Thứ Hai, 20 tháng 5, 2024

Lật tẩy thủ đoạn gây chia rẽ khối đại đoàn kết tôn giáo, chống phá Đảng, Nhà nước

 Thời gian qua, với sự chung tay, đồng lòng của các cấp, các ngành, các tổ chức chính trị, xã hội và đồng bào các tôn giáo, khối đại đoàn kết các tôn giáo ngày càng vững chắc, đi vào chiều sâu. Tại nhiều cộng đồng dân cư, đồng bào theo hay không theo các tôn giáo tích cực chung tay, phấn đấu để xây dựng quê hương, đất nước, giáo hội ngày càng giàu mạnh. Chính sự gắn kết trong khối đại đoàn kết các tôn giáo đã, đang góp phần tạo nên sức mạnh chung của toàn dân tộc, là động lực giúp đất nước vượt qua những khó khăn, thách thức để hội nhập và phát triển.

Thế nhưng, lạc lõng và đứng ngoài những xu hướng nói trên, vẫn còn đó một bộ phận chức sắc, tín đồ các tôn giáo vì những động cơ riêng và bị chi phối, điều khiển bởi những thế lực xấu nên đã có những hành vi gây chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân tộc, tạo ra những xáo trộn, mâu thuẫn từ bên trong và làm tiền đề chống phá ở mức độ cao hơn, nguy hiểm hơn. Từ lâu, các thế lực thù địch, phản động đã ra sức khai thác, lợi dụng vấn đề tôn giáo hòng gây chia rẽ chính tôn giáo đó với nhà nước, giữa người theo tôn giáo và người không theo tôn giáo hoặc giữa chính các tôn giáo với nhau. Trong nhiều giai đoạn lịch sử, với đặc trưng là một quốc gia đa tôn giáo, đất nước Việt Nam chúng ta đã bị các thế lực thù địch triệt để lợi dụng từng sự việc cụ thể, bóp méo bản chất, đẩy sự việc thành cao trào hòng khiến khối đại đoàn kết tôn giáo bị chia rẽ.  Đây là thời cơ để các thế lực thù địch mưu đồ gây bạo loạn lật đổ, “cách mạng màu” như đã diễn ra tại nhiều nước. Nhận diện được vấn đề này, chúng ta sẽ hiểu rõ hơn tại sao dù thời cuộc đã khác nhưng chiêu bài “tự do tôn giáo” vẫn là tâm điểm, mũi nhọn của các thế lực thù địch trong mục tiêu làm chia rẽ, làm suy yếu Việt Nam, gián tiếp ngăn cản, làm chậm tiến trình xây dựng, phát triển đất nước.

Có thể nhận diện các chiêu trò, thủ đoạn chia rẽ khối đại đoàn kết tôn giáo trên những dạng thức cụ thể sau:

Một là, chia rẽ các tôn giáo với nhau, bên trong từng tôn giáo và giữa người theo tôn giáo với người không theo tôn giáo nhằm làm suy yếu khối đại đoàn kết toàn dân tộc.

Trên thực tế, nhiều ý kiến còn chủ quan cho rằng, việc các thế lực thù địch, phản động chia rẽ các tôn giáo với nhau ít hoặc không tác động đến khối đoàn kết dân tộc, không ảnh hưởng tới sức mạnh chung của đất nước, nhất là trong bối cảnh hiện nay. Đây là một quan điểm sai lầm. Một dân tộc không thể nói là đoàn kết nếu như các bộ phận cấu thành trong đó riêng rẽ, nghi kỵ, công kích, chống phá lẫn nhau và một quốc gia đa tôn giáo, tín ngưỡng như Việt Nam thì điều đó càng phải được nhận thức rõ. Bằng chứng là lịch sử dân tộc thời kỳ 1955 – 1975 cho thấy, để bình định, thâu tóm miền Nam Việt Nam và phục vụ cho mưu đồ tấn công ra miền Bắc, bằng những chiêu thức ngấm ngầm và công khai, chính quyền Việt Nam cộng hòa khi đó, đặc biệt là dưới thời kỳ cai trị của Mỹ - Diệm đã sử dụng triệt để chiêu bài chia rẽ, phân hóa các tôn giáo với nhau, giữa người theo và không theo tôn giáo. Theo đó, Việt Nam cộng hòa đã chủ trương thúc đẩy, hình thành tại các giáo phái (các tổ chức tôn giáo) khi đó như Cao Đài, Hòa Hảo (có những lực lượng quân sự bên trong); sự xuất hiện, ra đời của cái gọi là “Quân đội Hòa Hảo”, “Quân đội Cao Đài”, “Bình Xuyên” có căn nguyên từ đó.

Ngày nay, trong bối cảnh mới, sự chia rẽ giữa các tôn giáo với nhau hòng phá hoại khối đại đoàn kết không còn diễn ra như trước đây. Tuy có sự khác nhau về cách thức, cường độ song đây vẫn được xem là một vấn đề trọng tâm, được các thế lực xấu triệt để thực hiện với sự đan xen giữa phương thức cũ và mới. Theo đó, các đối tượng triệt để sử dụng những tiện ích của các trang mạng xã hội, phương tiện truyền thông đại chúng thiếu thiện chí với Việt Nam như VOA, RFA, RFI…, các thế lực thù địch, phản động đã cố tình bôi đen, xuyên tạc, tạo sự đối lập các tôn giáo với luận điệu “nhà nước đang ủng hộ, hậu thuẫn, coi trọng cho tôn giáo này, bóp nghẹt tôn giáo kia”. Đồng thời, chúng phủ định chính sách bình đẳng giữa các tôn giáo của Đảng, Nhà nước ta.

Với thủ đoạn này, chúng nhằm “một mũi tên trúng hai đích”: Vừa xuyên tạc, tố cáo chính quyền, làm cho mối quan hệ giáo hội với chính quyền trở nên xấu đi, thậm chí rơi vào bế tắc, đối kháng, vừa gây chia rẽ nhằm làm các tôn giáo đối lập, đối đầu với nhau. Tại một số địa phương, một số chức sắc tôn giáo cực đoan đã công khai so sánh về quỹ đất mà chính quyền cấp cho. Chúng tung ra luận điệu: “Tôn giáo nào biết nghe lời, bị khuất phục thì tôn giáo đó muốn gì, đòi gì cũng được và ngược lại”. Với thủ đoạn này, dù không trực diện nhưng về lâu dài, các đối tượng mưu đồ làm cho bà con các tôn giáo tại cơ sở đối lập, mâu thuẫn với nhau. Chúng xuyên tạc, thổi phồng các luận điệu rằng, chính quyền, Nhà nước Việt Nam “hà khắc” với tôn giáo này, ưu ái tôn giáo kia trong sinh hoạt và giải quyết các nhu cầu, nguyện vọng, nhất là về đất đai, xây dựng... Đồng thời lên án, chỉ trích sự đồng hành của các tôn giáo đối với một vấn đề, sự vụ cụ thể, qua đó khoét sâu làm cho giữa các tôn giáo với nhau và trong từng tôn giáo có sự phân hóa sâu sắc về mặt đường hướng, thái độ và cách thức ứng xử.

Những năm qua, trước sự tàn phá của thiên tai, dịch bệnh, nhất là đại dịch COVID-19, Giáo hội các tôn giáo đều đồng hành, chung tay ứng phó, khắc phục hậu quả xảy ra và phòng ngừa những vấn đề tương tự. Rất nhiều những hình ảnh các tín đồ, chức sắc tôn giáo không quản ngại khó khăn, vất vả, nguy hiểm đến các vùng tâm dịch để hỗ trợ người dân… Song với thái độ thiếu thiện chí, các thế lực thù địch đã bỉ bôi, cho rằng điều đó là không cần thiết, kích động rằng “Giáo hội Phật giáo có lí do để dấn thân vì dù sao Đảng Cộng sản và Nhà nước Việt Nam cũng xem đó là Quốc giáo”, còn người Công giáo “nên lo cho mình, người đồng đạo của mình trước”!

Để tạo ra sự đối lập, gia tăng các mâu thuẫn, bất đồng, chúng đã triệt để khai thác những vấn đề tồn tại trong lịch sử, bịa đặt, xuyên tạc về quá trình hình thành, phát triển của từng hệ phái trong mỗi tôn giáo cụ thể. Các thế lực thù địch, phản động bôi nhọ, xúc phạm danh dự, nhân phẩm của một số nhà lãnh đạo Phật giáo đóng vai trò tập hợp, quy tụ chức sắc, tín đồ Phật giáo trong nước và miệt thị đường hướng mục vụ “Đạo pháp – Dân tộc – Chủ nghĩa xã hội”. Chúng xuyên tạc rằng, đó là tinh thần lệ thuộc Nhà nước của Giáo hội Phật giáo Việt Nam. Bên cạnh đó, chúng ra sức cổ xúy, quảng bá về đường hướng của “Giáo hội Phật giáo Việt Nam thống nhất”, bất chấp tổ chức này đã bị vạch trần bản chất tay sai, chống phá nhà nước và đi ngược lại quyền, lợi ích của dân tộc. Hình ảnh, hoạt động của các đối tượng chống phá như Thích Quảng Độ, Thích Không Tánh được tâng bốc, xem như đó là những “đấng chân tu chân chính”. Chính điều này đã ngăn cản và làm cho lộ trình thống nhất trọn vẹn Phật giáo Việt Nam đến nay vẫn chưa thực hiện được.

Hai là, chia rẽ các tôn giáo với Đảng, Nhà nước.

Với âm mưu làm suy giảm tiềm lực của Đảng, Nhà nước và nhân dân ta, gây mất ổn định tình hình ANTT, các thế lực thù địch, phản động đã sử dụng mọi phương thức, thủ đoạn, trong đó có chiêu bài chia rẽ các tôn giáo với Đảng, Nhà nước. Chúng mưu đồ gây nên những bất ổn từ bên trong, tiến tới những cuộc “cách mạng màu”, bạo loạn, lật đổ. Chiêu trò, thủ đoạn chia rẽ các tôn giáo với Đảng, Nhà nước ta gần đây diễn ra dưới các dạng thức sau:

(1). Tìm cách gieo rắc, thổi phồng mâu thuẫn, tranh chấp, qua đó tuyên truyền rằng, tôn giáo không thể đồng hành với chế độ XHCN tại Việt Nam. Để thực hiện mưu đồ này, chúng cố tình xuyên tạc tình hình tự do tôn giáo tại Việt Nam. Chúng tuyên truyền, đánh tráo khái niệm, tự cho rằng, quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo tuyệt đối và không chịu bất cứ sự ràng buộc, chế tài xử phạt nào, kể cả khi xâm phạm quyền, lợi ích của các chủ thể khác được pháp luật bảo hộ. Bịa đặt việc Đảng, Nhà nước, chính quyền địa phương phân biệt đối xử, đàn áp tôn giáo. Thủ đoạn này được thực hiện phổ biến từ giai đoạn năm 1995 trở đi, khi Việt Nam chính thức bình thường hóa quan hệ với Mỹ và các hoạt động giao lưu, đối ngoại quốc tế được mở rộng. Nhiều vụ việc đã được truyền thông quốc tế thù địch với Việt Nam khai thác tối đa khiến dư luận quốc tế hiểu sai về tình hình tôn giáo, tự do tôn giáo trong nước. Vụ việc Thái Hà – Nhà Chung (Hà Nội) năm 2008, 2009 và chuỗi các hoạt động, vụ việc phức tạp tại Giáo phận Vinh (Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình), nhất là sau vụ ô nhiễm môi trường biển do Công ty TNHH Hưng Nghiệp Formosa Hà Tĩnh xả thải là những ví dụ điển hình.

(2). Trong vụ ô nhiễm môi trường biển ở miền Trung, các thế lực thù địch, phản động lợi dụng vụ việc này để “gia công”, đẩy sự việc lên thành điển hình, thiết lập sự đối kháng giữa Nhà nước và tổ chức tôn giáo. Chúng kích động, xúi giục để một số chức sắc Công giáo có cái nhìn phiến diện, lệch lạc về vấn đề trên. Sau đó, núp bóng dưới danh nghĩa “đòi khiếu nại bồi thường” thiệt hại sự cố môi trường biển để kích động, tụ tập hàng ngàn giáo dân, mang băng rôn, khẩu hiệu kéo lên bao vây trụ sở UBND huyện Lộc Hà, Hà Tĩnh (xảy ra tháng 4/2017). Thay vì cùng nhau ngồi đối thoại, đưa ra những ý kiến trên tinh thần xây dựng với chính quyền địa phương thì các đối tượng lại hô hào, kích động hòng tạo ra xung đột. Từ đó, chúng lu loa, vu vạ rằng, Đảng, Nhà nước ta đang “can thiệp thô bạo vào quyền tự do tôn giáo” của người dân!

Thời điểm năm 2021, 2022 khi đại dịch COVID-19 đang diễn biến phức tạp, trong khi người người, nhà nhà đều chấp hành các quy định đưa ra để đưa đất nước an toàn, vượt qua đại dịch, giảm thiểu tối đa thương vong về con người, vật chất thì một số cá nhân chức sắc tôn giáo đã kích động người dân tụ tập, không chấp hành các quy định phòng, chống dịch, gây phức tạp tình hình. Khi bị lên án, với sự kết hợp “nội công ngoại kích”, các đối tượng cực đoan, bất mãn chính trị trong nước và các thế lực thù địch, phản động bên ngoài đã xuyên tạc việc Nhà nước, chính quyền địa phương cấm đoán, không cho các tổ chức tôn giáo hành lễ, sinh hoạt tôn giáo. Chúng lu loa rằng, Đảng và Nhà nước ta đang “đàn áp tôn giáo”.

Ba là, song song với thủ đoạn tạo dựng sự đối lập giữa Nhà nước và tổ chức tôn giáo, các thế lực thù địch, phản động cổ xúy, hình tượng hóa những đối tượng cực đoan, chống đối trong tôn giáo.

Những đối tượng này là mạng lưới, chân rết được các thế lực thù địch, phản động khoác lên những ngôn từ mỹ miều rằng, “nhân tố đủ sức, đủ tầm để thiết lập nên một xã hội công bằng, dân chủ, văn minh, nơi quyền tự do tôn giáo, tín ngưỡng được thực hiện đầy đủ, trọn vẹn nhất”. Sự tô vẽ có chủ đích từ mạng xã hội cùng sự hậu thuẫn từ các đối tượng chống phá bên ngoài khiến nhiều đối tượng trong cuộc ngộ nhận về vị trí của bản thân. Chúng xây dựng một thế lực để hòng đối trọng với Nhà nước, phủ nhận vai trò lãnh đạo, quy tụ nhân dân của Đảng, Nhà nước ta.

Với sự giúp sức của nhóm người Việt chống phá lưu vong từ bên ngoài, một số chức sắc cực đoan dưới danh nghĩa bảo vệ môi trường đã khởi kiện chủ thể trực tiếp gây ô nhiễm và đòi đền bù thiệt hại, họ vận động chính giới, nghị viện các nước châu Âu “cùng đồng hành với bà con giáo dân” trong hành trình kiện công ty Formosa. Nhưng thực chất là nhằm thổi phồng bản chất vụ việc, làm phức tạp vấn đề, tạo cớ để các tổ chức dân chủ, nhân quyền, chính giới một số nước nhân sự việc nói trên để ngợi ca, vinh danh, xướng tên một số chức sắc cực đoan trong các giải thưởng có tính thường niên, đột xuất. Để đánh bóng tên tuổi, cổ súy, hình tượng hóa một số chức sắc cực đoan, các thế lực thù địch, phản động đã hậu thuẫn cho các đối tượng có thêm “thành tích”. Đơn cử như linh mục Đặng Hữu Nam (Giáo phận Vinh) liên tiếp nhận nhiều giải thưởng như “giải thưởng Nhân quyền năm 2017” hay “giải thưởng Lê Đình Lượng năm 2021”.

Từ những vấn đề được chỉ ra có thể thấy, dù thời kỳ, giai đoạn lịch sử nào thì âm mưu, ý đồ gây chia rẽ khối đại đoàn kết tôn giáo đều được các thế lực thù địch, phản động chú trọng thực hiện. Việc nhận diện, lật tẩy những chiêu trò chống phá giúp quần chúng nhân dân, dư luận xã hội thấy được tính chất nguy hiểm, phản động, từ đó có những định hướng cụ thể, tránh bị các đối tượng dẫn dắt, lợi dụng, làm ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội và sự phát triển đất nước.

Lật tẩy những luận điệu sai trái về chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ

Những ngày qua, khi toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta tổ chức nhiều hoạt động thiết thực kỷ niệm 70 năm Chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ (7/5/1954 - 7/5/2024) thì trên mạng xã hội, các thế lực thù địch, phản động và một số kẻ thiếu thiện chí vẫn tìm cách xuyên tạc bản chất, tính chính nghĩa cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp mà đỉnh cao là Chiến thắng Điện Biên Phủ.

Những luận điệu xuyên tạc lịch sử

Họ cho rằng “đó chỉ là cuộc chiến của hai bên hiếu chiến chứ không phải cuộc chiến chính nghĩa bảo vệ nền độc lập, tự do”; “yếu tố quyết định là Việt Nam nhờ sự viện trợ từ bên ngoài chứ bộ đội, dân công thì không thể “làm nên chuyện””! Đây là những luận điệu nhằm công kích, xuyên tạc bản chất, tính chính nghĩa của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp; tạo sự hoài nghi trong quần chúng nhân dân về chiến thắng lịch sử vĩ đại của dân tộc; hạ thấp uy tín, vai trò lãnh đạo của Đảng, phủ nhận những hi sinh mất mát trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp của quân và dân ta.

Thậm chí càng gần đến ngày lễ lớn của dân tộc thì càng nhiều clip, video được chia sẻ trên mạng xã hội; nhiều trang báo của các thế lực thù địch đăng tải thông tin về Chiến thắng Điện Biên Phủ của nhân dân Việt Nam, xuyên tạc, bóp méo rằng: “Chiến thắng Điện Biên Phủ không gắn liền với sự lãnh đạo của Đảng Lao động Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh”; “Chiến thắng Điện Biên Phủ giành được do thực dân Pháp mắc những sai lầm chiến lược”;  “Điện Biên Phủ là sản phẩm ưa thích bạo lực cách mạng của chủ nghĩa cộng sản”…

Họ xảo biện rằng, thực dân Pháp xâm lược Việt Nam là “khai hóa văn minh”; sự kiện Điện Biên Phủ đã chấm dứt “khai hóa văn minh”. Mặt khác, có những kẻ ảo vọng về lòng từ bi của chủ nghĩa thực dân, đế quốc khi cho rằng, làm gì phải phát động chiến tranh, chỉ cần đợi đến lúc nào đó thực dân họ khai hóa văn minh xong rồi sẽ trả lại chủ quyền đất nước!

Tính chất thâm độc, nguy hiểm trong âm mưu, thủ đoạn chống phá của số đối tượng xấu là hướng đến giới trẻ, nhất là những người thiếu hiểu biết lịch sử để gieo rắc tâm lý hoài nghi, thiếu niềm tin về tính chính danh, chính nghĩa của Chiến thắng Điện Biên Phủ. Việc đánh lận bản chất của cuộc chiến tranh là rất nguy hại vì thông qua đó, họ tìm cách hướng lái đến những nhận thức mơ hồ, lệch lạc, làm cho một số người nhẹ dạ, cả tin dễ mất cảnh giác, không nhận thức đúng bản chất chính nghĩa của cuộc kháng chiến chống thực dân, trong đó có Chiến dịch Điện Biên Phủ.

Bên cạnh việc tập trung xuyên tạc vào bản chất, tính chất chính nghĩa của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp của nhân dân ta, các thế lực thù địch, phản động còn vu cáo Việt Nam “hiếu chiến”, từ đó phủ nhận cuộc kháng chiến chính nghĩa bảo vệ nền độc lập, tự do của dân tộc ta. Một số bài viết phủ nhận công lao của Đảng, của Chủ tịch Hồ Chí Minh và vai trò chỉ huy tài ba của Đại tướng Võ Nguyên Giáp; tìm cách phủ nhận tấm gương anh dũng hy sinh của Anh hùng Tô Vĩnh Diện, Phan Đình Giót, Bế Văn Đàn… Mục đích của các thế lực thù địch, phản động nhằm làm cho người dân Việt Nam phân tâm, lung lay tư tưởng; gieo rắc tâm lý hoài nghi vào sự lãnh đạo của Đảng, nghệ thuật quân sự Việt Nam và sự phát triển của các lực lượng vũ trang cách mạng.

Các thế lực thù địch, các tổ chức phản động lưu vong và một số đối tượng chống đối còn lợi dụng tình hình hạn hán, xâm nhập mặn ở các tỉnh phía Nam thời gian qua để xuyên tạc rằng: “Thay vì tổ chức sự kiện to lãng phí tiền của, sao không lấy tiền đó cấp nước cứu dân”; “tiền thuế của dân, thay vì mang nước đến cho dân lại mang đi phô trương lực lượng”; “lực lượng Quân đội, Công an từ dân mà ra nhưng bỏ mặc dân chết khát”; “Đảng chỉ lo phô trương quyền lực thanh thế mà không đoái hoài gì đến người dân đói khát”...

Thậm chí, các đối tượng còn lồng ghép nội dung kích động, phân biệt, kỳ thị vùng miền, cho rằng người miền Nam chỉ giúp người miền Nam, rồi đòi chia lại “Bắc kỳ”, “Nam kỳ”… Từ đó cho rằng, người dân phải đứng lên đấu tranh lật đổ chế độ hiện tại ở Việt Nam thì mới có cơ hội được sống trong một chế độ tự do, dân chủ, có cuộc sống no ấm, hạnh phúc chứ không phải canh cánh lo toan với đói nghèo, thiên tai, lụt bão!

Với những luận điệu xuyên tạc, vu cáo nêu trên, các thế lực thù địch, các tổ chức phản động lưu vong và một số đối tượng chống đối đã cố tình “bẻ lái”, lồng ghép và đưa ra những thông tin xuyên tạc, sai sự thật hòng đánh tráo bản chất, xuyên tạc ý nghĩa, tầm vóc, giá trị lịch sử dân tộc và thời đại của Chiến thắng Điện Biên Phủ, xuyên tạc nghệ thuật quân sự Việt Nam, chiến công và sự hy sinh anh dũng của quân và dân ta; kích động, chia rẽ khối đại đoàn kết dân tộc, phủ định lịch sử dân tộc, lịch sử Đảng, lịch sử các lực lượng vũ trang cách mạng.

Từ truyền thống ngàn năm dựng nước và giữ nước của dân tộc đến chiến thắng lừng lẫy địa cầu

Từ ngày 13/3-7/5/1954, quân và dân ta dưới sự lãnh đạo của Đảng, đứng đầu là Chủ tịch Hồ Chí Minh đã tiến hành trận quyết chiến chiến lược Điện Biên Phủ. Vượt qua bom đạn của kẻ thù, vượt qua điều kiện khắc nghiệt của địa hình, thời tiết, hàng ngàn tấn lương thực, thực phẩm, xăng dầu, vũ khí, đạn dược được quân và dân cả nước vận chuyển đến mặt trận Điện Biên Phủ cho bộ đội bằng những phương tiện thô sơ để góp phần vào thắng lợi cuối cùng. Kỳ tích đó nằm ngoài suy nghĩ của thế lực vốn lấy sức mạnh vũ khí làm cơ sở giải quyết chiến tranh và không hiểu được sự đồng lòng, ủng hộ toàn tâm, toàn ý của cả dân tộc.

Cùng với Chiến thắng Bạch Đằng (938) của Ngô Quyền, Chiến thắng Chi Lăng - Xương Giang (1427) của Lê Lợi - Nguyễn Trãi, Chiến thắng Ngọc Hồi - Đống Đa của Quang Trung (1789), Chiến thắng Điện Biên Phủ là một bản hùng ca bất hủ, là một trong những chiến thắng hiển hách của lịch sử hàng ngàn năm đấu tranh chống ngoại xâm dựng nước và giữ nước của dân tộc Việt Nam. Là thắng lợi của khát vọng hòa bình, độc lập, tự do, của ý chí tự lực, tự cường; thắng lợi của phong trào giải phóng dân tộc, dân chủ nhân dân trên thế giới và của lương tri thời đại.

Chiến thắng Điện Biên Phủ đã giáng đòn quyết định, chấm dứt gần 100 năm Việt Nam là thuộc địa của Pháp, buộc Chính phủ Pháp phải ký Hiệp định Giơnevơ, chấm dứt chiến tranh ở Đông Dương, mở ra trang mới cho cách mạng Việt Nam; đồng thời là một sự kiện quan trọng báo hiệu sự sụp đổ của chủ nghĩa thực dân cũ trên phạm vi toàn thế giới. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng khẳng định: “Chiến thắng Điện Biên Phủ như là một cái mốc chói lọi bằng vàng của lịch sử”.

Trên phương diện quốc tế, cuộc kháng chiến trường kỳ, gian khổ, nhân dân Việt Nam đã nhận được sự ủng hộ mạnh mẽ, sự giúp đỡ quý báu của các nước XHCN anh em, nhận được sự ủng hộ của nhân dân các dân tộc bị áp bức ở châu Á, châu Phi, Mỹ La tinh, đặc biệt là liên minh chiến đấu giữa ba nước Đông Dương và phong trào đấu tranh của nhân dân tiến bộ trên thế giới, trong đó có nhân dân tiến bộ Pháp. Chiến dịch Điện Biên Phủ đã mang một ý nghĩa rất lớn và đã đi vào lịch sử nhân loại, bởi đây là lần đầu tiên quân đội của một nước từng là thuộc địa ở châu Á đánh bại đội quân hiện đại và tối tân của một cường quốc châu Âu, được hỗ trợ bởi đế quốc Mỹ trong một chiến dịch quân sự lớn.

Kết cục chiến dịch này được xem là một thảm họa bất ngờ đối với thực dân Pháp và cũng là một đòn giáng mạnh với thế giới phương Tây, đã đánh bại âm mưu duy trì chế độ thuộc địa ở Đông Dương của Pháp. Chiến thắng góp phần to lớn vào phong trào đấu tranh vì hòa bình, tiến bộ của nhân loại; thôi thúc, cổ vũ các nước thuộc địa ở châu Á, châu Phi và Mỹ Latin đứng lên tự giải phóng, thoát khỏi ách xâm lược của chủ nghĩa thực dân, đế quốc.

Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, bất cứ lịch sử xâm chiếm thực dân nào thì từ đầu đến cuối đều được viết bằng máu của những người bản xứ. Đó không phải là công cuộc “khai hóa văn minh” mà chỉ mượn đó làm tấm bình phong để thực hiện dã tâm áp bức, nô dịch. Trong “Tuyên ngôn độc lập” khai sinh ra nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã lên án chế độ thực dân: “Về kinh tế, chúng bóc lột dân ta đến tận xương tủy, khiến cho dân nghèo nàn, thiếu thốn, nước ta xơ xác, tiêu điều. Chúng cướp không ruộng đất, rừng mỏ, nguyên liệu… Chúng đặt ra hàng trăm thứ thuế vô lý, làm cho dân ta, nhất là dân cày và dân buôn trở nên bần cùng. Chúng không cho các nhà tư sản ta được giàu lên. Chúng bóc lột công nhân ta một cách vô cùng tàn nhẫn”… Do đó, không thể gọi là “khai hóa văn minh” khi biến một dân tộc độc lập, có chủ quyền thành quốc gia thuộc địa, nửa phong kiến. Những kẻ rêu rao Pháp xâm lược Việt Nam là “khai hóa văn minh”, chiến thắng Điện Biên Phủ là chấm dứt sự “khai hóa văn minh”, đó là những luận điệu xuyên tạc sự thật, bẻ cong lịch sử.

70 năm, thời gian lùi xa nhưng ý nghĩa và bài học lịch sử của Chiến thắng Điện Biên Phủ vẫn còn vang vọng mãi, tiếp thêm sức mạnh, động lực cho toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta trên con đường đổi mới, hội nhập và phát triển, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Trong mỗi trái tim người Việt Nam nói chung và thế hệ trẻ ngày nay nói riêng đều dâng trào niềm kiêu hãnh, tự hào về chiến công hiển hách, tinh thần quật khởi của cha anh, có sức lan tỏa mạnh mẽ, trở thành một trong những động lực tinh thần to lớn giúp thế hệ trẻ ngày nay có thêm điểm tựa để tích cực rèn luyện, phấn đấu xây dựng quê hương, đất nước ngày càng giàu mạnh.

Ngày nay, Việt Nam và Pháp cũng đã vun đắp nên mối quan hệ Đối tác chiến lược, cùng hợp tác, phát triển. Trong dịp kỷ niệm 70 năm Chiến thắng Điện Biên Phủ, Bộ trưởng Quân đội Pháp Sébastien Lecornu cùng Quốc Vụ khanh phụ trách Cựu Chiến binh và Ký ức chiến tranh đã đến thăm Việt Nam và dự Lễ Kỷ niệm tháng tại Điện Biên Phủ, điều đó thể hiện tinh thần “khép lại quá khứ, hướng tới tương lai”, cùng hợp tác vì sự phát triển của quốc gia và nhân dân hai nước.

Đại sứ Pháp tại Hà Nội Olivier Brochet khẳng định, Pháp đánh giá cao vị thế, vai trò của Việt Nam và mong muốn tiếp tục thúc đẩy quan hệ Đối tác chiến lược giữa hai nước phát triển sâu rộng, toàn diện hơn nữa trong thời gian tới. Do đó, việc tổ chức lễ kỷ niệm hoàn toàn không phải là để chia rẽ mối quan hệ Việt - Pháp như những giọng điệu xảo trá, âm mưu, thủ đoạn thâm độc của một số đối tượng xấu tung ra. 

Đẩy mạnh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực, "không có đặc quyền, bất kể người đó là ai"

 Nhấn mạnh lĩnh vực nội chính, tư pháp, Chủ tịch Quốc hội Vương Đình Huệ đề nghị tiếp tục đẩy mạnh công tác phòng, chống tham nhũng, tiêu cực với phương châm "không có vùng cấm, không có ngoại lệ, không có đặc quyền, bất kể người đó là ai".

Phát biểu bế mạc Phiên chất vấn và trả lời chất vấn, sáng 8/11, Chủ tịch Quốc hội Vương Đình Huệ nêu rõ, sau 2,5 ngày làm việc nghiêm túc, tập trung, sôi nổi, với tinh thần xây dựng, tâm huyết và trách nhiệm cao, đã có 457 lượt đại biểu Quốc hội (ĐBQH) đăng ký tham gia chất vấn; 152 lượt ĐBQH thực hiện quyền chất vấn, trong đó có 39 lượt đại biểu tranh luận.

Đẩy mạnh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực,
Chủ tịch Quốc hội Vương Đình Huệ phát biểu bế mạc phiên chất vấn.

Các Bộ trưởng, Trưởng ngành nghiêm túc, cầu thị, trách nhiệm

Theo Chủ tịch Quốc hội, đây là lần đầu tiên trong nhiệm kỳ khóa XV, Thủ tướng, tất cả các Phó Thủ tướng Chính phủ và 21 vị Bộ trưởng, Trưởng ngành đã trực tiếp trả lời chất vấn của các vị ĐBQH. Với phạm vi chất vấn rất rộng, các vị ĐBQH đã thể hiện tinh thần trách nhiệm cao, nghiên cứu kỹ các báo cáo, đặt câu hỏi ngắn gọn, rõ ràng, có trọng tâm, đi thẳng vào vấn đề; các thành viên Chính phủ, Trưởng ngành nắm chắc thực trạng của ngành, lĩnh vực phụ trách, cơ bản đã trả lời thẳng thắn, giải trình nghiêm túc, làm sáng tỏ nhiều vấn đề và đề ra giải pháp để khắc phục.

"Quốc hội ghi nhận và đánh giá cao sự nghiêm túc, cầu thị, tinh thần trách nhiệm của các thành viên Chính phủ, Trưởng ngành trong việc trả lời chất vấn và tiếp thu ý kiến của ĐBQH" - Chủ tịch Quốc hội Vương Đình Huệ khẳng định.

Đẩy mạnh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực,
Chủ tịch nước Võ Văn Thưởng, Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính với các đại biểu tham dự phiên chất vấn.

Qua báo cáo của Chính phủ, Toà án nhân dân tối cao, Viện Kiểm sát nhân dân tối cao, Kiểm toán nhà nước, báo cáo thẩm tra của các cơ quan của Quốc hội và kết quả phiên chất vấn và trả lời chất vấn cho thấy, về cơ bản, các nghị quyết của Quốc hội đã được các cơ quan triển khai nghiêm túc, có trách nhiệm với nhiều giải pháp đồng bộ, đã tạo được chuyển biến tích cực và đạt được kết quả cụ thể ở hầu hết các lĩnh vực, góp phần quan trọng thực hiện thắng lợi các nhiệm vụ, mục tiêu, chỉ tiêu phát triển kinh tế - xã hội hằng năm theo nghị quyết của Quốc hội.

Xử lý các tổ chức tín dụng yếu kém và dự án, doanh nghiệp thua lỗ

Thay mặt Uỷ ban Thường vụ Quốc hội (UBTVQH) nhấn mạnh một số nội dung chính sau phiên chất vấn, Chủ tịch Quốc hội đề nghị tăng cường kỷ luật, kỷ cương, nâng cao hiệu quả phối hợp giữa các cấp, các ngành, các địa phương, cơ quan, đơn vị trong công tác xây dựng và thực thi pháp luật. Xem xét, xử lý nghiêm cá nhân, tập thể trong việc chậm, nợ ban hành văn bản quy định chi tiết. Tập trung rà soát, cắt giảm, đơn giản hóa thủ tục hành chính, nhằm tạo thuận lợi, tiết giảm chi phí cho người dân, doanh nghiệp.

Đẩy mạnh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực,
Phiên chất vấn thu hút 152 lượt ĐBQH chất vấn, trong đó 39 đại biểu tranh luận.

Đối với lĩnh vực kinh tế tổng hợp, cần đẩy mạnh cơ cấu lại nền kinh tế, đổi mới mô hình tăng trưởng, thực hiện hiệu quả các giải pháp thúc đẩy phát triển doanh nghiệp và hộ kinh doanh; ưu tiên thúc đẩy, nâng cao chất lượng tăng trưởng, tạo việc làm, tăng thu nhập cho người lao động trên cơ sở giữ vững ổn định kinh tế vĩ mô, bảo đảm các cân đối lớn của nền kinh tế, bảo đảm an sinh xã hội và nâng cao phúc lợi xã hội. Tập trung mọi nỗ lực để sớm hoàn thành, phê duyệt, quyết định các quy hoạch ngành quốc gia, quy hoạch vùng, quy hoạch tỉnh;

Rà soát, hoàn thiện pháp luật; tăng cường trách nhiệm của người đứng đầu trong thực hiện Đề án cơ cấu lại doanh nghiệp nhà nước, trọng tâm là Tập đoàn, Tổng công ty nhà nước giai đoạn 2021-2025, đẩy nhanh tiến độ cổ phần hóa, thoái vốn nhà nước tại doanh nghiệp. Kiểm soát chặt chẽ bội chi, nợ công, nợ chính phủ; tăng cường thanh tra, kiểm tra, xử lý vi phạm trong quản lý, sử dụng tài sản công, sớm giải quyết dứt điểm các tài sản công dôi dư sau khi sắp xếp các đơn vị hành chính cấp huyện, cấp xã. Đẩy mạnh thực hiện có hiệu quả và thực chất phương án xử lý các tổ chức tín dụng yếu kém và các dự án, doanh nghiệp thua lỗ...

Đẩy nhanh tiến độ dự án trọng điểm, giám sát chặt khai thác khoáng sản

Đối với lĩnh vực kinh tế ngành, UBTVQH yêu cầu khẩn trương phê duyệt, triển khai Kế hoạch thực hiện Quy hoạch tổng thể về năng lượng quốc gia, Quy hoạch điện 8; xây dựng, ban hành cơ chế mua bán điện trực tiếp, bảo đảm cung ứng điện cho sản xuất và tiêu dùng. Thực hiện các giải pháp hỗ trợ triển khai các loại hình khu công nghiệp mới (như khu công nghiệp sinh thái, công nghệ cao, công nghiệp hỗ trợ, chuyên ngành) nhằm hình thành chuỗi liên kết ngành, nâng cao giá trị gia tăng của sản xuất công nghiệp, năng lực cạnh tranh của sản phẩm công nghiệp;

Đẩy mạnh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực,
Chủ tịch Quốc hội Vương Đình Huệ điều hành phiên chất vấn.

Thực hiện hiệu quả Chiến lược phát triển nông nghiệp và nông thôn bền vững giai đoạn 2021-2030, xây dựng, phát triển nông nghiệp sinh thái, nông thôn hiện đại, nông dân văn minh. Tập trung tháo gỡ khó khăn, vướng mắc, đẩy nhanh tiến độ và nâng cao chất lượng các dự án hạ tầng giao thông, nhất là dự án, công trình trọng điểm. Đẩy mạnh phân cấp, triển khai hiệu quả Đề án đầu tư xây dựng 1 triệu căn hộ nhà ở xã hội cho đối tượng thu nhập thấp, công nhân khu công nghiệp giai đoạn 2021-2030; đẩy nhanh tiến độ giải ngân gói tín dụng hỗ trợ phát triển nhà ở xã hội;

Khẩn trương hoàn thành việc xây dựng cơ sở dữ liệu quốc gia về đất đai. Nâng cao hiệu quả hoạt động quan trắc môi trường; xây dựng và triển khai các phương án xử lý ô nhiễm môi trường, nhất là vấn đề rác thải, nước thải, ô nhiễm tại các làng nghề, các khu, cụm công nghiệp, các lưu vực sông, hệ thống thủy lợi... Kiểm tra, giám sát chặt chẽ, xử lý nghiêm việc khai thác khoáng sản trái phép. Tăng cường khả năng cảnh báo về thiên tai; đề xuất các biện pháp công trình và phi công trình để phòng chống hiệu quả tình trạng sạt lở...

Đấu tranh tội phạm "tín dụng đen", xử lý nghiêm mua bán dữ liệu cá nhân

Đối với lĩnh vực nội chính, tư pháp, UBTVQH nhấn mạnh việc sớm hoàn thành có chất lượng hệ thống vị trí việc làm trong toàn bộ hệ thống chính trị từ Trung ương đến địa phương; xây dựng, hoàn thiện khuôn khổ đồng bộ để triển khai kịp thời, hiệu quả phương án cải cách chính sách tiền lương từ ngày 1/7/2024. Sớm trình Quốc hội xem xét, sửa đổi, bổ sung Luật Phòng cháy và chữa cháy và các luật có liên quan bảo đảm đồng bộ, thống nhất trong hệ thống pháp luật;

Đẩy mạnh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực,
Phiên chất vấn được đánh giá là sôi nổi, tâm huyết, trách nhiệm cao.

Tiếp tục đẩy mạnh công tác phòng, chống tham nhũng, tiêu cực với phương châm: "không có vùng cấm, không có ngoại lệ, không có đặc quyền, bất kể người đó là ai". Chủ động dự báo và giải quyết các nguyên nhân, điều kiện phát sinh tội phạm, tiếp tục tăng cường đấu tranh các loại tội phạm, nhất là tội phạm "tín dụng đen" tội phạm sử dụng công nghệ cao, tội phạm xâm hại trẻ em, mua bán người, tội phạm ma túy, tội phạm kinh tế, tham nhũng... Nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước về bảo vệ dữ liệu cá nhân, tăng cường điều tra, xử lý nghiêm các hành vi làm lộ, lọt, mua, bán dữ liệu cá nhân...

Tổ chức thực hiện có hiệu quả công tác tiếp nhận, xử lý tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố. Nâng cao chất lượng xét xử, giải quyết các loại vụ án, không để xảy ra oan, sai, bỏ lọt tội phạm. Nâng cao chất lượng giám định tư pháp. Tăng cường công tác kiểm toán, thanh tra việc thực hành tiết kiệm, chống lãng phí, xử lý nghiêm các sai phạm trong quản lý, sử dụng ngân sách nhà nước, tài sản công...

Sớm xây dựng nghị định quản lý mạng xã hội, ban hành phương án tuyển sinh đại học từ năm 2025

Đối với lĩnh vực văn hóa, xã hội, cần quan tâm bố trí nguồn lực cho giáo dục, đào tạo và văn hóa. Xây dựng, trình Quốc hội ban hành Chương trình mục tiêu quốc gia về chấn hưng, phát triển văn hóa Việt Nam tại kỳ họp gần nhất. Tăng cường công tác quản lý báo chí, xử lý vi phạm vi phạm pháp luật trong lĩnh vực thông tin, đặc biệt là tình trạng "báo hóa" trang thông tin điện tử tổng hợp, tạp chí điện tử, mạng xã hội; sớm xây dựng nghị định về quản lý mạng xã hội. Đẩy nhanh việc triển khai quy hoạch báo chí; chú trọng các giải pháp hỗ trợ báo chí phát triển khi thực hiện giai đoạn 2 của Quy hoạch phát triển và quản lý báo chí toàn quốc đến năm 2025.

Đẩy mạnh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực,
Toàn cảnh hội trường.

Tiếp tục đổi mới căn bản toàn diện giáo dục và đào tạo. Khẩn trương ban hành Chiến lược phát triển giáo dục đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045; phương án thi tốt nghiệp trung học phổ thông và tuyển sinh đại học, cao đẳng từ năm 2025. Tăng cường kiểm soát chất lượng, hiệu quả biên soạn, thẩm định và việc phát hành sách giáo khoa; phát triển đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục; khắc phục tình trạng thừa, thiếu giáo viên cục bộ. Nghiên cứu, rà soát, sửa đổi các quy định về tiền lương, phụ cấp ưu đãi nghề đối với nhà giáo khi cải cách chính sách tiền lương...

Tiếp tục đổi mới và nâng cao chất lượng thực hiện các chính sách xã hội, gắn với quản lý phát triển xã hội bền vững, giải quyết hài hòa các quan hệ xã hội, xử lý kịp thời và có hiệu quả các rủi ro, bảo đảm trật tự, an toàn xã hội. Thực hiện các giải pháp hoàn thiện, phát triển thị trường lao động đồng bộ, hiện đại. Có giải pháp đột phá giải quyết dứt điểm tình trạng thiếu thuốc, vật tư y tế tại các bệnh viện công lập; chấn chỉnh và xử lý nghiêm các vi phạm trong mua sắm thuốc, thiết bị y tế và trục lợi Quỹ Bảo hiểm y tế...

Đánh giá Phiên chất vấn và trả lời chất vấn tại Kỳ họp thứ 6 đã hoàn thành tốt đẹp chương trình đề ra, Chủ tịch Quốc hội Vương Đình Huệ trân trọng cảm ơn Thủ tướng, các Phó Thủ tướng Chính phủ, các thành viên Chính phủ, các vị Trưởng ngành đã có sự chuẩn bị chu đáo, trực tiếp trả lời chất vấn của các ĐBQH; cảm ơn các vị ĐBQH đã tích cực nghiên cứu, tham gia chất vấn, tranh luận với nhiều ý kiến thẳng thắn, sâu sắc, thiết thực.

Tái diễn luận điệu xuyên tạc công cuộc phòng, chống tham nhũng, tiêu cực

 Đảng và Nhà nước ta luôn kiên quyết, kiên trì, chủ động đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực. Thế nhưng bất chấp những nỗ lực và kết quả đạt được, các thế lực thù địch, phản động lại thường xuyên đưa ra những luận điệu sai trái, xuyên tạc, cố tình phủ nhận thành quả, lấy cớ kích động chống phá.

Tỉnh táo trước “ma trận” tin giả, tin xấu độc

Cần nhận diện âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch, phản động chống phá công cuộc phòng, chống tham nhũng, tiêu cực trên những nội dung sau:

Thứ nhất, các thế lực thù địch, phản động cho rằng, Đảng Cộng sản Việt Nam không thể chống tham nhũng, lãng phí và suy thoái thành công nếu không đa nguyên, đa đảng. Từ đó, họ kêu gọi Việt Nam phải đa nguyên, đa đảng đối lập mới chống tham nhũng thành công. Đây là chiêu bài được các thế lực thù địch, phản động diễn đi diễn lại mang tính sáo rỗng, cũ mòn.

Thứ hai, họ vu cáo rằng, chính quyền hạn chế quyền người dân trong đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực. Từ đó quy kết xã hiệu thiếu dân chủ trong chống tham nhũng, tiêu cực, thậm chí còn rêu rao “càng chống tham nhũng, tiêu cực thì càng tham nhũng, tiêu cực”. Đan xen với đó, họ ca ngợi thuyết “tam quyền phân lập”, ra sức rêu rao tư tưởng “đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập” giống như ở một số nước phương Tây mới có dân chủ trong chống tham nhũng.

Thứ ba, khi các vụ án liên quan đến tham nhũng, tiêu cực được khởi tố điều tra, xét xử thì các đối tượng phản động, cơ hội chính trị lại suy diễn là do “đấu đá nội bộ”, “phe phái thanh trừng”… Khi các bản án nghiêm minh được công bố, họ lại vu cáo đó là do “bị triệt hạ”; còn nếu bản án áp dụng các tình tiết giảm nhẹ thì họ mỉa mai “có tiêu chuẩn kép”, “tham nhũng chỉ tắm từ cổ”! Từ đó vu cáo công cuộc phòng, chống tham nhũng chỉ là hình thức, không có kết quả, đâu lại vào đó… Họ tung ra nhiều quan điểm, luận điệu xuyên tạc hết sức tinh vi, xảo trá nhằm làm giảm sút, xói mòn niềm tin của nhân dân trong công cuộc phòng, chống tham nhũng, tiêu cực do Đảng ta lãnh đạo. Từ đó, đòi phủ nhận, tiến tới xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng, kích động tâm lý bất mãn trong một bộ quận quần chúng, gây rối an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội.

Tái diễn luận điệu xuyên tạc công cuộc phòng, chống tham nhũng, tiêu cực -0
Ảnh minh họa.

Trước hết cần thấy rằng, tham nhũng không phải là hiện tượng mới xuất hiện, nó ra đời và gắn liền với sự tồn tại, phát triển của xã hội, là hiện tượng xã hội tiêu cực mà chế độ nào, quốc gia nào cũng có; đó là “khuyết tật bẩm sinh” của quyền lực. Do đó, cần phải có cơ chế kiểm soát quyền lực, không để quyền lực bị tha hóa, lạm dụng. Bất kỳ quốc gia nào cũng quan tâm đến phòng, chống tham nhũng, tuỳ vào đặc điểm và các mức độ khác nhau.

Về quan điểm “Đảng Cộng sản Việt Nam không chống tham nhũng, tiêu cực thành công nếu không đa nguyên, đa đảng”, đây rõ ràng là luận điệu sai trái, xuyên tạc. Bởi, khi đảng nào cầm quyền thì người đứng đầu và các chức vụ quan trọng của nhà nước đều là người của đảng đó; đường lối, chủ trương của đảng cầm quyền sẽ chi phối đường lối, chính sách của quốc gia. Dù là chế độ một đảng cầm quyền hay đa đảng thay nhau cầm quyền thì nạn tham nhũng, tiêu cực vẫn thường xảy ra, kể cả các nước phát triển có hệ thống pháp luật hoàn chỉnh, có trình độ quản lý kinh tế - xã hội cao. Thực tế nền chính trị các quốc gia trên thế giới và lịch sử chế độ chính trị Việt Nam hiện nay đã chứng tỏ chế độ một đảng cầm quyền không phải là nguyên nhân sinh ra tham nhũng, tiêu cực trong xã hội. Ngay như ở nước Mỹ (điển hình của dân chủ tư sản phương Tây) dù là đảng Dân chủ hay đảng Cộng hòa cầm quyền thì nạn tham nhũng vẫn cứ xảy ra, dư luận thế giới cũng từng chấn động trước các vụ tham nhũng nghiêm trọng. Như trường hợp ông Rod Blagojevich, cựu Thống đốc bang Illinois bị tuyên 14 năm tù giam vì tội tham nhũng, trong đó có tội định bán chiếc ghế Thượng Nghị sỹ Illinois bỏ trống sau khi ông Barack Obama đắc cử Tổng thống tháng 11/2008. Hay gần đây báo chí của nước Mỹ đưa tin, bản cáo trạng đối với Thượng nghị sĩ Bob Menendez về tội tham nhũng trong việc giúp đỡ chính phủ Ai Cập, buộc ông Menendez tạm thời rời khỏi vị trí người đứng đầu Ủy ban Đối ngoại Thượng viện Mỹ từ 22/9/2023 sau khi bị tòa án khu vực phía Nam New York truy tố về một loạt tội danh tham nhũng, hối lộ…

Không thể phủ nhận thực tế

Trong cuộc đấu tranh chống tham nhũng, tiêu cực, Đảng và Nhà nước đã ban hành nhiều cơ chế, chính sách tạo điều kiện cho mọi tầng lớp nhân dân tích cực tham gia như: chế độ tiếp dân, số điện thoại đường dây nóng để nhân dân trực tiếp phản ánh, tố cáo những hành vi quan liêu, cửa quyền, nhũng nhiễu, vi phạm quyền dân chủ của nhân dân, kịp thời biểu dương gương người tốt, việc tốt. Nhiều công dân kịp thời phản ánh, tố giác những hành vi tham nhũng, tiêu cực của cán bộ, đảng viên, tổ chức đảng, chính quyền... góp phần tích cực, có hiệu quả vào cuộc đấu tranh này; nhiều vụ tham nhũng, tiêu cực đã được xử lý kỷ luật Đảng và pháp luật Nhà nước xét xử nghiêm minh. Vì vậy, luận điệu vì xã hội ta thiếu dân chủ nên không thể chống tham nhũng thành công là sai lệch.

Nhìn trên tổng thể, Đảng, Nhà nước ta rất quyết liệt trong đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực, tạo được niềm tin đối với nhân dân. Công tác lãnh đạo, chỉ đạo về phòng, chống tham nhũng tiếp tục được xây dựng, hoàn thiện và thực hiện đồng bộ, toàn diện. Đảng, Nhà nước đã ban hành nhiều chủ trương, chính sách, pháp luật về phòng, chống tham nhũng, tiêu cực như Nghị quyết Trung ương 3 khóa X về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác phòng, chống tham nhũng, lãng phí; ban hành Nghị quyết Hội nghị Trung ương 4 khóa XI, XII; Kết luận số 21-KL/TW ngày 25/10/2021 của Ban Chấp hành Trung ương về đẩy mạnh xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị; kiên quyết ngăn chặn, đẩy lùi, xử lý nghiêm cán bộ, đảng viên suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hoá”; Kết luận số 10-KL/TW ngày 26/12/2016 của Bộ Chính trị về tiếp tục thực hiện Nghị quyết Trung ương 3 khóa X; Kết luận số 12-KL/TW ngày 06/4/2022 của Bộ Chính trị về tiếp tục tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác phòng, chống tham nhũng, tiêu cực... Quốc hội, Chính phủ thể chế hóa nghị quyết, chỉ thị của Đảng thành chính sách, pháp luật của Nhà nước, đặc biệt đã ban hành Luật Phòng, chống tham nhũng năm 2020. Đó chính là tiền đề, cơ sở chính trị, pháp lý góp phần đẩy lùi tình trạng tham nhũng, tiêu cực.

Việc phòng, chống tham nhũng, tiêu cực được Đảng ta thực hiện rất quyết liệt, trên tinh thần thượng tôn pháp luật và không có vùng cấm, không có ngoại lệ; công tác điều tra, giám sát, thanh tra, kiểm tra tham nhũng, lãng phí được chỉ đạo quyết liệt, chặt chẽ, đồng bộ, hiệu quả, tạo bước tiến mới trong phát hiện, xử lý tham nhũng, lãng phí. Trong năm 2023, Ban Chỉ đạo Trung ương về phòng, chống tham nhũng, tiêu cực theo dõi, chỉ đạo 68 vụ án, 45 vụ việc; đã khởi tố mới 12 vụ án/45 bị can, khởi tố bổ sung 238 bị can trong 23 vụ án; kết luận điều tra và kết luận điều tra bổ sung 20 vụ án/369 bị can; ban hành cáo trạng truy tố 15 vụ án/252 bị can; xét xử sơ thẩm 13 vụ án/194 bị cáo; xét xử phúc thẩm 13 vụ án/82 bị cáo. Cũng trong thời gian này, các cơ quan tiến hành tố tụng đã tạm giữ, kê biên tài sản, phong tỏa tài khoản, ngăn chặn giao dịch tài sản có giá trị trên 232.000 tỉ đồng và nhiều tài sản có giá trị khác; các cơ quan thi hành án dân sự đã thu hồi được trên 9.000 tỷ đồng, nâng tổng số tiền thu hồi được trong các vụ án, vụ việc thuộc diện Ban Chỉ đạo theo dõi, chỉ đạo đến nay là 75.800 tỷ đồng (đạt tỷ lệ 49,44%).

Kết quả đạt được trong công tác phòng, chống tham nhũng, tiêu cực thời gian qua đã khẳng định những mục tiêu, quan điểm, chủ trương, giải pháp của Đảng và Nhà nước về phòng, chống tham nhũng, tiêu cực là hoàn toàn đúng đắn, kịp thời, phù hợp với yêu cầu thực tiễn, nhiều vụ việc, vụ án tham nhũng nghiêm trọng, phức tạp, dư luận xã hội quan tâm đã được xử lý nghiêm minh, đúng pháp luật, có tác dụng cảnh báo, răn đe, siết chặt kỷ luật, kỷ cương trong Đảng và bộ máy Nhà nước.

Cộng đồng quốc tế ghi nhận,  đánh giá cao

Những kết quả mà Việt Nam đạt được trong phòng, chống tham nhũng, tiêu cực được quốc tế đánh giá cao. Tổng thống Hoa Kỳ Joe Biden bày tỏ ấn tượng trước nỗ lực trong cuộc chiến chống tham nhũng của Đảng ta và người đứng đầu Đảng – Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng: “Tôi hoan nghênh nỗ lực chống tham nhũng và thúc đẩy quản trị tốt của ngài trên cương vị Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Việt Nam. Giải quyết nạn tham nhũng đóng vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy hòa bình và an ninh trong khu vực Đông Nam Á và trên thế giới”. Hãng thông tấn Bloomberg (Mỹ) vào tháng 6/2022 đã từng đánh giá: “Tham nhũng có thể làm chệch hướng phát triển bền vững và không có ngoại lệ. Các quốc gia không đề phòng sẽ đi vào vòng xoáy của nó. Nhận thấy những nguy cơ phát sinh từ tệ nạn này, Chính phủ Việt Nam và Đảng Cộng sản Việt Nam đã và đang thực hiện nhiều biện pháp chống tham nhũng một cách có hệ thống và bền vững để giải quyết vấn đề này. Kể từ khi áp dụng chính sách mở cửa vào giữa những năm 1980, Việt Nam chuyển từ cơ chế kế hoạch hóa tập trung sang nền kinh tế thị trường, đất nước đã có thể duy trì tốc độ tăng trưởng kinh tế cao ngay cả trong thời kỳ đại dịch. Đảng Cộng sản Việt Nam, đặc biệt là người đứng đầu Đảng Cộng sản - Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã nhận thức rõ các vấn đề phát sinh từ tham nhũng. Những nỗ lực đó đã cải thiện đáng kể chỉ số cảm nhận tham nhũng (CPI) của Việt Nam kể từ khi đẩy mạnh chiến dịch chống tham nhũng vào năm 2012. Số lượng người bị truy tố khá lớn cho thấy cả mức độ nghiêm trọng của vấn đề và các biện pháp hiệu quả được thực hiện để giải quyết vấn đề... Chiến dịch chống tham nhũng của Việt Nam do Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng lãnh đạo đã nhận được sự chú ý của quốc tế”.

Tờ Le Monde (Pháp) ngày 21/6/2022 bình luận: “Cuộc chiến chống tham nhũng của Việt Nam đã tăng tốc mạnh mẽ và giờ đây không loại trừ ai, từ các đại gia ở khu vực kinh tế tư nhân cho tới các đảng viên là quan chức cấp cao”. Còn rất nhiều chính khách, hãng thông tấn các quốc gia, đại diện các tổ chức quốc tế bày tỏ sự khâm phục về công cuộc phòng, chống tham nhũng, tiêu cực do Đảng ta lãnh đạo thời gian qua. Từ thực tế quyết tâm, nỗ lực trong phòng, chống tham nhũng, tiêu cực đến sự ghi nhận, đánh giá cao của cộng đồng quốc tế là minh chứng bác bỏ những luận điệu sai trái, xuyên tạc của các thế lực thù địch.

Tham nhũng là kẻ thù bên trong rất nguy hiểm. Cuộc chiến này không phải làm trong một sớm, một chiều, cũng không phải làm một lần là xong. Chống tham nhũng là cuộc chiến chống “giặc nội xâm” đòi hỏi phải tiến hành kiên quyết, kiên trì, bền bỉ với ý chí, quyết tâm chính trị cao nhất của mọi cán bộ, đảng viên và quần chúng nhân dân.

Quan điểm của Đảng và Nhà nước ta trong gắn kết người Việt Nam ở nước ngoài với Tổ quốc

 Gần 40 năm đổi mới đất nước, các chủ trương và chính sách đối với người Việt Nam ở nước ngoài của Đảng, Nhà nước ngày càng được bổ sung và hoàn thiện nhằm đáp ứng kịp thời các yêu cầu thực tiễn. Một trong những dấu mốc quan trọng đó là Nghị quyết số 08-NQ/TW ngày 29/11/1993 của Bộ Chính trị về chính sách và công tác đối với người Việt Nam ở nước ngoài; sau đó là các văn bản chỉ đạo của Bộ Chính trị như Nghị quyết số 36-NQ/TW của Bộ Chính trị khóa IX về công tác đối với người Việt Nam ở nước ngoài. Để góp phần thực hiện thắng lợi khát vọng và tầm nhìn phát triển đất nước mà Đại hội XIII của Đảng đã đề ra, ngày 12/8/2021, Bộ Chính trị đã ban hành Kết luận số 12-KL/TW về công tác người Việt Nam ở nước ngoài trong tình hình mới (Kết luận 12). Kết luận 12 là sự kế thừa, tiếp nối của Nghị quyết 36 (2004) và Chỉ thị 45 (2015) về công tác đối với người Việt Nam ở nước ngoài với tinh thần chủ đạo là hòa hợp dân tộc, chăm lo cho kiều bào và huy động nguồn lực kiều bào cho sự nghiệp xây dựng, bảo vệ và phát triển đất nước.

Các văn bản trên đã thể hiện quan điểm nhất quán và xuyên suốt của Đảng, Nhà nước ta, khẳng định cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài là bộ phận không tách rời và là một nguồn lực của cộng đồng dân tộc Việt Nam; công tác đối với người Việt Nam ở nước ngoài là trách nhiệm của toàn bộ hệ thống chính trị và của toàn dân, thể hiện đầy đủ truyền thống đại đoàn kết toàn dân tộc. Trong 20 năm thực hiện Nghị quyết số 36-NQ/TW của Bộ Chính trị khóa IX đã chứng minh, mặc dù sống xa Tổ quốc nhưng đồng bào ta vẫn luôn nuôi dưỡng, phát huy tinh thần yêu nước, tự tôn dân tộc, giữ gìn truyền thống văn hóa và hướng về cội nguồn, dòng tộc, gắn bó với gia đình, quê hương. Trong các công cuộc chống ngoại xâm, bảo vệ Tổ quốc đã có rất nhiều người Việt Nam ở nước ngoài đóng góp về tinh thần, vật chất và cả xương máu cho sự nghiệp giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước.

Đi liền với đó là những thành tựu to lớn của đất nước sau giai đoạn đổi mới cùng với vị thế ngày càng tăng của đất nước ở khu vực và trên thế giới đã khích lệ cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài tự hào, tự tôn dân tộc, hướng về với cội nguồn, đóng góp cho quê hương. Đóng góp vào thành tựu chung của đất nước có công sức, trí tuệ của nhiều doanh nhân, trí thức người Việt Nam có trình độ cao ở nước ngoài, luôn tích cực tham gia hiến kế cho lãnh đạo Đảng, Nhà nước nhiều vấn đề quan trọng như nhân lực chất lượng cao, tài chính, thương mại, đầu tư, công nghệ, trí tuệ nhân tạo, khởi nghiệp, đổi mới sáng tạo, phòng chống dịch bệnh, các mô hình phát triển kinh tế… Hiện đã có 385 dự án của người Việt Nam ở nước ngoài đầu tư tại Việt Nam với tổng vốn đăng ký hơn 1,7 tỷ USD và có vốn góp vào hàng nghìn doanh nghiệp Việt Nam, góp phần tạo việc làm, chuyển giao công nghệ và phát triển kinh tế - xã hội. Lượng kiều hối chuyển về nước ta trong những năm qua ngày càng tăng mạnh, không chỉ giúp các ngân hàng gia tăng lợi nhuận từ hoạt động dịch vụ mà còn phục vụ chính sách thu hút nguồn ngoại tệ cho Việt Nam, bổ sung dự trữ ngoại hối. Cùng với đó, nguồn lực từ kiều hối góp phần giúp các doanh nghiệp đầu tư mở rộng sản xuất, kinh doanh, tạo động lực tích cực cho sự phát triển kinh tế-xã hội. Ngân hàng Nhà nước Việt Nam cho biết, theo số liệu báo cáo của các đơn vị làm dịch vụ chuyển tiền kiều hối, năm 2023, lượng kiều hối chuyển về nước ta đạt 16 tỷ USD, tăng 32,5% so với năm 2022. Trong đó, tổng lượng kiều hối về TP Hồ Chí Minh năm 2023 đạt 8,92 tỷ USD, tăng 35% so với năm 2022. Ngân hàng Nhà nước chi nhánh TP Hồ Chí Minh dự báo lượng kiều hối năm 2024 chuyển về qua các ngân hàng thương mại và tổ chức kinh tế trên địa bàn sẽ tăng khoảng 20% so với năm 2023.

Thực tế cho thấy, dưới sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý của Nhà nước, người Việt Nam ở nước ngoài ngày càng lớn mạnh về số lượng và mở rộng hơn về địa bàn. Vai trò, vị thế, uy tín của cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài trong xã hội sở tại ngày càng được nâng cao. Đại bộ phận người dân đã có địa vị pháp lý, ổn định cuộc sống, hội nhập sâu rộng trong tất cả các lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, dần dần tạo chỗ đứng vững chắc và có tiềm lực đáng kể về tri thức, trình độ khoa học, kỹ thuật. Không chỉ đóng góp bằng những nguồn lực đầu tư và chất xám, người Việt Nam ở nước ngoài còn tích cực bảo tồn, lan tỏa và trao truyền văn hóa Việt. Đối với cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài, tiếng Việt là phương tiện lưu giữ, lan tỏa, trao truyền văn hóa, giúp đồng bào ta ở nước ngoài bảo tồn được bản sắc văn hóa riêng, là cầu nối quan trọng giữa Việt Nam với thế giới, lan tỏa những giá trị văn hóa dân tộc, xây dựng hình ảnh Việt Nam ở nước ngoài, góp phần nâng cao vị thế và uy tín của Việt Nam trên trường quốc tế. Nhằm tiếp tục phát huy truyền thống, văn hóa của người Việt Nam ở nước ngoài và cụ thể hóa Kết luận số 12-KL/TW của Bộ Chính trị, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 930/QĐ-TTg ngày 3/8/2022 phê duyệt Đề án “Ngày Tôn vinh tiếng Việt trong cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài giai đoạn 2023-2030” nhằm nâng cao nhận thức, tôn vinh vẻ đẹp, giá trị của tiếng Việt trong cộng đồng và bạn bè quốc tế.

Năm 2024 là năm bản lề cho công tác người Việt Nam ở nước ngoài chuẩn bị bước sang một trang mới. Việc tổng kết 20 năm thực hiện Nghị quyết số 36-NQ/TW, ngày 26/3/2004 của Bộ Chính trị (khóa IX) về công tác đối với người Việt Nam ở nước ngoài là dịp để các cấp, các ngành và cả hệ thống chính trị đánh giá một cách khách quan những ưu điểm, hạn chế, tìm ra nguyên nhân, rút ra bài học kinh nghiệm và đề ra các giải pháp thiết thực để phát huy hơn nữa nguồn lực người Việt Nam ở nước ngoài trong những năm tới; tiếp tục khẳng định người Việt Nam ở nước ngoài là một bộ phận không tách rời của cộng đồng dân tộc Việt Nam, là nguồn lực quan trọng trong sự nghiệp xây dựng và phát triển đất nước. Đây cũng là cơ sở để Đảng ta bổ sung, phát triển đường lối đối ngoại, chính sách đối với người Việt Nam ở nước ngoài trong nhiệm kỳ Đại hội XIV, tạo điều kiện phát huy nguồn lực kiều bào đóng góp cho quê hương, đất nước. Sự quan tâm của Đảng, Nhà nước và sự tin tưởng, đóng góp của cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài là minh chứng thực tiễn góp phần xóa bỏ những mối nghi hoặc, những luận điệu xuyên tạc, bóp méo của các thế lực thù địch.

Nhận diện luận điệu xuyên tạc chính sách của Đảng, Nhà nước ta đối với người Việt Nam ở nước ngoài

 Những luận điệu lạc lõng với quê hương

Với truyền thống yêu nước, hướng về Tổ quốc, cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài luôn là một nguồn lực quan trọng, có nhiều đóng góp cho tiến trình xây dựng, bảo vệ và phát triển đất nước ta trong suốt chiều dài lịch sử. Hiện nay, với khoảng 6 triệu người sinh sống tại hơn 130 quốc gia và vùng lãnh thổ, trong đó 80% ở các nước phát triển, cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài ngày càng lớn mạnh, khẳng định được vai trò, vị thế, uy tín, không những đóng góp tích cực vào phát triển của nước sở tại mà còn góp phần quan trọng trong việc thúc đẩy quan hệ hợp tác, hữu nghị giữa Việt Nam với các nước cũng như công cuộc xây dựng và phát triển đất nước.

Tuy nhiên, các đối tượng chống phá vẫn cố tình bóp méo, vu cáo chính sách của Đảng, Nhà nước ta đối với người Việt Nam ở nước ngoài. Các thế lực thù địch và các tổ chức phản động lưu vong cùng một số đối tượng chống đối cực đoan lập các trang web, facebook, youtube, twitter, tiktok, zalo… tuyên truyền bịa đặt, bôi nhọ các chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước với những luận điệu xuyên tạc như: Nhà nước không giúp gì, chỉ tìm cách khai thác nhân tài, vật lực của người Việt hải ngoại; việc thành lập các hội, đoàn trong cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài là cách cho thấy “Đảng Cộng sản Việt Nam đang tham vọng định hướng chính trị”; cộng sản xâm nhập, phá hoại và lũng đoạn các cộng đồng, các hội đoàn, các cơ sở thương mại, trường học của người Việt tại hải ngoại… Thậm chí các đối tượng còn rêu rao rằng, Việt Nam đang tìm cách “đảng hóa” với cả những hội, đoàn trong tương lai mà Đảng hậu thuẫn tại hải ngoại! Các đối tượng cố tình xuyên tạc, vu cáo rằng kể từ Nghị quyết 23-NQ/TW ngày 12/3/2003 về phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc đến Nghị quyết 36-NQ/TW ngày 26/3/2004 về công tác đối với người Việt Nam ở nước ngoài được triển khai “thực chất là những chiêu trò ru ngủ giả hiệu dân chủ”!

Nhận diện luận điệu xuyên tạc chính sách của Đảng, Nhà nước ta đối với người Việt Nam ở nước ngoài -0
Gần 40 năm đổi mới đất nước, các chủ trương và chính sách đối với người Việt Nam ở nước ngoài của Đảng, Nhà nước ngày càng được bổ sung và hoàn thiện nhằm đáp ứng kịp thời các yêu cầu thực tiễn. Ảnh: tuyengiao.vn

Đây là những luận điệu xuyên tạc xuất phát từ tư tưởng thù địch nhằm bóp méo bản chất, ý nghĩa các chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng, Nhà nước ta trong gắn kết người Việt Nam ở nước ngoài với Tổ quốc. Mặc dù sống xa Tổ quốc nhưng người Việt Nam ở nước ngoài luôn nuôi dưỡng, phát huy tinh thần yêu nước, tự tôn dân tộc, giữ gìn truyền thống văn hóa và hướng về nguồn cội, gắn bó với gia đình, quê hương, đất nước. Cộng đồng người Việt ở nước ngoài đã có những đóng góp to lớn về tinh thần, vật chất và cả xương máu cho sự nghiệp giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước và trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam hiện nay.

Quan điểm của Đảng và Nhà nước ta trong gắn kết người Việt Nam ở nước ngoài với Tổ quốc

Gần 40 năm đổi mới đất nước, các chủ trương và chính sách đối với người Việt Nam ở nước ngoài của Đảng, Nhà nước ngày càng được bổ sung và hoàn thiện nhằm đáp ứng kịp thời các yêu cầu thực tiễn. Một trong những dấu mốc quan trọng đó là Nghị quyết số 08-NQ/TW ngày 29/11/1993 của Bộ Chính trị về chính sách và công tác đối với người Việt Nam ở nước ngoài; sau đó là các văn bản chỉ đạo của Bộ Chính trị như Nghị quyết số 36-NQ/TW của Bộ Chính trị khóa IX về công tác đối với người Việt Nam ở nước ngoài. Để góp phần thực hiện thắng lợi khát vọng và tầm nhìn phát triển đất nước mà Đại hội XIII của Đảng đã đề ra, ngày 12/8/2021, Bộ Chính trị đã ban hành Kết luận số 12-KL/TW về công tác người Việt Nam ở nước ngoài trong tình hình mới (Kết luận 12). Kết luận 12 là sự kế thừa, tiếp nối của Nghị quyết 36 (2004) và Chỉ thị 45 (2015) về công tác đối với người Việt Nam ở nước ngoài với tinh thần chủ đạo là hòa hợp dân tộc, chăm lo cho kiều bào và huy động nguồn lực kiều bào cho sự nghiệp xây dựng, bảo vệ và phát triển đất nước.

Các văn bản trên đã thể hiện quan điểm nhất quán và xuyên suốt của Đảng, Nhà nước ta, khẳng định cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài là bộ phận không tách rời và là một nguồn lực của cộng đồng dân tộc Việt Nam; công tác đối với người Việt Nam ở nước ngoài là trách nhiệm của toàn bộ hệ thống chính trị và của toàn dân, thể hiện đầy đủ truyền thống đại đoàn kết toàn dân tộc. Trong 20 năm thực hiện Nghị quyết số 36-NQ/TW của Bộ Chính trị khóa IX đã chứng minh, mặc dù sống xa Tổ quốc nhưng đồng bào ta vẫn luôn nuôi dưỡng, phát huy tinh thần yêu nước, tự tôn dân tộc, giữ gìn truyền thống văn hóa và hướng về cội nguồn, dòng tộc, gắn bó với gia đình, quê hương. Trong các công cuộc chống ngoại xâm, bảo vệ Tổ quốc đã có rất nhiều người Việt Nam ở nước ngoài đóng góp về tinh thần, vật chất và cả xương máu cho sự nghiệp giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước.

Đi liền với đó là những thành tựu to lớn của đất nước sau giai đoạn đổi mới cùng với vị thế ngày càng tăng của đất nước ở khu vực và trên thế giới đã khích lệ cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài tự hào, tự tôn dân tộc, hướng về với cội nguồn, đóng góp cho quê hương. Đóng góp vào thành tựu chung của đất nước có công sức, trí tuệ của nhiều doanh nhân, trí thức người Việt Nam có trình độ cao ở nước ngoài, luôn tích cực tham gia hiến kế cho lãnh đạo Đảng, Nhà nước nhiều vấn đề quan trọng như nhân lực chất lượng cao, tài chính, thương mại, đầu tư, công nghệ, trí tuệ nhân tạo, khởi nghiệp, đổi mới sáng tạo, phòng chống dịch bệnh, các mô hình phát triển kinh tế… Hiện đã có 385 dự án của người Việt Nam ở nước ngoài đầu tư tại Việt Nam với tổng vốn đăng ký hơn 1,7 tỷ USD và có vốn góp vào hàng nghìn doanh nghiệp Việt Nam, góp phần tạo việc làm, chuyển giao công nghệ và phát triển kinh tế - xã hội. Lượng kiều hối chuyển về nước ta trong những năm qua ngày càng tăng mạnh, không chỉ giúp các ngân hàng gia tăng lợi nhuận từ hoạt động dịch vụ mà còn phục vụ chính sách thu hút nguồn ngoại tệ cho Việt Nam, bổ sung dự trữ ngoại hối. Cùng với đó, nguồn lực từ kiều hối góp phần giúp các doanh nghiệp đầu tư mở rộng sản xuất, kinh doanh, tạo động lực tích cực cho sự phát triển kinh tế-xã hội. Ngân hàng Nhà nước Việt Nam cho biết, theo số liệu báo cáo của các đơn vị làm dịch vụ chuyển tiền kiều hối, năm 2023, lượng kiều hối chuyển về nước ta đạt 16 tỷ USD, tăng 32,5% so với năm 2022. Trong đó, tổng lượng kiều hối về TP Hồ Chí Minh năm 2023 đạt 8,92 tỷ USD, tăng 35% so với năm 2022. Ngân hàng Nhà nước chi nhánh TP Hồ Chí Minh dự báo lượng kiều hối năm 2024 chuyển về qua các ngân hàng thương mại và tổ chức kinh tế trên địa bàn sẽ tăng khoảng 20% so với năm 2023.

Thực tế cho thấy, dưới sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý của Nhà nước, người Việt Nam ở nước ngoài ngày càng lớn mạnh về số lượng và mở rộng hơn về địa bàn. Vai trò, vị thế, uy tín của cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài trong xã hội sở tại ngày càng được nâng cao. Đại bộ phận người dân đã có địa vị pháp lý, ổn định cuộc sống, hội nhập sâu rộng trong tất cả các lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, dần dần tạo chỗ đứng vững chắc và có tiềm lực đáng kể về tri thức, trình độ khoa học, kỹ thuật. Không chỉ đóng góp bằng những nguồn lực đầu tư và chất xám, người Việt Nam ở nước ngoài còn tích cực bảo tồn, lan tỏa và trao truyền văn hóa Việt. Đối với cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài, tiếng Việt là phương tiện lưu giữ, lan tỏa, trao truyền văn hóa, giúp đồng bào ta ở nước ngoài bảo tồn được bản sắc văn hóa riêng, là cầu nối quan trọng giữa Việt Nam với thế giới, lan tỏa những giá trị văn hóa dân tộc, xây dựng hình ảnh Việt Nam ở nước ngoài, góp phần nâng cao vị thế và uy tín của Việt Nam trên trường quốc tế. Nhằm tiếp tục phát huy truyền thống, văn hóa của người Việt Nam ở nước ngoài và cụ thể hóa Kết luận số 12-KL/TW của Bộ Chính trị, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 930/QĐ-TTg ngày 3/8/2022 phê duyệt Đề án “Ngày Tôn vinh tiếng Việt trong cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài giai đoạn 2023-2030” nhằm nâng cao nhận thức, tôn vinh vẻ đẹp, giá trị của tiếng Việt trong cộng đồng và bạn bè quốc tế.

Năm 2024 là năm bản lề cho công tác người Việt Nam ở nước ngoài chuẩn bị bước sang một trang mới. Việc tổng kết 20 năm thực hiện Nghị quyết số 36-NQ/TW, ngày 26/3/2004 của Bộ Chính trị (khóa IX) về công tác đối với người Việt Nam ở nước ngoài là dịp để các cấp, các ngành và cả hệ thống chính trị đánh giá một cách khách quan những ưu điểm, hạn chế, tìm ra nguyên nhân, rút ra bài học kinh nghiệm và đề ra các giải pháp thiết thực để phát huy hơn nữa nguồn lực người Việt Nam ở nước ngoài trong những năm tới; tiếp tục khẳng định người Việt Nam ở nước ngoài là một bộ phận không tách rời của cộng đồng dân tộc Việt Nam, là nguồn lực quan trọng trong sự nghiệp xây dựng và phát triển đất nước. Đây cũng là cơ sở để Đảng ta bổ sung, phát triển đường lối đối ngoại, chính sách đối với người Việt Nam ở nước ngoài trong nhiệm kỳ Đại hội XIV, tạo điều kiện phát huy nguồn lực kiều bào đóng góp cho quê hương, đất nước. Sự quan tâm của Đảng, Nhà nước và sự tin tưởng, đóng góp của cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài là minh chứng thực tiễn góp phần xóa bỏ những mối nghi hoặc, những luận điệu xuyên tạc, bóp méo của các thế lực thù địch.

Phản bác luận điệu sai trái, xuyên tạc về di sản Hồ Chí Minh

 Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đi xa song Người để lại cho hậu thế những di sản vô cùng quý giá. Di sản Hồ Chí Minh luôn sống mãi trong sự nghiệp cách mạng, là kim chỉ nam dẫn đường, chỉ lối cho công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Di sản ấy là toàn bộ những giá trị vật chất và tinh thần do chính Người sáng tạo, để lại cho Đảng, dân tộc Việt Nam.

Di sản Hồ Chí Minh mang tính phổ quát, bền vững, vượt thời đại và vẹn nguyên tính thời sự. Chính vì thế, các thế lực thù địch luôn xem di dản của Người là một mục tiêu, trọng tâm chống phá. Việc nhận diện bản chất, bóc trần các âm mưu, thủ đoạn, bác bỏ những luận điệu sai trái, xuyên tạc về di sản Hồ Chí Minh, qua đó góp phần giữ vững trận địa tư tưởng, củng cố địa vị chủ đạo hệ tư tưởng của Đảng ta trong đời sống tinh thần xã hội có vai trò quan trọng.

Nhận diện âm mưu, thủ đoạn chống phá

Số tổ chức, cá nhân chống phá thường khoác áo “khách quan khoa học”, đội lốt “phản biện xã hội”, thậm chí họ mượn danh nghĩa “nhà nghiên cứu lý luận” hay núp bóng “nhà dân chủ”, “nhà nhân quyền” để ngụy biện tuyên truyền, đánh tráo học thuật, xảo biện các vấn đề cốt lõi trong di sản Hồ Chí Minh. Họ chống phá di sản Hồ Chí Minh cả về tư tưởng, đạo đức, phong cách, thân thế, sự nghiệp cách mạng của Người. Về tư tưởng, họ coi những luận điểm về chính trị, cách mạng của Người chỉ là bản sao của chủ nghĩa Mác - Lênin, vay mượn, cộng gộp các tư tưởng Nho giáo, Phật giáo, chủ nghĩa Tam dân của Tôn Trung Sơn. Về đạo đức, số đối tượng xấu coi đạo đức của Người chỉ là “chủ nghĩa khổ hạnh” không thể học tập, làm theo. Về phong cách, họ phớt lờ tác phong, lề lối, phương pháp cách mạng, khoa học của Hồ Chí Minh.                       

Về thân thế, các đối tượng xấu bịa đặt, tung tin sai lệch, thất thiệt, bôi nhọ đời tư của Người.

Họ ra sức phủ nhận sự tồn tại của tư tưởng Hồ Chí Minh, cho rằng Hồ Chí Minh chỉ là nhà hoạt động thực tiễn chứ không phải nhà tư tưởng để hạ thấp di sản của Người. Một số đối tượng chống phá lại giả vờ “tôn vinh”, “tuyệt đối hóa” di sản văn hóa Hồ Chí Minh bằng cách so sánh, đối lập tư tưởng Hồ Chí Minh với chủ nghĩa Mác - Lênin và cho rằng chủ nghĩa Mác - Lênin đã lỗi thời, lạc hậu, hiện chỉ có tư tưởng Hồ Chí Minh là có giá trị. Từ đó, đòi tách rời tư tưởng Hồ Chí Minh với chủ nghĩa Mác - Lênin. Thực chất đây chính là thủ đoạn vờ “đề cao” bên này để “hạ bệ” bên kia nhằm đả kích, chống phá bởi chủ nghĩa Mác - Lênin là nguồn gốc lý luận chủ đạo làm nên bản chất cách mạng, khoa học của tư tưởng Hồ Chí Minh.

Bên cạnh đó, các thế lực thù địch còn cố tình cắt xén những câu nói, phát biểu, bài viết của Chủ tịch Hồ Chí Minh ra khỏi bối cảnh lịch sử để làm sai lệch tư tưởng của Người. Họ đối lập giữa tư tưởng Hồ Chí Minh với đường lối, chủ trương của Đảng Cộng sản Việt Nam. Các phần tử chống phá cũng phủ nhận sự cần thiết, tính hiệu quả của việc học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh. Ngoài ra, họ còn đưa ra yêu sách vô lý, trắng trợn đòi từ bỏ việc bảo tồn di tích, bảo tàng có liên quan đến Người.

Các thế lực thù địch, phản động và các phần tử cơ hội chính trị triệt để lợi dụng các tính năng ưu việt của Internet, mạng xã hội với tốc độ chia sẻ nhanh, độ tương tác rộng hay sử dụng hệ thống phát thanh, báo chí, xuất bản ở nước ngoài biến thành công cụ đắc lực phục vụ cho mưu đồ chống phá. Tính chất nguy hiểm của những phương thức, thủ đoạn chống phá ở chỗ: các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị sử dụng chiêu bài “thao túng tâm lý”; tạo dựng nhận thức sai lệch, mơ hồ, hoài nghi về lãnh tụ của cách mạng Việt Nam hòng gây hoang mang, dao động, làm lung lay niềm tin, giảm sút tình cảm của cán bộ, đảng viên và nhân dân đối với Chủ tịch Hồ Chí Minh; tìm cách triệt tiêu động lực, khí thế, quyết tâm của hệ thống chính trị, toàn xã hội trong đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh.

Từ khi Đảng ta lấy chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động cũng là lúc các thế lực thù địch tập trung chống phá di sản văn hóa Hồ Chí Minh quyết liệt. Thấy rõ di sản văn hóa Hồ Chí Minh là linh hồn, là tài sản vô giá của Đảng, của dân tộc và nhân dân Việt Nam nên các các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị muốn phá hủy tận gốc rễ nền tảng tư tưởng của Đảng, xóa bỏ biểu tượng Hồ Chí Minh trong trái tim, khối óc của nhân dân Việt Nam. Nhưng dù có dùng mọi chiêu trò chống phá vẫn không thể phủ nhận giá trị to lớn, sức sống trường tồn của di sản Hồ Chí Minh.

Thế giới đổi thay nhưng di sản Hồ Chí Minh sống mãi

Thực tế thắng lợi của công cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc trước đây, sự nghiệp đổi mới hiện nay là minh chứng sống động, rõ nét cho thấy những đóng góp của Chủ tịch Hồ Chí Minh cả về mặt thực tiễn và tư tưởng lý luận. Cuộc đời Hồ Chí Minh đã cống hiến hết mình cho dân tộc, như Người từng chia sẻ: “Tôi tuyệt nhiên không ham muốn công danh phú quý chút nào... Tôi chỉ có một sự ham muốn, ham muốn tột bậc, là làm sao cho nước ta được hoàn toàn độc lập, dân ta được hoàn toàn tự do, đồng bào ai cũng có cơm ăn áo mặc, ai cũng được học hành”. Trước lúc đi xa, trong bản Di chúc mà Chủ tịch Hồ Chí Minh để lại cho đời sau, Người đã tâm sự: “Suốt đời tôi hết lòng, hết sức phục vụ Tổ quốc, phục vụ cách mạng, phục vụ nhân dân. Nay dù phải từ biệt thế giới này, tôi không có điều gì phải hối hận, chỉ tiếc là tiếc rằng không được phục vụ lâu hơn nữa, nhiều hơn nữa”.

Trong suốt cuộc đời tận hiến cho cách mạng Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chắt lọc những gì tốt đẹp nhất trong truyền thống văn hóa dân tộc, tinh hoa văn hóa nhân loại và cũng chính Người đã nâng tầm văn hóa dân tộc, đóng góp quan trọng vào dòng chảy lịch sử văn hóa thế giới. Điều này đã được Đại tướng Võ Nguyên Giáp khẳng định: “Tiếp nhận những tinh hoa văn hóa của nhân loại, ngăn chặn mặt tiêu cực thâm nhập, đồng thời phát huy được những giá trị xã hội và truyền thống tốt đẹp mang bản sắc dân tộc mình, đó là bản lĩnh, ý thức tự chủ, cốt cách và tinh thần độc lập của dân tộc Việt Nam mà Chủ tịch Hồ Chí Minh đã kế thừa và phát triển một cách sâu sắc”.

Chủ tịch Hồ Chí Minh là anh hùng giải phóng dân tộc, là nhà văn hóa kiệt xuất bởi vai trò thúc đẩy của Người đối với sự phát triển của lịch sử, văn hóa dân tộc Việt Nam và đóng góp vào tiến trình lịch sử, văn hóa nhân loại. Người đã làm thay đổi vận mệnh dân tộc Việt Nam, từ thân phận nô lệ trở thành dân tộc tự do, độc lập. Đồng thời, Hồ Chí Minh còn truyền cảm hứng mạnh mẽ đối với nhân dân các dân tộc thuộc địa xóa đi sự nô dịch của chủ nghĩa thực dân trên thế giới. Người đã dẫn dắt dân tộc ta thực hiện mục tiêu hòa bình, thống nhất, độc lập, dân chủ và giàu mạnh cho đất nước của mình, đồng thời cũng góp phần vào cuộc đấu tranh chung của các dân tộc vì hòa bình, độc lập, dân chủ và tiến bộ xã hội. Do vậy, di sản của Chủ tịch Hồ Chí Minh không chỉ có giá trị đối với dân tộc Việt Nam mà còn có ý nghĩa đối với các dân tộc bị áp bức, bóc lột trên toàn thế giới.

Không phải đến bây giờ mà cách cách đây hơn 100 năm, nhà báo người Nga Osip Emilyevich Mandelstam đã viết bài mang tên “Thăm một chiến sĩ quốc tế cộng sản - Nguyễn Ái Quốc” đã đăng trên báo Ogoniok (Ngọn lửa nhỏ) của Liên Xô xuất bản ngày 23/12/1923. Bài báo có đoạn: “Từ Nguyễn Ái Quốc đã tỏa ra một thứ văn hóa, không phải văn hóa Âu châu, mà có lẽ là một nền văn hóa tương lai”. Tuy hơn một thế kỷ đã trôi qua nhưng nhận định sâu sắc này của O. Mandelstam vẫn vẹn nguyên giá trị, dự báo “Hồ Chí Minh là nền văn hóa tương lai” xuất phát từ việc nhà báo người Nga đã cảm nhận được trong tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh đã kết hợp nhuần nhuyễn cả tinh hoa văn hóa phương Đông và phương Tây, cả giá trị truyền thống và giá trị tiến bộ của văn minh nhân loại thời hiện đại.

Trong quá trình tiếp xúc cũng như nghiên cứu về Hồ Chí Minh, rất nhiều chính khách, học giả quốc tế bày tỏ sự khâm phục, ngưỡng mộ trước tư tưởng, đạo đức, phong cách của Người. Trong đó, Chủ tịch Phiđen Caxtơrô - lãnh tụ đất nước Cuba viết: “Vinh quang đời đời thuộc về Chủ tịch Hồ Chí Minh - tấm gương lớn nhất của người cách mạng vĩ đại ngày càng được khâm phục, ngưỡng mộ và luôn luôn được mến yêu không chỉ bởi nhân dân Việt Nam mà còn bởi tất cả các dân tộc khác trên thế giới”.

Ông Miyamôtô Kêngi, nguyên Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Nhật Bản đã nhận định: “Đồng chí Hồ Chí Minh không những là lãnh tụ lỗi lạc của nhân dân Việt Nam mà còn là một chiến sĩ lỗi lạc, một nhà hoạt động tài năng của phong trào cộng sản quốc tế”.

Tiến sĩ M. Atmét, nguyên Giám đốc UNESCO khu vực châu Á - Thái Bình Dương đã khẳng định: “Chỉ có ít nhân vật trong lịch sử trở thành một bộ phận của huyền thoại ngay khi còn sống và rõ ràng Hồ Chí Minh là một trong số đó”. Những nhận xét trên hết sức khách quan, công tâm, dựa trên những đóng góp thực tế của Chủ tịch Hồ Chí Minh không chỉ đối với dân tộc Việt Nam mà còn đối với nhân loại.

Tư tưởng, đạo đức, phong cách và cuộc đời cách mạng vĩ đại, vẻ vang của Chủ tịch Hồ Chí Minh là một cống hiến to lớn, xuất sắc vào sự nghiệp giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp, giải phóng con người. Do đó, tháng 11/1987, trong khuôn khổ Khóa họp lần thứ 24, Đại hội đồng Tổ chức Giáo dục, khoa học và văn hóa của Liên hợp quốc (UNESCO) đã thông qua Nghị quyết số 24C/18.65 về việc kỷ niệm 100 năm (vào năm 1990) ngày sinh của Chủ tịch Hồ Chí Minh, tôn vinh Người là “Anh hùng giải phóng dân tộc”, là “Nhà văn hoá kiệt xuất”; đồng thời, vinh danh Người là một trong những nhân vật lỗi lạc đã để lại dấu ấn trong tiến trình phát triển của nhân loại. Việc UNESCO ra nghị quyết tôn vinh Chủ tịch Hồ Chí Minh là Anh hùng giải phóng dân tộc, nhà văn hóa kiệt xuất là sự kiện rất có ý nghĩa, thể hiện sự trân trọng, đánh giá khách quan của nhân loại tiến bộ đối với di sản Hồ Chí Minh; qua đó càng thấy rõ hơn tầm vóc, giá trị di sản của Người, mọi quan điểm sai trái, thù địch vì thế mà lạc lõng, vô nghĩa.

Di sản Hồ Chí Minh đã vượt qua thử thách của thời gian, trở thành biểu tượng, mạch sống của dân tộc Việt Nam. Di sản ấy là một tài nguyên văn hóa mà càng nghiên cứu, càng khai thác, càng mang lại cho toàn Đảng, toàn dân, toàn quân những giá trị bổ ích, mới mẻ. Sứ mệnh đặt ra cho mọi cán bộ, đảng viên và quần chúng là kiên định, bảo vệ, vận dụng, phát triển di sản Hồ Chí Minh; đồng thời, lan tỏa, phát huy giá trị để di sản đặc biệt này trở thành một trong những động lực tư tưởng - tinh thần vô giá, giúp nâng tầm vị thế văn hóa, con người Việt Nam trong dòng chảy văn hóa nhân loại.

Bảo đảm tiến độ, chất lượng công trình, phòng, chống tham nhũng, tiêu cực

Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính dự và phát biểu chỉ đạo Hội nghị. Tham dự Hội nghị có đại diện lãnh đạo một số bộ, ban, ngành Trung ương.

Hoàn thành 20 dự án, đưa vào sử dụng 475km đường cao tốc

Phát biểu tại Hội nghị, Bộ trưởng Bộ GTVT Nguyễn Văn Thắng cho biết, năm 2023, Bộ GTVT tập trung rà soát, hoàn thiện, nâng cao chất lượng xây dựng thể chế, cơ chế chính sách và đã đạt được nhiều kết quả quan trọng, tháo gỡ đáng kể khó khăn, vướng mắc cho người dân, doanh nghiệp và địa phương, khơi thông, giải phóng, huy động, sử dụng hiệu quả mọi nguồn lực, góp phần quan trọng tạo đà phát triển kinh tế-xã hội nhanh, bền vững.

Bộ GTVT là một trong các bộ trình sớm nhất và được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt 5/5 quy hoạch ngành quốc gia. Bộ đã tiếp thu, hoàn thiện, trình Thường trực Chính phủ đề án chủ trương đầu tư đường sắt tốc độ cao trên trục Bắc-Nam, đề án định hướng huy động nguồn vốn xã hội đầu tư kết cấu hạ tầng cảng hàng không.

Bảo đảm tiến độ, chất lượng công trình, phòng, chống tham nhũng, tiêu cực -0
Thủ tướng Phạm Minh Chính phát biểu chỉ đạo Hội nghị. 

Năm 2023 là năm có nhiều đột phá trong đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng giao thông với việc khởi công 26 dự án, trong đó, rút ngắn thời gian khởi công 6 dự án quan trọng quốc gia 1 năm so với quy trình thủ tục thông thường. Đã hoàn thành, đưa vào khai thác 20 dự án, trong đó riêng đường bộ cao tốc có 9 dự án dài 475km, nâng tổng số chiều dài đường cao tốc đưa vào khai thác trên cả nước lên gần 1.900km.

Năm 2023, Bộ GTVT được Thủ tướng Chính phủ giao số vốn đầu tư công lớn nhất từ trước tới nay với khoảng 94.161 tỷ đồng (gấp 1,7 lần so với năm 2022). Vượt qua nhiều khó khăn, thách thức, kết quả giải ngân của Bộ đến hết niên độ kế hoạch dự kiến đạt hơn 95%.

Hoạt động vận tải tiếp tục giữ được đà tăng trưởng ổn định gắn với việc cắt giảm mạnh mẽ thủ tục hành chính, phí lệ phí, đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin. Đến hết tháng 11/2023, sản lượng hàng hóa tăng 12,9%, luân chuyển hàng hóa tăng 10,5% so với cùng kỳ, sản lượng hành khách tăng 11,5%, luân chuyển hành khách tăng 23,9% so với cùng kỳ. Thực hiện nhiều giải pháp đồng bộ để xử lý những tồn tại, khó khăn của hoạt động đăng kiểm.

Bộ GTVT cũng thẳng thắn nhìn nhận một số tồn tại, hạn chế, trong đó, công tác quản lý hoạt động vận tải vẫn còn bất cập; tình trạng xe dù, bến cóc, xe hợp đồng trá hình còn diễn ra ở nhiều địa phương. Tai nạn giao thông (TNGT) vẫn tiềm ẩn diễn biến phức tạp, còn xảy ra nhiều vụ TNGT nghiêm trọng. Các trạm dừng nghỉ trên đường cao tốc chưa được đầu tư đồng bộ dẫn đến sự bất tiện đối với người dân. Việc thu hút nguồn vốn xã hội trong đầu tư kết cấu hạ tầng giao thông chưa đáp ứng được kỳ vọng.

Mục tiêu năm 2024, Bộ GTVT phấn đấu khởi công, hoàn thành các dự án đúng kế hoạch, trong đó có 2 dự án thành phần của cao tốc Bắc-Nam đoạn Diễn Châu-Bãi Vọt và Cam Lâm-Vĩnh Hảo, nâng tổng số đường bộ cao tốc đưa vào khai thác đạt 2.021km. Phấn đấu giải ngân hơn 95% kế hoạch đầu tư phát triển được Thủ tướng Chính phủ giao.

Bảo đảm tiến độ, chất lượng công trình, phòng, chống tham nhũng, tiêu cực -0
Bộ trưởng Nguyễn Văn Thắng phát biểu tại Hội nghị.

Tháo gỡ khó khăn, vướng mắc, làm việc với tinh thần “vượt nắng, thắng mưa”

Phát biểu tại hội nghị, Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính nhấn mạnh, năm 2023 là năm thời cơ thuận lợi đan xen khó khăn thách thức. Trong đó khó khăn thách thức nhiều hơn, nhiều diễn biến phức tạp của tình hình thế giới vượt khỏi tầm kiểm soát và không thể dự báo trước. Điều này đã tác động lớn đến tình hình trong nước, trong đó có ngành GTVT. Tuy nhiên, dưới sự lãnh đạo của Đảng, chỉ đạo của nhà nước, nỗ lực của Bộ GTVT đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ, góp phần cùng với cả nước ổn định kinh tế vĩ mô, kiểm soát được lạm phát, thúc đẩy được tăng trưởng, phát triển hạ tầng, góp phần xoá đói giảm nghèo vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo. Thay mặt Chính phủ, Thủ tướng Phạm Minh Chính ghi nhận, biểu dương và đánh giá cao thành tích của Bộ GTVT.

Thủ tướng nêu rõ, năm qua, lãnh đạo ngành GTVT đã đi sâu, đi sát, tích cực chỉ đạo từng khu vực, từng vùng, từng dự án để tháo gỡ khó khăn, thúc đẩy nhanh các công trình giao thông trọng điểm. Bộ GTVT đã tích cực, chủ động rà soát, xây dựng và hoàn thiện thể chế, triển khai các quy hoạch.

Bộ GTVT cũng tích cực phân cấp cho các địa phương; triển khai đầu tư hạ tầng giao thông, các dự án quan trọng quốc gia, trọng điểm của ngành giao thông năm 2023 với khối lượng lớn. Bộ thực hiện rất tốt vai trò là cơ quan thường trực Ban chỉ đạo nhà nước các công trình, dự án quan trọng quốc gia, trọng điểm ngành GTVT; chỉ đạo quyết liệt tháo gỡ khó khăn, vướng mắc của các địa phương; chú trọng công tác nghiên cứu khoa học, lắng nghe ý kiến đóng góp của các chuyên gia, tôn trọng khách quan, thực tiễn, khoa học; làm với tinh thần “vượt nắng, thắng mưa”, “3 ca, 4 kíp”, “ăn tranh thủ, ngủ khẩn trương”, làm xuyên Tết, xuyên ngày nghỉ.

Thủ tướng cũng đặc biệt biểu dương Tổng công ty Cảng hàng không Việt Nam (ACV) tích cực triển khai dự án Cảng hàng không quốc tế Long Thành. Thủ tướng yêu cầu phải công khai, minh bạch, chống tiêu cực, tham nhũng trong lựa chọn nhà thầu.

Bộ GTVT cũng làm tốt công tác chuyển đổi số, lấy đổi mới sáng tạo, khoa học công nghệ làm động lực cho sự phát triển; thực hiện nghiêm túc đường lối, sự chỉ đạo của Đảng, quản lý nhà nước; có sự phối hợp chặt chẽ của các bộ, ngành, địa phương, sự ủng hộ của doanh nghiệp, nhân dân.

Bảo đảm tiến độ, chất lượng công trình, phòng, chống tham nhũng, tiêu cực -0
Đại diện một số bộ, ngành phát biểu tại hội nghị. 

Bên cạnh kết quả đạt được còn một số hạn chế như công tác quản lý hoạt động vận tải, xe dù, bến cóc, tai nạn giao thông còn phức tạp, nhiều dự án đường cao tốc hoàn thành nhưng còn phải hoàn thiện các hạng mục đồng bộ, thu hút nguồn vốn xã hội hóa chưa nhiều... Thủ tướng đề nghị Bộ GTVT luôn nỗ lực và cố gắng hơn nữa để khắc phục tồn tại, hạn chế.

Về công tác năm 2024, Thủ tướng nhấn mạnh cần quán triệt nghiêm túc sự lãnh đạo, chỉ đạo của Đảng, quản lý của nhà nước; đẩy mạnh hơn nữa, lấy đổi mới sáng tạo, khoa học công nghệ là động lực, nguồn lực, sự dẫn dắt trong việc khảo sát, thiết kế, tổ chức thi công, giám sát, tổ chức thi công, bảo hành, bảo trì, các công trình trọng điểm góp phần bảo đảm tiến độ, chất lượng, giảm giá thành, chống tham nhũng, tiêu cực; bảo đảm phát triển nhanh và bền vững các công trình, dự án giao thông.

Nắm chắc tình hình, xử lý kịp thời các vướng mắc với tinh thần vướng mắc ở cấp nào, cấp đó phải tháo gỡ, khó khăn ở đâu thì ở đó phải giải quyết, phải bám sát thực tiễn. Phải xây dựng cơ chế, chính sách phù hợp để phát huy tối đa tiềm năng khác biệt, cơ hội nổi trội, lợi thế cạnh tranh của từng lĩnh vực. Tiếp tục đẩy mạnh xây dựng, hoàn thiện thể chế. Giữ vững kỷ luật, kỷ cương, tăng cường phân cấp, phân quyền đi đối với phân bổ nguồn lực, nâng cao khả năng thực thi, tăng cường công cụ giám sát, kiểm tra; giảm tất cả các thủ tục hành chính gây phiền hà, sách nhiễu cho người dân, doanh nghiệp.

Đồng thời, cần làm tốt công tác truyền thông, tạo đồng thuận trong dư luận xã hội. Hài hòa lợi ích giữa nhà nước, người dân, doanh nghiệp; bảo đảm quyền và lợi ích chính đáng, hợp pháp của người dân, doanh nghiệp. Thủ tướng cũng yêu cầu Bộ GTVT chú ý các dự án cụ thể như Cảng hàng không quốc tế Long Thành; một số dự án theo phương thức đối tác công-tư (PPP) như khởi công đường cao tốc Đồng Đăng-Trà Lĩnh, Nam Định-Thái Bình, Gia Nghĩa-Chơn Thành.