năm chiến tranh giải phóng đất nước.
Đồng thời, những vấn đề nghệ thuật quân sự, khoa học quân sự, lý luận quân sự còn được đúc kết từ chính cuộc đời hoạt động cách mạng của Đại Tướng Võ Nguyên Giáp. Do đó, trách nhiệm của Quân đội hôm nay là phải tiếp tục nghiên cứu, vận dụng những quan điểm, tư tưởng của Đại tướng Võ Nguyên Giáp và những vấn đề về nghệ thuật quân sự, khoa học quân sự, lý luận quân sự của Đại Tướng vào điều kiện cách mạng mới. Đó cũng là cách để cán bộ, chiến sĩ toàn quân nắm bắt, tiếp thu những vấn đề về chiến tranh và cách mạng, vận dụng vào thực tiễn huấn luyện, chiến đấu và sẵn sàng chiến đấu, bảo vệ vững chắc Tổ quốc.
Cùng với, cuộc đời hoạt động cách mạng của Đại tướng Võ Nguyên Giáp là tấm gương đạo đức cách mạng sáng ngời, là hiện thân của chủ nghĩa anh hùng cách mạng Việt Nam. Hiện nay, cùng với đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh và học tập tấm gương của các vị lãnh đạo cách mạng tiền bối. Chúng ta cần học tập tấm gương đạo đức cách mạng của Đại tướng Võ Nguyên Giáp, qua đó toàn Đảng, toàn quân và toàn dân thêm tự hào về Đại Tướng người chỉ huy làm lên chiến thắng Điện Biên Phủ, chấn động địa cầu. Đối với cán bộ, chiến sĩ Quân đội, đó là niềm tự hào và là biểu tượng của Quân đội nhân dân Việt Nam anh hùng, của dân tộc Việt Nam anh hùng.

KHOẢNH KHẮC XÚC ĐỘNG 2 CHA CON GẶP NHAU TRÊN CHIẾN TRƯỜNG

 

Trong những năm tháng chiến đấu ác liệt, thời khắc được gặp cha trên chiến trường có lẽ là "món quà" thiêng liêng nhất, cũng là ký ức sâu đậm nhất cuộc đời của người lính Trần Công Chương.
Ông Chương là con trai cả trong gia đình có 3 anh em ở xã Đức Thọ. Cha của ông Chương là Trần Công Tính, cũng là một người lính chiến trường.
Từ nhỏ, ông Chương đã nung nấu ước mơ lớn lên sẽ ra trận đánh giặc để sớm được gặp cha. Năm 1967, khi vừa tròn 18 tuổi, ông Chương xung phong lên đường nhập ngũ. Ông trở thành lính pháo binh, thuộc Trung đoàn 45, Sư đoàn 351, trực tiếp chiến đấu tại chiến trường Khe Sanh (Quảng Trị).
Khi ra trận, ông Chương không biết cha mình đang chiến đấu ở đâu, nhưng trong tâm khảm, ông vẫn nung nấu mong muốn sớm được gặp lại cha.
Hồi nhỏ tôi chỉ nghe mọi người nói cha mình chiến đấu ở Điện Biên Phủ. Còn khi ra chiến trường, tôi chỉ biết quyết tâm hoàn thành sứ mệnh của mình, để xứng đáng là con của một người lính", ông Chương tâm sự.
Nhờ thông minh, anh dũng trong chiến đấu, chỉ sau 8 tháng nhập ngũ (tháng 3/1968), ông Trần Công Chương vinh dự được kết nạp Đảng, ngay trên chiến trường.
Đến một ngày tháng 4/1968, lúc đơn vị của ông Chương vừa trải qua một trận đ.ánh, người vẫn còn bê bết bùn đất, mặt nhem nhuốc vì khói s.úng, ông được cán bộ chỉ huy đơn vị gọi lên báo: "Đồng chí có người nhà muốn gặp".
Lúc ấy, tôi có linh tính về một chuyện gì đó, nên tim đập nhanh hơn. Đến nơi gặp, tôi thấy một người đàn ông dáng gầy, đang nở nụ cười rất quen thuộc. Tôi ngớ người một lúc mới nhận ra đó chính là cha của mình. Tôi lao vào ôm chầm lấy cha vừa mừng, vừa tủi!", ông Chương nhớ lại khoảnh khắc thiêng liêng ấy.
Sau đó, ông Chương mới biết, cha ông khi đó đã là Chính ủy Trung đoàn 102, Sư đoàn 308, Quân đoàn 1.
Ba ngày cha con tôi gặp nhau, dường như không đêm nào ngủ được. Chúng tôi tranh thủ từng giây phút để được bên nhau. Lúc ấy, chiến sự rất á.c liệt, tôi rất lo cho cha và cha cũng lo cho tôi, nhưng chúng tôi cùng động viên nhau không được chùn bước, hay yếu lòng", người lính Trần Công Chương chia sẻ.
Thời điểm ấy, một cán bộ trong ban tuyên huấn của đơn vị cha tôi đã phát hiện ra tôi, khi ban chỉ huy của hai đơn vị làm việc, chuẩn bị cho một nhiệm vụ mới. Đơn vị pháo binh của tôi và đơn vị bộ binh của cha sẽ phối hợp trong trận đánh giành lại cao điểm 845, trong chiến dịch Đường 9", ông Chương cho biết thêm.
Sau thời gian ngắn ngủi gặp nhau, cha con ông Chương gác lại niềm vui riêng quay lại chiến trường, với mỗi người một nhiệm vụ khác nhau. Qua lần gặp gỡ ấy, ông Chương như được tiếp thêm sức mạnh để hoàn thành những nhiệm vụ được giao.
Ông Chương cho biết, trận đánh giành cao điểm 845 với sự kết hợp của Sư đoàn Pháo binh 351 và Sư đoàn Bộ binh 308 đã giành thắng lợi. Đó cũng là một trong những trận đ.ánh quan trọng góp phần giúp Quân đội nhân dân Việt Nam chiến thắng trong chiến dịch Khe Sanh năm 1968.
Đến tháng 7/1970, ông Chương được cử đi học tại Trường sĩ quan Pháo binh (Sơn Tây, Hà Nội), còn cha của ông tiếp tục ở lại Quảng Trị. Tháng 11/1974, ông Chương được bổ sung vào Sư đoàn 10, Quân đoàn 3, tham gia Binh đoàn Tây Nguyên giải phóng Buôn Mê Thuột. Sau đó, ông Chương tham gia Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước.
Sau ngày thống nhất đất nước, cụ Trần Công Tính về hưu, còn ông Trần Công Chương tham gia chiến đấu ở biên giới Tây Nam và giúp nước bạn Campuchia giành lại hòa bình, rồi tham gia chiến đấu bảo vệ biên giới phía Bắc. Đến năm 1989, khi về nghỉ hưu, ông Chương mới gặp lại cha mình.
Cuộc chiến nào cũng khốc liệt, có h.y s.inh, m.ất mát. Với tôi khoảnh khắc được gặp lại cha giữa chiến trường sẽ còn mãi trong ký ức. Giờ đây, cha đã m.ất, mỗi lần nhớ cha tôi lại lấy bức ảnh 2 cha con chụp với nhau ở Quảng Trị ra xem, thế là bao nhiêu ký ức lại ùa về!", ông Chương chia sẻ./.