Thứ Hai, 4 tháng 11, 2024

Mạng xã hội và góc nhìn của giới trẻ

Cùng với sự phát triển chóng mặt của công nghệ thông tin mỗi chúng ta đều có thể dễ dàng có được những phương tiện để truy cập internet. Điều đó tạo điều kiện thuận lợi cho việc tiếp thu những thông tin hữu ích. Tuy nhiên, mạng xã hội của chúng ta chưa được quản lý triệt để, có rất nhiều “rác thải” thông tin gây ảnh hưởng đến tâm lý, nhân cách, lối sống của người tiếp cận thông tin. Đặc biệt một bộ phận giới trẻ hiện nay chưa phân biệt được hết cái tốt, cái xấu với bản tính tò mò, thích khám phá không phân biệt được đâu là thông tin đúng, đâu là tin giả, tin sai sự thật đang dần xa rời những giá trị truyền thống của dân tộc và sa đà, lún sâu vào những suy nghĩ, hành vi sai trái, lệch lạc.

Trong những năm gần đây, mạng xã hội đã trở nên phổ biến đối với cuộc sống hàng ngày của hầu hết người dân Việt Nam cùng với tỷ lệ sử dụng điện thoại thông minh và internet ngày càng tăng. Các mạng xã hội như: Zalo, Facebook, Twitter, Tiktok, Instagram… đã trở thành nhu cầu tất yếu  tác động trực tiếp đến cuộc sống thực tế của người dân, đặc biệt là giới trẻ.

Từ khi xuất hiện, mạng xã hội đã tạo nên nhiều thay đổi lớn trong đời sống kinh tế, xã hội. Mạng xã hội ngày càng được mở rộng, các hình thức giải trí trên mạng trở nên phong phú, đa dạng đã tác động trực tiếp đến đời sống tâm lý và tình cảm của đại bộ phận giới trẻ. Bên cạnh việc tiếp cận những thông tin lành mạnh, không ít người đã trở thành các "anh hùng bàn phím" sử dụng các trang mạng xã hội để bôi xấu hình ảnh, thậm chí xúc phạm đến danh dự, nhân phẩm của các cá nhân, tổ chức.

Lợi dụng sự thiếu hiểu biết của một bộ phận giới trẻ, các thế lực phản động đã đưa ra các luận điệu sai trái, thù địch để chống phá Đảng, Nhà nước bằng các chiêu trò tạo dựng, phát tán các thông tin, hình ảnh giả tạo, sai lệch, biến có thành không, biến không thành có, thật giả lẫn lộn, từ đó lôi kéo, hướng dư luận theo quan điểm sai trái, thù địch. Các đối tượng này đã lập và sử dụng hàng ngàn website, blog, diễn đàn trực tuyến… để thực hiện việc tuyên truyền chống phá Đảng và Nhà nước Việt Nam.

 Tuy nhiên các hành vi bịa đặt, xuyên tạc, thông tin sai sự thật nhằm chống phá, bôi nhọ, xúc phạm danh dự, nhân phẩm, uy tín của người khác là vi phạm pháp luật và có đủ các chế tài pháp luật để xử lý. Theo Điểm a, Khoản 1, Điều 101 Nghị định 15/2020/NĐ-CP quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bưu chính, viễn thông, tần số vô tuyên điện, công nghệ thông tin và giao dịch điện tử, các hành vi lợi dụng mạng xã hội để cung cấp, chia sẻ thông tin giả mạo, thông tin sai sự thật, xuyên tạc, vu khống, xúc phạm uy tín của cơ quan, tổ chức, danh dự, nhân phẩm của cá nhân... bị phạt tiền từ 10 - 20 triệu đồng.

Bộ Thông tin và Truyền thông cũng thường xuyên ban hành các văn bản yêu cầu Sở thông tin và truyền thông các tỉnh, thành phố tăng cường rà soát, xử lý nghiêm các trường hợp vi phạm pháp luật trong việc lan truyền các thông tin xấu, độc, tin sai sự thật; các cơ quan báo chí tăng cường thông tin tuyên truyền để người dân hiểu đúng các vụ việc, không lan truyền các thông tin sai sự thật, xúc phạm đến uy tín tổ chức, cá nhân, ảnh hưởng đến an ninh quốc gia, trật tự an toàn xã hội.

Để mọi người nhận thức được đâu là tin thật đâu là tin giả, tin xấu độc, bên cạnh các chế tài xử lý, điều quan trọng nhất vẫn là ý thức của những người sử dụng mạng xã hội. Để tránh những sự việc đáng tiếc xảy ra, mỗi chúng ta cần nâng cao tinh thần trách nhiệm bằng cách sử dụng mạng xã hội đúng quy định và có văn hóa. Hãy thật thận trọng khi đăng tải thông tin, đừng vì sự thiếu hiểu biết, bốc đồng mà chia sẻ hoặc bình luận những nội dung sai trái. Hơn ai hết, mỗi chúng ta cần đề cao tinh thần cảnh giác, nhận diện, vạch trần và kiên quyết đấu tranh phản bác các tin giả, tin sai sự thật, làm thất bại âm mưu, thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch góp phần bảo đảm an ninh quốc gia, giữ gìn trật tự an toàn xã hội.

Sưu tầm

Ngăn chặn luận điệu xuyên tạc vấn đề “chính sách đặc xá’ ở Việt Nam

Những năm qua, nhiều đợt đặc xá lớn đã được tiến hành nhân dịp các sự kiện trọng đại, ngày lễ lớn của đất nước hoặc trong trường hợp đặc biệt. Chính sách đặc xá nhằm động viên, khuyến khích người bị kết án phạt tù ăn năn hối cải, tích cực học tập, lao động cải tạo để được hưởng sự khoan hồng. Tuy nhiên, với mục đích chống phá Nhà nước, công kích chính quyền, miệt thị đất nước nên những đối tượng khoác áo dân chủ, nhân quyền đã nhân cơ hội chính trị để tung ra nhiều luận điệu sai trái, xuyên tạc công tác đặc xá.

Tính từ năm 2009 đến nay, Nhà nước Việt Nam đã tiến hành 9 đợt đặc xá lớn, tha tù trước thời hạn cho hơn 92.000 phạm nhân. Bằng các Quyết định đặc xá của Chủ tịch nước, hành chục nghìn người đã hưởng niềm vui được khoan hồng, sớm trở về đoàn tụ với gia đình, sẵn sàng làm lại cuộc đời. Phần lớn người được đặc xá đã trở về nơi cư trú, ổn định cuộc sống,  làm ăn lương thiện.

Tuy nhiên, từ một chính sách nhân văn, nhân đạo, qua lăng kính nhìn nhận của những kẻ chống phá đã khiến công tác đặc xá bị bóp méo, bôi lem, tạo ra gam màu tiêu cực, bôi xấu Đảng, Nhà nước, chế độ. Chúng rêu rao rằng: “Đảng, Nhà nước Việt Nam phân biệt đối xử với các “tù nhân lương tâm” trong đặc xá”; “cứ nộp tiền sẽ được đặc xá”; “công lý không giành cho dân nghèo”; cho rằng đặc xá chỉ là “diễn kịch”, “trò hề”, thậm chí xuyên tạc Nhà nước Việt Nam “cưỡng bức đặc xá” .Các đối tượng dựa vào những thông tin sai trái trên mạng xã hội rồi mặc nhiên quy kết, Nhà nước Việt Nam áp dụng hình thức “cưỡng bức đặc xá” Các đối tượng quy kết những phạm nhân phạm tội xâm phạm an ninh quốc gia, bị kết án tù về các tội như “tội thành lập hoặc tham gia tổ chức nhằm lật đổ chính quyền nhân dân”, “tội tuyên truyền chống Nhà nước Cộng hoà XHCN Việt Nam”, “tội lợi dụng quyền tự do dân chủ xâm phạm lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân”… để gán ghép thành “tù nhân chính trị”, “tù nhân lương tâm”, từ đó đưa ra yêu sách đòi Nhà nước phải đặc xá, tha tù “vô điều kiện” cho các phạm nhân này.

Việc các đối tượng xấu bôi nhọ công tác đặc xá với chiêu bài “tù nhân lương tâm”, “tù nhân chính trị” là một thủ đoạn hết sức đê hèn. Phải khẳng định rõ, ở Việt Nam không tồn tại cái gọi là “tù nhân lương tâm”. Việc kết án đối với bất kỳ ai đều trải qua một quá trình tố tụng hình sự nghiêm minh, theo đúng quy định của pháp luật. Thực chất, những kẻ được giới “dân chủ” xếp vào nhóm “tù nhân lương tâm” hầu hết là các đối tượng bị kết án thuộc nhóm tội phạm xâm phạm an ninh quốc gia. Đáng chú ý, ngay cả trong quá trình chấp hành án phạt tù, các đối tượng này vẫn không hề hối cải, tiếp tục ngoan cố, không nhìn nhận được lỗi lầm của bản thân, không từ bỏ ý đồ chống phá đất nước, liên tục thực hiện các hành vi chống đối, bất hợp tác với cán bộ quản giáo. Phản bội Tổ quốc là tội nặng nhất”. Do đó, không chỉ Việt Nam mà tất cả các nước trên thế giới đều không bao giờ chấp nhận những kẻ phá hoại đất nước.

Thực hiện chính sách đặc xá có vai trò xã hội to lớn, khuyến khích người phạm tội cải tạo tốt để được đặc xá, góp phần ổn định tình hình an ninh, trật tự xã hội. Giúp những người đặc xá phấn đấu học tập, rèn luyện tiến bộ, vượt qua khó khăn, mặc cảm, có ý thức hoàn lương, hướng thiện, tự giác lao động sản xuất, nhanh chóng tái hòa nhập cộng đồng, ổn định cuộc sống, phấn đấu trở thành người có ích cho xã hội. Sau khi trở về với gia đình, người được hưởng chính sách đặc xá tiếp tục được xã  hội giúp đỡ tái hoà nhập cộng đồng. Tỷ lệ tái phạm trong số được đặc xã thấp hơn nhiều so với số phạm nhân mãn hạn tù. Điều này cho thấy, số lượng người được đặc xá đông nhưng tình hình an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội tại các địa phương có người đặc xá vẫn được bảo đảm, không xảy ra phức tạp do người được đặc xá gây nên. Hiệu quả công tác đặc xá được thể hiện bằng tỷ lệ tái phạm thấp chứng tỏ chính sách khoan hồng của Đảng và Nhà nước là hoàn toàn đúng đắn và công tác đặc xá đã được tổ chức triển khai nghiêm túc, theo đúng các quy định của pháp luật.

Hơn ai hết, mỗi chúng ta cần luôn tỉnh táo, đề cao tinh thần cảnh giác, nhận diện, vạch trần và kiên quyết đấu tranh phản bác các luận điệu sai sự thật, làm thất bại âm mưu, thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch, tránh trở thành nạn nhân, quân cờ bị lợi dụng, góp phần bảo đảm an ninh quốc gia, giữ gìn trật tự an toàn xã hội./.

Sưu tầm

Lời Bác dạy

… Khen, chê phải đúng mức. Khen nhưng khen quá lời, “suy tôn” người được khen thì chính người được khen xấu hổ. Đập nhưng đập bậy thì người ta không phục…”.

Đây là lời của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong một buổi họp của Bộ Chính trị tiếp tục cho ý kiến về nội dung Đại hội Văn nghệ, ngày 06 tháng 11 năm 1962, đăng trên Báo Nhân dân, số 3148, ra ngày 07 tháng 11 năm 1962.

Sáng ngày 06 tháng 11 năm 1962, Chủ tịch Hồ Chí Minh dự cuộc họp của Bộ Chính trị để cho ý kiến về nội dung Đại hội Văn nghệ. Khi bàn về chủ trương tổ chức cho anh em văn nghệ sĩ đi một đợt thực tế dài hạn ở nông thôn, Người đã tán thành chủ trương này và có những lời căn dặn quý báu đối với các văn nghệ sĩ đi thực hiện nhiệm vụ này. Đây là sự nhắc nhở sâu sắc, có giá trị định hướng về nhận thức, tư tưởng đối với mỗi văn nghệ sĩ cần nêu cao ý thức trách nhiệm, bám sát thực tiễn, khen, chê phải đúng mức; nói cách khác, Người yêu cầu các văn nghệ sĩ phải phản ánh trung thực và khách quan cuộc sống lao động, chiến đấu và sinh hoạt hằng ngày của nhân dân ở vùng nông thôn.

Thực hiện lời căn dặn của Bác, các thế hệ văn nghệ sĩ nước nhà đã thường xuyên bám sát đời sống nông thôn, lăn lộn trên đồng ruộng, gò đồi, cũng như trên các chiến trường đầy khói lửa; hòa mình vào cuộc sống lao động sản xuất, chiến đấu và sinh hoạt hằng ngày của nhân dân, từ đó cho ra đời nhiều tác phẩm văn học, nghệ thuật có giá trị, tích cực cổ vũ cái đúng, cái tốt, cái đẹp, đồng thời phê phán những thói hư tật xấu, lên án cái ác, cái thấp hèn… góp phần quan trọng vào sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

 Ngày nay, trước bối cảnh phức tạp, khó lường của tình hình thế giới, khu vực và trong nước, lời căn dặn của Bác vẫn giữ nguyên giá trị, là bài học sâu sắc định hướng nhận thức, tư tưởng, phương châm hành động của các văn nghệ sĩ; bồi dưỡng cái tâm và cái tài, cổ vũ động viên các văn nghệ sĩ bám sát cơ sở, đi sâu khám phá cuộc sống lao động sản xuất và sinh hoạt hằng ngày của nhân dân, qua đó sáng tạo nên nhiều tác phẩm văn học, nghệ thuật hay và tốt để phục vụ Tổ quốc, phục vụ nhân dân. Đối với Quân đội ta, thấm nhuần lời dạy của Bác, đội ngũ văn nghệ sĩ Quân đội đã thường xuyên bám sát các đơn vị cơ sở, nhất là những đơn vị đóng quân ở vùng sâu, vùng xa, biên giới và hải đảo; lăn lộn cùng với bộ đội trên các thao trường, bãi tập, nơi bộ đội làm công tác dân vận, tham gia phòng, chống thiên tai, bão lũ, tìm kiếm cứu hộ, cứu nạn… để phản ánh trung thực cuộc sống học tập, công tác và sinh hoạt của bộ đội. Thường xuyên làm tốt công tác tuyên truyền, giáo dục nhằm định hướng nhận thức, tư tưởng và hành động của cán bộ, chiến sĩ; tích cực đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch; tuyên truyền, cổ vũ động viên kịp thời những tấm gương người tốt, việc tốt, đồng thời phê phán những cái xấu, cái tiêu cực, góp phần xây dựng đời sống văn hóa, tinh thần phong phú, lành mạnh, để mỗi đơn vị quân đội thực sự là cái nôi nuôi dưỡng những giá trị văn hóa, nhân cách quân nhân, bồi đắp phẩm chất ”Bộ đội Cụ Hồ” trong thời kỳ mới.

Sưu tầm

“… Hễ còn một tên xâm lược trên đất nước ta, thì ta còn phải tiếp tục chiến đấu, quét sạch nó đi…”

Đây là lời của Chủ tịch Hồ Chí Minh được trích trong “Lời kêu gọi cả nước tiến lên đánh thắng giặc Mỹ xâm lược”, đăng Báo Nhân dân, số 5317, ngày 03 tháng 11 năm 1968.

Lời kêu gọi thể hiện sâu sắc ý chí mạnh mẽ và quyết tâm sắt đá của toàn Đảng, toàn quân và toàn dân ta kiên quyết bảo vệ nền độc lập, tự do của dân tộc, phản ánh niềm tin vững chắc vào sức mạnh của dân tộc Việt Nam, dù phải chịu nhiều hy sinh gian khổ nhưng không thể lay chuyển ý chí, quyết tâm của toàn thể dân tộc Việt Nam về một nước Việt Nam hoà bình, độc lập, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ. Lời kêu gọi của Người tựa như lời “hịch” đanh thép thúc giục cả dân tộc đồng tâm, nhất trí, vượt qua mọi khó khăn, thử thách, quyết tâm chiến đấu đến thắng lợi hoàn toàn. Lời kêu gọi còn là một cuộc vận động lớn để toàn Đảng, toàn quân và toàn dân tộc đoàn kết, thống nhất ý chí và hành động, củng cố niềm tin, xiết chặt đội ngũ để đi vào giai đoạn quyết liệt nhất của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước vĩ đại không chỉ của dân tộc Việt Nam mà của cả nhân loại tiến bộ trong thế kỷ XX. Đó là tinh thần kiên quyết tiến công của Chủ tịch Hồ Chí Minh, của Đảng ta, của toàn quân và toàn dân ta trong suốt quá trình đấu tranh cách mạng và chiến tranh cách mạng. Tinh thần tiến công đó tiếp tục soi sáng sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh.

Trong những năm tới, tình hình thế giới, khu vực sẽ còn nhiều diễn biến phức tạp, tiềm ẩn nhiều nhân tố gây mất ổn định, bất trắc, khó lường; tranh chấp lãnh thổ, chủ quyền biên giới, biển, đảo, đặc biệt là trên Biển Đông tiếp tục diễn ra gay gắt, phức tạp. Trong nước, bên cạnh những thuận lợi cơ bản, bốn nguy cơ mà Đảng ta đã chỉ ra vẫn còn tồn tại. Các thế lực thù địch đẩy mạnh “diễn biến hòa bình”, bạo loạn lật đổ, thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ ta nhằm xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng và âm mưu “phi chính trị hóa” quân đội. Để thực hiện trọn vẹn lời kêu gọi của Chủ tịch Hồ Chí Minh, chúng ta phải thường xuyên chăm lo xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân Việt Nam vững mạnh về chính trị, tư tưởng, tổ chức và đạo đức, lấy xây dựng về chính trị làm cơ sở. Nâng cao bản chất giai cấp công nhân, tính nhân dân, tính dân tộc, đảm bảo lực lượng vũ trang nhân dân luôn là lực lượng chính trị, lực lượng chiến đấu trung thành, tin cậy của Đảng, Nhà nước và nhân dân. Tiếp tục đẩy mạnh xây dựng Quân đội nhân dân cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại, ưu tiên hiện đại hóa một số quân chủng, binh chủng, lực lượng; nâng cao chất lượng tổng hợp, sức mạnh chiến đấu, thực sự là lực lượng nòng cốt cho toàn dân trong thực hiện nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc; thực hiện tốt chức năng đội quân chiến đấu, đội quân công tác, đội quân lao động sản xuất và các nhiệm vụ khác được giao.

Sưu tầm

  NHẬN DIỆN ÂM MƯU, THỦ ĐOẠN CHỐNG PHÁ TỰ DO TÔN GIÁO 

 

Một số người Việt chống cộng ở hải ngoại có quan điểm chống đối chính quyền Việt Nam, đã dựa vào chính sách chung của chính quyền Mỹ, rất coi trọng các quyền tự do, mà trong đó, quyền tự do tôn giáo gần như được xem là hàng đầu, để từ đó tạo những ảnh hưởng, tác động vào các sinh hoạt chính trị trong cộng đồng người Việt Nam. Năm 1988, khi đặt chân lên đất Thái Lan, ngay trong trại tị nạn dành cho người vượt biên, tôi đã rất ngạc nhiên vì trong môi trường đầy khó khăn, thiếu thốn và hoang mang vì tương lai bấp bênh, vô định, thế nhưng các hoạt động về tôn giáo đã diễn ra sôi nổi mang đầy màu sắc chính trị.

 

Các Ban trị sự, Hội đồng liên tôn các tôn giáo đã tập hợp các tín hữu, con chiên, đạo hữu của mình thành những đoàn thể để hoạt động không thuần túy về tôn giáo, mà còn nhằm xuyên tạc, chỉ trích chính quyền Việt Nam. Nhiều tài liệu, sách báo, thông tin từ hải ngoại được ấn hành, đưa vào trại tị nạn phát tặng miễn phí, kích động chống Việt Nam như báo Đường Sống (Mỹ), báo Quê Mẹ (Pháp) hay các tổ chức như BPSOS (Boat people SOS - Ủy ban cứu trợ người vượt biển).

 

Khi định cư ở Mỹ từ tháng 2/1991, tôi nhận thấy nhiều cơ sở tôn giáo được mở mang, phát triển và hoạt động rất năng động. Nhiều nhà thờ, nhà chùa mới được thành lập từ những vận động, đóng góp chủ yếu từ các cá nhân. Gắn liền với những kỷ niệm từ quê nhà, không ít nhà thờ, ngôi chùa lấy tên trùng với những nơi thờ tự quen thuộc như Giáo xứ Tân Sa Châu, Giáo xứ Tân Bùi Chu, Phát Diệm, Chùa Dược Sư, Chùa Vĩnh Nghiêm… Chính những cơ sở tôn giáo này cũng tự biến thành nơi hội họp, sinh hoạt chính trị vì các nhân sự, thậm chí các nhà lãnh đạo tôn giáo ở hải ngoại ít nhiều cũng nhuốm mùi chính trị cực đoan.

 

Ý niệm về “đấu tranh tôn giáo” với “đấu tranh cho dân chủ, tự do” đã trở thành phương tiện, là công cụ cho các cá nhân, tổ chức chống cộng cực đoan khai thác triệt để nhằm lợi dụng lòng tin của người dân còn mơ hồ, hay có định kiến với chính quyền Việt Nam. Các lãnh đạo cộng đồng, tổ chức chống cộng thường xuyên theo dõi các biến động xã hội trong nước không ngừng biến các hiện tượng được chú ý thành các “vấn đề tôn giáo” nghiêm trọng. Thí dụ, vụ án của linh mục Nguyễn Văn Lý, ngày 30/3/2007, tại Thừa Thiên Huế, Tòa án nhân dân tỉnh Thừa Thiên Huế đã mở phiên tòa công khai xét xử Nguyễn Văn Lý và đồng bọn về tội “Tuyên truyền chống Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam” quy định tại khoản 1, điều 88 - Bộ luật Hình sự của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Tại phiên tòa cho thấy thái độ bất hợp tác của ông Lý khi luôn tỏ ra chống đối, thậm chí đạp vào vành móng ngựa, hô hào, gây ồn ào. Ông Lý đã bị một nhân viên an ninh bịt miệng để giữ trật tự, và một bức ảnh ghi lại khoảnh khắc này đã được báo chí phương Tây, giới truyền thông chống cộng khai thác thành sự kiện “đàn áp, bịt miệng tự do tôn giáo”.

Khi sự kiện xảy ra, tôi và các đồng nghiệp của tuần báo Việt Weekly đã về Việt Nam, xin phép chính quyền về tận xã Thủy Biều, TP. Huế để tìm hiểu sự việc. Tại họ đạo Nguyệt Biều, đoàn báo chí từ hải ngoại của chúng tôi được tự do phỏng vấn các giáo dân tại địa phương về sinh hoạt tôn giáo tại đây. Các giáo dân kể chuyện cha Lý đã có công sửa đường, làm nhà vệ sinh công cộng, cấp con giống, cây trồng, mở lớp dạy máy tính, dạy ngoại ngữ miễn phí để đánh lừa, dụ dỗ niềm tin của một bộ phận giáo dân. Vụ án điển hình này cho thấy sự cấu kết của các tổ chức chính trị ở hải ngoại với các nhân vật chống đối đội lốt tôn giáo. Thông qua việc móc nối, vận động để xin tiền từ các tổ chức, cá nhân ở hải ngoại, ông Lý đã tham gia làm cố vấn vào “Ủy ban tự do tôn giáo cho Việt Nam” năm 2000, kích động giáo dân ký đơn đòi đất vốn của Giáo hội Thiên Chúa giáo đã giao cho hợp tác xã quản lý từ năm 1975, gây mâu thuẫn giữa người dân và chính quyền.

 

Đoàn phóng viên báo Việt Weekly cũng có mặt tại Hà Nội để tham dự buổi họp báo của Đại sứ Mỹ ở Việt Nam là ông Michael Marine, khi được hỏi về bức hình “bịt miệng cha Lý” ở phiên tòa, ngài đại sứ cũng nêu rõ là hành động gây rối trật tự ở tòa án, nếu ở Mỹ cũng sẽ bị ngăn chặn bằng vũ lực. Tuy nhiên, theo góc nhìn của nhà ngoại giao Mỹ, thì chính quyền Việt Nam cũng cần phải có động thái trao cho các công dân của mình “không gian rộng rãi hơn để biểu đạt ý kiến của mình”.

 

Những vụ án mang màu sắc tôn giáo liên quan đến vấn đề tranh chấp đất hay bất động sản, qua quan sát của tôi, hầu hết đều có sự tác động của các thế lực chính trị hải ngoại kích động, xúi giục. Cái gọi là “Yểm trợ đấu tranh tôn giáo” ở hải ngoại được tiến hành rất bài bản. Họ tập hợp nhau tại các địa điểm công cộng như công viên, khu chợ, bãi đậu xe, trung tâm thương mại, nơi có đông đảo người dân gốc Việt sinh sống để tổ chức các buổi “thắp nến cầu nguyện” hay “tuyệt thực cho tự do, nhân quyền”. Các tổ chức chống cộng này cho rằng các vụ tranh chấp đất đai ở những địa phương có cộng đồng người Công giáo sinh sống nhằm mục tiêu “thu hẹp tài sản của Giáo hội Công giáo, chia cắt nơi cư trú của đồng bào giáo dân, hòng làm suy yếu sự phát triển của Công giáo nói riêng”. Đây là những luận điệu xuyên tạc vô cùng ngớ ngẩn. Vì quyền làm chủ đất đai nào là của người Công giáo? Chính quyền địa phương mỗi nơi đều có quy định theo pháp luật để tiến hành thay đổi môi trường sống, sự phát triển của đô thị theo nhu cầu thực tế. Thế nhưng việc chuyển đổi quỹ đất này đã bị thổi phồng thành những vụ án “đàn áp tôn giáo” gây nên nhiều ngộ nhận cho người ở hải ngoại thiếu thông tin về sự việc.

Mặt khác các đối tượng chống cộng luôn phao tin rằng, người Cộng sản là “vô thần,” người Cộng sản coi “tôn giáo là thuốc phiện”, một khi tôn giáo ở Việt Nam lớn mạnh, sẽ trở thành những lực lượng đối kháng có thể đè bẹp chế độ! Vì vậy chính quyền Cộng sản Việt Nam phải áp dụng các cách đàn áp tinh vi, làm suy yếu tôn giáo. Từ đây họ đã đánh vào tâm lý chung của những gia đình di cư năm 1954, các quan chức chế độ Việt Nam cộng hòa luôn có ánh nhìn hoài nghi về chính sách tôn giáo của chính quyền Việt Nam. Chính những cơ quan “truyền thông đen”, mang danh nghĩa là “truyền thông quốc tế” như BBC, RFA, VOA,.. mà nhân sự của các “đài Việt ngữ” phần lớn đều là những người làm truyền thông thiếu khách quan, thiếu thiện chí trong việc đưa tin, thổi phồng về vấn đề tự do tôn giáo ở Việt Nam. Nhiều phóng sự, hội luận của các kênh này luôn khai thác các nhân vật đối lập, hay “bất đồng chính kiến” để gây hoang mang cho người dân ở hải ngoại, bằng những thủ thuật kích động nhưng lại tỏ ra khách quan, đa chiều.

 

Đồng thời nhu cầu về tâm linh, thể hiện tình yêu nước đã nhuốm màu sắc chính trị với chiều hướng cực đoan. Ở vùng nam California, tôi đã từng ghi nhận, phỏng vấn nhiều tu sĩ, các cha, các nhà sư từ trong nước đi sang Mỹ theo diện thăm thân hay du lịch, nhưng khi tìm hiểu, đi sâu vào vấn đề, mới rõ là họ được một số cá nhân, hoặc tổ chức chính trị ở hải ngoại mời đi Mỹ để “gây quỹ từ thiện” hay “xin quyên góp xây dựng nhà thờ, xây chùa” ở Việt Nam. Mỗi buổi họp mặt này, những bài than khổ về sự khó khăn trong sinh hoạt tôn giáo ở Việt Nam đều được các vị nêu lên theo ánh nhìn thiếu thiện chí, gợi niềm thương cảm trong cộng đồng. Nếu không trực tiếp về Việt Nam để tìm hiểu rõ sinh hoạt tôn giáo ở Việt Nam, nhiều bà con ta cứ ngỡ ở Việt Nam không được đi lễ, không được đi chùa vì các cơ sở tôn giáo này do “Nhà nước quản lý”!

 

Điều đáng quan ngại hơn nữa, đó chính là sự hà hơi, tiếp tay của các vị “dân cử người Mỹ gốc Việt” trong các dịp tranh cử các vị trí như nghị viên thành phố, thị trưởng thành phố, nghị sĩ tiểu bang hay liên bang. Câu chuyện “đấu tranh cho tự do tôn giáo, quyền con người” tiếp tục được họ đưa ra để vận động tranh cử. Điển hình như các thành phố có đông người Việt cư trú như Westminster, Garden Grove, Fountain Valley, Santa Ana… (miền nam California), hay San Jose (miền bắc California), các chính trị gia đã tận dụng chiêu bài tranh cử không gì khác hơn là “chống cộng và đấu tranh cho tự do tôn giáo ở Việt Nam”. Đây là những khẩu hiệu, chiêu bài dễ hô hào, dễ tạo sự quan tâm của cử tri.

 

Ngân sách tranh cử như chiếc bánh được chia chác nhau theo từng phần: Giới lãnh đạo cộng đồng chống cộng tổ chức biểu tình, kêu gọi cử tri ký thỉnh nguyện thư đòi quyền con người cho các nhà đối lập trong nước. Còn các cơ quan “truyền thông đen” thì được nhận phần quảng cáo cho những thông điệp chính trị sặc mùi mị dân như “đòi quyền tự do con người cho người dân Việt Nam”. Từ đây đã tạo thành một bộ máy tuyên truyền, xuyên tạc, một “kỹ nghệ chống cộng” mang tính vòng tròn khép kín để thỏa mãn lòng hận thù tồn tại từ trước, nhằm bào mòn tình cảm gắn bó của người dân trong và ngoài nước. Và trên hết, để vừa có danh, vừa có lợi, họ đã bất chấp sự công bằng, lẽ phải và quyền lợi tối thượng của dân tộc là sự ổn định xã hội để phát triển kinh tế, đưa đất nước từ nghèo khó sau chiến tranh, tiến lên một nước có nền hòa bình bền vững, ổn định lâu dài để phát triển.

 

Là người sống trong cộng đồng lâu năm, theo dõi những diễn biến chính trị và sinh hoạt cộng đồng một cách toàn diện, nên tôi đã nhận diện được rõ âm mưu, thủ đoạn chống phá khối đại đoàn kết dân tộc, gây hoang mang chia rẽ tôn giáo của các tổ chức chống cộng lưu vong. Theo tôi, hành động của họ không vì bất cứ lòng trắc ẩn, tình đồng bào nào hết, ngoài việc tạo nên những cái “bánh vẽ” to tướng khiến một bộ phận người trong nước có tinh thần vọng ngoại hiểu sai lệch vấn đề về tự do tôn giáo, hay quyền con người. Cần phải hiểu rằng tự do của mỗi cá thể trong xã hội phải đặt dưới quy định của luật pháp, không thể tùy tiện nhân danh sự tự do để sinh hoạt tôn giáo mang tính chính trị, chống phá chế độ.

Nguồn Tuyên giáo TW

 

  BÍ THƯ KIM NGỌC, NGƯỜI ĐI TRƯỚC THỜI GIAN

 

Kim Ngọc (1917-1979) là nguyên Bí thư Tỉnh ủy tỉnh Vĩnh Phú, ông là người khởi xướng việc “khoán hộ” trong nông nghiệp vào thập kỷ 60 của thế kỷ XX. Thời kỳ đó do sự bắt chước một cách máy móc mô hình tổ chức xã hội của Liên Xô, Ban Chấp hành Trung ương Đảng đã không đánh giá đúng về khoán hộ nên ra sức kìm hãm và hạn chế. Kim Ngọc phải làm kiểm điểm và tự nhận “có sai lầm nghiêm trọng trong khoán hộ”.

 

Kim Ngọc tên thật là Kim Văn Nguộc, sinh ngày 10 tháng 10 năm 1917 tại thôn Đại Nội, xã Bình Định, huyện Yên Lạc, Vĩnh Phúc. Ngày 26 tháng 5 năm 1979, ông mất ở tuổi 62 tại Bệnh viện Hữu nghị Việt – Đức, Hà Nội.

 

“Khoán hộ” ở Vĩnh Phúc

 

Với gần 40 năm tham gia cách mạng nhất là từ khi giữ cương vị Bí thư Tỉnh ủy, ông đã đề ra nhiều chủ trương, chính sách đổi mới, sáng tạo. Trên cương vị là Bí thư Tỉnh ủy Vĩnh Phúc, trong bộn bề công việc, Kim Ngọc vẫn luôn dành 1/3 thời gian làm việc của mình để đi cơ sở. Ông luôn trăn trở về tình hình sản xuất nông nghiệp và cuộc sống của người nông dân và tự hỏi tại sao người nông dân lại không mặn mà với đồng ruộng, cái mà họ mất bao xương máu mới giành lại được. Tại sao vẫn đồng đất ấy, vẫn con người ấy, không có thiên tai mà sản lượng lúa sụt giảm.

 

Sự sâu sát đời sống thực tiễn giúp người Bí thư Tỉnh ủy sớm nhận ra sự không ổn trong quan hệ sản xuất nông nghiệp theo mô hình hợp tác xã. Đó là tác phong, thời gian làm việc của các xã viên theo kiểu “đánh trống ghi tên”, làm ít, tán chuyện nhiều, làm cầm chừng, cốt sao có nhiều công điểm. Các đội trưởng đội sản xuất làm ít nhưng công điểm lại nhiều… Từ đó đã gây bất bình trong các hộ xã viên, nhiều hợp tác xã sau khi ăn chia người lao động chỉ được 2 đến 3 lạng thóc/1 công.

 

Mùa qua mùa, sự đối nghịch giữa những khoảng ruộng nhỏ bé 5% được giao cho người nông dân làm chủ luôn xanh tốt trong khi 95% ruộng đất, những thửa ruộng chung mênh mông của hợp tác xã luôn xác xơ vàng vọt vì người nông dân chỉ làm ăn công điểm, ông hiểu rằng xã viên không coi ruộng đất là của mình nên họ chẳng thiết tha gì với đồng ruộng. Phải để nông dân làm chủ mảnh đất của mình, gắn thành quả và quyền lợi của người lao động mới tạo được động lực thực sự để phát triển sản xuất, mới có thể làm chuyển biến tình hình sản xuất nông nghiệp của tỉnh.

 

Trên cơ sở những suy ngẫm chiêm nghiệm cá nhân và kết quả việc thí điểm cải tiến quản lý hợp tác xã với nội dung khoán đến hộ gia đình xã viên tại một số hợp tác xã trong tỉnh Vĩnh Phúc từ năm 1963 đến 1965 và kết quả khoán thí điểm ở 3 xã của huyện Vĩnh Tường vụ Đông Xuân 1965-1966, ngày 10/9/1966, dưới sự chủ trì của ông Kim Ngọc, Tỉnh uỷ Vĩnh Phúc đã ban hành Nghị quyết số 68-NQ/TU mang tên “Về một số vấn đề quản lý lao động nông nghiệp trong hợp tác xã hiện nay”. 

 

Cốt lõi của Nghị quyết là đổi mới cơ chế quản lý trong HTX nông nghiệp, nhằm tạo ra động lực mới trong sản xuất, nâng cao năng suất lao động, cải thiện đời sống nhân dân và đáp ứng yêu cầu đóng góp của địa phương đối với nhà nước ngày càng cao lúc đó. Nghị quyết đã nhận định con người là yếu tố quyết định thắng lợi của tiến trình sản xuất, nếu được tin cậy, được giao quyền tự chủ, sáng tạo: “Lao động là một trong ba điều kiện cơ bản để tiến hành sản xuất, là vốn quí không thể thiếu được. Điều kiện cơ bản quyết định nhất để tăng năng suất lao động là con người lao động có kỹ thuật, sử dụng được thành thạo công cụ sản xuất tiên tiến”.

 

Thời gian thực hiện Nghị quyết 68 không dài nhưng những kết quả mà “khoán hộ” tạo ra là vô cùng to lớn, đem lại hiệu suất lao động ngày càng cao. Tính đến cuối năm 1967, Vĩnh Phúc có 160 hợp tác xã (chiếm 70% số hợp tác xã) đạt năng suất bình quân từ 5 tấn đến trên 7 tấn/ha; sản lượng lương thực quy thóc đạt 222.000 tấn, tăng hơn năm trước 4.000 tấn, góp phần cải thiện đời sống nhân dân, làm thay đổi diện mạo của nông thôn Vĩnh Phúc giữa những năm 60 của thế kỷ XX.

 

Tại thời điểm Nghị quyết ra đời và triển khai, “Khoán hộ” bị coi là đốt cháy giai đoạn, không phù hợp với chủ trương đẩy mạnh phong trào hợp tác hóa của Trung ương và được coi là một sự “vượt rào”, vi phạm nghiêm trọng đường lối của Đảng về phát triển nông nghiệp thời bấy giờ nên không thể triển khai rộng rãi.

 

Ngày 6-11-1968, tại Hội nghị cán bộ tỉnh Vĩnh Phú, chủ trương “khoán hộ” đã bị phê phán hết sức nặng nề với kết luận: “Việc khoán ruộng cho hộ đã dẫn đến hậu quả tai hại là phát triển tư tưởng tự tư tự lợi, làm phai nhạt ý thức tập thể của xã viên, thủ tiêu phong trào thi đua yêu nước trong hợp tác xã. Kìm hãm và đẩy lùi cách mạng kỹ thuật trong nông nghiệp; giảm nhẹ vai trò của lao động tập thể xã hội chủ nghĩa, phục hồi và phát triển lối làm ăn riêng lẻ, đẩy hợp tác xã sản xuất nông nghiệp vào con đường thoái hóa và tan rã”. “Bằng cách giao khoán ruộng đất của hợp tác cho hộ, trong một số hợp tác xã đang diễn ra tình trạng chia lại ruộng đất… Bằng cách khoán sản lượng cho hộ, một số hợp tác xã đã biến mình thành người phát canh thu tô đối với xã viên… Trong nhiều hợp tác xã, phương thức sản xuất cá thể đang lấn át phương thức sản xuất tập thể…” (Trích tài liệu lưu trữ của Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy Vĩnh Phúc).

 

Ngày 12/12/1968, Ban Bí thư Trung ương Đảng ra Thông tri số 224-T/TW “Về chấn chỉnh công tác ba khoán và quản lý ruộng đất của hợp tác xã sản xuất nông nghiệp ở một số địa phương”. Khoán hộ bị coi là buông lỏng quản lý, khoán trắng ruộng đất, khoán trồng trọt, khoán chăn nuôi, khoán cả công cụ sản xuất cho hộ dẫn đến tư hữu hoá tư liệu sản xuất, “trái với đường lối hợp tác hoá nông nghiệp của Đảng”, phá vỡ nguyên tắc quản lý XHCN, phục hồi kinh tế cá thể…

 

Trên cơ sở những kết luận và nhận định đó, chủ trương “khoán hộ” của Vĩnh Phú bị chính thức đình chỉ vào cuối năm 1968, Bí thư Tỉnh uỷ Kim Ngọc bị buộc phải kiểm điểm và thừa nhận là “có sai lầm nghiêm trọng trong chủ trương khoán hộ”.

 

Tuy bị buộc phải chấp hành tổ chức kỷ luật của Đảng, công khai thừa nhận là “sai lầm nghiêm trọng” về chủ trương khoán hộ nhưng ông Kim Ngọc vẫn dũng cảm bảo lưu chủ trương của mình và trong gần mười năm sau đó khi còn giữ cương vị Bí thư Tỉnh uỷ Vĩnh Phú, ông vẫn không ngần ngại bênh vực và cổ vũ cho chủ trương mà ông cho là ích nước lợi dân và không hề xa rời mục tiêu của chủ nghĩa xã hội này.

 

Ông vẫn luôn rằng tin đó là con đường đúng đắn mang lại no ấm cho người dân và tâm sự với các đồng chí thân thiết của mình: “Phải tìm mọi cách duy trì cho được “khoán hộ” chứ để quay lại kiểu làm ăn theo tiếng kẻng, rong công phóng điểm thì chết đói hết”.

 

Và trên thực tế, tuy bị cấm đoán, nhưng do lợi ích hiển nhiên và to lớn của nó, “khoán hộ”, vẫn được nhiều hợp tác xã ở Vĩnh Phú tiếp tục âm thầm thực hiện nên này còn gọi là “khoán chui”. Và không chỉ ở Vĩnh Phú, “khoán chui” lan nhanh sang Hà Sơn Bình, Hải Phòng, Thanh Hóa, Thái Bình, khắp cả miền Bắc và đến cả một số tỉnh miền Nam như Đồng Nai, TP Hồ Chí Minh, Tiền Giang, Hậu Giang…

 

Sự ra đời của “khoán 10”

 

Lịch sử đã kiểm chứng niềm tin của cố Bí thư Tỉnh ủy Kim Ngọc. “Khoán hộ” từ Nghị quyết 68 của Tỉnh ủy Vĩnh Phúc đã trở thành cơ sở lí luận và thực tiễn để ngày 13/01/1981, Ban Bí thư Trung ương Đảng ra Chỉ thị 100-CT/TW về mở rộng công tác khoán sản phẩm đến nhóm và người lao động trong các hợp tác xã, đến ngày 5/4/1988, Bộ Chính trị ra Nghị quyết số 10-NQ/TW về đổi mới quản lý kinh tế nông nghiệp (hay còn gọi là “Khoán 10”).

 

Chỉ thị 100 của Ban Bí thư Trung ương Đảng, Nghị quyết 10 của Bộ Chính trị ra đời, chính thức xác định “hộ nông dân là đơn vị kinh tế tự chủ” và cho thực hiện khoán hộ trong toàn bộ nền nông nghiệp, tạo nên một bước phát triển kỳ diệu của nông nghiệp Việt Nam, thay đổi hẳn bộ mặt nông thôn Việt Nam.

 

Khoán 10 đã làm thay đổi căn bản nền kinh tế nông nghiệp của cả nước. Như vậy, sau hơn 22 năm, những hạt nhân hợp lý của “khoán hộ” ở Vĩnh Phúc đã được Trung ương khẳng định trong Nghị quyết 10-NQ/TU.

 

Năm 1995, ghi nhận những đóng góp công lao, trí tuệ của ông cho sự nghiệp đổi mới của cách mạng Việt Nam, Nhà nước Việt Nam đã truy tặng Huân chương Độc lập hạng Nhất cho Kim Ngọc. Năm 1996, hai ngôi trường nơi ông sinh ra ở xã Bình Định, huyện Yên Lạc được đặt tên ông. Năm 2005, một trong những con đường đẹp nhất của thành phố Vĩnh Yên được mang tên ông. Năm 2004, Tỉnh ủy Vĩnh Phúc của Đảng Cộng sản Việt Nam tặng gia đình ông bức tượng tạc bằng đồng nặng tới 45 kg để biểu thị lòng kính trọng Kim Ngọc. Năm 2009, ông được Nhà nước truy tặng Huân chương Hồ Chí Minh.

 

(Tổng hợp từ nhiều nguồn)

 

   VAI TRÒ CỦA VIỆC HỌC TẬP LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ ĐỐI VỚI CÁN BỘ ĐẢNG VIÊN HIỆN NAY

Giá trị của lý luận Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh đối với vai trò cầm quyền và lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, với mỗi cán bộ, đảng viên (CB, ĐV) và nhân dân Việt Nam đã được chứng minh trong thực tiễn.

Trước thực trạng một bộ phận CB, ĐV lười học LLCT, cùng với việc tiếp tục khẳng định vai trò quan trọng của LLCT, Đảng ta đã ban hành nhiều chủ trương, giải pháp để khắc phục tình trạng này. Nghị quyết Trung ương 4 khóa XII của Đảng đã chỉ rõ một trong 9 biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị của đội ngũ cán bộ, đảng viên hiện nay là: “Nhận thức sai lệch về ý nghĩa, tầm quan trọng của lý luận và học tập LLCT; lười học tập chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, chủ trương, đường lối, nghị quyết của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước”. Nghị quyết cũng chỉ rõ hạn chế: “Công tác giáo dục chính trị tư tưởng cho CB, ĐV về chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, giảng dạy và học tập nghị quyết của Đảng chưa được coi trọng đúng mức, kém hiệu quả, nội dung và phương pháp giáo dục, truyền đạt chậm đổi mới; chưa tạo được sự thống nhất cao trong nhận thức về tình trạng suy thoái, những biểu hiện "tự diễn biến", "tự chuyển hóa" và những hậu quả gây ra”.

Trong Kết luận số 21-KL/TW ngày 25-10-2021 của Hội nghị lần thứ tư, Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII về đẩy mạnh xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị; kiên quyết ngăn chặn, đẩy lùi, xử lý nghiêm cán bộ, đảng viên suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, các biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” đó là phải tăng cường công tác giáo dục chính trị, tư tưởng; phải tạo sự chuyển biến tích cực trong nhận thức và hành động của CB, ĐV về tầm quan trọng của nghiên cứu, học tập LLCT, đề cao trách nhiệm tự học, tự nghiên cứu của cá nhân. Trước đó, Bộ Chính trị đã ban hành Nghị quyết số 32-NQ/TW ngày 26-5-2014 về tiếp tục đổi mới, nâng cao chất lượng công tác đào tạo, bồi dưỡng LLCT cho cán bộ lãnh đạo, quản lý, nghị quyết đã khẳng định: Đào tạo, bồi dưỡng LLCT cho cán bộ lãnh đạo, quản lý là nhiệm vụ quan trọng của Ðảng.

Đảng ta đã nhiều lần nhấn mạnh quan điểm xuyên suốt, học tập LLCT là nghĩa vụ, trách nhiệm và quyền lợi của CB, ĐV, trước hết là cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp. Đổi mới, nâng cao chất lượng công tác đào tạo, bồi dưỡng LLCT phải luôn bám sát mục tiêu, yêu cầu, nhiệm vụ của chiến lược cán bộ và gắn kết chặt chẽ với các khâu trong công tác cán bộ. Bởi thế, đào tạo LLCT phải bảo đảm tính thống nhất, đồng bộ gắn với quy định của Đảng về công tác quy hoạch, bổ nhiệm, giới thiệu ứng cử, phân cấp quản lý cán bộ... Tránh hiện tượng giao chỉ tiêu, cử cán bộ đi học LLCT theo kiểu “điền vào chỗ trống” khiến người học không có động lực, không thấy đó là nhu cầu thiết thân mà còn gây tốn kém, lãng phí ngân sách, thời gian, công sức. Trên thực tế, một số cấp ủy, tổ chức đảng chưa quan tâm đúng mức tới việc bồi dưỡng LLCT cho đảng viên, có hiện tượng khoán trắng cho cơ quan tham mưu mà thiếu kiểm tra, giám sát. Việc cụ thể hóa các nghị quyết, chỉ thị, kết luận của Đảng thành chương trình, kế hoạch tổ chức thực hiện ở một số địa phương, đơn vị còn chung chung, chỉ đạo thiếu quyết liệt, còn trông chờ, ỷ lại cấp trên. Tình trạng bớt thời gian, cắt xén nội dung trong quán triệt, truyền tải nghị quyết của Đảng không hiếm. Điều này đã được Đảng ta chỉ ra. Tuy vậy, những giải pháp để khắc phục ở cơ sở hiện nay là chưa triệt để.

Nhiều cán bộ qua đào tạo LLCT ở các bậc học đã nêu lên một thực trạng, đó là sự trùng lặp nội dung các bậc học, thiếu sự liên thông, tính kế thừa, tính thống nhất giữa các cấp học dẫn đến việc cán bộ phải học nhiều lần một số chuyên đề, học phần. Chương trình đào tạo vẫn còn nặng về lý thuyết, kinh viện mà chưa có bổ sung thấu đáo về tính thực tiễn. Đúng như tinh thần Nghị quyết Trung ương 4 khóa XII chỉ ra: “Công tác tổng kết thực tiễn, nghiên cứu lý luận chưa có chiều sâu, không theo kịp tình hình thực tế”. Như vậy, phải có nghiên cứu thấu đáo việc đưa chương trình, nội dung vào giảng dạy ở các bậc học. Đây cũng là vấn đề lớn mà Đảng, Nhà nước, hệ thống các cơ sở đào tạo cần quan tâm, tìm ra phương thức hợp lý.

 

 

Xây dựng Quân đội vững mạnh về chính trị trong tình hình hiện nay.

 

Kinh nghiệm về xây dựng nhân tố chính trị tinh thần, ý chí quyết tâm chiến đấu cho bộ đội trong xây dựng quân đội vững mạnh về chính trị trong tình hình hiện nay, đặt ra những yêu cầu, nội dung mới toàn diện và đầy đủ hơn. Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng đã chỉ rõ: “Xây dựng Quân đội nhân dân, Công an nhân dân cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại, vững mạnh về chính trị; nâng cao chất lượng tổng hợp và sức chiến đấu, tuyệt đối trung thành với Tổ quốc, với Đảng, Nhà nước và nhân dân, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trong mọi tình huống”

Nghị quyết nêu rõ, tăng cường sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng đối với Quân đội nhân dân Việt Nam. Đây là nguyên tắc trong xây dựng quân đội. Để thực hiện xây dựng quân đội vững mạnh về chính trị, cần tiếp tục xây dựng củng cố nền tảng tư tưởng của Đảng, tăng cường bản chất giai cấp công nhân, tính nhân dân, tính dân tộc sâu sắc trong quân đội.

Tập trung xây dựng tổ chức đảng, tổ chức chỉ huy, tổ chức quần chúng, các cơ quan vững mạnh toàn diện. Xây dựng, bồi dưỡng nâng cao chất lượng chính trị cho cán bộ, chiến sĩ. Tiếp tục đổi mới, nâng cao chất lượng công tác giáo dục chính trị, định hướng tư tưởng cho bộ đội, thực hiện nghiêm, có hiệu quả Đề án “Đổi mới công tác giáo dục chính trị tại đơn vị trong giai đoạn mới”. Các cơ quan, đơn vị cần coi trọng, đổi mới, nâng cao chất lượng và phát huy vai trò, hiệu quả của công tác đảng, công tác chính trị trong các nhiệm vụ. Tiếp tục đẩy mạnh thực hiện Cuộc vận động “Phát huy truyền thống, cống hiến tài năng, xứng danh Bộ đội Cụ Hồ” thời kỳ mới.

Tăng cường công tác bảo vệ chính trị nội bộ, chủ động đấu tranh với các quan điểm sai trái, thù địch, góp phần bảo vệ vững chắc trận địa tư tưởng của Đảng trong quân đội; phòng, chống có hiệu quả âm mưu, thủ đoạn “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch và “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ.

Hiện nay, trước sự chống phá quyết liệt của các thế lực thù địch, nhất là trên không gian mạng, yêu cầu cán bộ, chiến sĩ quân đội phải kịp thời phát hiện, chủ động trong đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, chống “phi chính trị hóa” quân đội.

Tích cực tổng kết thực tiễn, nghiên cứu lý luận làm cơ sở để đề ra giải pháp phù hợp xây dựng quân đội vững mạnh về chính trị, vận dụng nghệ thuật quân sự phù hợp, sáng tạo trong chiến tranh bảo vệ Tổ quốc. Cấp ủy, chính ủy, chính trị viên, người chỉ huy các cấp cần tiến hành đồng bộ các chủ trương, biện pháp giáo dục, huấn luyện, quản lý bộ đội, tạo sức mạnh tổng hợp, góp phần xây dựng quân đội vững mạnh về chính trị trong tình hình mới.

HAIVAN

Lời Bác năm xưa

 

“Đã đoàn kết, ta phải đoàn kết chặt chẽ rộng rãi thêm. Đã cố gắng, ta phải hăng hái mà cố gắng mãi. Mỗi một người phải lấy việc xung phong trong phong trào Thi đua ái quốc là nhiệm vụ thiêng liêng của mình, phải cố làm cho được”. 

Đó là lời của Chủ tịch Hồ Chí Minh kêu gọi mọi người đẩy mạnh phong trào thi đua ái quốc, ngày 10-6-1948, nhân dịp kỷ niệm 1.000 ngày kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược.

Lời kêu gọi của Bác có ý nghĩa to lớn, kịp thời động viên, cổ vũ mọi tầng lớp nhân dân lao động hăng say thi đua ái quốc; đồng thời là tư tưởng chỉ đạo tiếp tục xây dựng và nhân rộng các phong trào thi đua ái quốc sôi nổi và mạnh mẽ đang diễn ra trên đất nước ta. Các phong trào "Gió Đại Phong", "Sóng Duyên Hải", "Cờ Ba Nhất", phong trào "Ba Sẵn Sàng", "Ba Đảm Đang", "Cánh đồng Năm tấn" trên đồng ruộng; phong trào "Trống Bắc Lý", "Dạy tốt, học tốt" trong nhà trường; phong trào "Thóc không thiếu một cân, quân không thiếu một người" chi viện cho tiền tuyến lớn miền Nam… đã nhân lên gấp bội sức mạnh của quân và dân ta, trở thành lực lượng vật chất, góp phần đánh thắng thực dân Pháp và đế quốc Mỹ xâm lược, giành những thành tựu mới có ý nghĩa lịch sử trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

Hiện nay, cả nước tiếp tục công cuộc đổi mới, công nghiệp hóa, hiện đại hóa, bên cạnh những thuận lợi, đất nước đang đứng trước nhiều thử thách, khó khăn, đòi hỏi phải phát huy cao độ lòng yêu nước, tinh thần tự lực, tự cường, tự tôn dân tộc trong mỗi người Việt Nam đối với công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Vì vậy, lời kêu gọi của Bác càng có giá trị tư tưởng và ý nghĩa thực tiễn sâu sắc đối với cách mạng nước ta, là tư tưởng chỉ đạo, phương châm hành động để quân dân cả nước tiếp tục phát huy tinh thần cách mạng, đoàn kết, thi đua ái quốc trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội, trở thành động lực mạnh mẽ, thúc đẩy cách mạng Việt Nam giành được những thành quả to lớn hơn nữa.

Trong điều kiện mới, Quân đội nhân dân Việt Nam cần phải tiếp tục đẩy mạnh phong trào thi đua Quyết thắng, nhân rộng các mô hình mới, cách làm sáng tạo, hiệu quả; coi trọng phát triển các phong trào thi đua của các tổ chức quần chúng, các ngành, tạo ra động lực mạnh mẽ xây dựng tổ chức Đảng trong sạch, vững mạnh, xây dựng cơ quan, đơn vị vững mạnh toàn diện, hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ được Đảng và nhân dân giao phó, xứng đáng với lời khen tặng của Chủ tịch Hồ Chí Minh “Quân đội ta trung với Đảng, hiếu với dân, sẵn sàng chiến đấu hy sinh vì độc lập tự do của Tổ quốc, vì chủ nghĩa xã hội. Nhiệm vụ nào cũng hoàn thành, khó khăn nào cũng vượt qua, kẻ thù nào cũng đánh thắng”.

HAIVAN

Tăng cường công tác lãnh đạo, chỉ đạo công tác tư tưởng trong Quân đội hiện nay

 

Những năm qua, Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng và Tổng cục Chính trị đã lãnh đạo, chỉ đạo, hướng dẫn các cơ quan, đơn vị trong toàn quân làm tốt công tác lãnh đạo tư tưởng, được tiến hành trên mọi lĩnh vực hoạt động của Quân đội, bảo đảm công tác tư tưởng phải đi trước một bước; ở đâu có bộ đội ở đó có công tác tư tưởng và đạt được kết quả khá toàn diện. Hầu hết cấp ủy, chỉ huy, cơ quan chính trị các cấp có nhận thức đúng vai trò, tầm quan trọng của công tác tư tưởng; có nghị quyết chuyên đề lãnh đạo công tác này, với những chủ trương, giải pháp thiết thực, khả thi, hướng vào các nhiệm vụ trọng tâm, khâu then chốt, thời điểm dễ nảy sinh tư tưởng. Tập trung làm tốt công tác giáo dục chính trị, giáo dục pháp luật, chủ động, thường xuyên, thông qua nhiều tổ chức, lực lượng, kênh thông tin để nắm chắc tình hình đơn vị, diễn biến tư tưởng của bộ đội, kịp thời phát hiện và xử lý những vấn đề tư tưởng nảy sinh ngay từ cơ sở. Tiến hành rà soát, bổ sung, hoàn thiện các quy chế, quy định trên các lĩnh vực công tác, thực hiện nghiêm Quy chế Dân chủ ở cơ sở; kết hợp công tác tư tưởng với công tác tổ chức và công tác chính sách; giữa giáo dục thuyết phục, cảm hóa với biện pháp hành chính, xử lý kỷ luật nghiêm minh; mở rộng dân chủ, tăng cường đối thoại, trao đổi, đáp ứng tâm tư, yêu cầu, nguyện vọng chính đáng của cán bộ, chiến sĩ.

Đội ngũ cán bộ các cấp sâu sát đơn vị, cơ sở, nắm tâm tư, tình cảm, nguyện vọng cùng những trăn trở, suy tư của bộ đội để có biện pháp giáo dục, động viên, thuyết phục phù hợp; giải quyết hài hòa các mối quan hệ giữa lãnh đạo với chỉ huy, cấp trên với cấp dưới, cán bộ với chiến sĩ, không để đột biến về tư tưởng xảy ra. Tích cực đưa bộ đội tham gia hoạt động thực tiễn, phong trào Thi đua Quyết thắng và các phong trào, cuộc vận động, nhất là Cuộc vận động “Phát huy truyền thống, cống hiến tài năng, xứng danh Bộ đội Cụ Hồ thời kỳ mới” bằng những việc làm cụ thể, thiết thực, có tác động tích cực đến nhận thức và hành động của cán bộ, chiến sĩ. Xây dựng môi trường văn hoá tốt đẹp, phong phú, lành mạnh; phát huy vai trò của các tổ chức, lực lượng, cơ quan, đơn vị, gia đình và địa phương cùng làm công tác tư tưởng,... Thực tiễn chỉ ra rằng, ở đâu, nơi nào cấp ủy, chỉ huy quan tâm đúng mức đến công tác lãnh đạo tư tưởng cho cán bộ, chiến sĩ thì nơi đó nội bộ đơn vị ổn định, mọi người “làm việc theo chức trách, hành động theo điều lệnh”, yêu thương, chia sẻ trách nhiệm, trên dưới một lòng, yên tâm xây dựng Quân đội; tỷ lệ vi phạm pháp luật, kỷ luật Quân đội giảm, không có các vụ việc nghiêm trọng, đơn vị hoàn thành tốt nhiệm vụ.

Dưới sự lãnh đạo của Đảng, quản lý của Nhà nước, sự nghiệp xây dựng Quân đội, củng cố quốc phòng, bảo vệ Tổ quốc đặt ra yêu cầu mới rất cao và toàn diện. Quân đội vừa đóng vai trò nòng cốt trong sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc, vừa tích cực tham gia trên tuyến đầu phòng, chống thiên tai, dịch bệnh, bảo vệ nhân dân; đồng thời, tích cực thực hiện điều chỉnh, tổ chức biên chế theo hướng tinh, gọn, mạnh. Trong khi đó, những yếu tố tiêu cực ngoài xã hội, sự chống phá của các thế lực thù địch hằng ngày, hằng giờ tác động, chi phối đến tình hình tư tưởng trong Quân đội, làm phai nhạt mục tiêu, lý tưởng chiến đấu, chia rẽ tình đoàn kết quân - dân. Tình hình trên đòi hỏi phải tăng cường hơn nữa công tác tư tưởng của Đảng trong Quân đội, bảo đảm trong bất kỳ tình huống nào, cán bộ, chiến sĩ Quân đội luôn vững vàng về tư tưởng, chuẩn mực về hành động, trung thành tuyệt đối với Đảng, Nhà nước và nhân dân, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ được giao.

Để tiếp tục tăng cường công tác tư tưởng của Đảng trong Quân đội, cấp ủy, chỉ huy các cấp cần tập trung thực hiện một số giải pháp trọng tâm sau:

Một là, phát huy vai trò, trách nhiệm của cấp ủy, chỉ huy, cơ quan chính trị các cấp trong lãnh đạo, chỉ đạo công tác tư tưởng trong Quân đội.

Quán triệt sâu sắc các chỉ thị, nghị quyết của Đảng về công tác tư tưởng, nhất là Nghị quyết Hội nghị Trung ương 5 khóa X, “Về công tác tư tưởng, lý luận, báo chí trong tình hình mới”; những quan điểm mới về công tác tư tưởng mà Đại hội XIII của Đảng đã xác định; bám sát chức năng, nhiệm vụ, đối tượng quản lý, cấp ủy các cấp đưa nội dung lãnh đạo công tác tư tưởng vào nghị quyết nhiệm kỳ, hằng năm, nghị quyết chuyên đề và cụ thể hóa thành chương trình, kế hoạch cụ thể để tổ chức thực hiện, bảo đảm có trọng tâm, trọng điểm, giải quyết khâu yếu, mặt yếu, không để xảy ra đột biến về tư tưởng. Đồng thời, phân công các cấp ủy viên phụ trách, sâu sát cơ sở, thường xuyên báo cáo và chịu trách nhiệm trước cấp ủy về tình hình tư tưởng trong cơ quan, đơn vị. Phát huy vai trò của cơ quan chính trị, trực tiếp là cơ quan tuyên huấn các cấp trong tham mưu cho cấp ủy, chỉ huy chủ trương, giải pháp lãnh đạo, chỉ đạo công tác tư tưởng; đồng thời, hướng dẫn các cơ quan, đơn vị tiến hành công tác tư tưởng theo các tình huống xảy ra trong thực tiễn. Phát huy vai trò tiền phong, gương mẫu của cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ chủ trì các cấp; cấp trên làm gương cho cấp dưới, cán bộ làm gương cho chiến sĩ, cán bộ, chức vụ càng cao càng phải gương mẫu cả trong lời nói và hành động. Lãnh đạo, chỉ huy các cấp thường xuyên bám nắm cơ sở, sâu sát thực tiễn, lắng nghe ý kiến, tâm tư, nguyện vọng của bộ đội, giải quyết thấu tình, đạt lý những vấn đề bộ đội quan tâm, không để những bức xúc xảy ra, tích tụ từ sự việc nhỏ thành sự việc lớn; “xây” đi liền với “chống”, giáo dục đi liền với các biện pháp hành chính. Kiên quyết đấu tranh chống các biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, ý thức tổ chức kỷ luật kém, thoái thác nhiệm vụ, tạo sự chuyển biến mạnh mẽ, toàn diện công tác lãnh đạo tư tưởng trong các cơ quan, đơn vị.

Hai là, tăng cường công tác giáo dục chính trị, giáo dục pháp luật, định hướng tư tưởng cho cán bộ, chiến sĩ.

Trước sự tác động mạnh mẽ của mặt trái nền kinh tế thị trường, truyền thông xã hội và sự tuyên truyền, kích động, chống phá của các thế lực thù địch trên lĩnh vực tư tưởng, văn hóa, cấp ủy, chỉ huy, cơ quan chính trị các cấp, nhất là cấp cơ sở cần làm tốt công tác tuyên truyền, giáo dục nâng cao nhận thức cho cán bộ, chiến sĩ về sự cần thiết phải bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, tình hình nhiệm vụ, đối tượng, đối tác, thực trạng về công tác tư tưởng trong tình hình hiện nay. Kết hợp giữa tuyên truyền, giáo dục pháp luật với giáo dục chính trị, định hướng tư tưởng, quán triệt nhiệm vụ, xây dựng động cơ phấn đấu đúng đắn, ý thức tự giác chấp hành pháp luật, kỷ luật của cán bộ, chiến sĩ. Trong quá trình tuyên truyền, giáo dục, chú ý định hướng tư tưởng, dư luận xã hội theo chiều hướng tích cực; phân tích, làm rõ nguyên nhân, rút ra bài học kinh nghiệm, những vấn đề có tính bản chất, quy luật, hệ thống để bộ đội hiểu rõ đúng sai; tích cực cổ vũ cái đúng, đấu tranh với cái sai, chủ nghĩa cá nhân, tiêu cực, làm cho hệ tư tưởng chủ đạo từng bước thẩm thấu, thống trị trong đời sống tinh thần của cán bộ, chiến sĩ. Thông qua giáo dục, định hướng tư tưởng hình thành cho cán bộ, chiến sĩ niềm tin, thế giới quan, phương pháp luận khoa học trong nhận định, đánh giá các vấn đề của cuộc sống xã hội, môi trường Quân đội. Từ đó, tự giác ghép mình vào khuôn khổ, tự xử lý những bức xúc cá nhân theo chiều hướng tích cực, hòa mình với tập thể, chấp hành nghiêm các chế độ quy định, không để những vụ việc đáng tiếc xảy ra. 

Ba là, đổi mới nội dung, hình thức, biện pháp lãnh đạo công tác tư tưởng trong Quân đội.

Xuất phát từ đối tượng quản lý, giáo dục, lãnh đạo công tác tư tưởng phong phú, đa dạng, trên nhiều lĩnh vực của môi trường Quân đội, nên đòi hỏi công tác lãnh đạo tư tưởng, quản lý kỷ luật phải được tiến hành hết sức khoa học, bài bản, chặt chẽ, đồng bộ ở các cấp, các ngành, các lĩnh vực, theo đúng quy trình các bước, phù hợp với đối tượng, địa bàn, nhiệm vụ của từng lực lượng. Nội dung lãnh đạo công tác tư tưởng phải toàn diện, song phải có trọng tâm, trọng điểm, hướng tới đối tượng đặc thù nhằm đạt được mục tiêu cao nhất là cán bộ, chiến sĩ toàn quân thống nhất về tư tưởng, ý chí và hành động, trên dưới một lòng, tình đồng chí, đồng đội gắn bó keo sơn, chia ngọt sẻ bùi, phát huy sức mạnh tổng hợp vượt qua khó khăn, thử thách, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ. Để làm được điều đó, cấp ủy, chỉ huy các cấp cần tiếp tục nghiên cứu, đổi mới tư duy, hình thức, biện pháp lãnh đạo tư tưởng, quản lý, giáo dục pháp luật của Nhà nước, kỷ luật Quân đội theo hướng thiết thực, hiệu quả; bám sát phương châm “4 không”, “3 có”, “3 nên” và 5 khâu tiến hành công tác tư tưởng: Dự báo, quản lý, định hướng, đấu tranh và xử lý tư tưởng nảy sinh. Thực hiện hiệu quả Đề án đổi mới công tác giáo dục chính trị tại đơn vị trong giai đoạn mới; thông báo kịp thời, có chọn lọc các vụ vi phạm pháp luật, kỷ luật Quân đội, trên cơ sở đó định hướng tư tưởng, rút kinh nghiệm cho bộ đội. Kết hợp chặt chẽ công tác tư tưởng với công tác tổ chức và công tác chính sách, giữa giáo dục thuyết phục với biện pháp hành chính, lấy giáo dục, thuyết phục phòng ngừa vi phạm là chính.

Bốn là, đẩy mạnh xây dựng đơn vị vững mạnh toàn diện “mẫu mực, tiêu biểu”, môi trường văn hóa phong phú, lành mạnh, nâng cao đời sống vật chất, tinh thần cho bộ đội.

Con người là sản phẩm của hoàn cảnh, nhân cách của mỗi cá nhân được hình thành trong các mối liên hệ xã hội, nên muốn có một con người tốt phải tạo ra môi trường, hoàn cảnh tiêu biểu về lối sống có văn hóa, kỷ cương, thân thiện, cùng nỗ lực phấn đấu cho mục tiêu chung. Để tư tưởng bộ đội ổn định vững chắc, cần tiếp tục thực hiện đồng bộ, quyết liệt các giải pháp xây dựng đơn vị vững mạnh toàn diện “mẫu mực, tiêu biểu” gắn với xây dựng tổ chức đảng trong sạch, vững mạnh, các tổ chức quần chúng vững mạnh. Trong đó, tập trung xây dựng cho cán bộ, chiến sĩ về bản lĩnh chính trị, ý chí quyết tâm, đạo đức, lối sống, văn hóa, ý thức pháp luật, trình độ chuyên môn, nghiệp vụ, tinh thần vượt qua khó khăn, thử thách để hoàn thành tốt nhiệm vụ. Duy trì nghiêm nền nếp, chế độ công tác, xây dựng chính quy, rèn luyện kỷ luật, thực hành dân chủ; giải quyết hài hòa các mối quan hệ giữa lãnh đạo với chỉ huy, cấp trên với cấp dưới, cán bộ với chiến sĩ, chiến sĩ cũ với chiến sĩ mới, tạo đời sống văn hóa lành mạnh trong các cơ quan, đơn vị. Đẩy mạnh phong trào Thi đua Quyết thắng và các phong trào, các cuộc vận động trong toàn quân, trọng tâm là Cuộc vận động “Phát huy truyền thống, cống hiến tài năng, xứng danh Bộ đội Cụ Hồ thời kỳ mới”, bằng nhiều mô hình sáng tạo, phù hợp, có sức lan tỏa mạnh mẽ, tác động trực tiếp đến nhận thức, hành động của bộ đội. Tích cực xây dựng môi trường văn hóa quân sự phong phú, lành mạnh, thực sự là nơi để bộ đội gửi gắm tình cảm, niềm tin và sự khát khao cống hiến. Thường xuyên chăm lo, bảo đảm tốt đời sống vật chất, tinh thần, thực hiện tốt chính sách hậu phương Quân đội để bộ đội yên tâm công tác, gắn bó, tâm huyết với môi trường Quân đội.

Năm là, phát huy sức mạnh tổng hợp nâng cao hiệu quả công tác tư tưởng của Đảng trong Quân đội.

 Công tác tư tưởng là công tác của cấp ủy, tổ chức đảng các cấp, trực tiếp là của bí thư cấp ủy. Thực tiễn chỉ ra rằng, đồng chí bí thư cấp ủy nào nắm chắc chức trách, nhiệm vụ, vai trò, có phương pháp tiến hành công tác tư tưởng khoa học, phù hợp, biết phát huy sức mạnh tổng hợp trong tiến hành công tác này thì hiệu quả sẽ cao hơn, tình hình tư tưởng trong cơ quan, đơn vị ổn định, không có đột biến xảy ra và ngược lại công tác tư tưởng sẽ không đạt như mong muốn. Trước hết, cần phát huy vai trò của cấp ủy, chỉ huy các cấp thông qua việc xác định chủ trương, biện pháp, kế hoạch lãnh đạo, chỉ đạo đúng đắn, tính khả thi cao; “xây” đi liền với “chống”; phối hợp chặt chẽ giữa đơn vị với gia đình, địa phương để làm công tác tư tưởng; thường xuyên bám sát cơ sở, bộ đội để điều chỉnh cách thức lãnh đạo cho phù hợp với yêu cầu của thực tiễn. Đội ngũ cán bộ các cấp, nhất là cấp cơ sở tăng cường bám nắm bộ đội, sâu sát với quần chúng để nắm tâm tư, nguyện vọng, những bức xúc trong cuộc sống để động viên, giải quyết kịp thời, không để đột biến xảy ra. Cùng với đó, cần phát huy vai trò của các tổ chức quần chúng, Hội đồng quân nhân trong thực hiện Quy chế Dân chủ ở cơ sở, thực hiện công khai, công bằng trên mọi lĩnh vực hoạt động; đề cao trách nhiệm của các quân nhân, hội viên, đoàn viên trong xây dựng đơn vị, động viên, giúp đỡ lẫn nhau trong công việc cũng như trong cuộc sống. Đồng thời, phải kiên quyết đấu tranh làm thất bại âm mưu, thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch trên lĩnh vực chính trị, tư tưởng, ngăn chặn, đẩy lùi tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ, góp phần bảo vệ vững chắc trận địa tư tưởng của Đảng trong Quân đội. Thực tiễn luôn vận động, phát triển nên công tác lãnh đạo tư tưởng trong quản lý, giáo dục pháp luật của Nhà nước, kỷ luật Quân đội cho cán bộ, chiến sĩ cũng phải có sự điều chỉnh cho phù hợp. Làm tốt công tác tổng kết thực tiễn, nghiên cứu lý luận đúc rút ra những kinh nghiệm hay, mô hình tiêu biểu tạo sức lan tỏa sâu rộng trong toàn quân, nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác lãnh đạo tư tưởng đối với cán bộ, chiến sĩ.  

Tăng cường công tác tư tưởng của Đảng trong Quân đội là nội dung hết sức quan trọng, quyết định kết quả xây dựng Quân đội vững mạnh về chính trị, tư tưởng, tăng cường kỷ luật, kỷ cương, nâng cao sức mạnh chiến đấu, hoàn thành thắng lợi mọi nhiệm vụ được giao. Vì vậy, các cấp cần nhận thức sâu sắc vai trò, tầm quan trọng của công tác này để quán triệt, triển khai thực hiện hiệu quả trong thực tiễn, góp phần hiện thực hóa mục tiêu đến năm 2030 xây dựng Quân đội nhân dân Việt Nam chính quy, tinh nhuệ, hiện đại, bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa trong mọi tình huống.

HAI VAN

Công tác tư tưởng trong Quân đội nhân dân Việt Nam

 

Là bộ phận trọng yếu của công tác xây dựng Đảng, quyết định sinh mệnh của Đảng và sự thành bại của cách mạng. Tăng cường công tác tư tưởng của Đảng trong Quân đội góp phần thống nhất về tư tưởng và hành động cho cán bộ, chiến sĩ, xây dựng Quân đội vững mạnh về chính trị, làm cơ sở nâng cao chất lượng tổng hợp, sức mạnh chiến đấu, luôn là lực lượng trung thành, tin cậy để bảo vệ Tổ quốc, bảo vệ Đảng, chế độ và nhân dân.

Công tác tư tưởng phải đi trước một bước. Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh đánh giá rất cao vai trò của công tác tư tưởng nên thường xuyên yêu cầu các cấp ủy, tổ chức đảng tập trung lãnh đạo, chỉ đạo nâng cao hiệu quả công tác này. Người chỉ rõ: “Công tác lãnh đạo tư tưởng là quan trọng nhất. Trong Đảng và ngoài Đảng có nhận rõ tình hình mới, hiểu rõ nhiệm vụ mới, thì tư tưởng mới thống nhất, tư tưởng thống nhất thì hành động mới thống nhất. Nếu trong Đảng và ngoài Đảng từ trên xuống dưới, từ trong đến ngoài đều tư tưởng thống nhất và hành động thống nhất thì nhiệm vụ tuy nặng nề, công việc tuy khó khăn phức tạp, ta cũng nhất định thắng lợi”. Ngược lại: “Nếu đảng viên tư tưởng và hành động không nhất trí, thì khác nào một mớ cắt rời, “trống đánh xuôi, kèn thổi ngược”; như vậy, thì không thể lãnh đạo quần chúng, không thể làm cách mạng”. Vì vậy, “Phải làm cho tư tưởng xã hội chủ nghĩa hoàn toàn thắng, tư tưởng cá nhân hoàn toàn thất bại”.

Thấm nhuần và vận dụng sáng tạo quan điểm đó, Đảng ta luôn chú trọng công tác tư tưởng và lãnh đạo công tác tư tưởng qua các giai đoạn cách mạng, nhằm khơi dậy và phát huy sức mạnh tinh thần trong giải quyết các nhiệm vụ chính trị của đất nước. Thông qua công tác tư tưởng nhằm truyền bá chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, cương lĩnh, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, yêu cầu, nhiệm vụ cách mạng qua từng thời kỳ cho cán bộ, đảng viên và nhân dân; qua đó, làm cho họ giác ngộ về thế giới quan khoa học, nhân sinh quan cộng sản, hình thành niềm tin, lý tưởng, lẽ sống, nguyên tắc đạo đức, tình cảm cách mạng. Đồng thời, góp phần quan trọng vào nhiệm vụ giáo dục, bồi dưỡng, xây dựng con người Việt Nam phát triển toàn diện, trọng tâm là bồi dưỡng tinh thần yêu nước, lòng tự hào, tự tôn dân tộc, đạo đức, lối sống và nhân cách; cổ vũ, động viên tính tích cực, tự giác, sáng tạo của nhân dân, củng cố niềm tin, đề cao trách nhiệm cá nhân, sự đoàn kết, thống nhất, đồng thuận xã hội, phát huy sức mạnh tổng hợp của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân trong sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Công tác tư tưởng là nhiệm vụ của toàn Đảng và hệ thống chính trị được tiến hành trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội, thấm sâu vào suy nghĩ và hành động của mỗi người dân, tạo hiệu ứng tích cực thúc đẩy sự ổn định và phát triển đất nước.

Công tác tư tưởng trong Quân đội nhân dân Việt Nam là một bộ phận công tác tư tưởng của Đảng, một mặt hoạt động cơ bản của công tác đảng, công tác chính trị, luôn giữ vai trò quan trọng nhằm bồi dưỡng phẩm chất, năng lực, bản lĩnh chính trị cho cán bộ, chiến sĩ, góp phần xây dựng cơ quan, đơn vị vững mạnh toàn diện, giữ vững và tăng cường sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng đối với Quân đội, xây dựng Quân đội vững mạnh về chính trị. Thấm nhuần quan điểm của Đảng, cấp ủy, chỉ huy các cấp luôn xác định công tác tư tưởng phải đi trước một bước, thể hiện vai trò tiên phong, giáo dục, định hướng nhận thức và hành động cho cán bộ, chiến sĩ; được tiến hành trên mọi lĩnh vực hoạt động của Quân đội, bảo đảm ở đâu có bộ đội ở đó có công tác tư tưởng. Tư tưởng thông thì dù khó khăn, gian khổ đến đâu bộ đội cũng quyết tâm vượt qua để hoàn thành nhiệm vụ được giao. 

Tăng cường công tác tư tưởng của Đảng trong Quân đội góp phần nâng cao hiệu quả công tác quán triệt, giáo dục, động viên cán bộ, chiến sĩ tích cực nghiên cứu, học tập, nắm vững đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, điều lệnh, điều lệ trong Quân đội, các quy định của đơn vị và yêu cầu đặt ra đối với phẩm chất, nhân cách, lối sống của người quân nhân cách mạng; đấu tranh ngăn chặn tư tưởng tiêu cực và hành động chống phá của các thế lực thù địch. Trên cơ sở đó, hình thành ý thức, văn hóa pháp luật, làm cho cán bộ, chiến sĩ tự giác ghép mình vào khuôn khổ, chấp hành nghiêm chế độ, nền nếp, rèn luyện tư thế, tác phong quân nhân, không vi phạm các chế độ quy định; coi đó là vấn đề tất yếu trong quá trình phấn đấu, rèn luyện của bộ đội.

HAIVAN

Lời Bác năm xưa

 

“Mọi người phải ra sức trau dồi đạo đức xã hội chủ nghĩa. Cải tạo xã hội cũ xấu xa trở thành xã hội xã hội chủ nghĩa tốt đẹp là một sự nghiệp rất nặng nề, nhưng rất vẻ vang”.

Đây là lời của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong bài nói tại Hội nghị toàn Đảng bộ khu Việt Bắc ngày 8-6-1959. Thời kỳ này, công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc đạt được những thành tựu bước đầu rất quan trọng, song cũng đặt ra những khó khăn, thử thách mới trong cải tạo xã hội cũ, xây dựng xã hội mới.

Lời nói trên của Chủ tịch Hồ Chí Minh có ý nghĩa thực tiễn sâu sắc, chỉ rõ tính chất khó khăn, phức tạp, lâu dài của nhiệm vụ cải tạo xã hội cũ thành xã hội chủ nghĩa tốt đẹp là một sự nghiệp lâu dài, vất vả, nhưng rất vẻ vang. Do đó, đòi hỏi cán bộ, đảng viên, đoàn viên cần phải có ý thức giác ngộ cách mạng cao, một lòng một dạ phấn đấu cho mục tiêu lý tưởng cách mạng; thường xuyên tu dưỡng, rèn luyện đạo đức cách mạng, kiên quyết chống chủ nghĩa cá nhân, thực hành tự phê bình một cách nghiêm túc, từ trong cấp ủy ra ngoài đảng bộ, từ trên xuống dưới để loại bỏ tư tưởng cũng như chủ nghĩa cá nhân ra khỏi mỗi con người.

Thực hiện lời Bác dạy, các thế hệ cán bộ, đảng viên, đoàn viên đã ra sức học tập, trau dồi phẩm chất đạo đức, mục tiêu lý tưởng cách mạng; tích cực lao động sản xuất, xây dựng miền Bắc trở thành hậu phương vững chắc, cung cấp sức người, sức của cho chiến trường miền Nam đánh thắng đế quốc Mỹ xâm lược, thống nhất Tổ quốc, mở ra một kỷ nguyên mới: Độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội.

Hiện nay, trước sự tác động tiêu cực của mặt trái cơ chế thị trường, một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên, nhân dân sa vào chủ nghĩa cá nhân, tiêu cực, tham nhũng, lãng phí, ích kỷ, thờ ơ, vô cảm, sùng bái quyền lực và đồng tiền; phai nhạt mục tiêu, lý tưởng chiến đấu, tha hóa về phẩm chất, đạo đức, lối sống… làm cản trở sự phát triển bền vững của đất nước, cần phải đấu tranh, lên án.

Do vậy, học tập và làm theo lời Bác dạy về đạo đức cách mạng càng có giá trị thực tiễn sâu sắc, là cơ sở để cho toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta phấn đấu, tu dưỡng, rèn luyện đạo đức cách mạng, một lòng, một dạ thực hiện thắng lợi sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa, vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh.

HAIVAN