Thứ Tư, 10 tháng 9, 2025

Vận dụng đúng đắn quan điếm đối tác, đối tượng.

 


Đảng ta chỉ rõ: “Những ai tôn trọng độc lập, chủ quyền, thiết lập và mở rộng quan hệ hữu nghị, hợp tác bình đẳng, cùng có lợi với Việt Nam đều là đối tác; bất kể thế lực có âm mưu và hành động chống phá mục tiêu của nước Việt Nam trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, lật đổ chế độ xã hội chủ nghĩa, xâm phạm độc lập, chủ quyền, lợi ích quốc gia - dân tộc Việt Nam đều là đối tượng của Việt Nam”[1]. Trong tình hình diễn ra nhanh chóng và phức tạp hiện nay, cần có cách nhìn biện chứng trong xử lý các tình huống. Bởi vì, trong đối tác có mặt là đối tượng; trong đối tượng có mặt là đối tác.

Nâng cao công tác dự báo, nắm chắc tình hình; chủ động, phòng ngừa, phát hiện sớm và triệt tiêu các nhân tố, nhất là những nhân tố bên trong có thể dẫn đến những đột biến, bất lợi. Đây là quan điểm chỉ đạo phương châm chủ động giữ nước, quán triệt và thể hiện tư tưởng chủ động giữ nước của ông cha ta: “Lo giữ nước từ lúc nước chưa nguy”, không để bị động, bất ngờ, lấy phòng ngừa là chính. Trong tình hình hiện nay, cần đặc biệt chú ý chủ động phòng ngừa, đấu tranh với các yếu tố gây bất ổn từ bên trong, như “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”.



[1] Bộ Quốc phòng, Quốc phòng Việt Nam, Nxb Chính trị quốc gia - Sự thật,  Hà Nội - 2019, tr. 25,26.

Kết hợp chặt chẽ hai nhiệm vụ chiến lược xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa; xây dựng sức mạnh tổng hợp về chính trị, tư tưởng, kinh tế, xã hội, văn hóa, quốc phòng, an ninh, đối ngoại .


 Sức mạnh bên trong là nhân tố quyết định, nắm chắc nhiệm vụ phát triển kinh tế là trung tâm gắn với giải quyết tốt các vấn; xây dựng Đảng là then chốt, kết hợp với bảo vệ Đảng, bảo vệ sự lãnh đạo của Đảng đối với hệ thống chính trị và toàn xã hội; xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa trong sạch, vững mạnh; xây dựng và phát triển văn hóa, con người làm nền tảng tinh thần của xã hội là sức mạnh nội sinh quan trọng. Kết hợp chặt chẽ các nhiệm vụ kinh tế, quốc phòng, an ninh, đối ngoại.

Phát huy sức mạnh khối đại đoàn kết toàn dân tộc, của cả hệ thống chính trị, dưới sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý điều hành của Nhà nước, lực lượng vũ trang làm nòng cốt; tăng cường tiềm lực quốc phòng, an ninh, không ngừng xây dựng thế trận quốc phòng gắn với thế trận an ninh nhân dân phù hợp với hoàn cảnh mới. Đảng ta xác định: “Xây dựng, phát triển nền công nghiệp quốc phòng, công nghiệp an ninh hiện đại, lưỡng dụng, vừa đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc vừa góp phần quan trọng phát triển kinh tế - xã hội”[1].



[1] Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, tập 1, Nxb Chính trị quốc gia - Sự thật, Hà Nội - 2021, tr. 158,159. 

TÌM HIỂU GIÚP BẠN: "CỞI TRÓI"!

     Câu hỏi của Tổng Bí thư Tô Lâm, “Khi nào xây dựng được bộ sách giáo khoa thống nhất?” thoạt nghe tưởng chỉ là một chất vấn cho ngành giáo dục. Nhưng thực ra, nó xuất hiện đúng vào cao điểm khi Bộ Chính trị vừa đưa ra hai nghị quyết lớn liên quan trực tiếp đến đời sống hàng ngày của nhân dân: Nghị quyết 70 về an ninh năng lượng và Nghị quyết 71 về đột phá giáo dục. Đặt trong dòng chảy ấy, câu hỏi trở thành một lát cắt nhỏ phản chiếu tinh thần cải cách đang hình thành rõ nét.

Ở điện lực, Nghị quyết 70 đánh dấu một bước ngoặt: lần đầu tiên Bộ Chính trị yêu cầu xóa bỏ dần độc quyền, cơ cấu lại EVN và mở ra thị trường cạnh tranh để người dân có quyền lựa chọn nhà cung cấp điện. Quyền lựa chọn này nay mới được đưa vào một ngành được coi là “bất khả xâm phạm”. Nó cho thấy sự thay đổi căn bản: thay vì để một tập đoàn gánh cả chuỗi, rồi khi lỗ thì dân chịu, nay chính người dân trở thành trung tâm, dùng sức ép thị trường để buộc ngành điện phải vận hành minh bạch và hiệu quả. 

Ở giáo dục, Nghị quyết 71 nhấn mạnh một điều chưa từng được nói thẳng: giáo dục đào tạo là nhân tố quyết định vận mệnh dân tộc. Mục tiêu cũng rất cụ thể: đến năm 2030, phổ cập mầm non cho trẻ 3–5 tuổi, giáo dục bắt buộc đến hết THCS, sách giáo khoa miễn phí cho toàn bộ học sinh; và đến năm 2045, Việt Nam phải có ít nhất 5 trường đại học lọt top 100 thế giới. Trên nền ấy, câu hỏi của Tổng Bí thư về một bộ sách thống nhất không chỉ là chuyện “có làm hay không”, mà là phép thử xem ngành giáo dục có đủ bản lĩnh thực thi cam kết này hay không.

Nếu Nghị quyết 70 “cởi trói” cho hạ tầng vật chất, thì Nghị quyết 71 “chuẩn hóa” hạ tầng tri thức. Một bên là quyền bật công tắc điện, một bên là quyền lật trang sách của học trò. Cả hai đều được soi chiếu dưới cùng một tinh thần: không thể chậm trễ, không thể trì hoãn, cải cách phải đến tận tay người dân.

Nhìn vào diễn biến ấy, có thể thấy bầu không khí chuẩn bị cho Đại hội XIV đang rất mới: không chỉ bàn về những tầm nhìn xa, mà đi thẳng vào những chỗ nghẽn rất cụ thể trong đời sống. Khi Bộ Chính trị nói “người dân được chọn mua điện”, và Tổng Bí thư hỏi “bao giờ có sách giáo khoa thống nhất”, thì thông điệp không còn là khẩu hiệu, mà là hành động phải được đo bằng những gì người dân cảm nhận hàng ngày./.


Yêu nước ST.

Mục tiêu bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa

 


Trên cơ sở khẳng định tư tưởng lớn, cơ bản của Đảng qua các kỳ Đại hội, Nghị quyết Trung ương 8 khóa IX, Nghị quyết Trung ương 8 khóa XI về bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới, mục tiêu bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa được Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng xác định:

Bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc. Trong bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa, bảo vệ vững chắc độc lập chủ quyền, thống nhất toàn vẹn lãnh thổ, an ninh quốc gia và trật tự an toàn xã hội  là yêu cầu hàng đầu. Đây cũng là điểm nổi bật trong truyền thống đánh giặc, giữ nước của cha ông ta trong lịch sử chống xâm lược. Yêu cầu giữ vững độc lập dân tộc không chỉ bao hàm bảo vệ vùng đất, vùng trời, vùng biển, thềm lục địa, biên giới của Tổ quốc mà còn bao hàm cả giữ vững độc lập về chính trị, kinh tế, văn hóa - xã hội của đất nước trong bối cảnh hội nhập quốc tế hiện nay. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định: Nước Việt Nam là một, dân tộc Việt Nam là một, sông có thể cạn, núi có thể mòn, song chân lý đó không bao giờ thay đổi. Tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng là yêu cầu bảo vệ sự thống nhất của Tổ quốc ta hiện nay, trước âm mưu chia rẽ phá hoại khối đại đoàn kết dân tộc của các thế lực thù địch.

Bảo vệ Đảng, Nhà nước, nhân dân, chế độ xã hội chủ nghĩa. Trong tình  hình hiện nay, khi kẻ địch dùng “diễn biến hòa bình” chống phá ta, mũi nhọn tập trung vào phá hoại Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước và chế độ xã hội chủ nghĩa thì nội dung này có ý nghĩa cực kỳ quan trọng. Bài học từ sự sụp đổ của chủ nghĩa xã hội ở Liên Xô và Đông Âu cho thấy, khi mà Đảng Cộng sản không còn giữ được vai trò lãnh đạo, thì Tổ quốc xã hội chủ nghĩa cũng không còn.

Bảo vệ Đảng, Nhà nước bao gồm bảo vệ chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, bảo vệ đường lối quan điểm của Đảng, bảo vệ uy tín của Đảng và làm cho đường lối của Đảng thành hiện thực sinh động trong cuộc sống, bảo vệ chính trị nội bộ, bảo vệ hệ thống tổ chức Đảng, chính quyền các cấp và bảo vệ đội ngũ cán bộ, đảng viên. Kiên quyết đập tan mọi âm mưu và hành động phá hoại của kẻ địch. Bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa trước hết là bảo vệ lý tưởng và định hướng xã hội chủ nghĩa, bảo vệ chế độ chính trị và chế độ kinh tế xã hội chủ nghĩa. Bảo vệ Đảng, Nhà nước và chế độ xã hội chủ nghĩa phải đi đôi với bảo vệ cuộc sống lao động hòa bình của nhân dân.

Bảo vệ công cuộc đổi mới, sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Nhờ có đường lối đổi mới đất nước toàn diện, cách mạng nước ta vững bước tiến lên. Thắng lợi của công cuộc đổi mới đã củng cố vững chắc độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, đời sống của nhân dân và uy tín của Việt Nam trên trường quốc tế ngày càng được nâng cao. Điều đó chứng tỏ rằng: Đổi mới là con đường đúng đắn, hợp quy luật của cách mạng Việt Nam. Vì vậy, phải kiên quyết bảo vệ đường lối đổi mới của Đảng, bảo vệ những thành quả của cách mạng Việt Nam. Trong quá trình đổi mới, chúng ta thực hiện đa phương hoá, đa dạng hoá trong quan hệ đối ngoại đòi hỏi phải giữ vững độc lập tự chủ.

Bảo vệ lợi ích quốc gia dân tộc bao hàm cả lợi ích kinh tế, văn hóa… trong hoàn cảnh hội nhập kinh tế quốc tế hiện nay, bảo vệ lợi ích kinh tế của đất nước trở thành nhiệm vụ hết sức quan trọng. Đó là lợi ích kinh tế trong đất liền, vùng biển, vùng trời, biên giới, lợi ích của giai cấp công nhân, nhân dân lao động, của tập thể của cá nhân, lợi ích của các doanh nghiệp và người Việt Nam định cư ở nước ngoài… Cơ sở pháp lý của vấn đề này là các văn bản, luật, quy ước quốc tế và của Việt Nam. Do đó Đảng và Nhà nước cần tiếp tục hoàn chỉnh, bổ sung các luật có liên quan, kiên quyết ngăn chặn những biểu hiện chỉ vì lợi ích cục bộ, địa phương, lợi ích riêng làm ảnh hưởng, vi phạm, phương hại đến lợi ích quốc gia dân tộc. Đảng ta xác định: “Bảo đảm cao nhất lợi ích quốc gia - dân tộc trên cơ sở các nguyên tắc cơ bản của Hiến chương Liên hợp quốc và luật pháp quốc tế, bình đẳng, hợp tác, cùng có lợi”[1].

Bảo vệ nền văn hóa dân tộc. Trong tình hình hiện nay kẻ địch đang ráo riết chống phá ta trên tất cả các mặt, đặc biệt trên lĩnh vực tư tưởng, văn hóa. Bảo vệ nền văn hóa Việt Nam là bảo vệ truyền thống yêu nước, cốt cách tâm hồn Việt Nam trong thời đại mới. Giữ vững sự lãnh đạo của Đảng đối với văn hóa, làm cho văn hóa trở thành nền tảng tinh thần xã hội, vừa là mục tiêu, vừa là động lực trong công cuộc đổi mới hiện nay. Ra sức đấu tranh chống những quan điểm và hành vi văn hóa đồi trụy, phản động, xấu độc của chế độ cũ để lại. Xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc văn hóa dân tộc.

Giữ vững môi trường hòa bình để xây dựng, ổn định chính trị, an ninh quốc gia, an ninh con người; xây dựng xã hội trật tự, kỷ cương, an toàn, lành mạnh để phát triển đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Sự ổn định về chính trị và môi trường hòa bình là điều kiện tiên quyết để thực hiện thắng lợi sự nghiệp đổi mới đất nước, công nghiệp hóa, hiện đại hóa theo định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta hiện nay. Để giữ vững ổn định chính trị, trước hết phải đấu tranh giữ vững sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Kiên quyết đấu tranh làm thất bại mọi âm mưu phá hoại của địch, không để xảy ra bạo loạn về chính trị hoặc “tự diễn biến”. Giữ vững môi trường hòa bình đòi hỏi Đảng và Nhà nước ta phải có đường lối đối nội và đối ngoại đúng đắn, tăng cường mối quan hệ hợp tác hữu nghị với các nước, nhất là các nước trong khu vực trên cơ sở tôn trọng độc lập chủ quyền toàn vẹn lãnh thổ của nhau, các bên cùng có lợi.

Bảo vệ an ninh quốc gia cần được hiểu một cách toàn diện hơn, rộng hơn, sâu hơn, không chỉ có các vấn đề an ninh chính trị, quân sự truyền thống, mà còn bao quát cả những vấn đề an ninh phi truyền thống. Đây là những vấn đề an ninh nổi lên bắt nguồn từ những nguy cơ mới, tác động đa chiều của quá trình hội nhập quốc tế và phát triển. An ninh quốc gia bao gồm: An ninh chính trị, an ninh kinh tế, an ninh quân sự, an ninh biên giới, biển, đảo, an ninh đối ngoại, an ninh tư tưởng - văn hóa, an ninh xã hội, an ninh thông tin, an ninh kết nối, an ninh mạng, an ninh doanh nghiệp, an ninh tài chính - tiền tệ, an ninh năng lượng, an ninh lương thực, an ninh dân cư, an ninh dân số, an ninh cơ sở dữ liệu, an ninh môi trường, an ninh con người. Đảng ta khẳng định: “Chú trọng an ninh, an toàn là một trong những yếu tố hàng đầu trong cuộc sống của người dân”[2], do vậy bảo vệ an ninh quốc gia cũng chính là bảo vệ cuộc sống của người dân.

Bảo vệ Tổ quốc trên không gian mạng. Đây là nội dung có vị trí đặc biệt quan trọng, là nhiệm vụ trọng yếu thường xuyên, vừa cấp bách, vừa lâu dài của cả hệ thống chính trị, của toàn dân, của các cấp, các ngành dưới sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý thống nhất của Nhà nước, trong đó lực lượng Công an nhân dân, Quân đội nhân dân giữ vai trò nòng cốt. Bảo vệ vững chắc an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội trên không gian mạng; phòng ngừa, phát hiện, ngăn chặn, xử lý hiệu quả các hành vi xâm phạm an ninh mạng quốc gia, góp phần bảo vệ vững chắc chủ quyền, lợi ích quốc gia; xây dựng không gian mạng an toàn, lành mạnh, trở thành nguồn lực quan trọng để xây dựng, phát triển và bảo vệ Tổ quốc. Góp phần huy động và phát huy sức mạnh tổng hợp của hệ thống chính trị và của toàn xã hội trong công tác bảo đảm an ninh mạng; tăng cường hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước về an ninh mạng; huy động, phát huy hiệu quả các nguồn lực trong nước đi đôi với tăng cường, mở rộng hợp tác quốc tế trong bảo đảm an toàn, an ninh thông tin và an ninh mạng. Tăng cường năng lực, hiệu quả đấu tranh bảo vệ an toàn, an ninh mạng, phòng, chống tội phạm và vi phạm pháp luật trên không gian mạng, triển khai các biện pháp kỹ thuật chuyên biệt vô hiệu hóa nguồn phát động tấn công mạng, chiến dịch tấn công mạng, hoạt động sử dựng không gian mạng xâm phạm an ninh quốc gia, trọng tâm là hoạt động chống phá Đảng, Nhà nước, kích động biểu tình, bạo loạn, phá hoại, khủng bố, gây rối an ninh, trật tự trên không gian mạng.



[1] Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, tập 1, Nxb Chính trị quốc gia - Sự thật, Hà Nội- 2021, tr. 110.

[2] Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, tập 1, Nxb Chính trị quốc gia - Sự thật, Hà Nội - 2021, tr. 156.

Tình hình trong nước tác động đến công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa

 


Về thuận lợi, sự nghiệp đổi mới toàn diện đất nước do Đảng Cộng sản Việt Nam khởi xướng và lãnh đạo đã giành được những thành tựu to lớn và rất quan trọng làm cho các thế và lực của nước ta có sự phát triển. Đảng ta dày dặn kinh nghiệm trong lãnh đạo các cuộc chiến tranh giải phóng dân tộc bảo vệ Tổ quốc và xây dựng đất nước. Nhân dân ta có truyền thống yêu nước, lao động cần cù, thông minh, sáng tạo, đoàn kết nhân ái. Kinh tế từng bước ra khỏi tình trạng suy giảm, lấy lại đà tăng trưởng, nhưng vẫn còn nhiều khó khăn, thách thức kinh tế vĩ mô ổn định chưa vững chắc; nợ công tăng nhanh, nợ xấu đang giảm dần nhưng còn ở mức cao, năng suất, chất lượng, hiệu quả, sức cạnh tranh kinh tế thấp. Tình hình chính trị - xã hội cơ bản ổn định; quốc phòng - an ninh được tăng cường; quan hệ đối ngoại không ngừng mở rộng, hội nhập kinh tế quốc tế và khu vực được tiến hành chủ động, đạt kết quả tốt.

Về khó khăn, thách thức: Bốn nguy cơ mà Đảng ta đã chỉ ra còn tồn tại, có mặt còn gay gắt hơn. Nguy cơ tụt hậu, rơi vào bẫy thu nhập trung bình còn lớn. Có biểu hiện chưa quan tâm đúng mức bảo đảm phát triển theo định hướng xã hội chủ nghĩa; phát triển văn hóa, bảo đảm phúc lợi xã hội, thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội trong phát triển kinh tế thị trường; chưa bảo đảm phát triển tổng thể, đồng bộ các vùng, miền, địa phương theo lợi thế so sánh và phát huy điều kiện kinh tế - xã hội đặc thù. Tham nhũng, lãng phí, quan liêu, suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong một bộ phận cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức và tệ quan liêu, tham nhũng, lãng phí diễn biến phức tạp. Các thế lực thù địch tiếp tục tăng cường chống phá Đảng, Nhà nước và đất nước ta.

Tình hình thế giới và trong nước có cả thuận lợi, thời cơ và khó khăn, thách thức đan xen, đặt ra nhiều vấn đề mới, yêu cầu mới nặng nề, phức tạp hơn đối với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, đòi hỏi toàn Đảng phải tiếp tục đổi mới mạnh mẽ tư duy, có quyết tâm chính trị cao, dự báo chính xác, kịp thời diễn biến của tình hình, chủ động ứng phó kịp thời với mọi tình huống, nỗ lực hơn nữa để tiếp tục đẩy mạnh toàn diện, đồng bộ công cuộc đổi mới, không ngừng gia tăng tiềm lực mọi mặt của quốc gia, bảo vệ vững chắc Tổ quốc và những thành quả phát triển đã đạt được, đưa đất nước vững bước tiến lên, phát triển nhanh và bền vững”[1].



[1] Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, tập 1, Nxb Chính trị quốc gia - Sự thật, Hà Nội - 2021, tr. 105-109.

Xuất phát từ quy luật dựng nước đi đôi với giữ nước của dân tộc và âm mưu thủ đoạn của kẻ thù

 


Đây là quy luật sinh tồn của mọi quốc gia dân tộc, không riêng Việt Nam. Tuy nhiên, từ đặc điểm Việt Nam là một quốc gia có vị trí quan trọng, thuận lợi về nhiều mặt ở khu vực Đông Nam Á, nên từ thuở các vua Hùng dựng nước đến nay, dân tộc ta gần phải liên tục chống giặc ngoại xâm, bảo vệ Tổ quốc. Suốt chiều dài lịch sử, dân tộc ta đã luôn luôn ở trong tư thế sẵn sàng chống ngoại xâm và phải liên tiếp đương đầu với nhiều cuộc chiến tranh xâm lược, phần lớn là của những quốc gia lớn mạnh, những đế quốc cường bạo. Từ cuộc kháng chiến chống quân xâm lược Tần đến cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, trong khoảng 22 thế kỷ, dân tộc ta đã phải tiến hành hàng chục cuộc chiến tranh giữ nước. Trong đó, dân tộc ta đã 10 lần chiến thắng oanh liệt, giữ vững nền độc lập dân tộc, hàng trăm cuộc khởi nghĩa, dần chuyển hóa, phát triển thành chiến tranh giải phóng, đưa đến thắng lợi cuối cùng là giải phóng hoàn toàn đất nước.

Bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa là một tất yếu khách quan còn xuất phát từ âm mưu và bản chất của kẻ thù đối với cách mạng nước ta. Kể từ sau đại thắng mùa Xuân năm 1975, mặc dù kẻ thù đã bị đánh bại, nhưng chúng vẫn chưa từ bỏ dã tâm xâm lược nước ta. Hiện nay, Việt Nam là mục tiêu trọng điểm trong chiến lược “Diễn biến hòa bình” của chủ nghĩa đế quốc và các thế lực thù địch nhằm vào các nước xã hội chủ nghĩa còn lại. Chúng nuôi dưỡng bọn phản động cách mạng trong nước, thành lập các tổ chức chính trị phản động ở nước ngoài trong một số những người Việt lưu vong, lợi dụng thời cơ tìm cách xâm nhập vào Việt Nam hòng phá hoại cách mạng nước ta. Khi chủ nghĩa xã hội ở Liên Xô ở Đông Âu sụp đổ, đặc biệt trong điều kiện cuộc cách mạng khoa học và công nghệ, kinh tế trí thức, quá trình hội nhập quốc tế diễn ra mạnh mẽ, sâu sắc. Trong khi đó, âm mưu cơ bản xuyên suốt của chủ nghĩa đế quốc và các thế lực thù địch đối với cách mạng nước ta không thay đổi, chúng ra sức đẩy mạnh chiến lược diễn biến hòa bình, âm mưu xoá bỏ chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam trên các lĩnh vực.

Quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và Đảng ta về bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa.

 


Kế thừa quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin về bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa, vận dụng sáng tạo vào thực tiễn cách mạng Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa là nhiệm vụ chiến lược của cách mạng Việt Nam. Trong bản “Tuyên ngôn độc lập”, Người chỉ rõ: “Nước Việt Nam có quyền hưởng tự do và độc lập, và sự thực đã thành một nước tự do và độc lập. Toàn thể dân Việt Nam quyết đem tất cả tinh thần và lực lượng, tính mệnh và của cải để giữ vững quyền tự do và độc lập ấy”[1]. Người còn căn dặn cán bộ, chiến sĩ Đại đoàn 308 tại Đền Thượng (Đền Hùng) ngày 19/9/1954: “Các vua Hùng đã có công dựng nước, bác cháu ta phải cùng nhau giữ lấy nước”[2].

Ngay sau đó, trong “Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến” đêm ngày 19/12/1946, Người viết: “Chúng ta thà hy sinh tất cả, chứ nhất định không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô lệ”[3]; “Dân Việt Nam yêu chuộng hòa bình. Nhưng nếu cần phải hy sinh mấy triệu chiến sĩ, nếu cần phải kháng chiến bao nhiêu năm để giữ gìn quyền độc lập của Việt Nam, để cho con cháu Việt Nam khỏi kiếp nô lệ, thì chúng ta vẫn kiên quyết hy sinh và kháng chiến”[4]; “Hễ còn chủ nghĩa đế quốc thì nguy cơ chiến tranh vẫn còn. Cho nên chúng ta phải luôn luôn cảnh giác và đề phòng, quyết không được chủ quan khinh địch”[5]; “Vừa kháng chiến, vừa kiến quốc”; vừa kiến thiết, xây dựng đất nước vừa bảo vệ Tổ quốc; “Không có gì quý hơn độc lập, tự do”. Trong lời Di chúc cuối cùng Người căn dặn: Cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước có thể còn kéo dài. Đồng bào ta có thể phải hi sinh nhiều của, nhiều người. Dù sao chúng ta cũng phải quyết tâm đánh thắng giặc Mỹ đến thắng lợi hoàn toàn. Tư tưởng về bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa của Hồ Chí Minh còn được thể hiện sâu sắc trong tư tưởng của người về quân sự, về xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân.

Đảng Cộng sản Việt Nam khẳng định xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa là hai nhiệm vụ chiến lược, gắn bó hữu cơ với nhau. Trong khi đặt lên hàng đầu nhiệm vụ xây dựng đất nước, nhân dân ta luôn đề cao cảnh giác, củng cố quốc phòng, bảo vệ an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội, bảo vệ tổ quốc và thành quả cách mạng. Đảng ta xác định: “… bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc, bảo vệ Đảng, Nhà nước, nhân dân và chế độ xã hội chủ nghĩa, nền văn hóa và lợi ích quốc gia - dân tộc; giữ vững môi trường hòa bình, ổn định chính trị, an ninh quốc gia, an ninh con người; xây dựng xã hội trật tự, kỷ cương, an toàn, lành mạnh để phát triển đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa”[6].



[1] Hồ Chí Minh, Toàn tập, tập 4, Nxb Chính trị quốc gia - Sự thật, Hà Nội - 2011, tr. 3.

[2] Hồ Chí Minh, Toàn tập, tập 9, Nxb Chính trị quốc gia - Sự thật, Hà Nội - 2011, tr. 59.

[3] Hồ Chí Minh, Toàn tập, tập 4, Nxb Chính trị quốc gia - Sự thật, Hà Nội - 2011, tr. 534, 104.

[4] Hồ Chí Minh, Toàn tập, tập 4, Nxb Chính trị quốc gia - Sự thật, Hà Nội - 2011, tr. 534, 104.

[5] Hồ Chí Minh, Toàn tập, tập 4, Nxb Chính trị quốc gia - Sự thật, Hà Nội - 2011, tr. 534, 104.

[6] Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, tập 1, Nxb. CTQG - Sự thật, Hà Nội - 2021, tr.156.

Xuất phát từ bản chất, âm mưu, thủ đoạn của chủ nghĩa đế quốc và các thế lực thù địch trong sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc

 


Với bản chất hiếu chiến, xâm lược, phản động toàn diện, chủ nghĩa đế quốc và các thế lực thù địch không từ bỏ âm mưu xóa bỏ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa với nhiều thủ đoạn như gây nội chiến và vũ trang xâm lược, thực hiện chiến lược “Diễn biến hòa bình”. Sau thắng lợi của cách mạng xã hội chủ nghĩa, giai cấp tư sản trong nước tuy đã bị đánh đổ về mặt chính trị, nhưng chúng vẫn chưa từ bỏ tham vọng muốn quay trở lại địa vị thống trị đã mất, nên chúng tìm mọi cách liên kết với các phần tử phản động và chủ nghĩa tư bản bên ngoài, hòng lật đổ chính quyền cách mạng còn non trẻ của giai cấp công nhân.

Lịch sử đã chứng minh sau thắng lợi Cách mạng xã hội chủ nghĩa tháng Mười Nga năm 1917, 14 nước đế quốc tập trung bao vây hòng tiêu diệt nước Nga Xô viết. Trong nước, bọn phản động nổi lên khắp nơi gây nên cuộc nội chiến thảm khốc (1918-1921). Và sau này, nhân dân Liên Xô phải chống trả quyết liệt chủ nghĩa phát xít, bảo vệ thành công tổ quốc xã hội chủ nghĩa (1941-1945). Từ khi chủ nghĩa xã hội phát triển thành hệ thống thế giới, thì sự chống phá của kẻ thù càng quyết liệt hơn như cuộc chiến tranh ở Triều Tiên, các cuộc bạo loạn phản cách mạng để lật đổ nhà nước xã hội chủ nghĩa ở Hunggari, Tiệp Khắc, Ba Lan và ở hòn đảo tự do Cuba vào những năm giữa của thế kỷ XX. Cuối những năm 80, đầu những năm 90 thế kỷ XX đến nay, chúng đã đẩy mạnh chiến lược “diễn biến hòa bình”, bạo loạn lật đổ, thậm chí sẵn sàng tiến hành chiến tranh xâm lược, sử dụng vũ khí công nghệ cao, chống phá toàn diện, hòng làm tan rã các nước xã hội chủ nghĩa theo mô hình xô viết ở Đông Âu và Liên Xô. Sự sụp đổ của chủ nghĩa xã hội hiện thực ở Liên Xô và Đông Âu là một tổn thất của phong trào cách mạng thế giới, song nó cũng để lại cho các nước xã hội chủ nghĩa bài học sâu sắc là xây dựng chủ nghĩa xã hội phải gắn liền với bảo vệ tổ quốc xã hội chủ nghĩa.

 

Vai trò, trách nhiệm của Quân đội nhân dân Việt Nam trong sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa hiện nay

 


Bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa là nhiệm vụ trọng yếu, thường xuyên của Đảng, Nhà nước, của cả hệ thống chính trị và toàn dân, trong đó Quân đội nhân dân và Công an nhân dân là nòng cốt. Trong thời chiến, Quân đội là lực lượng chiến đấu chủ yếu, giải quyết và quyết định mọi vấn đề trên chiến trường, đánh đuổi giặc ngoại xâm và đập tan mọi thế lực phản động, thù địch. Trong thời bình, đối với nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa hiện nay, là củng cố quốc phòng, giữ vững an ninh quốc gia, ổn định chính trị, trật tự, an toàn xã hội là nhiệm vụ trọng yếu, thường xuyên của Đảng, Nhà nước, của cả hệ thống chính trị và toàn dân, trong đó Quân đội nhân dân và Công an nhân dân là nòng cốt.

Trong bảo vệ Tổ quốc, vai trò của Quân đội còn được thể hiện là lực lượng chính trị tin cậy và tuyệt đối trung thành với Đảng, với Nhà nước và nhân dân. Vai trò của Quân đội còn được thể hiện thông qua chính các chức năng, nhiệm vụ của Quân đội là đội quân chiến đấu, đội quân sản xuất, đội quân công tác. Hiện nay, Quân đội còn là lực lượng quan trọng tham gia tích cực trên mọi nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội, xoá đói giảm nghèo, cứu hộ cứu nạn, ứng phó với thiên tai, bão lũ, tình huống bất thường về tự nhiên và xã hội của đất nước; xây dựng cơ sở chính trị trên các địa bàn trọng yếu; đoàn kết, tập hợp và vận động nhân dân, đồng bào các dân tộc, tôn giáo, các đoàn thể xã hội cùng với hệ thống chính trị xây dựng nền quốc phòng toàn dân và an ninh nhân dân, tăng cường thế trận chiến tranh nhân dân trên mọi miền của Tổ quốc.

Quân đội nhân dân Việt Nam luôn là chỗ dựa vững chắc cho toàn dân bảo vệ Tổ quốc, đồng thời là lực lượng chủ yếu thực hiện chức năng tham mưu cho Đảng, Nhà nước hoạch định mọi đường lối chiến lược, sách lược về quốc phòng, an ninh, bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới. Trên từng địa phương, các cơ quan quân sự, các đơn vị quân đội đóng quân trên các địa bàn là lực lượng chủ yếu tham mưu cho Đảng ủy, chính quyền địa phương các cấp đề ra chủ trương, kế hoạch phòng thủ, xây dựng tiềm lực kinh tế, chính trị, quốc phòng - an ninh của địa phương, bảo vệ cuộc sống hòa bình, lao động và sản xuất của nhân dân.

Quân đội còn trực tiếp thực hiện chức năng đối ngoại quân sự, quốc phòng góp phần tăng thêm tình đoàn kết, hữu nghị, hòa bình và hiểu biết với Quân đội các nước láng giềng và có quan hệ truyền thống, với Quân đội các nước trong khu vực và quốc tế; đấu tranh quốc phòng, bảo vệ Tổ quốc từ xa, ngăn chặn các âm mưu, thủ đoạn chống phá đất nước của các thế lực phản động, thù địch từ bên ngoài lãnh thổ.

Trước yêu cầu, nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới, đòi hỏi phải xây dựng Quân đội vững mạnh về mọi mặt, trong đó cần tập trung xây dựng Quân đội nhân dân cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại, ưu tiên hiện đại hóa một số quân chủng, binh chủng, lực lượng; vững mạnh về chính trị, nâng cao chất lượng tổng hợp sức mạnh chiến đấu, tuyệt đối trung thành với Tổ quốc, với Đảng, Nhà nước và nhân dân, được nhân dân tin yêu.

Chủ động đấu tranh làm thất bại mọi âm mưu, hoạt động chống phá của các thế lực thù địch; ngăn chặn, phản bác những thông tin và luận điệu sai trái; sẵn sàng ứng phó với các mối đe doạ an ninh phi truyền thống. Kiên quyết bảo vệ độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ, bảo vệ vững chắc biên giới và chủ quyền biển, đảo, vùng trời của Tổ quốc; đồng thời giữ vững môi trường hòa bình, ổn định để phát triền bền vững đất nước.

Tăng cường sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng, sự quản lý tập trung, thống nhất và hiệu quả của Nhà nước đối với Quân đội nhân dân và sự nghiệp quốc phòng, an ninh. Đẩy mạnh công tác nghiên cứu khoa học, nghệ thuật quân sự, đánh thắng chiến tranh bằng vũ khí công nghệ cao của các lực lượng thù địch. Quán triệt sâu sắc và tổ chức thực hiện tốt Chiến lược bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa trong tình hình mới trên từng cương vị, chức trách được giao là trách nhiệm chính trị lớn lao trước Đảng, Tổ quốc và nhân dân của mọi cấp lãnh đạo, chỉ huy trong Quân đội, trong đó đội ngũ cán bộ chính trị, nhất là chính ủy các cấp trong Quân đội nhân dân Việt Nam có vai trò rất quan trọng.

Trong tình hình mới, bên cạnh thực hiện tốt các mục tiêu, nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc mà Đảng, Nhà nước, Quân đội và đơn vị đã xác định, cần hết sức bình tĩnh, tỉnh táo, linh hoạt, giữ vững nguyên tắc trong lãnh đạo, chỉ đạo việc sử dụng lực lượng, xử lý các tình huống có liên quan đến quốc phòng, an ninh ở những vùng, địa bàn chiến lược, xung yếu, nơi biên giới, biển, đảo; vừa nêu cao tinh thần chính nghĩa, đoàn kết, hợp tác quốc tế, quan điểm giữ vững hòa bình, ổn định để phát triển của đất nước, vừa kiên quyết bảo vệ bằng được những mục tiêu không thể mất của đất nước; tránh bị khiêu khích, mắc mưu của kẻ thù, bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền lãnh thổ của Tổ quốc.

Phát triển kinh tế, xã hội; phát huy sức mạnh đại đoàn kết dân tộc

 


 Đây là nhiệm vụ quan trọng nhằm tạo sức mạnh tổng hợp của đất nước cho sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc. Phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa; bảo đảm vai trò chủ đạo thực sự của kinh tế nhà nước; giữ vững ổn định kinh tế không để xảy ra rối loạn về kinh tế. Kết hợp chặt chẽ phát triển kinh tế với bảo đảm quốc phòng, an ninh. Tập trung đầu tư, nâng cao hiệu quả các khu kinh tế quốc phòng trọng điểm trên các vùng biển, đảo, các vành đai biên giới, các địa bàn xung yếu. Tạo sự chuyển biến mạnh mẽ về phát triển kinh tế - xã hội, nâng cao đời sống của nhân dân các vùng Tây Bắc, Tây Nguyên, Tây Nam Bộ, các vùng căn cứ cách mạng, kháng chiến cũ.

Xây dựng con người Việt Nam phát triển toàn diện, có tinh thần yêu nước, ý thức tự lực tự cường, lý tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội... Xây dựng nền văn hóa lành mạnh. Tăng cường giáo dục truyền thống lịch sử, văn hóa dân tộc, nhất là cho thế hệ trẻ. Kiên quyết ngăn chặn sự xâm lăng văn hóa, xâm nhập các sản phẩm văn hóa độc hại, các khuynh hướng thẩm mỹ lệch lạc. Chấn chỉnh kịp thời những sai phạm trong hoạt động báo chí, thông tin truyền thông; tăng cường công tác bảo đảm an ninh an toàn thông tin.

Tăng cường sự lãnh đạo, chỉ đạo của các cấp ủy đảng, chính quyền, Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể nhân dân đối với việc củng cố và phát huy sức mạnh khối đại đoàn kết toàn dân tộc trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Thực hiện tốt dân chủ cơ sở, tôn trọng nhân dân, kiên quyết đấu tranh với tệ quan liêu, ức hiếp, vi phạm quyền làm chủ của nhân dân và các hoạt động chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân tộc, xây dựng khu vực phòng thủ vững chắc.

Tăng cường tiềm lực quốc phòng, an ninh của đất nước, coi trọng xây dựng tiềm lực chính trị, tinh thần, thế trận lòng dân; kết hợp chặt chẽ thế trận quốc phòng toàn dân với thế trận an ninh nhân dân. Nâng cao chất lượng công tác giáo dục bồi dưỡng kiến thức quốc phòng, an ninh cho cán bộ, đảng viên và các tầng lớp nhân dân. Chủ động nắm chắc tình hình, đánh giá và dự báo đúng các tình huống phức tạp có thể xảy ra, đặc biệt là trên vùng biển đảo, biên giới và các địa bàn chiến lược, trọng điểm. Khắc phục tình trạng lộ, lọt thông tin mật của Đảng, Nhà nước. Tiếp tục: “Xây dựng Quân đội nhân dân, Công an nhân dân cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại, một số quân chủng, binh chủng, lực lượng tiến thẳng lên hiện đại. Đến năm 2025, cơ bản xây dựng Quân đội, Công an tinh, gọn, mạnh, tạo tiền đề vững chắc, phấn đấu năm 2030 xây dựng Quân đội nhân dân, Công an nhân dân cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại; vững mạnh về chính trị, tư tưởng, đạo đức, tổ chức và cán bộ”[1].



[1] Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, tập I, Nxb Chính trị quốc gia - Sự thật, Hà Nội - 2021, tr.157-158.

Nâng cao chất lượng công tác xây dựng Đảng, bảo vệ Đảng, bảo vệ an ninh nội bộ, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa.

 


 Đây là nhiệm vụ và giải pháp quan trọng hàng đầu quyết định thắng lợi sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc. Do vậy, ngoài việc tiếp tục đẩy mạnh thực hiện Nghị quyết Trung ương 4 khóa XI, Nghị quyết Trung ương 4 khóa XII, Kết luận số 21-KL/TW, ngày 25/10/2021 về: “Đẩy mạnh xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị; kiên quyết ngăn chặn, đẩy lùi, xử lý nghiêm cán bộ, đảng viên suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, có biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” phải luôn chú trọng xây dựng Đảng về chính trị; đổi mới công tác tư tưởng lý luận; tăng cường rèn luyện phẩm chất đạo đức cách mạng, chống chủ nghĩa cá nhân, cơ hội, thực dụng; tiếp tục đổi mới, kiện toàn bộ máy của Đảng và hệ thống chính trị, nâng cao chất lượng đảng viên; đổi mới mạnh mẽ công tác cán bộ, coi trọng công tác bảo vệ chính trị nội bộ; đổi mới, nâng cao hiệu lực, hiệu quả công tác kiểm tra, giám sát, kỷ luật đảng; tiếp tục đổi mới, nâng cao hiệu quả công tác dân vận, tăng cường quan hệ mật thiết giữa Đảng với nhân dân; đẩy mạnh đấu tranh phòng, chống tham nhũng, lãng phí; đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng; xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân. Tăng cường sự lãnh đạo của các cấp ủy Đảng, các cấp chính quyền đối với  nhiệm vụ bảo vệ tổ quốc, quốc phòng - an ninh.

Phương châm chỉ đạo bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa

 


Phát huy mạnh mẽ sức mạnh tổng hợp toàn dân tộc, của cả hệ thống chính trị, tranh thủ tối đa sự đồng tình, ủng hộ của cộng đồng quốc tế, kiên quyết, kiên trì mục tiêu nguyên tắc chiến lược, đi đôi với sự vận dụng linh hoạt sách lược, tranh thủ sự ủng hộ rộng rãi của nhân dân trong nước và dư luận quốc tế, cô lập, phân hóa các phần tử chống đối. Kiên trì giải quyết tranh chấp, mâu thuẫn bằng biện pháp hòa bình trên cơ sở bảo đảm lợi ích quốc gia - dân tộc, phù hợp với luật pháp quốc tế; có đối sách phù hợp với từng đối tượng, từng tình huống. Đối với nội bộ, lấy việc phát huy dân chủ, giáo dục, thuyết phục, phòng ngừa là chính, đi đôi với giữ gìn kỷ cương, kỷ luật, xử lý nghiêm minh các sai phạm, kiên quyết đối với những phần tử cầm đầu, ngoan cố. Đối với các thế lực thù địch kiên trì giải quyết bằng các biện pháp hòa bình, đồng thời sẵn sàng có giải pháp thích hợp, kể cả bắt buộc phải tiến hành đấu tranh vũ trang để bảo vệ chủ quyền và lợi ích quốc gia - dân tộc; kịp thời ngăn chặn, xử lý, chủ động đấu tranh với các âm mưu, hoạt động “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch.

Thường xuyên bám sát cơ sở, nắm chắc tình hình, xử lý kịp thời mọi mầm mống gây mất an ninh, không để bị động, bất ngờ. Kết hợp giữa đấu tranh vũ trang và đấu tranh phi vũ trang, kết hợp xây dựng với bảo vệ, lấy xây dựng để bảo vệ Tổ quốc. Có kế sách ngăn ngừa các nguy cơ chiến tranh, xung đột từ sớm, từ xa; chủ động phòng ngừa, phát hiện sớm và triệt tiêu các nhân tố bất lợi, nhất là các nhân tố bên trong có thế gây ra đột biến; cụ thể hóa quan điểm chủ động bảo vệ Tổ quốc từ thời bình, giữ nước từ lúc nước chưa nguy; phát triển, hoàn thiện quan điểm “tự bảo vệ” trong điều kiện mới. Đảng ta xác định: “Chủ động ngăn ngừa các nguy cơ chiến tranh, xung đột từ sớm, từ xa; kiên quyết, kiên trì bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc; bảo đảm an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội”[1]



[1] Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, tập 1, Nxb Chính trị quốc gia - Sự thật, Hà Nội - 2021, tr. 38.

Kiên định mục tiêu độc lập dân tộc gắn với chủ nghĩa xã hội; lấy việc giữ vững môi trường hòa bình, ổn định để phát triển kinh tế - xã hội là lợi ích cao nhất của Tổ quốc

 


Đây là quan điểm thể hiện định hướng mục tiêu, lợi ích và phương hướng bảo vệ Tổ quốc. Độc dân tộc và chủ nghĩa xã hội là mục tiêu, lý tưởng và là ngọn cờ chiến đấu của toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta. Độc lập dân tộc là điều kiện tiên quyết để thực hiện chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa xã hội là cơ sở bảo đảm vững chắc cho độc lập dân tộc. Mọi nội dung, nhiệm vụ, phương thức bảo vệ Tổ quốc đều phải hướng đến và thực hiện mục tiêu bao quát có tính định hướng này. Lợi ích cao nhất của toàn thể dân tộc Việt Nam hiện nay là phát triển kinh tế - xã hội. Vì vậy, mọi tư tưởng và hành động, phương pháp và cách thức bảo vệ Tổ quốc đều phải nắm vững quan điểm giữ vững môi trường hòa bình và ổn định; làm cho môi trường này ngày càng tiến triển tốt hơn. Giữ vững môi trường hòa bình, ổn định chính trị vừa là mục tiêu chiến lược lâu dài vừa là phương thức, sách lược quan trọng hàng đầu trong bảo vệ Tổ quốc và là cơ sở tạo điều kiện thuận lợi cho phát triển kinh tế - xã hội.

Giữ vững vai trò lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp, về mọi mặt của Đảng đối với sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc

 


Đây là quan điểm mang tính nguyên tắc, quyết định và chỉ đạo toàn bộ sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc; là sự khẳng định vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản đối với toàn bộ quá trình thực hiện sứ mệnh lịch sử thế giới của giai cấp công nhân mà chủ nghĩa Mác - Lênin, học thuyết bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa của V.I.Lênin đã chỉ ra. Quan điểm này là cơ sở tiền đề, định hướng và chỉ đạo việc xác định các mục tiêu, nội dung, phương châm và nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc Việt Nam trong tình hình mới. Như Đảng ta đã khẳng định: “Giữ vững và tăng cường sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng, sự quản lý, tập trung thống nhất của Nhà nước đối với Quân đội nhân dân, Công an nhân dân và sự nghiệp quốc phòng, an ninh”[1].



[1] Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, tập 1, Nxb Chính trị quốc gia - Sự thật, Hà Nội - 2021, tr. 160.

Từ quy luật sinh tồn trong sự phát triển của mọi quốc gia dân tộc.

 


Từ khi xã hội loài người xuất hiện, cuộc sống và các hoạt động xây dựng của con người luôn đặt ra yêu cầu khách quan phải có hoạt động bảo vệ, chống lại lực lượng phá hoại. Khi xã hội xuất hiện sự phân chia giai cấp, hình thành các giai cấp và nhà nước, Tổ quốc ra đời, xuất hiện yêu cầu tự vệ, tự bảo vệ - hành động bảo vệ tổ quốc xuất hiện. Ở thời kỳ sơ khai, các tổ quốc luôn tiềm ẩn các mâu thuẫn giai cấp, lúc đầu đơn thuần chỉ là tự phát xâm lấn, lan toả, mở rộng môi trường sống, sau là các hành động tự giác, có tổ chức, đẩy mạnh cướp bóc, tước đoạt, đỉnh cao là các cuộc chiến tranh xâm lược, thôn tính, đô hộ, tiêu diệt, huỷ diệt hay đồng hóa lẫn nhau giữa các dân tộc này với dân tộc khác, giữa các tập đoàn người này với tập đoàn người khác. Trước nhu cầu phát triển của sản xuất, tăng trưởng kinh tế, mở rộng thị trường, cùng với sự gia tăng các xung đột lợi ích giai cấp và lợi ích dân tộc khác biệt, thậm chí đối lập nhau, nên bất kỳ quốc gia nào cũng nhất thiết phải chăm lo dựng nước gắn liền với giữ nước, phải thường xuyên coi trọng nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc.

Tổ quốc xã hội chủ nghĩa- môi trường của sự phát triển

 


Tổ quốc xã hội chủ nghĩa là một loại hình tổ quốc mà trong đó giai cấp công nhân và nhân dân lao động thiết lập chế độ xã hội chủ nghĩa, ra đời gắn liền với thắng lợi của cách mạng xã hội chủ nghĩa, là thành quả cách mạng của giai cấp công nhân và nhân dân lao động.

Tổ quốc xã hội chủ nghĩa là một loại hình tổ quốc phát triển cao nhất trong lịch sử, ra đời, tồn tại, phát triển gắn liền với thắng lợi của cách mạng xã hội chủ nghĩa. Tổ quốc xã hội chủ nghĩa nó cũng bao gồm hai phương diện tự nhiên và chính trị - xã hội như bao tổ quốc khác đang tồn tại, song về phương diện chính trị - xã hội, tổ quốc xã hội chủ nghĩa ưu việt hơn nhiều.

Tổ quốc xã hội chủ nghĩa ra đời là thành quả đấu tranh cách mạng của giai cấp công nhân, được xây dựng trên cơ sở chế độ chính trị xã hội chủ nghĩa. Sau thắng lợi của cách mạng xã hội chủ nghĩa, Tổ quốc xã hội chủ nghĩa bắt đầu hình thành và không ngừng phát triển cùng với công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội. Tổ quốc xã hội chủ nghĩa chính là môi trường tự nhiên và xã hội thuận lợi để giai cấp công nhân, nhân dân lao động phát triển toàn diện.

Tổ quốc xã hội chủ nghĩa khác hẳn về chất so với các loại hình tổ quốc đã có trong lịch sử, với những đặc trưng: Tổ quốc do giai cấp công nhân và nhân dân lao động làm chủ, nền tảng xã hội là liên minh giữa giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và tầng lớp trí thức, do Đảng Cộng sản lãnh đạo, thực hiện chủ yếu thông qua nhà nước xã hội chủ nghĩa; có nền kinh tế phát triển cao dựa trên lực lượng sản xuất hiện đại và chế độ công hữu về các tư liệu sản xuất chủ yếu của xã hội; xây dựng nền văn hóa xã hội chủ nghĩa; con người được giải phóng khỏi sự áp bức bóc lột, bất công, làm theo năng lực hưởng theo lao động, có cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc, có điều kiện phát triển toàn diện cá nhân; các dân tộc trong nước bình đẳng, đoàn kết, và giúp đỡ nhau cùng tiến bộ; có quan hệ hữu nghị hợp tác với nhân dân tất cả các nước trên thế, trung thành với chủ nghĩa quốc tế của giai cấp công nhân. Những đặc trưng trên từng bước được hình thành và ngày càng được thiết lập vững chắc và đồng thời vừa là mục tiêu, vừa là động lực cơ bản của sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ tổ quốc xã hội chủ nghĩa.

Quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin. về bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa.

Trong thời kỳ C.Mác và Ph.Ăngghen, chủ nghĩa tư bản đang phát triển, tổ quốc xã hội chủ nghĩa chưa xuất hiện nhưng vấn đề đấu tranh giành chính quyền, bảo vệ chính quyền cách mạng được các ông coi là nhiệm vụ quan trọng trong suốt tiến trình cách mạng xã hội chủ nghĩa. Các ông đã chứng minh rằng, dưới sự thống trị của giai cấp tư sản, giai cấp công nhân không có tổ quốc. Cái tổ quốc mà giai cấp tư sản rêu rao, thực chất đó là tổ quốc của giai cấp tư sản. Do đó, giai cấp công nhân không phải bảo vệ cái mà họ không có, đó là tổ quốc của giai cấp tư sản. Trái lại, để giải phóng mình và giải phóng toàn xã hội, giai cấp công nhân phải đứng lên đấu tranh lật đổ quyền lực thống trị của giai cấp tư sản, phải giành lấy chính quyền, giành lấy dân chủ, trở thành giai cấp thống trị xã hội, trở thành giai cấp dân tộc, đại biểu cho dân tộc. Với tư cách là người đại diện cho dân tộc, giai cấp công nhân là người đại diện cho tổ quốc, họ có nhiệm vụ phải đẩy lùi sự tấn công của bọn phản cách mạng để bảo vệ những thành quả cách mạng đã đạt được, bảo vệ tổ quốc của mình. Trong “Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản”, C.Mác viết: “Công nhân không có tổ quốc. Người ta không thể cướp của họ cái mà họ không có. Vì giai cấp vô sản mỗi nước trước hết phải giành lấy chính quyền, phải tự vươn lên thành giai cấp thành dân tộc”[1] để thiết lập nên Tổ quốc xã hội chủ nghĩa.

Kế thừa tư tưởng của C.Mác, Ph.Ăngghen, V.I.Lênin đưa ra quan điểm Bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa. Thời kỳ V.I.Lênin, chủ nghĩa tư bản đã phát triển và chuyển thành chủ nghĩa đế quốc, quy luật phát triển không đều của chủ nghĩa tư bản đã bộc lộ rõ, giai cấp tư sản không còn giữ vai trò trung tâm và ngày càng bộc lộ rõ bản chất xâm lược và hiếu chiến, những mâu thuẫn nội tại trong lòng chủ nghĩa tư bản ngày càng sâu sắc. Chủ nghĩa cơ hội, xét lại trong quốc tế II phát triển mạnh và ủng hộ giai cấp tư sản tiến hành chiến tranh đế quốc, những tiền đề kinh tế, chính trị và xã hội đã tích tụ chín muồi, tạo tiền đề cho cách mạng xã hội chủ nghĩa nổ ra và giành thắng lợi, trước hết là ở nước Nga - khâu yếu nhất trong sợi dây chuyền của chủ nghĩa đế quốc.

V.I.Lênin đã phát triển tư tưởng của C.Mác, Ph.Ăngghen về bảo vệ tổ quốc thành Học thuyết bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa. Người khẳng định tất yếu phải bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa. Theo V.I.Lênin, để bảo vệ thành quả cách mạng đã giành được, giai cấp vô sản tất yếu phải cầm vũ khí chiến đấu bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa. Cuộc chiến tranh bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa là cuộc chiến tranh chính nghĩa và chiến tranh tự vệ. Người chỉ rõ nếu chúng ta “Không cầm vũ khí bảo vệ nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa, thì chúng ta không thể tồn tại được. Giai cấp thống trị không bao giờ nhường chính quyền cho giai cấp bị trị. Nhưng giai cấp bị trị phải chứng minh trên thực tế rằng họ không những có khả năng lật đổ bóc lột, mà còn có khả năng tự tổ chức, huy động hết thảy để tự bảo vệ lấy mình”[2].

Từ thực tiễn công cuộc đấu tranh bảo vệ chính quyền Xô viết non trẻ, bảo vệ Nhà nước xã hội chủ nghĩa đầu tiên trên thế giới. Ngay sau khi cách mạng xã hội chủ nghĩa Tháng Mười Nga thành công, chủ nghĩa đế quốc tìm mọi cách tiêu diệt nhà nước xã hội chủ nghĩa đầu tiên trên thế giới. V.I.Lênin đã chứng minh tính tất yếu khách quan phải bảo vệ thành quả cách mạng của giai cấp vô sản chống lại sự tấn công vũ trang của nhà nước tư bản, đế quốc. Người khẳng định: “Kể từ ngày 25 Tháng Mười năm 1917, chúng ta là những người chủ trương bảo vệ tổ quốc. Chúng ta tán thành “bảo vệ tổ quốc”, nhưng cuộc chiến tranh giữ nước mà chúng ta đang đi tới, là một cuộc chiến tranh bảo vệ tổ quốc xã hội chủ nghĩa, bảo vệ chủ nghĩa xã hội với tính cách là tổ quốc, bảo vệ nước Cộng hòa Xô viết, với tính cách là một đơn vị trong đạo quân thế giới của chủ nghĩa xã hội[3]. Đồng thời, Người nhấn mạnh nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa đi đôi với nhiệm vụ xây dựng chủ nghĩa xã hội. V.I.Lênin khẳng định: “Một khi chúng ta đã bắt tay vào công cuộc hòa bình kiến thiết của chúng ta, thì chúng ta sẽ đem hết sức mình ra để tiếp tục tiến hành công cuộc đó không ngừng. Đồng thời, các đồng chí ạ, hãy đề phòng hãy chăm lo đến khả năng quốc phòng của nước ta và của Hồng quân ta như chăm lo con ngươi của mắt mình”[4].



[1] C. Mác, Ph. Ăngghen, Toàn tập, tập 4, Nxb Chính trị quốc gia - Sự thật, Hà Nội - 2002, tr. 623.

[2] V. I. Lênin, Toàn tập, tập 38, Nxb Chính trị quốc gia - Sự thật, Hà Nội - 2005, tr. 165.

[3] V. I. Lênin, Toàn tập, tập 36, Nxb Chính trị quốc gia - Sự thật, Hà Nội - 2005, tr. 102.

[4] V. I. Lênin, Toàn tập, tập 44, Nxb Chính trị quốc gia - Sự thật, Hà Nội - 2005, tr. 368.