Thứ Tư, 2 tháng 4, 2025

Nhận diện, đấu tranh hiệu quả các quan điểm sai trái, thù địch trong tình hình mới

 

Triệt để lợi dụng xu thế toàn cầu hóa, hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng, sự bùng nổ của internet - mạng xã hội và những khó khăn, thách thức của đất nước, các thế lực thù địch và phần tử cơ hội phản động ráo riết, đẩy mạnh hoạt động chống phá Đảng và Nhà nước ta.

Do vậy, việc bảo vệ vững chắc nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác hiệu quả các quan điểm sai trái, thù địch là một nội dung cơ bản, hệ trọng, sống còn của công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng, là nhiệm vụ quan trọng hàng đầu của toàn Đảng, toàn quân, toàn dân.

Ngày càng tinh vi, thâm độc, xảo quyệt

Có thể thấy, nội dung, phương thức, thủ đoạn hoạt động chống phá của các thế lực thù địch ngày càng tinh vi, thâm độc, xảo quyệt.

Theo đó, nhằm kích động “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” từ bên trong và tạo dựng “ngọn cờ” xây dựng quy tụ lực lượng, các thế lực phản động, thù địch luôn tìm mọi mưu mô móc nối, xâm nhập vào nội bộ của ta, tìm cách phân hóa tổ chức, lôi kéo, mua chuộc các phần tử thoái hóa biến chất, bất mãn, cơ hội chính trị.

Để tăng thêm hiệu ứng của các thông tin sai trái, chúng chú trọng tập hợp, trích dẫn các ý kiến trái chiều, đi ngược chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước với những “nhãn mác tự phong” như “nhân sĩ, trí thức yêu nước”, “tâm huyết, trách nhiệm vì nhân dân”... Đây là chiêu bài chống phá từ bên trong kết hợp với bên ngoài nhằm từng bước làm giảm lòng tin của nhân dân đối với Đảng.

 

Các thế lực thù địch và phần tử cơ hội phản động lợi dụng sự bùng nổ của internet - mạng xã hội ráo riết, đẩy mạnh hoạt động chống phá Đảng và Nhà nước ta. Nguồn: ITN

 

Chúng triệt để lợi dụng internet, mạng xã hội, nhất là vào những thời điểm diễn ra các sự kiện chính trị trọng đại của đất nước để phát tán thông tin xuyên tạc, chống phá bằng nhiều chiêu thức mới với phương châm “hư hư, thực thực”, “mưa dầm thấm lâu”, “nói nhiều rồi sẽ tin”... núp dưới những chiêu bài “góp ý”, “kiến nghị, đề nghị”, “thư ngỏ”…

Trên thực tế, từ bên ngoài lãnh thổ Việt Nam, các thế lực thù địch đã tập trung chỉ đạo, tài trợ; tăng cường hệ thống thông tin tuyên truyền chống phá cách mạng Việt Nam. Có gần 40 đài phát thanh, truyền hình có chương trình tiếng Việt, gần 500 tờ báo, tạp chí, bản tin bằng tiếng Việt xuất bản ở nước ngoài, chĩa mũi nhọn chống phá cách mạng Việt Nam. Mạng xã hội là con dao 2 lưỡi, tiềm ẩn nhiều vấn đề bất cập và hiểm hoạ khó lường khi bị các thế lực thù địch lợi dụng. Vì vậy, mỗi người chúng ta cần tỉnh táo để không bị lôi kéo, biến mình thành con rối của kẻ xấu, tiếp tay cho những mưu đồ thấp hèn của kẻ thù.

Chúng trắng trợn bịa đặt, vu cáo Đảng, Nhà nước và các cơ quan pháp luật “vi phạm tự do, dân chủ, nhân quyền”; kích động gây dư luận xấu, tạo mâu thuẫn xã hội; gửi thư kiến nghị đến các tổ chức nhân quyền thế giới yêu cầu can thiệp vào tình hình nội bộ Việt Nam.Triệt để tán dương, cổ vũ các hành động, hành vi trái pháp luật của những phần tử chống đối. Tạo dựng các video clip, phóng sự có giao diện giống của Đài Truyền hình Việt Nam và một số báo, đài địa phương để “dẫn dụ” tâm lý tò mò của nhiều người... nếu độc giả không xem kỹ sẽ dễ bị nhầm lẫn, tiếp tay tuyên truyền cho các đối tượng xấu.

Dưới sự hậu thuẫn của một số tổ chức, cá nhân ở nước ngoài, các thế lực thù địch lập ra các hội, nhóm, tổ chức tự xưng, xây dựng kế hoạch, đầu tư kinh phí cho tổ chức, bộ máy, trang thiết bị và hệ thống chân rết hòng kêu gọi, phát động những “phong trào” chống phá toàn diện, mọi lúc, mọi nơi khi có điều kiện.

Chúng đẩy mạnh hoạt động của các tổ chức “xã hội dân sự” và “phản biện xã hội”, liên thông, kết nối với các “hội”, “đoàn”, “nhóm” nhằm thúc đẩy “đấu tranh bất bạo động” theo xu hướng cách mạng màu... (Dưới danh nghĩa “bảo vệ dân chủ, nhân quyền”, “yêu nước” với những cái tên rất kêu mang tinh thần “dân tộc” như “Hội phụ nữ nhân quyền”, “Nhóm công dân tự do”, “Nhóm tuổi trẻ yêu nước”. Chúng còn thúc đẩy sự ra đời các khuynh hướng dân chủ cực đoan, “xã hội dân sự”, hình thành tổ chức chính trị bất hợp pháp.

Bằng những hình thức tinh vi, chúng triệt để lồng ghép những quan điểm sai chống phá thông qua tổ chức các “hội thảo khoa học”, diễn đàn, sinh hoạt hội, nhóm; dùng các “mồi nhử” kinh tế; giả danh cán bộ để lừa dối, tán phát các luận điệu sai trái, phản động.

Quyết liệt chống phá, phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng

Các thế lực thù địch và phần tử cơ hội phản động ráo riết, tập trung, quyết liệt chống phá trên mặt trận chính trị, tư tưởng; xuyên tạc lịch sử, phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng. Theo đó, nếu chưa xóa bỏ được chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh thì cũng tạo nên sự mơ hồ, hoài nghi, tạo điều kiện cho các trào lưu tư tưởng phi vô sản, xấu độc thâm nhập, ăn sâu vào đời sống xã hội và đội ngũ cán bộ, đảng viên; tác động tiêu cực đến sự nghiệp đổi mới ở nước ta.

Một là, xuyên tạc, bác bỏ lý luận hình thái kinh tế - xã hội mác xít nhằm phủ nhận chủ nghĩa Mác - Lênin.

Phát tán, đăng tải khuếch trương, cổ súy các học thuyết chính trị tư sản: Thuyết thế giới phẳng, thuyết hội tụ, thuyết ba làn sóng văn minh… nhằm phủ nhận lý luận hình thái kinh tế - xã hội của chủ nghĩa Mác - Lênin, tuyệt đối hóa yếu tố khoa học, kỹ thuật, coi đó là yếu tố quyết định sự vận động, phát triển của xã hội loài người. Theo chúng, loài người trải qua nền “văn minh nông nghiệp” tới “văn minh công nghiệp” và cuối cùng là “văn minh hậu công nghiệp”. Quan điểm này về thực chất là phủ nhận vai trò đấu tranh giai cấp trong xã hội có giai cấp, cho tới nay xã hội loài người đã trải qua 4 hình thái kinh tế - xã hội và đang quá độ tiến vào hình thái kinh tế - xã hội cộng sản chủ nghĩa theo đúng quy luật vốn có của nó.

Chúng còn cho rằng, ở những nước phong kiến, tiền tư bản như ở Việt Nam thì không thể bỏ qua chủ nghĩa tư bản để tiến lên Chủ nghĩa xã hội. Giá như Việt Nam không theo con đường Xã hội chủ nghĩa, mà đi theo con đường Tư bản chủ nghĩa thì đất nước không phải lâm vào mấy chục năm chiến tranh, kinh tế sẽ phát triển hơn, nên họ “khuyên nhủ” Việt Nam đi theo con đường tư bản chủ nghĩa cũng chưa muộn.

Hai là, phủ nhận sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân: Xuyên tạc và lập luận rằng giai cấp công nhân chỉ là những người có học vấn thấp, những lãnh tụ của giai cấp công nhân cũng thường có trình độ văn hóa không cao. Nếu giai cấp công nhân có sứ mệnh lịch sử là “người đào huyệt chôn chủ nghĩa tư bản”, xây dựng một xã hội mới thì tại sao ở những nước tư bản phát triển có lực lượng công nhân rất đông, chất lượng cao lại không thực hiện vai trò sứ mệnh lịch sử của mình? Đồng thời, đề cao vai trò của đội ngũ trí thức trong thời đại cách mạng khoa học công nghệ phát triển, cho rằng đội ngũ này mới có khả năng lãnh đạo cách mạng theo con đường tư bản chủ nghĩa…

Thực chất của quan điểm này là sự biện hộ cho địa vị thống trị, bóc lột của giai cấp tư sản nhằm khẳng định sự tồn tại “vĩnh hằng” của chủ nghĩa tư bản trên cơ sở phủ nhận sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân.

Ba là, đối lập tư tưởng Hồ Chí Minh với chủ nghĩa Mác - Lênin, đòi đưa chủ nghĩa Mác - Lênin ra khỏi nền tảng tư tưởng của Đảng ta.

Các thế lực thù địch hiểu rõ việc tiến công một cách trực diện vào tư tưởng Hồ Chí Minh rất khó, vì vậy chúng đã đi đường vòng. Đây là một chiêu trò rất nguy hiểm, thực chất của quan điểm trên không chỉ là sự phủ nhận chủ nghĩa Mác - Lênin, mà còn xuyên tạc, bóp méo, cô lập tư tưởng Hồ Chí Minh.

Tính chất nguy hiểm của các quan điểm này còn thể hiện ở chỗ: gieo rắc sự hoài nghi, dao động về nền tảng tư tưởng của chúng ta; tạo nên “khoảng trống” về tư tưởng và ý thức hệ để chúng dễ bề truyền bá các quan điểm, tư tưởng phi vô sản vào đời sống tinh thần xã hội ta; tạo ra sự “diễn biến bên trong”, nhất là diễn biến về tư tưởng, từ đó dẫn đến “tự diễn biến” về những mặt khác trong xã hội.

Bốn là, các luận điệu sai trái, thù địch cho rằng Đảng Cộng sản Việt Nam độc tôn lãnh đạo cách mạng là mất dân chủ, không tạo động lực để phát triển đất nước, cần thực hiện “đa nguyên chính trị”, “đa đảng đối lập”.

Tính phức tạp, độc hại, nguy hiểm của quan điểm này là nó được khoác cái vỏ “vì dân chủ”, mị dân, dễ gây nên sự mơ hồ, ngộ nhận, lẫn lộn về nhận thức, dao động về tư tưởng; nếu không thực hiện được ý đồ xóa bỏ sự lãnh đạo của Đảng thì cũng gây nên sự chia rẽ trong xã hội; sự hoài nghi, thiếu niềm tin của quần chúng vào sự lãnh đạo của Đảng.

Với cách lập luận về vấn đề trên, một mặt nhằm phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng đối với xã hội, xóa bỏ nền dân chủ xã hội chủ nghĩa; mặt khác “lái” nền dân chủ nước ta sang nền dân chủ kiểu tư sản. Họ còn luận chứng rằng, Việt Nam thực hiện đa đảng thì sẽ dân chủ hơn, đất nước sẽ phát triển và đời sống Nhân dân được tốt đẹp hơn.

Trên thực tế, đất nước đạt nhiều thành tựu to lớn và phát triển không ngừng dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, nhất là sau 35 năm đổi mới với những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử. Trên thế giới, có hơn 30 quốc gia, vùng lãnh thổ theo chế độ một đảng. Điều đó cho thấy rằng, chế độ chính trị do một đảng cầm quyền không chỉ là đặc điểm ở các nước XHCN do Đảng Cộng sản lãnh đạo và không phải các nước theo chế độ một đảng không bảo đảm dân chủ, đất nước không phát triển.

Có những nước rất nhiều đảng: Armenia có khoảng 40 đảng, Hà Lan có 25 đảng, Na Uy có 23 đảng... nhưng rõ ràng chúng ta không thể kết luận Armenia dân chủ hơn Hà Lan hay Na Uy.

Bài học đau xót và thấm thía về thực thi dân chủ sai nguyên tắc ở Liên Xô trong thời gian cải tổ. Những đơn thuốc “công khai hoá”, “dân chủ hoá”, “đa nguyên chính trị” đưa ra nhằm cải tổ chủ nghĩa xã hội, lại tạo “thời cơ”, điều kiện thuận lợi cho các thế lực thù địch ráo riết hơn, quyết liệt hơn trong mưu đồ chống phá và dẫn đến làm tan rã, đổ vỡ chế độ Xô Viết.

Năm là, xuyên tạc mục tiêu và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội; chủ trương phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và việc phát huy dân chủ trong công tác xây dựng Đảng.

Sáu là, cổ xúy cho luận điểm “quân đội phi giai cấp”, “quân đội nhà nghề” nhằm thúc đẩy “phi chính trị hóa” Quân đội nhân dân Việt Nam. Chúng mạo danh cán bộ quân đội có uy tín, nhất là một số tướng lĩnh đã nghỉ hưu và người nổi tiếng đứng đơn thư tố cáo, bịa đặt, thỉnh nguyện theo kiểu “cáo mượn oai hùm”. Tiến hành khá nhiều vụ “giả danh sĩ quan cao cấp”, những người “có quyền lực” trong các cơ quan, đơn vị Quân đội để lừa gạt, chiếm đoạt tài sản của những người dân nhẹ dạ, cả tin…

Lợi dụng suy thoái của một bộ phận cán bộ

Đặc biệt, lợi dụng sự suy thoái về tư tưởng, đạo đức, lối sống của một bộ phận cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ các cấp bị xử lý theo Điều lệ Đảng, pháp luật Nhà nước. Chúng quy chụp bản chất chung của cán bộ, đảng viên là tham nhũng, tha hóa, biến chất, “bán nước, hại dân”, hòng tạo dựng nhận thức sai lệch, hoài nghi, dao động, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ. Từ đó, gieo rắc ngờ vực, chia rẽ nội bộ, làm xói mòn lòng tin của Nhân dân đối với uy tín, vai trò lãnh đạo Đảng và sự quản lý của Nhà nước; ca tụng, khuếch đại chủ nghĩa tư bản mà chúng cho là “thiên đường của tự do, dân chủ, nhân quyền”.

Các thế lực thù địch cho rằng tình trạng tham nhũng ở Việt Nam là một “quốc nạn không có thuốc chữa”. Họ cho rằng tình trạng đó bắt nguồn từ nguyên nhân tất yếu là chế độ một đảng duy nhất ở Việt Nam, hay tham nhũng là “căn bệnh nan y, kinh niên của chế độ độc đảng cầm quyền”...

Từ một số vụ, việc tham nhũng trong thời gian gần đây, nhất là những vụ liên quan đến một số lãnh đạo cấp cao, các thế lực thù địch, cơ hội chính trị trong và ngoài nước đã quy chụp, cường điệu hóa, suy diễn một cách vô căn cứ, đồng nhất toàn bộ Đảng Cộng sản Việt Nam với một số đảng viên, cán bộ tham nhũng, thoái hóa, biến chất. Họ rêu rao rằng “Đảng không còn là Đảng do Hồ Chí Minh sáng lập, Đảng không còn mang bản chất cách mạng của giai cấp công nhân, của nhân dân lao động, của dân tộc”.

Chúng cố tình xuyên tạc, phủ nhận những nỗ lực của Đảng trong công tác đấu tranh phòng, chống tham nhũng thời gian qua chỉ là “trò đánh trống khua chiêng nhằm che mắt thế gian”, thực chất là “đấu đá nội bộ” hay “thanh trừng phe phái”... Đây là những luận điệu hết sức thâm độc hòng gây mất lòng tin của cán bộ, đảng viên và nhân dân ta đối với sự lãnh đạo của Đảng.

 

Cán bộ Công An tỉnh Kon Tum thực hiện tuyên truyền giáo dục pháp luật cho đồng bào Dân tộc thiểu số trên địa bàn tỉnh. Nguồn: Công an Kon Tum

 

Theo thống kê, trong giai đoạn Đảng ta chuẩn bị tiến hành tổ chức Đại hội lần thứ XIII, có khoảng 36% các thông tin sai trái, thù địch liên quan đến công tác phòng, chống tham nhũng ở nước ta.

Có thể thấy, tham nhũng là một hiện tượng xã hội tiêu cực, tồn tại ở mọi quốc gia do quyền lực nhà nước bị tha hóa, bị lợi dụng. Theo Tổ chức Minh bạch Quốc tế, tham nhũng là một hiện tượng phổ biến, xảy ra ở nhiều quốc gia trên thế giới, trong đó “phần lớn tham nhũng xảy ra ở các quốc gia có chế độ đa đảng, “tam quyền phân lập”. Ở một số nước châu Á, tình trạng tham nhũng còn xảy ra ở cả những nguyên thủ quốc gia như Hàn Quốc, Ma-lay-xi-a... Do đó, không thể cố tình xuyên tạc, bóp méo rằng tham nhũng chỉ xảy ra ở những nước có chế độ một đảng duy nhất lãnh đạo như Việt Nam.

Cố Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng từng khẳng định: “Tham nhũng là “khuyết tật bẩm sinh” của quyền lực, là một trong những nguy cơ đe doạ sự tồn vong của chế độ ta. Thời đại nào, chế độ nào, quốc gia nào cũng có, không thể xóa tận gốc tham nhũng trong một thời gian ngắn”.

Kế thừa tư tưởng và thực tiễn lãnh đạo cách mạng của Người, trong những năm gần đây, Đảng ta đặc biệt chú trọng đến công tác đấu tranh phòng, chống tham nhũng. Qua mỗi nhiệm kỳ Đại hội, tinh thần chỉ đạo công tác đấu tranh phòng, chống tham nhũng ngày càng quyết liệt hơn, thực chất hơn với phương châm “không có vùng cấm”, “không có ngoại lệ”. Thời gian qua, nhiều vụ án tham nhũng nghiêm trọng, phức tạp, được dư luận xã hội quan tâm đã được xử lý nghiêm minh, đúng quy định của pháp luật, vừa có tác dụng cảnh báo, răn đe; vừa siết chặt kỷ luật, kỷ cương của Đảng, được cán bộ, đảng viên và Nhân dân đồng tình, ủng hộ; được dư luận quốc tế đánh giá cao.

Hiện nay, công tác đấu tranh phòng, chống tham nhũng của Việt Nam vẫn còn một số hạn chế, tuy nhiên, Cố Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng từng khẳng định: “Chúng ta càng cần phải kiên quyết đấu tranh phản bác luận điệu của các thế lực thù địch, chống đối cho rằng đấu tranh phòng, chống tham nhũng, xử lý cán bộ, đảng viên sai phạm là “đấu đá nội bộ”, “phe cánh”. Hơn nữa, việc tăng cường đấu tranh phòng, chống tham nhũng cũng là cách để mỗi cán bộ, đảng viên thêm vững tin vào Đảng, vào chế độ - một đảng sinh ra không phải để làm quan phát tài, một chế độ luôn lấy sự phồn vinh của dân tộc, hạnh phúc của Nhân dân làm mục tiêu phấn đấu”.

Đấu tranh, phản bác hiệu quả

Để đấu tranh, phản bác các quan điểm sai trái, thù địch, trước hết, cần không ngừng giáo dục, nâng cao nhận thức, trách nhiệm toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta. Thường xuyên giáo dục, quán triệt cho cán bộ, đảng viên và Nhân dân nhận thức đầy đủ, sâu sắc mục tiêu, quan điểm và các nhiệm vụ, giải pháp cơ bản tăng cường bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, kiên quyết đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trong tình hình mới.

Tạo chuyển biến mạnh mẽ về nhận thức, trách nhiệm và phát huy vai trò của hệ thống chính trị, cán bộ, đảng viên, trước hết là cấp ủy, tổ chức đảng, người đứng đầu các cấp quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo chủ động đấu tranh phản bác có hiệu quả quan điểm sai trái, thù địch; tăng cường niềm tin vào chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; kiên định đường lối đổi mới và các nguyên tắc xây dựng Đảng...

 

Gắn kết chặt chẽ yêu cầu bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch với hoạt động đào tạo, bồi dưỡng, giáo dục cán bộ, đảng viên, sinh viên . Ảnh: Tư liệu

 

Hai là, đổi mới, nâng cao chất lượng công tác tuyên truyền, giáo dục chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; nâng cao trình độ giác ngộ cách mạng, bản lĩnh chính trị cho cán bộ, đảng viên và Nhân dân. Quan tâm đổi mới, nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác giáo dục chính trị, tư tưởng để không ngừng nâng cao trình độ lý luận chính trị, bồi dưỡng lòng yêu nước, tinh thần tự hào, tự tôn dân tộc cho cán bộ, đảng viên, nhất là thế hệ trẻ.

Theo đó, đẩy mạnh tuyên truyền đồng bộ về những nội dung cơ bản, giá trị to lớn của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh. Cung cấp kịp thời những thông tin nhằm nhận diện đúng các âm mưu, hoạt động chống phá của các thế lực thù địch trong tình hình mới, qua đó tăng cường sức đề kháng, nâng cao cảnh giác và tinh thần chủ động trong đấu tranh...

 

Cán bộ chiến sĩ công an Nhân dân tuyên truyền pháp luật cho đồng bào dân tộc Sán Chỉ tỉnh Quảng Ninh. Ảnh: Tư liệu

 

Ba là, tăng cường nghiên cứu, dự báo, nắm chắc âm mưu, thủ đoạn hoạt động chống phá của các thế lực thù địch; kịp thời phát hiện và kiên quyết xử lý những phần tử cơ hội, phản động chống Đảng, Nhà nước.

Bốn là, phát huy sức mạnh tổng hợp của cả hệ thống chính trị và toàn dân trong đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch, bảo vệ vững chắc nền tảng tư tưởng của Đảng trong tình hình mới.

Cuộc đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, phản bác các quan điểm sai trái, thù địch là cuộc “đấu tranh không ngừng nghỉ”. Trong giai đoạn hiện nay, với việc ứng dụng thành tựu khoa học công nghệ và chiếm lĩnh không gian mạng xã hội, các thế lực thù địch vẫn dai dẳng, tiếp tục gia tăng ảnh hưởng chống phá Đảng và Nhà nước ta.

Chính vì vậy, cần nhận diện đầy đủ và toàn diện các nội dung quan điểm đó để chủ động đấu tranh phản bác. Bên cạnh đó, cũng cần đổi mới hình thức, phương pháp và kĩ năng đấu tranh để làm tốt công tác bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong giai đoạn hiện nay. Cuộc đấu tranh khó khăn, phức tạp này là trách nhiệm của toàn Đảng, toàn dân và toàn quân, trong đó có trách nhiệm của đảng viên, những người đứng đầu và đội ngũ lãnh đạo của các cơ quan, tổ chức.

Vai trò, trách nhiệm của Quân đội đối với cách mạng Việt Nam


Quân đội nhân dân Việt Nam là một lực lượng chính trị tin cậy của Đảng, Nhà nước và nhân dân. Để hoàn thành tốt mọi chức năng, nhiệm vụ của một đội quân chiến đấu, công tác và lao động sản xuất; góp phần to lớn vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong giai đoạn mới, người cán bộ Quân đội cần thường xuyên làm tốt công tác giáo dục cho các quân nhân thấy rõ tính đúng đắn, những khó khăn, thuận lợi của sự nghiệp cách mạng ở nước ta hiện nay và những giai đoạn tiếp theo. Đấu tranh không khoan nhượng với những tư tưởng sai trái phủ nhận con đường đi lên chủ nghĩa xã hội mà Bác Hồ, Đảng, Nhà nước và nhân dân ta đã lựa chọn.

Mỗi quân nhân phải ra sức tu dưỡng phẩm chất đạo đức, năng lực để sẵn sàng nhận và hoàn thành cương vị, chức trách được giao, góp phần bảo vệ vững chắc chế độ xã hội, bảo vệ Đảng, Nhà nước và nhân dân ta trong mọi tình huống. Thực hiện có hiệu quả công tác dân vận, tham gia xây dựng hệ thống chính trị cơ sở nơi đóng quân, giúp đỡ nhân dân địa phương hoàn thành tốt các mục tiêu kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội, an ninh, quốc phòng. Chú trọng xây dựng Quân đội theo hướng cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại; thường xuyên nâng cao cảnh giác cách mạng, đập tan mọi âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch chống phá sự nghiệp cách mạng xã hội chủ nghĩa ở nước ta.

Đối với người nhân viên chuyên môn kỹ thuật trong Quân đội, cần chủ động nhiên cứu, quản lý, khai thác, sử dụng, nâng cao chất lượng vũ khí, trang bị kỹ thuật phục vụ cho công tác huấn luyện, sẵn sàng chiến đấu và thực hiện các nhiệm vụ khác. Thường xuyên rèn luyện lập trường tư tưởng vững vàng, phẩm chất đạo đức tốt, năng lực chuyên môn giỏi; tư duy độc lập, sáng tạo; có trình độ tiếp thu những tiến bộ của ngành kỹ thuật quân sự, ứng dụng có hiệu quả vào thực tiễn; say mê nghiên cứu khoa học - công nghệ, tích cực trong thực hiện nhiệm vụ. Xây dựng tinh thần ham học hỏi, cầu thị tiến bộ, tích cực học tập, rèn luyện, đổi mới phương pháp tác phong công tác, gương mẫu trong công việc và cuộc sống; luôn chấp hành nghiêm pháp luật của Nhà nước, kỷ luật của Quân đội, nề nếp, chế độ, quy định của đơn vị. Tích cực tham gia các hoạt động quân sự, quản lý và bảo dưỡng thiết bị quân sự, phát triển và cải tiến công nghệ quân sự và thực hiện các tác vụ kỹ thuật quan trọng để đảm bảo sự hoạt động hiệu quả của Quân đội. 

KHÔNG THỂ XUYÊN TẠC, BỊA ĐẶT VÀ VU KHỐNG QUÂN ĐỘI NHÂN DÂN VIỆT NAM


          Trong bối cảnh xã hội ngày càng phát triển và thông tin được lan truyền với tốc độ chóng mặt, có những sự việc chỉ mang tính cá biệt hay những sai phạm nhỏ lẻ trong Quân đội lại bị lợi dụng, bóp méo thành công cụ để xuyên tạc, bịa đặt và vu khống một tổ chức vốn đã được khẳng định qua thời gian về truyền thống và bản chất cách mạng của mình. Những hành động này không chỉ ảnh hưởng đến niềm tin của nhân dân mà còn làm giảm sút những giá trị cao đẹp mà Quân đội ta luôn gìn giữ và phát huy trong suốt quá trình xây dựng, chiến đấu, trưởng thành cùng với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc của dân tộc.

         Thực tiễn đã chứng minh, ở đâu có khó khăn, ở đó có “Bộ đội Cụ Hồ”. Càng trong hiểm nguy, gian khổ thì phẩm chất “Bộ đội Cụ Hồ” càng ngời sáng. Những tấm gương hy sinh dũng cảm của bộ đội ta từ trong kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ, trong chiến tranh bảo vệ Tổ quốc; những tấm gương cán bộ, chiến sĩ quên mình giúp nhân dân phòng, chống thiên tai, dịch bệnh, phát triển kinh tế, xóa đói, giảm nghèo... đã trở thành “giá đỡ tinh thần” để “Bộ đội Cụ Hồ” hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ khi Đảng, Tổ quốc và nhân dân tin yêu, gửi trao.

         Dẫu vậy, trong kỷ nguyên thông tin hiện nay, không ít người đã lợi dụng những vụ việc xảy ra trong nội bộ Quân đội, dù chỉ là những sai sót nhỏ của một cá nhân hay tập thể để cố ý bôi nhọ hình ảnh “Bộ đội Cụ Hồ”. Những hành động này nhằm mục đích phá hoại niềm tin của nhân dân đối với lực lượng bảo vệ Tổ quốc, gây ra những ảnh hưởng tiêu cực không chỉ trong mắt công chúng mà còn ảnh hưởng đến tinh thần đoàn kết của toàn xã hội.

          Trong những năm gần đây, có không ít vụ việc xảy ra bên trong Quân đội được các thế lực thù địch đưa ra với những tiêu đề “sốc” và “đáng lên án”. Tuy nhiên, khi xem xét kỹ lưỡng, hầu hết những vụ việc này đều chỉ là những cá biệt, không thể đại diện bản chất và truyền thống của Quân đội. Sự lợi dụng thông tin, việc cắt xén, bóp méo sự thật đã khiến cho những hình ảnh tiêu cực được phóng đại, dễ dàng bị thao túng theo mục đích chính trị hoặc lợi ích cá nhân của một số thế lực không mấy thiện chí.

         Có thể kể đến một số trường hợp đơn lẻ về sai phạm của cá nhân, nhưng cần nhận thức rằng: Bất kỳ tổ chức lớn nào, đặc biệt là một tổ chức có quy mô như Quân đội Nhân dân Việt Nam, không thể tránh khỏi những lỗi lầm cá nhân. Điều này không làm giảm đi lòng trung thành và bản chất cách mạng của Quân đội. Trái lại, những sai phạm này đều được xử lý kiên quyết, nghiêm minh, qua đó giúp nâng cao chất lượng đội ngũ và củng cố niềm tin của nhân dân vào tính nghiêm minh của kỷ luật trong Quân đội.

        Trong thời đại kỹ thuật số hiện nay, truyền thông đóng một vai trò vô cùng quan trọng trong việc định hình nhận thức của công chúng. Tuy nhiên, cũng chính trong bối cảnh đó, các thông tin sai lệch, lệch lạc dễ dàng được lan truyền nhanh chóng. Những người lợi dụng thông tin thường sử dụng các phương tiện truyền thông xã hội, các bài báo không kiểm chứng hay thậm chí là tin đồn trên các diễn đàn trực tuyến để tung hứng những thông tin chưa được xác thực, làm tổn hại hình ảnh của Quân đội Nhân dân Việt Nam.

        Trước những nỗ lực lợi dụng các vụ việc cá biệt để xuyên tạc, bịa đặt và vu khống Quân đội, chúng ta cần nhìn nhận một cách toàn diện, khách quan và có trách nhiệm. Quân đội không phải là những hình ảnh đơn lẻ của một vài sai phạm cá biệt mà là biểu tượng của lòng yêu nước, của sự hy sinh thầm lặng và của niềm của nhân dân được khẳng định trong suốt quá trình xây dựng, chiến đấu và trưởng thành của Quân đội ta hơn 80 năm qua. Những nỗ lực bôi nhọ hình ảnh Quân đội chỉ là những chiêu trò vô nghĩa, không thể thay đổi được thực tế lịch sử hào hùng và những giá trị truyền thống tốt đẹp mà Quân đội ta đã, đang và sẽ tiếp tục phát huy.

        Có thể khẳng định rằng, sự bôi nhọ, xuyên tạc của các thế lực thù địch nhất định sẽ thất bại. Bởi phẩm chất “Bộ đội Cụ Hồ” thực sự là giá trị văn hóa quân sự tiêu biểu, được xây đắp từ truyền thống yêu nước của dân tộc, từ sự giáo dục, rèn luyện của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh, từ sự tin tưởng, giúp đỡ của nhân dân và từ những cống hiến, hy sinh, vun đắp của các thế hệ cán bộ, chiến sĩ. Giá trị ấy được lưu giữ, kế thừa, phát triển qua thực tiễn đấu tranh cách mạng, trong sự nghiệp xây dựng, bảo vệ Tổ quốc, được lan tỏa cả trong khu vực và trên trường quốc tế.

        Do đó, chúng ta hãy cùng nhau giữ vững niềm tin, cùng nhìn nhận và ghi nhận những đóng góp quý báu và bản chất cách mạng của Quân đội Nhân dân Việt Nam, để không ai có thể lợi dụng những vụ việc cá biệt nhằm mục đích xuyên tạc, bôi nhọ hình ảnh của Quân đội. Bởi lẽ, uy tín, bản chất và truyền thống của Quân đội là tài sản vô giá của Tổ quốc, là niềm tự hào của dân tộc và là lời cam kết vững chắc cho tương lai của một đất nước độc lập, tự do và phồn vinh./.

Tính tất yếu ra đời của Đảng Cộng sản

 Sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân là khách quan, song để biến khả năng khách quan đó thành hiện thực phải thông qua nhân tố chủ quan, trong đó, việc tổ chức ra một chính Đảng mác xít chân chính, trung thành với lợi ích của giai cấp công nhân là nhân tố quyết định nhất.

Nền sản xuất đại công nghiệp ngày càng phát triển hiện đại, thì năng lực lao động trí tuệ và trình độ mọi mặt của giai cấp công nhân càng được nâng cao. Trong xu thế phát triển khách quan ấy đã quy định giai cấp công nhân là lực lượng xã hội có đủ khả năng để cải tạo xã hội cũ, xây dựng xã hội mới, đại biểu cho xu hướng phát triển của lịch sử vượt qua giới hạn của chủ nghĩa tư bản để tiến lên chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản trên toàn thế giới. Với tư cách là chủ thể của sứ mệnh lịch sử, giai cấp công nhân cần phải đạt tới trình độ giác ngộ cao về chính trị. Phẩm chất này được thể hiện trước hết ở trình độ giác ngộ về giai cấp. Giai cấp công nhân phải hiểu biết ở tầm lý luận về “mình là gì và cần phải làm gì với lịch sử” được tập trung trong nhận thức về sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân.

Sự phát triển của phong trào công nhân phụ thuộc vào sự truyền bá chủ nghĩa Mác - Lênin trong phong trào công nhân. Nó sẽ đạt tới trình độ tự giác chỉ khi phong trào công nhân thực sự là một phong trào chính trị có mục tiêu đấu tranh thực hiện sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân. Chủ nghĩa Mác - Lênin khẳng định, việc giai cấp công nhân tổ chức được một chính đảng của mình là dấu hiệu đã trở thành giai cấp tự giác và trưởng thành về chính trị, tư tưởng và tổ chức để thực hiện sứ mệnh lịch sử. Về mặt thực tiễn, những người cộng sản là bộ phận kiên quyết nhất trong các đảng công nhân ở tất cả các nước, là bộ phận luôn luôn thúc đẩy phong trào tiến lên. Về mặt lý luận, họ hơn bộ phận còn lại của giai cấp vô sản ở chỗ là họ hiểu rõ những điều kiện, tiến trình và kết quả chung của phong trào vô sản.

Quá trình ra đời của Đảng Cộng sản là quá trình thâm nhập chủ nghĩa Mác - Lênin vào phong trào công nhân, làm cho một bộ phận công nhân tiên tiến nắm được lý luận, giác ngộ sứ mệnh lịch sử của giai cấp, dẫn tới sự hình thành chính Đảng cách mạng - lãnh tụ chính trị, bộ tham mưu chiến đấu, đội tiên phong của giai cấp công nhân. C.Mác đã nhấn mạnh: “Trong cuộc đấu tranh của mình chống lại quyền lực liên hợp của giai cấp hữu sản, giai cấp vô sản chỉ khi nào tự tổ chức được thành một chính đảng độc lập để đối lập với tất cả mọi chính đảng cũ do các giai cấp hữu sản lập ra, thì mới có thể hành động với tư cách giai cấp được”. V. Lênin cũng đã chỉ ra rằng, Đảng Cộng sản là sản phẩm của sự kết hợp chủ nghĩa Mác với phong trào công nhân. Đó là quy luật chung, phổ biến cho sự ra đời Đảng Cộng sản của giai cấp công nhân trên thế giới. Tuy nhiên, con đường kết hợp này lại phụ thuộc vào điều kiện lịch sử cụ thể của từng nước. Theo V.Lênin, trong tất cả các nước, đã có thời kỳ phong trào công nhân và chủ nghĩa xã hội tồn tại biệt lập với nhau, mỗi bên đi theo con đường riêng biệt của mình và trong tất cả nước, sự biệt lập ấy đã làm yếu cả chủ nghĩa xã hội lẫn phong trào công nhân. Trong tất cả nước, chỉ có sự kết hợp chủ nghĩa xã hội với phong trào công nhân đem lại cơ sở vững vàng cho cả hai bên. Nhưng ở mỗi nước, sự kết hợp chủ nghĩa xã hội với phong trào công nhân đã được diễn ra với tính chất lịch sử, theo con đường riêng biệt, phụ thuộc vào những điều kiện địa phương và thời gian. Thực tiễn lịch sử đã chứng minh, ở Việt Nam “Chủ nghĩa Mác - Lênin kết hợp với phong trào công nhân và phong trào yêu nước đã dẫn tới việc thành lập Đảng Cộng sản Đông Dương vào đầu năm 1930”.

NHẬN DIỆN ÂM MƯU, HOẠT ĐỘNG CHỐNG PHÁ NGÀY 30/4 CỦA CÁC THẾ LỰC THÙ ĐỊCH

 

 Ngày 30/4 hằng năm là dịp để toàn thể Nhân dân Việt Nam ôn lại truyền thống hào hùng của dân tộc trong cuộc kháng chiến chống đế quốc Mỹ xâm lược, đánh dấu sự kiện lịch sử giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước. Tuy nhiên, đây cũng là thời điểm mà các thế lực thù địch, các tổ chức phản động lưu vong gia tăng các hoạt động chống phá, xuyên tạc lịch sử, gieo rắc luận điệu sai trái nhằm kích động tư tưởng chống đối trong Nhân dân. Vì vậy, nhận diện âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch trong dịp này là vô cùng cần thiết.

Các thế lực thù địch thường lợi dụng các phương tiện truyền thông, mạng xã hội để xuyên tạc lịch sử, phủ nhận ý nghĩa thắng lợi của cuộc kháng chiến chống đế quốc Mỹ. Chúng cố tình bóp méo sự kiện 30/4/1975 thành “ngày quốc hận”, kích động tư tưởng hận thù, chia rẽ khối đại đoàn kết dân tộc. Chúng luôn tìm cách lợi dụng những vấn đề nhạy cảm như dân chủ, nhân quyền để xuyên tạc, bịa đặt về tình hình chính trị, xã hội tại Việt Nam.
Thủ đoạn của chúng thường là cắt ghép, bóp méo sự thật hoặc lợi dụng các sự kiện đơn lẻ để quy chụp, xuyên tạc chính sách của Đảng và Nhà nước. Chúng triệt để khai thác tâm lý thiếu thông tin của một bộ phận người dân, khoét sâu vào những vấn đề còn tồn tại để gây hoang mang, làm suy giảm niềm tin vào chính quyền, nhất là trong giai đoạn hiện nay nước ta đang đẩy mạnh việt sắp xếp, tinh gọn bộ máy Nhà nước cũng như các đơn vị hành chính. Thậm chí, một số tổ chức phản động lưu vong còn lợi dụng các diễn đàn quốc tế để vận động, kêu gọi sự can thiệp từ bên ngoài, nhằm gây sức ép chính trị đối với Việt Nam. Không những thế, chúng còn kích động, lôi kéo, xúi giục nhân dân trong nước, người Việt Nam ở nước ngoài tham gia các hoạt động tụ tập, biểu tình, gây rối an ninh trật tự; kết hợp với việc rải truyền đơn, khẩu hiệu phản động. Mặt khác, các đối tượng ở bên ngoài còn tuyên truyền, hướng dẫn người dân trong nước chuẩn bị vũ khí, vật liệu nổ, bom xăng... để tấn công các cơ quan công quyền, gây cháy nổ tại các địa điểm công cộng để gây mất an ninh trật tự, khủng bố, phá hoại trong dịp lễ 30/4.
Mạng xã hội đã trở thành công cụ đắc lực mà các thế lực phản động lợi dụng để truyền bá tư tưởng sai lệch, kích động chống đối và gây bất ổn xã hội. Nhờ vào tính lan truyền nhanh, khó kiểm soát và sự tham gia đông đảo của người dùng, đặc biệt là giới trẻ, chúng triệt để khai thác nền tảng này để phát tán thông tin giả, tạo dư luận tiêu cực, đưa ra những tin tức sai lệch về các vấn đề chính trị, kinh tế, xã hội để gây hoang mang trong dư luận. Lợi dụng sự thiếu thông tin và tâm lý tò mò của một bộ phận người dân, đặc biệt là những người chưa có khả năng kiểm chứng thông tin, các đối tượng này tung tin giả với nội dung giật gân, gây sốc nhằm thao túng nhận thức, khiến người dân mất niềm tin vào chính quyền. Đặc biệt, chúng nhắm đến giới trẻ - nhóm đối tượng dễ tiếp cận thông tin trên mạng xã hội nhưng chưa có đủ kinh nghiệm để phân biệt thật - giả. Bằng cách này, chúng không chỉ gieo rắc tư tưởng chống đối mà còn lôi kéo, kích động các hành vi vi phạm pháp luật.
Mỗi dịp 30/4, các tổ chức phản động thường lợi dụng sự kiện này để kích động, kêu gọi biểu tình, gây rối an ninh trật tự dưới vỏ bọc “tưởng niệm” hay “đòi công lý”. Đây là một thủ đoạn tinh vi nhằm tạo ra sự đối đầu giữa người dân với chính quyền, gây mất ổn định xã hội. Chúng lợi dụng những người nhẹ dạ, thiếu hiểu biết hoặc có tâm lý bất mãn để lôi kéo tham gia vào các hoạt động trái pháp luật, từ đó tạo ra hình ảnh hỗn loạn, bất ổn trong nước. Mục tiêu cuối cùng của những hoạt động này không phải là “tưởng niệm” hay “đòi công lý” như chúng rêu rao, mà là phá hoại sự ổn định của đất nước, làm suy giảm lòng tin của nhân dân vào Đảng và Nhà nước, bôi xấu hình ảnh Việt Nam trên trường quốc tế.
Âm mưu, hoạt động chống phá ngày 30/4 của các thế lực thù địch là một thực tế không thể phủ nhận. Tuy nhiên, với sự chủ động, kiên quyết của các cơ quan chức năng và sự đồng lòng của toàn dân, chúng ta hoàn toàn có thể đẩy lùi các luận điệu sai trái, bảo vệ thành quả cách mạng, giữ vững ổn định chính trị, xã hội của đất nước. Mỗi người dân Việt Nam cần nêu cao tinh thần yêu nước, cảnh giác và kiên quyết đấu tranh với các thế lực thù địch để bảo vệ độc lập, chủ quyền dân tộc./.

QUÂN ĐỘI QUYẾT TÂM HOÀN THÀNH TỐT NHIỆM VỤ QUỐC TẾ CAO CẢ

Trưa 30-3, Bộ Quốc phòng tổ chức Hội nghị giao nhiệm vụ cho lực lượng Quân đội nhân dân (QĐND) Việt Nam tham gia khắc phục hậu quả thảm họa động đất tại Myanmar.

Đại tướng Nguyễn Tân Cương, Ủy viên Trung ương Đảng, Ủy viên Thường vụ Quân ủy Trung ương, Tổng Tham mưu trưởng QĐND Việt Nam, Thứ trưởng Bộ Quốc phòng chủ trì hội nghị giao nhiệm vụ. 14 giờ 15 phút, tại Cảng hàng không quốc tế Nội Bài, Thượng tướng Hoàng Xuân Chiến, Ủy viên Trung ương Đảng, Ủy viên Thường vụ Quân ủy Trung ương, Thứ trưởng Bộ Quốc phòng chủ trì lễ tiễn đoàn. Cùng tham dự hai sự kiện có các đồng chí: Thượng tướng Huỳnh Chiến Thắng, Ủy viên Trung ương Đảng, Phó tổng Tham mưu trưởng QĐND Việt Nam; Thượng tướng Lê Quang Minh, Phó chủ nhiệm Tổng cục Chính trị QĐND Việt Nam và lãnh đạo các cơ quan, đơn vị...
Trách nhiệm cao trước cộng đồng quốc tế
Sau trận động đất lớn gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng, rất nhiều nạn nhân còn mất tích trong đống đổ nát, Myanmar đã kêu gọi cộng đồng quốc tế hỗ trợ ứng cứu. Thực hiện phương châm đối ngoại của Đảng, Việt Nam luôn sẵn sàng là bạn, là đối tác tin cậy, là thành viên có trách nhiệm với cộng đồng quốc tế và với truyền thống, đạo lý “thương người như thể thương thân” của dân tộc Việt Nam; ngay sau khi nhận được tin xảy ra động đất tại Myanmar, Thường vụ Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng đã chủ động tham mưu với Thường trực Ban Bí thư và Thủ tướng Chính phủ cử lực lượng QĐND Việt Nam sang hỗ trợ nhân đạo, cứu trợ thảm họa động đất tại nước bạn.
Ngay trong ngày 29-3, Bộ Quốc phòng đã chỉ đạo Cục Cứu hộ-Cứu nạn (Bộ Tổng Tham mưu QĐND Việt Nam) chủ trì, phối hợp với Cục Đối ngoại, Tổng cục Hậu cần-Kỹ thuật, Binh chủng Công binh, Bộ tư lệnh Bộ đội Biên phòng và các đơn vị chức năng xây dựng kế hoạch, tổ chức thành lập lực lượng của Quân đội tham gia hỗ trợ nhân đạo, cứu trợ thảm họa tại Myanmar gồm 80 quân nhân.
Trong đó, đội quân y thuộc Tổng cục Hậu cần-Kỹ thuật gồm 30 đồng chí; Đội công binh cứu sập thuộc Binh chủng Công binh gồm 30 đồng chí; Đội huấn luyện viên và chó nghiệp vụ tìm kiếm cứu nạn thuộc Bộ đội Biên phòng có 9 đồng chí, 6 chó nghiệp vụ; bộ phận chỉ huy và cơ quan gồm 11 đồng chí. Tổng chỉ huy lực lượng là Thiếu tướng Phạm Văn Tỵ, Phó chánh Văn phòng Thường trực Ủy ban Quốc gia ứng phó sự cố, thiên tai và tìm kiếm cứu nạn, Phó cục trưởng Cục Cứu hộ-Cứu nạn.
Tổng cục Hậu cần-Kỹ thuật được giao nhiệm vụ chuẩn bị 40 tấn lương khô và 30 tấn hàng hóa giúp nhân dân Myanmar; chủ trì, phối hợp với các cơ quan, đơn vị làm tốt công tác bảo đảm hậu cần, kỹ thuật cho lực lượng thực hiện nhiệm vụ tại Myanmar. Cục Đối ngoại phối hợp với Quân chủng Phòng không-Không quân và các hãng hàng không dân dụng chuẩn bị tốt phương tiện vận chuyển hàng hóa, trang bị đến sân bay quốc tế Nội Bài và hiệp đồng với các lực lượng chức năng nước bạn triển khai kế hoạch vận chuyển hàng hóa, cơ động lực lượng đến vùng tâm chấn động đất...
Phát biểu tại hội nghị giao nhiệm vụ, Đại tướng Nguyễn Tân Cương nêu rõ: Việc cử lực lượng QĐND Việt Nam sang tham gia hỗ trợ nhân đạo, cứu trợ thảm họa tại Myanmar thể hiện chính sách đối ngoại ưu việt, trách nhiệm cao trước cộng đồng quốc tế của Đảng, Nhà nước, nhân dân Việt Nam; đồng thời, thể hiện và khẳng định uy tín, tinh thần trách nhiệm và năng lực của QĐND Việt Nam trong quan hệ, hợp tác quốc tế. Các quân nhân tham gia hỗ trợ nhân đạo, cứu trợ thảm họa tại Myanmar là vinh dự thực hiện một nhiệm vụ quốc tế cao cả và truyền thống, đạo lý “thương người như thể thương thân” của dân tộc Việt Nam.
Đại tướng Nguyễn Tân Cương yêu cầu trong thời gian thực hiện nhiệm vụ tại Myanmar, với vai trò đại diện cho đất nước và QĐND Việt Nam, các thành viên đoàn công tác cần nêu cao tinh thần tự giác, ý thức tổ chức kỷ luật, đoàn kết, chủ động khắc phục khó khăn, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ mà Đảng, Nhà nước, Quân đội tin tưởng giao phó; đặc biệt, giải quyết tốt các mối quan hệ, phối hợp với các lực lượng quốc tế, chính quyền và người dân nước bạn; phát huy phẩm chất tốt đẹp của QĐND Việt Nam, để lại ấn tượng đẹp trong lòng bạn bè quốc tế và người dân Myanmar.
Chuẩn bị khẩn trương để lên đường được ngay
Trước đó, trong buổi chiều và đêm 29-3, thực hiện chỉ đạo của thủ trưởng Bộ Quốc phòng, các cơ quan, đơn vị đã gấp rút làm công tác chuẩn bị để đưa lực lượng, phương tiện tham gia cùng cộng đồng quốc tế hỗ trợ Myanmar khắc phục thảm họa. Chỉ trong thời gian ngắn, các đơn vị đã hoàn thành khối lượng công việc lớn, thể hiện tính sẵn sàng cao của lực lượng Quân đội. Đại tướng Nguyễn Tân Cương đánh giá: "Song song với việc nhận mệnh lệnh dự báo, các đơn vị đã triển khai mọi công tác chuẩn bị. Khi có lệnh là lên đường ngay".
Trực tiếp chỉ đạo, đôn đốc công tác bảo đảm hậu cần, kỹ thuật và chuẩn bị lực lượng quân y, Thiếu tướng Hà Như Lợi, Phó chủ nhiệm Tổng cục Hậu cần-Kỹ thuật nhắc nhở bộ phận quân y: Trong quá trình triển khai nhiệm vụ cần chú trọng công tác phối hợp hiệp đồng với lực lượng công binh, lực lượng huấn luyện chó nghiệp vụ và các lực lượng của Việt Nam đang có mặt tại Myanmar. Phối hợp hiệp đồng với lực lượng cứu hộ của nước sở tại, các lực lượng quốc tế, nhất là trong tổ chức vận chuyển người bị nạn để bảo đảm việc thu dung, điều trị được kịp thời, hiệu quả.
Trong số các quân nhân tham gia làm nhiệm vụ tại Myanmar lần này, có nhiều đồng chí đã hoàn thành nhiệm vụ cứu hộ, cứu nạn tại Thổ Nhĩ Kỳ năm 2023. Đây chính là điều kiện thuận lợi của đoàn công tác, từ những kinh nghiệm sẵn có, lực lượng tham gia khắc phục thảm họa tại Myanmar sẽ vận dụng tốt vào tình huống thực tế.
Thượng tá Nguyễn Trung Kiên, Đội trưởng Đội huấn luyện viên và chó nghiệp vụ tham gia tìm kiếm cứu nạn, khắc phục hậu quả động đất tại Myanmar chia sẻ: “Chúng tôi xác định đây là nhiệm vụ hết sức quan trọng, thể hiện sự đoàn kết quốc tế, tính nhân văn cao cả. Toàn đội sẽ luôn nêu cao tinh thần tự giác, ý thức tổ chức kỷ luật, giữ gìn lễ tiết, tác phong quân nhân, chủ động khắc phục mọi khó khăn, quyết tâm hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ được giao”.
Thực hiện nhiệm vụ lần này, Binh chủng Công binh tổ chức lực lượng với nhiều trang thiết bị tìm kiếm cứu nạn chuyên dụng, hiện đại, dễ cơ động, như: Thiết bị dò tìm âm thanh DESA, radar tìm kiếm âm thanh, hình ảnh, thủy lực, thiết bị tìm kiếm nạn nhân dưới đống đổ nát cầm tay PO-900... cùng các vật chất bảo đảm sinh hoạt. Thiếu tướng Trần Trung Hòa, Tư lệnh Binh chủng Công binh, cho biết: “Các đồng chí trong đội công binh được cử đi làm nhiệm vụ đã tích cực làm công tác chuẩn bị, xác định tốt nhiệm vụ. Đây là những cán bộ có trình độ chuyên môn cao, giao tiếp tiếng Anh tốt”.
Quyết tâm làm sáng đẹp thêm hình ảnh Bộ đội Cụ Hồ
Lễ tiễn đoàn QĐND Việt Nam tham gia khắc phục hậu quả động đất tại Myanmar diễn ra vào 14 giờ 15 phút tại Cảng hàng không quốc tế Nội Bài dưới sự chủ trì của Thượng tướng Hoàng Xuân Chiến, Ủy viên Trung ương Đảng, Ủy viên Thường vụ Quân ủy Trung ương, Thứ trưởng Bộ Quốc phòng. Cùng tham dự lễ tiễn đoàn có Thượng tướng Huỳnh Chiến Thắng; Thượng tướng Lê Quang Minh; ông Soe Ko Ko, Đại biện lâm thời Đại sứ quán Myanmar tại Việt Nam và lãnh đạo một số cơ quan, đơn vị.
Phát biểu tại lễ tiễn, thay mặt Quân ủy Trung ương, lãnh đạo Bộ Quốc phòng, Thượng tướng Hoàng Xuân Chiến biểu dương tinh thần chủ động khắc phục khó khăn, quyết tâm thực hiện nhiệm vụ của tất cả cơ quan, đơn vị; đặc biệt biểu dương 80 sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp đã xác định tốt nhiệm vụ, khẩn trương thu xếp công việc gia đình, cơ quan và hoàn thành mọi công tác chuẩn bị để lên đường.
Thượng tướng Hoàng Xuân Chiến cho biết, nước bạn đang hy vọng, chờ đợi lực lượng cứu hộ, cứu nạn của các quốc gia, trong đó có Việt Nam, đến hỗ trợ khắc phục hậu quả động đất. Do đó, từng bộ phận và cá nhân thuộc lực lượng cứu hộ, cứu nạn của QĐND Việt Nam đã quán triệt, triển khai làm tốt công tác chuẩn bị với khí thế quyết tâm hoàn thành sứ mệnh cao cả. Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng tin tưởng đoàn công tác sẽ hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ, tiếp tục phát huy truyền thống dân tộc Việt Nam anh hùng, QĐND Việt Nam anh hùng và làm sáng đẹp thêm hình ảnh Bộ đội Cụ Hồ trong lòng bạn bè quốc tế.
* Cũng trong chiều 30-3, Bộ Công an tổ chức lễ xuất quân của đội cứu nạn, cứu hộ (CNCH) lên đường thực hiện nhiệm vụ tại Myanmar. Trung tướng Lê Văn Tuyến, Thứ trưởng Bộ Công an chủ trì buổi lễ. Đây là các cán bộ, chiến sĩ được lựa chọn kỹ, có trình độ chuyên môn cao, sẵn sàng ứng phó với mọi tình huống khẩn cấp tại khu vực bị ảnh hưởng của động đất.
Cục Cảnh sát Phòng cháy, chữa cháy và CNCH phối hợp với các đơn vị lên phương án huy động 2 chó nghiệp vụ và các dụng cụ, thiết bị chuyên dụng phục vụ công tác CNCH, bao gồm: Thiết bị dò tìm người bị nạn trong công trình sập đổ; máy khoan, đục bê tông; máy cắt đa năng; bộ thiết bị chống sập; bộ túi nâng sử dụng khí nén; tháp đèn chiếu sáng di động, bộ đàm cùng nhiều phương tiện hỗ trợ khác./.

Đối tượng nghiên cứu của chủ nghĩa xã hội khoa học

 


Chủ nghĩa xã hội khoa học nghiên cứu những quy luật và những vấn đề có tính quy luật chính trị - xã hội của quá trình phát sinh, hình thành và phát triển hình thái kinh tế - xã hội cộng sản chủ nghĩa; điều kiện, con đường, hình thức, phương pháp đấu tranh cách mạng của giai cấp công nhân nhằm thực hiện sự chuyển biến từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa cộng sảnChủ nghĩa xã hội khoa học nghiên cứu cả phương diện khách quan và phương diện chủ quan của quá trình phát triển xã hội từ chủ nghĩa tư bản lên của nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản. Phương diện khách quan, Chủ nghĩa xã hội khoa học nghiên cứu quy luật và tính quy luật chính trị - xã hội của hình thái kinh tế - xã hội cộng sản chủ nghĩa. Quy luật chính trị - xã hội là những quy luật phản ánh mối quan hệ giữa người với người trong lĩnh vực chính trị - xã hội, thông qua các mối quan hệ cơ bản như quan hệ giai cấp, quan hệ dân tộc, quan hệ quốc gia, quan hệ quốc tế. Quy luật chính trị - xã hội, bao gồm quy luật, tính quy luật trong cuộc đấu tranh giành chính quyền của giai cấp công nhân; trong cải tạo, xây dựng chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa cộng sản; quá trình cách mạng thế giới trong thời đại hiện nay. Phương diện chủ quan, dựa trên cơ sở quy luật, tính quy luật chính trị - xã hội, chủ nghĩa xã hội khoa học nghiên cứu những điều kiện, con đường, biện pháp đấu tranh của giai cấp công nhân và nhân dân lao động để hiện thực hoá những quy luật khách quan của sự phát triển từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản. Phạm vi đối tượng nghiên cứu của chủ nghĩa xã hội khoa học là quá trình phát sinh hình thành phát triển của hình thái kinh tế - xã hội cộng sản chủ nghĩa, bao gồm các nhóm quy luật: Quy luật, tính quy luật (biểu hiện của quy luật trong trường hợp cụ thể)  trong cuộc đấu tranh giành và giữ chính quyền của giai cấp công nhân; Quy luật, tính quy luật trong cải tạo và xây dựng chủ nghĩa xã hội; Quy luật, tính quy luật của quá trình cách mạng thế giới hiện nay; Những điều kiện, con đường, phương pháp đấu tranh cách mạng để thực hiện quy luật, tính quy luật trong cả ba quá trình trên.

Đối tượng nghiên cứu của chủ nghĩa xã hội khoa học có sự khác biệt với đối tượng nghiên cứu của một số khoa học liên ngành. Song, sự phân biệt này chỉ có tính chất tương đối vì xã hội là một chỉnh thể thống nhất, các lĩnh vực của đời sống xã hội có quan hệ biện chứng với nhau. Cùng với các môn khoa học xã hội chuyên ngành đi sâu nghiên cứu một lĩnh vực tương đối hẹp của đời sống xã hội, chủ nghĩa xã hội khoa học nghiên cứu dưới góc độ xã hội - chính trị mọi lĩnh vực của đời sống xã hội trong quá trình phát triển từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản. Cùng với các bộ phận hợp thành Chủ nghĩa Mác - Lênin chủ nghĩa xã hội khoa học góp phần cung cấp cơ sở lý luận và phương pháp luận khoa học cho các môn khoa học xã hội chuyên ngành. Đồng thời, các môn khoa học xã hội đó trong quá trình phát triển cũng đặt ra yêu cầu, cung cấp những dự liệu cho quá trình nghiên cứu, phát triển của chủ nghĩa xã hội khoa học.

Sứ mệnh lịch sử thế giới của giai cấp công nhân

 

Sứ mệnh lịch sử toàn thế giới của một giai cấp là sự nghiệp của giai cấp đại biểu cho một phương thức sản xuất tiên tiến, đại diện cho tiến bộ xã hội để xác lập một hình thái kinh tế - xã hội mới phủ định cho hình thái đã lỗi thời. Trên cơ sở phân tích một cách khách quan, khoa học những điều kiện kinh tế của nền sản xuất tư bản chủ nghĩa cũng như những điều kiện chính trị, xã hội đã tạo nên các quan hệ giai cấp trong xã hội tư bản, C.Mác và Ph.Ăngghen đã phát hiện vai trò và sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân: “Thực hiện sự nghiệp giải phóng thế giới ấy, đó là sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân”.

Nội dung sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân là xoá bỏ chế độ tư bản, giải phóng giai cấp công nhân, nhân dân lao động và toàn thể nhân loại khỏi mọi sự áp bức bóc lột, xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản trên toàn thế giới.

Sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân là quá trình kết hợp chặt chẽ và thống nhất biện chứng giữa hai sự nghiệp: cải tạo xã hội cũ và xây dựng xã hội mới. Nội dung sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân được thực hiện trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội, đây là một quá trình lâu dài và phức tạp, thể hiện mối quan hệ biện chứng giữa cải tạo xã hội cũ và xây dựng xã hội mới. Sự kết hợp chặt chẽ ấy diễn ra trong suốt quá trình cách mạng của giai cấp công nhân cả trong giai đoạn đấu tranh giành chính quyền và xây dựng xã hội mới. Quá trình cách mạng xã hội chủ nghĩa ở các nước đã chứng minh, ở đâu và khi nào mối quan hệ giữa cải tạo và xây dựng chưa được kết hợp chặt chẽ và giải quyết đúng đắn, thì ở đó và khi đó việc thực hiện sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân gặp nhiều khó khăn, thậm chí còn thất bại.

Để thực hiện sứ mệnh lịch sử của mình, giai cấp công nhân phải tiến hành một quá trình đấu tranh cách mạng liên tục trải qua các giai đoạnGiai đoạn thứ nhất, giai cấp công nhân phải lật đổ chính quyền giai cấp tư sản, thiết lập chính quyền của giai cấp vô sản, phải “tự vươn lên thành giai cấp dân tộc, phải tự mình trở thành dân tộc” và “phải tự nhận lấy sứ mệnh đại biểu cho toàn bộ lợi ích của một dân tộc và do đó lãnh đạo dân tộc ấy về chính trị”; Giai đoạn thứ hai, sau khi giành chính quyền, giai cấp công nhân phải lãnh đạo và tổ chức công cuộc cải tạo xã hội cũ, xây dựng xã hội mới - xã hội xã hội chủ nghĩa để tiến lên chủ nghĩa cộng sản. Chưa đạt được mục tiêu cuối cùng thì giai cấp công nhân cũng như toàn thể nhân dân lao động chưa được giải phóng hoàn toàn.

Sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân khác hẳn về chất so với sứ mệnh của các giai cấp khác trong lịch sử. Giai cấp công nhân làm cách mạng nhằm xoá bỏ hoàn toàn chế độ tư hữu tư bản chủ nghĩa về tư liệu sản xuất, nguồn gốc sinh ra mọi áp bức bóc lột, bất công xã hội, chứ không phải thực hiện sự thay thế chế độ tư hữu này bằng chế độ tư hữu khác, hay thay đổi hình thức bóc lột này bằng hình thức bóc lột khác như trước đây. Mục đích cách mạng của giai cấp công nhân là mang lại lợi ích cho tuyệt đại đa số nhân dân lao động, thực hiện sự nghiệp giải phóng cao cả: Giải phóng giai cấp, giải phóng dân tộc, giải phóng con người. C.Mác và Ph.Ăngghen đã khẳng định: “Tất cả những phong trào lịch sử từ trước đến nay, đều là do thiểu số thực hiện, hoặc đều do mưu lợi ích cho thiểu số. Phong trào vô sản là phong trào độc lập của tuyệt đai đa số, mưu lợi cho tuyệt đại đa số”.

Sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân là sự nghiệp cách mạng vừa mang tính dân tộc, vừa mang tính quốc tế, kết hợp chặt chẽ nhiệm vụ dân tộc với nghĩa vụ quốc tế. Sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân mang tính quốc tế do địa vị kinh tế - xã hội của giai cấp công nhân quy định và từ yêu cầu chống kẻ thù chung là chủ nghĩa tư bản quốc tế. Tuy nhiên, tính quốc tế của sứ mệnh lịch sử ấy phải được giai cấp công nhân thực hiện trước hết ở từng quốc gia dân tộc. C.Mác và Ph.Ăngghen đã chỉ rõ: “Cuộc đấu tranh của giai cấp vô sản chống lại giai cấp tư sản, dù về mặt nội dung, không phải là cuộc đấu tranh dân tộc, nhưng lúc đầu lại mang hình thức đấu tranh dân tộc. Đương nhiên là trước hết, giai cấp vô sản mỗi nước phải thanh toán xong giai cấp tư sản nước mình đã”. Như vậy, sự nghiệp cách mạng của giai cấp công nhân chỉ có thể hoàn thành nếu giải quyết đúng đắn các mối quan hệ dân tộc và quốc tế. Đây là mối quan hệ thống nhất biện chứng của quá trình phát triển trong phong trào công nhân quốc tế.


 Người làm nghề tổ chức xây dựng Đảng trước kỷ nguyên vươn mình của dân tộc

Hội nghị Trung ương 10 khóa XIII thảo luận nhiều vấn đề quan trọng chuẩn bị cho Đại hội XIV của Đảng.

Nếu nói con người là nguồn lực quan trọng, thậm chí quyết định trong phát triển thì bước vào kỷ nguyên mới, người làm nghề tổ chức xây dựng Đảng cần tập trung tham mưu chuẩn bị nguồn nhân lực chất lượng cao, trước hết là nguồn cán bộ cấp chiến lược, cán bộ lãnh đạo, quản lý chất lượng cao trong cả hệ thống chính trị sao cho đủ phẩm chất và năng lực đáp ứng yêu cầu kỷ nguyên mới.

Vì thời gian không chờ đợi nên ngay trước thềm Xuân Ất Tỵ 2025, người làm nghề tổ chức xây dựng Đảng trong cả nước đã phải căng mình tham mưu cho cấp ủy cùng cấp triển khai tổng kết bảy năm thực hiện Nghị quyết số 18-NQ/TW ngày 25-12-2017 “về tiếp tục đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả” với quyết tâm chính trị cao theo tinh thần “vừa chạy vừa xếp hàng”, “Trung ương không chờ cấp tỉnh, cấp tỉnh không chờ cấp huyện, cấp huyện không chờ cơ sở”, “Trung ương nêu gương, địa phương hưởng ứng”…, khác với bảy năm trước khi mới bắt đầu tổ chức thực hiện Nghị quyết số 18-NQ/TW xếp hàng xong có khi vẫn chưa chạy và mọi việc chủ yếu bắt đầu từ cấp tỉnh trở xuống!

Suy ngẫm về nghề, tôi thấy áp lực của người làm nghề tổ chức xây dựng Đảng ở thời điểm này rất lớn. Bởi thời gian quá cấp bách nên phải vừa chạy vừa xếp hàng và quan trọng hơn là trong khi vừa chạy vừa xếp hàng vẫn phải nỗ lực suy nghĩ thật thấu tình đạt lý để tham mưu, hạn chế đến mức thấp nhất những thiếu sót, bất cập. Nhìn chung, mô hình sắp xếp tổ chức bộ máy cấp tỉnh lần này tương tự như mô hình bộ máy cấp Trung ương. Chẳng hạn, Trung ương hợp nhất Ban Tuyên giáo Trung ương với Ban Dân vận Trung ương thì ở dưới cũng phải hợp nhất ban tuyên giáo tỉnh, thành ủy với ban dân vận tỉnh, thành ủy, Trung ương hợp nhất Bộ Tài chính với Bộ Kế hoạch và Đầu tư thì ở dưới cũng phải hợp nhất sở tài chính với sở kế hoạch và đầu tư… nhưng không phải lúc nào cũng đều có sự tương ứng như vậy để người làm nghề tổ chức xây dựng Đảng cấp tỉnh yên tâm đề xuất.

Ví dụ, sau khi kết thúc hoạt động của các đảng đoàn, các ban cán sự đảng và đảng bộ khối các cơ quan ở Trung ương cũng như ở cấp tỉnh, mô hình ở Trung ương sẽ là thành lập mới bốn đảng bộ trực thuộc Trung ương để vừa thực hiện chức năng của một tổ chức đảng trực thuộc Trung ương, vừa thực hiện chức năng của các đảng đoàn hoặc ban cán sự đảng vừa giải thể thì mô hình ở cấp tỉnh được định hướng để nghiên cứu đề xuất là thành lập mới hai đảng bộ trực thuộc tỉnh, thành ủy. Nếu hiểu sắp xếp không đơn thuần là giảm bớt một cách cơ học mà phải bảo đảm hoạt động hiệu lực, hiệu quả sau sắp xếp, người làm nghề tổ chức xây dựng Đảng không thể không suy nghĩ khi mô hình “hai đảng bộ” trực thuộc tỉnh, thành ủy có thể dẫn đến khả năng chưa định vị đúng mức vai trò của HĐND tỉnh, thành phố là “cơ quan quyền lực nhà nước ở địa phương, đại diện cho ý chí, nguyện vọng và quyền làm chủ của nhân dân” trong tương quan với UBND tỉnh, thành phố là “cơ quan chấp hành của HĐND, cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương, chịu trách nhiệm trước nhân dân địa phương, HĐND cùng cấp và cơ quan hành chính nhà nước cấp trên” (khoản 1 Điều 6 và khoản 1 Điều 8, Luật Tổ chức chính quyền địa phương số 77/2015/QH13).

Từ đó người làm nghề tổ chức xây dựng Đảng cấp tỉnh có thể phải nghiên cứu để đề xuất mô hình ba đảng bộ trực thuộc tỉnh, thành ủy: Một đảng bộ bao gồm TCCSĐ của các cơ quan tham mưu giúp việc tỉnh, thành ủy và của các cơ quan tư pháp; một đảng bộ bao gồm TCCSĐ của các cơ quan chuyên môn, đơn vị sự nghiệp trực thuộc UBND tỉnh, thành phố cùng một số doanh nghiệp nhà nước quan trọng; một đảng bộ bao gồm TCCSĐ của HĐND tỉnh, thành phố, của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tỉnh, thành phố cùng các tổ chức chính trị - xã hội và các hội quần chúng được Đảng, Nhà nước giao nhiệm vụ cấp tỉnh. Các cơ quan, đơn vị của đảng bộ thứ ba này đều có một chức năng chung là giám sát. Trung ương chỉ mới định hướng đảng bộ quân sự, đảng bộ bộ đội biên phòng và đảng bộ công an tỉnh, thành phố không thay đổi - vẫn trực thuộc tỉnh, thành ủy; chưa đề cập một số đảng bộ cấp trên cơ sở trực thuộc tỉnh, thành ủy - chẳng hạn như Đảng bộ Đại học Đà Nẵng - một đại học khu vực đang phấn đấu trở thành đại học quốc gia theo Nghị quyết số 26-NQ/TW của Bộ Chính trị khóa XIII, cũng là điều mà người làm nghề tổ chức xây dựng Đảng cấp tỉnh phải chú tâm nghiên cứu để tham mưu. Thiết nghĩ, trên hành trình bước vào kỷ nguyên phát triển mới, các cơ sở đào tạo đại học như Đại học Đà Nẵng, với tư cách là trung tâm đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao không chỉ cho địa phương nơi trường đóng, mà còn là trung tâm tri thức và nghiên cứu khoa học quan trọng trên địa bàn, rất cần được tỉnh, thành ủy trực tiếp lãnh đạo về tổ chức đảng. 

Tôi làm nghề tổ chức xây dựng Đảng từ năm 1994, từng chứng kiến nhiều cuộc sắp xếp, tinh gọn tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị ở cấp tỉnh, chẳng hạn như giải thể Ban Nội chính Tỉnh ủy và Ban Kinh tế Tỉnh ủy Quảng Nam Đà Nẵng, chuyển chức năng hai ban này vào Văn phòng Tỉnh ủy và nhất là cuộc chia tách tỉnh Quảng Nam - Đà Nẵng thành tỉnh Quảng Nam và TP. Đà Nẵng vào đầu năm 1997. Thành lập Sở Tài nguyên và Môi trường cùng Sở Khoa học và Công nghệ vào giữa năm 2003 trên cơ sở sắp xếp lại Sở Địa chính - Nhà đất và Sở Khoa học, Công nghệ và Môi trường. Hợp nhất Sở Công nghiệp và Sở Thương mại thành Sở Công thương, cùng lúc hợp nhất Sở Văn hóa - Thông tin với Sở Thể dục - Thể thao và Sở Du lịch thành Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch đi đôi với thành lập mới Sở Thông tin và Truyền thông hồi giữa năm 2007… Nhưng chưa có cuộc sắp xếp nào khẩn trương và được nhân dân quan tâm, ủng hộ như cuộc sắp xếp trước thềm Xuân Ất Tỵ 2025 này.

Đối với người làm nghề tổ chức xây dựng Đảng các cấp - nhất là cấp tỉnh, đây là một cuộc “tác nghiệp kép”, vừa tham mưu cho cấp ủy cùng cấp đánh giá, bố trí cán bộ đi đôi với thực hiện chính sách cán bộ lần này phục vụ cho việc tổng kết bảy năm thực hiện Nghị quyết số 18-NQ/TW của BCH Trung ương Đảng khóa XII, vừa phục vụ cho việc thực hiện Chỉ thị số 35-CT/TW của Bộ Chính trị khóa XIII về đại hội đảng bộ các cấp tiến tới Đại hội XIV của Đảng. Do đó, đòi hỏi phải có phương án kết hợp “mục tiêu kép” ấy trong công tác nhân sự cụ thể. Chính vì thế có người đứng đầu địa phương đang lo rằng thủ trưởng các cơ quan dự kiến hợp nhất hoặc giải thể sẽ bỏ bê công vụ ở thời điểm “nước rút” hoàn thành các chỉ tiêu kinh tế - xã hội cuối năm 2024 trên địa bàn. Đó cũng chỉ là một khả năng, nhưng khả năng lớn hơn là chính trong bối cảnh “nóng bỏng” này, hơn lúc nào hết thủ trưởng các cơ quan dự kiến hợp nhất hoặc giải thể sẽ thể hiện đạo đức và năng lực công vụ của bản thân ở mức cao nhất có thể để tự khẳng định mình. Người làm tổ chức xây dựng Đảng cần quan sát hiệu quả của sự tự khẳng định ấy để tham mưu cho cấp ủy cùng cấp đánh giá, bố trí cán bộ một cách tối ưu. Đồng thời, phải cảnh giác và kiên quyết nói “không” với động thái mà Tổng Bí thư Tô Lâm gọi đích danh là “thủ thuật tổ chức” để gạt những người mà mình không thích.

 Đổi mới công tác tổ chức, cán bộ đáp ứng yêu cầu nâng cao năng lực lãnh đạo, cầm quyền của đảng*

Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm dự và phát biểu tại Lễ khai giảng Lớp bồi dưỡng, cập nhật kiến thức, kỹ năng đối với cán bộ quy hoạch Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV, ngày 14-10-2024_Ảnh: Tư liệu

1. Thực trạng và một số kinh nghiệm

Qua hơn một nhiệm kỳ thực hiện Nghị quyết số 18-NQ/TW ngày 25-10-2017 của BCH Trung ương Đảng khóa XII “Một số vấn đề về tiếp tục đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả”, đã đạt được một số kết quả quan trọng, bước đầu tạo chuyển biến tích cực. Tổ chức bộ máy hệ thống chính trị được đẩy mạnh sắp xếp, kiện toàn; chức năng, nhiệm vụ, mối quan hệ công tác của từng tổ chức được phân định, điều chỉnh hợp lý hơn. Thực hiện Nghị quyết số 26-NQ/TW ngày 19-5-2018 của BCH Trung ương Đảng khóa XII “về tập trung xây dựng đội ngũ cán bộ các cấp, nhất là cấp chiến lược, đủ phẩm chất, năng lực và uy tín, ngang tầm nhiệm vụ”, công tác cán bộ đã bám sát các quan điểm, nguyên tắc của Đảng, ngày càng đi vào nền nếp. Quy trình công tác cán bộ có nhiều đổi mới, ngày càng chặt chẽ, đồng bộ, công khai, minh bạch và dân chủ hơn. Nhìn tổng thể, việc đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy hệ thống chính trị và công tác cán bộ đã đạt được những kết quả quan trọng, góp phần vào thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử của sự nghiệp đổi mới.

Tuy nhiên, việc sắp xếp tổ chức bộ máy vẫn chưa đồng bộ, thiếu tổng thể, chưa gắn với tinh giản biên chế, cơ cấu lại và nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức. Tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị vẫn cồng kềnh, nhiều tầng nấc, nhiều đầu mối; chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, mối quan hệ công tác của nhiều cơ quan, đơn vị, tổ chức chưa rõ ràng, trùng lặp, chồng chéo, có chỗ bao biện làm thay, có nơi bỏ sót. Còn có sự chồng lấn giữa lập pháp và hành pháp, phân cấp, phân quyền cho địa phương chưa mạnh, chưa đồng bộ, hợp lý, chưa đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ của thời kỳ mới, dẫn đến tồn tại cơ chế xin - cho, dễ nảy sinh tham nhũng, lãng phí, tiêu cực. Công tác cán bộ còn hạn chế, chưa đáp ứng yêu cầu; quy trình công tác cán bộ và phân cấp quản lý cán bộ chưa theo kịp tình hình. Năng lực của đội ngũ cán bộ chưa đồng đều. Không ít cán bộ lãnh đạo, quản lý, trong đó có cả cán bộ cấp chiến lược, thiếu gương mẫu, uy tín thấp; quan liêu, xa dân, tham nhũng, lãng phí, tiêu cực. Nguyên nhân chủ yếu do mô hình tổ chức tổng thể của hệ thống chính trị chưa thật hoàn thiện. Nhận thức và hành động của cấp ủy, tổ chức đảng, tập thể lãnh đạo, người đứng đầu ở một số cơ quan, tổ chức, đơn vị, địa phương chưa đầy đủ, chưa sâu sắc, quyết tâm chưa cao, hành động chưa quyết liệt. Việc nghiên cứu, tổng kết, rút ra những kinh nghiệm, đồng thời xác định nhiệm vụ, giải pháp nhằm tiếp tục đổı mới công tác tổ chức, cán bộ đáp ứng yêu cầu xây dựng hệ thống chính trị tinh, gọn, mạnh, hoạt động hiệu lực, hiệu quả là vấn đề có ý nghĩa lý luận và thực tiễn rất quan trọng, cấp thiết.

Từ thực tiễn xây dựng tổ chức bộ máy hệ thống chính trị và đổi mới công tác cán bộ những năm qua, nhất là những kinh nghiệm rút ra trong quá trình quán triệt và thực hiện các chỉ đạo của Trung ương từ đầu nhiệm kỳ Đại hội XIII đến nay, có thể rút ra một số kinh nghiệm sau đây:

1. Nắm vững chủ trương, đường lối của Đảng, bám sát thực tiễn, thường xuyên đổi mới tư duy, đổi mới đồng bộ công tác tổ chức với công tác cán bộ, nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động của tổ chức bộ máy gắn với xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức đủ năng lực, phẩm chất và uy tín ngang tầm nhiệm vụ, nhất là đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý và người đứng đầu. Phải thấm nhuần sâu sắc quan điểm việc đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy và công tác cán bộ là nhiệm vụ đặc biệt quan trọng của công tác xây dựng Đảng, xây dựng hệ thống chính trị. Đây là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị, trước hết là của cấp ủy, tổ chức đảng và người đứng đầu các cấp. Phát huy vai trò của Nhà nước, Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể trong công tác tổ chức, cán bộ.

2. Bảo đảm thực hiện nghiêm, nhất quán Đảng thống nhất lãnh đạo trực tiếp, toàn diện công tác cán bộ và quản lý đội ngũ cán bộ theo nguyên tắc tập trung dân chủ; Đảng thống nhất lãnh đạo xây dựng và quản lý tổ chức bộ máy, biên chế của hệ thống chính trị. Đặc biệt coi trọng sự đoàn kết, thống nhất ý chí và hành động trong Đảng, trước hết là lãnh đạo chủ chốt và cấp ủy các cấp. Người đứng đầu các cấp phải thực sự mẫu mực, nói đi đôi với làm, nêu cao tinh thần trách nhiệm, đặt lợi ích của quốc gia - dân tộc, Nhân dân lên trên hết, trước hết. Sức mạnh của Đảng là ở sự gắn bó máu thịt, mật thiết với Nhân dân; phải sâu sát cơ sở, lắng nghe ý kiến của Nhân dân, gắn bó mật thiết với Nhân dân, phát huy vai trò của Nhân dân và thật sự dựa vào dân để xây dựng Đảng. Nâng cao nhận thức của các cấp, các ngành, từng cơ quan, đơn vị và người dân về đổi mới công tác tổ chức, cán bộ trong tình hình mới. Làm tốt công tác giáo dục chính trị tư tưởng, nâng cao nhận thức của cán bộ, đảng viên. Tăng cường tuyên truyền, vận động, thuyết phục, tạo sự thống nhất cao trong Đảng và sự đồng thuận trong xã hội, trong Nhân dân.

3. Đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy hệ thống chính trị và công tác cán bộ phải xác định rõ trọng tâm, trọng điểm, lộ trình phù hợp và chú trọng lựa chọn những nhiệm vụ, nội dung đột phá, vấn đề có tính khả thi cao, tác động lớn trong các nghị quyết, kết luận của Đảng, pháp luật của Nhà nước để tập trung lãnh đạo, chỉ đạo và tổ chức thực hiện có hiệu quả. Sắp xếp tổ chức bộ máy và đổi mới công tác cán bộ phải gắn kết chặt chẽ với yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh và chủ động, tích cực hội nhập quốc tế. Cần nhận thức sâu sắc mối quan hệ giữa xây dựng tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị với đổi mới công tác cán bộ. Coi trọng cả hai phương diện, bảo đảm đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị đồng bộ với xây dựng đội ngũ cán bộ và gắn kết chặt chẽ với xây dựng, chỉnh đốn Đảng, nâng cao năng lực lãnh đạo, cầm quyền của Đảng.

4. Trong lãnh đạo, chỉ đạo và tổ chức thực hiện phải có quyết tâm chính trị cao, nỗ lực lớn, hành động quyết liệt, cách làm bài bản, dân chủ, chắc chắn và có bước đi phù hợp, kiên trì, cầu thị, lắng nghe, không cầu toàn, không chủ quan, nóng vội. Đối với những việc mới, khó, phức tạp thì tiến hành thí điểm, vừa làm, vừa rút kinh nghiệm, tìm ra cách làm phù hợp, hiệu quả nhất để nhân rộng. Phương pháp phải đúng, chú trọng hiệu quả. Phân công nhiệm vụ phải rõ ràng, cụ thể, chỉ đạo phải sát sao, cấp trên phải gương mẫu, cấp dưới phải thực hiện nghiêm; phải xác định rõ quyền hạn, trách nhiệm của từng cơ quan, đơn vị, tổ chức và vai trò, trách nhiệm của người đứng đầu. Xử lý hài hòa mối quan hệ giữa tiêu chuẩn và cơ cấu; giữa “xây” và “chống”; giữa “đức” và “tài”; giữa tính phổ biến và đặc thù; giữa kế thừa, đổi mới và ổn định, phát triển; giữa thẩm quyền, trách nhiệm cá nhân và tập thể.

5. Tôn trọng và hành động theo quy luật khách quan, thường xuyên đổi mới công tác cán bộ phù hợp với tình hình thực tiễn. Mô hình và quy mô tổ chức bộ máy phải phù hợp với tính chất, đặc điểm, chức năng, nhiệm vụ của từng cơ quan, địa phương. Không nhất thiết các địa phương có mô hình, quy mô tổ chức giống nhau. Những việc đã rõ, đã chín, cần thực hiện thì thực hiện ngay; những việc mới, chưa được quy định hoặc những việc đã có quy định nhưng không còn phù hợp thì mạnh dạn chỉ đạo thực hiện thí điểm, vừa làm vừa rút kinh nghiệm, từng bước hoàn thiện, mở rộng dần, những việc chưa rõ, phức tạp, nhạy cảm, còn có ý kiến khác nhau thì tiếp tục nghiên cứu, tổng kết để có chủ trương, giải pháp phù hợp. Xây dựng đội ngũ cán bộ phải gắn kết chặt chẽ với lộ trình sắp xếp tổ chức bộ máy, xuất phát từ yêu cầu nhiệm vụ của thời kỳ mới, bảo đảm tinh giản biên chế và cải cách chế độ tiền lương, cơ cấu lại và nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức.

6. Đẩy mạnh phân công, phân cấp gắn với giao quyền, ràng buộc trách nhiệm và tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra, giám sát, theo dõi, đánh giá quá trình triển khai thực hiện, kịp thời động viên, biểu dương những cơ quan, đơn vị, cá nhân làm tốt; đồng thời, xử lý nghiêm tập thể, cá nhân không làm hoặc làm hình thức, chiếu lệ. Coi trọng thí điểm, tổng kết, nhân rộng những mô hình, sáng kiến trong đổi mới công tác tổ chức, cán bộ nhằm nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động của cơ quan, đơn vị. Phải luôn nhìn thẳng vào sự thật, đánh giá đúng sự thật, nhận thức và hành động theo quy luật khách quan, kịp thời tổng kết, nghiên cứu, không ngừng hoàn thiện luận cứ khoa học để có chủ trương đúng, giải pháp cụ thể, phù hợp trước yêu cầu, đòi hỏi của bối cảnh thực tiễn luôn thay đổi.

2. Một số nhiệm vụ, giải pháp tiếp tục đổi mới quyết liệt công tác tổ chức, cán bộ

Chúng ta đang ở thời điểm có ý nghĩa bản lề, quyết định thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng và nghị quyết đại hội đảng bộ các cấp nhiệm kỳ 2020-2025. Công tác tổ chức, cán bộ đang được thực hiện với sự vào cuộc khẩn trương và quyết tâm chính trị cao của các cấp, các ngành. Chúng ta đồng thời phải thực hiện tốt 3 nhiệm vụ lớn: 1) Thực hiện cuộc cách mạng về tinh gọn tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị. 2) Tăng tốc, bứt phá để thực hiện các mục tiêu, nhiệm vụ của nhiệm kỳ Đại hội XIII. 3) Chuẩn bị tốt các điều kiện tổ chức thành công Đại hội XIV, đưa đất nước bước vào kỷ nguyên vươn mình của dân tộc. Cần quán triệt thực hiện thật tốt các văn bản chỉ đạo của Trung ương, chú trọng làm tốt một số nhiệm vụ, giải pháp sau đây:

Thứ nhất, tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, nâng cao trách nhiệm của các cấp ủy, tổ chức đảng, người đứng đầu cơ quan, đơn vị trong thực hiện nghiêm, đồng bộ, quyết liệt, có hiệu quả các chủ trương, nghị quyết của Đảng về xây dựng tổ chức bộ máy và công tác cán bộ. Phải thực hiện nghiêm, nhất quán nguyên tắc Đảng thống nhất lãnh đạo xây dựng và quản lý tổ chức bộ máy, biên chế của hệ thống chính trị. Đảng thống nhất lãnh đạo công tác cán bộ và quản lý đội ngũ cán bộ; phát huy đầy đủ vai trò lãnh đạo của Đảng, quản lý của Nhà nước và sự tham gia của Nhân dân. Tiếp tục xác định nhất quán quan điểm xây dựng tổ chức bộ máy và đội ngũ cán bộ là nhiệm vụ quan trọng hàng đầu, là công việc hệ trọng của Đảng, phải được tiến hành thận trọng, thường xuyên, có hiệu quả. Xác định quyết tâm chính trị cao nhất trong triển khai chủ trương của Trung ương về tiếp tục sắp xếp, hoàn thiện tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả. Đây là nhiệm vụ đặc biệt quan trọng, là cuộc cách mạng về tinh gọn tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị, thống nhất rất cao về nhận thức và hành động trong toàn Đảng và cả hệ thống chính trị. Các cấp ủy, tổ chức đảng, cơ quan, đơn vị, các cấp, ngành, trước hết là cán bộ lãnh đạo, người đứng đầu cần gương mẫu, chủ động, quyết liệt trong thực hiện nhiệm vụ được giao. Bảo đảm vận hành thông suốt, hiệu quả cơ chế Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, Nhân dân làm chủ. Xây dựng đội ngũ cán bộ, nhất là cán bộ cấp chiến lược và người đứng đầu các cấp, đủ phẩm chất, năng lực và uy tín. Thông qua cải cách tổ chức, bộ máy và công tác cán bộ hoàn thiện mối quan hệ giữa các cơ quan Đảng - Quốc hội - Chính phủ - Cơ quan Tư pháp - Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị - xã hội.

Thứ hai, hoàn thiện mô hình tổng thể của hệ thống chính trị

Tiếp tục đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy của Đảng trong sạch, vững mạnh gắn với hoàn thiện phương thức lãnh đạo, nâng cao năng lực lãnh đạo, cầm quyền. Tiếp tục đổi mới tổ chức và hoạt động các cơ quan tham mưu của cấp ủy các cấp. Hoàn thiện các quy định về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, tổ chức bộ máy, mối quan hệ công tác của các cơ quan chuyên trách tham mưu, giúp việc của cấp ủy từ Trung ương đến địa phương. Tiếp tục bổ sung, hoàn thiện các quy định khắc phục tình trạng trùng lặp, chồng chéo, bỏ sót hoặc không rõ chức năng, nhiệm vụ, lĩnh vực quản lý. Đẩy mạnh phân cấp, phân quyền rõ ràng giữa Trung ương và địa phương, giữa cấp trên và cấp dưới, gắn quyền hạn với trách nhiệm. Thực hiện nghiêm các quy định và kết luận của Bộ Chính trị về quản lý biên chế của hệ thống chính trị; về nâng cao hiệu quả công tác quản lý biên chế của hệ thống chính trị giai đoạn 2022-2026. Kiện toàn, sắp xếp tổ chức bộ máy của Quốc hội, nâng cao chất lượng hoạt động của Quốc hội trong thực hiện chức năng lập pháp, giám sát tối cao, quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước. Tăng tỉ lệ đại biểu Quốc hội chuyên trách theo mục tiêu đã đề ra; giảm số lượng đại biểu Quốc hội kiêm nhiệm công tác ở các cơ quan hành pháp. Tập trung lãnh đạo, chỉ đạo công tác bầu cử đại biểu Quốc hội và HĐND các cấp. Đặc biệt coi trọng xây dựng hệ thống pháp luật đầy đủ, đồng bộ, thống nhất, khả thi, công khai, minh bạch, lấy quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của người dân, tổ chức, doanh nghiệp làm trọng tâm. Phát huy dân chủ, pháp quyền, hiện đại, chuyên nghiệp, khoa học. Nâng cao chất lượng đại biểu Quốc hội, nhất là đại biểu hoạt động chuyên trách, bảo đảm Quốc hội thực sự là cơ quan đại biểu cao nhất của Nhân dân, cơ quan quyền lực Nhà nước cao nhất. Sắp xếp, tinh gọn tổ chức bộ máy của Chính phủ và tổ chức bên trong của các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ. Xây dựng nền hành chính phục vụ nhân dân, dân chủ, pháp quyền, chuyên nghiệp, hiện đại, công khai, minh bạch, hiệu quả. Tăng cường quản lý vĩ mô, xây dựng thể chế, chiến lược, quy hoạch, kế hoạch đồng bộ, thống nhất. Các bộ, cơ quan ngang bộ xây dựng phương án sắp xếp, tổ chức lại, bảo đảm tinh gọn, cơ bản không duy trì mô hình tổng cục thuộc bộ. Tiếp tục đổi mới tổ chức và hoạt động, đẩy mạnh phân cấp, phân quyền, cải cách hành chính, đi đôi với nâng cao năng lực thực thi và tăng cường kiểm tra, giám sát, kiểm soát quyền lực, bảo đảm Chính phủ thực sự là cơ quan hành chính nhà nước cao nhất, thực hiện quyền hành pháp. Đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy các cơ quan tư pháp đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp; xây dựng nền tư pháp chuyên nghiệp, hiện đại, công bằng, nghiêm minh, liêm chính, phụng sự Tổ quốc, phục vụ Nhân dân. Xây dựng bộ máy tòa án nhân dân, viện kiểm sát nhân dân, các cơ quan điều tra, thi hành án, bổ trợ tư pháp tinh gọn, giảm tối thiểu 15-20% đầu mối tổ chức bên trong gắn với nâng cao chất lượng, hiệu lực, hiệu quả hoạt động, đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp, xây dựng nền tư pháp hiện đại, bảo vệ công lý, bảo vệ quyền con người, quyền công dân, quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của tổ chức, cá nhân. Đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức chính trị - xã hội gắn với đổi mới nội dung, phương thức hoạt động, hướng mạnh về cơ sở. Rà soát lại tất cả hoạt động của các cơ quan, đơn vị trực thuộc theo hướng tinh gọn, sáp nhập, kết thúc hoạt động, chỉ giữ lại những cơ quan, đơn vị có chức năng, nhiệm vụ cần thiết. Rà soát, sắp xếp lại các cơ quan báo, tạp chí trực thuộc Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội. Nghiên cứu, đề xuất sắp xếp tinh gọn tổ chức bộ máy, giảm đầu mối bên trong, tinh giản biên chế, cơ cấu lại đội ngũ cán bộ chuyên trách các cấp, nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động của bộ máy và chất lượng đội ngũ cán bộ trong các cơ quan, đơn vị, tổ chức thuộc phạm vi, lĩnh vực quản lý. Quy định chặt chẽ việc thành lập tổ chức và hoạt động của các hội quần chúng. Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức chính trị - xã hội tiếp tục đổi mới nội dung, phương thức hoạt động, hướng mạnh về cơ sở, nâng cao hiệu quả công tác tuyên truyền, vận động thực hiện chủ trương, đường lối của Đảng. Thực hiện tốt vai trò đại diện cho quyền, lợi ích hợp pháp, chính đáng, phản ánh tâm tư, nguyện vọng của đoàn viên, hội viên và nhân dân; nâng cao chất lượng các phong trào thi đua yêu nước, các cuộc vận động, hoạt động giám sát, phản biện xã hội; xây dựng và chỉnh đốn tổ chức, phát triển đoàn viên, hội viên; làm cầu nối vững chắc giữa Đảng với Nhân dân.

Thứ ba, tiếp tục đổi mới toàn diện công tác cán bộ gắn với tinh giản biên chế, sắp xếp, cơ cấu lại đội ngũ cán bộ, công chức trong quá trình sắp xếp tổ chức bộ máy. Thực hiện nghiêm nguyên tắc Đảng thống nhất lãnh đạo công tác cán bộ và quản lý đội ngũ cán bộ trong hệ thống chính trị. Tăng cường trách nhiệm của người đứng đầu cấp ủy, tổ chức đảng, tập thể lãnh đạo cơ quan, đơn vị. Bảo đảm công tác cán bộ đúng quy trình, quy định, công tâm, khách quan, thận trọng, chặt chẽ. Đổi mới mạnh mẽ công tác tuyển dụng, đào tạo, đề bạt, bổ nhiệm, luân chuyển, điều động, đánh giá cán bộ thực chất, vì việc tìm người, trên cơ sở định lượng sản phẩm cụ thể. Rà soát, sắp xếp lại đội ngũ cán bộ các cấp, các ngành theo vị trí việc làm, khung năng lực, bảo đảm đúng người, đúng việc, giảm số lượng, nâng cao chất lượng, hợp lý về cơ cấu. Có cơ chế hữu hiệu sàng lọc, đưa ra khỏi vị trí công tác những người không đủ phẩm chất, năng lực, uy tín. Có chính sách thu hút, sử dụng đối với người có năng lực nổi trội. Thực hiện đồng bộ việc tinh gọn tổ chức bộ máy gắn với cơ cấu lại đội ngũ cán bộ đủ phẩm chất, năng lực ngang tầm nhiệm vụ, có biên chế hợp lý. Thực hiện tốt chế độ, chính sách đối với cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức, người lao động bị ảnh hưởng do sắp xếp lại tổ chức, bộ máy. Hoàn thành rà soát, sắp xếp chức danh, chức vụ theo phân cấp quản lý; xây dựng, ban hành bảng lương chức vụ bảo đảm đồng bộ, thống nhất với danh mục chức danh, chức vụ lãnh đạo và tương đương của hệ thống chính trị từ Trung ương đến cơ sở. Hoàn thiện danh mục vị trí việc làm cùng với khung năng lực, bản mô tả vị trí việc làm của hệ thống chính trị làm cơ sở xác định biên chế của từng cơ quan, đơn vị phù hợp với chức năng, nhiệm vụ và thực tiễn, gắn với đánh giá thực chất, xếp loại chính xác công chức, viên chức. Để bảo đảm hiệu quả sắp xếp tổ chức bộ máy và đổi mới công tác cán bộ phải thực sự phát huy sức mạnh tổng hợp của toàn hệ thống chính trị và nhân dân. Sắp xếp tổ chức bộ máy và đổi mới công tác cán bộ là những nội dung rất lớn, rất quan trọng, rất khó, phức tạp, nhạy cảm, nhưng cũng là nhiệm vụ rất cấp bách và khẩn trương. Các cấp ủy, tổ chức đảng, người đứng đầu mỗi cơ quan, đơn vị cần bám sát tình hình thực tế, lựa chọn phương án phù hợp, tiến hành xây dựng đề án đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy trình cấp có thẩm quyền, bảo đảm đúng tiến độ hướng tới mục tiêu chung là hoàn thành việc sắp xếp, kiện toàn tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị ngay trong nhiệm kỳ để tiến tới Đại hội XIV của Đảng hệ thống chính trị đã được sắp xếp theo mô hình mới. Đẩy mạnh công tác tuyên truyền, giáo dục chính trị tư tưởng, nâng cao sự thống nhất về nhận thức, hành động trong Đảng và toàn hệ thống chính trị, tạo sự đồng thuận trong xã hội. Bố trí đủ nguồn lực cần thiết và làm tốt công tác chế độ, chính sách đối với cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức, người lao động bị ảnh hưởng do sắp xếp lại tổ chức, bộ máy. Bảo đảm công bằng, công khai, khách quan, không để phát sinh phức tạp. Tập trung lãnh đạo, chỉ đạo việc sắp xếp tổ chức bộ máy và đổi mới công tác cán bộ phải gắn với làm tốt công tác tham mưu chuẩn bị đại hội đảng bộ các cấp tiến tới Đại hội XIV của Đảng.