Thứ Tư, 2 tháng 4, 2025

 Báo chí lan tỏa tinh thần lạc quan, tin tưởng, tạo khí thế, quyết tâm bước vào kỷ nguyên mới

Đồng chí Nguyễn Trọng Nghĩa, Uỷ viên Bộ Chính trị, Bí thư Trung ương Đảng, Trưởng Ban Tuyên giáo và Dân vận Trung ương phát biểu chỉ đạo tại hội nghị. Ảnh: Phương Hoa/TTXVN

Báo chí truyền cảm hứng, dẫn dắt xã hội

Đến dự và phát biểu tại giao ban báo chí, Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Trung ương Đảng, Trưởng Ban Tuyên giáo và Dân vận Trung ương Nguyễn Trọng Nghĩa nêu rõ: Năm 2024, chúng ta đã trải qua nhiều sự kiện, nhiều vấn đề hệ trọng của đất nước. Các cơ quan báo chí, phát thanh, truyền hình đã lan tỏa mạnh mẽ tinh thần lạc quan, tin tưởng, không khí vui tươi, tạo khí thế quyết tâm trong hệ thống chính trị, trong cán bộ, đảng viên và nhân dân, để nhân dân ta tự tin bước vào kỷ nguyên mới, kỷ nguyên vươn mình phát triển giàu mạnh của đất nước. 

Ban Bí thư Trung ương Đảng đánh giá trong năm qua, các cơ quan báo chí, đặc biệt là các cơ quan báo chí chủ lực rất tích cực trong công tác thông tin, tuyên truyền về những sự kiện chính trị trong và ngoài nước, khu vực và thế giới, cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực; tuyên truyền về các sự kiện lịch sử của đất nước, đặc biệt là 95 năm Ngày thành lập Đảng, tạo nền tảng tiếp tục bước vào 5 năm tiếp theo với nhiều thành công mới, làm nổi bật chủ đề "Đảng Cộng sản Việt Nam - bản lĩnh, trí tuệ, uy tín, đổi mới vì độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội"; thể hiện sự quan tâm của lãnh đạo Đảng, Nhà nước, các bộ, ngành, địa phương trong thực hiện tốt chính sách an sinh xã hội, đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân - Trưởng Ban Tuyên giáo Trung ương Nguyễn Trọng Nghĩa nêu rõ và thay mặt Bộ Chính trị, Ban Bí thư, nhiệt liệt biểu dương những nỗ lực, cũng như kết quả của báo chí đã đạt được trong năm 2024 và đặc biệt là trong dịp Tết Nguyên đán Ất Tỵ.

Nêu một số nhiệm vụ của báo chí năm 2025, Trưởng Ban Tuyên giáo Trung ương Nguyễn Trọng Nghĩa lưu ý các cơ quan báo chí đẩy mạnh tuyên truyền trong thi đua yêu nước, khơi dậy lòng yêu nước, tự tin, tự lực, tự hào dân tộc, khơi dậy nguồn lực, thúc đẩy văn hóa con người Việt Nam để phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội của đất nước.

Cùng với đó, tiếp tục tuyên truyền về đại hội đảng bộ các cấp tiến tới Đại hội XIV của Đảng. Đây là một không gian rất rộng lớn để báo chí khai thác, tuyên truyền. Báo chí cần khai thác để thấy được sự nỗ lực, vươn lên của đất nước, khơi dậy sự tự tôn, tự hào dân tộc; làm rõ những vấn đề về lý luận và thực tiễn giúp người dân, nhất là những người chưa có điều kiện nghiên cứu lý luận thực tiễn có thể tìm hiểu qua báo chí. Trong đó, những yếu tố rất quan trọng là tư tưởng, tổ chức, cán bộ và chương trình để thực hiện khát vọng phát triển đất nước.

Các cơ quan báo chí cần phát triển các ấn phẩm, kênh thông tin bằng nhiều ngôn ngữ để tiếp cận hiệu quả với bạn bè quốc tế, đồng thời tăng cường hợp tác với các cơ quan truyền thông quốc tế để lan tỏa thông tin chính thống, đấu tranh phản bác các thông tin sai lệch, xuyên tạc về Việt Nam. Bên cạnh đó, báo chí cần nâng cao chất lượng đội ngũ nhà báo, xây dựng đội ngũ những người làm báo có bản lĩnh chính trị vững vàng, đạo đức nghề nghiệp trong sáng và trình độ chuyên môn cao.

Chất lượng đào tạo báo chí phải đạt chuẩn, đáp ứng yêu cầu của thời kỳ mới, không chỉ giỏi về nghiệp vụ, còn phải sâu sắc về lý luận chính trị, am hiểu thực tiễn đời sống xã hội. Việc tăng cường bồi dưỡng lý luận chính trị, kỹ năng nghiệp vụ cho đội ngũ nhà báo, đặc biệt là các phóng viên trẻ, được coi là nhiệm vụ trọng tâm để đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của công tác tuyên truyền trong tình hình mới - Trưởng Ban Tuyên giáo và Dân vận Trung ương nhấn mạnh.

Báo chí tích cực tham gia vào công cuộc chuyển đổi số, khai thác tối đa lợi thế của công nghệ hiện đại để lan tỏa thông tin chính thống, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trên không gian mạng, góp phần bảo vệ vững chắc nền tảng tư tưởng của Đảng; phát triển mạnh mẽ trên các nền tảng số, tận dụng mạng xã hội như một kênh truyền thông hiệu quả để tiếp cận nhanh chóng, kịp thời với mọi đối tượng độc giả, đặc biệt là giới trẻ.

Liên quan đến việc thực hiện Nghị quyết 18-NQ/TW về sắp xếp, tổ chức bộ máy tinh gọn, hiệu lực, hiệu quả, Trưởng Ban Tuyên giáo Trung ương Nguyễn Trọng Nghĩa nhận định, vừa qua các cơ quan báo chí đã thực hiện tốt nhưng đó mới chỉ là bước đầu, còn rất nhiều việc phải làm, tiếp đó là hoàn thiện đội ngũ cán bộ trong hệ thống chính trị. Báo chí phải tuyên truyền sâu rộng, mạnh mẽ hơn nữa, tích cực tham gia vào nền tảng mạng xã hội; có giải pháp để tự vượt qua chính mình. Báo chí không chỉ cung cấp thông tin mà còn cung cấp tri thức để truyền cảm hứng, dẫn dắt xã hội. Việc sắp xếp bộ máy vừa qua là một cuộc cách mạng, đã là cách mạng thì bao giờ cũng có khó khăn, báo chí phải tiên phong dẫn dắt, củng cố niềm tin thì cách mạng mới thành công. 

Bên cạnh đó, báo chí cần đẩy mạnh các nội dung tuyên truyền về những ngày lễ lớn, sự kiện quan trọng trong năm 2025 như: Kỷ niệm 95 năm ngày thành lập Đảng, kỷ niệm 50 năm giải phóng miền Nam thống nhất đất nước, kỷ niệm 100 năm ngày báo chí cách mạng Việt Nam, kỷ niệm 135 ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh, kỷ niệm 80 năm ngày thành lập nước… 

Dẫn lại phát biểu của Tổng Bí thư Tô Lâm tại Lễ trao Giải Búa liềm vàng 2024: "Thành tựu của đất nước trong gần 40 năm tiến hành công cuộc đổi mới là vĩ đại. Kỷ nguyên mới đang mở ra tương lai xán lạn của dân tộc. Kỷ nguyên mới cũng đặt ra yêu cầu nhiệm vụ mới, cao hơn đối với báo chí cách mạng, đòi hỏi báo chí cũng phải phát triển tương xứng, vươn mình cùng dân tộc, xứng tầm nền báo chí chuyên nghiệp, nhân văn, hiện đại", Trưởng Ban Tuyên giáo Trung ương Nguyễn Trọng Nghĩa nhấn mạnh: Đây chính là yêu cầu đối với báo chí cách mạng thời gian tới, đặc biệt trong năm 2025 - năm kỷ niệm 100 năm báo chí cách mạng Việt Nam và nhiều sự kiện quan trọng của đất nước.

Quang cảnh giao ban báo chí đầu xuân Ất Tỵ 2025.

Quang cảnh Hội nghị giao ban báo chí đầu xuân Ất Tỵ 2025.

Hỗ trợ các cơ quan báo chí ổn định, phát huy hiệu quả

Theo Thứ trưởng Thông tin và Truyền thông Bùi Hoàng Phương, năm 2024 đánh dấu nhiều dấu mốc quan trọng trong quá trình phát triển của đất nước, nổi bật là cuộc cách mạng tinh gọn tổ chức bộ máy hệ thống chính trị, cùng việc triển khai các chủ trương, định hướng nhằm tháo gỡ những điểm nghẽn về thể chế. Đặc biệt, Bộ Chính trị đã ban hành Nghị quyết số 57-NQ/TW với mục tiêu đột phá trong phát triển khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia. Đây là những dấu mốc đặc biệt, mở ra kỷ nguyên mới với những động lực mạnh mẽ để đất nước bứt phá.

Trong bối cảnh đó, các cơ quan báo chí đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ chính trị của mình, góp phần quan trọng vào việc tạo dựng sự đồng thuận trong xã hội và toàn hệ thống chính trị. Báo chí không chỉ là tiếng nói của Đảng, Nhà nước và nhân dân, còn là lực lượng tiên phong bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, khơi dậy khát vọng phát triển đất nước Việt Nam hùng cường, thịnh vượng.

2024 cũng là năm ghi dấu sự nỗ lực của nhiều cơ quan báo chí trong việc sắp xếp, tinh gọn tổ chức bộ máy. Trong quá trình thực hiện quy hoạch báo chí, cả nước đã giảm 58 cơ quan báo và khoảng 115 tạp chí. Nhiều cơ quan báo chí đã chuyển đổi cơ quan chủ quản, một số sáp nhập hoặc chấm dứt hoạt động. Thực hiện Nghị quyết số 18-NQ/TW, dự kiến sẽ tiếp tục giảm thêm 51 cơ quan báo chí trên toàn quốc. Việc sắp xếp này thể hiện quyết tâm chính trị mạnh mẽ của Đảng và Nhà nước nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động, bảo đảm vai trò định hướng dư luận của các cơ quan báo chí.

Thứ tưởng Bùi Hoàng Phương khẳng định: Bộ Thông tin và Truyền thông đánh giá cao tinh thần nghiêm túc, trách nhiệm của các cơ quan báo chí trong việc thực hiện sắp xếp tinh gọn tổ chức bộ máy. Bộ đã phối hợp chặt chẽ với các cơ quan liên quan để khẩn trương trình cấp có thẩm quyền ban hành quy định về chức năng, nhiệm vụ và tổ chức bộ máy của các cơ quan báo chí sau sắp xếp, bảo đảm các cơ quan này nhanh chóng ổn định và phát huy hiệu quả.

Năm 2025, báo chí cách mạng Việt Nam sẽ tiếp tục đối diện với nhiều cơ hội, thách thức, đặc biệt là sự cạnh tranh gay gắt với các nền tảng truyền thông xuyên biên giới, Thứ trưởng Bùi Hoàng Phương đề nghị các cơ quan báo chí cần không ngừng đổi mới, nâng cao chất lượng nội dung, tập trung giải quyết các vấn đề tồn tại trong lĩnh vực báo chí, từ kinh tế báo chí đến chuyển đổi số. Báo chí cần giữ vững vai trò là kênh thông tin chính thống, định hướng dư luận, phản ánh trung thực đời sống xã hội, đồng thời lan tỏa những giá trị tích cực, củng cố niềm tin của nhân dân đối với Đảng, Nhà nước.

 Để chủ trương thu hút và trọng dụng nhân tài sớm đi vào cuộc sống

Giảng viên và sinh viên Trường Hóa và Khoa học sự sống, Đại học Bách khoa Hà Nội học tập, nghiên cứu với máy cộng hưởng từ hạt nhân. Ảnh: qdnd.vn

Từ chủ trương…

Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X của Đảng (năm 2006) đề ra nhiệm vụ phát hiện, đào tạo, bồi dưỡng, thu hút và trọng dụng nhân tài là một trong những nhiệm vụ chính trị quan trọng trong xây dựng chiến lược quốc gia. Văn kiện Hội nghị lần thứ 9 BCH Trung ương Đảng khóa X xác định rõ: Phát hiện, đào tạo, bồi dưỡng, sử dụng người có đức, có tài; tạo bước chuyển căn bản trong việc phát hiện, đào tạo, bồi dưỡng, sử dụng nhân tài; xây dựng chiến lược quốc gia về nhân tài; coi đó là giải pháp quan trọng trong thực hiện chiến lược cán bộ. Lựa chọn những người thực sự có đức, có tài giữ các vị trí lãnh đạo, đặc biệt là người đứng đầu. Ngày 6-8-2008, BCH Trung ương Đảng ban hành Nghị quyết số 27-NQ/TW “về xây dựng đội ngũ trí thức trong thời kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước”, xác định rõ vai trò của trí thức; xây dựng đội ngũ trí thức vững mạnh là đầu tư cho sự phát triển bền vững của đất nước.

Tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng (2011), Đảng ta chủ trương tiếp tục làm tốt hơn nữa công tác phát hiện, đào tạo và bồi dưỡng nhân tài, đặc biệt là phải có cơ chế, chính sách khuyến khích, thu hút và trọng dụng nhân tài, phát triển nền kinh tế tri thức. Văn kiện Hội nghị lần thứ 9 BCH Trung ương Đảng khóa XI khẳng định: Có chính sách trọng dụng trí thức, đặc biệt đối với nhân tài của đất nước. Hình thành đồng bộ cơ chế, chính sách khuyến khích, sáng tạo, trọng dụng nhân tài và đẩy mạnh ứng dụng khoa học - công nghệ…

Tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII (2016), Đảng ta tiếp tục khẳng định: Giáo dục là quốc sách hàng đầu. Phát triển giáo dục và đào tạo nhằm nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài.

Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII xác định: Bồi dưỡng sức dân, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, có cơ chế đột phá để thu hút, trọng dụng nhân tài, thúc đẩy đổi mới sáng tạo, ứng dụng mạnh mẽ khoa học và công nghệ… tạo động lực mạnh mẽ cho phát triển nhanh và bền vững.

Thể chế hóa các chủ trương của Đảng, Chính phủ đã ban hành nhiều cơ chế, chính sách để xây dựng, phát triển đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp từ nguồn cán bộ trẻ, cán bộ có năng lực, triển vọng phát triển. Điển hình là chính sách thu hút, tạo nguồn cán bộ từ sinh viên tốt nghiệp xuất sắc, cán bộ khoa học trẻ theo quy định tại Nghị định số 140/2017/NĐ-CP ngày 5-12-2017 của Chính phủ; quy định về xét tuyển công chức đối với sinh viên tốt nghiệp xuất sắc, nhà khoa học trẻ tài năng; chính sách áp dụng đối với người có tài năng trong hoạt động công vụ theo quy định tại Nghị định số 138/2020/NĐ-CP ngày 27-11-2020 của Chính phủ; chính sách về sử dụng, trọng dụng cá nhân hoạt động khoa học và công nghệ theo quy định tại Nghị định 40/2014/NĐ-CP ngày 12-5-2014 của Chính phủ…

… Đến triển khai thực hiện

Thực tiễn thời gian qua cho thấy, các bộ, ngành, địa phương đã tích cực triển khai thực hiện chính sách thu hút, trọng dụng người có tài năng, sinh viên tốt nghiệp xuất sắc để tạo nguồn cán bộ trẻ, tài năng cho nền công vụ. Khi có văn bản của Trung ương, hầu hết các tỉnh, thành phố đã ban hành văn bản quy định về chính sách thu hút, bố trí và đãi ngộ người có tài năng, cán bộ trẻ có năng lực, trình độ chuyên môn cao về làm việc cho các cơ quan hành chính tại địa phương mình. Trong đó, đề ra các chính sách ưu đãi cụ thể như ưu tiên trong tuyển dụng (bằng hình thức xét tuyển hoặc tiếp nhận không qua thi tuyển); ưu đãi qua việc hỗ trợ một khoản tiền nhất định (trợ cấp ban đầu); trong quá trình công tác được hưởng các chính sách ưu tiên trong đào tạo, bồi dưỡng; nâng bậc lương đối với những cán bộ có thành tích xuất sắc theo quy định; thường xuyên sơ kết, tổng kết, khen thưởng kịp thời đến những gương điển hình tiên tiến trong quá trình làm việc. Trong các quy định về trọng dụng, đãi ngộ người có tài năng, có thành tích trong hoạt động công vụ, có địa phương đã thành lập Quỹ ưu đãi, khuyến khích các nhà khoa học đầu ngành, chuyên gia giỏi, người có trình độ cao nhằm thu hút, sử dụng, đào tạo, bồi dưỡng tài năng trẻ. Một số địa phương còn hỗ trợ nhà ở, chi phí đi lại cho các chuyên gia, nhà khoa học…

Bên cạnh đó, các địa phương, cơ quan, bộ, ban, ngành thường xuyên tổ chức nhiều phong trào, chương trình, cuộc vận động, cuộc thi, ý tưởng sáng tạo trên nhiều lĩnh vực nhằm tạo sân chơi cho các tài năng trẻ phát huy năng lực của mình. Nhờ đó, việc phát hiện, thu hút và trọng dụng nhân tài đạt nhiều kết quả; đã tập hợp được nhiều tài năng trên các lĩnh vực, góp phần đẩy mạnh CNH, HĐH, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

Cả nước có 14 cơ quan Trung ương và 22 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương đã tích cực triển khai thực hiện thí điểm Đề án “Đổi mới cách tuyển chọn, lãnh đạo quản lý cấp vụ, cấp sở, cấp phòng”. Tiếp đó, có 12 địa phương không thuộc diện triển khai thí điểm cũng đã thực hiện theo chủ trương khuyến khích của Ban Bí thư. Một số bộ, ngành, địa phương đã cụ thể hóa các cơ chế, chính sách cho phù hợp với tình hình thực tiễn ở địa phương, cơ quan và thực hiện hiệu quả nhiều chính sách thu hút nhân tài.

Đến nay, sau 5 năm triển khai thực hiện Đề án thí điểm tại 32 cơ quan, địa phương được chọn, có 12 cơ quan Trung ương đã tổ chức thi tuyển 70 vị trí (gồm 58 vị trí cấp vụ; 12 vị trí cấp phòng); 20 địa phương đã tổ chức thi tuyển 1.124 vị trí (gồm 66 vị trí cấp sở; 1.058 vị trí cấp phòng).

Tuy nhiên, bên cạnh kết quả đat được, công tác khuyến khích, trọng dụng nhân tài, đặc biệt là đội ngũ cán bộ trẻ còn một số hạn chế nhất định. Nhìn chung, cơ chế, chính sách đối với đội ngũ cán bộ trẻ, cán bộ có năng lực nổi trội còn hạn chế, chưa thể tạo được sự chuyển biến mạnh mẽ. Cụ thể, hiện chưa có tiêu chí cụ thể để đánh giá, nhận diện cán bộ có năng lực nổi trội; tư tưởng hẹp hòi, đố kỵ vẫn còn tồn tại ở một số cán bộ lãnh đạo, quản lý; nhận thức về các chính sách, phát hiện, thu hút và trọng dụng nhân tài ở nhiều bộ, ngành, địa phương chưa thực sự sâu sắc, toàn diện; việc triển khai các chính sách thu hút và trọng dụng nhân tài một số nơi chưa đồng bộ và có hệ thống…

Một số giải pháp

Để thực hiện có hiệu quả chủ trương về thu hút và trọng dụng nhân tài của Đảng và Nhà nước, thời gian tới các bộ, ban, ngành, địa phương, cơ quan, đơn vị, cấp ủy, chính quyền các cấp nên chăng quan tâm thực hiện một số giải pháp sau:

Một là, thường xuyên quán triệt và triển khai thực hiện nghiêm túc các quan điểm, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước về chính sách khuyến khích, thu hút và trọng dụng nhân tài, nhất là cán bộ trẻ có năng lực, triển vọng; về công tác xây dựng và phát triển đội ngũ cán bộ trẻ tài năng. Trong đó, cần nắm vững và thực hiện nghiêm các nghị quyết, chỉ thị, quy định của Đảng, Nhà nước về công tác cán bộ và xây dựng đội ngũ cán bộ các cấp đủ uy tín, năng lực ngang tầm nhiệm vụ trong tình hình mới.

Hai là, nâng cao nhận thức, phát huy hơn nữa vai trò, trách nhiệm người đứng đầu trong công tác cán bộ, trong lãnh đạo, chỉ đạo xây dựng đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý thuộc thẩm quyền. Người đứng đầu, thủ trưởng cơ quan, đơn vị phải là những người có năng lực, trình độ thực sự, khi đó mới có khả năng nhìn nhận và đánh giá một cách khách quan đối với cán bộ có tài năng, triển vọng. Người đứng đầu, lãnh đạo các cơ quan, đơn vị phải đổi mới tư duy, nhận thức trong thực hiện chính sách đối với cán bộ có năng lực nổi trội, cán bộ trẻ; chỉ đạo làm tốt các khâu trong công tác cán bộ; khắc phục những yếu kém, hạn chế trong công tác lãnh đạo, điều hành và tổ chức thực hiện các chủ trương, chính sách.

Ba là, tiếp tục hoàn thiện đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước về cơ chế, chính sách phát hiện, thu hút, trọng dụng nhân tài cho nền công vụ; thể chế hóa chủ trương khuyến khích và bảo vệ cán bộ năng động, sáng tạo, dám nghĩ, dám làm, dám đột phá, dám đương đầu với khó khăn, thử thách vì lợi ích chung theo Kết luận số 14-KL/TW ngày 22-9-2021 của Bộ Chính trị; xây dựng và hoàn thiện quy định về tiêu chuẩn, tiêu chí đối với cán bộ có năng lực nổi trội, có bản lĩnh và cán bộ trẻ tài năng, sinh viên ưu tú; hoàn thiện quy trình, phương pháp nhằm phát hiện, lựa chọn, trọng dụng, bố trí, sắp xếp cán bộ có năng lực vào vị trí lãnh đạo, quản lý các cấp; ban hành chế độ, chính sách đãi ngộ phù hợp để thu hút nhân tài…

Bốn là, chú trọng đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ trẻ năng động, sáng tạo có năng lực, phẩm chất và uy tín vào các vị trí lãnh đạo, quản lý. Đánh giá và rà soát nhu cầu nâng cao năng lực của đội ngũ cán bộ trẻ để xây dựng chương trình đào tạo, bồi dưỡng phù hợp đối với người có tài năng, có thành tích nổi trội; tạo điều kiện thuận lợi để họ được tham gia đào tạo, bồi dưỡng kiến thức, kỹ năng phù hợp với năng lực, sở trường công tác. Xây dựng chương trình, tuyển chọn và thực hiện đào tạo, bồi dưỡng đối với cán bộ trẻ được bổ nhiệm ở những vị trí lãnh đạo, quản lý. Tiếp tục xây dựng môi trường, điều kiện làm việc phù hợp, hiệu quả nhằm thu hút, tạo động lực đối với nhân tài, cán bộ có bản lĩnh, năng lực nổi trội, cán bộ trẻ có tài năng. Khuyến khích, tạo điều kiện cho nhân tài làm việc trong các cơ quan, đơn vị được tham gia học tập, giao lưu với các chuyên gia, nhà khoa học để cập nhật tri thức mới, hướng phát triển mới, đóng góp cho sự phát triển chung của cơ quan, đơn vị và sự phát triển của đất nước.

Năm là, tăng cường hoạt động thanh tra, kiểm tra, giám sát việc thực hiện chính sách thu hút và trọng dụng nhân tài; việc đào tạo, bồi dưỡng, tạo nguồn cán bộ tài năng, cán bộ trẻ làm cán bộ lãnh đạo, quản lý. Từ đó, nhân rộng các điển hình tiên tiến, đồng thời ngăn ngừa, phát hiện, xử lý vi phạm trong triển khai thực hiện chính sách phát hiện, thu hút và trọng dụng nhân tài của Đảng, Nhà nước. Mỗi cơ quan, đơn vị có chức năng, nhiệm vụ thanh tra, kiểm tra phù hợp nhằm đánh giá đúng việc thực hiện chính sách, chế độ đãi ngộ với cán bộ. Công tác này cần phải được làm thường xuyên, liên tục, đánh giá một cách khách quan, công khai để các cơ quan, đơn vị, cá nhân nhận thức được kết quả trong công tác, từ đó có những biện pháp khắc phục những thiếu sót, khuyết điểm.

Sáu là, nâng cao năng lực, trình độ của cán bộ, công chức tham mưu xây dựng, thực hiện chính sách. Đội ngũ này phải là những người có chuyên môn giỏi, có kiến thức thực tiễn sâu rộng, kinh nghiệm giải quyết tình huống, phải có kỹ năng lập kế hoạch, kỹ năng hướng dẫn, kỹ năng thuyết phục, tổng hợp, lấy ý kiến, kỹ năng phân tích, đánh giá, rút kinh nghiệm… Chú trọng và thực hiện nghiêm túc việc đánh giá tác động của chính sách trước khi ban hành để bảo đảm tính khả thi, toàn diện, đồng bộ và hiệu quả.

 Thúc đẩy chuyển đổi số trong đào tạo, bồi dưỡng lý luận chính trị

Hội thảo khoa học quốc gia: Chuyển đổi số trong công tác tư tưởng, lý luận ở Việt Nam hiện nay do Học viện Báo chí và Tuyên truyền phối hợp Nhà xuất bản Chính trị quốc gia Sự thật và Học viện Cảnh sát nhân dân tổ chức. Ảnh: nhandan.vn

1. Lợi ích chính của chuyển đổi số trong giáo dục, đào tạo

Chuyển đổi số trong lĩnh vực giáo dục, đào tạo là xu thế tất yếu, là quá trình thay đổi tổng thể và toàn diện hoạt động lãnh đạo, quản lý, vận hành toàn bộ quy trình giáo dục, đào tạo; tác động tới cá nhân, tổ chức về cách quản trị, cách làm việc và phương thức tổ chức trong lĩnh vực giáo dục, đào tạo.

Yêu cầu chuyển đổi số quy trình giáo dục, đào tạo là tất yếu hiện nay. Hình thành hệ thống cơ sở dữ liệu lớn để quản lý các quy trình giáo dục, đào tạo ở các cấp, trình độ. Số hóa từng quy trình, khâu nghiệp vụ, đầu vào - đầu ra. Áp dụng công nghệ kiểm tra, giám sát vào từng khâu của quy trình giáo dục, đào tạo nhằm bảo đảm khách quan, chặt chẽ và chất lượng. Nhờ hỗ trợ của công nghệ, hình thức giáo dục, đào tạo trở nên đa dạng, tiện ích hơn cho nhiều đối tượng có nhu cầu nâng cao kiến thức và kỹ năng như đào tạo từ xa, học trực tuyến, công nghệ giáo dục thông minh… Hệ thống giảng đường thông minh kết nối với các hệ thống học liệu, thông tin, thư viện mở.

Chuyển đổi số đem lại nhiều lợi ích cho xã hội, trong đó có đào tạo nhân lực nói chung: Hình thành và tiếp cận kho thông tin, kiến thức, kỹ năng đa dạng, phong phú của nhân loại trên toàn cầu. Đây là cơ sở dữ liệu lớn cho nghiên cứu và học tập của cá nhân, cơ quan nghiên cứu, đào tạo. Làm thay đổi cách dạy - học, phát huy vai trò trung tâm của người học, người dạy định hướng, dẫn dắt phương pháp luận, truyền cảm hứng. Coi trọng quá trình tự học và học tập suốt đời của người học. Chuyển đổi số tác động sâu rộng, bao trùm lên tất cả các ngành, các lĩnh vực kinh tế - xã hội, góp phần tăng năng suất lao động, chuyển đổi mô hình hoạt động, kinh doanh theo hướng đổi mới sáng tạo, từ đó nâng cao năng lực cạnh tranh của quốc gia. Chuyển đổi số trong giáo dục sẽ đổi mới cách thức giảng - dạy truyền thống hướng tới phổ cập hóa và cá nhân hóa dịch vụ học tập suốt đời tới từng người học. Phát triển nhiều phương thức tổ chức học tập tiện lợi cho người học trong mọi không gian và thời gian khác nhau. Phát triển hình thức đào tạo từ xa, trực tuyến có khả năng kết nối người học từ nhiều quốc gia, địa phương khác nhau, tùy thuộc thời gian phù hợp. Quản lý giáo dục, đào tạo trở nên hiệu lực, hiệu quả, rõ ràng, minh bạch hơn. Các khâu của quá trình giáo dục, đào tạo được số hóa và kết nối liên thông hệ thống; việc đánh giá kết quả học tập môn học, chất lượng quá trình trở nên chặt chẽ, đồng bộ.

2. Vai trò lãnh đạo của Đảng và thể chế hóa của Nhà nước

Thời gian qua, Đảng và Nhà nước ta lãnh đạo, chỉ đạo các cấp, các ngành đẩy mạnh ứng dụng thành tựu khoa học - công nghệ cuộc cách mạng 4.0. Ngày 27-9-2019, Bộ Chính trị ban hành Nghị quyết số 52-NQ/TW về “một số chủ trương, chính sách chủ động tham gia cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư”, theo đó khẳng định “chủ động, tích cực tham gia cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư là yêu cầu tất yếu khách quan; là nhiệm vụ có ý nghĩa chiến lược đặc biệt quan trọng, vừa cấp bách, vừa lâu dài của cả hệ thống chính trị và toàn xã hội, gắn chặt với quá trình hội nhập quốc tế sâu rộng; đồng thời nhận thức đầy đủ, đúng đắn về nội hàm, bản chất của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư để quyết tâm đổi mới tư duy và hành động, coi đó là giải pháp đột phá với bước đi và lộ trình phù hợp để Việt Nam bứt phá trong phát triển kinh tế - xã hội”. Nghị quyết số 52 xác định việc xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp lý phù hợp với thời đại số là rất cần thiết. Đây có thể được coi là một yếu tố quan trọng để thúc đẩy, phát triển Chính phủ số.

Văn kiện Đại hội XIII của Đảng chỉ rõ: “Phát triển nhanh và bền vững dựa chủ yếu vào khoa học - công nghệ, đổi mới sáng tạo và công nghệ số. Phải đổi mới tư duy và hành động, chủ động nắm bắt kịp thời, tận dụng hiệu quả các cơ hội của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư gắn với quá trình hội nhập quốc tế để cơ cấu lại nền kinh tế, phát triển kinh tế số, xã hội số”. Đại hội cũng xác định mục tiêu: “Phấn đấu đến năm 2030, hoàn thành xây dựng chính phủ số; đứng trong nhóm 50 quốc gia hàng đầu thế giới và xếp thứ ba trong khu vực ASEAN về chính phủ điện tử, kinh tế số”.

Nhân dịp kỷ niệm 79 năm Quốc khánh nước Cộng hòa XHCN Việt Nam (2-9-1945 - 2-9-2024), Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm có bài phát biểu “Chuyển đổi số - Động lực quan trọng phát triển lực lượng sản xuất, hoàn thiện quan hệ sản xuất đưa đất nước bước vào kỷ nguyên mới”, nhấn mạnh: Chuyển đổi số không đơn thuần là việc ứng dụng công nghệ số vào các hoạt động kinh tế - xã hội, mà còn là quá trình xác lập một phương thức sản xuất mới tiên tiến, hiện đại - phương thức sản xuất số, trong đó đặc trưng của lực lượng sản xuất là sự kết hợp hài hòa giữa con người và trí tuệ nhân tạo; dữ liệu trở thành một tài nguyên, trở thành tư liệu sản xuất quan trọng; đồng thời quan hệ sản xuất cũng có những biến đổi sâu sắc, đặc biệt là trong hình thức sở hữu và phân phối tư liệu sản xuất số…

Thực hiện chủ trương, đường lối của Đảng, Chính phủ ban hành nhiều văn bản đề ra các mục tiêu, nhiệm vụ và giải pháp theo lộ trình, định hướng triển khai chuyển đổi số, xác định tầm nhìn tới năm 2030: Việt Nam trở thành quốc gia số, ổn định và thịnh vượng, tiên phong thử nghiệm các công nghệ và mô hình mới; đổi mới căn bản, toàn diện hoạt động quản lý, điều hành của Chính phủ, hoạt động sản xuất - kinh doanh của doanh nghiệp, phương thức sống, làm việc của người dân, phát triển môi trường số an toàn, nhân văn, rộng khắp.

3. Mô hình chuyển đổi số trong đào tạo, bồi dưỡng lý luận chính trị

Ý tưởng chuyển đổi số trong đào tạo, bồi dưỡng lý luận chính trị (đào tạo sơ cấp, trung cấp, cao cấp; bồi dưỡng nghiệp vụ chuyên môn xây dựng Đảng...) được khái quát như sau: Tất cả các khâu, giai đoạn được số hóa và tích hợp tổng thể thành hệ thống liên thông, việc quản trị toàn hệ thống trong môi trường số hóa.

Dựa trên nền tảng chuyển đổi số đồng bộ, việc tổ chức các hình thức học trực tuyến, kết hợp trực tuyến và trực tiếp, nhiều hình thức học trên nền tảng số trở nên phổ biến và hiệu quả hơn.

Lợi ích chính của chuyển đổi số trong đào tạo, bồi dưỡng lý luận chính trị:

1. Xây dựng nội dung học tập lý luận chính trị, cơ sở dữ liệu lớn - số hóa, cập nhật đều đặn và đưa trên mạng in-tơ-nét (dạng chữ, âm thanh, băng hình…) để cán bộ, đảng viên và người có nhu cầu tiếp cận nghiên cứu, học tập, góp phần nâng cao nhận thức về Chủ nghĩa Mác-Lênin, Tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, năng lực lãnh đạo, quản lý.

2. Tạo thuận lợi cho cán bộ, đảng viên học tập lý luận chính trị theo hình thức học từ xa, trực tuyến (thiết kế các mô hình phân định theo yêu cầu từng đối tượng học, đánh giá chất lượng...) mà không nhất thiết phải học tập trung tại cơ sở đào tạo. Cán bộ, đảng viên tham gia trên nền tảng số có thể học tập bất cứ ở đâu, khi nào, kết quả được đánh giá khách quan bằng công cụ số hóa trên mạng in-tơ-nét.

3. Tiết kiệm thời gian và kinh phí. Nhiều cán bộ, đảng viên có thể tham gia học tập từ xa, trực tuyến cùng lúc trên không gian mạng, tranh thủ học vào thời điểm ngoài thời gian làm việc hành chính. Tạo thuận lợi cho cán bộ, đảng viên học tập thường xuyên trên môi trường số. Tự học và học tập suốt đời là nhu cầu thiết thực, khả thi trong môi trường số.

4. Góp phần giảm tải cho các cơ sở đào tạo hiện nay khi có quá nhiều cán bộ, đảng viên đăng ký học tại trường lớp. Cơ sở đào tạo thiết kế các chương trình, mô-đun đáp ứng các mục tiêu học tập khác nhau theo hình thức từ xa, trực tuyến, kết hợp trực tuyến và trực tiếp. Quy định rõ đối tượng cán bộ, đảng viên tham gia các hình thức này.

4. Các giải pháp cơ bản triển khai mô hình chuyển đổi số

Thứ nhất, chuyển đổi nhận thức và cam kết chính trị về chuyển đổi số.

Cần khẳng định quan điểm: Chuyển đổi số trước hết cần phải chuyển đổi nhận thức, nhất là người đứng đầu. Một cơ quan, tổ chức có thể tiến hành chuyển đổi số ngay thông qua sử dụng nguồn lực, hệ thống kỹ thuật sẵn có để số hóa toàn bộ nguồn thông tin của mình, tái cấu trúc quy trình nghiệp vụ, cơ cấu tổ chức và các mối quan hệ từ môi trường truyền thống sang môi trường số.

Chương trình chuyển đổi số quốc gia đã xác định giáo dục là một trong 8 lĩnh vực cần ưu tiên chuyển đổi số trước. Phát triển nền tảng hỗ trợ dạy và học từ xa, ứng dụng triệt để công nghệ số trong công tác quản lý, giảng dạy và học tập; số hóa tài liệu, giáo trình; xây dựng nền tảng chia sẻ tài nguyên giảng dạy và học tập theo cả hình thức trực tiếp và trực tuyến. Phát triển công nghệ phục vụ giáo dục, hướng tới đào tạo cá thể hóa. 100% các cơ sở giáo dục triển khai công tác dạy và học từ xa, trong đó thử nghiệm chương trình đào tạo cho phép học sinh, sinh viên học trực tuyến tối thiểu 20% nội dung chương trình. Ứng dụng công nghệ số để giao bài tập về nhà và kiểm tra sự chuẩn bị của học sinh trước khi đến lớp học.

Sự tham gia của cả hệ thống chính trị và của toàn dân, hành động đồng bộ ở các cấp là yếu tố bảo đảm sự thành công của chuyển đổi số. Các bộ, ngành, địa phương, tổ chức, doanh nghiệp phải coi chuyển đổi số quốc gia là một nhiệm vụ quan trọng trong chỉ đạo, điều hành và căn cứ tình hình cụ thể của từng bộ, ngành, địa phương, tổ chức, doanh nghiệp để quyết định xây dựng đề án, chương trình, chiến lược, kế hoạch lồng ghép nội dung về chuyển đổi số trong hoạt động của mình. Nội dung chuyển đổi số quốc gia phải được chỉ đạo, giám sát, đánh giá định kỳ hằng năm, giữa nhiệm kỳ, 5 năm.

Đối với đào tạo, bồi dưỡng lý luận chính trị, cần cam kết chính trị mạnh mẽ của các cấp, cơ quan liên quan. Xuất phát từ nhận thức đầy đủ lợi ích của chuyển đổi số, cấp ủy, tổ chức đảng các cấp, người đứng đầu lãnh đạo, chỉ đạo xây dựng chiến lược, lộ trình, kế hoạch, phân bổ nguồn lực để chuyển đổi số kịp thời, đồng bộ. Cơ sở đào tạo lý luận chính gồm Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, 4 học viện khu vực, Học viện Báo chí và Tuyên truyền, các trường chính trị cấp tỉnh, các trung tâm bồi dưỡng cấp huyện và một số cơ sở khác liên quan phải tiên phong trong chuyển đổi số bằng những hành động thiết thực.

Thứ hai, cụ thể hóa nội hàm phương thức sản xuất số.

Tổng Bí thư Tô Lâm nêu ra khái niệm phương thức sản xuất số: “Phương thức sản xuất số” gắn liền với bối cảnh phát triển của của cách mạng 4.0, chuyển đổi số mạnh mẽ trong toàn bộ xã hội”.

Đối với lĩnh vực giáo dục, đào tạo nói chung, lực lượng sản xuất là sự kết hợp giữa nguồn nhân lực làm công tác giáo dục, đào tạo (nòng cốt là giáo viên, giảng viên) với tư liệu sản xuất liên quan (hệ thống cơ sở vật chất, nền tảng kỹ thuật công nghệ phục vụ dạy và học). Trong bối cảnh cách mạng công nghiệp 4.0, “lực lượng sản xuất” trong lĩnh vực giáo dục, đào tạo cần phải được ưu tiên phát triển, trong đó nguồn nhân lực cần được đào tạo, đào tạo lại để thích ứng với môi trường giảng dạy số hóa, cơ sở vật chất - kỹ thuật số hóa, đồng bộ như công cụ giảng dạy thông minh, kết nối mạng, giảng đường thông minh, cơ sở dữ liệu lớn về học liệu, thông tin, thư viện, quản trị số...

Đây cũng là sự đổi mới đồng bộ quan hệ sản xuất, bao gồm thể chế quản lý, tổ chức hình thức học tập, điều kiện và tiêu chuẩn chất lượng, đánh giá quá trình giáo dục, đào tạo, xác định tiêu chuẩn điều kiện đầu vào - đầu ra của quá trình giáo dục, đào tạo... Xây dựng các quy định cụ thể đối với các hình thức học tập trên môi trường số, bảo đảm chế độ, chính sách cho cán bộ, đảng viên tham gia học tập và chế độ, chính sách cho đội ngũ giảng viên làm việc trong môi trường số.

Thứ ba, xây dựng và phát triển cơ sở vật chất - kỹ thuật để phục vụ dạy và học trong môi trường số.

Phát triển hạ tầng số phục vụ đào tạo, bồi dưỡng lý luận chính trị, sẵn sàng đáp ứng nhu cầu bùng nổ về kết nối và xử lý dữ liệu, các chức năng về giám sát mạng lưới đến từng nút mạng và bảo đảm an toàn, an ninh mạng được tích hợp sẵn ngay từ khi thiết kế, xây dựng. Phát triển nền tảng số thúc đẩy nhanh tiến trình chuyển đổi số diễn ra một cách tự nhiên, khai mở giá trị mới, mang lại lợi ích rõ ràng cho cán bộ, đảng viên.

Cần thiết xây dựng và hoàn thiện cơ sở dữ liệu, chuyển đổi số ở tất cả các cơ sở đào tạo lý luận chính trị, bao gồm hoạt động đào tạo, bồi dưỡng, chương trình, tư liệu - thư viện, đội ngũ giảng viên, nghiên cứu viên..., đồng thời, chuyển đổi số về công tác tổ chức quản lý quy trình, khâu đào tạo, bồi dưỡng. Thiết lập mạng liên kết toàn hệ thống dữ liệu về công tác đào tạo, bồi dưỡng từ Trung ương đến ban, bộ, ngành, địa phương. Ứng dụng công nghệ trí tuệ nhân tạo, dữ liệu lớn để chia sẻ dữ liệu, quản lý mã định danh, xác định người dùng trên môi trường số kết nối, thực hiện số hóa các nguồn lực.

Thứ tư, phát triển đội ngũ giảng viên đủ khả năng làm việc trong môi trường số.

Xây dựng, phát triển đội ngũ giảng viên đủ năng lực làm việc trên môi trường số, bảo đảm yêu cầu về nhân lực chuyển đổi số. Theo đó, đưa ra quy định thống nhất về năng lực số cho người dạy, người học và người quản lý. Đẩy mạnh đào tạo, bồi dưỡng từ xa, trực tuyến tạo ra sự minh bạch, tiện ích cho cán bộ, đảng viên.

Đổi mới cách dạy và học trên cơ sở áp dụng công nghệ số. Khuyến khích các mô hình giáo dục, đào tạo mới dựa trên các nền tảng số. Tăng cường năng lực, kỹ năng cho đội ngũ giảng viên ứng dụng công nghệ thông tin và các tiến bộ khoa học - công nghệ vào hoạt động đào tạo, bồi dưỡng, tập trung chủ yếu vào chuyển đổi quá trình đào tạo, bồi dưỡng từ học chủ yếu trực tiếp trên lớp sang tổ chức hình thức học tập đa dạng gồm: Dạy và học trực tuyến qua in-tơ-nét, truyền hình; lớp học ảo; mô phỏng, số hóa bài giảng; các hoạt động xã hội, ngoại khóa... thực hiện số hóa, hình thành cơ sở dữ liệu về tài liệu, bài giảng phục vụ cho công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, đảng viên. Áp dụng học điện tử và phát huy cơ sở dữ liệu, học liệu, kết hợp các công cụ, phương tiện dạy và học thông minh, quản trị hiệu lực.

Bên cạnh đó, cần xây dựng những chính sách, chế độ phù hợp để bảo đảm cho đội ngũ giảng viên, nhân viên hỗ trợ giảng dạy đáp ứng yêu cầu chuyển đổi số đồng bộ, như đào tạo, đào tạo lại, khuyến khích vật chất, tinh thần đổi mới phương pháp giảng dạy, vận dụng kỹ thuật số gắn với nội dung giảng dạy,...

Thứ năm, huy động nguồn lực cho chuyển đổi số trong đào tạo, bồi dưỡng.

Tăng cường huy động nguồn lực từ nhiều “kênh”, sử dụng hiệu quả nguồn kinh phí đào tạo, bồi dưỡng cán bộ. Khuyến khích các tổ chức xã hội, doanh nghiệp và cá nhân áp dụng nhiều hình thức để tiến hành hỗ trợ đầu tư đối với công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, mở rộng các “kênh” thu hút nguồn kinh phí chi cho đào tạo, bồi dưỡng cán bộ. Huy động, phân bổ, sử dụng kinh phí và các nguồn lực xã hội nhằm đào tạo, bồi dưỡng cán bộ đủ năng lực làm việc trong môi trường số. Kinh phí đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, đảng viên được bảo đảm từ nguồn ngân sách nhà nước, từ tài trợ của tổ chức, cá nhân.

Kinh nghiệm của các nước là xây dựng cơ chế tương đối linh hoạt trong việc bảo đảm nguồn lực tài chính cho giáo dục, đào tạo nhân lực quốc gia nói chung và đào tạo, bồi dưỡng công chức nói riêng. Sự kết hợp nguồn lực công và tư giúp cho hoạt động đào tạo, bồi dưỡng trở nên đa dạng và linh hoạt, góp phần thực hiện các mục tiêu đề ra trong quá trình phát triển, chuyển đổi số.

Thứ sáu, tăng cường hợp tác quốc tế, tận dụng nguồn lực bên ngoài cho chuyển đổi số.

Hợp tác quốc tế, thu hút nguồn lực bên ngoài phục vụ đào tạo, bồi dưỡng công chức là một trong những kinh nghiệm hữu ích của các nước đi trước. Nhiều nước phát triển cung cấp nguồn vốn hỗ trợ cho các chương trình đào tạo, bồi dưỡng công chức tại các nước đang phát triển gắn với yêu cầu chuyển đổi số. Tăng cường bồi dưỡng, học hỏi kinh nghiệm trong đào tạo, bồi dưỡng phù hợp môi trường số là một trong những ưu tiên của nhiều quốc gia. Chủ động hợp tác quốc tế trong việc tham gia quản lý các tài nguyên chung trong môi trường số và trên không gian mạng; tham gia các tổ chức quốc tế và chủ trì, dẫn dắt triển khai một số sáng kiến về chuyển đổi số.

Hợp tác quốc tế là một giải pháp quan trọng để thực hiện chuyển đổi số, đặc biệt là thúc đẩy chuyển đổi số trong lĩnh vực giáo dục, đào tạo, trong đó có đào tạo, bồi dưỡng lý luận chính trị. Cơ sở đào tạo, tổ chức liên quan của Việt Nam hợp tác với các đối tác công nghệ lớn trên thế giới để nghiên cứu, phát triển, chuyển giao, tiên phong áp dụng công nghệ mới, mô hình mới về giáo dục, đào tạo vào Việt Nam.

Dưới sự lãnh đạo của Đảng, với sự đồng lòng, chung sức của cả hệ thống chính trị và toàn xã hội, chúng ta nhất định thực hiện thành công cuộc cách mạng chuyển đổi số, tạo ra bước đột phá trong phát triển lực lượng sản xuất và hoàn thiện quan hệ sản xuất, đưa đất nước ta, dân tộc ta vươn mình vượt bậc trong kỷ nguyên mới.

KIÊN QUYẾT LOẠI BỎ BỆNH HẸP HÒI

KIÊN QUYẾT LOẠI BỎ BỆNH HẸP HÒI


Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh - Người sáng lập, rèn luyện, lãnh đạo Đảng ta rất chú trọng đến việc phòng, chống, khắc phục, sửa chữa những căn bệnh thường hay xuất hiện trong Đảng, trong đó có bệnh hẹp hòi.


Tháng 10-1947, trong tác phẩm nổi tiếng Sửa đổi lối làm việc, Hồ Chí Minh đưa ra nhiều thông tin về bệnh hẹp hòi. Người xác định bệnh hẹp hòi rất nguy hiểm, mà nhiều cán bộ và đảng viên chúng ta còn mắc phải. Người chỉ rõ: trong, thì bệnh hẹp hòi ngăn trở Đảng thống nhất và đoàn kết, còn ngoài thì bệnh hẹp hòi phá hoại sự đoàn kết toàn dân. Người phân tích rất sâu sắc: bệnh hẹp hòi cùng với bệnh chủ quan, bệnh ích kỷ… mỗi chứng bệnh là một kẻ địch và mỗi kẻ địch bên trong là một bạn đồng minh của kẻ địch bên ngoài, trong đó kẻ địch bên trong đáng sợ hơn kẻ địch bên ngoài vì kẻ địch bên trong phá hoại từ trong phá ra.


Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng nêu rõ nguyên nhân sâu xa của bệnh hẹp hòi là chủ nghĩa cá nhân. Theo Người, chủ nghĩa cá nhân, đặt lợi ích riêng của mình, của gia đình mình lên trên, lên trước lợi ích chung của dân tộc và chủ nghĩa cá nhân đẻ ra hàng trăm tính xấu như siêng ăn, biếng làm, kèn cựa, nghĩ đến mình không nghĩ đến đồng bào, tham danh lợi, địa vị…


Từ đó, Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: “Chủ nghĩa cá nhân là kẻ thù nguy hiểm mà mỗi chúng ta phải luôn luôn tỉnh táo để phòng và kiên quyết tiêu diệt”. Người đưa ra nhiều giải pháp để phòng, chống chủ nghĩa cá nhân và bệnh hẹp hòi có hiệu quả. Trong đó, Người yêu cầu từng cán bộ, đảng viên phải đặt lợi ích chung của Đảng, của đất nước, nhân dân lên trên hết, sẵn sàng hy sinh lợi ích cá nhân, giữ cho: “Lòng của người cách mạng chân chính là phải rộng rãi như song, như bể, có như thế thì mới tiến bộ”. Hồ Chí Minh nhắc nhở cần tiến hành đồng bộ việc phòng, chống, khắc phục bệnh hẹp hòi, đồng thời kiên quyết, chặt chẽ với các bệnh khác. Người nêu cụ thể: “Chúng ta chống bệnh chủ quan, chống bệnh hẹp hòi, đồng thời cũng phải chống bệnh ba hoa. Vì ba thứ đó thường đi với nhau”. 


Để chiến thắng trong việc phòng, chống chủ nghĩa cá nhân và bệnh hẹp hòi, Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ ra phải huy động được quyết tâm, sức mạnh của Đảng, của nhân dân và đội ngũ cán bộ, đảng viên, trong đó từng cán bộ, đảng viên phải luôn thật sự tiên phong, gương mẫu. Người nhấn mạnh nguyên tắc tối cao của Đảng mà mỗi một cán bộ, đảng viên phải ghi chắc, thực hiện nghiêm túc, là: “Bất kỳ bao giờ bất kỳ việc gì, đều phải tính đến lợi ích chung của Đảng, phải đặt lợi ích của Đảng lên trên hết, trước hết, việc của cá nhân và lợi ích của cá nhân phải để lại sau”.


Hiện nay, trước những yêu cầu đòi hỏi ngày càng cao của Đảng, của cách mạng, trước cơ hội bước vào kỷ nguyên vươn mình phát triển của đất nước, việc chống chủ nghĩa cá nhân, chữa bệnh hẹp hòi cần phải được tiếp tục chú trọng, tiến hành quyết liệt, hiệu quả hơn. Đảng, Nhà nước, nhân dân cùng đội ngũ cán bộ, đảng viên của Đảng đã và đang nỗ lực thực hiện nhiều chủ trương, giải pháp tích cực, chặt chẽ để phòng, chống chủ nghĩa cá nhân, bệnh hẹp hòi. 


Đảng ta và đồng chí Tổng Bí thư Tô Lâm yêu cầu: “Đảng phải không ngừng đổi mới, tự chỉnh đốn, nâng cao năng lực lãnh đạo, cầm quyền, xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh để tiếp tục dẫn dắt dân tộc trên con đường phát triển trong kỷ nguyên mới, hiện thực hóa mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”. Đặc biệt, các cấp ủy và cán bộ, đảng viên phải hết sức chú trọng, khắc phục căn bệnh của công tác cán bộ trước Đại hội Đảng. Đó là: căn bệnh người không tái cử thì giữ an toàn, thủ thế, không dám triển khai cái mới; người dự kiến tham gia cấp ủy khóa mới thì giữ mình, không muốn va chạm, sợ mất phiếu; căn bệnh tính toán cho người thân, người quen, người “cánh hẩu” với mình vào các vị trí lãnh đạo hoặc dùng “thủ thuật tổ chức” để gạt người mà mình không thích. Đồng thời, Đảng và cán bộ, đảng viên của Đảng cũng cần  tiếp tục kiên quyết, kiên trì đấu tranh phòng, chống có hiệu quả sự chống phá của các thế lực thù địch, thế lực xấu, trong đó có nội dung chúng cố tình bịa đặt, xuyên tạc, vu cáo rằng, những người cộng sản ai cũng mắc bệnh cá nhân chủ nghĩa, tham lam, ích kỷ, hẹp hòi…


Trong các chủ trương, giải pháp huy động sức mạnh tổng hợp của Đảng, Nhà nước, nhân dân và đội ngũ cán bộ, đảng viên để phòng, chống chủ nghĩa cá nhân, bệnh hẹp hòi, Đảng ta và đồng chí Tổng Bí thư Tô Lâm đặc biệt nhấn mạnh đến vai trò, trách nhiệm, sự tiên phong, gương mẫu của cán bộ, đảng viên. Mỗi cán bộ, đảng viên của Đảng cần chủ động, nỗ lực rèn luyện phấn đấu, góp phần vào thắng lợi chung của Đảng, của cách mạng, theo đúng chỉ đạo của Đảng và đồng chí Tổng Bí thư Tô Lâm: “Mỗi cán bộ, đảng viên phải không ngừng tự học hỏi để “nâng mình lên” đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ trong giai đoạn mới của đất nước, nếu không đáp ứng được thì tự nguyện đứng sang một bên để người khác làm” và: “Hơn lúc nào hết, đội ngũ cán bộ, đảng viên phải nêu cao tinh thần trách nhiệm, gương mẫu thực hiện nhiệm vụ trên tinh thần đặt lợi ích chung lên trên hết, mạnh dạn đổi mới, sáng tạo, đột phá, dũng cảm hy sinh để đất nước phát triển”./

 NHẬN DIỆN ÂM MƯU, HOẠT ĐỘNG CHỐNG PHÁ NGÀY 30/4 CỦA CÁC THẾ LỰC THÙ ĐỊCH

      

Ngày 30/4 hằng năm là dịp để toàn thể Nhân dân Việt Nam ôn lại truyền thống hào hùng của dân tộc trong cuộc kháng chiến chống đế quốc Mỹ xâm lược, đánh dấu sự kiện lịch sử giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước. Tuy nhiên, đây cũng là thời điểm mà các thế lực thù địch, các tổ chức phản động lưu vong gia tăng các hoạt động chống phá, xuyên tạc lịch sử, gieo rắc luận điệu sai trái nhằm kích động tư tưởng chống đối trong Nhân dân. Vì vậy, nhận diện âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch trong dịp này là vô cùng cần thiết.

       

Các thế lực thù địch thường lợi dụng các phương tiện truyền thông, mạng xã hội để xuyên tạc lịch sử, phủ nhận ý nghĩa thắng lợi của cuộc kháng chiến chống đế quốc Mỹ. Chúng cố tình bóp méo sự kiện 30/4/1975 thành “ngày quốc hận”, kích động tư tưởng hận thù, chia rẽ khối đại đoàn kết dân tộc. Chúng luôn tìm cách lợi dụng những vấn đề nhạy cảm như dân chủ, nhân quyền để xuyên tạc, bịa đặt về tình hình chính trị, xã hội tại Việt Nam. 

       

Thủ đoạn của chúng thường là cắt ghép, bóp méo sự thật hoặc lợi dụng các sự kiện đơn lẻ để quy chụp, xuyên tạc chính sách của Đảng và Nhà nước. Chúng triệt để khai thác tâm lý thiếu thông tin của một bộ phận người dân, khoét sâu vào những vấn đề còn tồn tại để gây hoang mang, làm suy giảm niềm tin vào chính quyền, nhất là trong giai đoạn hiện nay nước ta đang đẩy mạnh việt sắp xếp, tinh gọn bộ máy Nhà nước cũng như các đơn vị hành chính. Thậm chí, một số tổ chức phản động lưu vong còn lợi dụng các diễn đàn quốc tế để vận động, kêu gọi sự can thiệp từ bên ngoài, nhằm gây sức ép chính trị đối với Việt Nam. Không những thế, chúng còn kích động, lôi kéo, xúi giục nhân dân trong nước, người Việt Nam ở nước ngoài tham gia các hoạt động tụ tập, biểu tình, gây rối an ninh trật tự; kết hợp với việc rải truyền đơn, khẩu hiệu phản động. Mặt khác, các đối tượng ở bên ngoài còn tuyên truyền, hướng dẫn người dân trong nước chuẩn bị vũ khí, vật liệu nổ, bom xăng... để tấn công các cơ quan công quyền, gây cháy nổ tại các địa điểm công cộng để gây mất an ninh trật tự, khủng bố, phá hoại trong dịp lễ 30/4.

       

Mạng xã hội đã trở thành công cụ đắc lực mà các thế lực phản động lợi dụng để truyền bá tư tưởng sai lệch, kích động chống đối và gây bất ổn xã hội. Nhờ vào tính lan truyền nhanh, khó kiểm soát và sự tham gia đông đảo của người dùng, đặc biệt là giới trẻ, chúng triệt để khai thác nền tảng này để phát tán thông tin giả, tạo dư luận tiêu cực, đưa ra những tin tức sai lệch về các vấn đề chính trị, kinh tế, xã hội để gây hoang mang trong dư luận. Lợi dụng sự thiếu thông tin và tâm lý tò mò của một bộ phận người dân, đặc biệt là những người chưa có khả năng kiểm chứng thông tin, các đối tượng này tung tin giả với nội dung giật gân, gây sốc nhằm thao túng nhận thức, khiến người dân mất niềm tin vào chính quyền. Đặc biệt, chúng nhắm đến giới trẻ - nhóm đối tượng dễ tiếp cận thông tin trên mạng xã hội nhưng chưa có đủ kinh nghiệm để phân biệt thật - giả. Bằng cách này, chúng không chỉ gieo rắc tư tưởng chống đối mà còn lôi kéo, kích động các hành vi vi phạm pháp luật.

        

Mỗi dịp 30/4, các tổ chức phản động thường lợi dụng sự kiện này để kích động, kêu gọi biểu tình, gây rối an ninh trật tự dưới vỏ bọc “tưởng niệm” hay “đòi công lý”. Đây là một thủ đoạn tinh vi nhằm tạo ra sự đối đầu giữa người dân với chính quyền, gây mất ổn định xã hội. Chúng lợi dụng những người nhẹ dạ, thiếu hiểu biết hoặc có tâm lý bất mãn để lôi kéo tham gia vào các hoạt động trái pháp luật, từ đó tạo ra hình ảnh hỗn loạn, bất ổn trong nước. Mục tiêu cuối cùng của những hoạt động này không phải là “tưởng niệm” hay “đòi công lý” như chúng rêu rao, mà là phá hoại sự ổn định của đất nước, làm suy giảm lòng tin của nhân dân vào Đảng và Nhà nước, bôi xấu hình ảnh Việt Nam trên trường quốc tế.

      

Âm mưu, hoạt động chống phá ngày 30/4 của các thế lực thù địch là một thực tế không thể phủ nhận. Tuy nhiên, với sự chủ động, kiên quyết của các cơ quan chức năng và sự đồng lòng của toàn dân, chúng ta hoàn toàn có thể đẩy lùi các luận điệu sai trái, bảo vệ thành quả cách mạng, giữ vững ổn định chính trị, xã hội của đất nước. Mỗi người dân Việt Nam cần nêu cao tinh thần yêu nước, cảnh giác và kiên quyết đấu tranh với các thế lực thù địch để bảo vệ độc lập, chủ quyền dân tộc./.

TÍCH CỰC RÈN LUYỆN, SẴN SÀNG CHO NGÀY HỘI LỚN CỦA DÂN TỘC

 TÍCH CỰC RÈN LUYỆN, SẴN SÀNG CHO NGÀY HỘI LỚN CỦA DÂN TỘC 


   Ngày 31/3, hơn 1.000 cán bộ, chiến sĩ thuộc 7 khối tham gia diễu binh, diễu hành trong lễ kỷ niệm 50 năm Ngày giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước (30/4/1975 – 30/4/2025) tham gia hợp luyện do   Quân khu 7 tổ chức.

   Dự có Thiếu tướng Lê Ngọc Hải, Phó Tham mưu trưởng Quân khu; Đại tá Thái Thành Đức, Phó Chủ nhiệm Chính trị Quân khu.

   Theo kế hoạch Bộ Quốc phòng, Bộ Công an, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, UBND TPHCM sẽ phối hợp tổ chức Lễ kỷ niệm 50 năm ngày Giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước (30/4/1975 - 30/4/2025) vào lúc 8 sáng 30/4/2025 tại trục đường Lê Duẩn (phía trước Hội trường Thống Nhất), Quận 1 trong đó có hoạt động diễu binh, diễu hành với sự tham gia khoảng 13.000 người.

QUÂN ĐỘI QUYẾT TÂM HOÀN THÀNH TỐT NHIỆM VỤ QUỐC TẾ CAO CẢ

 QUÂN ĐỘI QUYẾT TÂM HOÀN THÀNH TỐT NHIỆM VỤ QUỐC TẾ CAO CẢ


Trưa 30-3, Bộ Quốc phòng tổ chức Hội nghị giao nhiệm vụ cho lực lượng Quân đội nhân dân (QĐND) Việt Nam tham gia khắc phục hậu quả thảm họa động đất tại Myanmar.


Đại tướng Nguyễn Tân Cương, Ủy viên Trung ương Đảng, Ủy viên Thường vụ Quân ủy Trung ương, Tổng Tham mưu trưởng QĐND Việt Nam, Thứ trưởng Bộ Quốc phòng chủ trì hội nghị giao nhiệm vụ. 14 giờ 15 phút, tại Cảng hàng không quốc tế Nội Bài, Thượng tướng Hoàng Xuân Chiến, Ủy viên Trung ương Đảng, Ủy viên Thường vụ Quân ủy Trung ương, Thứ trưởng Bộ Quốc phòng chủ trì lễ tiễn đoàn. Cùng tham dự hai sự kiện có các đồng chí: Thượng tướng Huỳnh Chiến Thắng, Ủy viên Trung ương Đảng, Phó tổng Tham mưu trưởng QĐND Việt Nam; Thượng tướng Lê Quang Minh, Phó chủ nhiệm Tổng cục Chính trị QĐND Việt Nam và lãnh đạo các cơ quan, đơn vị...


Trách nhiệm cao trước cộng đồng quốc tế


Sau trận động đất lớn gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng, rất nhiều nạn nhân còn mất tích trong đống đổ nát, Myanmar đã kêu gọi cộng đồng quốc tế hỗ trợ ứng cứu. Thực hiện phương châm đối ngoại của Đảng, Việt Nam luôn sẵn sàng là bạn, là đối tác tin cậy, là thành viên có trách nhiệm với cộng đồng quốc tế và với truyền thống, đạo lý “thương người như thể thương thân” của dân tộc Việt Nam; ngay sau khi nhận được tin xảy ra động đất tại Myanmar, Thường vụ Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng đã chủ động tham mưu với Thường trực Ban Bí thư và Thủ tướng Chính phủ cử lực lượng QĐND Việt Nam sang hỗ trợ nhân đạo, cứu trợ thảm họa động đất tại nước bạn.


Ngay trong ngày 29-3, Bộ Quốc phòng đã chỉ đạo Cục Cứu hộ-Cứu nạn (Bộ Tổng Tham mưu QĐND Việt Nam) chủ trì, phối hợp với Cục Đối ngoại, Tổng cục Hậu cần-Kỹ thuật, Binh chủng Công binh, Bộ tư lệnh Bộ đội Biên phòng và các đơn vị chức năng xây dựng kế hoạch, tổ chức thành lập lực lượng của Quân đội tham gia hỗ trợ nhân đạo, cứu trợ thảm họa tại Myanmar gồm 80 quân nhân. 


Trong đó, đội quân y thuộc Tổng cục Hậu cần-Kỹ thuật gồm 30 đồng chí; Đội công binh cứu sập thuộc Binh chủng Công binh gồm 30 đồng chí; Đội huấn luyện viên và chó nghiệp vụ tìm kiếm cứu nạn thuộc Bộ đội Biên phòng có 9 đồng chí, 6 chó nghiệp vụ; bộ phận chỉ huy và cơ quan gồm 11 đồng chí. Tổng chỉ huy lực lượng là Thiếu tướng Phạm Văn Tỵ, Phó chánh Văn phòng Thường trực Ủy ban Quốc gia ứng phó sự cố, thiên tai và tìm kiếm cứu nạn, Phó cục trưởng Cục Cứu hộ-Cứu nạn.


Tổng cục Hậu cần-Kỹ thuật được giao nhiệm vụ chuẩn bị 40 tấn lương khô và 30 tấn hàng hóa giúp nhân dân Myanmar; chủ trì, phối hợp với các cơ quan, đơn vị làm tốt công tác bảo đảm hậu cần, kỹ thuật cho lực lượng thực hiện nhiệm vụ tại Myanmar. Cục Đối ngoại phối hợp với Quân chủng Phòng không-Không quân và các hãng hàng không dân dụng chuẩn bị tốt phương tiện vận chuyển hàng hóa, trang bị đến sân bay quốc tế Nội Bài và hiệp đồng với các lực lượng chức năng nước bạn triển khai kế hoạch vận chuyển hàng hóa, cơ động lực lượng đến vùng tâm chấn động đất...


Phát biểu tại hội nghị giao nhiệm vụ, Đại tướng Nguyễn Tân Cương nêu rõ: Việc cử lực lượng QĐND Việt Nam sang tham gia hỗ trợ nhân đạo, cứu trợ thảm họa tại Myanmar thể hiện chính sách đối ngoại ưu việt, trách nhiệm cao trước cộng đồng quốc tế của Đảng, Nhà nước, nhân dân Việt Nam; đồng thời, thể hiện và khẳng định uy tín, tinh thần trách nhiệm và năng lực của QĐND Việt Nam trong quan hệ, hợp tác quốc tế. Các quân nhân tham gia hỗ trợ nhân đạo, cứu trợ thảm họa tại Myanmar là vinh dự thực hiện một nhiệm vụ quốc tế cao cả và truyền thống, đạo lý “thương người như thể thương thân” của dân tộc Việt Nam.


Đại tướng Nguyễn Tân Cương yêu cầu trong thời gian thực hiện nhiệm vụ tại Myanmar, với vai trò đại diện cho đất nước và QĐND Việt Nam, các thành viên đoàn công tác cần nêu cao tinh thần tự giác, ý thức tổ chức kỷ luật, đoàn kết, chủ động khắc phục khó khăn, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ mà Đảng, Nhà nước, Quân đội tin tưởng giao phó; đặc biệt, giải quyết tốt các mối quan hệ, phối hợp với các lực lượng quốc tế, chính quyền và người dân nước bạn; phát huy phẩm chất tốt đẹp của QĐND Việt Nam, để lại ấn tượng đẹp trong lòng bạn bè quốc tế và người dân Myanmar.


Chuẩn bị khẩn trương để lên đường được ngay


Trước đó, trong buổi chiều và đêm 29-3, thực hiện chỉ đạo của thủ trưởng Bộ Quốc phòng, các cơ quan, đơn vị đã gấp rút làm công tác chuẩn bị để đưa lực lượng, phương tiện tham gia cùng cộng đồng quốc tế hỗ trợ Myanmar khắc phục thảm họa. Chỉ trong thời gian ngắn, các đơn vị đã hoàn thành khối lượng công việc lớn, thể hiện tính sẵn sàng cao của lực lượng Quân đội. Đại tướng Nguyễn Tân Cương đánh giá: "Song song với việc nhận mệnh lệnh dự báo, các đơn vị đã triển khai mọi công tác chuẩn bị. Khi có lệnh là lên đường ngay".


Trực tiếp chỉ đạo, đôn đốc công tác bảo đảm hậu cần, kỹ thuật và chuẩn bị lực lượng quân y, Thiếu tướng Hà Như Lợi, Phó chủ nhiệm Tổng cục Hậu cần-Kỹ thuật nhắc nhở bộ phận quân y: Trong quá trình triển khai nhiệm vụ cần chú trọng công tác phối hợp hiệp đồng với lực lượng công binh, lực lượng huấn luyện chó nghiệp vụ và các lực lượng của Việt Nam đang có mặt tại Myanmar. Phối hợp hiệp đồng với lực lượng cứu hộ của nước sở tại, các lực lượng quốc tế, nhất là trong tổ chức vận chuyển người bị nạn để bảo đảm việc thu dung, điều trị được kịp thời, hiệu quả.


Trong số các quân nhân tham gia làm nhiệm vụ tại Myanmar lần này, có nhiều đồng chí đã hoàn thành nhiệm vụ cứu hộ, cứu nạn tại Thổ Nhĩ Kỳ năm 2023. Đây chính là điều kiện thuận lợi của đoàn công tác, từ những kinh nghiệm sẵn có, lực lượng tham gia khắc phục thảm họa tại Myanmar sẽ vận dụng tốt vào tình huống thực tế.


Thượng tá Nguyễn Trung Kiên, Đội trưởng Đội huấn luyện viên và chó nghiệp vụ tham gia tìm kiếm cứu nạn, khắc phục hậu quả động đất tại Myanmar chia sẻ: “Chúng tôi xác định đây là nhiệm vụ hết sức quan trọng, thể hiện sự đoàn kết quốc tế, tính nhân văn cao cả. Toàn đội sẽ luôn nêu cao tinh thần tự giác, ý thức tổ chức kỷ luật, giữ gìn lễ tiết, tác phong quân nhân, chủ động khắc phục mọi khó khăn, quyết tâm hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ được giao”.


Thực hiện nhiệm vụ lần này, Binh chủng Công binh tổ chức lực lượng với nhiều trang thiết bị tìm kiếm cứu nạn chuyên dụng, hiện đại, dễ cơ động, như: Thiết bị dò tìm âm thanh DESA, radar tìm kiếm âm thanh, hình ảnh, thủy lực, thiết bị tìm kiếm nạn nhân dưới đống đổ nát cầm tay PO-900... cùng các vật chất bảo đảm sinh hoạt. Thiếu tướng Trần Trung Hòa, Tư lệnh Binh chủng Công binh, cho biết: “Các đồng chí trong đội công binh được cử đi làm nhiệm vụ đã tích cực làm công tác chuẩn bị, xác định tốt nhiệm vụ. Đây là những cán bộ có trình độ chuyên môn cao, giao tiếp tiếng Anh tốt”.


Quyết tâm làm sáng đẹp thêm hình ảnh Bộ đội Cụ Hồ


Lễ tiễn đoàn QĐND Việt Nam tham gia khắc phục hậu quả động đất tại Myanmar diễn ra vào 14 giờ 15 phút tại Cảng hàng không quốc tế Nội Bài dưới sự chủ trì của Thượng tướng Hoàng Xuân Chiến, Ủy viên Trung ương Đảng, Ủy viên Thường vụ Quân ủy Trung ương, Thứ trưởng Bộ Quốc phòng. Cùng tham dự lễ tiễn đoàn có Thượng tướng Huỳnh Chiến Thắng; Thượng tướng Lê Quang Minh; ông Soe Ko Ko, Đại biện lâm thời Đại sứ quán Myanmar tại Việt Nam và lãnh đạo một số cơ quan, đơn vị. 


Phát biểu tại lễ tiễn, thay mặt Quân ủy Trung ương, lãnh đạo Bộ Quốc phòng, Thượng tướng Hoàng Xuân Chiến biểu dương tinh thần chủ động khắc phục khó khăn, quyết tâm thực hiện nhiệm vụ của tất cả cơ quan, đơn vị; đặc biệt biểu dương 80 sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp đã xác định tốt nhiệm vụ, khẩn trương thu xếp công việc gia đình, cơ quan và hoàn thành mọi công tác chuẩn bị để lên đường.


Thượng tướng Hoàng Xuân Chiến cho biết, nước bạn đang hy vọng, chờ đợi lực lượng cứu hộ, cứu nạn của các quốc gia, trong đó có Việt Nam, đến hỗ trợ khắc phục hậu quả động đất. Do đó, từng bộ phận và cá nhân thuộc lực lượng cứu hộ, cứu nạn của QĐND Việt Nam đã quán triệt, triển khai làm tốt công tác chuẩn bị với khí thế quyết tâm hoàn thành sứ mệnh cao cả. Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng tin tưởng đoàn công tác sẽ hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ, tiếp tục phát huy truyền thống dân tộc Việt Nam anh hùng, QĐND Việt Nam anh hùng và làm sáng đẹp thêm hình ảnh Bộ đội Cụ Hồ trong lòng bạn bè quốc tế.


* Cũng trong chiều 30-3,  Bộ Công an tổ chức lễ xuất quân của đội cứu nạn, cứu hộ (CNCH) lên đường thực hiện nhiệm vụ tại Myanmar. Trung tướng Lê Văn Tuyến, Thứ trưởng Bộ Công an chủ trì buổi lễ. Đây là các cán bộ, chiến sĩ được lựa chọn kỹ, có trình độ chuyên môn cao, sẵn sàng ứng phó với mọi tình huống khẩn cấp tại khu vực bị ảnh hưởng của động đất. 


Cục Cảnh sát Phòng cháy, chữa cháy và CNCH phối hợp với các đơn vị lên phương án huy động 2 chó nghiệp vụ và các dụng cụ, thiết bị chuyên dụng phục vụ công tác CNCH, bao gồm: Thiết bị dò tìm người bị nạn trong công trình sập đổ; máy khoan, đục bê tông; máy cắt đa năng; bộ thiết bị chống sập; bộ túi nâng sử dụng khí nén; tháp đèn chiếu sáng di động, bộ đàm cùng nhiều phương tiện hỗ trợ khác./.

Ý NGHĨA NGÀY GIẢI PHÓNG MIỀN NAM 30/4.

 Ý NGHĨA NGÀY GIẢI PHÓNG MIỀN NAM 30/4.


....

Ngày 30/4/1975, đại thắng mùa xuân đã làm thất bại hoàn toàn cuộc chiến tranh xâm l.ược và ách thống trị thực dân mới của đế quốc M.ỹ ở miền Nam, giải phóng hoàn toàn miền Nam, kết thúc vẻ vang cuộc chiến tranh cứu nước lâu dài nhất, khó khăn nhất và vĩ đại nhất trong lịch sử chống ngoại xâm của nhân dân ta.


Vào lúc 17 giờ ngày 26/4, quân ta đã nổ súng mở đầu chiến dịch, năm cánh quân của ta đã vượt qua tuyến phòng thủ của địch để tiến vào trung tâm Sài Gòn, đánh chiếm các cơ quan đầu não của chúng.


Lúc 10 giờ 45 phút ngày 30/4, xe tăng và bộ binh của ta tiến vào Dinh Độc Lập, bắt toàn bộ Nội các của Sài Gòn, Dương Văn Minh vừa lên chức tổng thống ngày 28/4 đã phải tuyên bố đầu hàng quân ta không điều kiện. 


Đến 11 giờ 30 phút cùng ngày, lá cờ cách mạng tung bay trên Dinh Độc Lập, báo hiệu sự toàn thắng của chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử.


Ngày 30 tháng 4 năm 1975 đã đi vào lịch sử dân tộc như một mốc son chói lọi đưa đất nước ta bước vào một kỷ nguyên mới, kỷ nguyên độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội.


Đây là thành quả vĩ đại trong sự nghiệp giải phóng dân tộc, giải phóng xã hội do Đảng ta và chủ tịch Hồ Chí Minh lãnh đạo; là trang sử hào hùng, chói lọi trên con đường dựng nước và giữ nước hàng ngàn năm lịch sử của dân tộc. 


Đại thắng mùa xuân năm 1975, như nhận định của Đảng ta là một sự kiện quan trọng có tầm quốc tế to lớn và có tính thời đại sâu sắc, làm nức lòng bạn bè và nhân dân tiến bộ khắp năm châu bốn biển. 

SON SẮT MỘT NIỀM TIN GIỮ VỮNG CUỘC SỐNG BÌNH YÊN, HẠNH PHÚC

 SON SẮT MỘT NIỀM TIN

GIỮ VỮNG CUỘC SỐNG BÌNH YÊN, HẠNH PHÚC

1. Đấu tranh tư tưởng, lý luận có vị trí, vai trò đặc biệt quan trọng bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng; bảo vệ Đảng, Nhà nước, nhân dân và bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa. Đây là nhiệm vụ “chiến đấu trong thời bình”, không có tiếng súng, diễn ra âm thầm, lặng lẽ nhưng vô cùng gay go, quyết liệt và phức tạp, vì nó liên quan trực tiếp đến sinh mệnh của Đảng, sự tồn vong của chế độ, lợi ích quốc gia - dân tộc và hạnh phúc của nhân dân. 

Cán bộ, chiến sĩ Quân đội nhân dân Việt Nam ý thức sâu sắc rằng, vấn đề cốt lõi của nhiệm vụ đấu tranh tư tưởng, lý luận hiện nay ở nước ta là xoay quanh vấn đề ý thức hệ mác xít và phi mác xít, giữa bảo vệ chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh - nền tảng tư tưởng của Đảng ta với cuộc đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trong nền tảng ý thức hệ tư sản; giữa bảo vệ lý luận về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta với con đường tư bản chủ nghĩa do các thế lực thù địch, phản động đã và đang cổ súy, mong muốn sử dụng nó để thay thế nền tảng tư tưởng của Đảng ta là chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và lý luận về đường lối đổi mới của Đảng ta. Đó là sự bất hợp lý, không thể chấp nhận.

Vì vậy, tiêu điểm của nhiệm vụ bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch của toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta hiện nay là tiếp tục khẳng định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội - sự lựa chọn duy nhất đúng đắn của Đảng, Bác Hồ và nhân dân ta từ đầu thế kỷ XX, đã được cách mạng Việt Nam chứng minh là hoàn toàn đúng đắn bằng chính thực tiễn đấu tranh cách mạng, giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước và tiến hành công cuộc đổi mới đất nước thành công trong gần 40 năm qua dưới sự lãnh đạo của Đảng. 

Vì lẽ đó, cùng với toàn Đảng, toàn dân, cán bộ, chiến sĩ Quân đội ta phải kiên quyết, kiên trì đấu tranh đập tan mọi âm mưu, thủ đoạn, hoạt động chống phá đường lối đổi mới, xuyên tạc lý luận về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam. Trong đó, tiếp tục vạch trần quan điểm sai trái, thù địch của Nghị quyết H.Con.Res 9 về “Lên án sự khủng khiếp của chủ nghĩa xã hội” của các thế lực thù địch ở Mỹ và phương Tây nhằm chống phá chủ nghĩa xã hội, trong đó có Việt Nam. 

Với sự thâm thù và bản chất chống cộng, phản động, những người chống phá chủ nghĩa xã hội cực đoan đã ngụy biện sai trái cho hành vi chống phá Việt Nam của mình rằng, bản Nghị quyết H.Con.Res 9 “không mang tính ràng buộc” mà chủ yếu tập trung chỉ trích chủ nghĩa xã hội nói chung, lấy “những ví dụ cụ thể trong lịch sử về chủ nghĩa xã hội” ở Liên Xô, Đông Âu để xuyên tạc và cáo buộc chủ nghĩa xã hội đã tạo ra sự “tập quyền, chuyên chế và thúc đẩy hình thành các chế độ cộng sản, độc tài và chuyên chế”. Từ đó, họ khuyên Việt Nam không nên lặp lại “vết xe đổ” của chủ nghĩa xã hội ở Liên Xô, Đông Âu bằng việc từ bỏ mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội mà Cụ Hồ đã lựa chọn.

 2. Sự nguy hiểm của quan điểm sai trái này là họ tiếp tục quy kết “chủ nghĩa xã hội là nguyên nhân sinh ra các nạn đói, giết người, kìm hãm sự phát triển của lịch sử, chia tách, đối lập sự phát triển phương Đông - phương Tây”. Theo đó, một số cây bút chính luận của giới học giả Mỹ đã khẳng định “nguyên nhân của mọi tội ác là do chủ nghĩa Mác - Lênin” và “các Đảng Cộng sản và các nhà lãnh đạo chủ nghĩa xã hội” gây ra, đứng đầu là Lênin, Xtalin ở Nga, Mao Trạch Đông ở Trung Quốc, Phi đen Catxrô ở Cu Ba, Kim Nhật Thành ở Triều Tiên... và “ngày nay giới hậu duệ của họ vẫn tiếp tục sự ngu xuẩn ấy”. Cũng từ luận điểm này, họ kêu gọi giới chính luận gia tư sản hãy giúp nhân loại tiến bộ hủy bỏ chủ nghĩa Mác - Lênin  - hệ tư tưởng của giai cấp công nhân, đưa nó ra khỏi đời sống xã hội. Hơn thế, họ đã bác bỏ mọi giá trị, các nguyên tắc nền tảng của chủ nghĩa xã hội là các nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác - Lênin; đồng thời, kiên quyết phản đối việc thực hiện các chính sách của chủ nghĩa xã hội trên thế giới; không muốn sự tồn tại của chủ nghĩa xã hội hiện nay, dù nó tồn tại dưới hình thức nào, ở Việt Nam, Trung Quốc hay ở Cu Ba... 

Sự tuyên bố ầm ĩ nêu trên không phải là sự nhất thời, hay là sự hồ đồ của một số học giả phương Tây, mà nó là sự tiếp nối những điệp khúc mà họ đã nói lãi nhãi là từ năm 2021 đến nay, một số nghị sĩ Mỹ đã cầm đầu phái “cấp tiến” đề xuất 5 dự thảo nghị quyết lên án chủ nghĩa xã hội, song duy nhất chỉ có Nghị quyết H.Con.Res 9 đã được Hạ viện Mỹ chính thức thông qua năm 2023. Tuy nó chỉ mang “tính biểu tượng”, “không ràng buộc” và không đề cập trực tiếp đến Việt Nam, song việc chỉ trích thái quá, đến mức cực đoan về chủ nghĩa xã hội, phủ nhận bản chất khoa học, cách mạng; giá trị tư tưởng và sức sống mãnh liệt của chủ nghĩa Mác - Lênin đã tạo ra dư luận xấu về chủ nghĩa xã hội và chính nó đã “vẽ đường cho hươu chạy” trong việc chống phá con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam. Động thái này cùng với một loạt quan điểm sai trái gần đây của phương Tây về các vấn đề “dân chủ”, “nhân quyền”, “tôn giáo”, “dân tộc”, “đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập” là cơ sở để các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị tập trung chống phá nền tảng tư tưởng của Đảng ta là chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh. Đó cũng là cái cớ để kẻ xấu “đổ thêm dầu vào lửa” chống phá Đảng, Nhà nước, chế độ xã hội chủ nghĩa mà nhân dân ta đang xây dựng, nhất là xuyên tạc lý luận về đường lối đổi mới của Đảng Cộng sản Việt Nam. 

Việc dựa vào bản Nghị quyết H.Con.Res 9 về chỉ trích chủ nghĩa xã hội nói chung, các thế lực thù địch, phản động chống phá Đảng, Nhà nước, chế độ xã hội chủ nghĩa ở nước ta đã và đang cố tình ngăn đường, cản lối, không muốn nhân dân ta toàn tâm, toàn ý xây dựng chủ nghĩa xã hội, thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng, tiến hành Đại hội lần thứ XIV của Đảng vào đầu năm 2026, càng không muốn Đảng và Nhà nước ta tiến hành cuộc cách mạng về tinh gọn bộ máy của hệ thống chính trị để đưa đất nước bước vào kỷ nguyên mới - kỷ nguyên vươn mình của dân tộc. Họ đã triệt để lợi dụng quan điểm thù địch đối với chủ nghĩa xã hội, phủ nhận chủ nghĩa Mác - Lênin để phủ nhận lý luận về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta. 

3. Cán bộ, chiến sĩ Quân đội ta nhận thức rõ âm mưu, thủ đoạn thâm độc của các thế lực thù địch, bởi vì đằng sau chiêu thức này là sự phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng, sự quản lý của Nhà nước; xuyên tạc, bóp méo tính ưu việt của chế độ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam. Đây là chiêu trò “mượn gió bẻ măng”, “đục nước béo cò” để “té nước theo mưa”, công kích, bài xích, chống đối Đảng, Nhà nước ta, phủ nhận con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam do Đảng ta lãnh đạo. Qua đó, lái nước ta đi theo con đường tư bản chủ nghĩa.

 Các luận điệu sai trái, thù địch nêu trên là không hoàn toàn mới nhưng không thể xem thường bởi các thế lực thù địch cố tình phủ nhận nền tảng tư tưởng của Đảng ta, qua đó gửi kiến nghị đến Đảng ta: hãy từ bỏ chủ nghĩa Mác - Lênin và tránh xa con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam. Trắng trợn hơn thế, họ dựng lên bức tranh đối lập màu sắc, cho rằng chế độ xã hội chủ nghĩa theo mô hình Xô viết ở Liên Xô, Đông Âu đã cũ kỹ, lỗi thời nên sụp đổ, còn chủ nghĩa tư bản vì hợp thời, phát triển đúng quy luật nên tồn tại, tiếp tục đạt những thành tựu to lớn hơn. Từ đó, họ kết luận: “Việt Nam phải đi theo con đường khác, đó là tư bản chủ nghĩa theo mô hình phương Tây và Mỹ”. 

Tại sao những người có quan điểm đối lập với Đảng, Nhà nước ta lại ra sức chống phá chủ nghĩa Mác - Lênin, chống phá chủ nghĩa xã hội đến mức cuồng điên và quyết liệt như vậy? Hẳn là họ ý thức rất rõ sức sống mãnh liệt cũng như sự nguy hiểm của chủ nghĩa Mác - Lênin đối với sự tồn tại, phát triển và lợi ích của họ và hiểu rằng, chừng nào còn chủ nghĩa Mác - Lênin thì chừng ấy còn có Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo, còn có chủ nghĩa xã hội. còn có cuộc đấu tranh của giai cấp và tất yếu họ sẽ bị tiêu diệt. Để duy trì sự tồn tại, họ đã dùng các biện pháp, mọi thủ đoạn có thể để chống phá, hạ bệ chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, xóa bỏ chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam.

Cán bộ, chiến sĩ Quân đội ta ý thức sâu sắc rằng, những kẻ cố tình kiếm cớ, theo đuôi, viện dẫn và làm theo Nghị quyết H.Con.Res 9 của Mỹ và phương Tây để xuyên tạc bản chất của chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam đã rơi vào ngõ cụt, sự cùng đường của chủ nghĩa cá nhân, là làm trái với chủ nghĩa nhân đạo hiện thực, là đi ngược lại lợi ích của dân tộc Việt Nam. Thái độ, hành vi của họ cố chấp, không biết phân biệt thật - giả, phải - trái, đúng - sai của chúng phải lên án là nghiêm trị. Quan điểm của chúng là hư vô lịch sử, không thể chấp nhận. Chúng là đối tượng cần phải kiên quyết đấu tranh vạch trần bản chất sai trái, thù địch và phải gạt bỏ ra khỏi cuộc sống. Với niềm tin son sắt vào sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý của Nhà nước, cán bộ, chiến sĩ Quân đội ta không cho phép bất cứ thế lực nào cản bước, ngăn chặn con đường phát triển của dân tộc ta./.

QUÂN ĐỘI VIỆT NAM KHÔNG QUẢN NGẠI ĐÊM TỐI TÌM KIẾM NẠN NHÂN ĐỘNG ĐẤT Ở MYANMAR

 QUÂN ĐỘI VIỆT NAM KHÔNG QUẢN NGẠI ĐÊM TỐI TÌM KIẾM NẠN NHÂN ĐỘNG ĐẤT Ở MYANMAR


Không quản ngại đêm tối, lực lượng Quân đội Nhân dân Việt Nam nhanh chóng triển khai các lực lượng với tinh thần trách nhiệm cao nhất, rà soát từng vị trí để tìm kiếm nạn nhân trận động đất ở Myanmar.

Triển khai tìm kiếm cứu hộ cứu nạn tại khu dân cư Bala Tidi, quận Zabu Thiri, thủ đô Naypitaw, Myanmar, lực lượng Quân đội Nhân dân Việt Nam nhanh chóng triển khai các lực lượng với tinh thần trách nhiệm cao nhất, không quản ngại đêm tối, rà soát từng vị trí để tìm kiếm nạn nhân và giúp đỡ nhân dân Myanmar khắc phục tối đa những tổn thất.

Chị Phyo Pa Pa Moe, có địa chỉ ở tòa nhà số 2367, quận Zambu Thiri rất vui mừng khi được lực lượng công binh 229, Binh chủng Công binh tìm thấy và trao trả nhiều tài sản và kỷ vật.

Trong thảm họa động đất lần này, chị và gia đình rất may mắn khi không ai bị thương vong và công sức tích góp trong nhiều năm tưởng chừng đã mất thì giờ đây đã tìm lại được trong đống đổ nát.

"Cảm ơn sự giúp đỡ của các bạn! Các bạn thật tốt bụng! Chúng tôi rất hạnh phúc! Cảm ơn rất nhiều. Nhà tôi không ai bị sao cả. Mẹ tôi, ba tôi, cả con cún của tôi nữa, đều an toàn cả," chị Phyo Pa Pa Moe nói.

Toàn bộ các dãy nhà trên khu vực này đều bị sập đổ một cách giống nhau, toàn bộ tầng 1 bị sụp và sức nặng của ba tầng trên đè xuống khiến cho lực lượng cứu hộ rất khó khăn trong công tác tìm kiếm nạn nhân bị vùi lấp. Trước Việt Nam, đã có những đội cứu hộ đến khảo sát và đánh giá tình hình.

Đại úy Yar Zar thuộc Cục Phòng cháy chữa cháy, Bộ Nội vụ Myanmar cho biết: "Nước đầu tiên cơ động lực lượng đến là Thái Lan. Lực lượng của Thái Lan chỉ đến để kiểm tra đánh giá tình hình sau đó rút, đoàn Việt Nam đến là cố gắng tìm một cách cụ thể. Bây giờ chúng ta cả Myanmar và Việt Nam đều phải cố gắng tìm các nạn nhân, dù là còn sống hay đã chết hãy cố gắng tìm giúp chúng tôi, cảm ơn rất nhiều."

Rất nhiều phương án đã được đưa ra để có thể xử trí tình huống. Trong điều kiện không có máy móc lớn và không thể sử dụng máy khoan chỉ dùng công cụ và sức người thì sự khéo léo của những người lính công binh sẽ quyết định thành công.

Mất điện, tầm quan sát giảm sút, thiết bị quan sát của bộ đội chỉ bằng đèn pin, đèn tích điện… nhưng không hề làm suy giảm tinh thần trách nhiệm của lực lượng làm nhiệm vụ.

Mặc dù trời tối, công tác tìm kiếm gặp nhiều khó khăn nhưng các lực lượng cứu hộ cứu nạn của quân đội nhân dân Việt Nam vẫn tiếp tục công tác tìm kiếm, bước đầu đã có những dấu hiệu rõ rệt của các khu vực có nạn nhân mắc kẹt.

Việt Nam nằm trong top tăng trưởng thương mại mạnh nhất

 Việt Nam nằm trong top tăng trưởng thương mại mạnh nhất 


Đồ thị thông tin dưới đây gồm 15 nền kinh tế có tăng trưởng kim ngạch thương mại lớn nhất thế giới trong giai đoạn từ 2019-2024...


Theo đó, hai nền kinh tế lớn nhất thế giới cũng là hai nước dẫn đầu danh sách này, đóng góp tổng cộng 32% tăng trưởng kim ngạch thương mại toàn cầu trong 5 năm qua. Trung Quốc ghi nhận kim ngạch thương mại tăng thêm gần 828 tỷ USD USD, chiếm 18% mức tăng toàn cầu. Còn Mỹ tăng hơn 652 tỷ USD, chiếm 14%.


Trong khi đó, Ấn Độ đứng thứ ba với mức tăng kim ngạch thương mại 261 tỷ USD, dù tổng kim ngạch chỉ đứng thứ 13 toàn cầu. Hoạt động thương mại của nền kinh tế Nam Á này bùng nổ nhờ tăng trưởng kinh tế bình quân 4,6% trong giai đoạn này, cao hơn mức bình quân 2% toàn cầu - theo số liệu từ Ngân hàng Thế giới (WB).


Ngoài Ấn Độ, top 15 ghi nhận nhiều đại diện của châu Á như Hàn Quốc (vị trí thứ 4), Việt Nam (thứ 6), Malaysia (thứ 😎, Đài Loan (thứ 9), Singapore (thứ 11), Indonesia (thứ 12).


Các nền kinh tế lớn của châu Âu gồm Đức và Hà Lan vắng bóng trong top 15 do tăng trưởng kinh tế giảm tốc và các vấn đề địa chính trị.

NGƯỜI ĐÀN BÀ THÉP TRÊN BÀN ĐÀM PHÁN PARIS

 NGƯỜI ĐÀN BÀ THÉP TRÊN BÀN ĐÀM PHÁN PARIS 

                    ========

   Sáng 5/11/1968, hàng loạt báo chí Pháp đã đưa tít lớn: “Việt cộng đến Paris”, “Việt cộng chiến thắng”, “Madame Bình đã làm chấn động Paris và thế giới”, “Cuộc đổ bộ kỳ tích của Việt cộng”… Bức ảnh một phụ nữ Việt Nam mặc áo dài màu hồng sậm, khoác chiếc măng tô xám với chiếc khăn quàng màu đen chấm hoa đứng giữa rừng máy ảnh và biển người vây quanh ngay khi bà vừa bước xuống máy bay được xếp ở trang nhất.


Nhà văn Thụy Điển Sara Lidman từng viết về Madame Nguyễn Thị Bình trong cuốn sách: “Trong trái tim thế giới”, xuất bản năm 1973: ".. Ở đâu có bà Bình, người ta không còn nhìn thấy ai khác…, khi nghe bà Bình nói, người ta không còn muốn nghe ai khác…, bà bí ẩn…, tinh tế…”.


Thời gian dự Hội nghị đàm phán, Bà đã trở thành một biểu tượng "THÉP ĐÃ TÔI" của các tầng lớp bị đế quốc xâm lược trên thế giới. Nhiều nhà báo phương Tây đã đưa ra những câu hỏi châm biếm cho bà nhưng bà luôn linh hoạt ứng phó. 


-Có lần, một nhà báo hỏi: “Bà có ở Đảng Cộng sản không?”. 

- Bà nhanh nhẹn trả lời: “Tôi thuộc Đảng yêu nước”. 


- “Có quân đội miền Bắc ở miền Nam không?”

- Bà trả lời: “Dân tộc Việt Nam là một, người Việt Nam ở Bắc cũng như ở Nam đều có nghĩa vụ chiến đấu chống xâm lược”. 


Nhà báo lại hỏi: “Vùng giải phóng ở đâu?”. 

Bà Bình liền đáp lại ngay: “Nơi nào Mỹ ném bom, bắn phá thì đó chính là vùng giải phóng của chúng tôi. Nếu không tại sao Mỹ lại phải ném bom?”.

Nhà báo hỏi: Mỹ có tồn tại ở Miền Nam được không.

Bà đanh thép: "NGƯỜI MỸ CÓ THỂ LÊN MẶT TRĂNG VÀ QUAY VỀ CÒN Ở VIỆT NAM THÌ CHÚNG TÔI KHÔNG CHẮC!"


Bà là Trưởng Đoàn đàm phán của Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam tham gia đàm phán và ký kết Hiệp định Paris chấm dứt chiến tranh xâm lược của Mỹ ở miền Nam, Việt Nam. 


Từ năm 1968 đến năm 1973, sự giằng co giữ chiến trường và trên bàn đàm phán khi nào cũng gay gắt và cuối cùng, sau khi Hoa Kỳ nhận thất bại nặng nề trong Chiến dịch “Hà Nội-Điện Biên Phủ trên không” tháng 12/1972, lúc đó không còn gì để nói, giới tài phiệt Hoa Kỳ mới phải chấp nhận đặt bút ký vào bản Hiệp định chính thức với Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam tại Paris ngày 27/01/1973, chấp nhận những điều khoản hòa bình của Việt Nam đề xuất để rút khỏi miền Nam Việt Nam..., tạo đà thắng lợi to lớn để sau đó 2 năm cả nước làm nên Đại thắng mùa xuân 30/4/1975.


Bà thực sự là một tinh hoa của dân tộc, người Phụ nữ Việt Nam mang tên Bà Trưng, Bà Triệu, Bùi Thị Xuân... trong thế kỷ 20.

Năm nay, xin chúc Madame Nguyễn Thị Bình bước sang tuổi 98 mạnh khỏe, hạnh phúc, mãi trường thọ cùng dân tộc!

PHẢN BÁC LUẬN ĐIỆU “SÁP NHẬP TỈNH SAO KHÔNG TRƯNG CẦU DÂN Ý” CỦA RFA

 PHẢN BÁC LUẬN ĐIỆU “SÁP NHẬP TỈNH SAO KHÔNG TRƯNG CẦU DÂN Ý” CỦA RFA


Trong những năm gần đây, Đài Châu Á Tự Do (RFA) liên tục phát sóng các bài viết và chương trình có nội dung xuyên tạc về tình hình chính trị, xã hội Việt Nam. Những thông tin mà RFA đưa ra đã gây ra sự bức xúc và hoang mang trong dư luận, đặc biệt là việc liên quan đến các vấn đề chính trị nhạy cảm như việc sáp nhập các tỉnh của Việt Nam. Chúng rêu rao rằng: “Sáp nhập tỉnh sao không trưng cầu dân ý?”. Đây là, luận điệu hoàn toàn sai trái, quy chụp việc tiến hành sắp xếp, sáp nhập đơn vị hành chính cấp tỉnh là “không dân chủ” hoặc “không tôn trọng ý kiến người dân”. Do vậy cần nhận diện, phản bác kịp thời.


Trước tiên, cần phân biệt rõ “dân chủ” và “trưng cầu ý dân”. 


Để thấy rõ luận điệu xuyên tạc của RFA khi đặt ra vấn đề “Không trưng cầu dân ý là vi phạm dân chủ” nhằm chống phá chủ trương, chính sách sáp nhập tỉnh của Đảng, Nhà nước ta hiện nay:


1. “Dân chủ” là nguyên tắc quan trọng bao trùm, thể hiện qua hình thức dân chủ trực tiếp và dân chủ gián tiếp. 


2. “Trưng cầu ý dân” là một phương thức biểu hiện dân chủ trực tiếp, thường áp dụng cho những vấn đề có ý nghĩa đặc biệt quan trọng của quốc gia, ảnh hưởng trực tiếp đến chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ, chế độ chính trị và kinh tế, xã hội của đất nước. 


3. Việc “sáp nhập tỉnh” thuộc phạm vi điều chỉnh về tổ chức, sắp xếp hành chính đã được quy định trong Hiến pháp và luật. 


Nói cách khác, dân chủ không chỉ giới hạn trong trưng cầu ý dân. Và việc không tiến hành trưng cầu ý dân cho một vấn đề quản lý hành chính “không có nghĩa” Nhà nước “thiếu dân chủ” hay “bỏ qua quyền lợi của dân”.


Hai là, cơ sở pháp lý về “trưng cầu dân ý” và sắp xếp đơn vị hành chính.


Theo Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 2013 và đặc biệt là Luật Trưng cầu ý dân số 96/2015/QH13, trưng cầu ý dân được thực hiện đối với những vấn đề có ý nghĩa đặc biệt quan trọng của đất nước, ảnh hưởng trực tiếp đến chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ, chế độ chính trị và kinh tế, xã hội của đất nước. 


Việc sáp nhập tỉnh, về nguyên tắc, thuộc phạm vi quản lý hành chính và điều chỉnh của Nhà nước, không phải là vấn đề ảnh hưởng trực tiếp đến chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ, chế độ chính trị và kinh tế, xã hội của đất nước. Do đó, không bắt buộc phải tiến hành thực hiện trưng cầu ý dân, mà việc xem xét, quyết định sáp nhập tỉnh dựa theo các quy định về tổ chức chính quyền địa phương, do Quốc hội, cơ quan quyền lực cao nhất của Nhà nước, thảo luận và biểu quyết.


Luật Tổ chức chính quyền địa phương (Luật số 77/2015/QH13, được sửa đổi, bổ sung một số điều vào các năm sau) và các nghị quyết, quy định hướng dẫn thi hành, quy định:


Việc điều chỉnh địa giới hành chính cấp tỉnh phải qua nhiều bước, bao gồm: khảo sát, đánh giá về quy mô dân số, diện tích, điều kiện kinh tế - xã hội, cơ sở hạ tầng… nhằm bảo đảm tính hiệu quả và tính khả thi cao nhất.


Cơ quan có thẩm quyền xem xét, quyết định là Quốc hội, dựa trên tờ trình của Chính phủ và ý kiến của các cơ quan liên quan. 


Người dân vẫn có quyền thể hiện quan điểm qua kênh đại biểu Quốc hội, Hội đồng nhân dân các cấp (mỗi đại biểu được dân bầu ra, thay mặt nhân dân thực hiện quyền giám sát, đưa ra ý kiến thảo luận, tham gia quyết định các vấn đề quan trọng).


Rõ ràng, việc sáp nhập tỉnh không thuộc nhóm “vấn đề đặc biệt quan trọng” phải trưng cầu ý dân. Tuy nhiên, điều này không đồng nghĩa với việc Nhà nước “không lấy ý kiến người dân”. Thực tế, quy trình sáp nhập luôn trải qua các khâu lấy ý kiến địa phương, báo cáo, giải trình tại Quốc hội, bảo đảm tính công khai, minh bạch trong bộ máy đại diện và trong xã hội.


Như vậy, “sáp nhập tỉnh” là một biện pháp “hành chính” nhằm nâng cao hiệu quả quản lý Nhà nước, hướng tới lợi ích của nhân dân và sự phát triển chung của đất nước. Đảng, Nhà nước Việt Nam đã, đang và sẽ tiếp tục thực hiện đúng các nguyên tắc của Hiến pháp, pháp luật, bảo đảm quyền làm chủ tập thể của nhân dân, vì mục tiêu xây dựng đất nước “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”. Việc RFA rêu rao “không trưng cầu ý dân” là thiếu dân chủ thực chất “là lối bóp méo khái niệm”, xuyên tạc thể chế chính trị và pháp luật Việt Nam. Vì vậy, mỗi cán bộ, đảng viên và người dân cần tỉnh táo, phân tích, nhận định rõ luận điệu sai trái để xây dựng, củng cố niềm tin vào sự lãnh đạo của Đảng, quản lý của Nhà nước, góp phần thực hiện thành công chủ trương đặc biệt quan trọng này.