Thứ Hai, 4 tháng 11, 2024

Trách nhiệm của Quân đội nhân dân Việt Nam và cán bộ quân sự cơ sở trong thực hiện thắng lợi sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân Việt Nam

 


Quân đội nhân dân Việt Nam là một tổ chức chính trị - xã hội đặc thù, một tổ chức công cụ bạo lực của giai cấp công nhân Việt Nam, do Đảng Cộng sản Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh tổ chức, giáo dục, rèn luyện và lãnh đạo. Với chức năng, nhiệm vụ của Quân đội là đội quân vũ trang và lực lượng chính trị, sẵn sàng chiến đấu và chiến đấu thắng lợi, để bảo vệ những thành quả cách mạng của giai cấp công nhân và nhân dân ta đã giành được; bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, độc lập chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ đất nước, bảo vệ sự lãnh đạo của Đảng đối với toàn xã hội, thực hiện sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân Việt Nam. Do đó, việc chăm lo xây dựng Quân đội vững mạnh về mọi mặt để hoàn thành xuất sắc chức năng, nhiệm vụ của mình là một vấn đề quan trọng thường xuyên của Đảng, Nhà nước và Quân đội ta. Nhất là trong tình hình mới hiện nay, trước yêu cầu của nhiệm vụ xây dựng Quân đội ta theo hướng cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại, trong đó lấy xây dựng về chính trị làm cơ sở. Xây dựng Quân đội nhân dân, Công an nhân dân cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bưc hiện đại, một s quân chủng, binh chủng, lực lượng tiến thẳng lên hiện đại. Đến năm 2025, cơ bản xây dựng Quân đội, Công an tinh, gọn, mạnh, tạo tiền đề vững chắc, phấn đấu năm 2030 xây dựng Quân đội nhân dân, Công an nhân dân cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại; vững mạnh về chính trị, tư tưỏng, đạo đức, tổ chức và cán bộ. Xây dựng cấp ủy, tổ chức đảng và đội ngũ cán bộ, đảng viên trong Quân đội và Công an tuyệt đốì trung thành với Tổ quốc, vi Đảng, Nhà nước và nhân dân, kiên định với mục tiêu, lý tưng cách mạng của Đảng, bảo đảm chất lượng tổng hợp và sức mạnh chiến đấu cao, đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ trong mọi tình huống[1]. Thực hiện tốt việc tăng cường giáo dục, rèn luyện bản chất giai cấp công nhân cho cán bộ, chiến sĩ, công nhân, viên chức quốc phòng trong Quân đội. Kiên quyết đấu tranh với các quan điểm sai trái của chủ nghĩa đế quốc và các thế lực thù địch, nhất là trước âm mưu tách Quân đội khỏi sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản và Nhà nước xã hội chủ nghĩa hòng “phi chính trị hóa Quân đội”. Trước thực tiễn đó, Quân đội ta cần phải phát huy tốt vai trò chức năng của mình hơn bao giờ hết để góp phần thực hiện thắng lợi sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân Việt Nam, xây dựng và bảo vệ thành công Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa hiện nay.

Cán bộ quân sự xã, phường là lực lượng nòng cốt thực hiện nhiệm vụ quân sự - quốc phòng ở cơ sở. Với chức năng tham mưu giúp cấp ủy, chính quyền cơ sở lãnh đạo, chỉ đạo công tác quốc phòng, quân sự, đồng thời cũng là người trực tiếp tổ chức thực hiện công tác này góp phần giữ vững ổn định chính trị, trật tự, an toàn xã hội ở cơ sở. Đào tạo đội ngũ cán bộ cán bộ quân sự xã, phường trình độ cao đẳng, đại học ngành quân sự cơ sở có năng lực, trình độ chuyên môn tương đương sĩ quan dự bị cấp phân đội trở lên; trình độ lý luận chính trị, quản lý nhà nước từ trung cấp trở lên là bước tiến quan trọng trong xây dựng đội ngũ công chức chuyên nghiệp, là chủ trương chính sách lớn của Đảng, Nhà nước về công tác quân sự, quốc phòng, có ý nghĩa quan trọng cả trước mắt và lâu dài. Tăng cường giáo dục, rèn luyện bản chất giai cấp công nhân góp phần xây dựng đội ngũ cán bộ quân sự xã, phường vững mạnh về chính trị, tư tưởng, đạo đức, lối sống, bảo đảm là lực lượng chính trị tin cậy của cấp ủy, chính quyền và Nhân dân ở cơ sở.



[1] Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, tập 1, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội - 2021, tr. 157 - 158.

Khái niệm giai cấp công nhân

 


Sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân là phạm trù trung tâm của chủ nghĩa xã hội khoa học song để làm rõ sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân, trước hết phải hiểu rõ giai cấp công nhân là gì? C.Mác và Ph.Ăngghen đã chỉ ra: “Vấn đề là ở chỗ tìm hiểu xem giai cấp vô sản thực ra là gì, và phù hợp với tồn tại ấy của bản thân nó, giai cấp vô sản buộc phải làm gì về mặt lịch sử”[1].

Giai cấp công nhân là giai cấp những người lao động hoạt động sản xuất trong các ngành công nghiệp thuộc các trình độ kỹ thuật khác nhau, mà địa vị kinh tế - xã hội tuỳ thuộc vào chế độ xã hội đương thời.

Trong quá trình nghiên cứu lý luận và hoạt động thực tiễn, C.Mác và Ph.Ăngghen đã dùng nhiều thuật ngữ khác nhau để chỉ giai cấp công nhân như: giai cấp vô sản, giai cấp lao động làm thuê, giai cấp công nhân, hay các thuật ngữ có nội dung hẹp hơn để chỉ các loại công nhân trong các ngành khác nhau: công nhân nông nghiệp, công nhân công nghiệp, công nhân cơ khí, công nhân khai khoáng… Cho dù các ông sử dụng nhiều thuật ngữ khác nhau song bản chất chỉ là một - đều chỉ giai cấp vô sản hiện đại hay giai cấp công nhân. Trong tác phẩm “Tình cảnh giai cấp lao động ở Anh”, Ph.Ăngghen đã viết: “tôi thường dùng những từ: người lao động hoặc công nhân (working men) và người vô sản, giai cấp công nhân, giai cấp không có của, giai cấp vô sản như những từ đồng nghĩa”[2].

C.Mác và Ph.Ăngghen cũng chỉ ra hai tiêu chí để phân biệt giai cấp công nhân với những người lao động khác: Thứ nhất, về nghề nghiệp. Giai cấp công nhân là những lao động trực tiếp hay gián tiếp vận hành các công cụ sản xuất có tính chất công nghiệp ngày càng hiện đại và xã hội hoá cao. Đây là tiêu chí cơ bản xác định rõ môi trường lao động và phương thức lao động của họ là các ngành công nghiệp có trình độ kỹ thuật khác nhau. Lực lượng công nhân hiện đại gắn với nền đại công nghiệp ngày càng phát triển là bộ phận cơ bản, hạt nhân của giai cấp công nhân. Hiện nay, khoa học và công nghệ hiện đại phát triển mạnh mẽ, làm cho lực lượng sản xuất phát triển nhanh chóng với tính chất xã hội hoá ngày càng cao, cơ cấu của nền sản xuất công nghiệp có sự thay đổi. Bên cạnh các ngành công nghiệp truyền thống, đã xuất hiện ngày càng nhiều các ngành sản xuất và dịch vụ mới. Cùng với công nhân của nền công nghiệp cơ khí, đã xuất hiện công nhân của nền công nghiệp với trình độ kỹ thuật cao ở các dây chuyền sản xuất tự động hoá, làm cho giai cấp công nhân cũng có sự phát triển mới về nghề nghiệp. Những sự biến đổi đó không hề làm giảm giai cấp công nhân trong nền kinh tế mà trái lại càng làm cho giai cấp công nhân tăng thêm cả về số lượng và chất lượng. Bởi vậy, những người lao động trong các ngành dịch vụ mà phần lớn là dịch vụ công nghiệp vẫn là công nhân, xét về tiêu chí nghề nghiệp. Thứ hai, về vị trí trong quan hệ sản xuất. Trong quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa, giai cấp công nhân là những người lao động không có tư liệu sản xuất, phải làm thuê, bán sức lao động cho nhà tư bản và bị nhà tư bản bóc lột giá trị thặng dư, khiến cho những người công nhân trở thành giai cấp đối kháng trực tiếp với giai cấp tư sản. C.Mác và Ph.Ăngghen đã khẳng định: “Giai cấp tư sản, tức là tư bản, mà lớn lên thì giai cấp vô sản, giai cấp công nhân hiện đại - tức là giai cấp chỉ có thể sống với điều kiện là kiếm được việc làm, và chỉ kiếm được việc làm, nếu lao động của họ làm tăng thêm tư bản - cũng phát triển theo. Những công nhân ấy, buộc phải tự bán mình để kiếm ăn từng bữa một, là một hàng hóa, tức là một món hàng đem bán như bất cứ món hàng nào khác; vì thế, họ phải chịu hết mọi sự may rủi của cạnh tranh, mọi sự lên xuống của thị trường với mức độ như nhau”[3].

Với sự phát triển mạnh mẽ của cách mạng khoa học và công nghệ hiện đại, cũng như sự phát triển mạnh mẽ của lực lượng sản xuất, hiện nay, giai cấp công nhân ngày càng được trí thức hoá, nâng cao trình độ mọi mặt, đời sống của công nhân ở các nước tư bản phát triển cũng được cải thiện so với trước đây, một bộ phận công nhân đã có chút ít tư liệu sản xuất, hoặc, có bộ phận công nhân có cổ phần trong xí nghiệp… Tuy nhiên, không có nghĩa địa vị của họ trong xã hội tư bản chủ nghĩa đã thay đổi, họ vẫn là giai cấp lao động làm thuê cho giai cấp tư sản trong hoạt động sản xuất công nghiệp. Trước kia công nhân bán sức lao động chân tay là chủ yếu, thì nay họ bán cả lao động chân tay và lao động trí óc, thậm chí có bộ phận chủ yếu bán sức lao động trí óc như những công nhân lao động sản xuất ở những dây chuyền công nghệ cao, các lĩnh vực sáng chế, ứng dụng sản xuất công nghiệp, vì vậy, họ còn bị bóc lột giá trị thặng dư bằng những hình thức tinh vi hơn.

Khác với giai cấp công nhân ở các nước tư bản chủ nghĩa, giai cấp công nhân ở các nước xã hội chủ nghĩa đã trở thành giai cấp thống trị, giai cấp cầm quyền và lãnh đạo cuộc cải tạo xã hội cũ, xây dựng xã hội mới (mặc dù, ít nhiều họ còn bị bóc lột, song về hình thức và mức độ không giống như công nhân trong xã hội tư bản chủ nghĩa), họ đã trở thành những người làm chủ những tư liệu sản xuất chủ yếu của nền sản xuất mới, cùng với nhân dân lao động hợp tác, lao động cho chính mình. Vì vậy, trong chủ nghĩa xã hội, giai cấp công nhân được xác định chủ yếu bằng tiêu chí nghề nghiệp, còn tiêu chí thứ hai - địa vị trong quan hệ sản xuất mới đã có sự thay đổi căn bản, họ đã được giải phóng khỏi quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa.

Cho đến nay, những quan điểm của C.Mác và Ph.Ăngghen về hai tiêu chí cơ bản của giai cấp công nhân vẫn còn nguyên giá trị, vẫn là cơ sở để luận giải và nhận diện giai cấp công nhân hiện nay.

Bổ sung, sửa đổi, xây dựng và thực hiện nghiêm hệ thống chính sách, pháp luật, tăng cường vai trò lãnh đạo của Đảng trong xây dựng giai cấp công nhân.

Đại hội XIII, Đảng ta chỉ rõ: “Chăm lo đời sống vật chất, tinh thần, nhà ở và phúc lợi xã hội cho công nhân; bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của công nhân[4]. Rà soát, bổ sung, sủa đổi, xây dựng các chính sách, pháp luật về lao động, việc làm và đời sống vật chất, tinh thần; tập trung trước hết vào những chính sách liên quan trực tiếp đến những vấn đề bức xúc đang đặt ra về việc làm và đời sống của công nhân. Bổ sung, sửa đổi, xây dựng các chính sách để phát huy các nguồn lực và trách nhiệm của cả Nhà nước, người sử dụng lao động, các tổ chức chính trị - xã hội, của toàn xã hội và của công nhân trong việc chăm lo cải thiện đời sống vật chất, tinh thần cho công nhân tương xứng với năng suất lao động và những đóng góp của công nhân. Nhà nước có chính sách đầu tư cho các tỉnh, thành phố để xây dựng nhà ở và các công trình phúc lợi công cộng cho công nhân. Đại hội XIII, Đảng ta yêu cầu: “Đổi mới tổ chức và hoạt động của công đoàn phù hợp với cơ cấu lao động, nhu cầu, nguyện vọng của công nhân và yêu cầu hội nhập quốc tế”[5]. Tăng cường sự lãnh đạo của các cấp ủy đảng trong xây dựng giai cấp công nhân. Khẩn trương xây dựng và lãnh đạo thực hiện có hiệu quả chiến lược về giai cấp công nhân gắn với chiến lược phát triển đất nước trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa, hội nhập kinh tế quốc tế, bao gồm các chủ trương, chính sách lớn về đào tạo, trí thức hóa công nhân; về vấn đề xuất khẩu lao động, kể cả ở các doanh nghiệp Việt Nam đầu tư kinh doanh ở nước ngoài; vấn đề tạo nguồn để phát triển đảng và bồi dưỡng đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý trong hệ thống chính trị, trong quản lý sản xuất kinh doanh xuất thân từ công nhân; vấn đề nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của công nhân...



[1] C.MácPh.Ăngghen, Toàn tập, tập 2, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội - 1995, tr. 56.

[2] C.Mác và Ph.Ăngghen, Toàn tập, tập 2, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội - 1995, tr. 328.

[3] C.Mác và Ph.Ăngghen, Toàn tập, tập 4, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội - 1995, tr. 605.

[4] Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, tập 1, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội - 2021, tr. 166.

[5] Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, tập 1, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội - 2021, tr. 166.

Ý nghĩa nghiên cứu chủ nghĩa xã hội khoa học về mặt thực tiễn

 


Nghiên cứu Chủ nghĩa xã hội khoa học với những minh chứng sinh động bởi các sự kiện cách mạng, những thành tựu rực rỡ của sự nghiệp đổi mới, cải cách của các nước xã hội chủ nghĩa, trong đó có Việt Nam, chúng ta càng củng cố bản lĩnh kiên định, tự tin tiếp tục sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc theo định hướng xã hội chủ nghĩa mà Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã lựa chọn.

Nghiên cứu Chủ nghĩa xã hội khoa học là cơ sở để khẳng định việc sự cần thiết của việc xây dựng, chỉnh đốn Đảng, chống mọi biểu hiện cơ hội chủ nghĩa, dao động, thoái hóa, biến chất trong đảng và cả xã hội, giáo dục lý luận chính trị - xã hội một cách cơ bản khoa học tức là ta tiến hành củng cố niềm tin thật sự đối với chủ nghĩa xã hội… cho mọi cán bộ, đảng viên, học sinh, sinh viên, thanh thiếu niên, phụ nữ và nhân dân.

Góp phần đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và mở rộng hợp tác quốc tế; tiến hành hội nhập quốc tế, xây dựng “kinh tế tri thức”, xây dựng nền kinh tế thi trường định hướng xã hội chủ nghĩa… đang là những vận hội lớn, đồng thời cũng có những thách thức lớn đối với nhân dân ta. Đó cũng là trách nhiệm lịch sử rất nặng nề và vẻ vang cả thế hệ trẻ đối với sự nghiệp xây dựng xã hội xã hội chủ nghĩa, cộng sản chủ nghĩa, cộng sản chủ nghĩa trên đất nước ta.

Chủ nghĩa xã hội khoa học góp phần quan trọng trong việc giáo dục niềm tin khoa học cho Nhân dân vào mục tiêu, lý tưởng xã hội chủ nghĩa và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội. Niềm tin khoa học là sự thống nhất giữa nhận thức, tình cảm, ý chí và quyết tâm trở thành động lực tinh thần hướng con người đến hoạt động thực tiễn một cách chủ động, tự giác, sáng tạo và cách mạng.

Đối với cán bộ chỉ huy quân sự cấp xã, phường, thi trấn, việc nghiên cứu nắm vững lý luận Chủ nghĩa xã hội khoa học giúp họ thấm nhuần mục tiêu, lý tưởng cách mạng của Đảng; nắm được quy luật vận động, phát triển tất yếu của lịch sử, tin tưởng tuyệt đối vào sự lãnh đạo của Đảng, quản lý của nhà nước, sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Từ đó, tự nguyện, tự giác chấp hành đường lối của Đảng, pháp luật của Nhà nước, quy định của địa phương, quyết tâm xây dựng quyê hương giàu mạnh. Đồng thời, trên cơ sở giác ngộ sâu sắc chủ nghĩa Mác - Lênin nói chung, Chủ nghĩa xã hội khoa học nói riêng, cán bộ chỉ huy quân sự cấp xã, phường, thi trấn mới có cơ sở để làm tốt nhiệm vụ tham mưu cho cấp ủy Đảng, chính quyền cấp xã, phường, thị trấn lãnh đạo, chỉ đạo, quản lý, điều hành thực hiện nhiệm vụ quốc phòng, quân sự theo quy định của pháp luật; làm tốt công tác tuyên truyền đường lối, quan điểm của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, thực hiện giáo dục quốc phòng và an ninh; tham gia xây dựng cơ sở vững mạnh toàn diện; thực hiện chính sách hậu phương quân đội, chính sách ưu đãi người có công với cách mạng...

Nhiệm vụ nghiên cứu của chủ nghĩa xã hội khoa học

 


Chủ nghĩa xã hội khoa học luận chứng một cách khoa học tính tất yếu về mặt lịch sử sự thay thế của chủ nghĩa tư bản bằng chủ nghĩa xã hội gắn liền với sứ mệnh lịch sử thế giới của giai cấp công nhân, địa vị, vai trò của quần chúng do giai cấp công nhân lãnh đạo trong cuộc đấu tranh cách mạng thực hiện sự chuyển biến từ chủ nghĩa tư bản, xây dựng chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản.

Chủ nghĩa xã hội khoa học luận giải một cách khoa học về phương hướng và những nguyên tắc của chiến lược, sách lược; về con đường và các hình thức đấu tranh của giai cấp công nhân, về những tiền đề, điều kiện của công cuộc cải tạo xã hội chủ nghĩa và xây dựng chủ nghĩa xã hội; về những quy luật, bước đi, hình thức, phương pháp của việc tổ chức xã hội theo hướng xã hội chủ nghĩa; về mối quan hệ gắn bó với phong trào giải phóng dân tộc, phong trào dân chủ và phong trào xã hội chủ nghĩa trong quá trình cách mạng thế giới.

Chủ nghĩa xã hội khoa học tiến hành phê phán, đấu tranh bác bỏ những trào lưu tư tưởng chống cộng, chống chủ nghĩa xã hội, bảo vệ sự trong sáng của chủ nghĩa Mác - Lênin và những thành quả của cách mạng xã hội chủ nghĩa.

Trong giai đoạn hiện nay của thời đại, Chủ nghĩa xã hội khoa học hướng vào nghiên cứu những biến đổi về đời sống hiện thực của thời đại, những tác động của nó đến các vấn đề chính trị - xã hội và cuộc đấu tranh của giai cấp công nhân quốc tế, kịp thời đưa ra những kết luận khoa học, làm cơ sở đề ra chiến lược, sách lược của các đảng cộng sản và công nhân quốc tế; tiếp tục luận chứng việc thực hiện sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân; tìm tòi những điều kiện, con đường, biện pháp, nguyên tắc cơ bản chỉ đạo cuộc đấu tranh của giai cấp công nhân, làm cho giai cấp công nhân tiếp tục phát triển và giành được thắng lợi mới trong thế kỷ XXI; giáo dục nâng cao giác ngộ cách mạng, lập trường giai cấp công nhân, xây dựng lý tưởng, niềm tin cộng sản cho giai cấp công nhân và nhân dân lao động. Trên cơ sở đó, tập hợp, lôi kéo họ vào cuộc đấu tranh cách mạng; đồng thời, trở thành vũ khí sắc bén, đấu tranh có hiệu quả với chủ nghĩa chống cộng, chủ nghĩa cơ hội, xét lại và các quan điểm sai trái, thù địch, phản động.

Các nhiệm vụ chủ yếu trên đây của Chủ nghĩa xã hội khoa học hiện nay có mối quan hệ chặt chẽ với nhau, cần được nhận thức đầy đủ, thường xuyên coi trọng và vận dụng thích hợp, sáng tạo, không được xem nhẹ trong bất cứ hoàn cảnh nào. Hiện nay, cần quán triệt sâu sắc chỉ dẫn của Ph.Ăngghen về nhiệm vụ của Chủ nghĩa xã hội khoa học: “Nghiên cứu những điều kiện lịch sử và do đó, nghiên cứu chính ngay bản chất của sự biến đổi ấy, và bằng cách ấy làm cho giai cấp hiện nay đang bị áp bức và có sứ mệnh hoàn thành sự nghiệp ấy hiểu rõ được những điều kiện và bản chất sự nghiệp của chính họ - đó là nhiệm vụ của chủ nghĩa xã hội khoa học, sự thể hiện về mặt lý luận của phong trào vô sản”2.



2 C.Mác Ph.Ăngghen, Toàn tập, tập 20, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội - 1995, tr. 393.

Chức năng nghiên cứu của Chủ nghĩa xã hội khoa học

 


Chức năng thế giới quan. Chủ nghĩa xã hội khoa học là một trong ba bộ phận cấu thành chủ nghĩa Mác - Lênin, cung cấp cho giai cấp công nhân và nhân loại tiến bộ một thế giới quan khoa học, phương pháp luận biện chứng và nhân sinh quan cộng sản. Đồng thời, trên cơ sở tri thức khoa học toàn diện về tự nhiên, xã hội, tư duy, Chủ nghĩa xã hội khoa học luận giải sâu sắc, toàn diện về quá trình tất yếu lịch sử dẫn đến hình thành, phát triển hình thái kinh tế - xã hội cộng sản chủ nghĩa, thông qua đấu tranh giai cấp, cách mạng xã hội và vai trò lãnh đạo của giai cấp công nhân, khẳng định sự nghiệp giải phóng giai cấp công nhân phải do chính giai cấp công nhân đảm nhận, thông qua chính đảng mác xít- lênin nít lãnh đạo.

Chức năng giáo dục. Chủ nghĩa xã hội khoa học trang bị cho giai cấp công nhân và nhân loại tiến bộ hệ thống lý luận cách mạng, khoa học, qua đó giáo dục xây dựng niềm tin, lý tưởng cộng sản chủ nghĩa trên cơ sở khoa học; củng cố lập trường, bản lĩnh chính trị, hình thành phẩm chất, nhân cách con người mới xã hội chủ nghĩa. Lý tưởng cộng sản được tiếp nhận chuyển hoá thành nhận thức, tình cảm, thái độ, hành vi của con người không phải bằng sức mạnh quyền uy hay bằng sự mê hoặc mang tính chất tôn giáo, mà bằng chính sức mạnh của trí tuệ và tình cảm của mỗi con người, trên cơ sở nhận thức sâu sắc quy luật của cuộc sống và sự truyền bá, giáo dục những nguyên lý Chủ nghĩa xã hội khoa học của các đảng cộng sản vào quần chúng nhân dân lao động.

Chức năng dự báo khoa học, định hướng chính trị, hướng dẫn thực tiễn. Chủ nghĩa xã hội khoa học đưa ra những dự báo khoa học về phương hướng, mục tiêu, con đường, biện pháp cách mạng để cải tạo xã hội theo quy luật tiến hoá của lịch sử. Từ đó định hướng chính trị tư tưởng và hướng dẫn hoạt động thực tiễn để đạt được những mục tiêu chính trị đã đề ra, cải tạo tự nhiên, xã hội và chính bản thân con người, thúc đẩy lịch sử phát triển. Thực tiễn lịch sử phong trào cộng sản và công nhân quốc tế đã chứng minh: Từ sự giác ngộ lý luận Chủ nghĩa xã hội khoa học, giai cấp công nhân đã thành lập ra chính đảng của mình, đem khoa học thay cho mộng tưởng, làm chuyển hóa phong trào từ đấu tranh tự phát lên đấu tranh tự giác, từ giai cấp bị trị đã bước lên vũ đài lịch sử, vũ đài chính trị và trở thành giai cấp trung tâm của thời đại, giữ vai trò lãnh đạo cuộc đấu tranh để thực hiện sự quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản trên phạm vi toàn thế giới.

Đẩy mạnh và nâng cao chất lượng đào tạo nghề, nâng cao trí tuệ từng bước trí thức hóa giai cấp công nhân.

 


Đẩy mạnh đào tạo, đào tạo lại và bồi dưỡng nâng cao trình độ học vấn, chuyên môn, kỹ năng nghề nghiệp cho công nhân, nhằm phát triển về số lượng, bảo đảm về chất lượng, hợp lý về cơ cấu, để nước ta có một đội ngũ công nhân có trình độ học vấn, chuyên môn, kỹ năng nghề nghiệp ngày càng cao, có khả năng tiếp thu nhanh và làm chủ công nghệ mới, nâng cao năng suất lao động, chất lượng và hiệu quả sản xuất kinh doanh. Quan tâm bồi dưỡng, nâng cao trình độ chính trị, ý thức giai cấp, tinh thần dân tộc cho giai cấp công nhân. Cần nâng cao trình độ chính trị, ý thức giai cấp và bản lĩnh chính trị, ý thức công dân, tinh thần dân tộc, gắn bó thiết tha với sự nghiệp cách mạng của Đảng, của dân tộc, với chế độ xã hội chủ nghĩa, ý chí vươn lên thoát khỏi nghèo nàn, lạc hậu, tinh thần xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, tinh thần phấn đấu vươn lên ngang tầm thời đại trong điều kiện phát triển kinh tế tri thức và hội nhập kinh tế quốc tế, quyết tâm chiến thắng trong cạnh tranh, tinh thần đấu tranh xây dựng, tác phong công nghiệp và kỷ luật lao động, lương tâm nghề nghiệp... cho công nhân. Đại hội XIII, Đảng ta đã nhấn mạnh: “Tăng cường tuyên truyền, giáo dục chính trị, tư tưởng cho giai cấp công nhân”[1].



[1] Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, tập 1, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội - 2021, tr. 166.

Tiếp tục đẩy mạnh sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.


Chủ nghĩa Mác - Lênin đã khẳng định: giai cấp công nhân là sản phẩm của nền đại công nghiệp, ngày càng phát trin cùng với đại công nghiệp. Do đó, để phát triển giai cấp công nhân Việt Nam lớn mạnh cần đẩy mạnh sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước ngày càng phát triển sẽ tạo tiền đề nền tảng vững chắc, môi trường điều kiện thuận lợi cho giai cấp công nhân Việt Nam phát triển. Thẳng thn nhìn nhận công cuộc đối mới toàn diện đất nước, công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong hơn 35 năm qua, bên cạnh những thành tựu đạt được nước ta vẫn còn nhiều hạn chế, yếu kém. Mục tiêu đến năm 2020 đưa nước ta cơ bản trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại đã không thực hiện được. Đây cũng chính là nguyên nhân dẫn đến những hạn chế của giai cấp công nhân Việt Nam thời gian qua. Trong thời gian tới, trên cơ sở tiêu chí nước công nghiệp, Đảng và Nhà nước cần lãnh đạo, chỉ đạo, t chức thực hiện một cách quyết liệt việc đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, sớm đưa nước ta cơ bản trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại - như mục tiêu mà Nghị quyết Đại hội lần thứ XIII của Đảng đã xác định. Theo đó, cần tập trung xây dựng nền công nghiệp và thương hiệu công nghiệp quốc gia với tầm nhìn trung, dài hạn, có lộ trình cho từng giai đoạn; phát trin có chọn lọc một số ngành công nghiệp chế tạo, chế biến, công nghiệp công nghệ cao, công nghiệp sạch, công nghiệp năng lượng, cơ khí, điện tử, hóa chất, công nghiệp xây dựng, xây lắp, công nghiệp quốc phòng, an ninh… 

Tiếp tục nghiên cứu, tổng kết thực tiễn, phát triển lý luận về giai cấp công nhân trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và hội nhập kinh tế quốc tế.

 


Đổi mới tổ chức, tăng cường đầu tư, đẩy mạnh hơn nữa công tác nghiên cứu lý luận, tổng kết thực tiễn về giai cấp công nhân, hướng vào giải đáp những vấn đề thực tiễn đặt ra: Về xu hướng phát triển của giai cấp công nhân trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước; về vấn đề trí thức hóa giai cấp công nhân; về mối quan hệ giữa giai cấp công nhân với các giai cấp, tầng lớp khác trong xã hội, đặc biệt là trong liên minh giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức; về sự phân hóa và mối quan hệ trong nội bộ giai cấp công nhân; về vai trò lãnh đạo của giai cấp công nhân thông qua đội tiền phong là Đảng Cộng sản Việt Nam trong thời kỳ mới; về mối quan hệ đoàn kết, hợp tác giữa giai cấp công nhân Việt Nam và giai cấp công nhân các nước trong điều kiện toàn cầu hóa, hội nhập kinh tế quốc tế; về những âm mưu, thủ đoạn “diễn biến hoà bình” và tuyên truyền phản động của các thế lực thù địch đối với giai cấp công nhân... Qua đó cung cấp cơ sở lý luận và thực tiễn để đề ra chủ trương, giải pháp xây dựng giai cấp công nhân phát triển toàn diện trong thời kỳ mới.

Nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của các cấp ủy, tổ chức đảng trong Đảng bộ Quân đội.

 

Đây là vấn đề có tính nguyên tắc nhằm bảo đảm sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng đối với Quân đội trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Các cơ quan, đơn vị trong toàn quân cần tiếp tục quán triệt, thực hiện nghiêm túc các nghị quyết, chỉ thị của Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư về công tác xây dựng Đảng; trọng tâm là các kế hoạch, chương trình hành động thực hiện Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng, các nghị quyết Trung ương về tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng, Nghị quyết Đại hội Đảng bộ Quân đội lần thứ XI về xây dựng Đảng bộ Quân đội.

Cấp ủy, chỉ huy các cấp cần tập trung lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện nghiêm túc nguyên tắc, quy trình, quy chế về công tác cán bộ; có nhiều giải pháp thiết thực, cụ thể trong quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng, quản lý, sử dụng cán bộ bảo đảm cân đối về cơ cấu, số lượng và chất lượng. Tăng cường công tác kiểm tra, giám sát và thi hành kỷ luật đảng; coi trọng kiểm tra, giám sát việc lãnh đạo thực hiện nhiệm vụ chính trị và công tác xây dựng Đảng, lấy ngăn chặn, phòng ngừa là chủ yếu, bảo đảm cơ quan, đơn vị tuyệt đối an toàn về chính trị. Xây dựng cấp ủy, tổ chức đảng các cấp vững mạnh về chính trị, tư tưởng, đạo đức, tổ chức và cán bộ, không ngừng nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu, ngang tầm nhiệm vụ trong tình hình mới.



Đẩy mạnh công tác hội nhập quốc tế và đối ngoại quốc phòng, tạo thế và lực để bảo vệ vững chắc Tổ quốc từ sớm, từ xa.

 


Tiếp tục quán triệt sâu sắc và thực hiện nghiêm túc, có hiệu quả đường lối, chính sách đối ngoại của Đảng và Nhà nước, trọng tâm là Nghị quyết của Bộ Chính trị “Về hội nhập quốc tế” và Nghị quyết của Quân ủy Trung ương v Chiến lược Hội nhập quốc tế và đối ngoại về quốc phòng đến năm 2030 và những năm tiếp theo. Trên cơ sở đó, đẩy mạnh hội nhập quốc tế và đưa công tác đối ngoại quốc phòng đi vào chiều sâu, bền vững. Tăng cường hợp tác với các nước cả trên bình diện song phương lẫn đa phương; ưu tiên hợp tác với các nước láng giềng, củng cố, phát triển mối quan hệ với các nước lớn, coi trọng hợp tác với các nước trong Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN) và các nước bạn bè truyền thống, nhằm giữ vững môi trường hòa bình, ổn định để xây dựng, phát triển đất nước, tăng cường quốc phòng, bảo vệ vững chắc Tổ quốc từ sớm, từ xa. Đồng thời, phát huy sức mạnh tổng hợp để trong xử trí các tình huống nảy sinh.

Trong hội nhập quốc tế và đối ngoại quốc phòng, phải nắm vững nguyên tắc chiến lược, nhưng hết sức linh hoạt, mềm dẻo về sách lược để tổ chức thực hiện đúng đắn, sáng tạo đường lối, chủ trương đối ngoại của Đảng; gắn kết chặt chẽ nội dung hợp tác về chính trị, quốc phòng với các nội dung hợp tác về kỹ thuật, trang, thiết bị quân sự, thương mại quân sự, công nghiệp quốc phòng và các hoạt động quốc phòng khác thành một thể thống nhất để thực hiện thắng lợi các mục tiêu hội nhập quốc tế và đối ngoại đã đề ra. Tích cực, chủ động tham gia các cơ chế hợp tác quốc phòng đa phương, nhất là cơ chế về hoạt động gìn giữ hòa bình của Liên hợp quốc, các cuộc diễn tập đa phương trong lĩnh vực nhân đạo, tìm kiếm, cứu nạn, cứu trợ thảm họa ở từng quy mô khác nhau.

Tập trung nâng cao chất lượng tổng hợp, sức mạnh chiến đấu của Quân đội, xứng đáng là lực lượng nòng cốt cho toàn dân bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.

 


Tập trung xây dựng Quân đội vững mạnh về chính trị, tư tưởng, tổ chức và đạo đức; cán bộ, chiến sĩ quân đội phải có bản lĩnh chính trị vững vàng, tuyệt đối trung thành với Đảng, Tổ quốc và nhân dân; chủ động phát hiện và đấu tranh có hiệu quả với mọi âm mưu, thủ đoạn “diễn biến hòa bình”, thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ và “phi chính trị hóa” Quân đội của các thế lực thù địch. Cùng với đẩy mạnh công tác giáo dục chính trị, định hướng tư tưởng, các cơ quan, đơn vị trong toàn quân phải chú trọng thực hiện tốt công tác chính sách, công tác dân vận, đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh, phong trào thi đua quyết thắng và Cuộc vận động “Phát huy truyền thống, cống hiến tài năng, xứng danh Bộ đội Cụ Hồ thời kỳ mới”; ra sức xây dựng tổ chức đảng trong sạch, vững mạnh gắn với cơ quan vững mạnh toàn diện, hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ được giao.

Cấp ủy, chỉ huy các cấp cần tăng cường lãnh đạo, chỉ đạo, tạo sự chuyển biến mạnh mẽ trong thực hiện ba khâu đột phá mà Nghị quyết Đại hội đại biểu Đảng bộ Quân đội lần thứ XI đã xác định. Tập trung quán triệt và triển khai có hiệu quả Nghị quyết số 05-NQ/TW, ngày 17/01/2022, của Bộ Chính trị, về tổ chức Quân đội nhân dân Việt Nam giai đoạn 2021 - 2030 và những năm tiếp theo; Nghị quyết số 230-NQ/ QUTW, ngày 02/4/2022, của Quân ủy Trung ương, về lãnh đạo thực hiện tổ chức Quân đội nhân dân Việt Nam giai đoạn 2021 - 2030 và những năm tiếp theo, đảm bảo cho Quân đội “tinh, gọn, mạnh”, cơ cấu hợp lý, sức chiến đấu cao. Triển khai nhiều biện pháp đồng bộ, hiệu quả, tạo sự chuyển biến về chất lượng huấn luyện, diễn tập hiệp đồng quân, binh chủng, diễn tập đối kháng trong các môi trường; nâng cao trình độ làm chủ vũ khí, trang bị kỹ thuật, nhất là vũ khí, trang bị mới, hiện đại. Đẩy mạnh ứng dụng thành tựu của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư vào nghiên cứu khoa học và công nghệ quân sự, phát triển công nghiệp quốc phòng, đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ xây dựng Quân đội trong giai đoạn mới.

Phát huy vai trò nòng cốt của Quân đội trong xây dựng nền quốc phòng toàn dân vững mạnh, đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc.

 


Xây dựng nền quốc phòng toàn dân vững mạnh là trách nhiệm của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân, của cả hệ thống chính trị, trong đó Quân đội nhân dân giữ vai trò nòng cốt. Để hoàn thành trọng trách đó, Quân đội cần chủ động phối hợp chặt chẽ với các ban, bộ, ngành ở Trung ương và các địa phương tích cực xây dựng nền quốc phòng toàn dân, thế trận quốc phòng toàn dân vững mạnh cả về tiềm lực, lực lượng và thế trận, với nhiều giải pháp đồng bộ, phù hợp với thực tiễn và đặc điểm, thế mạnh của từng vùng, từng địa phương. Cùng với xây dựng lực lượng và các nguồn lực, cần tập trung xây dựng thế trận quốc phòng toàn dân gắn với thế trận an ninh nhân dân, đặc biệt là “thế trận lòng dân” vững chắc, nhất là ở các địa bàn chiến lược, khu vực biên giới, biển, đảo.

Tiếp tục triển khai thực hiện tốt quy hoạch tổng thể bố trí quốc phòng kết hợp phát triển kinh tế - xã hội trên địa bàn cả nước đến năm 2030 và những năm tiếp theo; bổ sung, hoàn thiện cơ chế, chính sách huy động nguồn lực địa phương cho xây dựng tiềm lực của khu vực phòng thủ; nâng cao chất lượng huấn luyện, diễn tập khu vực phòng thủ các cấp, bảo đảm cho các địa phương có thể chủ động đối phó, xử lý tốt các tình huống quốc phòng, an ninh trong cả thời bình và thời chiến.

Phát huy tốt vai trò nòng cốt của các doanh nghiệp quân đội, khu kinh tế - quốc phòng trong phát triển kinh tế - xã hội kết hợp với củng cố quốc phòng - an ninh ở địa bàn chiến lược, khu vực biên giới đất liền, trên biển, hải đảo; huy động các doanh nghiệp công nghiệp ngoài lực lượng vũ trang tham gia sản xuất, sửa chữa trang, thiết bị cho Quân đội, góp phần tăng cường tiềm lực quốc phòng và tiết kiệm ngoại tệ, ngân sách nhà nước.

Thực hiện nghiêm túc Luật Quốc phòng và Luật Dân quân tự vệ, nhất là chỉ đạo xây dựng điểm mô hình chốt chiến đấu của dân quân thường trực biên giới; Đề án xây dựng hải đội dân quân thường trực tham gia bảo vệ chủ quyền biển, đảo trong tình hình mới; kế hoạch mở rộng lực lượng dân quân tự vệ trong các trạng thái sẵn sàng chiến đấu, trạng thái quốc phòng. Tích cực đổi mới, nâng cao chất lượng công tác giáo dục, bồi dưỡng kiến thức quốc phòng và an ninh cho các đối tượng; thực hiện tốt công tác quản lý nhà nước về quốc phòng ở các ban, bộ, ngành, địa phương; tăng cường phối hợp với lực lượng công an giữ vững an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội trên từng địa bàn và cả nước.

Thường xuyên nghiên cứu, nắm chắc tình hình, nâng cao chất lượng dự báo chiến lược, thực hiện tốt chức năng tham mưu với Đảng, Nhà nước về quân sự, quốc phòng, bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới.

 


Đây là nội dung quan trọng trong thực hiện nhiệm vụ quân sự, quốc phòng, bảo vệ Tổ quốc, nhất là trong bối cảnh nước ta đang hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng. Quân đội nhân dân phải thường xuyên quán triệt, thực hiện nghiêm túc, có hiệu quả các quan điểm, phương châm chỉ đạo của Đảng về quốc phòng, bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới, nhất là những nội dung Nghị quyết Trung ương 8, khóa XIII (Nghị quyết số 44) về Chiến lược bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới. Chủ động làm tốt công tác nghiên cứu, đánh giá, dự báo tình hình, làm cơ sở để tham mưu với Đảng, Nhà nước hoạch định đường lối quân sự, quốc phòng đúng đắn, khoa học, có đối sách phù hợp, kịp thời xử lý kiên quyết, thắng lợi các tình huống về quốc phòng, an ninh, đối ngoại, không để Tổ quốc bị động, bất ngờ về chiến lược. Các cơ quan, đơn vị, nhất là cơ quan chiến lược của Bộ Quốc phòng phải thường xuyên phối hợp chặt chẽ với các ban, bộ, ngành có liên quan, nhất là Bộ Công an, Bộ Ngoại giao để chia sẻ thông tin, thực hiện tốt công tác nghiên cứu, dự báo chiến lược. Tiếp tục nâng cao chất lượng nghiên cứu, dự báo và tham mưu chiến lược quốc phòng đến năm 2030 và những năm tiếp theo; nắm vững những nội dung cơ bản của các chiến lược, đề án về quốc phòng, an ninh; tích cực nghiên cứu, dự báo, đánh giá đúng tình hình trong nước, khu vực và thế giới, các tình huống quốc phòng, những vấn đề phức tạp nảy sinh cùng động thái của các nước liên quan đến quốc phòng, an ninh, đối ngoại của đất nước.

Bảo đảm khách quan, khoa học, toàn diện, có trọng tâm, trọng điểm trong nghiên cứu, dự báo chiến lược; phối hợp chặt chẽ giữa các lực lượng, vận dụng đan xen, tổng hợp trên tất cả các ngành, lĩnh vực có liên quan; coi trọng việc dự báo, tham mưu về các đối sách chiến lược, kịp thời giải quyết tốt các mối quan hệ quốc tế nhằm bảo vệ lợi ích quốc gia - dân tộc, giữ vững độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc. Trên cơ sở đó, có kế hoạch, phương án ngăn ngừa các nguy cơ chiến tranh, xung đột từ sớm, từ xa; chủ động phòng ngừa, phát hiện sớm và triệt tiêu các nhân tố bất lợi bên trong, bảo đảm chủ động trong mọi tình huống.

Phân biệt rõ mặt tư tưởng và mặt chính trị của tôn giáo; không hành chính, mệnh lệnh trong giải quyết vấn đề tôn giáo.

 


Phân biệt rõ mặt tư tưởng và mặt chính trị của tôn giáo; không hành chính, mệnh lệnh trong giải quyết vấn đề tôn giáo. Nguyên tắc này trực tiếp chỉ đạo, định hướng phương pháp đấu tranh, đảm bảo phương pháp đấu tranh đúng và hiệu quả với các vấn đề tôn giáo. Thực chất của việc phân biệt mặt chính trị và mặt tư tưởng trong tôn giáo là phân biệt hai mâu thuẫn tồn tại trong bản thân tôn giáo là mâu thuẫn chính trị và mâu thuẫn nhận thức. Mâu thuẫn chính trị là mâu thuẫn đối kháng, phản ánh lợi ích giữa giai cấp, dân tộc, quần chúng nhân dân với những kẻ lợi dụng tôn giáo vì mục đích phản động, biểu hiện ở việc một số phần tử phản động đội lốt tôn giáo chống lại sự nghiệp cách mạng. Mâu thuẫn nhận thức là mâu thuẫn không đối kháng, phản ánh mâu thuẫn nội bộ giữa người có đạo và người không có đạo, giữa những người theo các tín ngưỡng tôn giáo khác nhau, nó được thể hiện ở tín ngưỡng, tôn giáo của con người.

Với mâu thuẫn chính trị (mặt chính trị) phải bằng biện pháp tổng hợp: Giáo dục, thuyết phục, hành chính, mệnh lệnh, cưỡng chế, thậm chí cả bạo lực khi việc lợi dụng tôn giáo vì mục đích chính trị rõ phản động. Với mâu thuẫn nhận thức (mặt tư tưởng) phải kiên trì, lâu dài, gắn với quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội, nâng cao đời sống vật chất, tinh thần cho đồng bào có tín ngưỡng.

 

 

          

           

 

 

Giữ vững nguyên tắc trong giải quyết điểm “nóng” chống địch lợi dụng chống phá cách mạng

 


Trong giải quyết “điểm nóng” về dân tộc, tôn giáo không đẩy họ về phía đối lập với Nhà nước, tôn trọng quyền bình đẳng dân tộc, quyền tự do tôn giáo. Đây là nguyên tắc quan trọng, đảm bảo cho các chủ thể đấu tranh phát huy được sức mạnh của quần chúng, không để các thế lực thù địch lợi dụng lôi kéo, kích động quần chúng, làm tình hình phức tạp thêm, qua đó tạo cớ can thiệp, xây dựng lực lượng và “ngọn cờ” chống phá. Đồng bào dân tộc, tôn giáo là một bộ phận quan trọng không thể thiếu trong khối đại đoàn kết dân tộc ở nước ta. Đồng bào dân tộc, tôn giáo là một bộ phận quần chúng nhân dân, là lực lượng, nguồn lực quan trọng đã và đang đóng góp trong sự nghiệp đổi mới, phát triển đất nước. Âm mưu thâm độc và xảo quyệt của các thế lực thù địch khi lợi dụng vấn đề dân tộc, tôn giáo là kích động ly khai ở các vùng dân tộc thiểu số, chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân tộc nhằm chống phá Đảng, Nhà nước và nhân dân Việt Nam. Vì vậy, quá trình đấu tranh, các chủ thể phải thực hiện đúng nguyên tắc này trong cả nội dung và hình thức đấu tranh, đảm bảo êm, gọn, không lây lan, không tạo sự đối lập, đẩy quần chúng về phía kẻ thù, không tạo kẻ hở để địch lợi dụng. Quá trình đấu tranh, các chủ thể phải tôn trọng quyền bình đẳng dân tộc, quyền tự do tôn giáo. Nội dung, hình thức đấu tranh phải phù hợp với phong tục, tập quán, văn hóa, truyền thống của đồng bào dân tộc thiểu số, phù hợp với giáo lý, giáo luật của các tôn giáo.

Kết hợp chặt chẽ giữa “phòng” và “chống”, lấy chủ động phòng ngừa là chính trong chống địch lợi dụng chống phá cách mạng.

 


Kết hợp chặt chẽ giữa “phòng” và “chống”, lấy chủ động phòng ngừa là chính. Nguyên tắc này chỉ rõ mối quan hệ giữa nhiệm vụ phòngchống”, đồng thời khẳng định phương châm trong đấu tranh phòng, chống các thế lực thù địch lợi dụng vấn đề dân tộc, tôn giáo chống phá cách mạng. “Phòng” và “chống” là hai vấn đề có mối quan hệ chặt chẽ với nhau, cùng chung mục đích, khi đã gắng sức “phòng” mà vẫn xảy ra thì kiên quyết “chống”, dập tắt, không để lan rộng, kéo dài. Nếu “phòng” không tốt, có nhiều yếu kém, địch sẽ lợi dụng sơ hở, xâm nhập móc nối vào nội bộ, xây dựng được lực lượng phản động, sẽ trực tiếp gây khó khăn cho chống. Ngược lại, khi thực hiện “chống” không hiệu quả thì làm cho việc phòng ngừa ở địa phương gặp rất nhiều khó khăn. Bởi vậy, phòng, chống tốt sẽ làm cho ta chủ động tiến công địch, thực hiện từ trong đánh ra, ngoài đánh vào, đập tan hoạt động lợi dụng tôn giáo chống phá cách mạng. Trong kết hợp giữa “phòng” và “chống”, phải lấy chủ động phòng ngừa là chính. Theo đó, phải chủ động ngăn ngừa, lấy giáo dục thuyết phục, vận động là chính, lấy giữ vững sự ổn định chính trị, lợi ích quốc gia dân tộc làm điểm tương đồng để đoàn kết dân tộc, tập hợp các lực lượng cho cuộc đấu tranh này.