Thứ Năm, 25 tháng 9, 2025

VẬN DỤNG TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ “NƯỚC LẤY DÂN LÀM GỐC” VÀO XÂY DỰNG “THẾ TRẬN LÒNG DÂN”, CỦNG CỐ QUỐC PHÒNG, BẢO VỆ VỮNG CHẮC TỔ QUỐC VIỆT NAM XÃ HỘI CHỦ NGHĨA TRONG GIAI ĐOẠN MỚI.

     Tư tưởng “nước lấy dân làm gốc” của Chủ tịch Hồ Chí Minh có vị trí đặc biệt quan trọng, là sợi chỉ đỏ xuyên suốt quá trình lãnh đạo cách mạng của Đảng ta. Tư tưởng đó là sự kế thừa, phát huy truyền thống lịch sử hàng nghìn năm dựng nước, giữ nước của dân tộc và quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lê-nin về vai trò của nhân dân trong lịch sử; cần tiếp tục được vận dụng sáng tạo vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc trong giai đoạn mới.

Tư tưởng Hồ Chí Minh và quan điểm của Đảng ta về “nước lấy dân làm gốc”

Tư tưởng “nước lấy dân làm gốc” của Chủ tịch Hồ Chí Minh thể hiện trên hai phương diện cơ bản: Một là, Người chỉ rõ, mọi hoạt động của Đảng, Nhà nước phải xuất phát từ nguyện vọng, lợi ích chính đáng của nhân dân; phải tôn trọng và bảo vệ lợi ích chính đáng của nhân dân, vì nhân dân phục vụ. Bởi lẽ, nhân dân là người chủ thực sự của đất nước, là lực lượng lao động cơ bản của xã hội, chủ thể sáng tạo lịch sử; là lực lượng quyết định sự thành bại của cách mạng; nếu không có quần chúng nhân dân thì không có lịch sử nào cả. Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ: “Cách mạng là sự nghiệp của quần chúng, chứ không phải là sự nghiệp của cá nhân anh hùng nào”. Hai là, phát huy trách nhiệm của nhân dân trong sự nghiệp cách mạng, Người yêu cầu mỗi tổ chức đảng và từng cán bộ, đảng viên phải gần dân, lắng nghe dân, thấu hiểu dân để đề ra chủ trương, chính sách đúng đắn, hợp lòng dân và tổ chức, lãnh đạo, động viên nhân dân thực hiện. Khi trở thành đảng cầm quyền, tất cả đường lối, chủ trương của Đảng đều phải nhằm nâng cao đời sống của nhân dân, trước hết là làm cho nhân dân có ăn, có mặc, có chỗ ở, được học hành. Cán bộ, đảng viên phải gắn bó mật thiết với nhân dân, tôn trọng và bảo vệ lợi ích hợp pháp, chính đáng của nhân dân, tuyên truyền, vận động nhân dân thực hiện thắng lợi chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; phải lấy việc phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân là mục đích, lẽ sống, niềm vui, hạnh phúc của mình, “tuyệt đối không được lên mặt “quan cách mạng” ra lệnh ra oai”. Có như vậy, “gốc” mới vững, mới bảo đảm cách mạng đi đến thắng lợi.

Trong lĩnh vực quân sự, với tư tưởng “nước lấy dân làm gốc”, Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ, lực lượng tham gia hoạt động quân sự là toàn dân; bởi vì, sức mạnh của nhân dân là vô cùng to lớn, có vai trò quyết định đến thắng lợi. Theo Người, mọi người dân đều có thể tham gia hoạt động trên lĩnh vực quân sự, không phân biệt giới tính, độ tuổi; tất cả các tầng lớp nhân dân trong xã hội đều tham gia đánh giặc bằng mọi vũ khí, từ thô sơ đến hiện đại, bằng mọi cách đánh trên các địa bàn chiến lược. Chúng ta tiến hành đánh địch bằng mọi lực lượng, như bộ đội chủ lực, bộ đội địa phương, dân quân tự vệ, kết hợp giữa chiến tranh du kích và chiến tranh chính quy, kết hợp giữa đánh lớn, đánh vừa, đánh nhỏ,... Người nói: “Bất kỳ đàn ông, đàn bà, bất kỳ người già, người trẻ, không chia tôn giáo, đảng phái, dân tộc. Hễ là người Việt Nam thì phải đứng lên đánh thực dân Pháp để cứu Tổ quốc. Ai có súng dùng súng. Ai có gươm dùng gươm, không có gươm thì dùng cuốc, thuổng, gậy gộc”. Trong cuộc kháng chiến chống đế quốc Mỹ, cứu nước, Chủ tịch Hồ Chí Minh kêu gọi: “31 triệu đồng bào ta ở cả hai miền, bất kỳ già trẻ, gái trai, phải là 31 triệu chiến sĩ anh dũng diệt Mỹ, cứu nước, quyết giành thắng lợi cuối cùng”.

Tư tưởng “nước lấy dân làm gốc” của Chủ tịch Hồ Chí Minh có giá trị to lớn cả về lý luận và thực tiễn, góp phần làm phong phú kho tàng lý luận của chủ nghĩa Mác - Lê-nin về vai trò của quần chúng nhân dân trong lịch sử. Đồng thời, tư tưởng đó của Người còn là cơ sở quan trọng để Đảng ta đề ra đường lối cách mạng đúng đắn, lấy quyền lợi, lợi ích hợp pháp, chính đáng của nhân dân, của Tổ quốc làm mục tiêu phấn đấu; tổ chức, giáo dục, rèn luyện Đảng trong sạch, vững mạnh, thực sự là Đảng của giai cấp công nhân, của nhân dân lao động và của toàn dân tộc. Nhờ đó, Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn nhận được sự tin tưởng, đồng tình, ủng hộ của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân, giành được những thắng lợi vẻ vang trong lịch sử, giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước, tiến hành sự nghiệp xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.

Thực tiễn lịch sử dân tộc Việt Nam cho thấy, đất nước thịnh hay suy, mạnh hay yếu, có giữ được giang sơn gấm vóc, bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, lợi ích quốc gia - dân tộc hay không đều phụ thuộc vào “lòng dân”, vào việc xây dựng “thế trận lòng dân”. Hưng Đạo Đại vương Trần Quốc Tuấn đã nói, “Khoan thư sức dân để làm kế sâu rễ bền gốc. Đó là thượng sách giữ nước”; Nguyễn Trãi khẳng định, “Chở thuyền là dân, lật thuyền cũng là dân”. Trong thời đại Hồ Chí Minh, tư tưởng “nước lấy dân làm gốc” của Người là gốc rễ, là cơ sở, nền tảng hình thành đường lối chiến tranh nhân dân toàn dân, toàn diện, độc đáo, sáng tạo, góp phần quan trọng vào việc phát huy sức mạnh tổng hợp để đánh bại mọi kẻ thù xâm lược. Từ thực tiễn đó, Đảng ta xác định xây dựng “thế trận lòng dân” làm nền tảng để phát huy sức mạnh của toàn dân tộc trong thực hiện hai nhiệm vụ chiến lược: Xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Tại Đại hội X của Đảng, lần đầu tiên thuật ngữ “thế trận lòng dân” được ghi trong Văn kiện Đại hội, đó là: “Xây dựng “thế trận lòng dân” làm nền tảng phát huy sức mạnh tổng hợp của toàn dân tộc”. Kế thừa quan điểm đó, Đại hội XI, Đại hội XII và Đại hội XIII của Đảng tiếp tục khẳng định: “Xây dựng “thế trận lòng dân”, thế trận quốc phòng toàn dân và thế trận an ninh nhân dân vững chắc làm nền tảng cho sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc”. 

“Thế trận lòng dân” thực chất là trạng thái chính trị, tinh thần của người dân, được biểu hiện ở tinh thần yêu nước, lòng tự hào, tự tôn dân tộc, sự tin tưởng của nhân dân vào chế độ, vào sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý, điều hành của chính quyền các cấp. Trạng thái đó được xây dựng vững chắc, trở thành “thế trận”, sẵn sàng để huy động, sử dụng, tạo thành sức mạnh tổng hợp nhằm thực hiện thắng lợi nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc. Xây dựng “thế trận lòng dân” là thực hiện đồng bộ các giải pháp về chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, quốc phòng, an ninh, làm cho dân no, dân yên, dân tin yêu Đảng, Nhà nước và chế độ xã hội chủ nghĩa. Đây là sự phát triển tư duy lý luận của Đảng về “lòng dân”, “nước lấy dân làm gốc”, là quan điểm, chủ trương đúng đắn, hợp lòng dân. Sự phát triển đó đã khơi dậy, tập hợp, quy tụ và phát huy thế mạnh, sức mạnh của từng nhân tố tạo nên “thế trận lòng dân”; là một trong những bí quyết làm nên thành công của cách mạng Việt Nam.

Trong những năm qua, nhận thức sâu sắc về vị trí, vai trò của “thế trận lòng dân”, Đảng, Nhà nước ta, các cấp, các ngành luôn đẩy mạnh tuyên truyền, giáo dục cán bộ, đảng viên, chiến sĩ và các tầng lớp nhân dân về truyền thống yêu nước Việt Nam, về đường lối, quan điểm của Đảng, chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh; đồng thời, ban hành nhiều chủ trương, đề xuất các giải pháp phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội, tăng cường quốc phòng, an ninh, nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân, giữ vững môi trường hòa bình, ổn định để phát triển đất nước. Nhờ đó, đất nước ta đã đạt được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử trên con đường xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa, như Văn kiện Đại hội XIII của Đảng đã khẳng định: “Đất nước ta chưa bao giờ có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế như ngày nay”.

Đảng, Nhà nước luôn chăm lo xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc; ban hành nhiều chủ trương, chính sách, pháp luật nhằm phát huy dân chủ xã hội chủ nghĩa, bảo đảm quyền làm chủ của nhân dân; đẩy mạnh xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh, kiên quyết đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực,... Do vậy, cán bộ, đảng viên và nhân dân phấn khởi, tin tưởng vào Đảng, Nhà nước, vào công cuộc đổi mới và triển vọng phát triển tốt đẹp của đất nước; tin tưởng vào lực lượng vũ trang; lòng yêu nước, ý thức tự hào dân tộc, tinh thần đoàn kết, tương thân, tương ái, tính năng động, sáng tạo của con người Việt Nam được phát huy và nâng cao; thế và lực của đất nước không ngừng được tăng cường, củng cố ngày càng vững chắc.

Tuy nhiên, do nhiều nguyên nhân, chủ yếu là nguyên nhân chủ quan, việc xây dựng “thế trận lòng dân” có mặt còn hạn chế; “một số chính sách chưa đáp ứng nguyện vọng, lợi ích của nhân dân, nhiều bức xúc chưa được giải quyết; quyền làm chủ của nhân dân ở nhiều nơi bị vi phạm”. Tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, tham nhũng, lãng phí, tiêu cực trong một bộ phận cán bộ, đảng viên, công chức chưa được khắc phục có hiệu quả, làm giảm sút sức chiến đấu của Đảng và suy giảm lòng tin của nhân dân đối với Đảng và Nhà nước. Sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân tộc và dân chủ xã hội chủ nghĩa có lúc, có nơi chưa được chú trọng, phát huy đầy đủ,... Những hạn chế đó làm cho “lòng dân”, hay nói cách khác là tư tưởng, tâm trạng của một bộ phận nhân dân có những bức xúc, gây ra ảnh hưởng tiêu cực tới sự đồng thuận xã hội, làm suy giảm sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân tộc.

Tiếp tục xây dựng “thế trận lòng dân”, củng cố quốc phòng, bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa trong giai đoạn mới

Trong những năm tới, tình hình khu vực, thế giới tiếp tục diễn biến nhanh chóng, phức tạp, khó dự báo. Biển Đông và vùng biển Tây Nam đứng trước thách thức lớn, tiềm ẩn nhân tố gây mất ổn định. Đối với nước ta, sau hơn 35 năm đổi mới, thế và lực, sức mạnh tổng hợp quốc gia, uy tín quốc tế, niềm tin của nhân dân vào Đảng và chế độ xã hội chủ nghĩa ngày càng được nâng cao, tạo ra những tiền đề quan trọng để xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc. Song, đất nước ta vẫn đứng trước nhiều khó khăn, thách thức. Bốn nguy cơ mà Đảng chỉ ra vẫn tồn tại, thậm chí có mặt còn gay gắt hơn. Tham nhũng, lãng phí, quan liêu, suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ tuy đã được ngăn chặn bước đầu, song còn diễn biến phức tạp. Các thế lực thù địch đẩy mạnh chống phá cách mạng nước ta trên tất cả các lĩnh vực, bằng nhiều âm mưu, thủ đoạn, chiến lược “diễn biến hòa bình” rất tinh vi, xảo quyệt; trong đó, chúng tìm mọi cách để chia rẽ quan hệ giữa nhân dân với Đảng, Nhà nước và các cấp ủy, chính quyền cũng như thực hiện mưu đồ ly tán lòng dân, nhất là lòng dân ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số, vùng đồng bào theo đạo, vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo, vùng đặc biệt khó khăn và vùng căn cứ cách mạng được coi là trọng điểm chống phá của chúng. Tình hình trên đặt ra nhiều vấn đề mới, với yêu cầu cao hơn, nặng nề, phức tạp hơn đối với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, đòi hỏi toàn Đảng, toàn dân, toàn quân phải tiếp tục đổi mới mạnh mẽ tư duy, nhất là tư duy lý luận, có quyết tâm chính trị cao, đề ra chủ trương, giải pháp đúng đắn, hiệu quả để tiếp tục đẩy mạnh toàn diện, đồng bộ, thực hiện thắng lợi công cuộc đổi mới; trong đó, yêu cầu đặt ra cấp thiết hiện nay là cần quán triệt, vận dụng sáng tạo tư tưởng Hồ Chí Minh về “nước lấy dân làm gốc” vào xây dựng và phát huy mạnh mẽ “thế trận lòng dân”, củng cố quốc phòng, góp phần xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa; cụ thể như sau:

Thứ nhất, quán triệt, nâng cao nhận thức và vận dụng sáng tạo tư tưởng “nước lấy dân làm gốc” của Chủ tịch Hồ Chí Minh vào xây dựng “thế trận lòng dân” vững chắc trên từng địa bàn và trong cả nước.

Tiếp tục tuyên truyền, giáo dục cho mọi cán bộ, đảng viên, chiến sĩ và nhân dân thấm nhuần tư tưởng, quan điểm “nước lấy dân làm gốc” của Đảng và của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Nâng cao nhận thức về vai trò đặc biệt quan trọng của quần chúng nhân dân - người làm nên lịch sử, nhân tố quyết định sự thành công của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Đẩy mạnh tuyên truyền, giáo dục về đường lối, chủ trương, chính sách quốc phòng của Đảng, Nhà nước, nhất là đường lối xây dựng nền quốc phòng toàn dân, đường lối tiến hành chiến tranh nhân dân, bảo vệ Tổ quốc trong điều kiện mới; hiện thực hóa tư duy mới về thực hiện nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc “từ sớm, từ xa” theo Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng. Chú trọng đổi mới nội dung, hình thức, phương pháp giáo dục, tuyên truyền; kết hợp chặt chẽ giữa giáo dục thường xuyên với giáo dục theo chuyên đề, gắn với các sự kiện chính trị lớn của đất nước; phát huy vai trò của các tổ chức, lực lượng, phương tiện thông tin - truyền thông và thiết chế văn hóa ở cơ sở. Thường xuyên củng cố và tăng cường niềm tin của nhân dân đối với Đảng, Nhà nước và chế độ xã hội chủ nghĩa. Đây là vấn đề cốt lõi nhất để xây dựng “thế trận lòng dân”, củng cố quốc phòng, góp phần thực hiện thắng lợi hai nhiệm vụ chiến lược là xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa trong giai đoạn mới.

Thứ hai, xây dựng, chỉnh đốn Đảng trong sạch, vững mạnh về chính trị, tư tưởng, đạo đức, tổ chức và cán bộ; có đường lối cách mạng, đường lối quân sự, quốc phòng đúng đắn.

Tiếp tục đẩy mạnh hơn nữa công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng về chính trị, tư tưởng, đạo đức, tổ chức và cán bộ. Tăng cường quán triệt, thực hiện tốt các kết luận, nghị quyết của Trung ương về xây dựng, chỉnh đốn Đảng, thực hiện nghiêm các quy định về trách nhiệm nêu gương, quy định về những điều đảng viên không được làm; tập trung xây dựng đội ngũ cán bộ, đảng viên các cấp, nhất là cấp chiến lược đủ phẩm chất, năng lực, ngang tầm nhiệm vụ; tăng cường công tác kiểm tra, giám sát, đẩy mạnh đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực; củng cố niềm tin của nhân dân đối với Đảng, Nhà nước và chế độ xã hội chủ nghĩa.

Đảng đề ra đường lối cách mạng đúng đắn, khoa học, phù hợp. Đường lối cách mạng đó là sự hội tụ ý chí của toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta, nhất là phải phù hợp với nguyện vọng hợp pháp, chính đáng của các tầng lớp nhân dân. Đây là một trong những vấn đề căn cốt nhất để Đảng ta tập hợp, hiệu triệu nhân dân, phát huy sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân tộc trong thực hiện mọi nhiệm vụ cách mạng. Đường lối cách mạng của Đảng phải xuất phát từ thực tiễn của đất nước, tôn trọng quy luật khách quan. Mỗi cán bộ, đảng viên và toàn Đảng phải không ngừng nâng cao trình độ lý luận, trí tuệ; nâng cao năng lực dự báo; biết lắng nghe ý kiến, nguyện vọng của nhân dân, luôn hành động vì lợi ích hợp pháp, chính đáng của nhân dân, kết hợp với tiếp thu, học tập những kinh nghiệm trên thế giới để xây dựng chủ trương, đường lối phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc.

Đảng đề ra đường lối quân sự đúng đắn, sáng tạo, làm cơ sở khơi dậy, động viên và phát huy sức mạnh của toàn dân, khai thác sức mạnh của đoàn kết quốc tế để củng cố quốc phòng, bảo vệ Tổ quốc. Đường lối đó thể hiện rõ tư tưởng “nước lấy dân làm gốc” của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Đó là đường lối xây dựng nền quốc phòng toàn dân, đường lối chiến tranh nhân dân; sức mạnh quốc phòng bảo vệ Tổ quốc là sức mạnh của toàn dân; lực lượng bảo vệ Tổ quốc là lực lượng toàn dân, trong đó lực lượng vũ trang nhân dân là nòng cốt. Đường lối đó là sự tiếp thu, phát triển nghệ thuật quân sự Việt Nam, lý luận quân sự của chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tinh hoa quân sự thế giới, phù hợp với thực tiễn Việt Nam.

Thứ ba, đẩy mạnh phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội; không ngừng nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân.

Quán triệt quan điểm phát triển kinh tế - xã hội là trung tâm, Đảng, Nhà nước cần đổi mới mạnh mẽ và thực hiện có hiệu quả mô hình tăng trưởng, cơ cấu lại nền kinh tế, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa trên nền tảng khoa học và công nghệ, đổi mới sáng tạo và nguồn nhân lực chất lượng cao; xây dựng, hoàn thiện đồng bộ thể chế phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý, điều hành của Nhà nước; giải quyết tốt hơn mối quan hệ giữa nhà nước, thị trường và xã hội; giữa nhà nước, doanh nghiệp và người dân. Khắc phục những điểm nghẽn cản trở sự phát triển của đất nước, nhất là về thể chế, chính sách,... Chú trọng đẩy mạnh phát triển sản xuất, tạo việc làm, nâng cao thu nhập, mức sống để nhân dân ổn định cuộc sống trên từng khu vực, địa bàn, nhất là ở vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo và vùng đặc biệt khó khăn. Trong quá trình thực hiện, Đảng, Nhà nước, các cấp, các ngành cần có chủ trương, cơ chế, chính sách phù hợp, ưu tiên những vùng đặc biệt khó khăn, vùng đồng bào dân tộc thiểu số bằng những chương trình, dự án kinh tế - xã hội gắn với quốc phòng - an ninh. Đẩy mạnh ứng dụng các thành tựu khoa học - công nghệ tiên tiến của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư vào hoạt động sản xuất, kinh doanh; thực hiện tốt chính sách xã hội, bảo đảm an sinh và phúc lợi xã hội, an ninh con người, thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội; nâng cao chất lượng cuộc sống và hạnh phúc của nhân dân.

Chú trọng xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, phát triển toàn diện, thống nhất trong đa dạng, thấm nhuần sâu sắc tinh thần nhân văn, dân chủ, tiến bộ; làm cho văn hóa gắn kết chặt chẽ và thấm sâu vào toàn bộ đời sống xã hội, vừa phát huy những giá trị tốt đẹp của dân tộc, vừa tiếp thu tinh hoa văn hóa của nhân loại để văn hóa thực sự là nền tảng tinh thần, nguồn lực nội sinh và động lực cho phát triển kinh tế - xã hội, tăng cường quốc phòng, an ninh và hội nhập quốc tế sâu rộng. Đẩy mạnh tuyên truyền, giáo dục nâng cao nhận thức chính trị, đạo đức, pháp luật, truyền thống quê hương, đất nước; khơi dậy mạnh mẽ tinh thần yêu nước, niềm tự hào, ý chí tự lực, tự cường, lòng nhân ái, tinh thần đoàn kết, đồng thuận xã hội và khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc của toàn dân tộc. Với quan điểm con người là trung tâm, chủ thể, là nguồn lực chủ yếu và mục tiêu của sự phát triển, Đảng, Nhà nước tiếp tục hoàn thiện chủ trương, chính sách xây dựng, phát triển con người Việt Nam toàn diện, gắn kết chặt chẽ, hài hòa giữa giá trị truyền thống và hiện đại; qua đó, phát huy giá trị văn hóa, sức mạnh con người Việt Nam trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

Thứ tư, chăm lo xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc, phát huy dân chủ xã hội chủ nghĩa.

Đảng, Nhà nước cần đổi mới, đa dạng hóa các hình thức vận động quần chúng nhân dân; đẩy mạnh tuyên truyền, giáo dục bằng nhiều hình thức phong phú, sáng tạo, làm cho cán bộ, đảng viên, chiến sĩ và các tầng lớp nhân dân quán triệt sâu sắc tư tưởng, quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh và các nghị quyết, chỉ thị của Đảng về vai trò to lớn của khối đại đoàn kết toàn dân tộc, về đường lối, chủ trương xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, tạo sự đồng thuận cao về nhận thức và hành động trong toàn xã hội. Thực hiện tốt chủ trương tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân tộc trên nền tảng liên minh giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức do Đảng lãnh đạo; lấy mục tiêu xây dựng một nước Việt Nam hòa bình, độc lập, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ, “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh” làm điểm tương đồng; tôn trọng những điểm khác biệt không trái với lợi ích chung của quốc gia - dân tộc; đề cao tinh thần dân tộc, truyền thống yêu nước, nhân nghĩa, khoan dung để tập hợp, đoàn kết mọi người Việt Nam ở trong nước và nước ngoài. Thực hiện chính sách bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng và giúp đỡ lẫn nhau giữa các dân tộc, tạo mọi điều kiện để các dân tộc trong đại gia đình dân tộc Việt Nam cùng phát triển; giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa, ngôn ngữ, truyền thống tốt đẹp của các dân tộc. Tôn trọng và bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo và không tín ngưỡng, tôn giáo của nhân dân theo quy định của pháp luật. Bảo đảm công bằng xã hội, chăm lo lợi ích thiết thực, chính đáng của các giai cấp, các tầng lớp nhân dân, kết hợp hài hòa lợi ích cá nhân, lợi ích tập thể và lợi ích xã hội. Chăm lo xây dựng Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội vững mạnh, đóng vai trò nòng cốt trong tập hợp, vận động nhân dân. Đồng thời, kiên quyết đấu tranh với những âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch tìm cách chia rẽ nội bộ nhân dân, chia rẽ Đảng với nhân dân, chia rẽ nhân dân Việt Nam với nhân dân các nước khác, mưu toan phá hoại khối đại đoàn kết toàn dân tộc Việt Nam.
Đảng, Nhà nước cần tiếp tục cụ thể hóa, hoàn thiện thể chế thực hành dân chủ theo tinh thần Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (Bổ sung, phát triển năm 2011) và Hiến pháp năm 2013, bảo đảm tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân. Thực hiện tốt Quy chế Dân chủ ở cơ sở, phương châm “Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng”; cơ chế Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội làm nòng cốt để nhân dân làm chủ. Cấp ủy, tổ chức đảng, các tổ chức trong hệ thống chính trị, đội ngũ cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức nêu gương thực hành dân chủ, tuân thủ pháp luật, đề cao đạo đức để nhân dân noi theo. Xử lý kịp thời, nghiêm minh những tổ chức, cá nhân lợi dụng dân chủ, gây rối nội bộ, làm mất ổn định chính trị - xã hội hoặc vi phạm dân chủ, làm phương hại đến quyền làm chủ của nhân dân.


Cán bộ, chiến sĩ Vùng 5 Hải quân tuyên truyền pháp luật và tặng cờ Tổ quốc cho ngư dân vươn khơi, bám biển baohaiquanvietnam.vn

Thứ năm, xây dựng nền quốc phòng toàn dân vững mạnh, thế trận quốc phòng toàn dân gắn với thế trận an ninh nhân dân vững chắc; xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại, làm nòng cốt cho toàn dân trong sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc.

Đảng, Nhà nước thường xuyên tuyên truyền, giáo dục nâng cao nhận thức của nhân dân về nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới; đẩy mạnh công tác giáo dục quốc phòng và an ninh cho các đối tượng theo Chỉ thị số 12-CT/TW, ngày 3-5-2007, của Bộ Chính trị khóa X, “Về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác giáo dục quốc phòng - an ninh trong tình hình mới”. Trong đó, coi trọng giáo dục chủ nghĩa yêu nước, tình yêu quê hương, đất nước, chế độ xã hội chủ nghĩa; quyền lợi, trách nhiệm và nghĩa vụ của công dân đối với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa; đường lối, quan điểm của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước về quốc phòng, an ninh; nhận diện rõ âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch, về đối tác, đối tượng của cách mạng Việt Nam,... để làm cho mọi người dân, mọi tổ chức đều có trách nhiệm, nghĩa vụ tham gia xây dựng nền quốc phòng toàn dân. Tăng cường sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng; sự quản lý của Nhà nước đối với Quân đội nhân dân Việt Nam và nền quốc phòng toàn dân. Chú trọng phát huy vai trò của khối đại đoàn kết toàn dân tộc, coi đó là cơ sở, nhân tố cơ bản làm nên sức mạnh vô địch của nền quốc phòng toàn dân, của chiến tranh nhân dân Việt Nam. Gắn xây dựng nền quốc phòng toàn dân vững mạnh với xây dựng nền an ninh nhân dân, xây dựng thế trận quốc phòng toàn dân vững chắc với xây dựng thế trận an ninh nhân dân.

Tập trung xây dựng Quân đội nhân dân cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại; một số quân chủng, binh chủng, lực lượng tiến thẳng lên hiện đại. Đến năm 2025, cơ bản xây dựng Quân đội tinh, gọn, mạnh, tạo tiền đề vững chắc, phấn đấu năm 2030 xây dựng Quân đội nhân dân cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại; vững mạnh về chính trị, tư tưởng, đạo đức, tổ chức và cán bộ; thực sự là nòng cốt trong công tác quân sự, quốc phòng, bảo vệ Tổ quốc. Cán bộ, chiến sĩ lực lượng vũ trang nhân dân phải có quan điểm quần chúng đúng đắn; thường xuyên nâng cao nhận thức, trách nhiệm, thực hiện tốt công tác dân vận, tuyên truyền đặc biệt để huy động tối đa “tài dân, sức dân, của dân làm lợi cho dân”(11); đồng thời, luôn gắn bó mật thiết với nhân dân, vì nhân dân chiến đấu, vì nhân dân phục vụ.

Tư tưởng Hồ Chí Minh về “nước lấy dân làm gốc” là chân lý, được Người đúc kết từ thực tiễn hoạt động cách mạng; trên cơ sở tiếp thu chủ nghĩa Mác - Lê-nin, truyền thống, tinh hoa văn hóa dân tộc và nhân loại; là cơ sở quan trọng để Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh đề ra đường lối cách mạng đúng đắn; xây dựng đội ngũ cán bộ, đảng viên gắn bó mật thiết với nhân dân, vì nhân dân phục vụ; phát huy sức mạnh khối đại đoàn kết toàn dân tộc trong sự nghiệp cách mạng. Hiện nay, trước yêu cầu nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc trong giai đoạn mới, đòi hỏi Đảng ta, toàn thể đội ngũ cán bộ, đảng viên cần thấm nhuần sâu sắc, vận dụng sáng tạo tư tưởng Chủ tịch Hồ Chí Minh vào xây dựng “thế trận lòng dân”, củng cố quốc phòng, cũng như trong các lĩnh vực, nhiệm vụ cách mạng; tiếp tục phát huy hơn nữa sức mạnh khối đại đoàn kết toàn dân tộc, dưới sự lãnh đạo của Đảng, góp phần xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa trong giai đoạn mới./.
---------------------------
(1) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2011, t. 5, tr. 501
(2) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t. 12, tr. 672
(3) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t. 13, tr. 67
(4) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t. 4, tr. 534
(5) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t. 15, tr. 412
(6) Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2006, tr. 109
(7), (8) Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2021, t. I, tr. 49, 25
(9) Văn kiện Hội nghị lần thứ bảy Ban Chấp hành Trung ương khóa XI, Văn phòng Trung ương Đảng, Hà Nội, 2013, tr. 38
(10) Kết luận số 01-KL/TW, ngày 18-5-2021, của Bộ Chính trị, “Về tiếp tục thực hiện Chỉ thị số 05-CT/TW ngày 15-5-2016 của Bộ Chính trị khóa XII “Về đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh””; Kết luận số 21-KL/TW, ngày 25-10-2021, của Ban Chấp hành Trung ương, “Về đẩy mạnh xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị; kiên quyết ngăn chặn, đẩy lùi, xử lý nghiêm cán bộ, đảng viên suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa””; Nghị quyết số 21-NQ/TW, ngày 16-6-2022, Hội nghị Trung ương 5 khóa XIII, “Về tăng cường củng cố xây dựng tổ chức cơ sở đảng và nâng cao chất lượng đội ngũ đảng viên trong giai đoạn mới”.
(11) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t. 5, tr. 81.
Yêu nước ST.

TIN AN NINH TRẬT TỰ: BẮT CẶP VỢ CHỒNG LẬP CÔNG TY TỪ NĂM 2018, DÙNG XE BỒN XẢ TRỘM CHẤT THẢI XUỐNG SÔNG TÔ LỊCH!

     Phòng Cảnh sát kinh tế, Công an TP Hà Nội vừa bắt giữ 3 đối tượng liên quan đến ổ nhóm xả trộm gần 50m3 chất thải xuống sông Tô Lịch.

Ngày 24/9, Công an TP Hà Nội cho biết, phòng Cảnh sát kinh tế vừa xác minh, điều tra, bắt giữ 3 đối tượng liên quan đến ổ nhóm xả trộm gần 50m3 chất thải xuống sông Tô Lịch, gây ô nhiễm môi trường và bức xúc dư luận.

Trước đó, khoảng 3h sáng ngày 5/9, tại khu vực bờ kè sông Tô Lịch, đoạn đối diện số 584 đường Láng, phường Láng, Hà Nội, Ban quản lý dự án Hệ thống xử lý nước thải Yên Xá phát hiện vệt chất thải nghi là phân bể phốt được xả trực tiếp vào hố ga, rồi chảy thẳng xuống sông. Ước tính, khối lượng chất thải lên tới khoảng 50m³, gây mùi hôi thối nồng nặc và ô nhiễm nghiêm trọng một khu vực rộng lớn.

Đặc biệt, việc xả thải trái phép còn gây hư hại hạ tầng dự án khi làm tụt đường ống thoát nước. Sự việc nghiêm trọng không chỉ ảnh hưởng đến môi trường sống của người dân mà còn đi ngược lại chủ trương quyết liệt của TP Hà Nội trong việc làm sạch sông Tô Lịch.

Tiếp nhận tin báo, dưới sự chỉ đạo trực tiếp của Ban Giám đốc Công an thành phố, Đội 3, phòng Cảnh sát kinh tế, Công an TP. Hà Nội đã nhanh chóng vào cuộc. Qua quá trình khẩn trương xác minh, rà soát, cơ quan công an xác định chiếc xe bồn trắng biển kiểm soát 30L-573.96 bị camera an ninh ghi lại thuộc Công ty TNHH vệ sinh môi trường thoát nước đô thị Hà Nội đã có hành vi xả thải trái phép ra sông Tô Lịch thông qua hệ thống hố ga.

Đây là công ty do vợ chồng Nguyễn Khắc Đạo (SN 1982) và Chu Thị Vang (SN 1983) thành lập từ năm 2018. Quá trình đấu tranh, các đối tượng khai nhận công ty của vợ chồng Đạo không có giấy phép hoạt động xử lý chất thải và cũng không ký kết với đơn vị xử lý hợp pháp nào. Do vậy, sau khi hút bể phốt, Đạo chỉ đạo lái xe chở đến các địa điểm không đúng quy định để đổ thải.

Khoảng 3h sáng 5/9, theo chỉ đạo của Đạo, sau khi hút gần 50m³ chất thải lỏng từ bể phốt của một tòa nhà trên đường Nguyễn Chí Thanh, lái xe Nguyễn Duy Cường (SN 1995) đã 2 lần điều khiển xe bồn đến đường Láng, dùng tay mở nắp hố ga, cắm vòi và xả trực tiếp toàn bộ chất thải xuống đây. Hậu quả là đường ống trong hố ga bị vỡ, chất thải chưa qua xử lý tràn trực tiếp ra sông Tô Lịch, gây ô nhiễm nghiêm trọng, bốc mùi hôi thối nồng nặc. Các đối tượng đều thừa nhận hành vi xả thải trái phép.

Hiện, Công an TP. Hà Nội đang tiếp tục điều tra, củng cố hồ sơ để xử lý nghiêm các đối tượng theo quy định của pháp luật./.
Ảnh 1: Nhóm đối tượng tại cơ quan công an.
Ảnh 2: Xe bồn đổ trộm chất thải.

SƯU TẦM!

Thứ Tư, 24 tháng 9, 2025

TÌM HIỂU GIÚP BẠN: CHỦ TỊCH NƯỚC LƯƠNG CƯỜNG PHÁT BIỂU TẠI ĐẠI HỘI ĐỒNG LIÊN HỢP QUỐC “TÔN VINH GIÁ TRỊ CỦA HÒA BÌNH, CHUYỂN ĐỔI MẠNH MẼ ĐỂ KIẾN TẠO TƯƠNG LAI BỀN VỮNG”!

     Ngày 23-9 (giờ địa phương), tại trụ sở Liên hợp quốc ở New York, Hoa Kỳ, Chủ tịch nước Lương Cường đã có bài phát biểu quan trọng tại Phiên thảo luận chung cấp cao Đại hội đồng Liên hợp quốc Khóa 80 với thông điệp xuyên suốt: “Tôn vinh giá trị của hòa bình, chuyển đổi mạnh mẽ để kiến tạo tương lai bền vững”.

Trong bài phát biểu, Chủ tịch nước khẳng định 80 năm qua, Liên hợp quốc luôn là hiện thân của khát vọng chung của nhân loại vì hòa bình, hợp tác và phát triển, dựa trên các giá trị phổ quát về quyền con người, độc lập dân tộc, bình đẳng, dân chủ và tiến bộ xã hội.

Tuy vậy, thế giới hiện nay đang đối mặt với những thách thức gay gắt chưa từng có như xung đột, chiến tranh cục bộ, chạy đua vũ trang, sử dụng vũ lực, đe dọa sử dụng vũ lực, cạnh tranh chiến lược nước lớn, chủ nghĩa đơn phương, sự suy giảm mạnh về cam kết chính trị và nguồn lực. Theo đó, Chủ tịch nước kêu gọi cộng đồng quốc tế cùng đề cao chủ nghĩa đa phương và hệ thống quốc tế dựa trên luật pháp quốc tế, với Liên hợp quốc là trung tâm. 

Khẳng định hòa bình vừa là mục tiêu, vừa là điều kiện tiên quyết cho xây dựng tương lai ổn định, công bằng, dân chủ và phát triển thịnh vượng, Chủ tịch nước kêu gọi các nước tuân thủ luật pháp quốc tế và Hiến chương Liên hợp quốc, tôn trọng độc lập chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ, không can thiệp vào công việc nội bộ, không sử dụng vũ lực hay đe dọa sử dụng vũ lực, giải quyết các tranh chấp bằng biện pháp hòa bình.

Đề cao văn hóa hòa bình thông qua xây dựng lòng tin, đoàn kết quốc tế, đối thoại, tôn trọng khác biệt, Chủ tịch nước kêu gọi ngừng bắn, chấm dứt bạo lực, bảo vệ thường dân, tạo điều kiện cho tiếp cận nhân đạo tại các vùng xung đột, đánh giá cao việc nhiều nước công nhận Nhà nước Palestine, kêu gọi hỗ trợ nhân đạo khẩn cấp cho người dân Palestine, đề nghị Hoa Kỳ gỡ bỏ các biện pháp cấm vận đối với Cuba và đưa Cuba ra khỏi danh sách tài trợ khủng bố.

Chủ tịch nước đề cao vai trò của các tổ chức khu vực, trong đó ASEAN giữ vị trí trung tâm ở châu Á-Thái Bình Dương, tích cực xây dựng Cộng đồng ASEAN tự cường, bao trùm, bền vững; thúc đẩy Thỏa thuận ngừng bắn giữa Campuchia-Thái Lan, triển khai Đồng thuận năm điểm về Myanmar, và duy trì hòa bình, ổn định, an ninh, an toàn, tự do hàng hải, hàng không ở Biển Đông trên cơ sở luật pháp quốc tế, Công ước Liên hợp quốc về Luật Biển năm 1982.

Để kiến tạo tương lai bền vững, Chủ tịch nước kêu gọi tiến hành cải tổ các thể chế đa phương quản trị toàn cầu, nhất là Liên hợp quốc và các thể chế tài chính-tiền tệ quốc tế để thích ứng tốt hơn, bảo đảm công bằng, minh bạch, hoạt động đồng bộ, hiệu quả, hiệu lực hơn và đáp ứng tốt hơn nhu cầu của các quốc gia và của mọi người dân.

Nhằm tối ưu hóa mô hình phát triển bền vững dựa trên nền tảng chuyển đổi số và chuyển đổi xanh, Chủ tịch nước nhấn mạnh các quốc gia cần xây dựng chiến lược tổng thể, đầu tư mạnh mẽ vào nghiên cứu phát triển, đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao, phát triển hạ tầng công nghệ xanh, đặc biệt cần tăng cường hợp tác quốc tế trong chuyển giao công nghệ và huy động tài chính xanh, các nước phát triển cần chia sẻ, chuyển giao công nghệ cho các nước đang và chậm phát triển, đồng thời cần bảo đảm quá trình chuyển đổi xã hội phải lấy con người làm trung tâm.

Chủ tịch nước Lương Cường chia sẻ câu chuyện của một nước Việt Nam hồi sinh từ đổ nát của chiến tranh, từ một nước nghèo nàn, lạc hậu, trình độ thấp, bị bao vây, cấm vận, nỗ lực vượt bậc trở thành nước đang phát triển, có thu nhập trung bình và hội nhập quốc tế sâu rộng. Mặc dù còn nhiều hạn chế cần khắc phục, Chủ tịch nước khẳng định Việt Nam quyết tâm thực hiện các mục tiêu chiến lược để trở thành nước đang phát triển, có công nghiệp hiện đại, thu nhập trung bình cao vào năm 2030, đến năm 2045 trở thành nước có thu nhập cao; thực hiện các Mục tiêu phát triển bền vững, đạt phát thải ròng bằng "0" vào năm 2050 và trở thành một quốc gia hùng cường, hưng thịnh và hạnh phúc.

Chủ tịch nước Lương Cường khẳng định Việt Nam luôn nỗ lực hết mình và đồng hành cùng tất cả các quốc gia để gánh vác các trọng trách chung, vượt qua thách thức, thúc đẩy chuyển đổi mạnh mẽ để kiến tạo một thế giới hoà bình, ổn định, phát triển thịnh vượng và bền vững, mang lại hạnh phúc, ấm no cho mọi người dân.

Nhân dịp này, Chủ tịch nước Lương Cường trân trọng mời các quốc gia đến Hà Nội dự Lễ mở ký Công ước Liên hợp quốc về phòng, chống tội phạm mạng vào ngày 25-10 sắp tới; cho biết Việt Nam đang tích cực chuẩn bị để đảm nhiệm vai trò Chủ tịch Hội nghị Kiểm điểm Hiệp ước không phổ biến vũ khí hạt nhân vào năm 2026; đồng thời đề nghị các nước ủng hộ ứng cử của Việt Nam vào Hội đồng Nhân quyền Liên hợp quốc nhiệm kỳ 2026-2028 và làm Thẩm phán Tòa án Luật biển quốc tế nhiệm kỳ 2026-2036./.

Ảnh 1, 2: Chủ tịch nước Lương Cường phát biểu tại Phiên thảo luận chung cấp cao Đại hội đồng Liên hợp quốc Khóa 80.
Ảnh 3: Thành viên đoàn Việt Nam tham dự Phiên Thảo luận chung cấp cao Đại hội đồng Liên hợp quốc Khóa 80.
Yêu nước ST.

TÌM HIỂU GIÚP BẠN: PHÁT BIỂU CỦA TỔNG BÍ THƯ TÔ LÂM TẠI ĐẠI HỘI THI ĐUA QUYẾT THẮNG TOÀN QUÂN LẦN THỨ XI.

     Chiều 24-9, tại Hà Nội, Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng tổ chức Đại hội Thi đua Quyết thắng toàn quân lần thứ XI. Tổng Bí thư Tô Lâm, Bí thư Quân ủy Trung ương dự và phát biểu chỉ đạo đại hội. Xin trân trọng giới thiệu toàn văn phát biểu của Tổng Bí thư Tô Lâm, Bí thư Quân ủy Trung ương.

Thưa các đồng chí lãnh đạo, nguyên lãnh đạo Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng, lãnh đạo các cơ quan Trung ương,

Thưa các đồng chí lão thành cách mạng, các Mẹ Việt Nam Anh hùng, Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân, Anh hùng lao động,

Thưa các đại biểu, các tập thể và cá nhân điển hình tiên tiến.

Hôm nay, tôi rất vui mừng, xúc động dự Đại hội Thi đua Quyết thắng toàn quân lần thứ XI - ngày hội tôn vinh ý chí, kỷ luật, sức mạnh, trí tuệ và lòng tận hiến của “Bộ đội Cụ Hồ”. Thay mặt lãnh đạo Đảng, Nhà nước, Quân ủy Trung ương, tôi gửi tới các đồng chí lời thăm hỏi thân thiết, lời chúc mừng nồng ấm trước những thành tích xuất sắc mà các cơ quan, đơn vị, nhà máy, học viện, nhà trường, bệnh viện, doanh nghiệp quốc phòng, các tập thể và cá nhân điển hình tiên tiến của toàn quân đã đạt được trong Phong trào Thi đua Quyết thắng thời gian qua. Những điển hình tiên tiến hôm nay là minh chứng sống động cho sức mạnh của truyền thống, của kỷ luật, của sáng tạo và của tình quân - dân thắm thiết.

Xin chúc mừng 54 Anh hùng, chiến sĩ thi đua toàn quốc, 304 điển hình tiên tiến và hàng trăm ngàn tập thể, cán bộ, chiến sĩ được vinh danh, khen thưởng trong Phong trào Thi đua Quyết thắng 5 năm qua.

Thưa các đồng chí,

Ngay sau khi Đội Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng quân ra đời, Phong trào Thi đua Quyết thắng cũng hình thành, đó là ý chí quyết chiến, quyết thắng, dám đánh giặc, dám đi trước, dám nhận việc khó, dám hy sinh, quyết làm đến cùng để hoàn thành mệnh lệnh của Đảng, của Tổ quốc và nhân dân. Khi Bác Hồ phát động Phong trào Thi đua yêu nước, Quân đội tiên phong hưởng ứng và từ thực tiễn chiến đấu - công tác đã hình thành một sắc thái riêng, Phong trào “Thi đua Quyết thắng” - thi đua để chiến đấu giỏi, công tác giỏi, sản xuất giỏi; thi đua để ra quân là chiến thắng. Nói cách khác, Thi đua Quyết thắng hòa ngay vào mạch nguồn của Phong trào Thi đua ái quốc do Ban Chấp hành Trung ương và Bác Hồ phát động, đóng góp phần quan trọng trên chặng đường trưởng thành, phát triển của Quân đội nhân dân Việt Nam.

Trong mọi giai đoạn cách mạng, từ các trận đánh du kích đến chiến dịch quy mô lớn; từ mặt trận bí mật đến ngoại giao quân sự; từ nghiên cứu - thiết kế chế tạo vũ khí; từ nhà trường, phòng thí nghiệm đến thao trường; từ lãnh đạo chỉ huy đến cán bộ chiến sĩ, Thi đua Quyết thắng luôn là chất xúc tác biến quyết tâm thành kết quả, biến mục tiêu thành hiện thực. Nhờ thi đua, đơn vị có mục tiêu chung đo được; mỗi người có việc cụ thể làm đến nơi đến chốn; kỷ luật trở thành sức mạnh; sáng kiến trở thành nguồn lực; để “Thi đua ái quốc là yêu nước. Yêu nước thì phải thi đua, và những người thi đua là những người yêu nước nhất” trở thành văn hóa. Từ đó hình thành phẩm chất “Bộ đội Cụ Hồ” có đặc sắc riêng: Khiêm tốn mà kiên cường, kỷ luật mà sáng tạo, quyết đoán mà nhân hậu, quyết chiến và quyết thắng; để mỗi người lính góp sức mình vào xây dựng Quân đội “Trung với Đảng, hiếu với dân, sẵn sàng chiến đấu hy sinh vì Tổ quốc, vì chủ nghĩa xã hội. Nhiệm vụ nào cũng hoàn thành, khó khăn nào cũng vượt qua, kẻ thù nào cũng đánh thắng”.

Sức lan tỏa của Phong trào Thi đua Quyết thắng không dừng trong doanh trại, đơn vị, trong Quân đội mà còn truyền cảm hứng sang các ban, bộ, ngành, địa phương, doanh nghiệp và cộng đồng, góp phần làm nên nền nếp thi đua yêu nước rộng khắp của đất nước trong xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Ở đâu có bộ đội, ở đó có phong trào thi đua; ở đâu có cán bộ, chiến sĩ gương mẫu thì ở đó có phong trào, có kỷ cương, có hiệu quả; ở đâu có Thi đua Quyết thắng, ở đó tiêu chí “Cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại” trở nên cụ thể, đo đếm được; để mỗi cán bộ, chiến sĩ, công nhân viên quốc phòng đều có thể “Phát huy truyền thống, cống hiến tài năng, xứng danh Bộ đội Cụ Hồ”.

Thi đua Quyết thắng có giá trị bởi tính liên tục và chiều sâu. Không phải là đợt “ra quân” nhất thời mà là “nhịp đập cuộc sống”. Mỗi ngày một tiêu chí, mỗi tuần một việc làm thiết thực, mỗi tháng một sáng kiến, mỗi quý một kết quả bền chắc. Điểm bắt đầu là chiến sĩ; hạt nhân là tổ, tiểu đội; động lực là trung đội, đại đội; quyết định là cấp ủy, chỉ huy các cấp. Thi đua ở đây không phải là “chạy theo thành tích”, mà là “cơm ăn nước uống hằng ngày” trong môi trường đặc thù quân sự: Phải chính xác, đúng quy trình, an toàn, hiệu quả và phù hợp tình huống tác chiến hiện đại.

Trong môi trường quân ngũ, thi đua là trường học của “nhân cách và bản lĩnh”. Mỗi chỉ tiêu hoàn thành không chỉ thêm một “điểm số” mà thêm một nấc trưởng thành. Mỗi chiến sĩ phải biết đặt nhiệm vụ lên trên, biết kỷ luật tự thân, biết tôn trọng quy trình, biết hợp đồng tác chiến, biết xử trí tình huống, biết yêu đồng đội, thương dân. Muốn vậy, tiêu chí thi đua phải “rõ - đúng - trúng - dễ nhớ - dễ làm - dễ so sánh”. Tổ chức phải liền mạch từ cơ sở lên; đánh giá phải công minh, công khai; khen thưởng phải kịp thời, đúng người, đúng việc; phê bình phải chân thành, xây dựng, giúp nhau tiến bộ.

Thưa các đồng chí,

Tình hình thế giới, khu vực tiếp tục diễn biến nhanh, phức tạp, chiến tranh công nghệ cao, tác chiến với hình thái chiến tranh mới, đe dọa an ninh phi truyền thống gia tăng; yêu cầu dựng xây và bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới đòi hỏi Quân đội ta vừa “chính quy, tinh nhuệ, hiện đại” vừa “cơ động, linh hoạt, thông minh số”. Trong bối cảnh đó, Thi đua Quyết thắng phải trở thành “hệ điều hành” cho ba vai trò: “Đội quân chiến đấu” lấy tiêu chí huấn luyện “gần thực chiến, sát đối tượng tác chiến, sát địa bàn, sát vũ khí trang bị” làm trục; coi làm chủ vũ khí, khí tài, công nghệ cao là chỉ số bắt buộc; coi an toàn, kỷ luật là đường ranh đỏ. Qua nghe báo cáo thành tích tại Đại hội, tôi rất ấn tượng với tinh thần thi đua cũng như kết quả hoạt động, công tác của các cơ quan, đơn vị trong toàn quân. Bên cạnh những tấm gương dũng cảm hy sinh, đóng góp của Quân đội đối với đời sống xã hội, 5 năm qua, các đồng chí đã có nhiều bước tiến về vũ khí, khí tài, tác chiến, đây là dấu ấn của Đại hội thi đua lần này - xây dựng Quân đội hiện đại, làm chủ khoa học, công nghệ. Đó chính là việc thực hiện các mục tiêu xây dựng Quân đội cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại; thực hiện Nghị quyết số 57-NQ/TW của Bộ Chính trị trong Quân đội. Với sự phát triển mạnh mẽ của khoa học công nghệ hiện nay, toàn quân cần tiếp tục thi đua trên mặt trận khoa học kỹ thuật để tự chủ về chiến lược, xây dựng Quân đội ngày càng vững mạnh.  

“Đội quân công tác” gắn các mục tiêu thi đua với nhiệm vụ vận động quần chúng, xây dựng “thế trận lòng dân” vững chắc; phối hợp chặt chẽ với hệ thống chính trị địa phương; góp phần giữ ổn định xã hội, củng cố niềm tin nhân dân. “Đội quân lao động sản xuất” thúc đẩy nghiên cứu-thiết kế-chế tạo; làm chủ chuỗi sản xuất-bảo đảm kỹ thuật; tham gia phát triển kinh tế - xã hội ở vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo; đẩy mạnh chuyển đổi số trong công nghiệp quốc phòng, logistics Quân đội.

Truyền thống của Quân đội ta “ra quân là chiến thắng” đã trở thành “chuẩn mực hành động”. Mỗi cán bộ, chiến sĩ phải mang trong mình dòng máu “Quyết tử cho tổ quốc quyết sinh” trong học tập, rèn luyện, huấn luyện, thực hành chiến đấu, sẵn sàng chiến đấu, lao động sản xuất, giúp nhân dân, hợp tác quốc tế và nghĩa vụ quốc tế.

Thi đua chỉ có ý nghĩa khi “thật - hay - đẹp - hữu ích”. Tôi đề nghị toàn quân tiếp tục chấn chỉnh những biểu hiện hình thức; tuyệt đối tránh chạy theo chỉ tiêu bề nổi; đặt chất lượng, hiệu quả, chiều sâu lên hàng đầu. Thi đua phải làm cho con người tốt hơn, đơn vị mạnh hơn, công việc trôi chảy hơn, quan hệ quân-dân bền chặt hơn. Đoàn kết là cội nguồn sức mạnh. Thi đua phải góp phần “siết chặt đội ngũ”, lan tỏa tích cực, khuyến khích tài năng trẻ, tạo không gian cho sáng kiến của chiến sĩ, của phụ nữ Quân đội, của công nhân viên quốc phòng. Mỗi cấp ủy, chỉ huy phải là “nhạc trưởng” biết chọn đúng “bản nhạc”, chọn đúng “nhịp” tiến độ, phối hợp nhịp nhàng “dàn nhạc” các lực lượng.

Tôi đề nghị các cấp ủy, chỉ huy chăm lo nhân rộng điển hình: Có cơ chế ghi nhận kịp thời, khen thưởng xứng đáng; đưa các mô hình hay vào chương trình huấn luyện - công tác để mọi người cùng tiến bộ.

Thi đua là yêu nước. Yêu nước phải thể hiện bằng kết quả cụ thể, trách nhiệm cụ thể. Tôi tin tưởng chắc chắn rằng, với bề dày truyền thống, với bản lĩnh và trí tuệ Việt Nam, với sự lãnh đạo trực tiếp, tuyệt đối, toàn diện của Đảng, với sự phối hợp chặt chẽ của cả hệ thống chính trị và sự đùm bọc của nhân dân, Phong trào Thi đua Quyết thắng của toàn quân sẽ tiếp tục phát triển mạnh mẽ, thực chất, hiệu quả; tạo ra đột phá mới trong xây dựng Quân đội cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại; góp phần xứng đáng vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.

Một lần nữa, tôi nhiệt liệt biểu dương và gửi lời chúc mừng nồng nhiệt tới các tập thể, cá nhân điển hình tiên tiến; chúc các đồng chí sức khỏe, hạnh phúc, tiếp tục tỏa sáng ở cương vị mới. Tôi mong các đồng chí tiếp tục rèn luyện, phấn đấu trở thành hạt nhân truyền cảm hứng ở đơn vị; giúp đồng đội cùng tiến bộ; biến danh hiệu thành trách nhiệm, biến vinh quang thành cống hiến mới. Chúc Phong trào Thi đua Quyết thắng toàn quân lần thứ XI “bứt phá, lan tỏa, bền vững”, để mỗi đơn vị là một “pháo đài kỷ luật, sáng tạo”, mỗi người lính là một “ngọn lửa tận hiến”, mỗi nhiệm vụ là một “trận đánh thắng lợi”.

Chúc Đại hội thành công tốt đẹp!

Trân trọng cảm ơn các đồng chí!

Nhân dịp Đại hội Thi đua quyết thắng toàn quân, thay mặt lãnh đạo Đảng, Nhà nước, Quân ủy Trung ương, tôi xin tặng các đồng chí bức trướng với 16 chữ vàng.

“Trung thành kiên định - Đoàn kết kỷ cương

Đột phá phát triển - Quyết chiến quyết thắng”!
Ảnh: Tổng Bí thư Tô Lâm, Bí thư Quân ủy Trung ương phát biểu chỉ đạo đại hội.

Ảnh 2: Thay mặt lãnh đạo Đảng, Nhà nước, Quân ủy Trung ương, Tổng Bí thư Tô Lâm, Bí thư Quân ủy Trung ương tặng Đại hội Thi đua Quyết thắng toàn quân lần thứ XI bức trướng với 16 chữ vàng.
Yêu nước ST.

CHỦ ĐỘNG PHÒNG NGỪA, KIỂM SOÁT, NGĂN CHẶN TIN ĐỒN, TIN GIẢ!

BÀI 3: “CẮT MẠCH SỐNG” TIN ĐỒN, TIN GIẢ - TRÁCH NHIỆM KHÔNG CỦA RIÊNG AI.

(Tiếp theo và hết)

     Ngăn chặn tin đồn, tin giả không chỉ là trách nhiệm của cơ quan quản lý nhà nước hay báo chí chính thống, mà còn là yêu cầu cấp thiết trong quản trị xã hội thời đại số. Cần một chiến lược toàn diện, bài bản, có sự phối hợp đa ngành và sự vào cuộc của từng cá nhân, tổ chức để “cắt đứt mạch sống” của tin đồn, tin giả, bảo vệ sự thật, giữ vững ổn định xã hội. Đó là nhấn mạnh của ông Lê Quang Tự Do, Cục trưởng Cục Phát thanh, Truyền hình và Thông tin điện tử (Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch).

Phóng viên (PV): Đề nghị ông cho biết thực trạng việc quản lý, giám sát và xử lý tin đồn, tin giả trên mạng xã hội thời gian qua?

Ông Lê Quang Tự Do: Khoảng 10 năm gần đây, tin đồn, tin giả, tin xấu độc chủ yếu xuất hiện trên các nền tảng mạng xã hội xuyên biên giới như Facebook, YouTube, sau này thêm TikTok. Đặc điểm chung là ẩn danh hoặc do các tổ chức, cá nhân phản động chủ ý tung ra. Một số trường hợp người dân tung tin thất thiệt để "câu view", nhưng ngày càng ít.

Chủ động phòng ngừa, kiểm soát, ngăn chặn tin đồn, tin giả - Bài 3: “Cắt mạch sống” tin đồn, tin giả - trách nhiệm không của riêng ai (Tiếp theo và hết)
Ông Lê Quang Tự Do. Ảnh: THÀNH AN
Quản lý các nền tảng xuyên biên giới rất khó vì họ không có pháp nhân tại Việt Nam, chủ yếu theo tiêu chuẩn cộng đồng của họ, ít tuân thủ pháp luật nước sở tại. Trong khi đó, nhiều quy định của ta chưa kịp cập nhật với tốc độ phát triển internet. Ví dụ, Nghị định số 72/2013/NĐ-CP ngày 15-7-2013 của Chính phủ về quản lý, cung cấp, sử dụng dịch vụ internet và thông tin trên mạng đã trở nên lạc hậu. Thủ tục sửa đổi cũng gặp cản trở từ các tập đoàn xuyên biên giới và cả chính phủ các nước sở hữu nền tảng.

Ngoài ra, ý thức trách nhiệm của một bộ phận người dân còn hạn chế. Có người tung tin thất thiệt như máy bay rơi, vỡ đập, phong tỏa, tử vong hàng loạt trong dịch Covid-19 chỉ để gây chú ý. Trước năm 2018, các cơ quan quản lý chưa thật sự quan tâm và thiếu lực lượng chuyên trách, khiến tin giả mặc sức tung hoành. Những năm gần đây, Đảng và Nhà nước đã chỉ đạo quyết liệt, ban hành nhiều biện pháp để khắc phục bất cập, tăng cường quản lý.

PV: Hệ thống pháp luật và chế tài hiện hành đã đủ mạnh để xử lý tin đồn, tin giả chưa, thưa ông?

Ông Lê Quang Tự Do: Chúng ta đã từng bước lấp các khoảng trống pháp lý. Hiện có 4 nhóm giải pháp tổng thể: Xây dựng lực lượng chuyên trách; bổ sung, hoàn thiện quy định pháp luật; buộc các nền tảng xuyên biên giới tuân thủ pháp luật Việt Nam; tuyên truyền nâng cao nhận thức người dân và xử lý nghiêm vi phạm.

Về hệ thống pháp luật và chế tài hiện hành, chúng ta có Luật An ninh mạng năm 2018; Nghị định số 27/2018/NĐ-CP của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 72/2013/NĐ-CP ngày 15-7-2013 của Chính phủ về quản lý, cung cấp, sử dụng dịch vụ internet và thông tin trên mạng; Nghị định số 147/2024/NĐ-CP ngày 9-11-2024 của Chính phủ về quản lý, cung cấp, sử dụng dịch vụ internet và thông tin trên mạng. Đồng thời, Chính phủ ban hành Nghị định số 70/2021/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 181/2013/NĐ-CP ngày 14-11-2013 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Quảng cáo, trong đó chỉ tập trung về quảng cáo xuyên biên giới. Mới nhất, Quốc hội thông qua Luật số 75/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Quảng cáo, trong đó bổ sung Điều 23 về quảng cáo trên mạng.

Bên cạnh đó, Bộ Công Thương đã xây dựng quy định về thương mại điện tử. Bộ Tài chính xây dựng quy định về thu thuế điện tử và đặc biệt là thu thuế xuyên biên giới. Nhờ vậy, quản lý không gian mạng chặt chẽ, đồng bộ hơn trước.

Về chế tài, xử phạt được sửa đổi, bổ sung kịp thời. Chính phủ ban hành Nghị định số 15/2020/NĐ-CP ngày 3-2-2020 quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bưu chính, viễn thông, tần số vô tuyến điện, công nghệ thông tin và giao dịch điện tử; Nghị định số 38/2021/NĐ-CP ngày 29-3-2021 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực văn hóa và quảng cáo. Bộ Công an tăng cường xử lý hình sự đối với những trường hợp tung tin đồn sai sự thật, tin giả hoặc là xúc phạm danh dự dân tộc, tổ chức, cá nhân ở trên mạng... Qua đó, gửi một thông điệp rõ ràng: Lên mạng không còn là vô danh, mỗi người đều phải chịu trách nhiệm với hành vi của mình.

PV: Theo ông, các nền tảng mạng xã hội xuyên biên giới có trách nhiệm như thế nào trong việc gỡ bỏ, xử lý tin đồn, tin giả; kinh nghiệm quốc tế về vấn đề này như thế nào?

Ông Lê Quang Tự Do: Hiện 3 nền tảng chính là Facebook, YouTube, TikTok đều cam kết tuân thủ và đã phối hợp tốt hơn với cơ quan chức năng Việt Nam. Trên thế giới, khoảng 5-7 năm gần đây, nhiều nước bắt đầu siết chặt quản lý. Mỹ, EU ban hành luật xử lý tin giả; Singapore xử phạt rất nặng cả nền tảng lẫn cá nhân tung tin giả.

Điều này cho thấy Việt Nam không phải ngoại lệ, mà là xu thế toàn cầu. Khi đời sống con người dịch chuyển mạnh lên môi trường mạng thì quản lý, điều chỉnh hành vi là tất yếu. Vì vậy, luận điệu cho rằng Việt Nam tăng cường quản lý mạng, hạn chế tự do là hoàn toàn sai trái. Thực chất, thanh lọc không gian mạng để tạo môi trường an toàn, hữu ích chính là bảo vệ tự do và quyền lợi chính đáng của người dân.

PV: Làm thế nào để vừa xử lý nghiêm tin đồn, tin giả, vừa bảo đảm quyền tự do ngôn luận và quyền tiếp cận thông tin chính đáng của người dân, thưa ông?

Ông Lê Quang Tự Do: Phải khẳng định, Chính phủ và các cơ quan chức năng ở Việt Nam chỉ tập trung xử lý thông tin vi phạm pháp luật trên không gian mạng, hoàn toàn không ảnh hưởng gì đến quyền tự do ngôn luận và quyền tiếp cận thông tin chính đáng của người dân.

Chúng ta chống tin đồn thất thiệt, tin giả, chống tin xấu độc để xây dựng một không gian mạng lành mạnh, an toàn và hữu ích cho người dân, điều đó là cần thiết. Chính phủ phát triển internet, tạo mọi điều kiện phát triển các ứng dụng để người dân chuyển đổi số, thậm chí Việt Nam tuy còn nhiều khó khăn nhưng vẫn đẩy mạnh các ứng dụng, đầu tư vào việc triển khai 5G trên toàn quốc. Điều đó làm cho tốc độ internet tốt lên, cao hơn để người dân sử dụng; đầu tư vào các chuyển đổi số, dịch vụ công để người dân lên mạng sử dụng.

Như vậy, chúng ta bài trừ những cái xấu để xây dựng một môi trường mạng lành mạnh mà không hạn chế quyền tự do ngôn luận, không hạn chế quyền tiếp cận thông tin của người dân.

PV: Ông có thể chia sẻ một số giải pháp trọng tâm trong thời gian tới để kiểm soát, giảm và ngăn chặn tin đồn, tin giả?

Ông Lê Quang Tự Do: Giải pháp trọng tâm đầu tiên là tiếp tục hoàn thiện các văn bản, quy định pháp luật. Vì sự phát triển của internet giờ đây tính theo tháng, theo ngày, không phải theo năm nữa nên cần cập nhật, bổ sung ngay những quy định mới.

Thứ hai, củng cố lực lượng chuyên trách và xây dựng một thế trận rộng khắp gọi là “thế trận trên không gian mạng”. Cần kết hợp giữa “thế trận quản lý” với các lực lượng chuyên trách của hệ thống chính trị, các cơ quan thông tấn, báo chí và "tai mắt" của nhân dân. Tất cả cùng giám sát trên không gian mạng, như vậy mới kịp thời phát hiện được những nội dung vi phạm để ngăn chặn, bóc gỡ, cảnh tỉnh, xử lý răn đe. Những năm gần đây, chúng ta thực hiện rất hiệu quả sự phối hợp này.

Cục Phát thanh, Truyền hình và Thông tin điện tử đã tham mưu để xây dựng các kênh tiếp nhận phản ánh của người dân về những nội dung xấu độc trên không gian mạng, thiết lập đường dây nóng, xây dựng website phòng, chống tin giả, thông tin xấu độc. Chúng ta kết hợp cả 3 lực lượng báo chí, nhân dân và các cơ quan chủ lực mới đủ sức giám sát không gian mạng.

Chúng ta phải phân định rõ trách nhiệm của cả hệ thống chính trị trong quản lý không gian mạng. Vì bây giờ tất cả hoạt động của người dân và cơ quan nhà nước, hệ thống chính trị đều dịch chuyển lên không gian mạng nên tất cả đều phải có trách nhiệm.

Bên cạnh đó, các cơ quan chức năng cần nghiên cứu, đầu tư các phương tiện công cụ kỹ thuật để giám sát không gian mạng được kịp thời và hiệu quả hơn. Việc này, nhiều nước đầu tư rất mạnh vì họ xem đó là an ninh quốc gia. Chúng ta muốn giữ được chủ quyền trên không gian mạng thì bắt buộc phải có các công cụ và phương tiện kỹ thuật để giám sát và xử lý.

Một giải pháp hết sức quan trọng là tiếp tục tuyên truyền nâng cao nhận thức của người dân, tạo sức đề kháng. Trong đó, cần thay đổi nhận thức của người dân về trách nhiệm của mình với những hành vi và nội dung đăng tải trên không gian mạng. Nâng cao nhận thức cho người dân để tự lọc những nội dung sai sự thật hoặc lừa đảo.

Chúng ta tiếp tục duy trì áp lực đấu tranh để các nền tảng xuyên biên giới phải tuân thủ pháp luật Việt Nam ở mức ngày càng cao hơn, để không gian mạng trong sạch hơn.

PV: Trân trọng cảm ơn ông!
Ảnh: Ông Lê Quang Tự Do.
Môi trường ST.

CHỦ ĐỘNG PHÒNG NGỪA, KIỂM SOÁT, NGĂN CHẶN TIN ĐỒN, TIN GIẢ!

BÀI 2: KHOẢNG TRỐNG THÔNG TIN KHIẾN TIN ĐỒN, TIN GIẢ VẪN “NHỞN NHƠ”!

     “Tin đồn được đẩy đi bởi cảm xúc nhất thời, được “tiếp sức” bởi chính những người bị hại hay đôi co, giải thích. Điều khiến tin đồn “sống khỏe” do vẫn còn tồn tại khoảng trống thông tin ở cơ sở và công chúng chưa có kỹ năng quản trị truyền thông”, đó là chia sẻ của PGS, TS Bùi Chí Trung, Phó viện trưởng Viện Đào tạo Báo chí và Truyền thông, Trường Đại học Khoa học xã hội và nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội.

Phóng viên (PV): Theo ông, bản chất của tin đồn trên mạng xã hội là gì và vì sao nó đang có dấu hiệu gia tăng?

PGS, TS Bùi Chí Trung: Đầu tiên, chúng ta cần khẳng định, tin đồn không chỉ liên quan đến 1-2 người, không chỉ tác động đến 1-2 đối tượng mà có ảnh hưởng lớn đến cá nhân, cơ quan, tổ chức, xã hội và tác động đến các vấn đề trọng yếu của quốc gia. Tin đồn vì thế không phải là hiện tượng mà cần phải xem là một vấn nạn của xã hội.

Đa phần tin đồn được chia sẻ, được đẩy đi bởi cảm xúc nhất thời của độc giả. Bản chất tin đồn được lan nhanh, được “tiếp sức” bởi chính những người bị hại hay đôi co, giải thích, khiến tin đồn từ bé xé ra to. Từ đó, người bị hại dễ rơi vào bẫy, khiến tin đồn bị những kẻ trục lợi khác thổi phồng sự việc, biến tướng thành những trạng thái tiếp theo khó kiểm soát. Điều đáng lo ngại, nhiều đối tượng tung tin đồn đều là những người có học thức và hiểu biết xã hội. Họ biết độc giả đang quan tâm những gì, biết được lỗ hổng trong quản lý thông tin để đánh trúng vào tâm lý người dân, lôi kéo và mê hoặc họ bằng những tin đồn xuyên tạc, bịa đặt.

PV: Có ý kiến cho rằng, tâm lý, hành vi của người dùng mạng xã hội hiện nay đang góp phần nuôi dưỡng và lan truyền tin đồn. Quan điểm của ông về vấn đề này như thế nào?

PGS, TS Bùi Chí Trung: Theo quy luật chung, người trẻ quan tâm đến tương lai, sự phát triển, thăng tiến nghề nghiệp, đến những thứ họ dấn thân và luôn khao khát cái mới. Tin đồn vì thế lan đến đánh đúng tâm lý về những điều giới trẻ coi trọng. Trong khi đó, các nguồn tin chính thống của chúng ta nhiều lúc đưa ra chưa được xử lý kỹ, chưa hiểu hết đối tượng tiếp nhận thông tin cần gì nên khó được đón nhận.

Ngoài ra, tâm lý của con người thường thích xem những nội dung sốc, sến, giật gân, câu view... Trong tin đồn có nhiều loại hình khác nhau: Tin đồn liên quan đến văn nghệ sĩ, tin đồn xuất phát từ sự chống phá của các thế lực thù địch, tin đồn về vấn đề trọng yếu của quốc gia... Cũng bởi nội dung phong phú, đánh trúng vào tâm lý, nên tin đồn đã và đang được "nuôi dưỡng" bởi chính người dùng mạng xã hội.

PV: Ông nhận định như thế nào về vai trò của các nền tảng mạng xã hội và trí tuệ nhân tạo (AI) trong việc lan truyền tin đồn hiện nay?

PGS, TS Bùi Chí Trung: Sự phát triển của công nghệ, đặc biệt là AI khiến việc giả giọng nói được thực hiện dễ dàng, rào cản ngôn ngữ bị xóa bỏ. Bởi thế, mọi lúc, mọi nơi, các thế lực thù địch cũng có thể tung tin đồn. Các thế lực chống phá sử dụng tin đồn làm nhiễu, tung tin nhiều đúng vào thời điểm quan trọng gây giảm sút uy tín của cá nhân, tổ chức.

Đa phần tin đồn xuất phát từ những thứ ta chưa kiểm chứng, vấn đề lịch sử, do những tồn tại khách quan. Theo thông lệ quốc tế, có những buổi làm việc, đàm phán hay thông tin chúng ta không thể công bố, khiến cho các đối tượng thù địch xuyên tạc. Gần nhất, tin đồn về đàm phán thuế quan giữa Việt Nam và Hoa Kỳ là nội dung được rất nhiều người dân quan tâm, nhưng vì theo quy định, chúng ta không thể công bố cụ thể về quá trình đàm phán. Lợi dụng điều này, các đối tượng đã tung tin đồn nhằm xuyên tạc chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước ta.

PV: Theo ông, tâm lý xã hội, đặc biệt trong bối cảnh biến động như dịch bệnh, thiên tai có làm người dân dễ tin vào tin đồn hơn không?

PGS, TS Bùi Chí Trung: Tin đồn thường xuất hiện trong hoàn cảnh có vấn đề, trong trường hợp xung đột lợi ích. Khi xã hội có biến động lớn, tin đồn xuất hiện càng nhiều nhằm làm giảm niềm tin của nhân dân, gây giảm sút uy tín của các cá nhân, tập thể. Điều tôi lo lắng là hệ miễn dịch tâm lý của một bộ phận người dân đang kém trong bối cảnh đang “chết đuối” trong bể thông tin hỗn độn trên mạng xã hội, nhưng lại “chết đói” về tri thức. Khi hệ miễn dịch kém thì “cơ thể” dễ nhiễm bệnh, dễ bị các đối tượng xấu xuyên tạc, kích động, dẫn dắt vào những nhóm, tổ chức nguy hại.

Trước những tin đồn, chúng ta phải có một tâm thế vững, bình tĩnh để phát hiện nguồn gốc của nó; và khi đã nắm được gốc rễ thì phải phản ứng quyết liệt bằng những luận cứ, sở cứ mạnh mẽ. Ví dụ, mới đây các đối tượng xấu đã xuyên tạc về hoạt động hợp tác tìm kiếm quân nhân Mỹ mất tích trong chiến tranh tại Việt Nam. Ngay sau khi có tin đồn, Bộ Ngoại giao Việt Nam đã lên tiếng mạnh mẽ, đưa ra những lập luận, bằng chứng thuyết phục để nhanh chóng đập tan những tin đồn thất thiệt đó.

PV: Phải chăng đang có một khoảng trống thông tin ở cơ sở tạo điều kiện cho tin đồn “sống khỏe”, thưa ông?

PGS, TS Bùi Chí Trung: Có thể nói, các đối tượng đang tận dụng các khoảng trống thông tin từ các cơ quan chức năng tới nhân dân, từ đó tung tin đồn thất thiệt nhằm hạ bệ, gây giảm sút uy tín đối với cá nhân, tổ chức để trục lợi. Về vấn đề này, tôi cho rằng cần phải có một cuộc nghiên cứu, điều tra một cách toàn diện và tổng thể. Khi ta không thiếu thông tin, không còn khoảng trống thông tin ở cơ sở thì rất khó để độc giả lung lay. Các cụ ta có câu “trăm nghe không bằng một thấy”, giờ đây xung quanh cuộc sống có rất nhiều camera, khiến xã hội nhìn bằng một con mắt không giới hạn. Khi các vấn đề trở nên minh bạch, có nhiều góc quay thực tế thì có gì mà độc giả phải tranh cãi.

Điều quan trọng nhất của mỗi độc giả là cần phải xây dựng miễn dịch tự thân và miễn dịch thông tin. Điều tôi trăn trở là làm thế nào để có thể xây dựng cho học sinh, sinh viên về chuyên đề quản trị truyền thông. Chúng ta đã nói với nhau nhiều về quản trị tài chính, quản trị thời gian, quản trị sự nghiệp... trong khi quản trị truyền thông rất quan trọng thì chưa được quan tâm đúng mức.

Câu chuyện miễn dịch vẫn chưa đủ, trách nhiệm quản lý tin đồn thuộc về các cơ quan nhà nước. Lâu nay, nhiều cơ quan chức năng đến với doanh nghiệp một cách thụ động, đôi khi là một chiều vì có vấn đề bức bối mới nhảy lên kêu cứu. Đó là lỗ hổng để các đối tượng tung tin đồn gây ảnh hưởng đến cá nhân, tổ chức và xã hội.

Điều tôi lo lắng là hiện nay chúng ta chưa có một chế tài đủ sức răn đe đối với những đối tượng tung tin sai sự thật gây ảnh hưởng đến các cá nhân, tập thể, doanh nghiệp. Một số doanh nghiệp từng bị ảnh hưởng nghiêm trọng bởi tin đồn, song rốt cuộc vẫn chưa có người phải chịu trách nhiệm. Chúng ta chưa có cơ chế kịp thời, chính xác để lấp đầy khoảng trống thông tin ở cơ sở, chưa có công cụ đo lường thiệt hại của những doanh nghiệp vướng vào tin đồn. Khi những người bị hại ngày một nhiều thì hệ miễn dịch tâm lý cộng đồng ngày một kém, khi ấy “cơ thể” mang một lúc nhiều bệnh nền sẽ dễ bị tổn thương khi tiếp tục bị tin đồn "tấn công".

PV: Theo ông, làm thế nào để nâng cao "sức đề kháng" cho người dân trên mạng xã hội?

PGS, TS Bùi Chí Trung: Gần đây, có ý tưởng cho rằng cần liên minh những người có sức ảnh hưởng trên mạng xã hội (KOL) để tạo nên những “lô cốt” chống tin đồn trên mạng xã hội. Những KOL là người có sức ảnh hưởng, tiếng nói của họ, hình ảnh mà họ cung cấp sẽ đến nhanh và lan rộng đến cộng đồng. Khi các cơ quan nhà nước cung cấp thông tin, các KOL có quyền phân tích các thông tin đó để mang đến những góc nhìn cho độc giả.

Tôi nghĩ rằng, ai cũng có thể trở thành KOL nếu có kỹ năng quản trị truyền thông tốt. Thay vì chỉ tập trung vào một vài KOL, chúng ta cần tạo ra thế hệ trẻ có tri thức, sự hiểu biết và có tư duy phản biện trước những tin đồn. Kỹ năng diễn đạt truyền thông, diễn ngôn, quản trị và khai thác thông tin hiện nay các bạn trẻ đang làm tốt và mỗi người hoàn toàn có thể trở thành một “lô cốt” chống tin đồn trên mạng xã hội.

Tin đồn là thứ không bao giờ hết, điều quan trọng là chúng ta ứng xử thế nào, đối phó thế nào để nó không lây lan trong cộng đồng. Đẩy lui tin đồn không phải là ngày một ngày hai có thể làm được mà là câu chuyện của nhiều thế hệ, phải xây dựng từ gốc rễ. Khi những người cao tuổi làm gương, các thế hệ con cháu được trang bị kiến thức, kỹ năng thì sẽ hình thành nên hệ miễn dịch tâm lý cho nhân dân trên mạng xã hội, giúp họ tự tin đối mặt và đối phó với các loại tin đồn. 

PV: Trân trọng cảm ơn ông!
Ảnh: PGS, TS Bùi Chí Trung. Ảnh do nhân vật cung cấp.
(còn nữa)
Môi trường ST.

CHỦ ĐỘNG PHÒNG NGỪA, KIỂM SOÁT, NGĂN CHẶN TIN ĐỒN, TIN GIẢ

BÀI 1: TIN ĐỒN, TIN GIẢ - “BÓNG MA” LẨN KHUẤT TRONG KỶ NGUYÊN SỐ!

     Trong thời đại công nghệ số, thông tin tưởng chừng đã được minh bạch, xác thực nhờ kết nối toàn cầu và sự phát triển của trí tuệ nhân tạo (AI), nhưng tin đồn, tin giả vẫn lây lan nhanh, gây nhiễu loạn thông tin, tác động xấu đến xã hội, quốc phòng, an ninh. Báo Quân đội nhân dân thực hiện loạt bài phỏng vấn các chuyên gia, nhà quản lý để lý giải nguyên nhân, nhận diện hệ lụy và đề xuất giải pháp nhằm hạn chế “đất sống” của tin đồn, tin giả trong kỷ nguyên số.

Trong khi sự thật cần thời gian để xác minh và kiểm chứng thì tin đồn lại luôn có “đường tắt” để đến với công chúng. Tin đồn, tin giả, clip xuyên tạc, hình ảnh dàn dựng bằng công nghệ AI đang đánh lừa cảm xúc và nhận thức của người dân, trở thành những “bóng ma” lẩn khuất trên không gian mạng, tạo nên “vùng xám” nguy hiểm trong đời sống xã hội. Vì sao tin đồn lại chiếm ưu thế như vậy? Phóng viên Báo Quân đội nhân dân đã có cuộc trao đổi với chuyên gia truyền thông Lê Quốc Vinh, Chủ tịch Công ty Le Bros.

Phóng viên (PV): Thưa ông, vì sao tin đồn vẫn tồn tại dai dẳng giữa thời đại mà thông tin tưởng như đã minh bạch, kết nối và đa chiều hơn bao giờ hết?

Ông Lê Quốc Vinh: Tò mò, muốn biết những thứ mà người khác không biết, muốn biết trước người khác, thậm chí là nếu mình được biết thông tin gì đó mà có vẻ như là mới mẻ thì người ta thích khoe ra bên ngoài. Đó là tâm lý rất phổ biến của con người nói chung, là “cái nôi” để người ta tán phát, truyền ra bên ngoài những tin đồn.

Việt Nam hiện có độ mở thông tin hơn rất nhiều quốc gia khác. Nhưng hiện thực của nó là còn nhiều điểm mơ hồ trong thông tin. Trong phương thức truyền thông của nhiều cơ quan, đơn vị thì thường các doanh nghiệp, các tổ chức khá cởi mở, nhưng nhiều cơ quan quản lý nhà nước lại đang có xu hướng không cởi mở, không minh bạch về thông tin. Phong cách truyền thông như thế, xu hướng truyền thông như thế đã vô tình tạo ra những khoảng mờ trong hoạt động của tổ chức đó. Như thế sẽ kích thích người ta muốn đi tìm hiểu xem có những gì khác nữa đằng sau lớp màn bí ẩn này. Khi càng có nhiều khoảng trống thông tin, càng có nhiều không gian mơ hồ thì tin đồn càng dễ để phát triển. 

PV: Theo ông, cần phân biệt thế nào giữa tin giả và tin đồn, liệu có ranh giới nào rõ ràng giữa hai khái niệm này không?

Ông Lê Quốc Vinh: Tin đồn có những thứ là tin thật, chỉ là xuất hiện trước thông tin chính thức thôi, có thể có được nhờ tình báo, thông tin nội bộ... Nhưng từ tin đồn lại bóp méo sự thật, làm sai lệch tin thật thì từ tin đồn nó biến thành tin giả. Đa số tin đồn là tin giả, là thuyết âm mưu. Bởi vì có những người chỉ có một chút thông tin nhưng thêu dệt vào thành tin giả. Tin giả có 3 loại: Một loại dựa vào một chút thông tin sự thật nhưng thêu dệt thêm vào; một loại là bịa đặt hoàn toàn; một loại là nói về sự thật nhưng lại gán ghép mục đích sai lệch. Nó bóp méo cách hiểu của công chúng đối với cả những sự thật, đây là thông tin cực kỳ nguy hiểm.

PV: Trong thực tiễn đời sống, ông đánh giá như thế nào về mức độ phổ biến và mức độ nguy hiểm của tin đồn, tin giả trên không gian mạng?

Ông Lê Quốc Vinh: Trong thế giới hôm nay, việc tìm kiếm thông tin cực kỳ dễ dàng, càng giấu giếm thì càng tạo ra những cơ hội để công chúng tin vào tin đồn thất thiệt. Tôi có một cuốn sách “Khủng hoảng không bắt đầu từ truyền thông”. Trong đó, tôi có nói rằng tất cả các cuộc khủng hoảng xảy ra đều do lỗ hổng về truyền thông, các khoảng trống truyền thông, những băn khoăn, những mơ hồ tạo cho người ta khủng hoảng. Nếu như chúng ta làm truyền thông theo kiểu cứ tạo ra các khoảng trống thông tin thì công chúng sẽ phản ứng tiêu cực. Làm sao để thông tin minh bạch, rõ ràng thì công chúng sẽ hành động ngay và phản ứng một cách tích cực. Đừng làm cho công chúng bị mơ hồ, bị mất thông tin hay bị sai lệch thông tin. 

Có những chuyện nhỏ thì phản ứng của công chúng chỉ ở mức độ nhỏ, nhưng nếu tin đồn ảnh hưởng tới vấn đề xã hội lớn sẽ ảnh hưởng rất nghiêm trọng và không thuận lợi cho các hành động tiếp theo, tạo ra những khó khăn cho những chính sách hay các hoạt động sau đó. Điều quan trọng nhất của những người làm truyền thông là phải kiểm soát được sự kỳ vọng của công chúng; chúng ta làm như thế nào, đưa ra thông tin gì, đưa ra những hành động gì để công chúng sẽ hành động như chúng ta chờ đợi. Đấy mới là nguyên tắc quan trọng nhất.

PV: Đã có những tin đồn nào gây hậu quả nghiêm trọng trong đời sống xã hội những năm gần đây mà chúng ta cần nhìn lại để rút ra bài học, thưa ông?

Ông Lê Quốc Vinh: Có rất nhiều loại tin đồn thất thiệt. Ví như một lực lượng chức năng có một hành động, nhưng không thông tin rõ hành động đấy được diễn ra như thế nào, tại sao làm như thế, mục đích gì... thì lập tức những thế lực này kia sẽ thêu dệt, bịa ra, dẫn dắt nhiều thông tin sai lệch. Lúc này, tin đồn biến thành tin giả, tạo ra có mục đích, đánh trúng tâm lý của người muốn nghe. Khi nó lan truyền thì ảnh hưởng rất nghiêm trọng. Nhiều tin đồn vô thưởng vô phạt thì chỉ gây tò mò, nhưng nhiều tin đồn cố tình gây sai lệch sẽ tạo ra sự ảnh hưởng rất lớn trong truyền thông.

Tin đồn “sống” khỏe làm người ta mất niềm tin vào câu chuyện gì đó, người ta có thể không tin vào những điều mà các cơ quan chức năng đang làm, có thể không tin vào doanh nghiệp, tổ chức và có thể dẫn đến phản ứng tiêu cực. Chẳng hạn như cơ quan chức năng đưa ra chính sách, với một tâm thế là tìm kiếm giải pháp tốt hơn cho xã hội, ví dụ chuyển đổi phương tiện giao thông “xanh” trên địa bàn trung tâm TP Hà Nội... nhưng lại chưa đưa ra những phương thức, thông tin cụ thể, rõ ràng để triển khai thực hiện cho phù hợp, khiến người dân mơ hồ và cho rằng đằng sau những gì mà cơ quan công quyền đang nói còn một lý do khác?... Từ đó khiến mọi người hiểu không đúng. Đã có những bài học rất lớn mà tôi đã và vẫn đang nói với nhiều tổ chức, kể cả các cơ quan quản lý, chức năng rằng truyền thông ngày nay cần phải minh bạch, vẫn phải dẫn dắt để công chúng nhìn thấy cụ thể mọi việc. Những quyết định đưa ra sẽ được cân nhắc và hướng đến lợi ích chung, nhưng phải làm cho người dân hiểu được rằng họ có được gì từ những lợi ích chung thì họ sẽ ủng hộ. 

PV: Theo ông, khi AI ngày càng được sử dụng để tạo ra nội dung, đâu là thách thức mới trong kiểm soát, ngăn chặn sự lan truyền của tin đồn?

Ông Lê Quốc Vinh: Trí tuệ nhân tạo cung cấp thông tin cho mình là dựa trên những gì nó học được, nó không tự nhiên nghĩ ra. AI chỉ là một bộ máy rất mạnh để thu thập thông tin. Như vậy, nếu những thông tin mà AI thu thập được là đúng thì sẽ cung cấp câu hỏi, câu trả lời chính xác; nếu những thông tin AI thu thập là sai sẽ mang đến thông tin thất thiệt; hoặc thậm chí nếu không có thông tin sẵn, bộ máy đó sẵn sàng bịa ra một thứ gì mới, sai lệch, chống đối. Vì vậy, để AI trở thành công cụ hữu ích cho con người thì phải cung cấp cho nó thông tin chính xác, thông tin đúng, thậm chí là thông tin đầy đủ.

Trước đây, chúng ta dùng Google tìm kiếm, nhưng hiện giờ, khi chúng ta tìm kiếm trong Google thì AI đã đưa ra câu trả lời ở ngay trên đầu, thế là xu hướng của chúng ta là phải tìm nốt những cái còn lại để tìm hiểu. Do vậy hiện nay, trong bất cứ hoạt động nào từ chính trị, quốc phòng, an ninh, xã hội, kinh tế... để thắng lợi trong cuộc chiến thông tin thì chúng ta phải chủ động thông tin; phải là người cung cấp nhiều thông tin hơn và cung cấp phải đúng, phải chính xác, phải chạm được vào sự mong đợi của công chúng.

PV: Trân trọng cảm ơn ông!
(còn nữa)
Ảnh: Ông Lê Quốc Vinh. Ảnh do nhân vật cung cấp.

Môi trường ST.

Thứ Ba, 23 tháng 9, 2025

THỦ TƯỚNG CHÚC MỪNG CÔNG DÂN, CÓ GÌ MÀ LẠ?

     FB Nguyen Ngoc Chu vừa đăng tút về việc Thủ tướng Chính phủ chúc mừng ca sĩ Đức Phúc nhân chiến thắng tại Cuộc thi ca khúc quốc tế Intervision 2025 
(Международный конкурс песни “Интервидение-2025».

Ông Chu đánh giá về tầm cỡ cuộc thi thế này:“Đây là một cuộc thi hát tầm khu vực, hậu Xô Viết -Trung Á, mang tính chính trị - văn hoá. Chiến thắng tại cuộc thi này đáng khích lệ. Tuy nhiên cần đánh giá đúng vị trí của nó. 

Trong các cuộc thi hát quốc tế, ISC xếp sau xa Eurovision Song Contest (ESC) hay Sanremo (Ý), Viña del Mar (Chile), American Song Contest (Mỹ), thậm chí cả Asian Wave (Trung Quốc).” (nguyên văn trên fb ông ta viết).

Không biết ông Chu lấy tiêu chí nào để viết ISC “xếp sau xa” các cuộc thi mà ông đã liệt kê? 

✍️Trước tiên, ông Chu nhận định rằng ISC 2025 chỉ là một cuộc thi tầm khu vực hậu Xô viết -Trung Á là không chính xác. 

Cuộc thi Intervision vốn có truyền thống từ thời Liên Xô với tên gọi Интервидение, nay được khôi phục với quy mô quốc tế, quy tụ 23 quốc gia từ nhiều châu lục: châu Á (10 nước: Trung Quốc, Ấn Độ, Qatar, Ả Rập Xê Út, UAE, Việt Nam, Kazakhstan, Kyrgyzstan, Tajikistan, Uzbekistan), châu Âu (3 nước: Nga, Belarus, Serbia), châu Phi (5 nước: Ai Cập, Ethiopia, Kenya, Nam Phi, Madagascar), châu Mỹ (5 nước: Mỹ, Brazil, Colombia, Cuba, Venezuela). Tầm “khu vực” mà bao gồm đại diện của các châu lục đó ư? 

✍️Thứ hai, việc ông Chu xếp ISC “sau Sanremo (Ý) hay Viña del Mar (Chile)” là quá khập khiễng, bởi hai sự kiện kia chỉ là liên hoan âm nhạc mang tính quốc gia, không có cơ chế thi đấu liên quốc gia. 

Trái lại, ISC 2025 là một cuộc thi quốc tế thực thụ, với bình chọn đa quốc gia, được truyền thông toàn cầu (Reuters, Guardian…) theo dõi như một đối trọng của Eurovision.
Hơn nữa, ông Chu viện dẫn American Song Contest (Mỹ) và Asian Wave (Trung Quốc) để so sánh lại càng khập khiễng. Hai chương trình này thực chất chỉ là thử nghiệm rồi chết yểu: ASC mới tổ chức một mùa năm 2022 rồi dừng hẳn vì rating thấp, còn Asian Wave năm 2012 tại Thượng Hải cũng chỉ tồn tại đúng một lần. 

❗️✍️Vì vậy, dùng tên các cuộc thi này để nhằm hạ thấp tầm cỡ của Intervision 2025 vừa được tổ chức ở Moskva là không thực tế và không phù hợp. Lại càng vô lý hơn khi ông đem so sánh cuộc thi ca khúc với các cuộc thi

✍️2. Ông Chu còn viết.

“Thủ tướng có thể biết đến, nghe qua, nhưng Thủ tướng không có thời gian và không thuộc phạm vi phải quan tâm đến việc gửi thư chúc mừng người chiến thắng cuộc thi hát đại chúng Intervision Song Contest (ISC) 2025. Việc này, có chăng, nên thuộc phạm vi của Bộ Văn hoá – Thể thao và Du lịch”.

✍️Ồ, không lẽ ông Chu không biết ở nhiều quốc gia, việc Thủ tướng gửi thư hay lời chúc mừng công dân khi giành thành tích về văn hoá, âm nhạc hay thể thao là chuyện hoàn toàn bình thường hay sao?

Thủ tướng Ấn Độ Narendra Modi nhiều lần chúc mừng nghệ sĩ Ấn đoạt giải Grammy như nhóm Shakti, Zakir Hussain hay Chandrika Tandon. 

Thủ tướng Canada Justin Trudeau từng gửi thông điệp chúc mừng Bianca Andreescu khi cô vô địch US Open 2019, trong khi Thủ tướng Tây Ban Nha Pedro Sánchez cũng làm tương tự với Carlos Alcaraz. 

Ở Anh, Thủ tướng Boris Johnson và Rishi Sunak đều đã công khai chúc mừng đội tuyển bóng đá nữ “Lionesses” khi vô địch EURO 2022 và Á quân World Cup 2023.

Ngay cả trong âm nhạc, Thủ tướng Thụy Điển Fredrik Reinfeldt từng gửi lời chúc mừng Loreen khi cô giành chiến thắng Eurovision 2012. 

Những ví dụ này cho thấy việc người đứng đầu Chính phủ chúc mừng thành tích văn hoá, nghệ thuật hay thể thao không hề hiếm, mà ngược lại còn là thông lệ phổ biến❗️

Thế mà cũng nói được thì lạ thật!
Yêu nước ST.

TÌM HIỂU GIÚP BẠN: HAI LẦN BÁC HỒ TỪ CHỐI NHẬN HUÂN CHƯƠNG!

     Cả cuộc đời Chủ tịch Hồ Chí Minh đã dành trọn cho nhân dân, cho đất nước. Người chẳng có gì cho riêng mình. Từ lúc sinh thời đến khi về cõi vĩnh hằng, Người “chỉ biết quên mình cho hết thảy”, nhưng trên ngực không một tấm Huân chương. Điều đó ai cũng biết, song không phải ai cũng biết rằng, Người đã từng 2 lần từ chối nhận Huân chương. Mỗi lần từ chối nhận Huân chương, Người đều có những lí do riêng của mình, nhưng lí do chung nhất Người từ chối nhận Huân chương vì cho rằng, mình chưa làm trọn nhiệm vụ với nước, với dân.

Lần đầu tiên Chủ tịch Hồ Chí Minh từ chối nhận Huân chương là năm 1963, khi Quốc hội có ý định tặng Người Huân chương Sao Vàng - Huân chương cao quý nhất của nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.
Thời điểm đó, thực hiện Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ ba của Đảng, nhân dân miền Bắc đang ra sức thi đua xây dựng CNXH, bước vào thực hiện kế hoạch 5 năm lần thứ nhất. Cả miền Bắc hăng say lao động, thi đua vì miền Nam ruột thịt với các phong trào Ba Nhất trong Quân đội, phong trào Duyên Hải trong công nghiệp, phong trào Đại Phong trong nông nghiệp, phong trào Bắc Lý trong giáo dục.
Lúc đó, nhân dân miền Nam đang anh dũng đấu tranh chống “chiến tranh đặc biệt” - một loại hình chiến tranh trong chiến lược “phản ứng linh hoạt” của đế quốc Mỹ nhằm xâm lược miền Nam Việt Nam, đồng thời cũng là sự thử nghiệm nhằm đàn áp phong trào giải phóng dân tộc, đe dọa các nước mới giành độc lập.
Tại kỳ họp thứ 6 Quốc hội khoá III, ngày 8/5/1963, trước các đại biểu Quốc hội Chủ tịch Hồ Chí Minh đã xin phép chưa nhận Huân chương. Trong bài phát biểu của Người có nêu rõ lý do: “Tôi vừa biết một tin làm cho tôi rất cảm động và sung sướng, đó là tin Quốc hội định tặng cho tôi Huân chương Sao vàng, Huân chương cao quý nhất của nước ta. Tôi xin tỏ lòng biết ơn Quốc hội, nhưng tôi xin Quốc hội cho phép tôi chưa nhận Huân chương ấy. Vì sao, vì Huân chương là để tặng người có công huân, nhưng tôi tự xét chưa có công huân xứng đáng với sự tặng thưởng cao quý của Quốc hội”. Sau khi phân tích tình hình cách mạng ở miền Nam, tinh thần đấu tranh hy sinh anh dũng của đồng bào miền Nam, Người xin Quốc hội cho phép chờ đến ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng, Tổ quốc hoà bình thống nhất, Bắc Nam sum họp một nhà, đồng bào miền Nam sẽ trao cho Người huân chương cao quý. Như vậy thì toàn dân sẽ sung sướng vui mừng.

Lần thứ hai, Chủ tịch Hồ Chí Minh từ chối nhận Huân chương là khi Đoàn Chủ tịch Xô Viết tối cao Liên Xô quyết định tặng Người Huân chương Lênin - Huân chương cao quý nhất của Liên Xô vào năm 1967, nhân dịp kỷ niệm 50 năm Cách mạng xã hội chủ nghĩa Tháng Mười, do những đóng góp của Người trong việc củng cố và xây dựng tình hữu nghị giữa nhân dân Việt Nam và nhân dân Liên Xô.
Khi nhận tin mình sẽ được tặng Huân chương, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã gửi điện cảm ơn tới Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Liên Xô và trình bày ý kiến của mình: “Lúc này giặc Mỹ đang đẩy mạnh chiến tranh xâm lược Tổ quốc Việt Nam chúng tôi. Chúng đang giết hại một cách cực kỳ dã man đồng bào tôi ở miền Nam cũng như ở miền Bắc. Trong lúc đó, riêng tôi lại được hưởng vinh dự đặc biệt to lớn và nhận Huân chương Lênin thì lòng tôi không yên chút nào”. Một lần nữa Người lại cho rằng mình chưa xứng đáng được nhận Huân chương vì sự nghiệp chưa hoàn thành.

Hai lần Chủ tịch Hồ Chí Minh từ chối chưa nhận Huân chương đều vì một lý do: Sự nghiệp giải phóng miền Nam chưa hoàn thành, Tổ quốc còn bị chia cắt, lòng Bác không yên khi nhận những tấm Huân chương vinh danh ấy.
Sáu năm trước ngày toàn thắng - ngày nhân dân miền Nam có thể trao tặng Người tấm Huân chương cao quý, Người đã đi xa.

Dù Chủ tịch Hồ Chí Minh kính yêu của chúng ta không có một tấm Huân chương nào trên ngực nhưng Người vẫn có một tấm Huân chương cao quý, đó là tình yêu vô bờ bến của mỗi người con nước Việt và bạn bè tiến bộ trên toàn thế giới dành cho Người, “Bác Hồ - Người là tình yêu thiết tha nhất trong lòng dân và trong trái tim nhân loại”./.

Yêu nước ST.

KHÔNG THỂ XUYÊN TẠC TÌNH ĐOÀN KẾT VĨ ĐẠI VIỆT NAM - CUBA!

     Khi Việt Nam phát động chương trình quyên góp ủng hộ Cuba nhân kỷ niệm 65 năm Ngày thiết lập quan hệ ngoại giao hai nước, các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị lập tức xuyên tạc, phủ nhận bản chất của hoạt động nhân văn, nghĩa tình này. Không dừng lại ở đó, chúng còn lợi dụng để chống phá đường lối, chính sách đối ngoại của Đảng, Nhà nước ta. Vạch trần mưu đồ của các thế lực thù địch không chỉ là trách nhiệm chính trị mà còn là tình cảm, lương tâm của mỗi người trong gìn giữ, phát triển tình đoàn kết đặc biệt Việt Nam-Cuba, bảo vệ đường lối đối ngoại của Đảng trong tình hình mới.

Đòn thâm hiểm vào nghĩa cử nhân văn

Hướng tới kỷ niệm 65 năm thiết lập quan hệ ngoại giao Việt Nam-Cuba (1960-2025), Trung ương Hội Chữ thập đỏ Việt Nam được Đảng, Nhà nước, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam giao chủ trì phối hợp với các bộ, ngành và các cơ quan, đơn vị tổ chức Chương trình vận động ủng hộ nhân dân Cuba với chủ đề “65 năm nghĩa tình Việt Nam-Cuba”. Chương trình mang ý nghĩa chính trị, đối ngoại nhân văn sâu sắc, thể hiện nghĩa tình thủy chung son sắt, trước sau như một của Việt Nam đối với đất nước Cuba anh em, nhất là trong bối cảnh nhân dân Cuba đang đối diện với nhiều khó khăn do cấm vận, thiên tai, dịch bệnh...

Không chỉ dừng lại ở hoạt động ủng hộ vật chất, chương trình còn mang thông điệp chính trị-ngoại giao: Việt Nam trước sau kiên định đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, đa phương hóa, đa dạng hóa, gắn bó thủy chung với bạn bè truyền thống. Đây cũng là minh chứng sinh động cho sức sống của mối quan hệ đặc biệt Việt Nam-Cuba, một mối quan hệ hiếm có trong lịch sử quan hệ quốc tế, được Chủ tịch Hồ Chí Minh và lãnh tụ Fidel Castro đặt nền móng, được các thế hệ lãnh đạo và nhân dân hai nước không ngừng vun đắp.

Thế nhưng, ngay sau khi chương trình vận động cấp quốc gia được phát động và trong suốt những ngày qua, nghĩa cử cao đẹp ấy trở thành mục tiêu công kích của các thế lực thù địch, phản động và những kẻ cơ hội chính trị. Chúng bóp méo, xuyên tạc, phủ nhận bản chất nhân văn của chương trình vận động, từ đó hướng tới phủ nhận đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, nhân văn của Đảng, Nhà nước và ngoại giao nhân dân Việt Nam. 

Cần thấy rõ rằng, không phải ngẫu nhiên mà các thế lực thù địch, phản động lại chọn chính những chương trình nhân văn, nhân đạo để chống phá. Như một thuộc tính cố hữu, với chúng, các chương trình, hành động của Việt Nam càng nhân văn, nhân đạo bao nhiêu thì càng bị chúng tìm cách bôi nhọ bấy nhiêu. Chúng biết rõ mối quan hệ Việt Nam-Cuba là biểu tượng mẫu mực của tình đoàn kết quốc tế trong sáng. Vì thế, nếu làm xói mòn niềm tin vào biểu tượng ấy, chúng sẽ đạt mục tiêu kép: Vừa chia rẽ nhân dân với Đảng, vừa làm suy yếu, tổn hại đường lối đối ngoại của Việt Nam.

Trong các chiến dịch chống phá gần đây, chúng sử dụng những thủ đoạn quen thuộc nhưng tinh vi hơn: Cắt ghép hình ảnh buổi quyên góp để rêu rao “ép buộc, hình thức”; dựng số liệu giả rồi so sánh ác ý với một số khó khăn trong nước để gieo rắc tâm lý bất mãn, hoài nghi; đánh tráo khái niệm, biến quyên góp tự nguyện thành “bắt buộc”; nguy hiểm hơn, chúng lợi dụng không gian mạng, tạo “bầy đàn số”, khiến dư luận hiểu nhầm rằng đa số nhân dân phản đối chương trình quyên góp. Tất cả đều nhằm gieo mầm hoài nghi, cổ xúy chủ nghĩa vị kỷ, làm suy giảm niềm tin của nhân dân vào Đảng, Nhà nước và Mặt trận Tổ quốc Việt Nam.

Từ việc công kích một hoạt động quyên góp cụ thể, chúng mở rộng sang phủ nhận bản chất của quan hệ Việt Nam-Cuba, coi đó là “di sản không cần duy trì”. Bằng lời lẽ quy chụp “phô trương, mua danh”, mưu đồ chúng hướng tới là phủ nhận đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, đa phương hóa và nhân văn của Đảng ta. Qua đó, hòng làm xói mòn tinh thần đại đoàn kết dân tộc, đoàn kết quốc tế trong sáng. Từ xuyên tạc mối quan hệ đoàn kết Việt Nam-Cuba, các thế lực chống đối phủ nhận vai trò, vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế, cô lập Việt Nam với các đối tác và bạn bè truyền thống. Rõ ràng, âm mưu sâu xa của chúng là tạo ra “khoảng trống niềm tin”, thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong xã hội, từng bước phá hoại nền tảng tư tưởng của Đảng.

“Lá chắn thép” chống luận điệu xuyên tạc

Để nhìn thấu bản chất phản động trong những luận điệu chống phá của các thế lực thù địch, phản động và những kẻ cơ hội chính trị, chúng ta cần nắm chắc, hiểu sâu mối quan hệ đoàn kết đặc biệt giữa hai Đảng, hai Nhà nước và nhân dân hai nước Việt Nam-Cuba trong suốt chiều dài 65 năm lịch sử. Được hình thành từ sớm, xuất phát từ lương tâm, tình cảm quốc tế trong sáng và truyền thống hữu nghị, nhân văn của hai dân tộc, quan hệ ấy đã vượt qua thử thách của chiến tranh, khoảng cách địa lý và sự khắc nghiệt của chính sách bao vây cấm vận, trở thành biểu tượng bất diệt của tình đồng chí.

Trong quan điểm của Chủ nghĩa Mác-Lênin, đoàn kết quốc tế là một nguyên tắc căn bản, thể hiện ở việc kết hợp nhuần nhuyễn giữa chủ nghĩa yêu nước chân chính với chủ nghĩa quốc tế vô sản cao cả. Tư tưởng ấy được Chủ tịch Hồ Chí Minh tiếp thu và phát triển thành phương châm xuyên suốt: “Giúp bạn là tự giúp mình”, Người khẳng định: “Việt Nam và Cuba cách xa nhau hàng vạn dặm, nhưng lòng nhân dân hai nước chúng ta thì rất gần gũi nhau như anh em một nhà”(*), cùng chung khát vọng độc lập, tự do và con đường đi lên xã hội chủ nghĩa. Từ trong khói lửa chiến tranh đến xây dựng hòa bình, từ những chuyến thăm lịch sử đến những công trình, dự án cụ thể, tinh thần quốc tế trong sáng ấy đã trở thành nền móng vững chắc của mối quan hệ thủy chung son sắt. Chính nhờ vậy, mỗi hoạt động quyên góp hôm nay không phải là sự kiện đơn lẻ mà là gạch nối giữa lịch sử và hiện tại, giữa hôm qua và hôm nay của một dòng chảy lớn-dòng chảy của tình đoàn kết vĩ đại Việt Nam-Cuba.

Thực tiễn lịch sử cũng đã khẳng định, quan hệ Việt Nam-Cuba là tài sản vô giá, là di sản thiêng liêng cần được bảo vệ, gìn giữ và truyền tiếp cho mai sau. Ngay từ tháng 12-1960, Cuba là quốc gia Tây bán cầu đầu tiên thiết lập quan hệ ngoại giao với Việt Nam. Chỉ 3 năm sau, Ủy ban Cuba đoàn kết với miền Nam Việt Nam ra đời (1963), thể hiện sự ủng hộ mạnh mẽ, kịp thời trong bối cảnh nhân dân ta đang bước vào giai đoạn ác liệt của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước. Từ Quảng trường La Habana đến từng nhà máy, trường học, tinh thần “tất cả vì Việt Nam” lan tỏa khắp đảo quốc Caribe, để lại dấu ấn sâu đậm trong lòng nhân dân hai nước.

Đặc biệt, ngày 2-1-1966, trong cuộc mít tinh tại Quảng trường cách mạng José Martí ở La Habana, nhân kỷ niệm 7 năm Ngày cách mạng Cuba thành công (1-1-1959 / 1-1-1966) và chào mừng Hội nghị đoàn kết Á-Phi-Mỹ Latin, lãnh tụ Fidel Castro khẳng định: “Vì Việt Nam, Cuba sẵn sàng hiến dâng cả máu của mình!”. Lời bất hủ này thể hiện tình cảm ruột thịt, tinh thần sẵn sàng hy sinh, sẻ chia của nhân dân Cuba đối với người đồng chí, anh em Việt Nam, mãi mãi tạc vào thời gian và không gian về một tình bạn lớn trong lịch sử nhân loại.

Không chỉ là tinh thần, đỉnh cao của tình đoàn kết ấy chính là chuyến thăm lịch sử tháng 9-1973, khi Tổng tư lệnh Fidel Castro đến Quảng Trị. Hình ảnh một nguyên thủ quốc gia không quản hiểm nguy, đến tận nơi chiến trường ác liệt động viên cán bộ, chiến sĩ và nhân dân ta trong cuộc trường chinh giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước là ký ức không thể phai mờ về người đồng chí, anh em Cuba trong lòng người Việt Nam. 

Trong những năm tháng gian khổ, chuyên gia và công nhân Cuba có mặt tại nhiều công trình trọng điểm, từ đường Trường Sơn, Bệnh viện Hữu nghị Đồng Hới, khách sạn Thắng Lợi cho đến các nhà máy, hạ tầng thiết yếu trên khắp đất nước Việt Nam. Những giọt mồ hôi, công sức ấy đã góp phần quan trọng giúp nước ta nhanh chóng hồi phục sau chiến tranh. Đồng thời, chính Cuba là quốc gia đi đầu trong vận động các quốc gia Mỹ Latin ủng hộ Việt Nam trở thành thành viên Liên hợp quốc năm 1977. Ngược lại, Việt Nam cũng luôn sẻ chia khó khăn với Cuba, từ lương thực đến thiết bị y tế, từ công nghệ đến chuyển giao kỹ thuật, thể hiện nghĩa tình anh em son sắt thủy chung.

Ngày nay, quan hệ hai nước tiếp tục được củng cố, nâng tầm, mở rộng toàn diện trên nhiều lĩnh vực, như: Quốc phòng, an ninh, tư pháp, khoa học-công nghệ, xây dựng, văn hóa, thể thao và giao lưu nhân dân; thúc đẩy các chương trình hợp tác trong từng ngành, lĩnh vực, cũng như giữa các tổ chức chính trị-xã hội của hai nước. Bí thư thứ nhất, Chủ tịch nước Cộng hòa Cuba Miguel Díaz-Canel khẳng định: “Quan hệ Việt Nam-Cuba là biểu tượng cao đẹp của tình đồng chí, tình bạn thủy chung”. Tổng Bí thư Tô Lâm cũng nhấn mạnh: Quan hệ hữu nghị thủy chung, hợp tác đặc biệt giữa hai nước là tài sản vô giá mà hai nước cần giữ gìn, phát huy và truyền lại cho các thế hệ mai sau. Đảng, Nhà nước và nhân dân Việt Nam luôn coi đoàn kết, ủng hộ Cuba là lương tâm và trách nhiệm của những người cộng sản và toàn thể nhân dân Việt Nam. Đây chính là sự tiếp nối đầy kiêu hãnh và tự hào của mối quan hệ đặc biệt, hiếm có trên thế giới.

Vì thế, chúng ta càng phải nhìn rõ bản chất phản động của các thế lực thù địch. Những luận điệu như “Việt Nam còn nghèo, không nên giúp Cuba” là phi lý, bởi lẽ chương trình quyên góp là hoàn toàn tự nguyện, không hề ảnh hưởng đến ngân sách an sinh xã hội. Ngược lại, từ nghĩa cử cao đẹp này, Việt Nam trở thành hình mẫu về người bạn thủy chung son sắt với bạn bè truyền thống.

Việc bóp méo, xuyên tạc cho rằng hoạt động quyên góp “để phô trương”, “để phục vụ lợi ích nhóm”... là những luận điệu phá hoại và thiếu căn cứ, bởi toàn bộ chương trình vận động quyên góp đều được công khai, minh bạch, có sự giám sát của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các cơ quan chức năng.

Cho rằng quyên góp, ủng hộ Cuba là “mua danh đối ngoại” còn là sự vu khống trắng trợn. Bởi quan hệ Việt Nam-Cuba không phải là mối quan hệ hình thức mà là kết quả của 65 năm đồng cam cộng khổ, gắn bó máu thịt, chia ngọt sẻ bùi. Kết quả bước đầu cho thấy, tính đến ngày 5-9, chưa đầy một tháng sau lễ phát động, đã có gần 2 triệu lượt tham gia với giá trị ủng hộ hơn 400 tỷ đồng. Đây là minh chứng sinh động về tình cảm của nhân dân Việt Nam hướng về những người bạn ở đảo quốc Caribe.

Càng bóc tách, chúng ta càng thấy các luận điệu kia chỉ là những tiếng vọng yếu ớt, vô căn cứ, tự phủ định mình trước sự thật lịch sử và hiện tại. Âm mưu chống phá, thủ đoạn xuyên tạc không thể xóa nhòa tình đoàn kết vĩ đại Việt Nam-Cuba bởi nó được hun đúc bằng máu, mồ hôi, nước mắt, bằng tình cảm thủy chung son sắt của hai Đảng, hai Nhà nước, hai dân tộc. Đấu tranh, phản bác các quan điểm sai trái, thù địch xuyên tạc hoạt động quyên góp nói riêng, mối quan hệ Việt Nam-Cuba nói chung không chỉ là yêu cầu cơ bản, cấp thiết mà còn là trách nhiệm, tình cảm, lương tâm của mỗi người dân Việt Nam và Cuba./.
(*) Hồ Chí Minh, Toàn tập, t.15, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2011, tr.179
Ảnh: Lễ phát động chương trình vận động ủng hộ nhân dân Cuba.
Yêu nước ST!