Thứ Ba, 5 tháng 11, 2024

PHẢN BÁC, PHÊ PHÁN QUAN ĐIỂM SAI TRÁI VÀ NHẬN THỨC LỆCH LẠC VỀ NGUYÊN TẮC TỰ PHÊ BÌNH VÀ PHÊ BÌNH

 

Tự phê bình và phê bình là một trong những nguyên tắc tổ chức, hoạt động và là quy luật tồn tại, phát triển của Đảng. Các thế lực thù địch luôn xuyên tạc, phủ nhận nguyên tắc này. Hơn nữa, khi một số cấp ủy, tổ chức đảng thực hiện không nghiêm, hiệu quả thấp thì ngay trong nội bộ Đảng cũng xuất hiện những nhận thức lệch lạc về nguyên tắc này. Nhận diện đầy đủ để đấu tranh phản bác, phê phán, góp phần nâng cao chất lượng, hiệu quả nguyên tắc tự phê bình và phê bình là nhiệm vụ quan trọng hiện nay.

Những thành tựu to lớn có ý nghĩa lịch sử của cách mạng Việt Nam từ khi Đảng ra đời đến nay đã khẳng định vai trò quyết định của công tác xây dựng Đảng, trong đó “Sự chặt chẽ về nguyên tắc là vấn đề sống còn của Đảng và bảo đảm quan trọng nhất cho sức sống, sự trong sạch và vững mạnh của Đảng”. Điều lệ Đảng đã xác định tự phê bình và phê bình trong Đảng là một trong 5 nguyên tắc tổ chức và hoạt động của Đảng.

Nghị quyết Trung ương 4 các khoá XI, XII và XIII đều xác định 3 nhiệm vụ cấp bách về xây dựng Đảng để tập trung những giải pháp khắc phục, trong đó, sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hoá” trong nội bộ là vấn đề cấp bách nhất. Giải pháp đầu tiên được xác định và quán triệt trong cả 3 nghị quyết nêu trên đều nhấn mạnh nhiệm vụ tự phê bình và phê bình.

Trên thực tế, công tác tự phê bình và phê bình trong Đảng được chú trọng, thực hiện nghiêm túc, bài bản, nền nếp, đem lại những kết quả quan trọng trong công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng, góp phần khắc phục được những khuyết điểm trong mỗi tổ chức đảng và đội ngũ cán bộ, đảng viên. Tuy nhiên, vẫn còn không ít nơi thực hiện hình thức, đối phó, hiệu quả thấp, từ đó, các thế lực thù địch luôn tìm cách xuyên tạc, hạ thấp, phủ nhận vai trò của nguyên tắc này; đồng thời xuất hiện những khuynh hướng tư tưởng lệch lạc ngay trong cấp uỷ, tổ chức đảng, đảng viên. Cụ thể là:

Thứ nhất, thiếu tin tưởng vào tác dụng của nguyên tắc tự phê bình và phê bình.

Ở một số cấp uỷ, tổ chức đảng, đảng viên, nhất là người đứng đầu độc đoán, gia trưởng, thích xu nịnh, ít lắng nghe phê bình, thậm chí ngấm ngầm trả thù người phê bình mình, làm cho cấp uỷ, tổ chức đảng mất dân chủ, tự phê bình và phê bình trở thành hình thức.

Ở những cấp uỷ, tổ chức đảng mắc khuyết điểm kéo dài trong thực hiện nguyên tắc làm cho đảng viên cả cũ và mới thực hiện đối phó, chiếu lệ, hiệu quả thấp, hậu quả là thiếu tin tưởng vào tác dụng của nguyên tắc tự phê bình và phê bình, nội bộ “đoàn kết xuôi chiều” (thực chất là mất đoàn kết). Đây là tình trạng khá phổ biến ở những cấp uỷ, tổ chức đảng, đảng viên, nhất là người đứng đầu bị kỷ luật vì khuyết điểm nhỏ tích tụ thành khuyết điểm lớn do không được nhắc nhở, không được phê bình để sửa chữa, khắc phục kịp thời. Từ đó xuất hiện tư tưởng cho rằng nguyên tắc này thiếu tính khả thi, không có tác dụng cho dù hằng tháng, hằng năm hay mỗi nhiệm kỳ đại hội đều thực hiện nhưng chỉ là đối phó, để báo cấp cấp trên.

Thứ hai, thiếu trung thực trong tự phê bình.

Mặc dù nguyên tắc tự phê bình và phê bình được thực hiện thường xuyên với nhiều hình thức khác nhau, nhất là dịp sinh hoạt thường kỳ của cấp uỷ, tổ chức đảng nhưng không ít tổ chức đảng coi nhẹ, làm qua loa, cốt cho xong. Không ít cấp uỷ, tổ chức đảng, đảng viên thiếu trung thực trong tự phê bình và phê bình đã được cấp uỷ cấp trên gợi ý kiểm điểm qua mỗi dịp kiểm điểm hằng năm hoặc khi thực hiện chủ trương lớn của Đảng về tự phê bình và phê bình như thực hiện Cuộc vận động xây dựng, chỉnh đốn Đảng hay các nghị quyết Trung ương về xây dựng, chỉnh đốn Đảng. Nghị quyết Hội nghị Trung ương 4 khóa XII chỉ rõ: “tự phê bình và phê bình nhiều nơi mang tính hình thức; vẫn còn tình trạng nể nang, né tránh, ngại va chạm; một số cán bộ, đảng viên thiếu tự giác nhận khuyết điểm và trách nhiệm của mình trong công việc được giao”.

Không thể phủ nhận thực trạng một bộ phận đảng viên thiếu tự giác nhận khuyết điểm và trách nhiệm của mình trong công việc được giao khi chưa có ai biết hoặc có biết nhưng không dám dấu tranh, phê bình. Đây cũng là cái cớ để các thể lực thù địch khoét sâu, thổi phồng khuyết điểm, chỉ khai thác những mặt trái và rồi đi đến “kết luận” rằng: không có ai tự “vạch áo cho người xem lưng”, ngay cả khi có chứng cứ rõ ràng mà họ vẫn còn chối bằng được thì không thể có chuyện “thật thà nhận khuyết điểm”; hoặc, nếu có người “thật thà nhận khuyết điểm” thì cũng chỉ là khuyết điểm lặt vặt, không quan trọng, nhận cho có khuyết điểm và nếu có nhận khuyết điểm đó thì cũng “chẳng chết ai”, “tự phê bình và phê bình thời nay hết tác dụng”(!). Điều đó càng làm cho không ít cấp uỷ, tổ chức đảng, đảng viên thiếu tin tưởng vào tác dụng của nguyên tắc này, không tự giác, không thật thà nhận khuyết điểm ngay cả khi mắc khuyết điểm cần phải sửa chữa.

Thứ ba, thiếu bản lĩnh trong phê bình.

Phê bình khuyết điểm của người khác là một việc khó, nhất là phê bình đồng chí nhưng lại là cấp trên trực tiếp quản lý mình thì càng khó hơn. Tư tưởng “mũ ni che tai”, “ta không đụng đến mi thì mi cũng không đụng đến ta”, né tránh, ngại va chạm nên không dám phê bình người khác, nhất là đối với cấp trên diễn ra ở không ít cấp uỷ, tổ chức đảng hiện nay. Ngay cả trước những dấu hiệu sai trái nhưng cũng không dám thẳng thắn đấu tranh, không dám thực hiện quyền bảo lưu ý kiến theo quy định của Điều lệ Đảng vì sợ bị coi là chống đối tập thể, không ủng hộ người đứng đầu, thậm chí bị quy chụp là có “dấu hiệu mất đoàn kết” nội bộ(!). Nhiều tập thể cấp uỷ, ban thường vụ bị xử lý kỷ luật thời gian qua đều có lý do này. Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng đánh giá: “có nơi còn buông lỏng sinh hoạt đảng, chất lượng sinh hoạt chưa cao, sinh hoạt chi bộ ở nhiều nơi vẫn còn hình thức; tính chiến đấu trong tự phê bình và phê bình còn yếu”.

Viện dẫn vào những hạn chế trong tiến hành tự phê bình và phê bình ở một số cấp ủy, tổ chức đảng; các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị ra sức rêu rao rằng: tự phê bình và phê bình trong Đảng không có tác dụng, trái lại còn nuôi dưỡng tư tưởng xu nịnh nhau, nhất là nịnh cấp trên(!). Thực chất đây là những luận điệu có ý đồ chính trị xấu, hoặc chí ít cũng là không đúng tầm, không đầy đủ, không chính xác, “chỉ thấy cây mà không thấy rừng”, xem xét, đánh giá, nhận định phiến diện, cố tình xuyên tạc, phủ nhận mục đích, bản chất nguyên tắc và hoạt động tự phê bình và phê bình của Đảng ta.

Thứ tư, thiếu tin tưởng vào cơ chế bảo vệ người phê bình.

Mặc dù Đảng đã ban hành các quy định nhằm bảo vệ người đấu tranh phê bình, thậm chí tố cáo những vi phạm của tổ chức đảng, đảng viên, nhưng trên thực tế vẫn có rất ít trường hợp được bảo vệ hiệu lực và hiệu quả. Do vị trí công tác, cơ quan, đơn vị, địa phương nơi công tác gắn bó với cấp uỷ, tổ chức đảng nơi sinh hoạt mà đảng viên đó bị chi phối, ngại đấu tranh bảo vệ chân lý, lẽ phải, quy định của Đảng và pháp luật của Nhà nước. Nếu phải chuyển công tác đi nơi khác thì cũng khó có nơi nào chấp nhận người “chuyên đấu đá”, đã “gây mất đoàn kết” ở nơi họ công tác. Vậy nên tư tưởng “đấu tranh, tránh đâu?”, “được vạ, má sưng” vẫn còn, cơ chế bảo vệ người đấu tranh phê bình khó khả thi. Do đó, hiện tượng tố cáo giấu tên, nặc danh hay gửi thông tin cho các cơ quan kiểm tra đảng, thanh tra nhà nước, báo chí của đảng viên trong nội bộ cấp uỷ, tổ chức đảng khi người có sai phạm khi đương chức, đã chuyển công tác hay đã nghỉ hưu, thậm chí lên chức cao hơn rồi mới bị phát hiện xử lý, làm giảm lòng tin của đảng viên và nhân dân đối với tính khả thi của nguyên tắc tự phê bình và phê bình./.

St

Đấu tranh phòng, chống “diễn biến hòa bình” trên lĩnh vực chính trị tư tưởng trong quân đội hiện nay

 (ĐCSVN) - Để thực hiện âm mưu “diễn biến hòa bình”, các thế lực thù địch triệt

để sử dụng những thủ đoạn tinh vi, thâm độc nhằm mưu toan xóa bỏ chủ nghĩa

Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối, quan điểm của Đảng, làm tan rã

niềm tin, gây hoang mang về lý luận, tư tưởng, tạo ra những khoảng trống để

đưa hệ tư tưởng tư sản thâm nhập vào cán bộ, đảng viên trong quân đội, tiến tới

chuyển hóa, xóa bỏ hệ tư tưởng xã hội chủ nghĩa.

Do vậy, nhận rõ âm mưu, thủ đoạn thâm độc của các thế lực thù địch để có phương sách

đấu tranh phù hợp, hiệu quả là rất cần thiết.

Đấu tranh phòng, chống diễn biến hòa bình trên lĩnh vực chính trị - tư tưởng trong quân đội

là cuộc đấu tranh cam go, phức tạp, quyết liệt và lâu dài. Đây là hoạt động có mục đích, có

tổ chức chặt chẽ trong việc sử dụng các hình thức, biện pháp công tác tư tưởng, công tác

tổ chức, công tác chính sách kết hợp với các biện pháp khác dưới sự lãnh đạo của cấp ủy,

tổ chức đảng, sự chỉ đạo, hướng dẫn của tổ chức chỉ huy, cơ quan chính trị và cán bộ

chính trị, sự tham gia của các tổ chức quần chúng, hội đồng quân nhân và mọi cán bộ,

chiến sĩ, công nhân viên quốc phòng để chủ động đấu tranh chống lại các thủ đoạn, hoạt

động phá hoại quân đội ta về chính trị tư tưởng của các thế lực thù địch.

Để góp phần nâng cao hiệu quả đấu tranh phòng, chống “diễn biến hòa bình” trên lĩnh vực

chính trị tư tưởng trong quân đội hiện nay cần thực hiện tốt các giải pháp chủ yếu sau:

Một là, đẩy mạnh công tác giáo dục chính trị tư tưởng, nâng cao nhận thức trách nhiệm, ý

thức cảnh giác trong chống âm mưu, thủ đoạn “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch

trên lĩnh vực chính trị tư tưởng đối với quân đội ta. Theo đó, nội dung giáo dục chính trị tư

tưởng trong quân đội cần tập trung giáo dục chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh,

đường lối, quan điểm của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, nhiệm vụ quân đội,

giáo dục xây dựng tinh thần làm chủ, ý thức kỷ luật, tự giác nghiêm minh của “Bộ đội Cụ

Hồ”, giáo dục nâng cao tinh thần, thái độ văn hóa, khoa học kỹ thuật quân sự, nghiệp vụ

chăm lo đời sống văn hóa tinh thần cho bộ đội, tẩy trừ văn hóa xấu độc, phản động, nâng

cao ý thức cảnh giác cách mạng, nhận rõ bản chất, âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù

địch, xây dựng ý chí chiến đấu, quyết tâm làm thất bại mọi âm mưu chống phá quân đội ta

trên lĩnh vực chính trị tư tưởng.

Hai là, xây dựng tổ chức đảng trong sạch vững mạnh gắn với xây dựng đơn vị vững mạnh

toàn diện, bảo đảm thật sự là pháo đài vững chắc chống sự xâm nhập phá hoại của các

thế lực thù địch trên lĩnh vực chính trị tư tưởng trong quân đội. Thường xuyên quan tâm

chăm lo xây dựng tổ chức đảng trong sạch vững mạnh về chính trị, tư tưởng, tổ chức và


đạo đức; nâng cao trình độ, kiến thức, năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của tổ chức

đảng và đội ngũ cán bộ đảng viên. Nâng cao khả năng quán triệt đường lối, quan điểm của

Đảng, các nghị quyết, chỉ thị của Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư, Quân ủy Trung

ương để đề ra nghị quyết lãnh đạo sát đúng. Phát hiện và giải quyết kịp thời, có hiệu quả

những vấn đề do thực tiễn đặt ra. Tổ chức thực hiện thắng lợi nghị quyết, bảo đảm sự

thống nhất giữa lời nói và việc làm, giữa nghị quyết và việc thực hiện.

Tập trung xây dựng cấp ủy, chi bộ, đội ngũ cán bộ, đảng viên vững mạnh toàn diện; trong

đó, đặc biệt coi trọng xây dựng đội ngũ cán bộ chủ trì. Cấp ủy, tổ chức đảng các cấp cần

thường xuyên nghiên cứu nắm chắc Điều lệ Đảng, các nghị quyết của Đại hội Đảng, Ban

Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Quân ủy Trung ương về công tác xây dựng Đảng và

tình hình mọi mặt của Đảng bộ, chi bộ để xác định nhiệm vụ, nội dung lãnh đạo sát đúng

nhằm lãnh đạo đơn vị hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ chính trị, xây dựng đơn vị vững mạnh

toàn diện. Đồng thời, đánh giá đúng tình hình số lượng, chất lượng cấp ủy, chi bộ và đội

ngũ cán bộ, đảng viên; tình hình chấp hành đường lối, quan điểm của Đảng; quy chế, quy

định thực hiện nhiệm vụ chính trị của đơn vị; mối quan hệ giữa tổ chức đảng, cán bộ, đảng

viên với quần chúng.

Ba là, chủ động tổ chức đấu tranh phòng, chống các hoạt động phá hoại về chính trị tư

tưởng, tổ chức của các thế lực thù địch, bảo vệ vững chắc trận địa tư tưởng ở các đơn vị

trong toàn quân. Trong các hoạt động phá hoại về chính trị tư tưởng đối với quân đội ta,

các thế lực thù địch thực hiện nhất quán mục tiêu xóa bỏ nền tảng tư tưởng chủ nghĩa Mác

- Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh trong đời sống tinh thần quân đội; vô hiệu hóa vai trò lãnh

đạo của các tổ chức đảng trong quân đội, thực hiện “phi chính trị hóa” quân đội ta; phá hoại

mối quan hệ máu thịt giữa quân đội với nhân dân và các tổ chức trong hệ thống chính trị

đất nước; truyền bá, gieo cấy đạo đức, lối sống tư sản vào trong quân đội, nhằm làm cho

cán bộ chiến sĩ, công nhân viên chức quốc phòng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức,

lối sống, xa rời những giá trị truyền thống tốt đẹp và phẩm chất “Bộ đội Cụ Hồ”, gây “tự

chuyển hóa”, “tự diễn biến” trong nội bộ. Vì thế, cấp ủy, tổ chức đảng, tổ chức chỉ huy, các

tổ chức quần chúng và mỗi quân nhân phải nêu cao trách nhiệm của mình trong cuộc đấu

tranh này; tăng cường quản lý nội bộ, không để nảy sinh các khuynh hướng, quan điểm sai

trái để kẻ địch lợi dụng; có biện pháp kiểm soát, ngăn chặn việc phát tán các tài liệu ngoài

luồng vào đơn vị.

Bốn là, tăng cường công tác bảo vệ chính trị nội bộ ở các đơn vị trong quân đội. Chăm lo

xây dựng nội bộ quân đội thực sự trong sạch vững mạnh, tạo sức “đề kháng”, “miễn dịch”

cho mọi cán bộ, chiến sĩ, công nhân viên chức quốc phòng về khả năng tự nhận biết và có

ý thức, trách nhiệm cao trong việc đấu tranh chống các thủ đoạn phá hoại về chính trị tư

tưởng của các thế lực thù địch hiện nay. Thực tế cho thấy, cùng với thủ đoạn tuyên truyền

xuyên tạc, lừa mị, kích động, chiến tranh tâm lý, các thế lực thù địch rất chú trọng các hoạt

động ngầm, tổ chức các hoạt động tình báo, gián điệp, sử dụng những phần tử cơ hội về

chính trị, bất mãn thù địch với chế độ ta cài cắm vào trong quân đội nhằm phá hoại ta từ

bên trong. Do đó, công tác bảo vệ chính trị nội bộ phải được đặc biệt coi trọng, được triển

khai đồng bộ từ cơ quan đến toàn quân theo phương châm “giữ vững bên trong”, làm cho

nội bộ thực sự trong sạch vững mạnh, không để địch lôi kéo, chia rẽ, lũng đoạn chống phá

từ bên trong.


Năm là, chăm lo xây dựng môi trường văn hóa trong sạch, lành mạnh ở các đơn vị trong

toàn quân. Tập trung giáo dục, bồi dưỡng, rèn luyện cho mọi cán bộ, chiến sĩ, công nhân

viên chức quốc phòng có lập trường chính trị, tư tưởng, phẩm chất chính trị, đạo đức lối

sống trong sạch lành mạnh, phù hợp với các chuẩn mực văn hóa, đạo đức của “Bộ đội Cụ

Hồ”. Quan tâm chăm lo xây dựng, củng cố, ổn định và nâng cao chất lượng cơ sở vật chất

của hệ thống thiết chế văn hóa. Duy trì các hoạt động văn hóa, văn nghệ quần chúng có

nền nếp, hiệu quả thiết thực. Kiên quyết ngăn chặn, loại bỏ các tệ nạn xã hội và các hành

vi tiêu cực trong từng đơn vị./.

Nhận diện âm mưu, thủ đoạn chiến tranh tâm lý thời kỳ mới


Trong thời bình hiện nay, các thế lực thù địch, phản động tiếp tục sử dụng chiến tranh

tâm lý với phương thức và thủ đoạn được “nâng cấp”, trong đó tích cực lợi dụng công

nghệ thông tin, truyền thông hiện đại nhằm xuyên tạc, phủ nhận vai trò lãnh đạo của

Đảng, chống phá sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Vì vậy, nhận diện, đấu tranh với

thủ đoạn chiến tranh tâm lý của các thế lực thù địch là việc làm rất cần thiết.

Sự nguy hại từ âm mưu, thủ đoạn chiến tranh tâm lý

Chiến tranh tâm lý là các hoạt động phá hoại tâm lý của đối phương; các thủ đoạn của

đấu tranh tư tưởng tác động vào tâm lý con người, xã hội của đối phương, nhằm tạo ra

những xung đột tư tưởng, lý tưởng, niềm tin, lợi ích và quyền lợi chính trị, kinh tế, xã

hội, giá trị văn hóa... Từ đó gây ra mất đoàn kết, khủng hoảng và xung đột nội bộ, suy

giảm tinh thần chiến đấu, dẫn đến phe cánh, bè phái, nội chiến rồi tự suy sụp, tan rã.

Trong thời bình, các thế lực thù địch thường coi chiến tranh tâm lý là “vũ khí chiến lược”

hòng làm thay đổi sắc thái hòa bình, khiến cho hòa bình chính trị mất đi tính chất yên ổn,

từ đó thừa cơ thực hiện tham vọng đen tối. Lợi dụng sự phát triển của khoa học-công

nghệ, nhất là công nghệ thông tin, chiến tranh tâm lý trong thời bình mang những màu

sắc tinh vi, khó nhận diện cho đến khi nó xuất hiện trên cả không gian thực và không gian

ảo. Do đó, nguy cơ tác động từ chiến tranh tâm lý của các thế lực thù địch đến tư tưởng,

tâm lý con người là rất khó kiểm soát.

Công cụ, lực lượng trực tiếp và chủ yếu tiến hành chiến tranh tâm lý là các cơ quan tình

báo, các trung tâm truyền thông đại chúng, tổ chức phi chính phủ của một số quốc gia.

Ngoài ra, cũng có một số người Việt Nam lưu vong cũng tham gia hành động này. Hoạt

động tuyên truyền chiến tranh tâm lý đối với các tầng lớp nhân dân thông qua việc

chuyển và tán phát tài liệu chống đối trong nước; tác động, lôi kéo phát triển lực lượng

nội địa, xâm nhập vào hệ thống chính trị của ta. Theo thống kê của cơ quan chức năng,

mỗi năm ta đã phát hiện hàng nghìn tài liệu có nội dung chiến tranh tâm lý, tài liệu tuyên

truyền chống Đảng, Nhà nước được tán phát vào Việt Nam.


Các đối tượng còn lập ra và sử dụng các đài phát thanh và truyền hình, các báo, tạp chí

điện tử có trụ sở ở nước ngoài để tuyên truyền chiến tranh tâm lý. Họ thường xuyện lợi

dụng các phương tiện truyền thông này để đưa nhiều nội dung thông tin xuyên tạc về tình

hình kinh tế, chính trị, xã hội trong nước hòng gây bất lợi đối với sự nghiệp xây dựng và

bảo vệ Tổ quốc của Việt Nam. Thi thoảng họ phát động những chiến dịch nhằm thổi


phồng những khó khăn phức tạp trong xã hội; xuyên tạc tình hình đất nước, lợi dụng tình

trạng suy thoái về chính trị, tư tưởng, đạo đức, lối sống của một bộ phận cán bộ, đảng

viên để kích động tâm lý bất bình, bất mãn trong xã hội hòng lôi kéo quần chúng nhân

dân vào các hoạt động chống đối Đảng, Nhà nước ta.

Tạo sức mạnh tổng hợp trong cuộc đấu tranh

Phòng, chống chiến tranh tâm lý của các thế lực thù địch là vấn đề khó khăn, phức tạp.

Trên thực tế hiện nay, còn không ít người đang mơ hồ về chiến tranh tâm lý. Một bộ phận

người dân do nhận thức hạn chế nên không nhận diện được các thủ đoạn chiến tranh tâm

lý; thậm chí một số cán bộ, đảng viên, trong đó có cả những người đã được rèn luyện, thử

thách qua các thời kỳ cách mạng, song do chủ quan, mất cảnh giác trong nhận thức nên

đã “sập bẫy” chiến tranh tâm lý và vô hình trung trở thành người cổ xúy cho các thế lực

chống phá Đảng, Nhà nước.

Do vậy, để các tầng lớp nhân dân có nhận thức tốt hơn về chiến tranh tâm lý của các thế

lực thù địch, các cấp, các ngành, các địa phương, cơ sở phải chủ động tuyên truyền, trang

bị cho cán bộ, đảng viên, nhân dân những hiểu biết cơ bản về phương thức, thủ đoạn, kỹ

thuật tiến hành chiến tranh tâm lý của các thế lực thù địch. Đây là cơ sở, yêu cầu hàng

đầu nhằm góp phần làm thất bại âm mưu, thủ đoạn chiến tranh tâm lý của các thế lực thù

địch.

Cần phải đa dạng hóa hoạt động đấu tranh theo hướng thiết lập và sử dụng các trang

thông tin chính thống, website, mạng xã hội, diễn đàn để đăng tải những bài viết tuyên

truyền về quan điểm chính thống, định hướng dư luận, đồng thời đấu tranh phản bác các

thông tin chiến tranh tâm lý nguy hại của các thế lực thù địch. Xây dựng và mở rộng đội

ngũ cộng tác viên đưa tin, viết bài, bình luận; nâng cao chất lượng các bài viết đấu tranh

phản bác với luận cứ khoa học, có tính thuyết phục cao. Kết hợp chặt chẽ các biện pháp

đấu tranh trực tiếp và gián tiếp; giữa xây và chống, trong đó lấy xây là chính; chủ động

phối hợp với các cơ quan báo chí, truyền thông của Đảng, Nhà nước để đấu tranh, ngăn

chặn kịp thời, hiệu quả.

Chủ động cung cấp thông tin, định hướng tư tưởng trong mặt trận đấu tranh tâm lý. Với

phương châm chỉ đạo công tác tư tưởng phải đi trước, đón đầu, không để “khoảng trống”

thông tin để các thế lực thù địch lợi dụng, xuyên tạc chống phá Đảng và Nhà nước, các

cơ quan chức năng cần quan tâm nghiên cứu biên soạn các tài liệu chuyên khảo, tham

khảo để phục vụ công tác tuyên truyền, giáo dục nâng cao nhận thức, kỹ năng đấu tranh

cho các lực lượng. Việc chậm trễ cung cấp thông tin và sự thiếu chủ động trong việc định

hướng dư luận chính là tự tạo ra "khoảng trống" thông tin, là mầm mống nảy sinh những

biểu hiện bất lợi về tâm lý, tư tưởng trong xã hội; ở mức độ đơn giản là nảy sinh những

đồn đoán tùy tiện, ảnh hưởng đến kinh tế, xã hội, làm giảm lòng tin của nhân dân vào sự

lãnh đạo, chỉ đạo của Đảng, Nhà nước và hệ thống chính trị các cấp.


Thực hiện tốt một số nội dung chủ yếu nêu trên chắc chắn sẽ tạo ra hiệu quả trong phòng,

chống, làm thất bại âm mưu, thủ đoạn chiến tranh tâm lý của các thế lực thù địch, phản

động hiện nay.

Nhận diện chiến lược “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù trong thời kỳ mới

 Chống phá cách mạng Việt Nam trong bối cảnh toàn cầu hóa, hội

nhập quốc tế sâu rộng hiện nay, các thế lực thù địch có sự điều chỉnh

về thủ đoạn “diễn biến hòa bình” rất nguy hiểm. Vì vậy, chúng ta phải

luôn tỉnh táo, nhận diện đúng, xem xét, phân tích, để vạch trần bản

chất và có biện pháp phòng, chống hiệu quả. Tuyệt đối không được lơ

là, chủ quan, mất cảnh giác, dẫn tới bị động, lúng túng trong cuộc

chiến “không khói súng” nhưng đầy cam go, quyết liệt này.

Trong tình hình mới, đấu tranh chống "diễn biến hòa bình" luôn nhiệm

vụ cấp bách, cần làm ngay và thường xuyên của toàn Đảng, toàn dân,

toàn quân ta để bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.

Trong đó, năm 1994 Đảng xác định âm mưu “diễn biến hòa bình” của

các thế lực thù địch là “4 nguy cơ trước mắt” của Đảng. Tới nay, cùng

với các nguy cơ đã được Đảng chỉ ra, nguy cơ âm mưu “diễn biến hòa

bình” vẫn đang tồn tại, thậm chí có phần gay gắt, phức tạp hơn.

Đáng chú ý, thời gian gần đây các thế lực thù địch đẩy mạnh chiến

lược “diễn biến hòa bình” với cấp độ ngày càng gay gắt, quyết liệt,

hòng làm gây hỗn loạn về tư tưởng, tạo ra “những khoảng trống” để

nhằm mục đích xóa bỏ hệ tư tưởng xã hội chủ nghĩa. Các thế lực thù

địch tập trung lợi dụng triệt để sử dụng Internet, các trang mạng xã

hội, để truyền bá các quan điểm sai trái, tung tin xuyên tạc đường lối

của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; vu cáo, bịa đặt, bôi

nhọ hình ảnh các đồng chí lãnh đạo cấp cao nhằm chia rẽ khối đại

đoàn kết toàn dân tộc, làm giảm niềm tin của  Nhân dân với Đảng,

Nhà nước.

Âm mưu, thủ đoạn của thế lực thù địch không mới nhưng được

đẩy mạnh và điều chỉnh

Khái niệm “Diễn biến hòa bình” không mới và cũng không lạ đối với

mọi người. Người ta biết đến cụm từ này từ thập niên 20 của thế kỷ

XX, khi chủ nghĩa đế quốc sử dụng “Diễn biến hòa bình” để chống


phá các nước đối địch, nhất là nước Nga - Nhà nước Xô-viết công

nông đầu tiên trên thế giới vừa ra đời từ sau Cách mạng Tháng Mười

vĩ đại.

Và hiện nay, “Diễn biến hòa bình” có nhiều cách gọi khác nhau, đó là

“chuyển hóa hòa bình”, “biến đổi hòa bình”,“cạnh tranh hoà bình”,

“vượt trên hòa bình”, “chính sách giải phóng”, “chiến thắng không

cần chiến tranh”, “chiến tranh không có tiếng súng”, “phương pháp

phi vũ trang”… Có thể khẳng định “Diễn biến hòa bình” là cuộc chiến

tranh - cuộc đấu tranh về hệ tư tưởng, thể chế chính trị. Chiến lược

“diễn biến hòa bình” liên tục được điều chỉnh, bổ sung trở thành một

chiến lược tổng hợp, dùng biện pháp “phi vũ trang” là chủ yếu nhằm

chống phá, tiến tới lật đổ chế độ chính trị ở các nước xã hội chủ nghĩa.

Chúng ta thấy ngay từ đầu “Diễn biến hòa bình” không phải do chủ

nghĩa đế quốc phát kiến, nhưng hiện là “sản phẩm” của họ và trên cơ

sở tiếp thu tư tưởng quân sự cổ đại của nhân loại, vận dụng phù hợp

với hoàn cảnh cụ thể của từng thời điểm, từng giai đoạn, nhằm giành

thắng lợi quyết định trong “cuộc chiến” sống còn với các quốc gia

khác hệ tư tưởng, đối địch.

Mục tiêu của chiến lược “diễn biến hòa bình” là nhằm xóa bỏ chủ

nghĩa xã hội trên phạm vi toàn cầu. Để đạt được mục đích đó, các thế

lực thù địch đặt ra những mục tiêu cụ thể như: (1) Xuyên tạc, phủ

nhận chủ nghĩa Mác - Lênin, thay thế bằng hệ tư tưởng tư sản; (2) Âm

mưu thực hiện “đa nguyên chính trị”, “đa đảng đối lập” trong các

nước xã hội chủ nghĩa; (3) Gây mâu thuẫn nội bộ, phá vỡ sự đồng

thuận xã hội và khi có thời cơ thì lôi kéo, tiến hành bạo loạn chính trị;

(4) Làm suy yếu, chệch hướng phát triển của nền kinh tế, tiến tới chi

phối, lũng đoạn, khống chế kinh tế trong các nước xã hội chủ nghĩa;

(5) Chuyển hoá văn hoá, đạo đức, lối sống xã hội chủ nghĩa theo “giá

trị Mỹ”, phương Tây; (6) Thực hiện âm mưu “phi chính trị hoá” để

“vô hiệu hoá” quân đội trong các nước xã hội chủ nghĩa.

Như vậy, có thể hiểu “Diễn biến hoà bình” là chiến lược cơ bản nhằm

lật đổ chế độ chính trị của các nước tiến bộ, trước hết là các nước xã


hội chủ nghĩa từ bên trong, chủ yếu bằng các biện pháp phi quân sự do

chủ nghĩa đế quốc và các thế lực phản động, đứng đầu là Mỹ tiến

hành.

Ở Việt Nam, thực hiện âm mưu “diễn biến hòa bình” các thế lực thù

địch đặc biệt coi trọng việc phá hoại tư tưởng, coi đó là mũi nhọn, là

con đường ngắn nhất dẫn tới sự xói mòn về niềm tin của nhân dân với

Đảng, với chế độ xã hội chủ nghĩa. Bên cạnh các đặc trưng chủ yếu

như: tuyên truyền xuyên tạc nhằm phủ nhận chủ nghĩa Mác - Lênin, tư

tưởng Hồ Chí Minh; phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản

Việt Nam; đẩy mạnh hoạt động xuyên tạc lịch sử; thực hiện âm mưu

“phi chính trị hóa” quân đội và công an…

Đáng chú ý, thời gian gần đây, các thế lực thù địch tích cực đẩy mạnh

thực hiện một số thủ đoạn chống phá mới, đó là: Tìm cách đẩy nhanh

quá trình “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ, đưa ra những

luận điệu lập lờ, lẫn lộn giữa hai mặt tích cực và tiêu cực, giữa tư

tưởng xã hội chủ nghĩa và tư bản chủ nghĩa đến đảng viên và nhân

dân. Khuyến khích những quan điểm lệch lạc và những khuynh hướng

xã hội “dân chủ” kiểu Mỹ và phương Tây hòng làm cho người dân

thấy hoài nghi về “xã hội Việt Nam” và mơ tưởng về một “xã hội

khác” được cổ xúy là tốt đẹp hơn.

Các thế lực thù địch điều chỉnh thủ đoạn chống phá, bằng cách ngoài

việc công kích trực diện vào nền tảng tư tưởng, chúng tuyên truyền

kích động gây mâu thuẫn, chia rẽ trong nội bộ. Với mưu đồ gây chia

rẽ nội bộ, làm cho Đảng ta “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” từ bên

trong, chúng ra sức tuyên truyền, bịa đặt về các phe phái trong Đảng,

nhất là lợi dụng việc đấu tranh chống tham nhũng để xuyên tạc là

thanh trừng nội bộ. Chúng còn thường xuyên dựng chuyện, thổi phồng

những sai lầm, thiếu sót của một số cán bộ, đảng viên, qua đó gây

hoang mang, tạo bức xúc trong dư luận xã hội, kích động người dân

gây mất an ninh, trật tự...

Chúng còn sử dụng nhiều cách thức tác động tinh vi, xảo quyệt đối với

từng đối tượng cụ thể, trong đó đối với các tầng lớp nhân dân, chúng


lợi dụng việc tiếp cận thông tin còn hạn chế, đưa những thông tin sai

lệch, nhằm tạo khoảng trống trong tư tưởng nhân dân, làm cho nhân

dân hoài nghi, mất niềm tin với chế độ, Đảng và nhà nước, từ đó

chúng kích động các hoạt động gây mất ổn định an ninh chính trị, trật

tự an toàn xã hội, phá hoại khối đại đoàn kết toàn dân tộc.

Âm mưu, thủ đoạn của chúng còn xuyên tạc, bóp méo các sự kiện

chính trị, các vụ việc phức tạp, nhạy cảm. Lợi dụng các sự kiện chính

trị quan trọng liên quan đến các vấn đề phân định biên giới, lãnh thổ,

tranh chấp Biển Đông, ô nhiễm môi trường, hay những vấn đề liên

quan đến công tác cứu trợ bão lụt, công tác phòng chống COVID-19

lợi dụng tung tin thất thiệt trên các trang mạng xã hội gây hoang mang

trong dư luận, tạo nên sự hiểu nhầm của người dân, sự hoài nghi vào

cấp ủy, chính quyền các cấp.

Những biểu hiện trên đây tuy không hoàn toàn là những thủ đoạn mới

trong chiến lược “Diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch, nhưng

về cơ bản đó là những dấu hiệu đặc trưng, nổi bật nhất, thể hiện tính

chất tinh vi, xảo quyệt và sự nguy hiểm, thâm độc của nó đã và đang

không ngừng tăng lên. Hiện nay, các thế lực thù địch thường xuyên

thay đổi các chiến lược. Vì vậy, chúng ta phải luôn tỉnh táo, nhận diện

đúng, bình tĩnh xem xét, phân tích, để vạch trần bản chất và có biện

pháp phòng, chống hiệu quả. Tuyệt đối không được mơ hồ, mất cảnh

giác, dẫn tới bị động, lúng túng trong cuộc chiến “không khói súng”

nhưng đầy cam go, quyết liệt này.

Cuộc đấu tranh này được Đảng và nhà nước ta xác định là vẫn còn

tiếp tục. Vì thế, chúng ta cần đề cao cảnh giác, chủ động tấn công, đổi

mới tư duy, có phương thức, biện pháp thích hợp, tăng cường tuyên

truyền sâu rộng, kịp thời, chính xác các quan điểm, tư tưởng, lý luận

của Đảng, phản bác một cách mạnh mẽ, quyết liệt để kịp thời ngăn

chặn sự chống phá về tư tưởng, lý luận của các thế lực thù địch dưới

bất cứ hình thức nào.

Điều quan trọng là làm cho tư tưởng, lý luận của Đảng thấm sâu trong

mọi cán bộ, đảng viên và quần chúng nhân dân, nhất là với thế hệ trẻ


để chính họ là những chủ thể mạnh mẽ, vững chắc làm thất bại mọi

âm mưu, thủ đoạn, phương thức chống phá của các thế lực thù địch.

Nhận diện đúng và thực hiện quyết liệt, thường xuyên các giải

pháp phòng, chống “diễn biến hoà bình”

Trước những âm mưu, thủ đoạn vô cùng nguy hiểm kể trên, đòi hỏi

chúng ta phải luôn chủ động, kiên quyết trong nhận diện, đấu tranh

phòng, chống “diễn biến hoà bình”. Để đấu tranh làm thất bại chiến

lực “diễn biến hoà bình” của chủ nghĩa đế quốc, chúng ta cần triển

khai và làm tốt một số nhiệm vụ, giải pháp vừa mang tính cấp bách,

vừa thường xuyên, liên tục. Đó là:

Thứ nhất, cần xác định công tác đấu tranh phòng, chống âm mưu, thủ

đoạn chống phá của các thế lực thù địch là nhiệm vụ của cả hệ thống

chính trị dưới sự lãnh đạo trực tiếp của Đảng, phải được triển khai tích

cực, thường xuyên và lâu dài. Trong đấu tranh phải kiên quyết, linh

hoạt, chủ động, kết hợp chặt chẽ giữa “xây” và “chống”, lấy “xây” là

chính. Tuyên truyền giúp cán bộ, đảng viên và Nhân dân nâng cao

cảnh giác, tạo sức đề kháng trước những thông tin, quan điểm sai trái,

thù địch. Đồng thời, thường xuyên chỉ đạo, định hướng công tác tuyên

truyền, giáo dục cho cán bộ, đảng viên và quần chúng nhân dân, nhất

là giáo dục thế hệ trẻ nhận thức rõ về vai trò, sứ mệnh lãnh đạo của

Đảng, về mô hình chính trị mà nước ta đã kiên định. Đó là độc lập dân

tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội; xây dựng nhà nước pháp quyền xã

hội chủ nghĩa của Nhân dân, do Nhân dân, vì Nhân dân.

Thứ hai, cấp uỷ, chính quyền các cấp nhất là người đứng đầu các cơ

quan, đơn vị phải chú trọng nâng cao bản lĩnh chính trị, củng cố và

giữ vững lập trường tư tưởng, chính trị cho cán bộ, đảng viên. Bản

lĩnh chính trị của cán bộ, đảng viên là yếu tố cơ bản, then chốt tạo nên

sức mạnh chiến đấu của các đơn vị; đồng thời, giữ vai trò định hướng

thúc đẩy hành động và hành vi tích cực của cán bộ, đảng viên. Đối với

tổ chức đảng phải thường xuyên chăm lo xây dựng nội bộ trong sạch,

vững mạnh toàn diện, chủ động nắm bắt tình hình, định hướng dư luận

không để bị động, bất ngờ khi có tình huống xảy ra, coi đây là yếu tố


then chốt quyết định đến thắng lợi của nhiệm vụ phòng chống “Diễn

biến hòa bình”. Để thực hiện nhiệm vụ này, cần quán triệt và thực hiện

nghiêm các nguyên tắc của Đảng, nguyên tắc tập trung dân chủ; tập

thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách, tăng cường công tác kiểm tra, bảo

đảm cho nghị quyết của tổ chức đảng được thực hiện thắng lợi. Đồng

thời, xây dựng đội ngũ cán bộ, lãnh đạo các cấp mạnh về số lượng và

chất lượng, thể hiện ở các khâu từ lựa chọn, bồi dưỡng, sắp xếp, bố trí

đúng người, đúng việc, phát huy vai trò tổ chức thực hiện nhiệm vụ.

Đồng thời, phát huy hiệu quả vai trò của Mặt trận Tổ quốc và các tổ

chức chính trị - xã hội, trong việc phát huy dân chủ, tinh thần đoàn

kết, tính chủ động trong việc ngăn ngừa và làm thất bại mọi âm mưu,

thủ đoạn phá hoại của địch.

Có thể thấy rõ phương pháp của chiến lược “Diễn biến hòa bình” của

các thế lực thù địch là thực hiện “chiến thắng không cần chiến tranh”.

Chúng tập trung phá hoại về chính trị, tư tưởng của cán bộ, đảng viên.

Do đó,  phải nâng cao bản lĩnh chính trị cũng cố và giữ vững tư tưởng

cho mỗi cán bộ, đảng viên là tất yếu trong giai đoạn cách mạng hiện

nay. Đồng thời, kiên quyết đấu tranh bảo vệ đường lối, quan điểm của

Đảng, đấu tranh chống lại các quan điểm tư tưởng sai trái và phản

động, các biểu hiện mơ hồ, ảo tưởng, hoài nghi, dao động, lơ là mất

cảnh giác trong thực hiện nhiệm vụ.

Thứ ba, cần quán triệt sâu sắc phương châm, gắn “xây dựng với bảo

vệ”, “bảo vệ với xây dựng”; xây dựng là một nội dung của bảo vệ và

là biện pháp chống “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, “phi chính trị

hóa” quân đội hiệu quả nhất. Như đã phân tích, mục đích của các thế

lực thù địch nhằm thúc đẩy “phi chính trị hóa” quân đội, công an hòng

làm ta từ bỏ nền tảng tư tưởng của Đảng, phai nhạt bản chất giai cấp,

lý tưởng cách mạng, xa rời phương hướng chính trị, mục tiêu chiến

đấu và cuối cùng dẫn tới xa rời sự lãnh đạo của Đảng. Âm mưu của họ

rất thâm hiểm. Do đó, cần phải tập trung xây dựng lực lượng quân đội

và công an vững mạnh về chính trị trong tình hình mới. Bởi đây là lực

lượng chủ công, nòng cốt trong việc đảm bảo an ninh trật tự và an

ninh quốc gia, bảo vệ Đảng, bảo vệ chế độ và Nhân dân.


Thứ tư, xây dựng tổ chức lực lượng nòng cốt trong công tác đấu tranh

phòng chống “diễn biến hòa bình”. Lực lượng tham gia đấu tranh

chống “diễn biến hòa bình” phải được tổ chức bài bản và có các

phương án, xây dựng, bố trí lực lượng chủ công trên từng lĩnh vực tư

tưởng, chính trị, văn hóa, văn học, nghệ thuật, kết hợp giữa tin bài trên

các phương tiện thông tin đại chúng, kể cả mạng xã hội, báo cáo viên,

thông tin chuyên đề thời sự trong sinh hoạt đảng, đoàn thể. Tổ chức

các diễn đàn đối thoại, các hoạt động khoa học có tính chuyên sâu, tập

hợp được chuyên gia, trí thức, văn nghệ sỹ bàn về những vấn đề đang

được dư luận xã hội quan tâm, có liên quan đến lợi ích của đất nước,

qua đó thu hẹp khoảng cách bất đồng quan điểm, chính kiến, không để

xuất hiện các tổ chức, quan điểm chính trị đối lập.

Để thực hiện nhiệm vụ đó trước hết phải tăng cường và giữ vững sự

lãnh đạo của Đảng trong mọi tình huống; nâng cao hiệu quả và chất

lượng của công tác giáo dục, phải coi trọng đổi mới nội dung, hình

thức, phương pháp giáo dục lý luận chính trị, cung cấp kịp thời, đầy

đủ, chính xác những thông tin cho cán bộ, đảng viên và các tầng lớp

nhân dân trước những vấn đề mà dư luận, xã hội đang quan tâm,

không để các vụ việc xảy ra nội cộm, bức xúc.

Thứ năm, phát huy mạnh mẽ vai trò của báo chí, truyền thông đối với

công cuộc đấu tranh phòng, chống “Diễn biến hoà bình”. Đảm bảo

tính tư tưởng, tính chân thật, tính nhân dân, tính chiến đấu và tính định

hướng, cần phát huy vai trò của báo chí trong việc tạo dòng thông tin

chủ lưu tích cực, góp phần tăng cường sự đoàn kết, nhất trí về tư

tưởng, chính trị trong nhân dân. Kiên quyết đấu tranh, phê phán các

quan điểm sai trái, thù địch, khắc phục các biểu hiện thương mại hoá,

xa rời tôn chỉ, mục đích và các biểu hiện tiêu cực, lệch lạc. Để chống

“diễn biến hoà bình”, báo chí cần tăng cường giáo dục ý thức xã hội

chủ nghĩa cho quần chúng nhân dân, đặc biệt là thanh niên, sinh viên

hiểu và nhận thức rõ chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh,

tình hình kinh tế, chính trị, xã hội của đất nước; đấu tranh chống chủ

nghĩa cá nhân, chủ nghĩa thực dụng… Báo chí cần tuyên truyền tinh

thần yêu nước, thúc đẩy tiến trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá, giữ


vững phương hướng đúng đắn trong chỉ đạo dư luận, làm thất bại

những âm mưu của “diễn biến hoà bình”.

Thứ sáu, trong đấu tranh chống “diễn biến hòa bình” cần có sự đổi

mới cách tiếp cận mục tiêu, tập trung, kiên quyết vạch trần những luận

điệu xuyên tạc của các thế lực thù địch, cơ hội chính trị, đồng thời tập

trung sâu hơn vào việc hình thành khả năng “miễn nhiễm”, nâng cao

“sức đề kháng” của xã hội trước những thông tin xấu độc. Trong đó,

mỗi cán bộ, đảng viên, đặc biệt là thế hệ trẻ cần trang bị những có

kiến thức, kỹ năng để làm tốt công tác tham mưu, công tác đấu tranh

chống “diễn biến hòa bình”, trong đó khi nói và viết bài hoặc phát

ngôn trên diễn đàn, trên mạng xã hội, phải thể hiện rõ bản lĩnh chính

trị không được phép phát ngôn mang tính hoài nghi, a dua với những

luồng thông tin xấu độc. Điều đó đòi hỏi đội ngũ cán bộ, đảng viên

phải không ngừng tự nghiên cứu, học tập, trau rèn nhận thức, bản lĩnh

chính trị, trước những tư tưởng sai trái, lệch lạc, không để mình bị “tự

diễn biến”, “tự chuyển hóa”. Bên cạnh đó, mỗi cán bộ, đảng viên phải

luôn phát huy vai trò "hạt nhân" tại cơ sở để đưa những thông tin

chính thống, tích cực, trở thành tấm gương sáng góp phần tạo niềm tin

của nhân dân đối với Đảng, để từ đó khiến các thế lực thù địch không

còn "đất" để xuyên tạc, chống phá…/

Lật tẩy thủ đoạn của tổ chức Việt Tân

 Lật tẩy thủ đoạn của tổ chức Việt Tân lợi dụng bão lũ để xuyên tạc, chống phá

Trong những ngày qua, Việt Nam đối diện sự tàn phá của cơn bão số 3, để lại những hậu

quả nặng nề về người và của. Hệ thống chính trị và nhân dân với tinh thần “lá lành đùm

lá rách”, quyết tâm, nỗ lực để cứu hộ, cứu nạn, chia sẻ mất mát, đau thương, thiếu thốn

của đồng bào nhiều địa phương. Trong lúc Đảng, Nhà nước, nhân dân đang nỗ lực, đồng

lòng để ứng phó, khắc phục hậu quả bão lũ thì không ít tổ chức, phần tử chống đối, phản

động, nhất là tổ chức khủng bố, phản động Việt Tân lại ra sức tuyên truyền xuyên tạc,

chống phá Đảng, Nhà nước, chia rẽ tình đoàn kết quân dân bằng nhiều thủ đoạn nguy

hiểm.

Kích động chống phá trong đau thương, mất mát

Lợi dụng tình hình bão, lũ, các thế lực thù địch, phần tử cơ hội chính trị, phản động lại

“đục nước béo cò” tung ra các luận điệu xuyên tạc, chống phá, tuyên truyền trên không

gian mạng theo hướng xuyên tạc, bóp méo sự thật. Đặc biệt, tổ chức khủng bố, phản

động lưu vong Việt Tân những ngày qua đã đăng tải, tán phát hàng trăm bài viết, hình

ảnh, video tuyên truyền xuyên tạc. Họ lấy hình ảnh bão, lũ, đời sống thiếu thốn, khổ cực

của nhân dân trong cơn hoạn nạn rồi lồng ghép thông tin sai trái, xuyên tạc, cho rằng

Đảng, Nhà nước, cấp ủy, chính quyền nhân dân thờ ơ, vô trách nhiệm “bỏ mặc dân”.

Họ xuyên tạc “trong cơn bất hạnh của dân, tuyên giáo vẫn giả dối, đưa các hình ảnh,

video tập huấn, diễn tập để tuyên truyền”; “nhân dân lâm nguy, chính quyền vẫn ưa bệnh

thành tích”; “nhà nước đã phát gạo… trên tivi”; “sau cơn bão lũ, cây rừng thì dành cho

lãnh đạo xây biệt phủ, hòm thì tặng cho dân nghèo”…

Họ đưa ra những tin mang tính kích động như “Các nghệ sĩ, mạnh thường quân góp tiền

qua chính quyền nên tỉnh táo. Tiền của các bạn đến tay người dân hay chui vào túi quan

chức”!

Một số thông tin tìm cách chia rẽ mối quan hệ gắn bó máu thịt giữa Công an, Quân đội

với nhân dân, bất chấp sự thật là hàng trăm nghìn lượt cán bộ, chiến sĩ các lực lượng

Quân đội, Công an khẩn trương, nỗ lực giúp đỡ nhân dân phòng, chống và khắc phục hậu

quả bão lũ. Tuy nhiên, họ lại xuyên tạc cho rằng đấy là “biểu diễn”, “người dân trông chờ

vào nhà nước, chính quyền là vô vọng”; “diễn tập phải đẹp thì mới có lương, thực tế thì

bê bết là vì lương với lậu”…

Lợi dụng vào sự cố sập cầu Phong Châu, các đối tượng bỏ qua việc nguyên nhân do tác

động mưa lũ, lập tức quy kết cho “chính quyền phải chịu trách nhiệm vì đã ăn hối lộ, làm

ngơ, bảo kê, tiếp tay cho tham nhũng nên mới gây ra hậu quả sập cầu”, cho rằng việc cầu

sập là hậu quả của… chế độ!


Có đối tượng còn đưa hình ảnh thăm hỏi tại bệnh viện trong một vụ việc trước đây với

hiện trường lũ quét rồi kích động “con cán bộ lãnh đạo hút xì ke bị overdose (quá liều),

cả dàn lãnh đạo khúm núm đến thăm. Trong khi dân chết vì bão lũ, chẳng thấy lãnh đạo

nào ngó ngàng tới”… Trước tình hình bão lũ nghiêm trọng xảy ra, các cơ quan chức năng

Việt Nam đã trao đổi, đề nghị phía Trung Quốc kiểm soát chặt chẽ lượng nước trên

thượng nguồn sông Hồng đổ xuống hạ lưu, nhất là việc xả thuỷ điện; đồng thời thông báo

kịp thời về thông tin, thời điểm xả lũ, thời gian và lưu lượng xả lũ để hai bên có sự phối

hợp chặt chẽ, giảm thiểu tác động. Tuy nhiên, họ tuyên truyền xuyên tạc theo hướng kích

động, phá hoại quan hệ hợp tác giữa hai nước, đưa ra những ngôn từ kiểu “chọc gậy bánh

xe”.

Lật tẩy bản chất sau cái gọi là “dân chủ, canh tân”

Đằng sau từ ngữ mỹ miều, bịp bợp và dối trá, lừa đảo kiều bào nước ngoài, tập hợp số đối

tượng chống đối, phản động trong nước, Việt Tân tự xưng là “tập hợp những người Việt

yêu dân chủ, khát vọng Canh Tân con người và Canh Tân Việt Nam”. Tuy nhiên, trên

thực tế, tổ chức khủng bố lưu vong này đã làm gì?

Sau khi thành lập, Việt Tân đã tổ chức tuyển mộ, huấn luyện cho thành viên cách thức sử

dụng vũ khí, vật liệu nổ tiến hành các hoạt động khủng bố, phá hoại, bắt cóc, thủ tiêu con

tin…; tiến hành các chiến dịch “Đông Tiến 1”, “Đông Tiến 2”, “Đông Tiến 3”..., đưa các

toán vũ trang với hàng trăm đối tượng từ Thái Lan xâm nhập qua Lào, Campuchia về

Việt Nam để lập “mật cứ”, tiến hành hoạt động bạo loạn, khủng bố nhưng đã bị các cơ

quan chức năng của Việt Nam, Lào ngăn chặn, vô hiệu hóa. Ở nước ngoài, Việt Tân

thành lập “Đội sát thủ K9” do các thành viên cốt cán cầm đầu, chuyên tiến hành khủng

bố, thủ tiêu những nhà báo gốc Việt đưa tin vạch mặt hoạt động lừa đảo kiều bào của

Hoàng Cơ Minh và đồng bọn; trong đó, có ông Dương Trọng Lâm, chủ bút báo “Cái đình

làng” tại San Fransisco và ông Nguyễn Đạm Phong, người sáng lập báo “Tự do” tại

Houston.

Hiện nay, Việt Tân vừa tiếp tục tuyển mộ, huấn luyện, chỉ đạo thành viên xâm nhập về

Việt Nam kích động biểu tình, phá rối an ninh, bạo loạn, thủ tiêu, bắt cóc con tin; đưa

người ra nước ngoài đào tạo, huấn luyện, tổ chức các khóa đào tạo trực tuyến về phương

thức, hoạt động khủng bố, phá hoại; tán phát lên mạng Internet hướng dẫn cách chế tạo

bom xăng để phục vụ hoạt động khủng bố, phá hoại, ám sát, vừa thực hiện “diễn biến hòa

bình”, tuyên truyền xuyên tạc, thúc đẩy “tự diễn biến, tự chuyển hóa” bằng nhiều hình

thức, nhất là trên không gian mạng… Cơ quan chức năng Việt Nam những năm vừa qua

đã bắt, xử lý nhiều đối tượng là thành viên Việt Tân phạm tội khủng bố như Nguyễn

Quốc Quân, Nguyễn Thị Thanh Vân, Trương Leon, Châu Văn Khảm, Nguyễn Văn Viễn,

Trần Văn Quyền, Bùi Văn Kiên, Trần Thị Nhài, Nguyễn Thị Ánh...


“Tình dân tộc, nghĩa đồng bào” trong cơn bão dữ

Mưa bão đi qua, để lại hậu quả rất nặng nề, rất nhiều người cần được hỗ trợ, giúp đỡ.

Trong lúc khó khăn, hàng trăm nghìn lượt cán bộ, chiến sĩ, người dân đã không quản ngại

khó khăn, gian khổ, nguy hiểm, xông pha tuyến đầu giúp người dân. “Một con ngựa đau

cả tàu bỏ cỏ”, Đảng và Nhà nước đã và tiếp tục dành nguồn lực để khôi phục cơ sở hạ

tầng, hỗ trợ tái sản xuất, từng bước ổn định đời sống của nhân dân vùng thiên tai, bão lũ.

Phát huy truyền thống đoàn kết, tương thân tương ái “thương người như thể thương

thân”, “lá lành đùm lá rách”, đồng bào và chiến sĩ cả nước, kiều bào ta ở nước ngoài

hưởng ứng lời kêu gọi của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam đã dành sự chia sẻ, giúp đỡ về

tinh thần, vật chất. Những chuyến xe đậm nghĩa tình vẫn hối hả chở nhu yếu phẩm từ

miền Nam, miền Trung ra vùng bị thiệt hại nặng nề bởi bão lũ ở miền Bắc với những

nghĩa cử cao đẹp, thể hiện sâu sắc “tình dân tộc, nghĩa đồng bào”.

Sự chung tay chung sức đó có ý nghĩa quan trọng, góp phần cùng với Đảng, Nhà nước

giúp đỡ người dân vùng lũ, khắc phục hậu quả để sớm khôi phục sản xuất và ổn định đời

sống nhân dân.

Nhiều quốc gia, tổ chức quốc tế đã điện, gửi lời thăm hỏi tới Đảng, Nhà nước và nhân

dân Việt Nam, đồng thời viện trợ, ủng hộ giúp đỡ Việt Nam khắc phục hậu quả bão lũ.

Chính phủ Australia viện trợ ban đầu trị giá 3 triệu AUD hỗ trợ vật tư cứu trợ khẩn cấp

và các dịch vụ thiết yếu nhằm ứng phó với các thiệt hại do siêu bão gây ra. Đại sứ

Australia tại Việt Nam, ông Andrew Goledzinowski gửi lời chia buồn sâu sắc nhất tới

Chính phủ và nhân dân Việt Nam và cho biết “Australia đánh giá cao sự chỉ đạo hiệu quả

của Chính phủ Việt Nam trong việc điều phối các hoạt động cứu trợ và ứng phó khẩn cấp

tại các khu vực bị ảnh hưởng”, khẳng định “Chúng tôi ở đây để giúp Việt Nam bằng bất

cứ cách nào có thể”.

Ngày 12/9, Chính phủ Hàn Quốc cũng quyết định cung cấp viện trợ nhân đạo trị giá 2

triệu USD với hy vọng sẽ góp phần khôi phục các khu vực bị thiệt hại và giúp người dân

vùng bão lũ quay trở lại cuộc sống thường nhật trong thời gian sớm nhất. Phái đoàn

Ngoại giao Mỹ tại Việt Nam thông báo viện trợ 1 triệu USD để khẩn cấp hỗ trợ Việt Nam

khắc phục hậu quả. Nhật Bản đang xem xét viện trợ vật tư qua cơ quan JICA, bao gồm

máy lọc nước, tấm bạt nhựa. ASEAN và UNICEF cũng đã triển khai hàng viện trợ thiết

yếu như dụng cụ gia đình, nước sạch và vật phẩm vệ sinh đến các vùng bị ảnh hưởng.

Các tổ chức quốc tế UN Women và đại sứ quán các nước châu Âu đang phối hợp cơ quan

chức năng của Việt Nam để xác định nhu cầu khẩn cấp và phương án hỗ trợ phù hợp.

Thông qua đơn vị cứu trợ nhân đạo, Thuỵ Sĩ sẽ dành 1 triệu franc (khoảng 1,2 triệu USD)

cho các công tác này, đồng thời gửi chuyên gia và nguồn lực tới tâm điểm của công tác

cứu trợ…


Như vậy, trong gian khó với tinh thần “không để ai bị bỏ lại phía sau”, “không để người

dân thiếu ăn, thiếu mặc, thiếu ở”, tinh thần tương thân, thương ái, nghĩa đồng bào càng

thể hiện rõ nét, đó chính là giá trị truyền thống quý báu của dân tộc ta, đồng thời thể hiện

là bản chất tốt đẹp, nhân văn của chế độ, xã hội ta. Các quốc gia, tổ chức quốc tế và kiều

bào ta ở nước ngoài cũng chung tay, góp sức giúp đỡ nhân dân bị thiệt hại bởi bão lũ.

Vậy mà, tổ chức Việt Tân tự xưng tiêu chí hành động là “khát vọng Canh Tân” đã không

có bất cứ chia sẻ nào với người dân trong cơn hoạn nạn lại tìm cách xuyên tạc, chống

phá. Rõ ràng, việc lợi dụng bão lũ, thiên tai, mất mát đau thương để thông tin sai trái,

xuyên tạc với mục đích kích động, chống lại đất nước, nhân dân Việt Nam là hành vi

nhẫn tâm, vô đạo đức cần được vạch trần lên án và phản bác.

Lật tẩy những luận điệu sai trái về chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ


Những ngày qua, khi toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta tổ chức nhiều hoạt động thiết

thực kỷ niệm 70 năm Chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ (7/5/1954 - 7/5/2024) thì trên

mạng xã hội, các thế lực thù địch, phản động và một số kẻ thiếu thiện chí vẫn tìm cách

xuyên tạc bản chất, tính chính nghĩa cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp mà đỉnh cao

là Chiến thắng Điện Biên Phủ.

Những luận điệu xuyên tạc lịch sử

Họ cho rằng “đó chỉ là cuộc chiến của hai bên hiếu chiến chứ không phải cuộc chiến

chính nghĩa bảo vệ nền độc lập, tự do”; “yếu tố quyết định là Việt Nam nhờ sự viện trợ từ

bên ngoài chứ bộ đội, dân công thì không thể “làm nên chuyện””! Đây là những luận điệu

nhằm công kích, xuyên tạc bản chất, tính chính nghĩa của cuộc kháng chiến chống thực

dân Pháp; tạo sự hoài nghi trong quần chúng nhân dân về chiến thắng lịch sử vĩ đại của

dân tộc; hạ thấp uy tín, vai trò lãnh đạo của Đảng, phủ nhận những hi sinh mất mát trong

cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp của quân và dân ta.

Thậm chí càng gần đến ngày lễ lớn của dân tộc thì càng nhiều clip, video được chia sẻ

trên mạng xã hội; nhiều trang báo của các thế lực thù địch đăng tải thông tin về Chiến

thắng Điện Biên Phủ của nhân dân Việt Nam, xuyên tạc, bóp méo rằng: “Chiến thắng

Điện Biên Phủ không gắn liền với sự lãnh đạo của Đảng Lao động Việt Nam và Chủ tịch

Hồ Chí Minh”; “Chiến thắng Điện Biên Phủ giành được do thực dân Pháp mắc những sai

lầm chiến lược”; “Điện Biên Phủ là sản phẩm ưa thích bạo lực cách mạng của chủ nghĩa

cộng sản”…

Họ xảo biện rằng, thực dân Pháp xâm lược Việt Nam là “khai hóa văn minh”; sự kiện

Điện Biên Phủ đã chấm dứt “khai hóa văn minh”. Mặt khác, có những kẻ ảo vọng về lòng

từ bi của chủ nghĩa thực dân, đế quốc khi cho rằng, làm gì phải phát động chiến tranh, chỉ

cần đợi đến lúc nào đó thực dân họ khai hóa văn minh xong rồi sẽ trả lại chủ quyền đất

nước!

Tính chất thâm độc, nguy hiểm trong âm mưu, thủ đoạn chống phá của số đối tượng xấu

là hướng đến giới trẻ, nhất là những người thiếu hiểu biết lịch sử để gieo rắc tâm lý hoài

nghi, thiếu niềm tin về tính chính danh, chính nghĩa của Chiến thắng Điện Biên Phủ. Việc

đánh lận bản chất của cuộc chiến tranh là rất nguy hại vì thông qua đó, họ tìm cách

hướng lái đến những nhận thức mơ hồ, lệch lạc, làm cho một số người nhẹ dạ, cả tin dễ

mất cảnh giác, không nhận thức đúng bản chất chính nghĩa của cuộc kháng chiến chống

thực dân, trong đó có Chiến dịch Điện Biên Phủ.

Bên cạnh việc tập trung xuyên tạc vào bản chất, tính chất chính nghĩa của cuộc kháng

chiến chống thực dân Pháp của nhân dân ta, các thế lực thù địch, phản động còn vu cáo

Việt Nam “hiếu chiến”, từ đó phủ nhận cuộc kháng chiến chính nghĩa bảo vệ nền độc lập,


tự do của dân tộc ta. Một số bài viết phủ nhận công lao của Đảng, của Chủ tịch Hồ Chí

Minh và vai trò chỉ huy tài ba của Đại tướng Võ Nguyên Giáp; tìm cách phủ nhận tấm

gương anh dũng hy sinh của Anh hùng Tô Vĩnh Diện, Phan Đình Giót, Bế Văn Đàn…

Mục đích của các thế lực thù địch, phản động nhằm làm cho người dân Việt Nam phân

tâm, lung lay tư tưởng; gieo rắc tâm lý hoài nghi vào sự lãnh đạo của Đảng, nghệ thuật

quân sự Việt Nam và sự phát triển của các lực lượng vũ trang cách mạng.

Các thế lực thù địch, các tổ chức phản động lưu vong và một số đối tượng chống đối còn

lợi dụng tình hình hạn hán, xâm nhập mặn ở các tỉnh phía Nam thời gian qua để xuyên

tạc rằng: “Thay vì tổ chức sự kiện to lãng phí tiền của, sao không lấy tiền đó cấp nước

cứu dân”; “tiền thuế của dân, thay vì mang nước đến cho dân lại mang đi phô trương lực

lượng”; “lực lượng Quân đội, Công an từ dân mà ra nhưng bỏ mặc dân chết khát”; “Đảng

chỉ lo phô trương quyền lực thanh thế mà không đoái hoài gì đến người dân đói khát”...

Thậm chí, các đối tượng còn lồng ghép nội dung kích động, phân biệt, kỳ thị vùng miền,

cho rằng người miền Nam chỉ giúp người miền Nam, rồi đòi chia lại “Bắc kỳ”, “Nam

kỳ”… Từ đó cho rằng, người dân phải đứng lên đấu tranh lật đổ chế độ hiện tại ở Việt

Nam thì mới có cơ hội được sống trong một chế độ tự do, dân chủ, có cuộc sống no ấm,

hạnh phúc chứ không phải canh cánh lo toan với đói nghèo, thiên tai, lụt bão!

Với những luận điệu xuyên tạc, vu cáo nêu trên, các thế lực thù địch, các tổ chức phản

động lưu vong và một số đối tượng chống đối đã cố tình “bẻ lái”, lồng ghép và đưa ra

những thông tin xuyên tạc, sai sự thật hòng đánh tráo bản chất, xuyên tạc ý nghĩa, tầm

vóc, giá trị lịch sử dân tộc và thời đại của Chiến thắng Điện Biên Phủ, xuyên tạc nghệ

thuật quân sự Việt Nam, chiến công và sự hy sinh anh dũng của quân và dân ta; kích

động, chia rẽ khối đại đoàn kết dân tộc, phủ định lịch sử dân tộc, lịch sử Đảng, lịch sử

các lực lượng vũ trang cách mạng.

Từ truyền thống ngàn năm dựng nước và giữ nước của dân tộc đến chiến thắng lừng lẫy

địa cầu

Từ ngày 13/3-7/5/1954, quân và dân ta dưới sự lãnh đạo của Đảng, đứng đầu là Chủ tịch

Hồ Chí Minh đã tiến hành trận quyết chiến chiến lược Điện Biên Phủ. Vượt qua bom đạn

của kẻ thù, vượt qua điều kiện khắc nghiệt của địa hình, thời tiết, hàng ngàn tấn lương

thực, thực phẩm, xăng dầu, vũ khí, đạn dược được quân và dân cả nước vận chuyển đến

mặt trận Điện Biên Phủ cho bộ đội bằng những phương tiện thô sơ để góp phần vào thắng

lợi cuối cùng. Kỳ tích đó nằm ngoài suy nghĩ của thế lực vốn lấy sức mạnh vũ khí làm cơ

sở giải quyết chiến tranh và không hiểu được sự đồng lòng, ủng hộ toàn tâm, toàn ý của

cả dân tộc.

Cùng với Chiến thắng Bạch Đằng (938) của Ngô Quyền, Chiến thắng Chi Lăng - Xương

Giang (1427) của Lê Lợi - Nguyễn Trãi, Chiến thắng Ngọc Hồi - Đống Đa của Quang

Trung (1789), Chiến thắng Điện Biên Phủ là một bản hùng ca bất hủ, là một trong những


chiến thắng hiển hách của lịch sử hàng ngàn năm đấu tranh chống ngoại xâm dựng nước

và giữ nước của dân tộc Việt Nam. Là thắng lợi của khát vọng hòa bình, độc lập, tự do,

của ý chí tự lực, tự cường; thắng lợi của phong trào giải phóng dân tộc, dân chủ nhân dân

trên thế giới và của lương tri thời đại.

Chiến thắng Điện Biên Phủ đã giáng đòn quyết định, chấm dứt gần 100 năm Việt Nam là

thuộc địa của Pháp, buộc Chính phủ Pháp phải ký Hiệp định Giơnevơ, chấm dứt chiến

tranh ở Đông Dương, mở ra trang mới cho cách mạng Việt Nam; đồng thời là một sự

kiện quan trọng báo hiệu sự sụp đổ của chủ nghĩa thực dân cũ trên phạm vi toàn thế giới.

Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng khẳng định: “Chiến thắng Điện Biên Phủ như là một cái

mốc chói lọi bằng vàng của lịch sử”.

Trên phương diện quốc tế, cuộc kháng chiến trường kỳ, gian khổ, nhân dân Việt Nam đã

nhận được sự ủng hộ mạnh mẽ, sự giúp đỡ quý báu của các nước XHCN anh em, nhận

được sự ủng hộ của nhân dân các dân tộc bị áp bức ở châu Á, châu Phi, Mỹ La tinh, đặc

biệt là liên minh chiến đấu giữa ba nước Đông Dương và phong trào đấu tranh của nhân

dân tiến bộ trên thế giới, trong đó có nhân dân tiến bộ Pháp. Chiến dịch Điện Biên Phủ đã

mang một ý nghĩa rất lớn và đã đi vào lịch sử nhân loại, bởi đây là lần đầu tiên quân đội

của một nước từng là thuộc địa ở châu Á đánh bại đội quân hiện đại và tối tân của một

cường quốc châu Âu, được hỗ trợ bởi đế quốc Mỹ trong một chiến dịch quân sự lớn.

Kết cục chiến dịch này được xem là một thảm họa bất ngờ đối với thực dân Pháp và cũng

là một đòn giáng mạnh với thế giới phương Tây, đã đánh bại âm mưu duy trì chế độ

thuộc địa ở Đông Dương của Pháp. Chiến thắng góp phần to lớn vào phong trào đấu

tranh vì hòa bình, tiến bộ của nhân loại; thôi thúc, cổ vũ các nước thuộc địa ở châu Á,

châu Phi và Mỹ Latin đứng lên tự giải phóng, thoát khỏi ách xâm lược của chủ nghĩa thực

dân, đế quốc.

Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, bất cứ lịch sử xâm chiếm thực dân nào thì từ đầu đến cuối

đều được viết bằng máu của những người bản xứ. Đó không phải là công cuộc “khai hóa

văn minh” mà chỉ mượn đó làm tấm bình phong để thực hiện dã tâm áp bức, nô dịch.

Trong “Tuyên ngôn độc lập” khai sinh ra nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa, Chủ tịch Hồ

Chí Minh đã lên án chế độ thực dân: “Về kinh tế, chúng bóc lột dân ta đến tận xương tủy,

khiến cho dân nghèo nàn, thiếu thốn, nước ta xơ xác, tiêu điều. Chúng cướp không ruộng

đất, rừng mỏ, nguyên liệu… Chúng đặt ra hàng trăm thứ thuế vô lý, làm cho dân ta, nhất

là dân cày và dân buôn trở nên bần cùng. Chúng không cho các nhà tư sản ta được giàu

lên. Chúng bóc lột công nhân ta một cách vô cùng tàn nhẫn”… Do đó, không thể gọi là

“khai hóa văn minh” khi biến một dân tộc độc lập, có chủ quyền thành quốc gia thuộc

địa, nửa phong kiến. Những kẻ rêu rao Pháp xâm lược Việt Nam là “khai hóa văn minh”,

chiến thắng Điện Biên Phủ là chấm dứt sự “khai hóa văn minh”, đó là những luận điệu

xuyên tạc sự thật, bẻ cong lịch sử.


70 năm, thời gian lùi xa nhưng ý nghĩa và bài học lịch sử của Chiến thắng Điện Biên Phủ

vẫn còn vang vọng mãi, tiếp thêm sức mạnh, động lực cho toàn Đảng, toàn dân và toàn

quân ta trên con đường đổi mới, hội nhập và phát triển, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

Trong mỗi trái tim người Việt Nam nói chung và thế hệ trẻ ngày nay nói riêng đều dâng

trào niềm kiêu hãnh, tự hào về chiến công hiển hách, tinh thần quật khởi của cha anh, có

sức lan tỏa mạnh mẽ, trở thành một trong những động lực tinh thần to lớn giúp thế hệ trẻ

ngày nay có thêm điểm tựa để tích cực rèn luyện, phấn đấu xây dựng quê hương, đất

nước ngày càng giàu mạnh.

Ngày nay, Việt Nam và Pháp cũng đã vun đắp nên mối quan hệ Đối tác chiến lược, cùng

hợp tác, phát triển. Trong dịp kỷ niệm 70 năm Chiến thắng Điện Biên Phủ, Bộ trưởng

Quân đội Pháp Sébastien Lecornu cùng Quốc Vụ khanh phụ trách Cựu Chiến binh và Ký

ức chiến tranh đã đến thăm Việt Nam và dự Lễ Kỷ niệm tháng tại Điện Biên Phủ, điều đó

thể hiện tinh thần “khép lại quá khứ, hướng tới tương lai”, cùng hợp tác vì sự phát triển

của quốc gia và nhân dân hai nước.

Đại sứ Pháp tại Hà Nội Olivier Brochet khẳng định, Pháp đánh giá cao vị thế, vai trò của

Việt Nam và mong muốn tiếp tục thúc đẩy quan hệ Đối tác chiến lược giữa hai nước phát

triển sâu rộng, toàn diện hơn nữa trong thời gian tới. Do đó, việc tổ chức lễ kỷ niệm hoàn

toàn không phải là để chia rẽ mối quan hệ Việt - Pháp như những giọng điệu xảo trá, âm

mưu, thủ đoạn thâm độc của một số đối tượng xấu tung ra.

ĐẠI TƯỚNG ĐƯỢC BÁC HỒ ĐẶT TÊN

 

Đại tướng Nguyễn Chí Thanh tên thật là Nguyễn Vịnh (1914-1967). Tháng 8/1945, tại hội nghị Đảng toàn quốc ở Tân Trào, ông được gặp Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Khi công bố danh sách BCH TƯ Đảng có tên Nguyễn Chí Thanh, ông Nguyễn Vịnh không biết liền hỏi người ngồi cạnh thì được trả lời “Là anh chứ ai nữa, chính Bác đặt tên cho anh đấy!”. Từ đó, ông lấy tên là Nguyễn Chí Thanh, trở thành người học trò xuất sắc của Người - một chiến sĩ cộng sản kiên trung, nhà lãnh đạo, chỉ huy mưu lược.

Dù vậy, ông vẫn rất nâng niu tên mình, nên năm 1957 khi hay vợ hạ sinh con trai út, ông đã đặt tên con là Nguyễn Chí Vịnh.

Tướng Vịnh kể, thời kỳ cha mình đang hoạt động cách mạng, ông còn nhỏ nhưng may mắn được gặp Bác Hồ nhiều lần nên gia đình có nhiều kỷ niệm vô cùng sâu đậm.

“Nói về Bác, ai cũng nghĩ rất vĩ đại, chúng tôi cảm nhận thêm nữa là Bác vô cùng gần gũi, giản dị. Khi đến nhà tôi, Bác luôn hỏi thăm sức khoẻ của bà nội đầu tiên với sự kính trọng và trìu mến vô cùng”, Thượng tướng Nguyễn Chí Vịnh kể.

Có lần Bác đến, khen vườn hoa của nhà Đại tướng Nguyễn Chí Thanh rất đẹp, nhưng lại nói thêm rằng: “Giá mà hoa ăn được thì tốt hơn”.

“Ngay ngày hôm sau, tất cả mọi người trong nhà, kể cả bảo vệ cùng cuốc đất lên trồng rau. Và suốt từ đó đến khi rời số nhà 34 Lý Nam Đế, nhà tôi không trồng hoa nữa mà chỉ trồng rau, cây ăn quả. Đó không phải là sự cố gắng mà rất tự nhiên”, Tướng Vịnh nhớ lại.

Ông cũng kể về mối quan hệ thân tình và giản dị của ba mình với Bác Hồ, cái giản dị của những người nông dân xuất thân từ làng quê miền Trung.

Tướng Vịnh kể, ba ông nghiện thuốc lá nhưng bị cấm hút. Hồi đó, Bác Hồ hút thuốc lá Thăng Long, hộp vuông màu vàng.

“Ba ngồi hầu chuyện Bác một lúc, khi về ông cụ đút luôn bao thuốc của Bác vào túi của mình rất tự nhiên, coi như là của mình, không xin gì cả. Bác Hồ cũng để ba tôi cầm về. Khi về ông khoe với tất cả mọi người”, cả hội trường cười vui khi nghe Tướng Vịnh kể.

Sau này, bà Nguyễn Thị Cúc, vợ Đại tướng cũng kể lại kỷ niệm này khi nhắc đến ông. Bà kể, Đại tướng không được hút thuốc do tình trạng sức khoẻ không tốt, bác sĩ chỉ “xuất” cho mỗi ngày 2 điếu. Thế nhưng cứ thấy hút mãi, hỏi ra thì bảo “Mới xin được của Bác”./.

ST

KHẲNG ĐỊNH VAI TRÒ CỦA TỔNG CỤC CHÍNH TRỊ TRONG XÂY DỰNG QUÂN ĐỘI VỮNG MẠNH VỀ CHÍNH TRỊ

Sáng 5-11, tại Hà Nội, Báo Quân đội nhân dân (QĐND) phối hợp với các cơ quan, đơn vị liên quan tổ chức Tọa đàm với chủ đề: 80 năm “Linh hồn, mạch sống của Quân đội cách mạng” nhân kỷ niệm 80 năm Ngày thành lập QĐND Việt Nam (22-12-1944/22-12-2024), 35 năm Ngày hội Quốc phòng toàn dân (22-12-1989 / 22-12-2024), 80 năm Ngày truyền thống Tổng cục Chính trị (TCCT) QĐND Việt Nam (22-12-1944 / 22-12-2024).

Tham dự tọa đàm có các đồng chí: Thượng tướng Phạm Thanh Ngân, nguyên Ủy viên Bộ Chính trị, nguyên Chủ nhiệm TCCT QĐND Việt Nam; Thượng tướng, Viện sĩ, Tiến sĩ, Anh hùng LLVT nhân dân Nguyễn Huy Hiệu, nguyên Ủy viên Trung ương Đảng, nguyên Thứ trưởng Bộ Quốc phòng; PGS, TS Nguyễn Hồng Vinh, nguyên Ủy viên Trung ương Đảng, nguyên Phó trưởng ban Thường trực Ban Tuyên giáo Trung ương, nguyên Tổng biên tập Báo Nhân Dân; Lê Hải Bình, Ủy viên dự khuyết Trung ương Đảng, Tổng biên tập Tạp chí Cộng sản; Trung tướng Phùng Khắc Đăng, nguyên Phó chủ nhiệm TCCT QĐND Việt Nam. Dự tọa đàm có các đại biểu đại diện lãnh đạo Ban Tuyên giáo Trung ương, Hội Nhà báo Việt Nam; các nhà khoa học trong và ngoài Quân đội, các tướng lĩnh, lãnh đạo, chỉ huy các cơ quan, đơn vị trong Quân đội.

Chủ trì tọa đàm có các đồng chí: Thiếu tướng Đoàn Xuân Bộ, Bí thư Đảng ủy, Tổng biên tập Báo QĐND. Các đồng chí Phó tổng biên tập Báo QĐND: Đại tá Ngô Anh Thu, Phó bí thư Đảng ủy; Đại tá Lê Ngọc Long và Đại tá Nguyễn Hồng Hải.

Ngày 22 tháng 12 năm 1944, thực hiện Chỉ thị của lãnh tụ Hồ Chí Minh, tại khu rừng giữa hai tổng Hoàng Hoa Thám và Trần Hưng Đạo, châu Nguyên Bình (nay là huyện Nguyên Bình, tỉnh Cao Bằng) Đội Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng quân - Đội quân chủ lực đầu tiên, tiền thân của QĐND Việt Nam ngày nay được thành lập. Chỉ thị thành lập Đội Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng quân, lãnh tụ Hồ Chí Minh nêu rõ: “Tên Đội Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng quân nghĩa là chính trị trọng hơn quân sự”. Ngay sau đó, Đội Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng quân phát triển thành đại đội có 3 trung đội. Đại đội có Ban Công tác Chính trị - Cơ quan chính trị đầu tiên của QĐND Việt Nam ra đời, hoạt động công tác Đảng, công tác chính trị (CTĐ, CTCT) cũng được xác lập.

Phát biểu khai mạc tọa đàm, Thiếu tướng Đoàn Xuân Bộ khẳng định: Trải qua các các tên gọi khác nhau, rồi đến tháng 7 năm 1950 xác lập tên gọi là TCCT. 80 năm qua, TCCT luôn quán triệt sâu sắc và vận dụng sáng tạo Chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, chủ trương, đường lối của Đảng vào thực tiễn, kịp thời tham mưu, đề xuất với Bộ Chính trị, Ban Bí thư, trực tiếp là Quân ủy Trung ương xây dựng, củng cố, hoàn thiện cơ chế lãnh đạo, góp phần giữ vững và tăng cường sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng đối với Quân đội. TCCT là cơ quan tham mưu chiến lược của Đảng, Nhà nước, Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng; trực tiếp đưa CTĐ, CTCT vào nền nếp, thực sự là “linh hồn, mạch sống” - yếu tố quyết định bản chất giai cấp công nhân, tính nhân dân và tính dân tộc của Quân đội ta, làm cho Quân đội ta thực sự là Quân đội của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân, không ngừng phấn đấu, hy sinh, cùng với toàn dân tộc lập nên những chiến công hiển hách trong sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước cũng như sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc hiện nay. TCCT cũng là cơ quan chịu trách nhiệm cao nhất trước Đảng, Nhà nước, trước Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng và trước nhân dân xây dựng phẩm chất chính trị cho Quân đội để Quân đội ta luôn xứng đáng với danh hiệu cao quý Bộ đội Cụ Hồ mà nhân dân tin yêu trao tặng.

Hiện nay, nhiệm vụ xây dựng Quân đội trong bối cảnh tình hình thế giới, khu vực và trong nước có nhiều thuận lợi, song cũng không ít khó khăn, thách thức đan xen. Các thế lực thù địch tiếp tục đẩy mạnh các hoạt động chống phá cách mạng nước ta bằng nhiều âm mưu, thủ đoạn tinh vi và xảo quyệt; trong đó có mưu đồ "phi chính trị hóa", "dân sự hóa" Quân đội, thúc đẩy "tự diễn biến", "tự chuyển hóa" trong nội bộ. Cơ cấu tổ chức, biên chế và nhiệm vụ của Quân đội có những phát triển mới theo hướng tinh, gọn, mạnh, tiến lên hiện đại. Tình hình đó, đòi hỏi hoạt động CTĐ, CTCT phải đặc biệt chú trọng đến xây dựng quân đội tinh nhuệ về chính trị, sắc sảo trong tổng hợp, phân tích, đánh giá, dự báo tình hình, kịp thời phát hiện, giải quyết đúng đắn, có hiệu quả những vấn đề nảy sinh. Nhận diện, phân biệt rõ đối tượng, đối tác trong từng mối quan hệ cụ thể, từng bước hoàn thiện nội dung, phương thức hoạt động CTĐ, CTCT, phát huy hiệu quả nhân tố con người phù hợp với tổ chức, biên chế, trang bị và điều kiện thực tế của từng lực lượng, bảo đảm đủ sức "miễn dịch", vô hiệu hóa mọi âm mưu, thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch là nhiệm vụ vừa cơ bản lâu dài vừa cấp thiết trước mắt với cả hệ thống chính trị và tất cả mọi cán bộ đảng viên, nhất là trách nhiệm chính trị của TCCT, cơ quan chính trị và cán bộ chính trị.

Tại buổi tọa đàm, Thiếu tướng Đoàn Xuân Bộ đề nghị các thủ trưởng, các đại biểu, các nhà khoa học, bằng phương pháp luận khoa học và hoạt động thực tiễn, tiếp tục làm sâu sắc hơn một số vấn đề cơ bản, đó là: Khẳng định vị trí của TCCT và CTĐ, CTCT trong Quân đội; làm sâu sắc hơn vai trò của TCCT trong việc lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện công tác văn học nghệ thuật, báo chí, xuất bản, góp phần xây dựng, phát huy phẩm chất Bộ đội Cụ Hồ; đề xuất giải pháp nhằm phát huy truyền thống, nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động CTĐ, CTCT, xây dựng Quân đội vững mạnh về chính trị./.

St

PHÒNG, CHỐNG LÃNG PHÍ, CÔNG VIỆC THƯỜNG XUYÊN VÀ CẤP THIẾT ĐỂ ĐẤT NƯỚC VƯƠN MÌNH

Khi Đảng Cộng sản lãnh đạo cách mạng, nhất là lãnh đạo và tổ chức cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa, tạo dựng một xã hội mới tốt đẹp thì cũng đồng thời đặt ra việc phê phán, phòng chống những cái xấu do chế độ cũ để lại và xây dựng nhận thức và hành động mới tốt đẹp. Xây dựng xã hội mới đòi hỏi huy động sức lực, trí tuệ của toàn dân, của cải, nguồn lực của toàn xã hội và sử dụng có hiệu quả cao nhất tài nguyên của đất nước.

V.I.Lênin yêu cầu, Đảng, Nhà nước Xô viết và những người cộng sản “Hãy tính toán tiền nong cho cẩn thận”. Chủ tịch Hồ Chí Minh đặt lên hàng đầu chữ cần kiệm trong 23 điều về tư cách của một người cách mạng. Cần là làm hết sức mình trong mọi công việc, không lười biếng, thoái thác nhiệm vụ; kiệm là tiết kiệm, không lãng phí. Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn nhắc nhở cán bộ, đảng viên phải biết quý từng đồng tiền, bát gạo, vì đó là công sức của nhân dân.

Việt Nam đi lên chủ nghĩa xã hội từ một nước nông nghiệp lạc hậu, chiến tranh kéo dài tàn phá. Điểm xuất phát ở trình độ rất thấp, thấp bởi quan hệ sản xuất lạc hậu và lực lượng sản xuất kém phát triển. Khi miền bắc xây dựng chủ nghĩa xã hội, bình quân ruộng đất có 3 sào/người, công nghiệp chỉ có mấy mỏ than. Với “cơ ngơi” ấy phải tiến dần từng bước, phải có phương pháp thích hợp, sáng tạo và cần kiệm xây dựng đất nước, “Mỗi hòn than, mẩu sắt, cân ngô/Ta nâng niu gom góp dựng cơ đồ” (Tố Hữu). Muốn phát triển phải có ý chí, quyết tâm rất cao.

Xây dựng chủ nghĩa xã hội là sự nghiệp mới mẻ, khó khăn đòi hỏi hành động tự giác, sáng tạo trên cơ sở nhận thức đúng đắn của toàn dân, của mỗi cán bộ, đảng viên. Chủ tịch Hồ Chí Minh nêu rõ: “Muốn xây dựng chủ nghĩa xã hội, trước hết cần có những con người xã hội chủ nghĩa” (1).

Thực tiễn xây dựng chủ nghĩa xã hội đã từng bước hình thành những giá trị tiêu biểu của con người xã hội chủ nghĩa trong cán bộ, đảng viên và trong nhân dân. Đó là những con người nêu cao ý thức làm chủ, tinh thần tập thể, tập trung vì công việc chung, bảo vệ của công, góp sức xây dựng hợp tác xã, nhà máy, xí nghiệp, cơ quan, chăm lo công việc xã hội; là những người có tinh thần đoàn kết, biết sống vì người khác “mỗi người vì mọi người, mọi người vì mỗi người”; đó là những người nêu cao tinh thần trách nhiệm trước Đảng, Nhà nước, tập thể và nhân dân, có ý thức phục vụ nhân dân; luôn luôn có ý thức “lo trước thiên hạ, vui sau thiên hạ”; là những người sống có kỷ luật, tuân thủ đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước.

Cái mới, tốt đẹp trong con người xã hội chủ nghĩa ngày càng nảy nở, phát triển, tuy nhiên những cái xấu, tiêu cực vẫn hiện hữu và gây tác hại. Bác Hồ nhiều lần phê phán và yêu cầu loại bỏ các thói xấu như: Lười biếng, tham lam, gian giảo, thích hưởng thụ, lãng phí của công. Để phòng chống những tiêu cực trong lãnh đạo, quản lý, đầu năm 1963, Bộ Chính trị khóa III đã ban hành nghị quyết mở các cuộc vận động lớn, trong đó có Nghị quyết số 85-NQ/TW, ngày 24/7/1963 về cuộc vận động “Nâng cao ý thức trách nhiệm, tăng cường quản lý kinh tế tài chính, cải tiến kỹ thuật, chống tham ô, lãng phí, quan liêu” (gọi tắt là cuộc vận động 3 xây, 3 chống). Bộ Chính trị cho rằng: “Tệ tham ô, lãng phí, quan liêu xảy ra khá phổ biến, có nơi khá nghiêm trọng, đã gây nhiều thiệt hại cho Nhà nước và nhân dân ta” (2).

Vấn đề chống lãng phí đã được Đảng đặt ra từ rất sớm và luôn luôn gắn liền với chống tham ô, tham nhũng và tệ quan liêu. Bộ Chính trị nêu rõ nhận thức, đây là cuộc đấu tranh cách mạng nhằm xóa bỏ những tàn dư của chế độ bóc lột, xây dựng lập trường, đạo đức cách mạng cần kiệm liêm chính. Cần phải có giải pháp căn bản và thiết thực để ngăn ngừa tệ nạn ấy. Cái gốc vẫn là tinh thần trách nhiệm, sự liêm chính của cán bộ, đảng viên, là cách thức, chế độ quản lý chặt chẽ, minh bạch.

Trước khi tiến hành công cuộc đổi mới (1986), do cơ chế quản lý hành chính, bao cấp, phân phối bình quân dẫn tới lãng phí lớn nguồn nhân lực bởi năng suất lao động thấp, hiệu quả công việc kém, nuôi dưỡng thói lười biếng, ỷ lại. Do không chú ý đúng mức lợi ích kinh tế của người lao động mà mất đi động lực của sự phát triển. Đó là sự lãng phí, mất mát lớn nhất.

Trong công cuộc đổi mới, với tư duy kinh tế mới, đổi mới cơ chế quản lý, gắn kế hoạch với thị trường, hình thành nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, tạo ra nguồn lực và động lực mới để đất nước phát triển. Nền kinh tế Việt Nam phát triển năng động, sáng tạo, của cải vật chất tăng nhanh, đời sống nhân dân được cải thiện rõ rệt, mức sống và chất lượng cuộc sống được nâng cao. Với điều kiện, hoàn cảnh đó, đã nảy sinh ở một bộ phận cán bộ, đảng viên tâm lý hưởng thụ, tìm cách chiếm đoạt của cải, tiền bạc (tham nhũng) và trình độ yếu kém trong quản lý dẫn tới lãng phí. Có những cán bộ được Nhà nước giao nguồn vốn rất lớn nhưng do nhiều lý do mà công trình không được thực hiện trong nhiều năm gây thất thoát, lãng phí vô cùng lớn, làm nghèo đất nước.


Năm 1994, Đảng xác định tham nhũng là một trong 4 nguy cơ lớn làm cản trở quá trình đổi mới. Đảng đã tập trung lãnh đạo, chỉ đạo cuộc đấu tranh phòng chống tham nhũng rất quyết liệt và đến nay đã thu được những kết quả quan trọng. Nhưng cuộc đấu tranh chống lãng phí chưa được nhận thức và đặt đúng vị trí và yêu cầu mặc dù tác hại của nó không kém tham nhũng.

Tổng Bí thư Tô Lâm đã có bài viết quan trọng Chống lãng phí. Đó thật sự là khởi động lại, tạo ra động lực mới trong cuộc đấu tranh khó khăn và lâu dài. Chống lãng phí thành công góp phần tăng thêm nguồn lực để đất nước vươn mình trong kỷ nguyên mới. Bài viết đã thống nhất nhận thức trong toàn Đảng với quan điểm coi chống lãng phí là chống “giặc nội xâm”, đặt chống lãng phí ngang với chống tham nhũng. Tổng Bí thư đã đề ra 4 giải pháp căn bản và cấp thiết trong chống lãng phí. Mỗi ngành, mỗi lĩnh vực công tác, mỗi địa phương cần tiếp tục cụ thể hóa để có giải pháp thích hợp và thực hiện có hiệu quả.


Chống lãng phí gắn liền với thực hành tiết kiệm. Những việc đó được thực hiện tốt sẽ tạo nguồn lực lớn trong xây dựng, phát triển đất nước, phát triển các ngành, các địa phương và từng gia đình, làm cho dân giàu nước mạnh. Nhiệm vụ trọng tâm vẫn là chống lãng phí tiền bạc, của cải, tài sản công, cần, kiệm xây dựng đất nước. Cần mở rộng nhận thức chống lãng phí về thời gian, nguồn lực, nhất là nhân lực, lãng phí tài nguyên và nhiều lĩnh vực, nguồn lực khác.


Cần chống lãng phí thời gian, biết quý từng giây, từng phút, từng giờ để lao động, làm việc, học tập có hiệu quả, năng suất cao. Tranh thủ thời gian để phát triển đất nước nhanh, bền vững, thúc đẩy nhanh quy mô, tốc độ, hiệu quả và tính bền vững của nền kinh tế, tránh chủ quan, thỏa mãn, đẩy lùi nguy cơ tụt hậu xa hơn về kinh tế, so với các nước trong khu vực và trên thế giới.

Phải chống lãng phí nguồn nhân lực. Việt Nam đang ở thời kỳ dân số vàng với hơn 100 triệu dân, hơn 50 triệu người trong độ tuổi lao động. Cần đào tạo bài bản, sử dụng tốt nguồn nhân lực, nhất là nhân lực chất lượng cao. Có nhân lực chất lượng cao mới ứng dụng có kết quả cao cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư, công nghệ thông tin, trí tuệ nhân tạo AI, chuyển đổi số, hội nhập quốc tế tốt hơn, bảo đảm cho dân tộc Việt Nam thật sự vươn mình.


Quyết tâm chống lãng phí trong sử dụng tài nguyên đất, nước, rừng, biển, khoáng sản và các nguồn tài nguyên khác. Giữ bằng được 4 triệu héc-ta đất trồng lúa để bảo đảm an ninh lương thực quốc gia cho hôm nay và các thế hệ tiếp theo. Có chiến lược nước quốc gia cho phát triển kinh tế và đời sống người dân. Bảo vệ tài nguyên rừng vì cuộc sống con người và chống hiểm họa lũ lụt, sạt lở đất. Sử dụng có hiệu quả tài nguyên biển, không khai thác tận diệt nguồn lợi từ biển, bảo đảm Việt Nam mạnh lên từ biển, giàu lên từ biển.


Chủ tịch Hồ Chí Minh cho rằng xây dựng chủ nghĩa xã hội là công việc to lớn, nặng nề, phức tạp và rất vẻ vang. “Đây là một cuộc chiến đấu chống lại những gì đã cũ kỹ, hư hỏng, để tạo ra những cái mới mẻ, tốt tươi. Để giành lấy thắng lợi trong cuộc chiến đấu khổng lồ này cần phải động viên toàn dân, tổ chức và giáo dục toàn dân, dựa vào lực lượng vĩ đại của toàn dân” (3).

Làm theo tấm gương đạo đức cộng sản, đạo đức cách mạng của V.I.Lênin và Hồ Chí Minh là giải pháp quan trọng trong phòng chống quan liêu, tham nhũng, lãng phí. V.I.Lênin là lãnh tụ vì dân “Ghét mọi quân thù, ghét mọi nước sơn/Suốt đời mang tấm áo dạ sờn/Đôi giày ống gót mòn sỏi đá” (Với Lênin-Tố Hữu). Hồ Chí Minh: “Một đời thanh bạch, chẳng vàng son/Mong manh áo vải, hồn muôn trượng/Hơn tượng đồng phơi những lối mòn”. “Nâng niu tất cả, chỉ quên mình” (Bác ơi-Tố Hữu). Trong đấu tranh chống sự hư hỏng, tiêu cực, chỉ có thấm nhuần đạo đức cách mạng mới thành công vững bền./.

ST  

ĐẾ XUẤT ƯU TIÊN QUỸ ĐẤT ĐỂ BỘ QUỐC PHÒNG, BỘ CÔNG AN LÀM NHÀ Ở CHO CÁN BỘ, CHIẾN SĨ

Tại phiên thảo luận về kết quả giám sát chuyên đề “việc thực hiện chính sách, pháp luật về quản lý thị trường bất động sản và phát triển nhà ở xã hội từ năm 2015 đến hết năm 2023” tại Kỳ họp thứ tám, vấn đề phát triển nhà ở xã hội cho lực lượng vũ trang được nhiều đại biểu Quốc hội cho ý kiến.

Đề xuất Bộ Quốc phòng làm cơ quan chủ quản triển khai nhà ở xã hội cho Quân đội phù hợp với nhu cầu

Nêu ý kiến, Trung tướng Nguyễn Quốc Duyệt, Tư lệnh Bộ tư lệnh Thủ đô Hà Nội, đại biểu Quốc hội Đoàn TP Hà Nội dẫn Chỉ thị số 34 của Ban Bí thư, trong đó yêu cầu nghiên cứu ban hành cơ chế, chính sách đặc thù về nhà ở xã hội cho công nhân và lực lượng vũ trang nhân dân.

Đại biểu Nguyễn Quốc Duyệt cho biết, trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội gắn với bảo đảm quốc phòng, an ninh tại các địa phương, hiện nay có một phần quỹ đất quốc phòng không còn sử dụng cho mục đích quốc phòng, Bộ Quốc phòng chuyển giao cho địa phương quản lý để UBND các cấp đưa vào kế hoạch phát triển nhà ở cho lực lượng vũ trang theo kế hoạch.

Tuy nhiên, điều này dẫn đến việc phụ thuộc vào kế hoạch phát triển nhà của các địa phương trong khi nhu cầu nhà ở của cán bộ Quân đội hiện nay rất lớn. 

“Toàn quân có khoảng 70.000 các đồng chí đang công tác, sinh sống trên địa bàn 63 tỉnh, thành phố. Riêng trên địa bàn Thủ đô Hà Nội có khoảng 20.000 đồng chí có nhu cầu về nhà ở nên việc triển khai thực hiện chính sách nhà ở cho cán bộ Quân đội đã và đang gặp rất nhiều khó khăn”, đại biểu nêu thực tế.

Đồng chí Tư lệnh Bộ tư lệnh Thủ đô Hà Nội cho biết, Bộ Quốc phòng có các cơ quan chuyên môn về đầu tư, xây dựng, quản lý doanh nghiệp và các doanh nghiệp quốc phòng có chức năng ngành nghề xây dựng công trình đủ năng lực để quản lý và triển khai thực hiện các dự án về nhà ở, như Tổng công ty Đầu tư phát triển nhà và đô thị Bộ Quốc phòng; Binh đoàn 11; Binh đoàn 12 - Tổng Công ty xây dựng Trường Sơn; Tổng công ty 789; Tổng công ty 319 và một số doanh nghiệp xây dựng khác.

Vì vậy, đại biểu đề nghị bổ sung vào nghị quyết Quốc hội giao Chính phủ chỉ đạo Bộ Quốc phòng làm cơ quan chủ quản quyết định chấp thuận chủ trương đầu tư, lựa chọn chủ đầu tư để triển khai thực hiện phát triển nhà ở xã hội cho Quân đội phù hợp với nhu cầu của Bộ Quốc phòng.

“Như vậy, sẽ góp phần giảm bớt khó khăn, áp lực cho chính quyền địa phương phát triển nhà ở xã hội, bảo đảm phù hợp, thống nhất về trách nhiệm của Bộ Quốc phòng tại Luật Nhà ở năm 2023, tiếp tục thể chế hóa chủ trương của Đảng và chủ động triển khai thực hiện khi được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt, đáp ứng nhu cầu cấp bách về nhà ở của một phần cán bộ lực lượng vũ trang hiện nay”, đại biểu nói.

Giao Quân đội, Công an xây nhà cho lực lượng vũ trang: Không mâu thuẫn với Luật Nhà ở

Đồng quan điểm, đại biểu Dương Khắc Mai (Đoàn Đắk Nông) cũng cho rằng, Luật Nhà ở năm 2023 đã giao cho công đoàn làm nhà cho công nhân, vì vậy, đại biểu cũng kiến nghị nên giao cho Quân đội, Công an xây nhà cho lực lượng vũ trang.

Theo đại biểu Dương Khắc Mai, lực lượng vũ trang có nguồn lực, có kỷ luật và trách nhiệm rất cao nên sẽ thực hiện rất nhanh.

Đồng tình với đại biểu Dương Khắc Mai, đại biểu Trịnh Xuân An (Đoàn Đồng Nai) cho biết, hiện nay lực lượng vũ trang bàn giao đất cho địa phương để làm các dự án và và ngược lại, lực lượng vũ trang cũng đang rất cần nhu cầu nhà ở cho cán bộ, chiến sĩ.

Do đó, đại biểu cho rằng, với những phần đất đã bàn giao cho địa phương để làm nhà xã hội, làm nhà công vụ, đề nghị giao cho Quân đội, Công an đứng ra làm trực tiếp cho cán bộ, chiến sĩ.

“Chúng ta cần có giải pháp đề nghị với các địa phương là nên ưu tiên giao lại quỹ đất để Bộ Quốc phòng, Bộ Công an triển khai các dự án nhà ở cho lực lượng vũ trang. Nội dung này cũng không mâu thuẫn với Luật Nhà ở vừa thông qua; tôi chỉ đề nghị thay đổi phương pháp làm: Cũng là đất đó nếu để địa phương làm cũng được, nhưng nếu được thì địa phương ưu tiên bố trí và để cho Bộ Quốc phòng, Bộ Công an đứng ra làm, chủ trì triển khai”, đại biểu Trịnh Xuân An phân tích thêm.

Đại biểu làm rõ thêm: "Chủ trì triển khai tức là chủ đầu tư lập kế hoạch, phê duyệt, lựa chọn nhà đầu tư, còn những việc khác vẫn phải tuân thủ theo quy định của pháp luật, không thể làm trái Luật Nhà ở, Luật Kinh doanh bất động sản. Một trong những nhiệm vụ lớn của Quân đội có 3 chức năng đã rõ gồm: Đội quân chiến đấu, đội quân lao động, sản xuất và đội quân công tác. Các doanh nghiệp Quân đội nếu muốn tham gia làm cũng phải bình đẳng và phải làm theo quy định của pháp luật"./. 

St

ĐẢNG ĐỔI MỚI PHƯƠNG THỨC LÃNH ĐẠO, ĐƯA ĐẤT NƯỚC VƯƠN MÌNH: SỨ MỆNH LỊCH SỬ

 Đất nước đang đứng trước thời điểm lịch sử mới, kỷ nguyên mới thì yêu cầu đổi mới mạnh mẽ phương thức lãnh đạo để dẫn dắt dân tộc bước vào “kỷ nguyên vươn mình,” được đặt ra cấp bách.

Hơn 94 năm lãnh đạo Cách mạng, Đảng ta không ngừng hoàn thiện phương thức lãnh đạo, nâng cao năng lực lãnh đạo, năng lực cầm quyền.

Và hiện tại, đất nước đang đứng trước thời điểm lịch sử mới, kỷ nguyên mới thì yêu cầu đổi mới mạnh mẽ phương thức lãnh đạo để dẫn dắt dân tộc bước vào “kỷ nguyên vươn mình,” đang đặt ra cấp bách.

Dẫn lối dân tộc vào kỷ nguyên mới

Thực tiễn và lịch sử cả trong nước và quốc tế đã cho thấy những dẫn chứng cụ thể, khi có những thời điểm cách mạng gặp khó khăn, khủng hoảng thậm chí là thất bại, nguyên nhân không xuất phát từ chủ trương đường lối mà chính là phương thức lãnh đạo chưa phù hợp, chưa bắt kịp với tình hình, bối cảnh thời điểm đó đang đặt ra.

Thực tiễn trong suốt quá trình lãnh đạo cách mạng, vấn đề đổi mới phương thức lãnh đạo luôn được Đảng ta coi trọng, từng bước thực hiện với những nhiệm vụ, giải pháp phù hợp, hiệu quả.

Tiến sỹ Nguyễn Viết Chức, Ủy viên Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Phó Chủ nhiệm Hội đồng tư vấn văn hóa - xã hội cho rằng việc tiếp tục bổ sung, hoàn thiện phương thức lãnh đạo của Đảng là cần thiết và có ý nghĩa quan trọng phù hợp với bối cảnh mới hiện nay. Đó là những yêu cầu khách quan. Chính sự linh hoạt, sáng tạo, hoàn thiện phương thức lãnh đạo của Đảng đã chèo lái con thuyền đất nước vượt qua được những khó khăn.

Theo Tiến sỹ Nguyễn Viết Chức, như Tổng Bí thư Tô Lâm nói kỷ nguyên mới, kỷ nguyên ở đây là kỷ nguyên phát triển mới, giai đoạn phát triển mới ở Việt Nam, đặt ra một khát vọng lớn. Khát vọng trở thành nước đang phát triển có thu nhập cao vào năm 2030, đặc biệt đến 2045 thành nước phát triển có thu nhập cao.

Do đó, phải tiếp tục đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng. Đây chính là kinh nghiệm của Đảng ta trong suốt quá trình cách mạng đó là luôn sáng tạo, luôn đổi mới nhưng bản chất không thay đổi. Nguyên tắc là không thay đổi vị trí lãnh đạo của Đảng, nhưng đổi mới về phương thức là cần thiết.

Trên cơ sở quan điểm của chủ nghĩa Marx-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, Đại hội VII của Đảng lần đầu tiên đề cập “đổi mới nội dung và phương thức lãnh đạo của Đảng”, nhấn mạnh cần “quy định cụ thể mối quan hệ và lề lối làm việc giữa Đảng với Nhà nước và các đoàn thể nhân dân ở các cấp, trước hết là ở Trung ương.”

Các Đại hội VIII, IX, X, XI và XII đều tiếp tục bổ sung, phát triển quan điểm về phương thức lãnh đạo của Đảng; Đại hội XIII nhấn mạnh “Tiếp tục đổi mới mạnh mẽ phương thức lãnh đạo của Đảng trong điều kiện mới.”

Trên cơ sở tổng kết 15 năm thực hiện Nghị quyết số 15-NQ/TW của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa X, Hội nghị Trung ương 6 khóa XIII ban hành Nghị quyết số 28-NQ/TW ngày 17/11/2022 về tiếp tục đổi mới phương thức lãnh đạo, cầm quyền của Đảng đối với hệ thống chính trị trong giai đoạn mới.

Vai trò lãnh đạo, cầm quyền của Đảng đối với Nhà nước và xã hội được khẳng định trong các bản Hiến pháp của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam; cơ chế “Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, nhân dân làm chủ” cũng sớm được khẳng định và thực thi bằng các quy định chặt chẽ trong Điều lệ Đảng, Hiến pháp và các quy định của pháp luật, cũng như các quy chế, quy định của các tổ chức khác trong hệ thống chính trị, các hội quần chúng.

Phó Giáo sư, Tiến sỹ Trương Ngọc Nam, nguyên Giám đốc Học viện Báo chí và Tuyên truyền khẳng định, Đảng ta đã làm tròn vai trò, sứ mệnh lịch sử của mình. Mặc dù trong quá trình phát triển có những khó khăn nhất định nhưng Đảng ta đã vượt qua những khó khăn, thách thức, thậm chí nhanh chóng phát hiện và sửa chữa những hạn chế, khuyết điểm của mình để ngày càng nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu, là nhân tố quyết định mọi thắng lợi cuộc cách mạng Việt Nam trong các thời kỳ.

Việc xây dựng Đảng cầm quyền theo đúng tinh thần của Chủ tịch Hồ Chí Minh, lãnh đạo là đề ra đường lối đúng để phát triển đất nước và thông qua đường lối đó để lãnh đạo Nhà nước, lãnh đạo tổ chức đoàn thể để thực hiện đường lối đó.

Vai trò lãnh đạo của Đảng - yếu tố then chốt

Trong quá trình lãnh đạo, Đảng thường xuyên đổi mới, phát triển, hoàn thiện phương thức lãnh đạo, cầm quyền phù hợp với yêu cầu, nhiệm vụ đặt ra, từ đó lãnh đạo dân tộc Việt Nam giành nhiều thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử, để đất nước ta có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế như ngày nay.

Thạc sỹ Nguyễn Thị Thủy, Trưởng Khoa Xây dựng Đảng, Trường Chính trị tỉnh Bình Dương nhận định, vai trò lãnh đạo của Đảng trong giai đoạn hiện nay là yếu tố then chốt bảo đảm sự trong sạch, vững mạnh, giúp Đảng vượt qua mọi khó khăn, thử thách đưa đất nước phát triển.

Phân tích từ thực tiễn tại Bình Dương, Thạc sỹ Nguyễn Thị Thủy cho rằng, tỉnh đã đạt được những bước tiến lớn nhờ đổi mới phương thức lãnh đạo. Tại Hội nghị sơ kết giữa nhiệm kỳ 2020 - 2025, vai trò của Đảng bộ tỉnh được đánh giá cao trong việc định hướng phát triển kinh tế - xã hội.

Với các chính sách thu hút đầu tư và cải thiện môi trường kinh doanh, Bình Dương đã trở thành tỉnh dẫn đầu về thu hút vốn FDI. Sự phát triển này không chỉ thúc đẩy nền kinh tế mà còn cải thiện chất lượng cuộc sống của người dân thông qua các chương trình an sinh xã hội, giáo dục và y tế.

Để duy trì đà phát triển này, tỉnh Bình Dương tiếp tục đẩy mạnh công tác xây dựng Đảng, hệ thống chính trị vững mạnh, cũng như thực hiện Kết luận số 21-KL/TW, ngày 25/10/2021 về xây dựng và chỉnh đốn Đảng. Đặc biệt, tỉnh sẽ tập trung phát triển đô thị theo hướng bền vững, đẩy nhanh tiến độ các công trình trọng điểm và xây dựng thành phố thông minh, trung tâm đổi mới sáng tạo.

Thạc sỹ Nguyễn Thị Thủy bày tỏ tin tưởng, với tinh thần dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm, mục tiêu tỉnh Bình Dương trở thành thành phố trực thuộc Trung ương vào năm 2030 sẽ thành hiện thực, góp phần đưa tỉnh trở thành một địa phương văn minh, hiện đại; giúp khu vực Đông Nam Bộ là trung tâm kinh tế, tài chính, giáo dục và khoa học công nghệ hàng đầu trong cả nước.

Dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam - một Đảng luôn lấy việc phục vụ nhân dân làm lẽ sống và mục tiêu phấn đấu, luôn trung thành tuyệt đối và vô hạn với lợi ích của dân tộc, của nhân dân, như lời Chủ tịch Hồ Chí Minh “ngoài lợi ích của Tổ quốc, của nhân dân, Đảng ta không có lợi ích gì khác,” đã chèo lái con thuyền cách mạng, đưa đất nước Việt Nam vượt qua mọi thác ghềnh, lập nên nhiều kỳ tích.

Từ một đất nước chưa có tên trên bản đồ thế giới, bị chiến tranh tàn phá nặng nề, Việt Nam đã vươn lên trở thành biểu tượng hòa bình, ổn định, hiếu khách, điểm đến của các nhà đầu tư và du khách quốc tế.

Từ một nền kinh tế lạc hậu, Việt Nam đã vươn lên lọt vào Top 40 nền kinh tế hàng đầu, có quy mô thương mại trong Top 20 quốc gia trên thế giới, mắt xích quan trọng trong 16 FTA gắn kết với 60 nền kinh tế chủ chốt ở khu vực và toàn cầu.

Từ một đất nước bị bao vây cô lập, Việt Nam đã thiết lập quan hệ ngoại giao với 193 quốc gia thành viên Liên hợp quốc, có quan hệ Đối tác chiến lược và Đối tác toàn diện với 30 nước, trong đó có tất cả các nước lớn, và là thành viên tích cực của trên 70 tổ chức khu vực và quốc tế. Lấy hạnh phúc, ấm no của nhân dân là mục tiêu phấn đấu, Việt Nam được Liên hợp quốc và bạn bè quốc tế xem như một câu chuyện thành công, một điểm sáng về xóa đói giảm nghèo, không ngừng nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của người dân.

Bước sang thế kỷ 21, Việt Nam đã đạt được những thành tựu to lớn trong phát triển kinh tế - xã hội. Ước tính tốc độ tăng trưởng GDP bình quân giai đoạn 2021 - 2025 đạt 5,7-5,9%/năm, thuộc nhóm dẫn đầu khu vực và thế giới; quy mô nền kinh tế tăng 1,45 lần, ước đạt 500 tỷ USD vào năm 2025. Thu nhập bình quân đầu người tăng mạnh từ 3.400 USD đến khoảng 4.650 USD, đưa Việt Nam vào nhóm nước thu nhập trung bình cao vào năm 2025…

Đặc biệt, với phương hướng, mục tiêu, nhiệm vụ của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân trong 5 năm tới (2026 - 2030), nước ta tiếp tục thực hiện Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 10 năm (2021 - 2030); hướng tới mốc son 100 năm đất nước dưới sự lãnh đạo của Đảng; tạo nền tảng để hiện thực hóa tầm nhìn đến năm 2045, khi kỷ niệm 100 năm thành lập nước.

Trước những dấu mốc có tính bước ngoặt này, cán bộ, đảng viên và nhân dân đang rất trông đợi, kỳ vọng lớn vào những quyết sách mới, mạnh mẽ và sáng suốt của Đảng để mang lại những đột phá phát triển cho đất nước./. 

St

NÚI CAO CÒN CÓ NÚI CAO HƠN

 Trong thế giới bao la rộng lớn của nhân loại kiến thức là vô hạn và nhân tài luôn đầy rẫy. Cho dù chúng ta có thật sự giỏi giang nhưng vẫn có người giỏi hơn ta. Bởi thế, việc sống khiêm nhường là điều hợp lý và sẽ giúp bạn tránh khỏi một số phiền phức không đáng trong cuộc sống. 

Hãy học cách lắng nghe, học cách tiếp thu, và đôi khi học cách nuốt vào những lời phê bình, những nhận xét nghiêm khắc, để lấy đó làm động lực cho chính mình cố gắng hơn và giỏi giang hơn, sống thì phải biết vị trí của mình ở đâu !?

Chúng ta chỉ là những con người nhỏ bé trong xã hội mênh mông này. Vậy nên hãy sống sao để lòng thanh thản an bình là hạnh phúc nhất, tranh  giành làm chi, thể hiện làm gì, hơn thua thì được gì chỉ chuốc thêm phiền phức mà thôi. Người tán dương bạn thật sự không có bao nhiêu nhưng kẻ ganh ghét thì nhiều vô kể. 

Khiêm tốn mới là đỉnh cai của sự hiểu biết …

St Dịu Đào

NGHỊCH LÝ

Mới đây đọc được một thông tin của giáo sư Nguyễn Thiện Nhân, nói trong một cuộc họp gì đó rằng, cứ với tỳ suất sinh như hiện nay thì đến năm 2200, dân số nước Việt sẽ chỉ còn là 46 triệu người. Nhận định đó là đúng hay sai thì xin nhường cho các nhà nhân chủng học. Nhận định của giáo sư Nhân là dựa trên tỷ lệ sinh hiện nay vào khoảng 2%, vì thế, một mặt dân số già đi, người còn sức lao động cũng ít đi, đó có phải là điều đáng để chúng ta lo lắng.

Lão không biết vì lão không phải là nhà khoa học. Song lão thấy có điều gì đó mà ta gọi là nghịch lý.

Năm 1945, thời điểm Cách mạng tháng Tám thành công, dân số cả nước ta chỉ có 25 triệu người. Trải qua những thời kỳ đói kém, chiến tranh loạn lạc rồi hòa bình được lập lại, dân số nước CHXHCN Việt Nam đã đạt con số 100 triệu người vào năm 2023. Như vậy, trong giai đoạn từ 1945 đến 1975 là 30 năm, rồi từ 1975 đến 2025 là 50 năm, chưa đủ qua một thế kỷ (còn thiếu 20 năm), với điều kiện xã hội muôn vàn khó khăn gian khổ, ấy thế mà việc sinh đẻ cứ gọi là “sòn sòn”. Chính vì tỷ lệ sinh đẻ ở thời kỳ này cao như vậy nên mới có chủ trương “kế hoạch hóa” và nơi nơi xuất hiện cái băng-rôn với câu “mỗi nhà có hai con, vợ chồng hạnh phúc”.

Đó là một nghịch lý, nghèo nhưng lại đẻ nhiều. Ngày nay, Việt Nam tuy được gọi là giàu nhanh nhưng vẫn còn thua các nước phát triển. Những tưởng như các cụ nhà ta thường nói, “no ăn ấm cật dậm dật phao câu”, song không phải thế. Ngày nay chưa ai nói chính thức là không hạn chế sinh đẻ nữa, cũng có nghĩa là “đẻ tùy sức”, sức ở đây vừa là sức khỏe lại vừa là mức độ thỏa mãn về tiền của. Ấy thế mà thời hiện đại lại xuất hiện trào lưu, ở với nhau không có hôn thú, và chấp nhận không có con nối dõi tông đường. Thế là dân số giảm. Lại thêm một nghịch lý, lần này lại là trào lưu ngược với thời kỳ nghèo khổ trước đây.

Khi đem chuyện này ra trao đổi với mấy người, họ bảo tuy đời sống vật chất có được cải thiện nhiều, song vẫn sợ những khoản gia đình phải chi ra cứ ngày một tăng. Chỗ nào tăng? Giáo dục và y tế! Cái thời cả nước còn chưa biết hình hài cái nền kinh tế thị trường như thế nào, và cả nước còn gạo 13 kí, vải 5 mét, đường 250 gam vân vân, song chẳng gia đình nào phải lo con mình thất học, chẳng ai lo “có bệnh phải vái tứ phương”. Con đến tuổi thì đưa nó vào trường, học được hay không là chuyện của những đứa trẻ, bởi trường sở do nhà nước xây, trang bị học đường do nhà nước sắm, đội ngũ giáo viên do nhà nước nuôi. 

Mỗi khi ai đó có bệnh cứ việc đưa đến bệnh viện cao thấp, xa gần, tùy theo tình trạng người bệnh mà xử lý. Chả ai phải lo viện phí cao hay thấp; chẳng ai lo phải đi cầu cạnh bác sĩ này bác sĩ khác.

Ấy là thời bao cấp, là thời xã hội ta còn thấp kém, nghèo khổ. Mọi thứ, từ chuyện học hành đến khám chữa bệnh đều “fờ-ri”. Tại sao lại được vậy? Vì những mặt trái của nền kinh tế thị trường nó chưa có điều kiện chen vào mọi mặt cuộc sống xã hội. Còn ngày nay, đụng đâu là cần tiền đó. Người ta quên (vô tình hay cố tình), quên béng mất vế quan trọng ở đằng sau. Thế là dân sợ đẻ!

Dân sợ đẻ dẫn đến số người già tăng lên, số người trẻ giảm đi, vậy lấy ai mà đủ cho quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa? Vì vậy để tránh hoặc làm chậm quá trình già hóa dân số, đâu chỉ có việc vận động các bà các chị đẻ nhiều, đẻ cho đến khi hết trứng thì thôi! Nếu như các ngành như y tế, giáo dục cứ tăng thu như hiện nay và hơn nữa thì còn ai dám đẻ.

St Dịu Đào