Thứ Ba, 6 tháng 5, 2025

Phương hướng cơ bản nâng cao chất lượng quản lý các quá trình xã hội trong Quân đội nhân dân Việt Nam

 


Kiện toàn bộ máy chỉ huy, quản lý, số lượng đủ, hợp lý, gọn nhẹ, chất lượng hiệu quả. Xây dựng phong cách, tác phong làm việc khoa học, giải quyết tốt mối quan hệ giữa chỉ huy - lãnh đạo và quyền làm chủ của quân nhân thông qua các tổ lãnh đạo, chỉ huy và tổ chức chính trị - xã hội trong Quân đội. Duy trì nghiêm nề nếp, chế độ sinh hoạt, công tác; tăng cường các biện pháp quản lý chặt chẽ các mối quan hệ xã hội của quân nhân. Chú trọng bồi dưỡng, rèn luyện đội ngũ cán bộ cấp phân đội có đủ phẩm chất, năng lực trong quản lý, giáo dục bộ đội. Thực hiện tốt các quy định về trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên. Xử lý nghiêm các trường hợp vi phạm, những cán bộ, đảng viên quan liêu, thiếu gương mẫu, để đơn vị xảy ra vụ việc nghiêm trọng liên quan trực tiếp đến trách nhiệm lãnh đạo, quản lý, chỉ huy. Nắm chắc diễn biến tình hình tư tưởng của cán bộ, chiến sĩ; kịp thời phát hiện, xử lý các sai phạm ngay từ cơ sở.

Nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ lãnh đạo, chỉ huy đơn vị. Xây dựng đội ngũ cán bộ có phẩm chất chính trị, đạo đức trong sáng; chuyên môn nghiệp vụ quân sự, chính trị vững vàng; phương pháp, tác phong công tác khoa học; có tư duy năng động, đổi mới, nhạy bén và năng lực tổ chức thực tiễn tốt. Có tinh thần ham học hỏi, không ngừng nâng cao trình độ mọi mặt đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ trong tình hình mới theo tinh thần “7 dám” - “dám nghĩ, dám nói, dám làm, dám chịu trách nhiệm, dám đổi mới, sáng tạo, dám đương đầu với khó khăn, thử thách và dám hành động vì lợi ích chung[1].

Nâng cao trình độ mọi mặt cho cán bộ, chiến sĩ thuộc quyền quản lý. Đặc biệt chú trọng nâng cao trình độ quản lý xã hội; khoa học kỹ thuật, chiến thuật và nghệ thuật quân sự; đường lối, quan điểm quân sự của Đảng; truyền thống văn hóa dân tộc, Quân đội, đơn vị. Mọi cán bộ, chiến sĩ chủ động tiếp thu khoa học, kỹ thuật tiên tiến và các thông tin mọi mặt đời sống xã hội, xây dựng thế giới quan khoa học, phương pháp luận biện chứng và nhân sinh quan cách mạng.

Tích cực đổi mới nội dung, phương thức, phương tiện quản lý tiên tiến, hiện đại, hiệu quả cao, ứng dụng công nghệ thông tin. Chăm lo đời sống vật chất, tinh thần cho đơn vị Quân đội, hậu phương Quân đội phù hợp với điều kiện kinh tế, xã hội hiện nay. Người quản lý phải có trình độ, có kế hoạch tỉ mỉ, chu đáo, linh hoạt, nhạy bén, sâu sát đơn vị, nắm chắc tình hình và yêu cầu nhiệm vụ chính trị cũng như các diễn biến phức tạp của thực tiễn để mạng lại hiệu quả tối ưu trong công tác quản lý bộ đội, góp phần xây dựng đơn vị vững mạnh toàn diên, “mẫu mực, tiêu biểu”.



[1] Nguyễn Phú Trọng, Bài phát biểu tại Hội nghị lần thứ 6 Quân ủy Trung ương nhiệm kỳ 2020 - 2025, Hà Nội, ngày 03 - 7 - 2023, tr. 5.

Quản lý sự phát triển các quan hệ xã hội giữa các nhóm quân nhân khác nhau do phân công lao động quân sự tạo nên

 


Mục đích quản lý sự phát triển các quan hệ xã hội giữa các nhóm quân nhân khác nhau do phân công lao động quân sự tạo nên nhằm tạo ra sự thống nhất về xã hội giữa các nhóm quân nhân, tạo lập quan hệ đồng chí, đồng đội, giúp đỡ nhau theo tinh thần tập thể.

Nhiệm vụ quản lý sự phát triển các quan hệ xã hội giữa các nhóm quân nhân khác nhau do phân công lao động quân sự tạo nên là tạo điều kiện thuận lợi trong cuộc sống, trong công tác, trong từng nhóm quân nhân, rút ngắn khoảng cách lợi ích, chống phân hóa giàu - nghèo trong nội bộ Quân đội.

Yêu cầu quản lý sự phát triển các quan hệ xã hội giữa các nhóm quân nhân khác nhau do phân công lao động quân sự tạo nên là phải xây dựng mối quan hệ đồng chí, đồng đội tốt đẹp lúc bình thường cũng như lúc chiến đấu, sẵn sàng hợp tác, phối hợp trong mọi nhiệm vụ, bình đẳng với nhau về quyền lợi và nghĩa vụ trên mọi lĩnh vực của đời sống. Thực hiện chính sách công bằng xã hội giữa các nhóm quân nhân cả về kinh tế, chính trị, quân sự, văn hóa, xã hội, gia đình và hậu phương Quân đội.

Nguyên tắc pháp chế xã hội chủ nghĩa

 


Pháp chế xã hội chủ nghĩa là nguyên tắc căn bản trong tổ chức hoạt động của bộ máy nhà nước, của các tổ chức xã hội và các đoàn thể quần chúng; là nguyên tắc xử sự của công dân và các chủ thể khác trong xã hội. Nguyên tắc pháp chế xã hội chủ nghĩa quy định việc tổ chức và hoạt động của nhà nước, các tổ chức chính trị - xã hội và nhân dân phải đảm bảo tính hợp pháp, tuân theo pháp luật. Do vậy, tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa vừa là nguyên tắc, vừa là biện pháp để phát huy dân chủ xã hội chủ nghĩa.

Nội dung nguyên tắc pháp chế xã hội chủ nghĩa trong quản lý xã hội biểu hiện ở quyền lập pháp của nhà nước. Theo đó, các cơ quan nhà nước khi ban hành quy phạm pháp luật thuộc phạm vi thẩm quyền theo quy định phải tôn trọng vị trí cao nhất của hiến pháp và luật. Nội dung văn bản pháp luật ban hành không được trái với hiến pháp và văn bản luật, chỉ được ban hành những văn bản quy phạm pháp luật trong phạm vi thẩm quyền và hình thức, trình tự, thủ tục do pháp luật quy định.

Trong tổ chức thực hiện quản lý xã hội, trước hết là quản lý hành chính nhà nước, nguyên tắc pháp chế xã hội chủ nghĩa đòi hỏi các cơ quan nhà nước khi áp dụng quy phạm pháp luật phải phù hợp với yêu cầu của luật và các văn bản quy phạm pháp luật khác, phải thiết lập trách nhiệm pháp lý đối với các chủ thể áp dụng quy phạm pháp luật. Nguyên tắc pháp chế xã hội chủ nghĩa còn thể hiện ở việc mở rộng, bảo đảm các quyền dân chủ của công dân trong quản lý xã hội. Mọi quyết định và hành vi hành chính phải dựa trên quyền và lợi ích hợp pháp trực tiếp hoặc gián tiếp của công dân. Ngược lại, việc hạn chế quyền công dân chỉ được áp dụng trên cơ sở hiến định. Hoạt động quản lý xã hội phải gắn liền với một chế độ trách nhiệm nghiêm ngặt đối với một chủ thể quản lý. Chế độ trách nhiệm ấy thông qua pháp luật và các hệ thống kỷ luật nhà nước.

 

Động lực của cách mạng xã hội chủ nghĩa

 


Động lực của cách mạng xã hội chủ nghĩa là tổng hợp sức mạnh của các giai cấp, các tầng lớp, các lực lượng xã hội, trong đó, động lực chủ yếu là khối liên minh giữa giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và tầng lớp trí thức dưới sự lãnh đạo của đảng cộng sản. Động lực của cách mạng xã hội chủ nghĩa thể hiện sức mạnh của toàn dân, dưới sự lãnh đạo của đảng cộng sản, lấy liên minh giữa giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và tầng lớp trí thức làm nòng cốt, trong đó, giai cấp công nhân giữ vai trò lãnh đạo và quyết định sự thắng lợi của cách mạng.

Giai cấp công nhân là lực lượng chủ yếu, giữ vai trò lãnh đạo và quyết định thắng lợi của cách mạng xã hội chủ nghĩa. Giai cấp công nhân là sản phẩm của nền đại công nghiệp, đại diện cho lực lượng sản xuất tiên tiến, đại biểu cho phương thức sản xuất mới, bị bóc lột nặng nề nhất và có lợi ích đối kháng trực tiếp với giai cấp tư sản trong xã hội tư bản chủ nghĩa. Đồng thời, giai cấp công nhân là giai cấp tiên tiến nhất, có tinh thần cách mạng triệt để nhất, có tính tổ chức, tính ký luật cao và có tinh thần quốc tế cao cả. Bên cạnh đó, giai cấp công nhân có khả năng lãnh đạo cách mạng và khả năng đoàn kết giai cấp, dân tộc, quốc tế: “Thực hiện sự nghiệp giải phóng thế giới ấy - đó là sứ mệnh lịch sử của giai cấp vô sản hiện đại[1].

Giai cấp nông dân là lực lượng quan trọng, có vai trò to lớn trong cách mạng xã hội chủ nghĩa. Giai cấp nông dân có số lượng đông đảo trong cơ cấu dân cư của xã hội, có mối quan hệ gắn bó và có nhu cầu hợp tác tự nhiên với giai cấp công nhân: “Người nông dân thấy rằng giai cấp vô sản thành thị, giai cấp có sứ mệnh lật đổ chế độ tư sản là người bạn đồng minh, người lãnh đạo tự nhiên của mình”[2]. Ở trong xã hội tư bản chủ nghĩa, giai cấp nông dân cũng là giai cấp bị bóc lột nặng nề nhưng họ không thể tự đấu tranh giải phóng. Bởi vì, giai cấp nông dân không có hệ tư tưởng tiên tiến, không đại biểu cho phương thức sản xuất tiến bộ và không có khả năng tập hợp các lực lượng cách mạng. Chỉ có giai cấp công nhân mới giác ngộ, tập hợp, vận động giai cấp nông dân tạo nên lực lượng cách mạng hùng hậu uy hiếp và làm suy yếu lực lượng phản cách mạng.

Trí thức có vai trò quan trọng trong cách mạng xã hội chủ nghĩa. Trí thức là lực lượng nòng cốt trong phát triển khoa học, nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực và bồi dưỡng nhân tài. Trong thời đại hiện nay, cùng với sự phát triển mạnh mẽ của cuộc cách mạng khoa học công nghệ hiện đại, cách mạng công nghiệp lần thứ tư và sự phát triển của nền kinh tế tri thức, vai trò của trí thức ngày càng tăng. Trí thức không có khả năng lãnh đạo cách mạng xã hội chủ nghĩa, bởi vì trí thức không đại biểu cho phương thức sản xuất tiến bộ, không có hệ tư tưởng độc lập, xuất thân từ nhiều thành phần giai cấp, tầng lớp khác nhau. Trí thức tham gia vào cách mạng xã hội chủ nghĩa như một trong những lực lượng có ý nghĩa quyết định thắng lợi của cuộc cách mạng.



[1] C.Mác và Ph.Ăngghen, Toàn tập, tập 20, Nxb Chính trị quốc gia - Sự thật, Hà Nội - 1995, tr. 393.

[2] C.Mác và Ph.Ăngghen, Toàn tập, tập 8, Nxb Chính trị quốc gia - Sự thật, Hà Nội - 1995, tr. 269.

Nội dung văn hóa - tư tưởng của cách mạng xã hội chủ nghĩa

 

 


Đây là nội dung quan trọng, thể hiện bản chất, tính ưu việt của chế độ xã hội chủ nghĩa. Bởi vì, cách mạng xã hội chủ nghĩa trên lĩnh vực văn hóa - tư tưởng tạo nên sự thay đổi căn bản bộ mặt xã hội, phương thức và nội dung sinh hoạt tinh thần của xã hội, giải phóng nhân dân khỏi chế độ áp bức, bất bình đẳng về chính trị - tinh thần. Cách mạng xã hội chủ nghĩa trên lĩnh vực văn hóa - tư tưởng nhằm làm biến đổi cơ bản phương thức, giá trị và nội dung sinh hoạt tinh thần, đáp ứng nhu cầu của nhân dân lao động theo hướng tiến bộ: “Cách mạng cộng sản chủ nghĩa là sự đoạn tuyệt triệt để nhất với những quan hệ sở hữu kế thừa của quá khứ; không có gì đáng ngạc nhiên khi thấy rằng trong tiến trình phát triển của nó, nó đoạn tuyệt một cách triệt để nhất với những tư tưởng kế thừa của quá khứ”[1].

Nội dung cách mạng xã hội chủ nghĩa trên lĩnh vực văn hóa - tư tưởng là xóa bỏ các tàn dư văn hóa phản động, lạc hậu, xóa bỏ hệ tư tưởng tư sản. Kế thừa những giá trị văn hóa truyền thống tốt đẹp của dân tộc, giá trị văn hóa tiến bộ của nhân dân trên thế giới. Phát huy vai trò sáng tạo của quần chúng nhân dân trong tạo ra những giá trị tinh thần của xã hội ngày càng đa dạng, phong phú. Giải phóng nhân dân lao động về mặt tư tưởng, tinh thần, làm cho hệ tư tưởng của giai cấp công nhân giữ vai trò chủ đạo. Xây dựng nền văn hóa mới, con người mới xã hội chủ nghĩa, tạo điều kiện để nhân dân hưởng thụ, sáng tạo các giá trị văn hóa, bởi vì “sự phát triển tự do của mỗi người là điều kiện cho sự phát triển tự do của tất cả mọi người”[2]. Giải quyết đúng đắn, hài hòa các vấn đề xã hội, vấn đề lợi ích, bảo đảm công bằng, bình đẳng xã hội.



[1] C.Mác và Ph.Ăngghen, Toàn tập, tập 4, Nxb Chính trị quốc gia - Sự thật, Hà Nội - 1995, tr. 626.

[2] C.Mác và Ph.Ăngghen, Toàn tập, tập 4, Nxb Chính trị quốc gia - Sự thật, Hà Nội - 1995, tr. 628.

Quản lý quá trình hình thành, phát triển nhân cách quân nhân

 


Mục đích quản lý quá trình hình thành, phát triển nhân cách quân nhân là nhằm hình thành, củng cố và hoàn thiện những phẩm chất xã hội cần thiết, đáp ứng yêu cầu xây dựng và chiến đấu của Quân đội. Những phẩm chất xã hội cần thiết đó là nghề nghiệp hoạt động quân sự, phẩm chất đạo đức cách mạng, phẩm chất tâm lý vững vàng, ý chí, bản lĩnh chiến đấu kiên cường.

Nhiệm vụ quản lý quá trình hình thành, phát triển nhân cách quân nhân là phải xác định đúng khả năng, làm rõ vai trò xã hội, vị trí, chức năng, quyền lợi, nghĩa vụ, vinh dự, trách nhiệm của mỗi người quân nhân. Tạo mọi điều kiện thuận lợi để quân nhân hoàn thành vai trò xã hội của mình, thông qua huấn luyện, giáo dục chính trị, quân sự; hoàn thiện cơ chế, tổ chức, lãnh đạo chỉ huy, tổ chức đời sống vật chất, tinh thần cho bộ đội; xây dựng môi trường văn hóa, xã hội, chính trị lành mạnh; kiểm tra thường xuyên, đánh giá chính xác, khách quan kết quả thực hiện và hoàn thành vai trò xã hội của từng quân nhân; khen thưởng, kỷ luật kịp thời, công minh.

Yêu cầu quản lý quá trình hình thành, phát triển nhân cách quân nhân phải cẩn thận, sâu sát, chu đáo đến từng người, từng việc. Phải có hiểu biết sâu sắc đặc điểm tâm lý, sinh lý, hoàn cảnh, phong tục tập quán, truyền thống, bản sức văn hóa từng người, từng vùng miền, dự kiến được chiều hướng phát triển của từng nhân cách. Biết khơi dậy, phát huy, tận dụng những yếu tố tích cực trong mỗi con người và phát huy những sở trường, sở thích, biến quá trình giáo dục thành quá trình tự giáo dục.

 

Quản lý các quá trình xã hội trong Quân đội nhân dân Việt Nam

 


Quản lý các quá trình xã hội trong Quân đội nhân dân Việt Nam là quá trình tổ chức, duy trì, định hướng các hoạt động xã hội gắn với quan hệ giữa các quân nhân, nhóm quân nhân, quan hệ chỉ huy và phục tùng, cấp trên và cấp dưới trong một tập thể quân nhân, nhằm xây dựng thành một tập thể đoàn kết, thống nhất, cùng chung chí hướng, ý chí và hành động, sẵn sàng nhận và hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ được giao.

Quân đội nhân dân Việt Nam là một bộ phận của xã hội. Quản lý xã hội trong Quân đội là một phân hệ của quản lý xã hội, tuân theo những nguyên tắc chung của quản lý xã hội xã hội chủ nghĩa. Do chức năng, tính chất hoạt động quân sự và nhiệm vụ đặc biệt, quản lý xã hội xã hội chủ nghĩa trong Quân đội nhân dân Việt Nam chủ yếu là quản lý các quá trình xã hội, nhằm đảm bảo cho Quân đội luôn sẵn sàng chiên đấu và chiến đấu thắng lợi trước mọi âm mưu, hành động chống phá của các thế lực thù địch trong mọi tình huống.

Xét theo nghĩa rộng, quản lý các quá trình xã hội trong Quân đội nhân dân Việt Nam là toàn bộ các quá trình hoạt động của Quân đội, bao gồm quá trình hoạt động quân sự; quá trình hoạt động chính trị - xã hội; quá trình hoạt động văn hóa - tinh thần; quá trình hoạt động bảo đảm đời sống, vật chất, vũ khí, phương tiện cho chiến đấu và sẵn sàng chiến đấu của cán bộ, chiến sĩ. Thực chất của quản lý các quá trình xã hội trong Quân đội nhằm xây dựng Quân đội tinh nhuệ về chính trị, không ngừng tăng cường bản chất giai cấp công nhân, thực sự là lực lượng chính trị tin cậy, tuyệt đối trung thành với sự nghiệp cách mạng của Đảng, là công cụ bạo lực sắc bén của Nhà nước, sẵn sàng nhận và hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ được giao trong mọi tình huống.

Nội dung kinh tế của cách mạng xã hội chủ nghĩa

 


Đây là nội dung có ý nghĩa quyết định đến thắng lợi vững chắc của cách mạng xã hội chủ nghĩa. Bởi vì, chủ nghĩa xã hội muốn chiến thắng chủ nghĩa tư bản thì phải tạo ra năng suất lao động cao hơn, không ngừng nâng cao đời sống vật chất và tinh thần cho nhân dân lao động: “Xét đến cùng thì năng suất lao động là cái quan trọng nhất, chủ yếu nhất cho sự thắng lợi của xã hội mới… Chủ nghĩa tư bản có thể bị đánh bại hẳn vì chủ nghĩa xã hội sẽ tạo ra năng suất lao động mới cao hơn nhiều”[1]. Cách mạng xã hội chủ nghĩa, về thực chất là có tính kinh tế. Nhiệm vụ trọng tâm có ý nghĩa quyết định cho sự thắng lợi của cách mạng xã hội chủ nghĩa là phải tổ chức phát triển kinh tế, không ngừng nâng cao năng suất lao động, cải thiện đời sống nhân dân.

Nội dung cách mạng xã hội chủ nghĩa về kinh tế là xóa bỏ chế độ chiếm hữu tư nhân tư bản chủ nghĩa về tư liệu sản xuất, chế độ áp bức, bóc lột. Xây dựng chế độ công hữu về tư liệu sản xuất, phát triển lực lượng sản xuất, xây dựng nền kinh tế xã hội chủ nghĩa. Không ngừng nâng cao năng xuất lao động, cải thiện đời sống nhân dân. Để thực hiện thắng lợi nội dung cách mạng về kinh tế, trong quá trình cách mạng xã hội chủ nghĩa ở mỗi nước đòi hỏi giai cấp công nhân phải giải quyết tốt mối quan hệ biện chứng giữa quan hệ sản xuất với lực lượng sản xuất; tận dụng thành tựu khoa học công nghệ hiện đại vào sản xuất; khơi dậy nguồn lực con người trong xã hội; giải quyết hài hòa các mối quan hệ lợi ích, giữa lợi ích cá nhân - tập thể - xã hội và giữa lợi ích quốc gia với lợi ích quốc tế; phát huy sức mạnh trong nước với sức mạnh quốc tế: “Giai cấp vô sản sẽ dùng sự thống trị chính trị của mình để từng bước một đoạt lấy toàn bộ tư bản trong tay giai cấp tư sản, để tập trung tất cả những công cụ sản xuất vào tay nhà nước... để tăng thật nhanh số lượng những lực lượng sản xuất[2].



[1] V.I.Lênin, Toàn tập, tập 39, Nxb Chính trị quốc gia - Sự thật, Hà Nội - 2005, tr. 25.

[2] C.Mác và Ph.Ăngghen, Toàn tập, tập 4, Nxb Chính trị quốc gia - Sự thật, Hà Nội - 1995, tr. 626.

Mục tiêu của cách mạng xã hội chủ nghĩa

 


Cách mạng xã hội chủ nghĩa hướng đến mục tiêu cao nhất là giải phóng giai cấp, giải phóng dân tộc, giải phóng xã hội và giải phóng con người thoát khỏi áp bức, bóc lột, bất công, xây dựng xã hội mới công bằng, bình đẳng, trong đó, con người có cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc, có điều kiện phát triển toàn diện. Giai cấp công nhân muốn hoàn thành sự nghiệp cách mạng cao cả đó phải xác định đúng đắn, thực hiện thắng lợi cả mục tiêu trước mắt và mục tiêu lâu dài của cách mạng xã hội chủ nghĩa.

Mục tiêu trước mắt của cách mạng xã hội chủ nghĩa là giành chính quyền về tay giai cấp công nhân và nhân dân lao động. Mục tiêu trước mắt của cách mạng xã hội chủ nghĩa gắn với giai đoạn thứ nhất trong tiến trình cách mạng của giai cấp công nhân - giai đoạn xây dựng thành giai cấp thống trị xã hội (tức là cách mạng xã hội chủ nghĩa theo nghĩa hẹp). Mục tiêu trước mắt của cách mạng xã hội chủ nghĩa rất quan trọng, bởi vì, vấn đề giành chính quyền nhà nước là vấn đề cơ bản của mọi cuộc cách mạng xã hội. Chính quyền nhà nước là công cụ thống trị xã hội, là nền tảng để giai cấp thống trị duy trì sự thống trị và bảo vệ chế độ xã hội. Đây là điều kiện, tiền đề tiên quyết để thực hiện mục tiêu tiếp theo của cách mạng xã hội chủ nghĩa.

Mục tiêu lâu dài của cách mạng xã hội chủ nghĩa là xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa cộng sản trên phạm vi từng nước và toàn thế giới. Đây là mục tiêu gắn với giai đoạn thứ hai trong tiến trình cách mạng xã hội chủ nghĩa, do giai cấp công nhân thông qua đội tiền phong là đảng cộng sản lãnh đạo quần chúng nhân dân lao động sử dụng nhà nước chuyên chính vô sản tiến hành cải tạo xã hội cũ, xây dựng xã hội mới không còn áp bức, bóc lột và con người có điều kiện phát triển toàn diện. Mục tiêu lâu dài của cách mạng xã hội chủ nghĩa phản ánh tập trung, sâu sắc tính chất cách mạng triệt để và tính nhân văn, nhân đạo khác hoàn toàn về chất so với tất cả các cuộc cách mạng trước đây. Mục tiêu này đồng thời còn chỉ ra tính chất khó khăn, phức tạp, gay go và quyết liệt của cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa.

Trách nhiệm của Quân đội trong thực hiện sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân Việt Nam

 


Quân đội nhân dân Việt Nam là một tổ chức chính trị - xã hội đặc thù, một tổ chức công cụ bạo lực của giai cấp công nhân Việt Nam, do Đảng Cộng sản Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh tổ chức, giáo dục, rèn luyện và lãnh đạo. Chức năng, nhiệm vụ của quân đội ta là đội quân vũ trang và lực lượng chính trị, sẵn sàng chiến đấu và chiến đấu thắng lợi, để bảo vệ thành quả cách mạng của giai cấp công nhân và nhân dân ta đã giành được; bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, độc lập chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ Tổ quốc, bảo vệ sự lãnh đạo của Đảng, thực hiện sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân Việt Nam. Để hoàn thành nhiệm vụ của mình, phải xây dựng quân đội theo hướng cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại. Tăng cường giáo dục, rèn luyện bản chất giai cấp công nhân cho cán bộ, chiên sĩ, công nhân viên trong quân đội. Chăm lo xây dựng đội ngũ công nhân quốc phòng vững mạnh. Tích cực tham gia phát triển kinh tế - xã hội góp phần thực hiện thắng lợi sự nghiệp công nghiệp hóa, hiên đại hóa đất nước. Đồng thời, Quân đội phải tích tham gia đấu tranh trên mặt trận tư tưởng, lý luận bảo vệ chủ nghĩa Mác - Lênin, đường lối, quan điểm của Đảng, ngăn chặn, đẩy lùi và làm thất bại âm mưu, thủ đoạn của kẻ thù.

 

 

 


 

Bổ sung, sửa đổi, xây dựng và thực hiện nghiêm hệ thống chính sách, pháp luật để đảm bảo quyền, lợi ích hợp pháp, chính đáng của công nhân; chăm lo đời sống vật chất, tinh thần cho công nhân.


Rà soát, bổ sung, sủa đổi, xây dựng các chính sách, pháp luật về lao động, việc làm và đời sống vật chất, tinh thần; tập trung trước hết vào những chính sách liên quan trực tiếp đến những vấn đề bức xúc đang đặt ra về việc làm và đời sống của công nhân. Bổ sung, sửa đổi, xây dựng các chính sách để phát huy các nguồn lực và trách nhiệm của cả Nhà nước, người sử dụng lao động, các tổ chức chính trị - xã hội, của toàn xã hội và của công nhân trong việc chăm lo cải thiện đời sống vật chất, tinh thần cho công nhân tương xứng với năng suất lao động và những đóng góp của công nhân. Đại hội XIII của Đảng chỉ rõ: “Chăm lo đời sống vật chất, tinh thần, nhà ở và phúc lợi xã hội cho công nhân; bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của công nhân[1].



[1]Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội dại biểu toàn quốc lần thứ XIII, tập 1, Nxb Chính trị quốc gia - Sự thật, Hà Nội - 2021, tr. 166. 

Liên minh giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức trong cách mạng xã hội chủ nghĩa về kinh tế


Trong quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội, liên minh về kinh tế là nội dung cơ bản quyết định nhất, bảo đảm sự bền vững của liên minh. Bởi vì, thực hiện nội dung kinh tế nhằm thỏa mãn các nhu cầu, lợi ích kinh tế thiết thân của các giai tầng trong liên minh và các tầng lớp xã hội khác nhằm tạo động lực và cơ sở vật chất kỹ thuật cần thiết cho chủ nghĩa xã hội.

Nội dung liên minh về kinh tế được thể hiện trước hết ở chỗ giai cấp công nhân, giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức cùng nhau hợp tác thực hiện quyền sở hữu và sử dụng các tư liệu sản xuất chủ yếu của xã hội, tài nguyên của đất nước để phát triển sản xuất, tăng năng suất lao động và thu nhập, giải quyết thỏa đáng mối quan hệ về lợi ích kinh tế giữa các giai tầng trong liên minh; sự hợp tác giữa giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức cùng nhau làm chủ và đẩy mạnh phát triển khoa học, công nghệ tiên tiến vào quá trình sản xuất kinh doanh nông nghiệp, công nghiệp nhằm gắn kết chặt chẽ ba lĩnh vực kinh tế cơ bản, qua đó gắn bó chặt chẽ công nhân, nông dân, trí thức.

Nội dung liên minh về kinh tế còn được thể hiện ở chỗ giai cấp công nhân, giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức cùng nhau xây dựng và thực thi cơ chế quản lý, hoạch định chiến lược và các chính sách phát triển kinh tế; xây dựng cơ cấu kinh tế hợp lý; từng bước xây dựng và hoàn thiện quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa phù hợp với sự phát triển của lực lượng sản xuất; khoa học và hiệu quả trong quá trình tổ chức, quản lý sản xuất và trong phân phối sản phẩm đảm bảo sự công bằng, bình đẳng xã hội.

Nội dung liên minh kinh tế thể hiện vai trò của Nhà nước, đặc biệt là đối với nông dân thông qua chính sách khuyến nông, tổ chức khuyến nông. Đẩy mạnh phát triển nông nghiệp, nông thôn và nông dân, hiện đại hóa nông nghiệp, gắn phát triển nền nông nghiệp chất lượng cao. Đối với trí thức, liên minh về kinh tế thể hiện ở vai trò của Nhà nước trong việc đổi mới, hoàn chỉnh các chính sách liên quan đến sở hữu trí tuệ như chính sách về phát triển khoa học và công nghệ, giáo dục đào tạo, về bản quyền tác giả, báo chí, xuất bản. Hướng các hoạt động của trí thức vào việc phục vụ công nghiệp, nông nghiệp và dịch vụ, gắn với cơ sở sản xuất và đời sống xã hội. 

Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, phát huy vai trò của tổ chức công đoàn và các tổ chức chính trị - xã hội khác trong xây dựng giai cấp công nhân.


Tăng cường sự lãnh đạo của các cấp ủy đảng trong xây dựng giai cấp công nhân. Khẩn trương xây dựng và lãnh đạo thực hiện có hiệu quả chiến lược về giai cấp công nhân gắn với chiến lược phát triển đất nước trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa, hội nhập kinh tế quốc tế, bao gồm các chủ trương, chính sách lớn về đào tạo, trí thức hóa công nhân; về vấn đề xuất khẩu lao động, kể cả ở các doanh nghiệp Việt Nam đầu tư kinh doanh ở nước ngoài; vấn đề tạo nguồn để phát triển đảng và bồi dưỡng đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý trong hệ thống chính trị, trong quản lý sản xuất kinh doanh xuất thân từ công nhân; vấn đề nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của công nhân.

Phát huy mạnh mẽ vai trò lãnh đạo của Đảng và hiệu lực quản lý của Nhà nước để giai cấp công nhân là nòng cốt, cùng với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức, tăng cường liên minh công nhân - nông dân - trí thức, thực sự là nền tảng của khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Phát huy mạnh mẽ vai trò của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội trong xây dựng giai cấp công nhân và khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Tăng cường lãnh đạo Nhà nước trong xây dựng và thực thi các chính sách, pháp luật để xây dựng giai cấp công nhân lớn mạnh; giải quyết có hiệu quả những vấn đề bức xúc của giai cấp công nhân. 

Tiếp tục đẩy mạnh sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.

 


Giai cấp công nhân là sản phẩm của nền đại công nghiệp, ngày càng phát triển cùng với đại công nghiệp. Do đó, để phát triển giai cấp công nhân Việt Nam lớn mạnh cần đẩy mạnh sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Trong thời gian tới, trên cơ sở tiêu chí nước công nghiệp, Đảng và Nhà nước cần lãnh đạo, chỉ đạo, tổ chức thực hiện một cách quyêt liệt việc đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, sớm đưa nước ta cơ bản trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại - như mục tiêu mà Nghị quyết Đại hội lần thứ XIII của Đảng đã xác định. Theo đó, cần tập trung xây dựng nền công nghiệp và thương hiệu công nghiệp quốc gia với tầm nhìn trung, dài hạn, có lộ trình cho từng giai đoạn; phát triên có chọn lọc một số ngành công nghiệp chế tạo, chế biên, công nghiệp công nghệ cao, công nghiệp sạch, công nghiệp năng lượng, cơ khí, điện tử, hóa chất, công nghiệp xây dựng, xây lắp, công nghiệp quốc phòng, an ninh.

Quan tâm bồi dưỡng, nâng cao trình độ chính trị, ý thức giai cấp, tinh thần dân tộc cho giai cấp công nhân.

Cần nâng cao trình độ chính trị, ý thức giai cấp và bản lĩnh chính trị, ý thức công dân, tinh thần dân tộc, gắn bó thiết tha với sự nghiệp cách mạng của Đảng, của dân tộc, với chế độ xã hội chủ nghĩa, ý chí vươn lên thoát khỏi nghèo nàn, lạc hậu, tinh thần xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, tinh thần phấn đấu vươn lên ngang tầm thời đại trong điều kiện phát triển kinh tế tri thức và hội nhập kinh tế quốc tế, quyết tâm chiến thắng trong cạnh tranh, tinh thần đấu tranh xây dựng, tác phong công nghiệp và kỷ luật lao động, lương tâm nghề nghiệp... cho công nhân.Đại hội XIII, Đảng ta đã nhấn mạnh: “Tăng cường tuyên truyền, giáo dục chính trị, tư tưởng cho giai cấp công nhân”[1].



[1] Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội dại biểu toàn quốc lần thứ XIII, tập 1, Nxb Chính trị quốc gia - Sự thật, Hà Nội - 2021, tr. 166.

Đẩy mạnh và nâng cao chất lượng đào tạo nghề, từng bước trí thức hóa giai cấp công nhân.

 


Đảng, Nhà nước cần có chủ trương, chính sách đồng bộ, cụ thể để đào tạo, bồi dưỡng, nâng cao trình độ mọi mặt cho công nhân, không ngừng “trí thức hoá” giai cấp công nhân là nhiệm vụ chiến lược. Đặc biệt, quan tâm xây dựng thế hệ công nhân trẻ có trình độ học vấn, chuyên môn và kỹ năng nghề nghiệp cao, ngang tầm khu vực và quốc tế, có lập trường giai cấp công nhân và bản lĩnh chính trị vững vàng, thích ứng nhanh với cơ chế thị trường và tham gia hội nhập quốc tế. Quan tâm quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng những nhà kinh doanh có tài, có đức, các nhà quản lý giỏi và các cán bộ khoa học - kỹ thuật xuất thân từ công nhân có trình độ cao, có khả năng tiếp cận với công nghệ và phương thức kinh doanh hiện đại trong nền kinh tế thị trường, hội nhập. Quy hoạch nguồn nhân lực, đào tạo đội ngũ cán bộ kỹ thuật và công nhân có trình độ cao để đáp ứng yêu cầu phát triển các ngành công nghiệp mới, hiện đại. Chú trọng đào tạo đội ngũ công nhân trong các dân tộc thiểu số, ở miền núi, vùng sâu, vùng xa. Chú trọng đào tạo và nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên dạy nghề. Có chính sách để các thành phần kinh tế tham gia đầu tư các cơ sở đào tạo nghề với phương tiện kỹ thuật hiện đại. Có chính sách khuyến khích liên kết các cơ sở đào tạo nghề và các doanh nghiệp trong đào tạo, đào tạo lại. “Xây dựng giai cấp công nhân hiện đại, lớn mạnh; nâng cao bản lĩnh chính trị, trình độ học vấn, chuyên môn, kỹ năng nghề nghiệp, tác phong công nghiệp, kỷ luật lao động thích ứng với cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư”[1].



[1] Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiên Đại hội đai biểu toàn quốc lần thứ XIII, tập I, Nxb Chính trị quốc gia - Sự thật, Hà Nội - 2021, tr. 166.

Tiếp tục nghiên cứu, tổng kết thực tiễn, phát triển lý luận về giai cấp công nhân trong tình hình hiện nay

 


Đổi mới tổ chức, tăng cường đầu tư, đẩy mạnh hơn nữa công tác nghiên cứu lý luận, tổng kết thực tiễn về giai cấp công nhân, hướng vào giải đáp những vấn đề thực tiễn đặt ra: Về xu hướng phát triển của giai cấp công nhân trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước; về vấn đề trí thức hóa công nhân; về mối quan hệ giữa giai cấp công nhân với các giai cấp, tầng lớp khác trong xã hội, đặc biệt là trong liên minh giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức; về sự phân hóa và mối quan hệ trong nội bộ giai cấp công nhân; về vai trò lãnh đạo của giai cấp công nhân thông qua đội tiền phong là Đảng Cộng sản Việt Nam trong thời kỳ mới; về mối quan hệ đoàn kết, hợp tác giữa giai cấp công nhân Việt Nam và giai cấp công nhân các nước trong điều kiện toàn cầu hóa, hội nhập kinh tế quốc tế; về những âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch đối với giai cấp công nhân. Qua đó cung cấp cơ sở lý luận, thực tiễn để đề ra chủ trương, giải pháp xây dựng giai cấp công nhân phát triển toàn diện trong thời kỳ mới.

Phong trào cộng sản và công nhân quốc tế tạm lâm vào thoái trào, nhưng đang có sự phục hồi và tạo được bước phát triển mới.

 


Sự sụp đổ chế độ chủ nghĩa xã hội hiện thực ở Liên Xô và các nước Đông Âu là tổn thất nghiêm trọng của phong trào cộng sản và công nhân quốc tế. Sự cân bằng về lực lượng chiến lược bị phá vỡ Các thế lực đế quốc đã chớp thời cơ đẩy mạnh cuộc phản kích nhằm xóa bỏ các nước xã hội chủ nghĩa còn lại. Cục diện thế giới đổi thay có lợi cho chủ nghĩa đế quốc và các thế lực phản động. Sự thay đổi về so sánh lực lượng đó đã tác động tiêu cực đến toàn bộ phong trào cách mạng thế giới. Các lực lượng cách mạng và tiến bộ thế giới đang đứng trước những khó khăn và thử thách rất nghiêm trọng.

Sự sụp đổ chế độ xã hội chủ nghĩa ở Liên Xô và Đông Âu phản ánh khúc quanh của lịch sử. Nhưng đó chỉ là sự đổ vỡ của một mô hình xã hội cụ thể tồn tại nhiều khuyết tật. Ở những nước xã hội chủ nghĩa còn lại, công cuộc cải cách, đổi mới, mở cửa đã thu được những thành tựu quan trọng. Chế độ xã hội chủ nghĩa vẫn đứng vững, chứng tỏ sức sống và tính ưu việt của mình. Dù còn khó khăn, hạn chế nhất định, nhưng gần 1/4 dân số thế giới vẫn đang được hưởng thành quả tốt đẹp do chủ nghĩa xã hội mang lại. Các lực lượng xã hội chủ nghĩa không bị tiêu diệt như mong muốn của chủ nghĩa tư bản.

Các nước với chế độ xã hội và trình độ phát triển khác nhau cùng tồn tại, vừa hợp tác vừa đấu tranh, cạnh tranh gay gắt vì lợi ích quốc gia, dân tộc.


Sau sự sụp đổ của mô hình chủ nghĩa xã hội ở Liên Xô và Đông Âu, thế đối đấu giữa hai hệ thống tư bản chủ nghĩa và xã hội chủ nghĩa không còn, thay vào đó là sự phát triển đa dạng của các mối quan hệ quốc tế gắn với quá trình toàn cầu hóa. Sự khác biệt về chế độ chính trị - xã hội giữa các quốc gia tuy là một rào cản, nhưng không phải là yếu tố không thể vượt qua để tạo lập nên các mối quan hệ, hợp tác. Thay vì chỉ thiết lập quan hệ với các nước có cùng chế độ chính trị như trước đây, các quốc gia ngày càng chủ động tìm kiếm các cơ hội hợp tác với cả các nước có sự khác biệt về chế độ chính trị - xã hội.

Thế giới hiện nay tồn tại đa dạng các kiểu chế độ chính trị xã hội, cùng những trình độ phát triển rất khác nhau. Do tính chất quá độ của thời đại nên vẫn còn tồn tại nhiều nước có chế độ chính trị, xã hội khác nhau cùng tồn tại. Sự tác động của các xu thế thời đại và chế độ chính trị cũng như lợi ích khác biệt nên các nước vừa hợp tác vừa đấu tranh. Trong vòng xoáy toàn cầu hóa, mối quan hệ giữa các quốc gia, dân tộc ngày càng được thúc đẩy mạnh mẽ, nhưng luôn diễn ra trong sự tương tác giữa hợp tác và đấu tranh. Hợp tác để thúc đẩy lợi ích, đấu tranh để bảo vệ lợi ích khi có sự khác biệt, mâu thuẫn.

Trong những điều kiện nhất định, những mối quan hệ xác định, hợp tác hay đấu tranh, mặt này có thể nổi trội hơn mặt kia. Sau các cuộc đấu tranh quyết liệt, chiều hướng hợp tác thường biểu hiện ra bên ngoài mạnh mẽ hơn. Đồng thời, dưới cái vỏ bọc của “hợp tác”, các đối tác đều nhằm vào mục tiêu tăng cường nội lực của chính mình, chờ sự “tự suy yếu tương đối” của các đối tác khác để tìm kiếm những hình thức và mức độ tập hợp lực lượng mới, tăng thêm thế và lực về chính trị cũng như an ninh, từng bước điều chỉnh chính sách và mối quan hệ đối với các đồng minh và đối tác. Chính vì thế, bất luận trong hoàn cảnh nào, vấn đề lợi ích quốc gia, dân tộc luôn được đặt lên trên hết, trước hết. 

Nội dung sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân Việt Nam

 


Nghị quyết Hội nghị lần thứ sáu, Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa X, khẳng định: Giai cấp công nhân nước ta có sứ mệnh lịch sử to lớn, là giai cấp lãnh đạo cách mạng thông qua đội tiền phong là Đảng Cộng sản Việt Nam; giai cấp đại diện cho phương thức sản xuất tiên tiến; giai cấp tiên phong trong sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội, lực lượng đi đầu trong sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh; lực lượng nòng cốt trong liên minh giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức dưới sự lãnh đạo của Đảng[1].

Trong điều kiện hiện nay, nội dung sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân Việt Nam được cụ thể hóa trên các nội dung chủ yếu sau:

Về kinh tế, giai cấp công nhân là lực lượng tiên phong trong sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội, lực lượng đi đầu trong tiến trình đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước. Đại hội XIII khẳng định: Công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong giai đoạn tới là tiếp tục đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa trên nền tảng của tiến bộ khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo. Điều chỉnh, bổ sung, nâng cao chất lượng chiến lược, quy hoạch, kế hoạch phát triển nền kinh tế, các ngành, lĩnh vực, các vùng phù hợp với thực tiễn đất nước và trình độ phát triển khoa học, công nghệ hiện đại trên thế giới. Đẩy mạnh nghiên cứu, chuyển giao, ứng dụng, phát triển, làm chủ công nghệ hiện đại; phát triển một số sản phẩm chủ lực có thương hiệu mạnh, có uy tín trong khu vực và trên thế giới.”[2]. 

Ba lĩnh vực mà quá trình đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa cần tập trung là: Xây dựng nền công nghiệp quốc gia vững mạnh. Tiếp tục thực hiện có hiệu quả chủ trương cơ cấu lại nông nghiệp, phát triển nông nghiệp, kinh tế nông thôn gắn với xây dựng nông thôn mới theo hướng nông nghiệp sinh thái, nông thôn hiện đại và nông dân văn minh… Phát triển mạnh khu vực dịch vụ dựa trên nền tảng ứng dụng những thành tựu khoa học và công nghệ hiện đại, nhất là các dịch vụ có giá trị gia tăng cao[3].

Về chính trị - xã hội, để tiếp tục hoàn thành sứ mệnh là giai cấp lãnh đạo cách mạng thông qua đội tiền phong là Đảng Cộng sản, là giai cấp tiên phong trong xây dựng chủ nghĩa xã hội và là lực lượng nòng cốt trong liên minh giai cấp, đại đoàn kết toàn dân tộc, cần thực hiện tốt các nhiệm vụ sau: 

Cùng với nhiệm vụ giữ vững và tăng cường sự lãnh đạo của Đảng thì  nhiệm vụ “tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng, phát huy bản chất giai cấp công nhân của Đảng, nâng cao năng lực lãnh đạo, năng lực cầm quyền và sức chiến đấu của Đảng” và “xây dựng đội ngũ cán bộ, đảng viên nhất là đội ngũ cán bộ cấp chiến lược, đủ phẩm chất, năng lực và uy tín, ngang tầm nhiệm vụ, gắn bó mật thiệt với nhân dân”[4] là nhân tố có ý nghĩa quyết định đến thành công của sự nghiệp xây dựng, phát triển đất nước và bảo vệ Tổ quốc.

Quan tâm giáo dục, đào tạo, bồi dưỡng, xây dựng giai cấp công nhân hiện đại, lớn mạnh; nâng cao bản lĩnh chính trị, trình độ học vấn, chuyên môn, kỹ năng nghề nghiệp, tác phong công nghiệp, kỷ luật lao động thích ứng với cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư; chăm lo đời sống vật chất, tinh thần, nhà ở, phúc lợi xã hội cho công nhân; bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của công nhân[5].

Về văn hóa, tư tưởng, giai cấp công nhân là lực lượng quan trọng trong xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc; chuyển dần từ văn minh nông nghiệp sang văn minh công nghiệp theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Quá trình phát triển giai cấp công nhân Việt Nam là quá trình xây dựng hệ tư tưởng của giai cấp công nhân hiện đại, cách mạng và sáng tạo ngày càng giữ vai trò chủ đạo vững chắc. Xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc có nội dung cốt lõi là xây dựng con người xã hội chủ nghĩa, giáo dục đạo đức cách mạng, rèn luyện lối sống, tác phong công nghiệp, văn minh, hiện đại, xây dựng và hoàn thiện hệ giá trị văn hóa, hệ giá trị và nhân cách con người Việt Nam. Giai cấp công nhân còn tham gia vào cuộc đấu tranh trên lĩnh vực tư tưởng lý luận để bảo vệ chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, chống lại những quan điểm sai trái, xuyên tạc của các thế lực thù địch, kiên định lý tưởng, mục tiêu và con đường cách mạng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội. Để thực hiên được sứ mệnh lịch sử này, giai cấp công nhân Việt Nam phải thường xuyên được giáo dục về ý thức giai cấp, bản lĩnh chính trị, chủ nghĩa yêu nước và chủ nghĩa quốc tế, củng cố mối liên hệ mật thiết giữa giai cấp công nhân với dân tộc, đoàn kết giai cấp gắn liền với đoàn kết dân tộc và đoàn kết quốc tế. Đó chính là sự kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại trong thời đại hiện nay.



[1] Đảng Cộng sản Việt Nam, Nghị quyết số 20-NQ/TW, ngày 28/01/2008 Hội nghị lần thứ sáu Ban chấp hành Trung ương khóa X về “tiếp tục xây dựng giai cấp công nhân Việt Nam thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước”, Nxb Chính trị quốc gia - Sự thật, Hà Nội - 2008, tr. 1.

[2] Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, tập I, Nxb Chính trị quốc gia - Sự thật, Hà Nội - 2021, tr. 122-123.

[3] Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, tập I, Nxb Chính trị quốc gia - Sự thật, Hà Nội - 2021, tr. 123-125.

[4] Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, tập I, Nxb Chính trị quốc gia - Sự thật, Hà Nội - 2021, tr. 111.

[5] Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, tập I, Nxb Chính trị quốc gia - Sự thật, Hà Nội - 2021, tr. 166.

Hệ thống chính trị xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam

 

Hệ thống chính trị ở Việt Nam là một chỉnh thể bao gồm Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội hợp pháp, cùng với cơ chế vận hành và mối quan hệ qua lại giữa các bộ phận này nhằm tăng cường vai trò lãnh đạo của Đảng, hiệu lực và hiệu quả quản lý của Nhà nước, đảm bảo quyền lực thuộc về nhân dân vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh. 

Đảng Cộng sản Việt Nam là Đảng cầm quyền, lãnh đạo nhà nước và xã hội. Đảng lãnh đạo bằng cương lĩnh, chiến lược, chính sách và chủ trương lớn; bằng công tác tuyên truyền, thuyết phục, vận động tổ chức, kiểm tra, giám sát và bằng hành động gương mẫu của đảng viên. Đảng thống nhất lãnh đạo công tác cán bộ và quản lý đội ngũ cán bộ, giới thiệu những đảng viên ưu tú có đủ năng lực và phẩm chất vào hoạt động trong các cơ quan lãnh đạo của hệ thống chính trị. Đảng lãnh đạo thông qua tổ chức đảng và đảng viên hoạt động trong các tổ chức của hệ thống chính trị, tăng cường chế độ trách nhiệm cá nhân, nhất là người đứng đầu. Đảng lãnh đạo hệ thống chính trị đồng thời là một bộ phận của hệ thống ấy. Đảng gắn bó mật thiết với nhân dân, tôn trọng và phát huy quyền làm chủ của nhân dân, dựa vào nhân dân để xây dựng Đảng, chịu sự giám sát của nhân dân, hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật. 

Nhà nước là trụ cột của hệ thống chính trị ở nước ta, là công cụ tổ chức thực hiện ý chí và quyền lực của nhân dân, thay mặt nhân dân, chịu trách nhiệm trước nhân dân để quản lý toàn bộ hoạt động của đời sống xã hội. Đó chính là Nhà nước của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân. Mặt khác, Nhà nước chịu sự lãnh đạo của giai cấp công nhân, thực hiện đường lối chính trị của Đảng. Đảng lãnh đạo Nhà nước thực hiện và đảm bảo đầy đủ quyền làm chủ của nhân dân. Nhà nước xã hội chủ nghĩa vừa là cơ quan quyền lực, vừa là bộ máy chính trị, hành chính, vừa là tổ chức quản lý kinh tế, văn hoá, xã hội của nhân dân. Quyền lực Nhà nước là thống nhất, có sự phân công và phối hợp chặt chẽ giữa các cơ quan trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp.

Các tổ chức chính trị xã hội là các tổ chức hợp pháp được tổ chức để tập hợp rộng rãi các tầng lớp nhân dân theo nguyên tắc tự nguyện, tự quản đại diện cho lợi ích của nhân dân, tham gia vào hệ thống chính trị, tuỳ theo tính chất, tôn chỉ, mục đích của mình nhằm bảo vệ quyền lợi dân chủ của nhân dân. Các tổ chức chính trị - xã hội của nhân dân có nhiệm vụ giáo dục chính trị tư tưởng, động viên và phát huy tính tích cực xã hội của các tầng lớp nhân dân, góp phần thực hiện nhiệm vụ chính trị; chăm lo bảo vệ lợi ích chính đáng và hợp pháp của nhân dân; tham gia vào công việc quản lý Nhà nước, quản lý xã hội, giữ vững và tăng cường mối liên hệ mật thiết giữa Đảng, Nhà nước và nhân dân, góp phần thực hiện và thúc đẩy quá trình dân chủ hoá và đổi mới xã hội, thực hiện cơ chế Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, nhân dân làm chủ.


Đặc điểm chế độ dân chủ xã hội chủ nghĩa


Trong chế độ dân chủ xã hội chủ nghĩa, quyền lực xã hội thực sự thuộc về đại đa số nhân dân lao động. Ở các chế độ dân chủ khác, chủ thể quyền lực là thiểu số hoặc chỉ của riêng giai cấp bóc lột. Trong chủ nghĩa xã hội, toàn bộ quyền lực thuộc về nhân dân, nhân dân là người làm chủ trên tất cả các lĩnh vực kinh tế, chính trị, văn hoá, xã hội. Các quyền dân chủ, làm chủ đó được thể chế hóa bằng pháp luật và các quy chế dân chủ, được pháp luật bảo vệ và hiện thực hóa từng bước thông qua hoạt động thực thi dân chủ của chính nhân dân. Mọi đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước đều xuất phát từ nguyện vọng, quyền và lợi ích chính đáng của nhân dân, được nhân dân tham gia ý kiến. Tuy nhiên, chế độ dân chủ xã hội chủ nghĩa không phải là nền dân chủ phi giai cấp, siêu giai cấp, dân chủ cho tất cả mọi người. Đây là nền dân chủ của đa số, vì lợi ích của đa số nhân dân, nhưng thực hiện chuyên chính với những phần tử chống đối, phá hoại dân chủ, pháp luật, kỷ luật, kỷ cương xã hội.

Quyền lợi và nghĩa vụ, quyền hạn và trách nhiệm, cống hiến và hưởng thụ của mọi công dân gắn bó chặt chẽ với nhau. Mọi công dân có đều bình đẳng trước pháp luật. Họ có quyền bình đẳng trong hưởng thụ các giá trị vật chất và tinh thần của xã hội, đồng thời họ cũng phải bình đẳng trong sự đóng góp sức mình vào việc tạo ra các giá trị đó; có quyền được hưởng cuộc sống hoà bình, an toàn thì họ cũng phải có trách nhiệm làm tròn nghĩa vụ công dân ở vị trí xã hội mà họ đảm nhiệm, có nghĩa vụ trong việc tham gia xây dựng nền quốc phòng toàn dân, lực lượng vũ trang nhân dân. Họ có quyền tham gia quản lý nhà nước, quản lý xã hội, đồng thời cũng phải có trách nhiệm và nghĩa vụ đảm bảo cho sự quản lý đó thực hiện một cách có hiệu quả. Hiến pháp, pháp luật, cơ chế, quy chế trong nền dân chủ bảo đảm cho mọi công dân ngày càng thuận lợi hơn trong thực hiện các quyền dân chủ và ngăn ngừa lạm dụng, hoặc xâm phạm quyền dân chủ của công dân.

Chế độ dân chủ xã hội chủ nghĩa có nội dung toàn diện và có tính hiện thực. Đây là chế độ dân chủ bảo đảm đầy đủ các quyền dân chủ của nhân dân trên mọi lĩnh vực. Các nội dung dân chủ trên các lĩnh vực có xu hướng ngày càng hoàn thiện và mở rộng, đi vào chiều sâu và mang tính thực tế, gắn với sự phát triển của xã hội xã hội chủ nghĩa. Dân chủ trên các lĩnh vực được thực hiện thông qua hệ thống chính trị xã hội chủ nghĩa, các thành tố cấu thành hệ thống chính trị xã hội chủ nghĩa chính là các thiết chế duy trì, thực thi và bảo vệ quyền làm chủ của nhân dân lao động. Do đó, đảng và nhà nước xã hội chủ nghĩa coi việc đổi mới và hoàn thiện hệ thống chính trị là một trong những biện pháp thực hành mở rộng dân chủ.

Trong chế độ dân chủ xã hội chủ nghĩa, quyền dân chủ, làm chủ của nhân dân không ngừng mở rộng và thực hiện thông qua nhiều hình thức dân chủ. Chế độ dân chủ xã hội chủ nghĩa tạo ra những điều kiện thuận lợi nhất để nhân dân lao động thực hiện các quyền và nghĩa vụ công dân của mình, không ngừng mở rộng và hoàn thiện các hình thức dân chủ như dân chủ đại diện, dân chủ trực tiếp, dân chủ tự quản của các cộng đồng dân cư cùng với việc sử dụng, phát huy các tổ chức, lực lượng xã hội, các phương tiện thông tin đại chúng, tổ chức nhiều hình thức kiểm tra, kiểm soát mạnh mẽ có hiệu lực của nhân dân từ dưới lên để nhân dân lao động thực hiện và phát huy dân chủ.

Chế độ dân chủ xã hội chủ nghĩa ngày càng hoàn thiện và tự tiêu vong trong xã hội cộng sản chủ nghĩa. Về đặc điểm này, V.I.Lênin đã viết: “Chỉ có chủ nghĩa cộng sản mới có thể đưa lại một chế độ dân chủ thực sự hoàn bị và nó càng hoàn bị bao nhiêu thì lại càng trở nên thừa và tự tiêu vong bấy nhiêu”[1]. Bời vì, chế độ dân chủ xã hội chủ nghĩa là hình thức nhà nước xã hội chủ nghĩa, vì vậy khi nhà nước tự tiêu vong thì chế độ xã hội chủ nghĩa cũng tự tiêu vong.



[1] V.I.Lênin, Toàn tập, tập 33, Nxb Chính trị quốc gia - Sự thật, Hà Nội - 2005, tr. 110. 

Bản chất chế độ dân chủ xã hội chủ nghĩa

 


Là quyền làm chủ thực tế của nhân dân trên các lĩnh vực đời sống xã hội, dưới sự lãnh đạo của Đảng cộng sản, sự quản lý tập trung, thống nhất của nhà nước xã hội chủ nghĩa và phát huy vai trò các tổ chức chính trị - xã hội thông qua các hình thức dân chủ. Bản chất của chế độ dân chủ xã hội chủ nghĩa là sự thống trị (làm chủ) của đa số nhân dân lao động mà giai cấp công nhân là người đại biểu đối với thiểu số giai cấp thống trị bóc lột tư sản và địa chủ. Nhờ đó mà nó thực hiện mục tiêu cao nhất của chủ nghĩa xã hội là giải phóng triệt để giai cấp, xã hội và con người khỏi mọi áp bức bóc lột, bất công, khỏi mọi tình trạng nghèo nàn lạc hậu và cuối cùng khỏi mọi sự phân chia giai cấp và đấu tranh giai cấp. Bản chất chế độ dân chủ xã hội chủ nghĩa thể hiện sâu sắc trên các lĩnh vực:

Trên lĩnh vực chính trị: Là sự lãnh đạo về mặt chính trị của giai cấp công nhân trong việc thực hiện quyền lực và lợi ích của toàn thể nhân dân trên mọi lĩnh vực, thông qua Đảng Cộng sản đối với toàn xã hội. Quyền lực này của giai cấp công nhân được thể hiện ở các quyền dân chủ, làm chủ, quyền con người được thoả mãn ngày càng cao hơn.

Trên lĩnh vực kinh tế, chế độ dân chủ xã hội chủ nghĩa dựa trên chế độ công hữu về tư liệu sản xuất chủ yếu của toàn xã hội đáp ứng sự phát triển ngày càng cao của lực lượng sản xuất dựa trên cơ sở khoa học - công nghệ hiện đại nhằm thoả mãn ngày càng cao những nhu cầu vật chất và tinh thần của toàn thể nhân dân lao động. Chế độ công hữu về tư liệu sản xuất càng hoàn thiện bao nhiêu thì càng làm cho nền tảng của chế độ dân chủ xã hội chủ nghĩa vững chắc bấy nhiêu. Việc xoá bỏ mâu thuẫn đối kháng trong kinh tế quy định sự thống nhất về chính trị, tinh thần của các lực lượng trong xã hội - xã hội chủ nghĩa.

Trên lĩnh vực văn hóa - tư tưởng, chế độ dân chủ xã hội chủ nghĩa lấy hệ tư tưởng Mác - Lênin làm nền tảng, chủ đạo đối với mọi hình thái ý thức xã hội khác trong xã hội mới (như văn học nghệ thuật, giáo dục, đạo đức, lối sống, văn hoá, xã hội, tôn giáo...). Đồng thời, chế độ dân chủ xã hội chủ nghĩa kế thừa, phát huy những tinh hoa văn hoá truyền thống các dân tộc; tiếp thu những giá trị tư tưởng - văn hoá, văn minh, tiến bộ xã hội... mà nhân loại đã tạo ra ở tất cả các quốc gia, dân tộc. Do đó, đời sống tư tưởng - văn hoá của chế độ dân chủ xã hội chủ nghĩa rất phong phú, đa dạng, toàn diện và ngày càng trở thành một nhân tố quan trọng hàng đầu, thành mục tiêu và động lực cho quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ tổ quốc xã hội chủ nghĩa.

Vai trò của Đảng Cộng sản trong thực hiện sứ mệnh lịch sử thế giới của giai cấp công nhân

 


Trong lịch sử xã hội có giai cấp, không một giai cấp nào giữ vai trò lãnh đạo xã hội mà lại không thông qua chính đảng của mình. Giai cấp công nhân phải có một đảng chính trị thật sự vững vàng, kiên định và sáng suốt, có đường lối chiến lược, sách lược đúng đắn thể hiện lợi ích của giai cấp và toàn thể dân tộc mới có thể hoàn thành sứ mệnh lịch sử. Đảng Cộng sản là nhân tố giữ vai trò quyết định đối với việc thực hiện thắng lợi sứ mệnh lịch sử giai cấp công nhân.

Đảng Cộng sản là lãnh tụ chính trị, bộ tham mưu chiến đấu của giai cấp công nhân.

Vai trò này của Đảng được quy định từ mối quan hệ khách quan vốn có giữa Đảng Cộng sản với giai cấp công nhân, trong đó giai cấp công nhân là cơ sở xã hội - giai cấp của Đảng Cộng sản, nơi xuất phát hình thành ra đội tiền phong của giai cấp và là nguồn bổ sung lực lượng bảo đảm cho Đảng Cộng sản tồn tại và phát triển về mọi mặt. Đảng Cộng sản giữ vai trò là hạt nhân lãnh đạo của giai cấp, là lãnh tụ chính trị, bộ tham mưu dẫn dắt, tập hợp và tổ chức giai cấp thực hiện sứ mệnh lịch sử của mình. Đảng có trình độ lý luận và tổ chức cao hơn bộ phận còn lại của giai cấp để lãnh đạo giai cấp và dân tộc; là lực lượng đi đầu nắm bắt, tiếp thu những tinh hoa, trí tuệ của nhân loại, nắm vững quy luật khách quan, xu thế thời đại và thực tiễn phong trào đấu tranh của giai cấp công nhân để định ra cương lĩnh, đường lối cách mạng đúng đắn, phù hợp với nguyện vọng của giai cấp công nhân và nhân dân lao động. Đồng thời Đảng Cộng sản còn là một tổ chức thống nhất về ý chí, hành động, kỷ luật và đoàn kết để làm tròn vai trò của lãnh tụ chính trị, bộ tham mưu chiến đấu của giai cấp công nhân.

Đảng cộng sản ra đời làm chuyển biến phong trào đấu tranh của giai cấp công nhân từ tự phát lên tự giác.

Có Đảng Cộng sản lãnh đạo, tổ chức, tuyên truyền và giáo dục giai cấp công nhân mới đạt tới trình độ tự giác bằng việc tiếp thu lý luận khoa học và cách mạng của chủ nghĩa Mác - Lênin, làm cho phong trào của giai cấp công nhân vươn tới trình độ nhận thức lý luận và trở thành một phong trào chính trị. Trình độ lý luận được Đảng cộng sản trang bị cho giai cấp là nguồn định hướng, dẫn dắt toàn bộ giai cấp công nhân trong quá trình đấu tranh cách mạng, cho phép giai cấp công nhân nhận thức đầy đủ vị trí, vai trò của mình trong xã hội. Qua đó, làm cho phong trào công nhân ngày càng phát triển với sự tăng thêm của sức mạnh đoàn kết giai cấp, đoàn kết dân tộc, nhận rõ mục tiêu, con đường và biện pháp đúng đắn để giải phóng giai cấp, dân tộc, xã hội và nhân loại.

Đảng Cộng sản tuyên truyền, vận động, thu hút tập hợp, tổ chức các giai tầng xã hội khác, tạo nên sức mạnh tổng hợp để giai cấp công nhân thực hiện thắng lợi sứ mệnh lịch sử của mình.

Để thực hiện được sứ mệnh lịch sử của mình, giai cấp công nhân phải tập hợp, đoàn kết các giai tầng xã hội khác, nhất là giai cấp nông dân và tầng lớp trí thức. Liên minh giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và tầng lớp trí thức, do giai cấp công nhân lãnh đạo là một tất yếu, một vấn đề có tính quy luật của cách mạng xã hội chủ nghĩa. Liên minh giai cấp này được thực hiện bằng đường lối và chính sách đoàn kết. Đó là phương thức tập hợp lực lượng cách mạng và phát huy vai trò tiên phong của giai cấp công nhân, phát huy ảnh hưởng của Đảng Cộng sản trong xã hội để thực hiện sứ mệnh lịch sử giai cấp công nhân.

Đảng Cộng sản triệt để đấu tranh, loại trừ chủ nghĩa cơ hội, xét lại và các khuynh hướng sai trái dưới mọi hình thức trong phong trào công nhân.

Trong quá trình lãnh đạo cách mạng, các Đảng Cộng sản và công nhân quốc tế vừa phải tập trung đấu tranh chống lại giai cấp tư sản và chủ nghĩa tư bản để thực hiện mục tiêu cuối cùng giải phóng giai cấp, giải phóng dân tộc, giải phóng xã hội, giải phóng con người, vừa phải tiến hành cuộc đấu tranh quyết liệt, phức tạp và lâu dài chống chủ nghĩa chống cộng, chủ nghĩa cơ hội, xét lại và các khuynh hướng sai trái dưới mọi hình thức trong phong trào công nhân, bảo vệ, phát triển chủ nghĩa Mác - Lênin - nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho mọi hành động của Đảng. Sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân là khách quan, nhưng vô cùng khó khăn, phức tạp và lâu dài, với những nhiệm vụ nặng nề và phải trải qua nhiều giai đoạn cách mạng mới hoàn thành. Chỉ dưới sự lãnh đạo duy nhất của Đảng Cộng sản với đường lối chiến lược, sách lược, với những phương hướng, biện pháp đúng đắn trong từng giai đoạn cụ thể, mới dẫn dắt giai cấp công nhân đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác, làm cho sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân trở thành hiện thực.