Thứ Hai, 20 tháng 5, 2024

Bảo đảm tiến độ, chất lượng công trình, phòng, chống tham nhũng, tiêu cực

Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính dự và phát biểu chỉ đạo Hội nghị. Tham dự Hội nghị có đại diện lãnh đạo một số bộ, ban, ngành Trung ương.

Hoàn thành 20 dự án, đưa vào sử dụng 475km đường cao tốc

Phát biểu tại Hội nghị, Bộ trưởng Bộ GTVT Nguyễn Văn Thắng cho biết, năm 2023, Bộ GTVT tập trung rà soát, hoàn thiện, nâng cao chất lượng xây dựng thể chế, cơ chế chính sách và đã đạt được nhiều kết quả quan trọng, tháo gỡ đáng kể khó khăn, vướng mắc cho người dân, doanh nghiệp và địa phương, khơi thông, giải phóng, huy động, sử dụng hiệu quả mọi nguồn lực, góp phần quan trọng tạo đà phát triển kinh tế-xã hội nhanh, bền vững.

Bộ GTVT là một trong các bộ trình sớm nhất và được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt 5/5 quy hoạch ngành quốc gia. Bộ đã tiếp thu, hoàn thiện, trình Thường trực Chính phủ đề án chủ trương đầu tư đường sắt tốc độ cao trên trục Bắc-Nam, đề án định hướng huy động nguồn vốn xã hội đầu tư kết cấu hạ tầng cảng hàng không.

Bảo đảm tiến độ, chất lượng công trình, phòng, chống tham nhũng, tiêu cực -0
Thủ tướng Phạm Minh Chính phát biểu chỉ đạo Hội nghị. 

Năm 2023 là năm có nhiều đột phá trong đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng giao thông với việc khởi công 26 dự án, trong đó, rút ngắn thời gian khởi công 6 dự án quan trọng quốc gia 1 năm so với quy trình thủ tục thông thường. Đã hoàn thành, đưa vào khai thác 20 dự án, trong đó riêng đường bộ cao tốc có 9 dự án dài 475km, nâng tổng số chiều dài đường cao tốc đưa vào khai thác trên cả nước lên gần 1.900km.

Năm 2023, Bộ GTVT được Thủ tướng Chính phủ giao số vốn đầu tư công lớn nhất từ trước tới nay với khoảng 94.161 tỷ đồng (gấp 1,7 lần so với năm 2022). Vượt qua nhiều khó khăn, thách thức, kết quả giải ngân của Bộ đến hết niên độ kế hoạch dự kiến đạt hơn 95%.

Hoạt động vận tải tiếp tục giữ được đà tăng trưởng ổn định gắn với việc cắt giảm mạnh mẽ thủ tục hành chính, phí lệ phí, đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin. Đến hết tháng 11/2023, sản lượng hàng hóa tăng 12,9%, luân chuyển hàng hóa tăng 10,5% so với cùng kỳ, sản lượng hành khách tăng 11,5%, luân chuyển hành khách tăng 23,9% so với cùng kỳ. Thực hiện nhiều giải pháp đồng bộ để xử lý những tồn tại, khó khăn của hoạt động đăng kiểm.

Bộ GTVT cũng thẳng thắn nhìn nhận một số tồn tại, hạn chế, trong đó, công tác quản lý hoạt động vận tải vẫn còn bất cập; tình trạng xe dù, bến cóc, xe hợp đồng trá hình còn diễn ra ở nhiều địa phương. Tai nạn giao thông (TNGT) vẫn tiềm ẩn diễn biến phức tạp, còn xảy ra nhiều vụ TNGT nghiêm trọng. Các trạm dừng nghỉ trên đường cao tốc chưa được đầu tư đồng bộ dẫn đến sự bất tiện đối với người dân. Việc thu hút nguồn vốn xã hội trong đầu tư kết cấu hạ tầng giao thông chưa đáp ứng được kỳ vọng.

Mục tiêu năm 2024, Bộ GTVT phấn đấu khởi công, hoàn thành các dự án đúng kế hoạch, trong đó có 2 dự án thành phần của cao tốc Bắc-Nam đoạn Diễn Châu-Bãi Vọt và Cam Lâm-Vĩnh Hảo, nâng tổng số đường bộ cao tốc đưa vào khai thác đạt 2.021km. Phấn đấu giải ngân hơn 95% kế hoạch đầu tư phát triển được Thủ tướng Chính phủ giao.

Bảo đảm tiến độ, chất lượng công trình, phòng, chống tham nhũng, tiêu cực -0
Bộ trưởng Nguyễn Văn Thắng phát biểu tại Hội nghị.

Tháo gỡ khó khăn, vướng mắc, làm việc với tinh thần “vượt nắng, thắng mưa”

Phát biểu tại hội nghị, Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính nhấn mạnh, năm 2023 là năm thời cơ thuận lợi đan xen khó khăn thách thức. Trong đó khó khăn thách thức nhiều hơn, nhiều diễn biến phức tạp của tình hình thế giới vượt khỏi tầm kiểm soát và không thể dự báo trước. Điều này đã tác động lớn đến tình hình trong nước, trong đó có ngành GTVT. Tuy nhiên, dưới sự lãnh đạo của Đảng, chỉ đạo của nhà nước, nỗ lực của Bộ GTVT đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ, góp phần cùng với cả nước ổn định kinh tế vĩ mô, kiểm soát được lạm phát, thúc đẩy được tăng trưởng, phát triển hạ tầng, góp phần xoá đói giảm nghèo vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo. Thay mặt Chính phủ, Thủ tướng Phạm Minh Chính ghi nhận, biểu dương và đánh giá cao thành tích của Bộ GTVT.

Thủ tướng nêu rõ, năm qua, lãnh đạo ngành GTVT đã đi sâu, đi sát, tích cực chỉ đạo từng khu vực, từng vùng, từng dự án để tháo gỡ khó khăn, thúc đẩy nhanh các công trình giao thông trọng điểm. Bộ GTVT đã tích cực, chủ động rà soát, xây dựng và hoàn thiện thể chế, triển khai các quy hoạch.

Bộ GTVT cũng tích cực phân cấp cho các địa phương; triển khai đầu tư hạ tầng giao thông, các dự án quan trọng quốc gia, trọng điểm của ngành giao thông năm 2023 với khối lượng lớn. Bộ thực hiện rất tốt vai trò là cơ quan thường trực Ban chỉ đạo nhà nước các công trình, dự án quan trọng quốc gia, trọng điểm ngành GTVT; chỉ đạo quyết liệt tháo gỡ khó khăn, vướng mắc của các địa phương; chú trọng công tác nghiên cứu khoa học, lắng nghe ý kiến đóng góp của các chuyên gia, tôn trọng khách quan, thực tiễn, khoa học; làm với tinh thần “vượt nắng, thắng mưa”, “3 ca, 4 kíp”, “ăn tranh thủ, ngủ khẩn trương”, làm xuyên Tết, xuyên ngày nghỉ.

Thủ tướng cũng đặc biệt biểu dương Tổng công ty Cảng hàng không Việt Nam (ACV) tích cực triển khai dự án Cảng hàng không quốc tế Long Thành. Thủ tướng yêu cầu phải công khai, minh bạch, chống tiêu cực, tham nhũng trong lựa chọn nhà thầu.

Bộ GTVT cũng làm tốt công tác chuyển đổi số, lấy đổi mới sáng tạo, khoa học công nghệ làm động lực cho sự phát triển; thực hiện nghiêm túc đường lối, sự chỉ đạo của Đảng, quản lý nhà nước; có sự phối hợp chặt chẽ của các bộ, ngành, địa phương, sự ủng hộ của doanh nghiệp, nhân dân.

Bảo đảm tiến độ, chất lượng công trình, phòng, chống tham nhũng, tiêu cực -0
Đại diện một số bộ, ngành phát biểu tại hội nghị. 

Bên cạnh kết quả đạt được còn một số hạn chế như công tác quản lý hoạt động vận tải, xe dù, bến cóc, tai nạn giao thông còn phức tạp, nhiều dự án đường cao tốc hoàn thành nhưng còn phải hoàn thiện các hạng mục đồng bộ, thu hút nguồn vốn xã hội hóa chưa nhiều... Thủ tướng đề nghị Bộ GTVT luôn nỗ lực và cố gắng hơn nữa để khắc phục tồn tại, hạn chế.

Về công tác năm 2024, Thủ tướng nhấn mạnh cần quán triệt nghiêm túc sự lãnh đạo, chỉ đạo của Đảng, quản lý của nhà nước; đẩy mạnh hơn nữa, lấy đổi mới sáng tạo, khoa học công nghệ là động lực, nguồn lực, sự dẫn dắt trong việc khảo sát, thiết kế, tổ chức thi công, giám sát, tổ chức thi công, bảo hành, bảo trì, các công trình trọng điểm góp phần bảo đảm tiến độ, chất lượng, giảm giá thành, chống tham nhũng, tiêu cực; bảo đảm phát triển nhanh và bền vững các công trình, dự án giao thông.

Nắm chắc tình hình, xử lý kịp thời các vướng mắc với tinh thần vướng mắc ở cấp nào, cấp đó phải tháo gỡ, khó khăn ở đâu thì ở đó phải giải quyết, phải bám sát thực tiễn. Phải xây dựng cơ chế, chính sách phù hợp để phát huy tối đa tiềm năng khác biệt, cơ hội nổi trội, lợi thế cạnh tranh của từng lĩnh vực. Tiếp tục đẩy mạnh xây dựng, hoàn thiện thể chế. Giữ vững kỷ luật, kỷ cương, tăng cường phân cấp, phân quyền đi đối với phân bổ nguồn lực, nâng cao khả năng thực thi, tăng cường công cụ giám sát, kiểm tra; giảm tất cả các thủ tục hành chính gây phiền hà, sách nhiễu cho người dân, doanh nghiệp.

Đồng thời, cần làm tốt công tác truyền thông, tạo đồng thuận trong dư luận xã hội. Hài hòa lợi ích giữa nhà nước, người dân, doanh nghiệp; bảo đảm quyền và lợi ích chính đáng, hợp pháp của người dân, doanh nghiệp. Thủ tướng cũng yêu cầu Bộ GTVT chú ý các dự án cụ thể như Cảng hàng không quốc tế Long Thành; một số dự án theo phương thức đối tác công-tư (PPP) như khởi công đường cao tốc Đồng Đăng-Trà Lĩnh, Nam Định-Thái Bình, Gia Nghĩa-Chơn Thành. 

Công tác đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực kịp thời, nghiêm minh

 Đảng, Nhà nước kịp thời chỉ đạo toàn diện các vấn đề quan trọng

Theo đó, trong bối cảnh thế giới có nhiều diễn biến phức tạp, nhanh chóng, khó lường, cử tri và nhân dân đánh giá cao Đảng và Nhà nước, đứng đầu là Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã kịp thời chỉ đạo toàn diện các vấn đề quan trọng của đất nước, đạt được nhiều kết quả trên các lĩnh vực. Kinh tế tiếp tục được phục hồi và phát triển, an sinh xã hội được đảm bảo, đời sống của nhân dân ổn định, từng bước được cải thiện; công tác đối ngoại tiếp tục được đẩy mạnh, đạt được kết quả quan trọng, uy tín và vị thế nước ta trên trường quốc tế tiếp tục được nâng lên.

Công tác đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực kịp thời, nghiêm minh, có lý, có tình -0
Chủ tịch Uỷ ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam Đỗ Văn Chiến trình bày báo cáo tại phiên khai mạc.

Công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng và phòng, chống tham nhũng, tiêu cực tiếp tục được đẩy mạnh; giữ vững kỷ cương, kỷ luật; xử lý các vụ án, vụ việc vừa đảm bảo tính nghiêm minh, vừa có tính nhân văn, tính giáo dục và sức thuyết phục cao. Hoạt động của Quốc hội và các cơ quan dân cử ngày càng đổi mới, thiết thực, hiệu quả, dân chủ xã hội chủ nghĩa được phát huy mạnh mẽ.

Hiệu lực quản lý nhà nước được nâng lên, quan tâm hỗ trợ cho những người nghèo, khó khăn trong dịp Tết Nguyên đán Giáp Thìn; hoạt động kỷ niệm 70 năm Chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ và các ngày lễ lớn năm 2024 thiết thực, hiệu quả. Lan tỏa được tinh thần yêu nước, lòng tự hào dân tộc, qua đó động viên được các tầng lớp nhân dân, phát huy tinh thần tự lực, tự cường, đồng lòng, chung sức xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Niềm tin của nhân dân đối với Đảng, Nhà nước tiếp tục được củng cố và tăng cường.

Công tác đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực kịp thời, nghiêm minh, có lý, có tình -0
Các đồng chí lãnh đạo, đại biểu tham dự phiên khai mạc.

Cử tri và nhân dân vui mừng, phấn khởi, đánh giá cao tổng sản phẩm trong nước Quý I/2024 tăng trên 5,6% so với cùng kỳ năm 2023, là năm cao nhất trong 4 năm trở lại đây. "Đảng và Nhà nước, trực tiếp là Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ luôn quan tâm giải quyết kịp thời, hài hòa những vấn đề mới phát sinh, liên quan đến quyền lợi của nhân dân, tạo sự đồng thuận cao trong thực hiện các nhiệm vụ phát triển kinh tế, đảm bảo an sinh xã hội", Chủ tịch Uỷ ban Trung ương MTTQ Việt Nam đánh giá.

Tuy nhiên, cử tri và nhân dân còn băn khoăn, lo lắng khi số doanh nghiệp giải thể, tạm ngưng hoạt động chưa có chiều hướng giảm, công nhân lao động bị ngừng việc, nghỉ việc, rút bảo hiểm xã hội một lần tăng; giá phân bón, thuốc bảo vệ thực vật, giá điện, vé máy bay tiếp tục tăng; tiêu thụ nông, lâm, thủy sản còn khó khăn, kinh tế du lịch phục hồi chưa vững chắc; giá các mặt hàng thiết yếu vẫn cao trong khi tiền lương chưa tăng, phần nào ảnh hưởng đến đời sống của những người làm công, ăn lương và lao động thiếu việc làm, thu nhập không ổn định.

Cử tri và nhân dân hoan nghênh việc kiên quyết kiểm soát nồng độ cồn

Cử tri và nhân dân ghi nhận, đánh giá cao kết quả công tác bảo đảm an ninh quốc gia, trật tự an toàn xã hội, góp phần phục vụ các nhiệm vụ chính trị, phát triển kinh tế - xã hội của đất nước. "Ngành Công an đã tăng cường đấu tranh trấn áp, phòng, chống tội phạm, vi phạm; hoạt động của Công an xã chính quy đã đem lại hiệu quả thiết thực, tham mưu đắc lực cho cấp ủy, chính quyền trong công tác bảo đảm ANTT ở địa phương, cơ sở. Cử tri và nhân dân đồng tình cao và rất hoan nghênh việc kiên quyết kiểm soát nồng độ cồn để phòng ngừa TNGT" - Chủ tịch Uỷ ban Trung ương MTTQ Việt Nam Đỗ Văn Chiến nhấn mạnh.

Công tác đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực kịp thời, nghiêm minh, có lý, có tình -0
Công tác đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực kịp thời, nghiêm minh, có lý, có tình -1
Các đại biểu tham dự phiên khai mạc.

Trong lĩnh vực đất đai, cử tri và nhân dân đánh giá cao nỗ lực của Đảng, Nhà nước, Quốc hội, Chính phủ, các bộ, ngành, địa phương trong việc lắng nghe ý kiến của doanh nghiệp và người dân, tổng hợp, phân tích, tiếp thu hoàn thiện, thông qua Luật Đất đai (sửa đổi) cơ bản đáp ứng được yêu cầu thực tiễn. Ghi nhận sự cố gắng của ngành Tài nguyên và Môi trường và các địa phương đã chủ động, tích cực hơn trong việc triển khai thực hiện các chủ trương, chính sách pháp luật về bảo vệ môi trường, phòng chống thiên tai.

Về công tác phòng, chống tham nhũng, tiêu cực, lãng phí, Chủ tịch Uỷ ban Trung ương MTTQ Việt Nam nhấn mạnh, cử tri và nhân dân đánh giá rất cao công tác đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực dưới sự lãnh đạo của Đảng, đứng đầu là Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng, Trưởng ban Ban Chỉ đạo Trung ương về phòng, chống tham nhũng, tiêu cực tiếp tục đạt được kết quả quan trọng, toàn diện, "nói đi đôi với làm", thật sự không có vùng cấm, không có ngoại lệ, bất kể người đó là ai.

"Các cơ quan chức năng không chỉ xử lý kịp thời, nghiêm minh, có lý, có tình đối với người vi phạm mà còn thu hồi được nhiều tài sản cho Nhà nước. Hoạt động của Ban chỉ đạo phòng, chống tham nhũng, tiêu cực cấp tỉnh bước đầu đạt được một số kết quả đáng ghi nhận", ông nêu.

Bên cạnh đó, cử tri và nhân dân đồng tình, ủng hộ Đảng và Nhà nước đã kịp thời giải quyết để một số đồng chí cán bộ cấp cao vi phạm những điều đảng viên không được làm và trách nhiệm nêu gương thôi đảm nhiệm trọng trách được giao. Đồng thời rất tin tưởng Đảng, Nhà nước "không ngừng, không nghỉ" trong cuộc đấu tranh cam go, phức tạp này. Mong muốn các bộ, ngành, cơ quan chức năng có giải pháp hiệu quả, "mạnh tay hơn nữa" đấu tranh ngăn chặn, xử lý nghiêm minh những người đăng tải, cung cấp các thông tin "thất thiệt", "xấu độc" ảnh hưởng đến thành quả chung đã đạt được…

Một số giải pháp bảo vệ chủ quyền biển, đảo trong tình hình mới

 Bảo vệ vững chắc chủ quyền biển, đảo là trách nhiệm của toàn Đảng, toàn dân và toàn quân; yếu tố quan trọng để đất nước phát triển bền vững. Trong bối cảnh thế giới, khu vực diễn biến phức tạp, khó lường, để bảo vệ chủ quyền biển, đảo, vấn đề cần quan tâm hiện nay là tăng cường sức mạnh quốc gia, xây dựng thế trận quốc phòng toàn dân trên biển vững mạnh.

Là quốc gia biển nên vấn đề an ninh biển có tầm quan trọng đặc biệt đối với Việt Nam, tác động lớn đến phát triển kinh tế biển và bảo đảm quốc phòng, an ninh, bảo vệ môi trường hòa bình của đất nước. Tuy nhiên, hiện nay tình hình tranh chấp chủ quyền lãnh thổ và các vấn đề an ninh phi truyền thống, như: khủng bố, cướp biển, buôn lậu, tranh chấp ngư trường, khai thác tài nguyên biển gây ô nhiễm môi trường,… diễn biến ngày càng phức tạp, khó dự báo.

Về tranh chấp chủ quyền trên Biển Đông hiện đang tồn tại bốn vấn đề lớn liên quan đến chủ quyền biển, đảo Việt Nam chưa được giải quyết: Chủ quyền trên quần đảo Hoàng Sa; bảo vệ chủ quyền và giải quyết tranh chấp chủ quyền trên quần đảo Trường Sa giữa năm nước sáu bên; phân định ranh giới các vùng biển theo Công ước của Liên hợp quốc về Luật biển năm 1982; xác định ranh giới ngoài vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa. Cùng với đó, những nhân tố có thể gây mất ổn định trên Biển Đông vẫn đang diễn ra gay gắt: xâm phạm chủ quyền, an ninh; nguy cơ xung đột vũ trang; tranh chấp biển, đảo và thềm lục địa, v.v. Đại hội XIII của Đảng xác định: “Kiên quyết, kiên trì đấu tranh bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ, vùng trời, vùng biển; giữ vững môi trường hòa bình, ổn định để phát triển...”1. Quán triệt tinh thần đó, cần thực hiện tốt một số giải pháp chủ yếu sau:

Một làxây dựng và thực hiện chiến lược phát triển kinh tế biển toàn diện, có trọng tâm, trọng điểm, sớm đưa nước ta trở thành quốc gia trong khu vực mạnh về kinh tế biển, gắn với bảo đảm quốc phòng, an ninh và hợp tác quốc tế. Nghị quyết số 36-NQ/TW, ngày 22/10/2018 về Chiến lược phát triển bền vững kinh tế biển Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045 xác định: “Việt Nam phải trở thành quốc gia mạnh về biển, giàu từ biển, phát triển bền vững, thịnh vượng, an ninh và an toàn; phát triển bền vững kinh tế biển gắn liền với bảo đảm quốc phòng, an ninh, giữ vững độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ”2. Để kinh tế phát triển tương xứng với tiềm năng của biển, gắn phát triển kinh tế biển với bảo đảm quốc phòng, an ninh, bảo vệ vững chắc chủ quyền biển, đảo cần phải tổ chức lại hoạt động khai thác hải sản theo hướng giảm khai thác gần bờ, đẩy mạnh khai thác xa bờ; thúc đẩy các hoạt động nuôi trồng, khai thác hải sản bền vững, tăng cường bảo vệ, tái sinh nguồn lợi hải sản và môi trường biển, nghiêm cấm các hoạt động khai thác mang tính hủy diệt.

Phát triển nhanh một số khu kinh tế, khu công nghiệp ven biển, ưu tiên phát triển các ngành công nghiệp năng lượng, công nghiệp hàng hải, đóng tàu, nuôi trồng, khai thác và chế biến hải sản chất lượng cao. Đẩy nhanh tốc độ đô thị hóa, xây dựng các trung tâm kinh tế ven biển mạnh, tạo thế tiến ra biển, gắn với phát triển đa dạng các ngành dịch vụ, xuất khẩu, du lịch, dịch vụ nghề cá, dầu khí, vận tải biển, v.v. Phát triển kinh tế các đảo, đẩy mạnh nghiên cứu khoa học, thăm dò, khai thác, nuôi trồng thủy sản gắn với bảo vệ, giữ vững độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ, bảo đảm an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội, mở rộng quan hệ đối ngoại, chủ động hội nhập quốc tế, nâng cao vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế. Xây dựng các chiến lược, quy hoạch, chương trình, dự án phát triển kinh tế - xã hội trên biển, đảo; tăng cường đầu tư các nguồn lực và hoạch định cơ chế chính sách trong phòng, chống thiên tai, thảm họa, bảo vệ môi trường biển.

Hai làxây dựng lực lượng quản lý, bảo vệ biển, đảo vững mạnh về mọi mặt. Việc tập trung nỗ lực xây dựng lực lượng quản lý biển, đảo và các hoạt động kinh tế biển, nhất là lực lượng Hải quân, Cảnh sát biển, Biên phòng, Dân quân tự vệ biển và lực lượng Kiểm ngư vững mạnh, đủ sức hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao là yêu cầu bức thiết hiện nay. Trong đó, Hải quân nhân dân Việt Nam là lực lượng chuyên trách hoạt động trên biển, giữ vai trò quan trọng trong thực hiện nhiệm vụ bảo vệ các vùng biển, đảo của Tổ quốc, cần được ưu tiên đầu tư xây dựng theo hướng hiện đại hóa và có chính sách đãi ngộ thỏa đáng, đặc biệt là lực lượng thường xuyên tuần tra trên biển và chốt giữ các đảo xa bờ. Cảnh sát biển Việt Nam là lực lượng chuyên trách quản lý, duy trì thực thi pháp luật trên biển, cần được tiếp tục củng cố, hoàn thiện về tổ chức, biên chế, tăng cường trang bị hiện đại, bảo đảm đủ sức hoàn thành nhiệm vụ trước mắt và lâu dài. Bộ đội Biên phòng cần được đầu tư đủ trang thiết bị kỹ thuật, phương tiện cơ động, đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ giữ gìn an ninh trật tự, cứu hộ, cứu nạn, chống buôn lậu và các tệ nạn xã hội trên các vùng biển. Dân quân tự vệ biển được xây dựng theo phương châm vững mạnh, rộng khắp, ở đâu có tàu, thuyền, ngư dân hoạt động và dân cư sinh sống trên đảo thì ở đó có dân quân tự vệ biển; lấy doanh nghiệp nhà nước, hợp tác xã làm nòng cốt; tổ chức biên chế phù hợp với đặc điểm của từng địa phương, bảo đảm thành ba tuyến: ven bờ, lộng, khơi; coi trọng lực lượng hoạt động trên biển. Kiểm ngư là lực lượng được tổ chức chặt chẽ, hoạt động đúng chức năng, nhiệm vụ, nhằm phát hiện, ngăn chặn và xử lý các vi phạm của tàu thuyền nước ngoài; hỗ trợ ngư dân, đảm bảo an ninh trật tự và có vai trò quan trọng trong đấu tranh bảo vệ chủ quyền trên các vùng biển của Tổ quốc.

Ba làkiên quyết, kiên trì giải quyết tranh chấp trên biển, đảo bằng biện pháp hòa bình trên cơ sở luật pháp quốc tế. Là thành viên của Liên hợp quốc, của UNCLOS cũng như tuyên bố của các bên về cách ứng xử trên biển Đông (DOC), Việt Nam luôn tuân thủ các quy định của luật pháp quốc tế; kiên trì con đường giải quyết các vấn đề nảy sinh bằng biện pháp hòa bình, trên cơ sở bình đẳng và tôn trọng lẫn nhau; thông qua đàm phán, thương lượng, nhằm tìm kiếm giải pháp cơ bản, lâu dài, đáp ứng lợi ích chính đáng của tất cả các bên liên quan vì độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc, vì hòa bình, ổn định khu vực và quốc tế. Theo tinh thần đó, những vấn đề còn đang bất đồng, tranh chấp song phương thì giải quyết song phương; những vấn đề tranh chấp liên quan đến nhiều bên thì giải quyết đa phương và phải hết sức công khai, minh bạch giữa các bên có liên quan. Trong khi nỗ lực xử lý các vấn đề nảy sinh ở Biển Đông bằng biện pháp hòa bình, cần kiên quyết, kiên trì đấu tranh bảo vệ những lợi ích chính đáng của ta trên biển với quyết tâm “Việt Nam quyết không để một tấc đất, tấc biển nào bị xâm phạm”; kiên trì tìm kiếm một giải pháp lâu dài và yêu cầu các bên liên quan kiềm chế, không có hoạt động làm phức tạp thêm tình hình, không sử dụng vũ lực hoặc đe dọa sử dụng vũ lực, tuân thủ cam kết giải quyết bằng biện pháp hòa bình, trên cơ sở các nguyên tắc của luật pháp quốc tế, UNCLOS và 05 nguyên tắc chung sống hòa bình, tăng cường nỗ lực xây dựng lòng tin, hợp tác đa phương về an ninh biển, nghiên cứu khoa học, chống tội phạm; cùng nhau thực hiện nghiêm chỉnh DOC, hướng tới xây dựng Bộ quy tắc ứng xử COC để Biển Đông thực sự là vùng biển hòa bình, ổn định, hữu nghị, hợp tác và phát triển. Tại các vùng biển không phải là tranh chấp, hoàn toàn thuộc chủ quyền và quyền tài phán của quốc gia ven biển, Việt Nam có quyền áp dụng các biện pháp cần thiết, phù hợp với quy định của UNCLOS để bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng.

Bốn làthực hiện tốt công tác đối ngoại quốc phòng. Đối ngoại quốc phòng là vấn đề quan trọng diễn ra chủ yếu trong thời bình và cả khi có tình huống chiến tranh, thực hiện tốt vấn đề này góp phần vừa giữ vững độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ, hòa bình, ổn định trên Biển Đông, vừa duy trì sự ổn định chính trị - xã hội trong nước và môi trường quốc tế thuận lợi để phát triển kinh tế. Thực hiện tốt công tác đối ngoại quốc phòng trong bối cảnh hội nhập quốc tế, điều quan trọng trước hết là hợp tác chặt chẽ trên tất cả lĩnh vực, đặc biệt là giữa quốc phòng, an ninh và đối ngoại. Các ngành chức năng, trọng tâm là Bộ Quốc phòng, Bộ Công an và Bộ Ngoại giao cần xây dựng, hoàn thiện quy chế phối hợp, trọng tâm là công tác nghiên cứu cơ bản, phân tích dự báo chiến lược về tình hình thế giới, khu vực, chiều hướng diễn biến của mối quan hệ quốc tế, về đối tác, đối tượng của cách mạng. Từ đó, tham mưu cho Đảng, Nhà nước hoạch định đường lối chiến lược và các đối sách xử lý thắng lợi các tình huống quốc phòng, an ninh và đối ngoại. Tăng cường mở rộng quan hệ hợp tác quốc phòng với các nước, nhất là các nước trong khu vực và các nước lớn trên thế giới để tăng sự hiểu biết và tin cậy lẫn nhau. Hải quân, Cảnh sát biển cần tăng cường giao lưu với các đối tác, tổ chức các hoạt động phối hợp tuần tra chung, diễn tập, cứu hộ, cứu nạn trên biển, góp phần giữ vững môi trường hòa bình, ổn định và triệt tiêu nguy cơ xung đột trên biển.

Năm làđẩy mạnh công tác tuyên truyền về chủ quyền biển, đảo thiêng liêng của Tổ quốc. Thực hiện tốt nội dung này, các đơn vị Hải quân, Cảnh sát biển, Biên phòng đóng quân ở địa phương ven biển và các đảo cần kết hợp chặt chẽ với địa phương và cơ quan Tuyên giáo xây dựng kế hoạch, tổ chức bồi dưỡng báo cáo viên, biên soạn, phát hành tài liệu tuyên truyền sâu rộng trong các tầng lớp nhân dân, nhất là cư dân sinh sống ở ven biển, trên đảo, ngư dân làm ăn trên biển, kiều bào ta ở nước ngoài. Tuy nhiên, trong điều kiện hiện nay, công tác tuyên truyền về chủ quyền biển, đảo cần có sự tham gia, phối hợp chặt chẽ giữa các bộ, ngành, địa phương và các phương tiện thông tin đại chúng, dưới sự chỉ đạo tập trung, thống nhất của các cơ quan chức năng Trung ương. Đặc biệt, cần thông tin kịp thời, minh bạch, chính xác để mọi người dân trong nước, người Việt Nam ở nước ngoài và nhân dân thế giới hiểu cơ sở pháp lý, chứng cứ lịch sử và sự chiếm hữu thực tế của Việt Nam trên các vùng biển, đảo ở Biển Đông; hiểu rõ quan điểm, lập trường của Đảng, Nhà nước ta về giải quyết vấn đề chủ quyền trên Biển Đông; từ đó, xây dựng niềm tin, ý chí quyết tâm, đồng thuận của cộng đồng các dân tộc Việt Nam, tranh thủ sự đồng tình ủng hộ của nhân dân thế giới để bảo vệ vững chắc chủ quyền biển, đảo và các hoạt động kinh tế biển.

Cùng với công tác truyên truyền về biển, đảo, cần kết hợp với công tác phổ biến, giáo dục pháp luật, làm cho ngư dân hiểu rõ các quy định trong luật biển Việt Nam và pháp luật quốc tế, nhất là Công ước Liên hợp quốc về Luật biển năm 1982, làm cho ngư dân không chỉ chấp hành, mà còn kịp thời phát hiện các hành vi vi phạm pháp luật của tàu, thuyền nước ngoài ở vùng biển Việt Nam. Cần sớm đưa các nội dung về chủ quyền biên giới, lãnh thổ, biển, đảo vào chương trình giáo dục phổ thông và đại học; phổ biến rộng rãi trong cộng đồng người Việt Nam và quốc tế về chủ quyền lãnh thổ Việt Nam trên biển.

Đại tá, PGS, TS. NGUYỄN THANH LONG, Học viện Quốc phòng

Luận điệu sai trái, cũ mòn của HRW về tình hình nhân quyền ở Việt Nam

 Mới đây, Tổ chức Theo dõi Nhân quyền (Human Rights Watch - HRW) công bố Báo cáo tổng kết toàn cầu về tình hình nhân quyền trên thế giới năm 2023; trong đó, họ tiếp tục lặp lại những thông tin sai trái, cũ mòn về tình hình nhân quyền ở Việt Nam.

Báo cáo này cho rằng, năm 2023, “nhân quyền của Việt Nam tồi tệ về hầu hết mọi mặt”, “nhà cầm quyền hạn chế ngặt nghèo các quyền cơ bản, bao gồm tự do ngôn luận và truyền thông, nhóm họp, lập hội”(!). Lợi dụng việc cuối năm 2023, các đối tượng Lê Minh Thể, Trần Minh Lợi, Y Wô Niê bị tòa án xét xử về tội lợi dụng các quyền tự do, dân chủ xâm phạm lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân, Báo cáo này cho rằng “các blogger và các nhà hoạt động nhân quyền bị đe dọa, sách nhiễu, hạn chế đi lại, bị bắt giữ tùy tiện”(!). Gần đây, ông Robertson, Phó Giám đốc châu Á của HRW còn cố tình xuyên tạc tình hình nhân quyền ở Việt Nam khi nói rằng: “Mọi quyền dân sự và chính trị, dù là quyền tự do ngôn luận, quyền hội họp hay quyền tự do lập hội đều đang bị chính quyền Việt Nam vi phạm một cách có hệ thống. Chính phủ đã đi thụt lùi quá xa về nhân quyền, không theo bất kỳ công ước nhân quyền quốc tế nào mà họ đã phê chuẩn”(!).

Cần khẳng định ngay rằng, những cáo buộc nói trên của HRW phản ánh những định kiến lâu nay của tổ chức này đối với Việt Nam đều chỉ căn cứ vào những thông tin sai trái, cũ mèm, không đúng sự thật. Bản thân hoạt động của tổ chức này bị chi phối bởi nguồn kinh phí hoạt động được đảm bảo từ các nước phương Tây, nên các báo cáo về nhân quyền của HRW thường sai sự thật, thiên vị, mang màu sắc chính trị và chủ quan áp đặt, bị nhiều quốc gia chỉ trích, phản đối. Phản bác những cáo buộc nói trên, ngày 25/01/2024, Người phát ngôn Bộ Ngoại giao Việt Nam Phạm Thu Hằng nêu rõ: “Việt Nam hoàn toàn bác bỏ và lên án cái gọi là Tổ chức Theo dõi Nhân quyền với những nội dung sai sự thật, bịa đặt trong báo cáo”; đồng thời khẳng định: “Những nỗ lực, quyết tâm, thành tựu của Chính phủ Việt Nam trong đảm bảo các quyền cơ bản của con người được thể hiện thông qua những kết quả phát triển kinh tế - xã hội, được đông đảo người dân trong nước và cộng đồng quốc tế thừa nhận, đánh giá cao”.

Trên thực tế, Việt Nam luôn là một thành viên có trách nhiệm với công tác bảo đảm, bảo vệ và thúc đẩy quyền con người. Đến nay, nước ta đã phê chuẩn, gia nhập 7/9 công ước quốc tế cơ bản về quyền con người, gồm: Công ước về Các quyền dân sự và chính trị (ICCPR); Công ước về Quyền kinh tế, xã hội và văn hóa (ICESCR); Công ước về Xóa bỏ tất cả các hình thức phân biệt đối xử chống lại phụ nữ (CEDAW); Công ước về Xóa bỏ tất cả các hình thức phân biệt chủng tộc (ICERD); Công ước về Quyền trẻ em; Công ước về Quyền của người khuyết tật; Công ước về Chống tra tấn và các hình thức đối xử hoặc trừng phạt tàn bạo, vô nhân đạo hoặc hạ nhục con người cùng nhiều công ước quốc tế khác liên quan đến việc bảo vệ quyền con người và luật nhân đạo quốc tế; phê chuẩn, gia nhập 25 công ước của Tổ chức Lao động quốc tế (ILO), trong đó có 7/8 công ước cơ bản về lao động. Trên cơ sở đó, Việt Nam nỗ lực nội luật hóa các nguyên tắc, tiêu chuẩn quốc tế về quyền con người và hoàn thiện hệ thống chính sách, pháp luật về quyền con người nhằm bảo đảm sự tương thích của hệ thống pháp luật quốc gia với các điều ước quốc tế, phù hợp với thực tiễn Việt Nam.

Ở Việt Nam, các quyền con người, quyền công dân về dân sự, chính trị được bảo đảm, bảo vệ bằng Hiến pháp và pháp luật; đồng thời, được thực hiện minh bạch trong thực tiễn. Hiến pháp năm 2013 đã dành tới 36/120 điều để quy định quyền con người, quyền và nghĩa vụ của công dân; là cơ sở để điều chỉnh, bổ sung, ban hành các luật, bộ luật trên các lĩnh vực nhằm bảo đảm, bảo vệ quyền con người và quyền công dân. Theo đó, tòa án hoạt động độc lập và chỉ tuân theo pháp luật khi xét xử; mọi người đều bình đẳng trước pháp luật; không ai bị coi là có tội và phải chịu hình phạt khi chưa có bản án có hiệu lực của tòa án. Các bản án, quyết định của tòa án các cấp được công khai trên Cổng thông tin điện tử. Các đối tượng Lê Minh Thể, Trần Minh Lợi, Y Wô Niê nói trên bị bắt giam không phải họ là “các blogger”, các “nhà hoạt động nhân quyền” hay “tù nhân lương tâm” như Báo cáo của HRW nêu ra, mà là những kẻ phạm vào tội lợi dụng các quyền tự do dân chủ xâm phạm lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân, quy định tại khoản 1, Điều 331 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Các quyền con người, quyền công dân về kinh tế, xã hội, văn hóa cũng ngày càng được bảo đảm tốt hơn cùng với sự phát triển của nền kinh tế. Năm 2023 là năm kinh tế thế giới có nhiều khó khăn do tác động của những biến động địa chính trị và sự đứt gãy chuỗi cung ứng toàn cầu, nhưng kinh tế của Việt Nam vẫn là một điểm sáng trước những cơn gió ngược. Tổng sản phẩm trong nước (GDP) của Việt Nam tăng 5,05% (gấp 1,68 lần mức tăng chung của kinh tế thế giới). Thu nhập bình quân đầu người trong năm 2023 đạt 4.284 USD (tăng 160 USD so với năm 2022). Nhờ đó, đời sống của nhân dân tiếp tục được cải thiện; thu nhập bình quân của người lao động tăng 6,8%; trên 94% số hộ gia đình đánh giá có thu nhập ổn định hoặc cao hơn cùng kỳ năm 2022. Tỷ lệ hộ nghèo theo chuẩn nghèo đa chiều năm 2023 giảm 1,1% so với năm 2022, còn 2,93%, được cộng đồng quốc tế ghi nhận. Công tác bảo đảm an sinh xã hội, chăm lo cho đời sống người lao động, nhất là các nhóm yếu thế, đối tượng chính sách tiếp tục được đẩy mạnh. Năm 2023 đã thực hiện trợ cấp thường xuyên cho trên 1,13 triệu người có công với kinh phí 29 nghìn tỉ đồng/năm; Đề án xây dựng ít nhất 01 triệu căn hộ nhà ở xã hội được đẩy mạnh, đến hết tháng 9/2023 đã hoàn thành 46 dự án nhà ở xã hội khu vực đô thị, quy mô khoảng 20.210 căn. Các chương trình tín dụng ưu đãi cho các đối tượng chính sách cũng được tổ chức triển khai có hiệu quả. Chỉ số phát triển con người (HDI) của Việt Nam liên tục được cải thiện, năm 2021 đạt 0,703 điểm, đến năm 2023 đạt 0,726 điểm, thuộc nhóm nước có trình độ phát triển con người cao. Chỉ số hạnh phúc của Việt Nam năm 2023 (theo Báo cáo Hạnh phúc thế giới vào tháng 3/2023 của Liên hợp quốc) tăng 12 bậc, từ vị trí 77 lên vị trí 65 trong bảng xếp hạng toàn cầu.

Về cáo buộc “Việt Nam vi phạm quyền tự do ngôn luận, tự do internet và tự do tôn giáo”, thì Báo cáo của HRW vẫn nhai lại những luận điệu cũ rích. Cần nhắc lại rằng, HRW chỉ nhấn mạnh đến “quyền” của công dân mà cố tình lờ đi “nghĩa vụ” của công dân phải tuân thủ các giới hạn khi thụ hưởng các quyền đó. Khoản 3, Điều 19 của Công ước quốc tế về các quyền dân sự, chính trị nói về quyền tự do ngôn luận đã chỉ rõ: “Việc thực hiện những quyền quy định tại khoản 2 của Điều này kèm theo những nghĩa vụ và trách nhiệm đặc biệt. Do đó, có thể dẫn tới một số hạn chế nhất định, để: a/ Tôn trọng các quyền hoặc uy tín của người khác; b/ Bảo vệ an ninh quốc gia hoặc trật tự công cộng, sức khỏe hay đạo đức của công chúng”. Còn về quyền tự do tôn giáo, khoản 3, Điều 18 của Công ước này xác định: “Quyền tự do bày tỏ tôn giáo hoặc tín ngưỡng chỉ có thể bị giới hạn bởi những quy định của pháp luật và những giới hạn này là cần thiết cho việc bảo vệ an toàn, trật tự công cộng, sức khỏe hoặc đạo đức của công chúng hoặc những quyền và tự do cơ bản của người khác”. Vì thế, mọi quốc gia có chủ quyền đều chống lại hành vi lạm dụng quyền tự do cá nhân để vi phạm pháp luật.

Ở Việt Nam, quyền tự do ngôn luận được đảm bảo; báo chí không bị kiểm duyệt trước khi in, truyền dẫn và phát sóng. Điều đó được khẳng định rõ trong Luật Báo chí do Quốc hội khóa XIII thông qua tháng 4/2016; đồng thời, sự phát triển nhanh của các phương tiện thông tin đại chúng và internet cho thấy: quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí ở Việt Nam có những bước tiến bộ đáng kể. Năm 2023, cả nước có 06 cơ quan truyền thông chủ lực đa phương tiện, 127 cơ quan báo, 671 cơ quan tạp chí (trong đó, có 319 tạp chí khoa học, 72 tạp chí văn học nghệ thuật), 72 cơ quan đài phát thanh, truyền hình. Nhân sự hoạt động trong lĩnh vực báo chí có khoảng 41.000 người; trong đó, khối phát thanh, truyền hình xấp xỉ 16.500 người. Tổng số người được cấp thẻ nhà báo kỳ hạn 2021 - 2025 tính đến tháng 12/2023 là 20.508 trường hợp, trong đó: 7.587 trường hợp có bằng tốt nghiệp đại học trở lên ngành Báo chí. Cùng với các cơ quan báo chí trong nước, nhiều hãng truyền thông, thông tấn quốc tế đã có mặt tại Việt Nam. Số người dùng internet ở Việt Nam năm 2023 lên tới 77 triệu người, chiếm 79,1% dân số (năm 2022 là 73,2%). Mạng xã hội cũng trở thành nền tảng quan trọng với hơn 70 triệu người tham gia (tương đương 71% dân số). Với các con số này, Việt Nam là quốc gia có lượng người dùng internet cao thứ 12 trên thế giới và đứng thứ 6 trong 35 quốc gia và vùng lãnh thổ tại châu Á. Sự phát triển nhanh chóng của hệ thống báo chí, các cơ quan truyền thông đại chúng, internet và chỉ số trung bình thời gian sử dụng internet của người Việt Nam ở mức cao (khoảng 07 giờ/ngày) là một minh chứng cụ thể cho quyền tự do báo chí, tự do ngôn luận của người dân ở Việt Nam luôn được bảo đảm.

Về tự do tín ngưỡng, tôn giáo, hiện nay ở Việt Nam có đến 95% người dân có đời sống tín ngưỡng. Trong năm 2023, công tác bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo đã đạt được nhiều bước tiến, từ công tác lập pháp, hành pháp và đối ngoại tôn giáo. Hệ thống pháp luật tiếp tục được hoàn thiện, tạo cơ sở pháp lý bảo hộ quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của người dân. Sau khi Nghị định số 162/2017/NĐ-CP bộc lộ một số tồn tại, vướng mắc, nhất là thiếu những biện pháp cụ thể để thi hành hiệu quả Luật Tín ngưỡng, tôn giáo, ngày 29/12/2023, Việt Nam đã ban hành Nghị định số 95/2023/NĐ-CP quy định một số điều và biện pháp thi hành Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (thay thế Nghị định số 162/2017/NĐ-CP). Đây là sự điều chỉnh rất kịp thời nhằm giải quyết những vướng mắc trong thực tế mà người dân, tín đồ gặp phải, như: vấn đề sở hữu đất tôn giáo; sinh hoạt tín ngưỡng đối với những người bị quản lý, giam giữ tại cơ sở quản lý, giam giữ; bảo đảm, tạo điều kiện thuận lợi về mặt pháp lý cho cơ quan nhà nước có thẩm quyền và các nhóm sinh hoạt tôn giáo tập trung của người nước ngoài; hoạt động của các tổ chức, cơ sở tôn giáo, đặc biệt là vấn để sinh hoạt tôn giáo trên không gian mạng. Năm 2023, Việt Nam phát hành Sách trắng “Tôn giáo và chính sách tôn giáo ở Việt Nam” bằng tiếng Việt và tiếng Anh. Đây là tài liệu chính thống, không chỉ cung cấp những thông tin về chính sách, thành tựu bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo ở Việt Nam, mà còn khẳng định các tôn giáo đều bình đẳng trước pháp luật, Nhà nước không phân biệt đối xử vì lý do tín ngưỡng, tôn giáo. Theo đó, “Không một cá nhân, tổ chức tôn giáo nào hoạt động theo đúng pháp luật mà bị ngăn cấm”. Các tổ chức tôn giáo được tạo mọi điều kiện hoạt động theo Hiến chương, Điều lệ và quy định pháp luật. Nhà nước luôn quan tâm và tạo điều kiện để các sinh hoạt tôn giáo, hoạt động tôn giáo của tất cả các tôn giáo được diễn ra bình thường. Đặc biệt, những ngày lễ trọng của các tôn giáo được tổ chức với quy mô lớn, thu hút đông đảo tín đồ tham dự. Năm 2023, Bộ Nội vụ đã ban hành quyết định công nhận tổ chức tôn giáo cho 02 tổ chức (Phật giáo Hiếu nghĩa Tà Lơn, Hội thánh Phúc âm toàn vẹn Việt Nam) và chấp thuận đề nghị thành lập Viện Thần học Báp tít Việt Nam. Tính đến tháng 12/2023, Nhà nước đã công nhận 38 tổ chức tôn giáo, cấp đăng ký hoạt động tôn giáo cho 02 tổ chức và 01 pháp môn tu hành thuộc 16 tôn giáo. Để đáp ứng nhu cầu sinh hoạt tôn giáo của người dân, năm 2023, Nhà xuất bản Tôn giáo đã cấp trên 690 quyết định xuất bản, với trên 2.400.000 bản in. Nhiều kinh sách của các tôn giáo đã được xuất bản bằng tiếng Anh, tiếng Pháp, tiếng dân tộc. Hoạt động quan hệ quốc tế của các tổ chức tôn giáo cũng được quan tâm, tạo điều kiện, góp phần khẳng định chủ trương, chính sách đảm bảo quyền tự do tôn giáo của Việt Nam tới bạn bè quốc tế. Trong năm 2023, có hơn 300 lượt chức sắc, chức việc, nhà tu hành các tôn giáo tham gia hội nghị, hội thảo, các khóa đào tạo về tôn giáo ở nước ngoài; gần 400 lượt người nước ngoài vào Việt Nam hoạt động tôn giáo. Các tổ chức tôn giáo được tạo điều kiện đăng cai, tổ chức các sự kiện tôn giáo quốc tế lớn, như: Giáo hội Công giáo Việt Nam đăng cai tổ chức Hội nghị Liên Hội đồng Giám mục Á Châu năm 2023; Giáo hội Phật giáo Việt Nam đăng cai tổ chức Hội nghị Ban Thư ký Diễn đàn Phật giáo châu Á vì hòa bình; Hội nghị Lãnh đạo Phật giáo ba nước Việt Nam - Lào - Campuchia; các Hội thánh Tin lành Việt Nam tổ chức Lễ hội “Xuân yêu thương”. Điểm nổi bật trong năm 2023 là quan hệ Việt Nam - Vatican có bước tiến lịch sử, khi Vatican chính thức có Đại diện thường trú tại Việt Nam. Nhân sự kiện này, Giáo hoàng Francis bày tỏ quan điểm cho rằng mối quan hệ giữa Việt Nam và Tòa Thánh “tiến tới và sẽ còn tiến nữa, nhờ nhìn nhận những điểm tương đồng và tôn trọng những khác biệt”, qua đó “có thể cùng nhau đi tìm con đường tốt nhất để phục vụ thiện ích của dân tộc Việt Nam và Hội Thánh”. Những thực tế nêu trên chứng minh rõ, nếu ở Việt Nam có sự cấm đoán, chắc chắn các hoạt động tôn giáo không thể sinh động như thế? Vấn đề quan trọng là phải phân biệt những hoạt động tôn giáo thuần túy với những hoạt động lợi dụng tôn giáo để vi phạm pháp luật, như khoản 3, Điều 18 của Công ước quốc tế đã nhắc nhở.

Điểm qua những nhận định nói trên trong Báo cáo tổng kết toàn cầu về nhân quyền trên thế giới năm 2023 của HRW, có thể khẳng định rằng, những nhận định về tình hình nhân quyền ở Việt Nam trong báo cáo này là không khách quan, không đúng thực tế, chỉ là “bổn cũ soạn lại”, không đáng tin cậy, cần kịch liệt lên án và đấu tranh bác bỏ.

NGUYỄN NGỌC HỒI

Cảnh giác với thủ đoạn “chuyển hóa” thế hệ trẻ của các thế lực thù địch

 Nhằm chống phá cách mạng nước ta, các thế lực thù địch, phản động đã không từ một thủ đoạn nào; trong đó, thế hệ trẻ là một trọng điểm của chúng. Đây là thủ đoạn rất nham hiểm nhằm thúc đẩy “diễn biến” để “chuyển hóa” thế hệ rường cột của nước nhà. Do đó, cần đề cao cảnh giác, kiên quyết đấu tranh, bảo vệ thế hệ tương lai của đất nước.

Phát huy vai trò của Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh trong công tác xây dựng Đảng. Ảnh: thanhnienviet.vn

Thế hệ trẻ Việt Nam là những công dân lứa tuổi thanh niên và là lực lượng đông đảo, xung kích trong công cuộc xây dựng, đổi mới, phát triển đất nước. Song, đây cũng là đối tượng mà các thế lực thù địch, phản động tập trung thực hiện âm mưu, hoạt động “diễn biến hòa bình” hết sức tinh vi, thâm độc nhằm chuyển hóa thế hệ này theo con đường phản cách mạng, xói mòn lòng tin đối với Đảng, từng bước hạ thấp, xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, tiến tới xóa bỏ chủ nghĩa xã hội, hướng nước ta theo con đường tư bản chủ nghĩa. Để thực hiện mục tiêu làm cho đoàn viên, thanh niên “khô đoàn, nhạt đảng”, các thế lực thù địch triệt để lợi dụng đặc điểm của tuổi trẻ đang trong độ tuổi thích khám phá, năng động, ham học hỏi, nhưng nhận thức chính trị chưa nhiều, ít kinh nghiệm sống, bồng bột, thiếu bản lĩnh,... để tiến hành các thủ đoạn thâm nhập, tạo “khoảng trống” trong nhận thức chính trị, sự hoài nghi, dao động về bản lĩnh, mục tiêu lý tưởng, suy thoái về đạo đức, lối sống và dần dẫn đến “tự chuyển hóa”.

1. Trên lĩnh vực chính trị, tư tưởng. Các thế lực thù địch tung ra nhiều chiêu bài, thủ đoạn tinh vi làm phai nhạt, triệt tiêu những yếu tố cách mạng, tích cực trong tư tưởng của giới trẻ, tiêm nhiễm vào họ những tư tưởng phi xã hội chủ nghĩa. Chúng cho rằng, con đường ngắn nhất, hiệu quả nhất để đạt được mục đích đó là thực hiện “diễn biến hòa bình” trong lĩnh vực giáo dục nhằm tạo nên lớp người trẻ “chán lịch sử”, “lười học chính trị”, dẫn đến “mất gốc”, không có lý tưởng cách mạng, xa rời các giá trị truyền thống tốt đẹp của dân tộc và mục tiêu, con đường đi lên chủ nghĩa xã hội. Chúng đẩy mạnh tiếp cận giới trẻ thông qua các tổ chức phi chính phủ (NGO) để tổ chức những hoạt động “ngầm”, tuyên truyền, kích động chống phá. Đặc biệt, trong xu hướng hội nhập quốc tế, du học là con đường nhiều người trẻ lựa chọn để “mở mang tầm nhìn”, thỏa sức học hỏi, tiếp thu tri thức nhân loại. Song, đây lại là mảnh đất mầu mỡ, cơ hội để các thế lực thù địch, phản động lợi dụng để thực hiện các hoạt động tuyên truyền, lôi kéo, kích động, cám dỗ thế hệ trẻ. Nội dung tuyên truyền, chống phá của chúng vẫn là những vấn đề về phủ nhận nền tảng tư tưởng của Đảng, nói xấu, bôi nhọ các lãnh tụ của Đảng, xuyên tạc công cuộc đổi mới ở nước ta, vu cáo Việt Nam không có dân chủ, vi phạm nhân quyền; ca ngợi, tán dương hình mẫu “dân chủ, tự do” tư bản, v.v. Những thủ đoạn này tuy không mới, nhưng bằng các chiêu thức tinh vi, các thế lực thù địch, phản động từng bước dẫn dụ lớp người trẻ vào con đường sai trái; khi “con mồi” đã cắn câu, chúng ra sức tung hô là người “cấp tiến”, có khả năng “phản biện xã hội”,… làm cho họ đắm chìm trong “cơn mê sảng” đa nguyên, đa đảng, dân chủ, nhân quyền; tỏ thái độ xem xét, chống đối quan điểm, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, sự nghiệp cách mạng của nhân dân ta, v.v. Hệ quả tất yếu là dẫn đến “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”.

2. Các thế lực thù địch, phản động sử dụng nhiều thủ đoạn tinh vi làm suy đồi về đạo đức, lối sống của thế hệ trẻ, tạo tiền đề dẫn đến sự suy thoái về tư tưởng chính trị. Như một cuộc “xâm lăng văn hóa”, với nhiều thủ đoạn, bằng nhiều con đường, các thế lực thù địch, phản động ra sức truyền bá, đưa các loại văn hóa phẩm đồi trụy vào Việt Nam; tiêm nhiễm lối sống ích kỷ, thực dụng, tôn sùng văn hóa ngoại lai lệch chuẩn, làm cho nhiều người trẻ tha hóa, dần hình thành lối sống dị biệt, đi ngược với văn hóa truyền thống tốt đẹp của dân tộc; thích hưởng thụ, chạy theo vật chất, coi nhẹ các giá trị tinh thần. Và, khi đạo đức, lối sống, nhân cách, nền tảng tinh thần của thế hệ trẻ bị xuống cấp là điều kiện lý tưởng để những luận điệu sai trái, những chiêu trò dụ dỗ, mua chuộc, kích động, thậm chí ép buộc của các thế lực thù địch dễ dàng thâm nhập, thúc đẩy quá trình “tự chuyển hóa” diễn ra nhanh hơn, nguy hiểm hơn.

3. Các thế lực thù địch, phản động triệt để lợi dụng không gian mạng, gây nhiễu loạn dư luận xã hội, tác động trực tiếp đến nhận thức, lập trường của thế hệ trẻ. Chúng đang hằng ngày, hằng giờ tung thông tin giả, xuyên tạc bản chất của sự vật, hiện tượng tràn ngập trên không gian mạng, cản trở thế hệ trẻ tiếp cận thông tin chính thống, sự thật chân chính. Tinh vi hơn, chúng cài cắm những chi tiết thông tin giả, tiêu cực, xuyên tạc, phản động trong các bài viết, sách, báo làm cho ngay cả những người có nhận thức, bản lĩnh chính trị tốt cũng khó nhận ra. Thực trạng hiện nay cho thấy, nhiều bạn trẻ dành nhiều giờ mỗi ngày để “lướt mạng”, đọc tin, xem video, chia sẻ, bình luận,… mà không cần quan tâm đâu là thông tin thật, đâu là tin giả, v.v. Trong mớ hỗn độn của các luồng thông tin đúng - sai, thật - giả, tốt - xấu ấy, nhiều thanh, thiếu niên hoang mang, mất định hướng, không thể kiểm soát nhận thức, cảm xúc và hành vi của mình, bị thao túng, dẫn dắt bởi “hội chứng đám đông”, dẫn đến lệch lạc trong nhận thức, sai trái trong một số hành động, việc làm.

Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh từng căn dặn: “Thanh niên là người chủ tương lai của nước nhà, nước nhà thịnh hay suy, yếu hay mạnh một phần do các thanh niên”1. Đảng ta cũng đã nêu rõ “Thanh niên là rường cột của nước nhà, chủ nhân tương lai của đất nước, là lực lượng xung kích trong xây dựng và bảo vệ Tổ quốc”2. Vì vậy, việc nâng cao cảnh giác, nhận rõ, đấu tranh làm thất bại âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch, phản động hòng chuyển hóa thế hệ trẻ; đồng thời, bảo đảm cho thế hệ trẻ luôn đủ sức “đề kháng” trước các chiêu trò của các thế lực thù địch trong “ma trận” ấy, là nhiệm vụ quan trọng, thường xuyên của các cấp, ngành hiện nay, cần có những giải pháp đồng bộ, quyết liệt, cả cấp bách trước mắt và cơ bản lâu dài.

Quán triệt, thực hiện Nghị quyết số 35-NQ/TW, ngày 22/10/2018 của Bộ Chính trị (khóa XII) về “Tăng cường bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trong tình hình mới”, các cấp, ngành, nhất là các cấp bộ Đoàn cần đẩy mạnh công tác tuyên truyền, giáo dục, kiên quyết đấu tranh vạch trần âm mưu, thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch đang tiến hành. Cung cấp kịp thời những thông tin chính thống, khoa học, để cho thanh niên nhận thức đúng bản chất của vấn đề, không ngừng nâng cao cảnh giác, nhận rõ âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch chỉ nhằm lợi dụng thanh niên để chống phá cách mạng Việt Nam, không vì sự phát triển của thanh niên; thấy được nhiệm vụ chống “diễn biến hòa bình” là một công việc thường xuyên, toàn diện trên mọi lĩnh vực.

Trên cơ sở nâng cao nhận thức về vị trí, vai trò của thế hệ trẻ trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, các cấp, ngành tăng cường sự lãnh đạo, chỉ đạo đối với công tác thanh niên; tập trung nguồn lực, cơ chế, chính sách, tạo điều kiện tốt nhất để thế hệ trẻ được học tập, phát triển toàn diện, lập thân, lập nghiệp, cống hiến cho đất nước. Tăng cường lãnh đạo, chỉ đạo đối với công tác giáo dục, đào tạo, bảo đảm các hoạt động giáo dục, đào tạo, nhất là hoạt động hợp tác quốc tế đúng quan điểm, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước. Các nhà trường tích cực đổi mới phương pháp giảng dạy, kiểm tra đối với các môn khoa học xã hội nhân văn nói chung, môn lịch sử nói riêng, làm cho môn học gần hơn, dễ tiếp thu hơn với tuổi trẻ, góp phần giúp học sinh, sinh viên hiểu biết về nguồn cội, bồi dưỡng, vun đắp lòng yêu nước, ý thức tự hào, tự tôn dân tộc, gia tăng sức mạnh chính trị và tinh thần, để thực sự trở thành động lực giúp thanh niên thực hiện thắng lợi trọng trách xây dựng, bảo vệ Tổ quốc.

Tích cực đổi mới, nâng cao chất lượng giáo dục chính trị, tư tưởng, làm cho chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh thấm sâu và thực sự trở thành nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam trong đời sống xã hội. Bằng lý luận, thực tiễn, nhất là thành tựu của công cuộc đổi mới đất nước dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, làm cho thế hệ trẻ thấy được con đường đi lên chủ nghĩa xã hội là đúng đắn, phù hợp với xu thế phát triển của thời đại, đã và đang đem lại cuộc sống tốt đẹp cho nhân dân Việt Nam. Hiện nay, người dân Việt Nam có cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc, ngày càng được nâng cao. Năm 2023, GDP bình quân đầu người khoảng 4.300 USD; Việt Nam đã ra khỏi nhóm các nước có thu nhập thấp từ năm 2008 và sẽ trở thành nước có thu nhập trung bình cao vào năm 2030 (khoảng 7.500 USD). Đó là minh chứng sống động bác bỏ mọi xuyên tạc về chủ nghĩa xã hội, sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, về dân chủ, nhân quyền,… ở Việt Nam. Cuộc thi chính luận về bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng lần thứ 3 năm 2023 có 301.365 tác phẩm dự thi; trong đó, có sự tham gia động đảo và được trao giải của các nhóm tác giả trẻ tuổi là minh chứng sống động khẳng định sức sống mãnh liệt; sự tin tưởng của các tầng lớp nhân dân, trong đó có thế hệ trẻ vào chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối, sự lãnh đạo của Đảng.

Trong quá trình tiến hành, cần chú trọng giáo dục, rèn luyện thanh thiếu niên thông qua hoạt động thực tiễn và các phong trào Thi đua yêu nước; thực hiện tốt việc kết hợp giữa giáo dục của nhà trường với gia đình và xã hội. Để đạt hiệu quả, ngoài sự vào cuộc của các cấp, mọi lực lượng, cần chăm lo xây dựng tổ chức đoàn các cấp vững mạnh, phát huy tốt vai trò nòng cốt trong phong trào thanh niên. Các cấp bộ Đoàn cần thường xuyên, chủ động nắm bắt, dự báo đúng tình hình tư tưởng đoàn viên, thanh niên; thực sự gần gũi, lắng nghe và thấu hiểu họ để thường xuyên đổi mới, nâng cao chất lượng hoạt động. Đồng thời, tăng cường các giải pháp đồng bộ, với quyết tâm cao, kiên quyết và kiên trì trong quản lý chặt chẽ, hiệu quả internet, mạng xã hội, xây dựng môi trường không gian mạng có tính đảng, văn hóa, lành mạnh.

Cùng với đó, mỗi người trẻ cần đề cao tự tinh thần học tập, rèn luyện, biết “gạn đục, khơi trong” trong tiếp nhận thông tin, tiếp thu cái mới, nâng cao khả năng “tự đề kháng”, luôn đứng vững trên nền tảng tư tưởng của Đảng, truyền thống tốt đẹp của dân tộc với bề dày mấy nghìn năm dựng nước và giữ nước để trở thành người có ích cho đất nước, cho xã hội, hiện thực hóa khát vọng xây dựng đất nước hùng cường, hoàn thành trọng trách đưa đất nước “sánh vai với các cường quốc năm châu” mà Chủ tịch Hồ Chí Minh và dân tộc ta giao phó.

NGUYỄN ĐỨC THỊNH

Bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa xuất phát từ âm mưu, thủ đoạn chống phá của chủ nghĩa đế quốc và các thế lực thù địch

 Thực tiễn cho thấy, chủ nghĩa đế quốc và các thế lực thù địch, phản động chưa bao giờ từ bỏ âm mưu, hành động chống phá cách mạng nước ta; các thế lực hiếu chiến ngoại bang cũng chưa khi nào ngừng dã tâm xâm chiếm, thôn tính Việt Nam. Những năm qua, các thế lực thù địch, phản động, phần tử cơ hội chính trị luôn âm mưu, tìm mọi cách thức, thủ đoạn chống phá nền tảng tư tưởng Đảng, chống phá Đảng, Nhà nước, Nhân dân và chế độ xã hội chủ nghĩa ở nước ta. Thực tế những “điểm nóng” ở Thái Bình (năm 1997); vụ gây rối ở Tây Nguyên (năm 2001, năm 2004); Mường Nhé (năm 2011); bạo động ở Bình Thuận (năm 2018); vụ gây rối trật tự ở xã Đồng Tâm, Hà Nội (năm 2020); vụ khủng bố xảy ra tại huyện Cư Kurin, Đắk Lắk gần đây (ngày 11/6/2023) đã cho thấy các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị trong và ngoài nước câu kết với nhau tăng cường chống phá toàn diện về chính trị, quân sự, kinh tế, tư tưởng, văn hóa,… lợi dụng vấn đề “dân chủ”, “nhân quyền”, “dân tộc”, “tôn giáo”; tuyên truyền kích động, khoét sâu vào những bất đồng, mâu thuẫn để chống phá cách mạng nước ta, phá vỡ khối đại đoàn kết toàn dân tộc, thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ Đảng, nội bộ đất nước. Đảng ta đã nhận định: “Các thế lực thù địch tiếp tục tăng cường chống phá Đảng, Nhà nước và đất nước ta”3. Đây là nguy cơ và cũng là thách thức lớn đối với đất nước ta trong thời gian sắp tới. Hóa giải nguy cơ này chính là phương thức bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa. Và bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa không chỉ có trong nhận thức, tư duy mà còn thể hiển cả trong hành động thực tế. Tư duy không ảo tưởng, thì hành động sẽ không hão huyền.

Từ những cơ sở trên có thể thấy, thực chất luận điệu “bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa chỉ là nỗi lo hão huyền” là luận điệu ru ngủ người tiếp nhận thông tin và truyền tải một tinh thần lơ là, mất cảnh giác đối với nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc để thực hiện âm mưu thâm độc: bác bỏ nội dung quan trọng trong nhiệm vụ trọng yếu, thường xuyên của lĩnh vực quốc phòng, an ninh, bảo vệ Tổ quốc. Do không có bản lĩnh và không nhận thức được bản chất và tính quy luật của vấn đề bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa nên một số người đã ngộ nhận trước luận điệu này, rơi vào chủ quan, thậm chí ảo tưởng, không thấy được những nguy cơ, thách thức đã, đang đe doạ đến vận mệnh của Tổ quốc. Từ không nhận thức được bản chất vấn đề bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa, nên họ cũng không thấy, không biết trách nhiệm của mình phải làm gì và ở đâu?

Đến đây, có thể khẳng định rằng, chính luận điệu phủ nhận “bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa” mới là không có sơ sở thực tế, là “hão huyền”. Bởi,  quan điểm “bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa” của Đảng ta được dựa trên những căn cứ khoa học và cơ sở lý luận, thực tiễn xác đáng.

Phải chăng “Bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa chỉ là nỗi lo hão huyền”?*

 Bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa, giữ nước từ khi nước chưa nguy là tư tưởng nhất quán, xuyên suốt, thượng sách giữ nước của dân tộc Việt Nam qua các thời kỳ lịch sử. Tư tưởng đó tiếp tục được Đảng ta kế thừa, phát triển cả trong hiện tại và tương lai xuất phát từ yêu cầu cấp thiết của nó đối với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, chứ không phải “nỗi lo hão huyền” như luận điệu các thế lực thù địch rêu rao, xuyên tạc.

Lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc cho thấy, ông cha ta luôn coi trọng việc bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa bằng nhiều biện pháp. Hiện nay, bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa đã trở thành quan điểm lớn của Đảng trong lãnh đạo, chỉ đạo lĩnh vực quốc phòng, an ninh, bảo vệ Tổ quốc. Nhiều văn kiện, nghị quyết của Đảng đã khẳng định quan điểm này. Nghị quyết Đại hội XIII tiếp tục khẳng định: “Có kế sách ngăn ngừa các nguy cơ chiến tranh, xung đột từ sớm, từ xa”1. Thế nhưng, đâu đó lại có luận điệu cho rằng: “Bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa chỉ là nỗi lo hão huyền”, không có cơ sở thực tế, không có thật (?!). Để làm rõ vấn đề này, cần làm sáng tỏ những cơ sở khoa học và thực tiễn để khẳng định tính chân lý trong quan điểm của Đảng ta.

Chủ động xây dựng tiềm lực, lực lượng, thế trận quốc phòng toàn dân, thế trận an ninh nhân dân, thế trận lòng dân vững mạnh. Ảnh: dangcongsan.vn

Bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa là sự kế thừa sâu sắc kinh nghiệm quý trong truyền thống dựng nước và giữ nước hàng nghìn năm của dân tộc Việt Nam

Đây là vấn đề có tính quy luật phổ biến của nhiều quốc gia - dân tộc. Đối với Việt Nam, “giữ nước từ khi nước chưa nguy” luôn là vấn đề thường trực của đất nước. Thật vậy, kể từ thế kỷ thứ III trước Công nguyên đến nay, trong khoảng gần 23 thế kỷ, với hàng chục cuộc chiến tranh giữ nước cùng hàng trăm cuộc khởi nghĩa và chiến tranh giải phóng, tính ra thời gian kháng chiến giữ nước và đấu tranh chống đô hộ ngoại bang của dân tộc ta đã chiếm tới 12 thế kỷ. Hầu như mọi triều đại phong kiến Việt Nam đều phải lo trước việc phòng bị và chăm lo bảo vệ đất nước; đều phải tổ chức chiến đấu bảo vệ Tổ quốc. Ngoài ra còn những cuộc trấn áp đối với các thế lực phản loạn, tiếm quyền, các cuộc nổi dậy ly khai, đòi tự trị, v.v. Như vậy, bảo vệ Tổ quốc bao hàm ứng phó với cả “thù trong, giặc ngoài”.

Trong lịch sử, ông cha ta luôn coi trọng công việc giữ nước, thực hiện phương châm “giữ nước từ khi nước chưa nguy”, “nội yên, ngoại tĩnh”. Những tư tưởng và hành động biểu thị sự nghĩ trước, biết trước, lo xa, luôn cảnh giác, đề phòng bất trắc từ trước, từ sớm, từ xa đều nhằm thực hiện mục tiêu chủ yếu ấy. Thực tiễn lịch sử chỉ ra, triều đại nào biết chăm lo sức dân, yên dân, chuẩn bị tốt phòng bị đất nước thì nước yên, kẻ thù không dám nhòm ngó, xâm phạm; còn nội bộ mất đoàn kết, lòng dân ly tán thì nguy cơ bị thôn tính, xâm lược trở nên hiện hữu hơn bao giờ hết. Có những bài học đau xót từ việc coi nhẹ việc giữ nước, tách rời dựng nước với giữ nước, chủ quan khinh địch, lơ là mất cảnh giác, để khi giặc đến đánh thì trở tay không kịp, chuốc lấy thất bại, đẩy dân tộc vào vòng nô lệ ngoại bang. Như vậy, phương châm bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa là sự đúc kết thực tiễn qua hàng nghìn năm lịch sử dựng nước đi đôi với giữ nước của dân tộc ta. Kế thừa tư tưởng của ông cha ta về chăm lo xây dựng và bảo vệ Tổ quốc ngay từ khi nước chưa nguy có một căn cứ lịch sử quan trọng không thể phủ nhận trong tư tưởng bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa của Đảng ta. Đó là sự thật chứ không phải hão huyền như luận điệu thù địch đã rêu rao, xuyên tạc.

Bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa xuất phát và đúc kết từ thực tiễn cách mạng Việt Nam

Sự hình thành, phát triển nhận thức và hệ thống quan điểm của Đảng ta về bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa đã phản ánh trung thành học thuyết Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, phù hợp với tình hình, nhiệm vụ trong từng thời kỳ của cách mạng Việt Nam. Từ khi ra đời cho đến nay, Đảng ta luôn coi trọng lãnh đạo sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc, coi đó là một nội dung lãnh đạo của cách mạng Việt Nam. Khi chưa giành được chính quyền cũng như khi trở thành Đảng cầm quyền, Đảng ta luôn phân tích khoa học tình hình thế giới, khu vực, trong nước và căn cứ vào nhiệm vụ của cách mạng, xác định đúng đắn nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc phù hợp với mỗi giai đoạn lịch sử cụ thể của đất nước.

Sau khi Cách mạng Tháng Tám năm 1945 thành công, bên cạnh giặc ngoài, các thế lực thù địch, phản động trong nước tăng cường chống phá chính quyền cách mạng. Cùng với đó là nạn đói, nạn dốt, tài chính kiệt quệ,… đã đặt vận mệnh quốc gia - dân tộc vào tình thế “ngàn cân treo sợi tóc”. Để chủ động ứng phó với những thách thức trên, ngày 25/11/1945, Trung ương Đảng ra chỉ thị “Kháng chiến kiến quốc”, nêu rõ nhiệm vụ cấp bách trước mắt là củng cố chính quyền, chống thực dân Pháp xâm lược, bài trừ nội phản, cải thiện đời sống nhân dân; trong đó, nhiệm vụ bao trùm là củng cố chính quyền. Bên cạnh lực lượng Quân đội được thành lập từ trước Cách mạng Tháng Tám năm 1945, lực lượng Công an nhân dân được thành lập ngay sau khi giành được chính quyền ở Hà Nội. Đây là những lực lượng nòng cốt bảo đảm thắng lợi cho nhiệm vụ chống thù trong, giặc ngoài, bảo vệ thành quả cách mạng, bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa ngay từ những ngày đầu mới xác lập chính quyền cách mạng.

Sau khi cuộc đàm phán ở Phôngtennơblô năm 1946 tan vỡ, Đảng ta đã nhận định không sớm thì muộn Pháp sẽ đánh mình và mình cũng nhất định phải đánh Pháp. Theo đó, tinh thần bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa, giữ nước từ khi nước chưa nguy lúc này được thể hiện ở sự tích cực, chủ động của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta nhằm ngăn chặn, loại trừ các nguy cơ gây mất an ninh cho đất nước, cho chế độ ngay từ những ngày đầu mới giành chính quyền; đồng thời, mở rộng phạm vi không gian, nội dung, nhiệm vụ, lực lượng, phương tiện bảo vệ; gắn bảo vệ trực tiếp với bảo vệ gián tiếp, bảo vệ bằng phương thức vũ trang kết hợp với các phương thức phi vũ trang, giữa bảo vệ bên trong với bảo vệ bên ngoài đất nước.

Trong kháng chiến chống thực dân Pháp, phương châm bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa là sử dụng tổng hợp các biện pháp, cả kinh tế, chính trị, tư tưởng - văn hóa, khoa học, quân sự, quốc phòng, an ninh, đối ngoại; trong đó, chú trọng các biện pháp đối ngoại, đấu tranh chính trị, pháp lý để ta có được thế chủ động, sẵn sàng ứng phó với các diễn biến của chiến tranh. Từ thực tiễn lãnh đạo nhân dân tiến hành cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp thắng lợi, Đảng ta đã rút ra kinh nghiệm lãnh đạo, chỉ đạo kháng chiến giải phóng dân tộc, một trong những kinh nghiệm đó là: “Vừa chiến đấu, vừa phát triển lực lượng và xây dựng hậu phương kháng chiến”2.

Đến kháng chiến chống Mỹ cứu nước, Đảng ta đã một mặt vận dụng sáng tạo lý luận chủ nghĩa Mác - Lênin, chủ động nắm bắt đúng tình hình thực tiễn cách mạng xác định nhiệm vụ, mục tiêu, đường lối bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa kịp thời, không để bị động, bất ngờ trước mọi tình huống. Mặt khác, tích cực chủ động vừa đánh vừa đàm, phát huy đấu tranh ngoại giao bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa, giữ nước từ khi nước chưa nguy. Với dự đoán chính xác việc Mỹ sẽ đưa máy bay B-52 đánh phá Hà Nội và chỉ chịu thua khi bị thua trên bầu trời Hà Nội là một biểu hiện sinh động về tư duy bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa của Trung ương Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh, từ đó, sớm chỉ đạo quân và dân ta, làm nên Chiến thắng “Hà Nội - Điện Biên Phủ trên không” lịch sử, buộc Mỹ phải trở lại bàn đàm phán và ký Hiệp định Paris về chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam.

Bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa xuất phát từ âm mưu, thủ đoạn chống phá của chủ nghĩa đế quốc và các thế lực thù địch

Thực tiễn cho thấy, chủ nghĩa đế quốc và các thế lực thù địch, phản động chưa bao giờ từ bỏ âm mưu, hành động chống phá cách mạng nước ta; các thế lực hiếu chiến ngoại bang cũng chưa khi nào ngừng dã tâm xâm chiếm, thôn tính Việt Nam. Những năm qua, các thế lực thù địch, phản động, phần tử cơ hội chính trị luôn âm mưu, tìm mọi cách thức, thủ đoạn chống phá nền tảng tư tưởng Đảng, chống phá Đảng, Nhà nước, Nhân dân và chế độ xã hội chủ nghĩa ở nước ta. Thực tế những “điểm nóng” ở Thái Bình (năm 1997); vụ gây rối ở Tây Nguyên (năm 2001, năm 2004); Mường Nhé (năm 2011); bạo động ở Bình Thuận (năm 2018); vụ gây rối trật tự ở xã Đồng Tâm, Hà Nội (năm 2020); vụ khủng bố xảy ra tại huyện Cư Kurin, Đắk Lắk gần đây (ngày 11/6/2023) đã cho thấy các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị trong và ngoài nước câu kết với nhau tăng cường chống phá toàn diện về chính trị, quân sự, kinh tế, tư tưởng, văn hóa,… lợi dụng vấn đề “dân chủ”, “nhân quyền”, “dân tộc”, “tôn giáo”; tuyên truyền kích động, khoét sâu vào những bất đồng, mâu thuẫn để chống phá cách mạng nước ta, phá vỡ khối đại đoàn kết toàn dân tộc, thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ Đảng, nội bộ đất nước. Đảng ta đã nhận định: “Các thế lực thù địch tiếp tục tăng cường chống phá Đảng, Nhà nước và đất nước ta”3. Đây là nguy cơ và cũng là thách thức lớn đối với đất nước ta trong thời gian sắp tới. Hóa giải nguy cơ này chính là phương thức bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa. Và bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa không chỉ có trong nhận thức, tư duy mà còn thể hiển cả trong hành động thực tế. Tư duy không ảo tưởng, thì hành động sẽ không hão huyền.

Từ những cơ sở trên có thể thấy, thực chất luận điệu “bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa chỉ là nỗi lo hão huyền” là luận điệu ru ngủ người tiếp nhận thông tin và truyền tải một tinh thần lơ là, mất cảnh giác đối với nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc để thực hiện âm mưu thâm độc: bác bỏ nội dung quan trọng trong nhiệm vụ trọng yếu, thường xuyên của lĩnh vực quốc phòng, an ninh, bảo vệ Tổ quốc. Do không có bản lĩnh và không nhận thức được bản chất và tính quy luật của vấn đề bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa nên một số người đã ngộ nhận trước luận điệu này, rơi vào chủ quan, thậm chí ảo tưởng, không thấy được những nguy cơ, thách thức đã, đang đe doạ đến vận mệnh của Tổ quốc. Từ không nhận thức được bản chất vấn đề bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa, nên họ cũng không thấy, không biết trách nhiệm của mình phải làm gì và ở đâu?

Đến đây, có thể khẳng định rằng, chính luận điệu phủ nhận “bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa” mới là không có sơ sở thực tế, là “hão huyền”. Bởi,  quan điểm “bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa” của Đảng ta được dựa trên những căn cứ khoa học và cơ sở lý luận, thực tiễn xác đáng.

PGS, TS. PHAN TRỌNG HÀO, Hội đồng Lý luận Trung ương

“Tham nhũng là bản chất của chế độ xã hội chủ nghĩa” - một luận điệu lố bịch

Để nuôi ảo tưởng làm chuyển hóa con đường xây dựng chủ nghĩa xã hội của nước ta, các thế lực thù địch không từ thủ đoạn nào. Trong số đó, “tham nhũng là bản chất của chế độ xã hội chủ nghĩa” là luận điệu xuyên tạc lố bịch đến nực cười, với thái độ hằn học mà các thế lực thù địch ra sức rêu rao thời gian qua.

Thời gian gần đây, trong khi công cuộc chống tham nhũng, tiêu cực của Đảng và Nhà nước ta ngày càng hiệu quả, tạo nhiều hiệu ứng tích cực, được nhân dân và cộng đồng quốc tế ghi nhận, đánh giá cao, thì đã xuất hiện nhiều luận điệu chống phá của các thế lực thù địch. Không chỉ phủ nhận thành tựu chống tham nhũng của ta, chúng còn đơm đặt, xuyên tạc, cho rằng chống tham nhũng, tiêu cực ở Việt Nam chỉ là hình thức, là cuộc chiến thanh trừng phe phái trong nội bộ Đảng Cộng sản Việt Nam. Trắng trợn hơn, chúng còn tung ra luận điệu rằng: tham nhũng là bản chất của chế độ xã hội chủ nghĩa, là căn bệnh nan y của “chế độ độc đảng cầm quyền”. Với luận điệu này, chúng đã cố tình gán ghép và cho rằng, chỉ có chủ nghĩa xã hội mới có tham nhũng và ở chế độ đó cũng không thể chống được tham nhũng. Mục đích sâu xa của những luận điệu này là nhằm chèo lái dư luận, “bôi đen” bức tranh xã hội, làm giảm hiệu quả công tác phòng, chống tham nhũng ở Việt Nam, gây hoài nghi, làm giảm sút lòng tin của nhân dân đối với sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý điều hành của Nhà nước, phá hoại công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.

Trong vấn đề này, họ quá kém cỏi về nhận thức hay cố tình “bỏ qua” vấn đề lý luận đã trở nên quá rõ ràng rằng: tham nhũng là sản phẩm của xã hội có giai cấp và nhà nước, là khuyết tật bẩm sinh của quyền lực. Nghĩa là khi còn giai cấp, có nhà nước, thì tham nhũng được sinh ra tại nơi có quyền lực tồn tại, trong bất kỳ thời điểm lịch sử nào, không phân biệt chế độ nhà nước đó là gì, thể chế chính trị là đa đảng hay một đảng. Và họ chủ ý phớt lờ một thực tế hiển nhiên là, tham nhũng đang hiện là vấn nạn ở mọi quốc gia, mọi chế độ, dù là nước đó có trình độ phát triển đến đâu đi chăng nữa.

Theo Báo cáo Chỉ số cảm nhận tham nhũng (CPI) hằng năm do Tổ chức Minh bạch quốc tế (TI) công bố đều cho thấy, trên thế giới không có quốc gia nào đạt chỉ số 100 điểm, hoàn toàn minh bạch, trong sạch, không có tham nhũng. Trong lịch sử và đặc biệt những năm gần đây, chúng ta chứng kiến những vụ án tham nhũng gây chấn động cả thế giới. Nổi lên trong số đó có vụ Watergate với bê bối, lợi dụng về quyền lực chính trị để trục lợi từ năm 1972 - 1974 của Tổng thống Mỹ Richard Nixơn, buộc ông này phải từ chức trước khi bị phế truất, v.v. Ở những nước kém phát triển hơn, chúng ta cũng biết đến những vụ án tham nhũng nổi tiếng thế giới, như: Arnoldo Aleman - tổng thống thứ 81 của Nicaragua bị bắt với cáo buộc tham nhũng liên quan đến 100 triệu USD trong các quỹ nhà nước ngay sau kết thúc nhiệm kỳ vào năm 2002. Cựu Tổng thống Philippines - Joseph Estrad phạm tội tham nhũng, cũng phải ngồi tù chung thân vào năm 2013. Cựu Tổng thống Hàn Quốc Park Geun Hye bị Quốc hội Hàn Quốc phế truất chức tổng thống vào tháng 12/2016 do bị buộc tội tham nhũng, dính líu đến vụ bê bối chính trị dùng quan hệ cá nhân để tăng ảnh hưởng và trục lợi tài chính, v.v. Thực tế trên cho thấy, tham nhũng có ở mọi chế độ xã hội, ấy vậy mà các thế lực thù địch lại chỉ đem các nước xã hội chủ nghĩa để bôi xấu. Thật nực cười cho cái gọi là “nhìn nhận khách quan” của họ.

Càng mỉa mai thay, trong khi các thế lực thù địch đang cố gán cho chủ nghĩa xã hội những thói hư tật xấu bằng sự nhận thức lý luận non kém và chứng cứ thực tiễn yếu ớt thì những ai khách quan, nghiên cứu thấu đáo về chủ nghĩa xã hội đều không khó để nhận thấy rằng, chủ nghĩa xã hội luôn không đội trời chung với tham nhũng, tiêu cực. Các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác - Lênin đã chỉ rõ căn nguyên của nạn tham nhũng là xã hội còn tồn tại giai cấp, nhà nước và luôn kiên quyết đấu tranh loại bỏ đến tận gốc rễ vấn nạn này, tức là xây dựng thành công chủ nghĩa cộng sản để xóa bỏ giai cấp, nhà nước. Nhà nước xã hội chủ nghĩa do Đảng Cộng sản lãnh đạo là công cụ để đạt được mục tiêu đó. Ngay sau khi Cách mạng Tháng Mười Nga thành công, V.I. Lênin đã sớm nhận ra vấn đề tham nhũng, Người khẳng định: “Hiện giờ có ba kẻ thù chính đang đứng trước mỗi người, bất kể người đó làm việc gì, ở cương vị nào,… kẻ thù thứ nhất - tính kiêu ngạo cộng sản chủ nghĩa; kẻ thù thứ hai - nạn mù chữ; kẻ thù thứ ba - nạn hối lộ”1, “Nếu có cái gì làm tiêu vong chúng ta thì chính là cái đó”2. Đồng thời, V.I. Lênin cũng kêu gọi: “đuổi ra khỏi đảng từ 10 vạn đến 20 vạn người đã len lỏi vào Đảng và đã không những không biết đấu tranh chống bệnh giấy tờ cùng nạn hối lộ, mà còn cản trở cuộc đấu tranh này”3.

Đối với nước ta, thực tế đất nước từ khi có Đảng lãnh đạo đã bác bỏ mọi luận điệu cố tình gán ghép tham nhũng, tiêu cực với bản chất chế độ xã hội chủ nghĩa mà Đảng và dân tộc ta đã lựa chọn. Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn coi tệ tham ô, lãng phí, quan liêu là một thứ “giặc nội xâm”, “giặc ở trong lòng” rất nguy hiểm, đe dọa sự tồn vong của Đảng và chế độ, phải kiên quyết loại bỏ. Người chỉ ra rằng: “Tham ô, lãng phí và bệnh quan liêu, dù cố ý hay không, cũng là bạn đồng minh của thực dân và phong kiến. Vì nó làm chậm trễ công cuộc kháng chiến và kiến quốc của ta. Nó làm hỏng tinh thần trong sạch và ý chí khắc khổ của cán bộ ta. Nó phá hoại đạo đức cách mạng của ta là cần, kiệm, liêm, chính… Vì những lẽ đó, chống tham ô, lãng phí và bệnh quan liêu cũng quan trọng và cần kíp như việc đánh giặc trên mặt trận”4.

Thấm nhuần tư tưởng của Bác Hồ, Đảng, Nhà nước ta luôn nhận diện đúng về tham nhũng, nhìn thẳng vào thực tế, không phủ nhận tham nhũng vốn đã và đang tồn tại như một vấn nạn. Từ đó, nhất quán quan điểm: đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực là nhiệm vụ đặc biệt quan trọng của công tác xây dựng Đảng và xây dựng, hoàn thiện hệ thống chính trị để giữ vững ổn định chính trị, phát triển kinh tế - xã hội; củng cố lòng tin của nhân dân; xây dựng Đảng, Nhà nước trong sạch, vững mạnh; đội ngũ cán bộ, công chức kỷ cương, liêm chính. Quyết tâm chính trị đó đã được biểu hiện bằng hiệu quả thực tế với sự đồng bộ cả về cơ chế, thể chế và hệ thống bộ máy vận hành cơ chế đó.

Về cơ chế, thể chế phòng, chống tham nhũng, tiêu cực, Đảng, Nhà nước ta đã chú trọng ban hành nhiều văn bản nhằm tăng cường quản lý kinh tế - xã hội, từng bước hướng tới “không thể”, “không dám”, “không muốn”, “không cần” tham nhũng. Theo Báo cáo số 06-BC/TW, ngày 23/7/2022 của Bộ Chính trị về tổng kết 10 năm công tác phòng, chống tham nhũng, tiêu cực giai đoạn 2012 - 2022: Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư, các cơ quan tham mưu của Đảng đã ban hành hơn 250 văn bản về xây dựng, chỉnh đốn Đảng và phòng, chống tham nhũng; Quốc hội ban hành hơn 300 luật, pháp lệnh, nghị quyết; Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ ban hành hơn 2.600 nghị định, quyết định, chỉ thị; cấp ủy, tổ chức đảng trực thuộc Trung ương ban hành hơn 45.000 văn bản; các bộ, ngành, địa phương ban hành gần 100.000 văn bản để cụ thể hóa, hướng dẫn thi hành, tổ chức thực hiện công tác phòng, chống tham nhũng, tiêu cực5. Kiến nghị sửa đổi, bổ sung, bãi bỏ, thay thế hơn 2.000 văn bản quy phạm pháp luật không còn phù hợp, bịt kín những “khoảng trống”, “kẽ hở” để “không thể tham nhũng, tiêu cực”.

Hệ thống bộ máy chống tham nhũng, tiêu cực từ Trung ương đến cơ sở được xây dựng, hoàn thiện và vận hành đồng bộ, hiệu quả, đặt dưới sự lãnh đạo trực tiếp, toàn diện của Đảng, sự điều hành của Chính phủ, sự giám sát của Quốc hội, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức đoàn thể chính trị - xã hội và nhân dân. Để chỉ đạo toàn diện công tác phòng, chống tham nhũng, tiêu cực trên phạm vi cả nước, ngày 01/02/2013, Ban Chỉ đạo Trung ương về phòng, chống tham nhũng trực thuộc Bộ Chính trị được thành lập do Tổng Bí thư làm Trưởng ban và từ tháng 8/2022 đến nay, 63 Ban Chỉ đạo phòng, chống tham nhũng, tiêu cực cấp tỉnh cũng đã được thành lập và đi vào hoạt động hiệu quả. Ban Nội chính Trung ương và ban nội chính các tỉnh ủy, thành ủy cũng được tái lập. Quan hệ phối hợp giữa các cơ quan, đơn vị chức năng, như: cơ quan kiểm tra, giám sát, nội chính của Đảng; cơ quan thanh tra, kiểm toán, điều tra,… của Trung ương và địa phương trong công tác phòng, chống tham nhũng cũng được chú trọng, tăng cường; hợp tác quốc tế trong chống tham nhũng, tiêu cực cũng có bước phát triển mới. Vai trò của các cơ quan dân cử, cơ quan báo chí và nhân dân trong công tác phòng, chống tham nhũng được chú trọng, phát huy, tạo sức mạnh tổng hợp trong cuộc chiến đầy cam go này.

Thực tế cho thấy, với tinh thần không có vùng cấm, không có ngoại lệ, bất kể người đó là ai và không chịu sức ép của bất kỳ cá nhân nào, công tác phát hiện và xử lý tham nhũng, tiêu cực đã được tiến hành bài bản, đồng bộ, quyết liệt và hiệu quả; mở rộng phạm vi, đối tượng đến cả cấp huyện và cơ sở; xử lý cả cán bộ đương chức và nghỉ hưu, cả cán bộ cấp cao và cán bộ trong lực lượng vũ trang; nhiều vụ việc phức tạp, kéo dài, liên quan đến nhiều cấp, nhiều ngành, nhiều địa phương được chỉ đạo, xử lý dứt điểm. Trong giai đoạn 2012 - 2022, cấp ủy, ủy ban kiểm tra các cấp đã thi hành kỷ luật 7.390 đảng viên do tham nhũng, trong đó có 170 cán bộ thuộc diện Trung ương quản lý, gồm 04 Ủy viên Bộ Chính trị, nguyên Ủy viên Bộ Chính trị; 29 Ủy viên Trung ương, nguyên Ủy viên Trung ương; 50 sĩ quan cấp tướng trong lực lượng vũ trang. Riêng từ đầu nhiệm kỳ Đại hội XIII đến nay đã thi hành kỷ luật hơn 50 cán bộ thuộc diện Trung ương quản lý, trong đó có 08 Ủy viên Trung ương, nguyên Ủy viên Trung ương, 20 sĩ quan cấp tướng6.

Kết quả đó cho thấy công tác đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực “đã trở thành phong trào, thành xu hướng không thể đảo ngược”, là công việc không của riêng ai; thể hiện quyết tâm, trách nhiệm của Đảng, Nhà nước ta trong vấn đề này, “khiến cho mọi sự xuyên tạc, chống phá của các thế lực xấu, thù địch đều trở nên trơ trẽn, nực cười”7.

Đại tá NGUYỄN CÔNG KHƯƠNG - Thiếu tá NGUYỄN TRẦN NHÂN NGHĨA, Trường Quân sự Quân khu 5 

“Làm mới thông tin cũ” hòng xuyên tạc Chiến thắng 30/4/1975 là không thể chấp nhận

 “Làm mới thông tin cũ” là thủ đoạn mà các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị đang ráo riết thực hiện nhằm xuyên tạc, hạ thấp tầm vóc, ý nghĩa và giá trị của Chiến thắng 30/4 cũng như cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của nhân dân ta. Nhưng sự thật lịch sử luôn rõ ràng và thủ đoạn chống phá đầy ác ý, rất thâm độc, mang tính thù địch này là không thế chấp nhận.

Cách đây gần 50 năm, đúng 11 giờ 30 phút, ngày 30/4/1975, lá cờ của Mặt trận dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam tung bay trên nóc Dinh Độc Lập - phủ Tổng thống ngụy quyền Sài Gòn, đánh dấu giờ phút thiêng liêng của dân tộc Việt Nam, Chiến dịch Hồ Chí Minh toàn thắng, kết thúc vẻ vang cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của nhân dân ta. Chiến thắng này “mãi mãi được ghi vào lịch sử dân tộc ta như một trong những trang chói lọi nhất, một biểu tượng sáng ngời về sự toàn thắng của chủ nghĩa anh hùng cách mạng và trí tuệ con người, và đi vào lịch sử thế giới như một chiến công vĩ đại của thế kỷ XX, một sự kiện có tầm quan trọng quốc tế to lớn và có tính thời đại sâu sắc”1.

Thời gian thấm thoát đi qua, Chiến thắng vĩ đại này đã lùi vào lịch sử. Trong khoảng thời gian ấy, con cháu của thế hệ làm nên chiến thắng càng thấm thía hơn những mất mát, đau thương, sự hy sinh lớn lao của thế hệ cha anh; càng cảm nhận sâu sắc hơn trên mọi phương diện cuộc kháng chiến và càng tự hào về Đảng quang vinh, Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại, về dân tộc và Quân đội nhân dân Việt Nam anh hùng. Đó là nguồn động lực to lớn cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc của nhân dân ta hôm nay.

Chiến thắng 30/4/1975 còn được nhân dân thế giới hết lời ca ngợi, coi đó là chiến thắng vĩ đại của “chính nghĩa, lòng nhân đạo và chủ nghĩa anh hùng”; chứng tỏ không sức mạnh nào có thể “khuất phục được một dân tộc anh hùng”; là thắng lợi “mãi mãi ghi vào sử sách”, v.v. Chính người Mỹ cũng đã phải thừa nhận thất bại và khâm phục sức mạnh của nhân dân Việt Nam: “Lịch sử phải đánh giá họ (người Việt Nam - tác giả) cao nhất về sức chiến đấu ngoan cường và dũng cảm của con người”2.

Thế nhưng, trong gần nửa thế kỷ qua, vẫn không ít kẻ cố tình xuyên tạc lịch sử, bản chất, tính chất, ý nghĩa, tầm vóc của cuộc kháng chiến. Những luận điệu bóp méo, hạ thấp, phủ định ý nghĩa và giá trị của Chiến thắng 30/4/1975 được các thế lực thù địch tung lên trên mọi phương tiện thông tin, truyền thông với nhiều hình thức, cả ở trong nước và nước ngoài. Họ xuyên tạc trắng trợn cuộc kháng chiến của nhân dân ta là cuộc nội chiến “huynh đệ tương tàn” giữa hai miền; rằng cuộc chiến tranh này “hoàn toàn vô nghĩa, “đáng lý đã không xảy ra, nó có thể tránh được”! Tráo trở hơn, họ còn ra sức biện hộ cho hành động xâm lược của Mỹ ở miền Nam là để “giúp” Việt Nam tiếp cận văn minh phương Tây, đó không phải là xâm lược; vì miền Bắc cộng sản “xâm lược miền Nam”, nên Mỹ phải “có trách nhiệm bảo vệ đồng minh của mình”, v.v. Có người còn “thảng thốt” kêu lên “Tháng Tư đen”, ngày 30/4 là ngày “quốc hận”đó “không phải là chiến thắng của Việt Nam”, cuộc chiến tranh này “không có kẻ thua, người thắng, mà chỉ nhân dân là chịu thiệt thòi”.

Những luận điệu xuyên tạc trên thực chất chỉ là chiêu trò “làm mới thông tin cũ”, đầy ác ý, rất thâm độc, thể hiện sự thù địch, thiên kiến lệch lạc và cả sự ngộ nhận, mơ hồ trong nhìn nhận, đánh giá lịch sử ở một số người; và cứ đến dịp nhân dân ta kỷ niệm Chiến thắng, thì sự xuyên tạc đó lại dồn dập hơn. Những mỹ từ “yêu nước”, “vì dân, vì nước”, “tâm huyết”, “tôn trọng sự thật lịch sử”,… được họ tung ra nhằm làm tăng tính thuyết phục, hòng lừa gạt những người dân nhẹ dạ, cả tin, tác động mạnh mẽ, tiêu cực đến tư tưởng, tình cảm và thái độ của nhân dân đối với Chiến thắng vĩ đại 30/4/1975.

Những luận điệu công kích đó không đơn thuần để xuyên tạc, phủ nhận tầm vóc, ý nghĩa và giá trị của Chiến thắng, mà còn nhằm chống phá sự nghiệp cách mạng, công cuộc đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc của nhân dân ta dưới sự lãnh đạo của Đảng. Nó còn reo rắc sự hận thù, chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân tộc, chia rẽ người Việt Nam ở trong nước với người Việt Nam định cư, sinh sống ở nước ngoài, nhằm hạ uy tín, phá hoại các mối quan hệ quốc tế của Việt Nam nói chung, mối quan hệ ngày càng tốt đẹp giữa Việt Nam và Hoa Kỳ nói riêng. Đó là mưu đồ thực sự của những kẻ đưa ra những luận điệu xuyên tạc Chiến thắng 30/4.

Chúng ta biết, sự thật luôn phải được tôn trọng, không thể xuyên tạc; đánh giá, nhìn nhận lịch sử phải khách quan, trung thực. Không thể phủ nhận, xem nhẹ những hy sinh, mất mát to lớn của nhiều thế hệ người Việt Nam đã làm nên Chiến thắng. Những người cho đây là cuộc nội chiến “huynh đệ tương tàn” đã cố tình xuyên tạc, làm méo mó bản chất, tính chất cuộc kháng chiến của nhân dân ta. Cần nhắc lại cho họ rõ, cuộc chiến này là cuộc đụng đầu lịch sử giữa chính nghĩa - chống xâm lược và phi nghĩa - xâm lược, bạo tàn; giữa độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội với chủ nghĩa đế quốc, chủ nghĩa chống cộng do đế quốc Mỹ đứng đầu. Xâm lược Việt Nam, chúng muốn “đè bẹp mọi phong trào giải phóng dân tộc, chặn đứng bước tiến của chủ nghĩa xã hội ở bất cứ nơi nào trên thế giới”3. Mỹ đưa vào Việt Nam hơn nửa triệu quân, sử dụng tất cả các loại vũ khí, phương tiện kỹ thuật hiện đại nhất, với mưu toan đè bẹp ý chí chiến đấu, buộc nhân dân ta phải khuất phục. Đế quốc Mỹ còn thực thi chiến dịch ném bom hủy diệt Thủ đô Hà Nội và miền Bắc bằng siêu pháo đài bay B.52, hòng biến Hà Nội và Bắc Việt Nam “trở về thời kỳ đồ đá”. Đó là sự thật lịch sử.

Cần nhắc lại cho họ rõ, miền Nam là một bộ phận không tách rời của Việt Nam; đó là máu thịt của Việt Nam, chân lý đó không bao giờ thay đổi. Nhân dân Việt Nam đứng lên chống thế lực xâm lược là nhằm bảo vệ chân lý đó. Chỉ có nhân dân Việt Nam chống kẻ xâm lược chứ không có chuyện miền Bắc xâm lược miền Nam, càng không thể gọi đó là nội chiến “huynh đệ tương tàn” như sự xuyên tạc của các thế lực thù địch.

Nhân dân ta vốn yêu chuộng hòa bình, không hề muốn chiến tranh xảy ra và càng không muốn đất nước mình rơi vào cảnh chết chóc, bị tàn phá. Vì thế, luận điệu về cuộc chiến này là “không cần thiết”, hoàn toàn “có thể tránh khỏi” là sự ngụy biện trơ trẽn, bởi kẻ thù đã chủ động gây chiến, đem quân xâm lược nước ta, buộc nhân dân ta phải vùng lên kháng chiến. Cũng không thể nói xằng, chiến thắng của nhân dân ta “không phải là chiến thắng của Việt Nam trước Mỹ”! Đây là luận điệu vừa phi lịch sử, vừa phi đạo đức. Cần lưu ý và nhấn mạnh cho những ai đưa ra luận điệu trên thấy rằng, Chiến thắng 30/4 là chiến thắng của cả dân tộc Việt Nam trước thế lực xâm lược hùng mạnh, trực tiếp loại trừ “một tội ác chống nhân loại”4; là sự phá sản, thất bại của thế lực xâm lược lớn nhất hòng áp đặt ách thống trị, áp bức đối với nhân dân ta ở miền Nam. Lịch sử đã chứng minh, mục tiêu chiến lược của Mỹ là áp đặt chủ nghĩa thực dân mới, biến miền Nam Việt Nam thành thuộc địa kiểu mới, một bàn đạp chiến lược, để thực hiện mưu đồ bá chủ thế giới, chứ không phải là “không hề muốn cai trị Việt Nam”. Việc quân Mỹ buộc phải rút khỏi Việt Nam (năm 1973) là do sự phá sản, thất bại trong chính sách xâm lược Việt Nam của Mỹ, chứ không phải là một “sai lầm lịch sử” đơn thuần. Đó cũng chính là do thắng lợi của nhân dân ta trong việc “đánh cho Mỹ cút”, để tiếp đến đánh cho “ngụy nhào”. Sự thất bại của Mỹ và bè lũ tay sai là một tất yếu và đến ngày 30/4/1975 lôgíc tất yếu ấy kết thúc; không thể nói bừa “không có kẻ thua, người thắng”.

Nếu đề cập đến “sai lầm lịch sử” ở đây, thì đó là sai lầm của Mỹ khi tiến hành dã tâm xâm lược Việt Nam. Về điều này, nhiều quan chức và học giả Mỹ đã thừa nhận. Nhà báo nổi tiếng Rubert Conwell đã phải lên tiếng phản bác quan điểm xuyên tạc cho rằng: đó không phải là chiến thắng của Việt Nam trước Mỹ và nhấn mạnh “Hôm nay cách nhìn nhận đó đã sụp đổ”5. Trong cuốn Chiến tranh Việt Nam và văn hóa Mỹ, tác giả J.C.Rowe (J.C.Râu-ơ) và R.Berg (R.Bơ-gơ) đã viết: “trên 70% dân chúng vẫn coi cuộc chiến (Mỹ xâm lược Việt Nam) “căn bản là sai lầm và phi đạo đức”; “Nói ngắn gọn, Mỹ xâm lăng nam Việt Nam, ở đó Mỹ đã tiến tới việc làm ngơ tội ác xâm lăng với nhiều tội ác khủng khiếp chống nhân loại trên khắp Đông Dương”6.

Như vậy, sự xuyên tạc của các thế lực thù địch là không thể chấp nhận, nó càng trở nên lạc lõng và lố bịch, bởi sự thật lịch sử ngày càng ngời sáng; bởi giá trị, ý nghĩa to lớn của Chiến thắng 30/4 ngày càng thẩm thấu và lan tỏa sâu rộng. Chiến thắng vĩ đại này khiến cả thế giới kính phục, trong đó có cả những học giả, chính khách, tướng lĩnh Mỹ từng trực tiếp tham gia chiến tranh, xem đó như là một biểu tượng của chủ nghĩa anh hùng, tinh thần anh dũng, lòng quả cảm, ý chí không chịu khuất phục trước thế lực đế quốc hung bạo và gọi Việt Nam là “lương tri của thời đại”. Nhiều người Việt bên kia chiến tuyến từng tuyên bố “không đội trời chung với cộng sản” nay đã quay về quê cha đất tổ, rũ bỏ thù hằn và được Mẹ Tổ quốc Việt Nam mở rộng vòng tay đón nhận.

Dù các thế lực thù địch và những phần tử cơ hội, chống đối có cố gắng làm mới những điều đã cũ, những thông tin cũ mà họ đã từng ra rả từ lâu và có tinh vi, xảo quyệt đến đâu, thì cũng không thể xuyên tạc, làm phai mờ được giá trị và ý nghĩa to lớn của Chiến thắng 30/4. Chính nhiều người Mỹ ngày càng có suy nghĩ đúng, nhận thức rõ hơn sự hy sinh, mất mát và chiến thắng của nhân dân ta, tin tưởng vào sự phát triển của Việt Nam trong tương lai. Chính Rôbét Mắc Namara - cựu Bộ trưởng Bộ Quốc phòng Mỹ đã phát biểu: “Điều làm tôi thực sự cảm động là tôi không hề nhận thấy sự hận thù nào trong ánh mắt của người Việt Nam đối với tôi. Một Việt Nam thanh bình dẫu chưa phồn vinh nhưng quả là đẹp. Một đất nước như thế, một dân tộc như thế thì họ từng đứng vững trong quá khứ và sẽ tiến lên trong tương lai là điều không thể tranh cãi”7.

Nhớ về lịch sử, nhưng chúng ta khép lại quá khứ, hướng tới tương lai. Người Mỹ cũng chủ trương như vậy. Việt Nam và Hoa Kỳ đã bình thường hóa, quan hệ giữa hai nước ngày càng phát triển và hiện đã trở thành đối tác Chiến lược toàn diện của nhau. Điều đó không thể thiếu sự ảnh hưởng, thẩm thấu và lay động bởi những giá trị và ý nghĩa to lớn từ Chiến thắng 30/4 của nhân dân Việt Nam.

Đại tá, PGS, TS. NGUYỄN MẠNH HƯỞNG - Đại tá, ThS. NGUYỄN CÔNG HUYNH­*