Thứ Tư, 8 tháng 10, 2025

TÌM HIỂU GIÚP BẠN: ĐỀ XUẤT ĐÀO TẠO CAO CẤP LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ ĐỐI VỚI CHỈ HUY TRƯỞNG BAN CHQS CẤP XÃ!

     Chiều 8-10, tại Hà Nội, Trung tướng Đỗ Xuân Tụng, Phó chủ nhiệm Tổng cục Chính trị Quân đội nhân dân (QĐND) Việt Nam chủ trì Hội nghị đề xuất tổ chức đào tạo cao cấp lý luận chính trị đối với chỉ huy trưởng ban CHQS cấp xã.

Dự hội nghị có chỉ huy một số cơ quan: Cục Cán bộ; Cục Dân quân tự vệ; Cục Quân huấn - Nhà trường; Cục Tuyên huấn; Văn phòng Tổng cục Chính trị QĐND Việt Nam.

Tại hội nghị, các đại biểu đã nghiên cứu báo cáo về việc đề xuất tổ chức đào tạo cao cấp lý luận chính trị cho chỉ huy trưởng ban CHQS cấp xã, do các cơ quan chức năng Tổng cục Chính trị QĐND Việt Nam và Bộ Tổng Tham mưu QĐND Việt Nam phối hợp chuẩn bị.

Báo cáo đã thống kê, đánh giá cụ thể tình hình và năng lực đào tạo cao cấp lý luận chính trị trong Quân đội hiện nay; tổng số nhu cầu đào tạo chỉ huy trưởng ban CHQS cấp xã trong nhiệm kỳ 2025-2030; số lượng chỉ huy trưởng ban CHQS cấp xã đủ điều kiện cử đi đào tạo năm 2026.

Qua nghiên cứu báo cáo, các đại biểu dự hội nghị đã thảo luận, tập trung làm rõ những vấn đề liên quan đến chức năng, nhiệm vụ cơ quan mình đảm trách; đề xuất, kiến nghị các biện pháp nhằm góp phần giúp công tác đào tạo cao cấp lý luận chính trị đối với chỉ huy trưởng ban CHQS cấp xã được thuận lợi, hiệu quả, chất lượng, bảo đảm đúng chỉ đạo, hướng dẫn của cấp trên.

Phát biểu kết luận hội nghị, Trung tướng Đỗ Xuân Tụng ghi nhận, đánh giá cao tinh thần trách nhiệm, sự chủ động, phối hợp làm việc khẩn trương, hiệu quả của các cơ quan chức năng, nhất là Cục Cán bộ và Cục Dân quân tự vệ. Đồng thời khẳng định, việc đào tạo cao cấp lý luận chính trị có ý nghĩa quan trọng, giúp các đồng chí chỉ huy trưởng ban CHQS cấp xã có trình độ chính trị tương xứng, bảo đảm vị thế, uy tín, năng lực để hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao. Đây vừa là nhu cầu xuất phát từ thực tiễn, vừa thể hiện tinh thần thực hiện nghiêm túc chỉ đạo, quy định của Bộ Chính trị, Ban Bí thư về nội dung này.

Để công tác đào tạo cao cấp lý luận chính trị cho chỉ huy trưởng ban CHQS cấp xã đạt kết quả thiết thực, đạt mục đích, yêu cầu đề ra, Trung tướng Đỗ Xuân Tụng yêu cầu các cơ quan chức năng tiếp tục phối hợp rà soát, lựa chọn, bố trí, sắp xếp để các đồng chí chỉ huy trưởng ban CHQS cấp xã được tham gia khóa đào tạo cao cấp lý luận chính trị với quân số cao nhất; nghiên cứu, tạo điều kiện để quá trình các đồng chí chỉ huy trưởng học tập không gây ảnh hưởng nhiều đến kết quả hoàn thành nhiệm vụ quân sự, quốc phòng của địa phương.

Cùng với đó, yêu cầu các cơ quan chức năng tiếp tục rà soát, tham mưu, đôn đốc cấp có thẩm quyền nhanh chóng hoàn thành việc bổ nhiệm chức danh chỉ huy trưởng và phó chỉ huy trưởng ban CHQS cấp xã trong cả nước; phối hợp, rà soát chương trình đào tạo liên quan để điều chỉnh nội dung, bảo đảm phù hợp với đối tượng là chỉ huy trưởng ban CHQS cấp xã.

Trung tướng Đỗ Xuân Tụng giao Cục Cán bộ chủ động phối hợp với các cơ quan liên quan nhanh chóng bổ sung, hoàn chỉnh dự thảo báo cáo phương án tổ chức đào tạo cao cấp lý luận chính trị đối với chỉ huy trưởng ban CHQS cấp xã bảo đảm chặt chẽ, khoa học, chi tiết, cụ thể, trình cấp có thẩm quyền xem xét, quyết định./.

Yêu nước ST.

TÌM HIỂU GIÚP BẠN: LỄ ĐÓN TỔNG BÍ THƯ Tô LÂM TẠI SÂN BAY QUỐC TẾ BÌNH NHƯỠNG - TRIỀU TIÊN 🇻🇳 🤝🇰🇵

     Đây là chuyến thăm Triều Tiên đầu tiên của Tổng Bí thư Tô Lâm, là chuyến thăm của một người đứng đầu Đảng Cộng sản Việt Nam sau 18 năm. Chuyến đi diễn ra đúng vào dịp hai nước kỷ niệm 75 năm thiết lập quan hệ ngoại giao.

Tháp tùng Tổng Bí thư trong chuyến thăm lần này có 7 Ủy viên Bộ Chính trị gồm các ông Lê Minh Hưng, Trưởng Ban Tổ chức Trung ương; Phan Đình Trạc, Trưởng Ban Nội chính Trung ương; Nguyễn Duy Ngọc, Chủ nhiệm Ủy ban Kiểm tra Trung ương;

Ông Đỗ Văn Chiến, Chủ tịch Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam; Nguyễn Xuân Thắng, Giám đốc Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh, Chủ tịch Hội đồng Lý luận Trung ương;

Đại tướng Phan Văn Giang, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng; Đại tướng Lương Tam Quang, Bộ trưởng Bộ Công an.

Ngoài ra còn có ông Lê Hoài Trung, quyền Bộ trưởng Bộ Ngoại giao; ông Nguyễn Chí Dũng, Phó thủ tướng; ông Nguyễn Khắc Định, Phó chủ tịch Quốc hội; ông Phạm Gia Túc, Chánh Văn phòng Trung ương Đảng; ông Trần Đức Thắng, quyền Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường.

Ông Tô Ân Xô, trợ lý Tổng Bí thư, phụ trách Văn phòng Tổng Bí thư và Đại sứ Việt Nam tại Triều Tiên cũng trong đoàn chính thức./.




Yêu nước ST.

TÌM HIỂU GIÚP BẠN: PHÁT BIỂU CỦA TỔNG BÍ THƯ TÔ LÂM TẠI PHIÊN BẾ MẠC HỘI NGHỊ TRUNG ƯƠNG 13 KHÓA XIII

     Sáng nay, 8/10, Hội nghị lần thứ 13 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII đã bế mạc, hoàn thành toàn bộ nội dung, chương trình đề ra. Tổng Bí thư Tô Lâm đã có bài phát biểu quan trọng tại phiên bế mạc Hội nghị. Xin trân trọng giới thiệu toàn văn phát biểu của Tổng Bí thư Tô Lâm.

Thưa các đồng chí Ủy viên Bộ Chính Trị, Ủy viên Ban Bí thư, Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng

Thưa các đồng chí Đại biểu tham dự Hội nghị,

Hội nghị lần thứ 13 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII đã hoàn thành toàn bộ nội dung, chương trình đề ra. Từng vấn đề được chuẩn bị công phu, thảo luận thấu đáo, quyết nghị với sự thống nhất cao, trong đó có nhiều nội dung"xương sống" liên quan trực tiếp đến sự thành công của Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng, đến mục tiêu phát triển nhanh, bền vững, đến nâng cao đời sống thực của nhân dân.

Giữa hai kỳ Hội nghị, Bộ Chính trị đã làm việc rất khẩn trương, quyết liệt, tiến hành 10 phiên họp, cho ý kiến 88 vấn đề và ban hành 16 kết luận để kịp định hướng, thể chế hóa các nội dung Hội nghị Trung ương 12 và Nghị quyết Đại hội XIII ở giai đoạn "tăng tốc","về đích". Trọng tâm là chuẩn bị Đại hội đại biểu Đảng bộ các cấp, tiến tới Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng, trong đó ưu tiên nội dung Dự thảo các Văn kiện và chuẩn bị Nhân sự; chuẩn bị cho bầu cử Quốc hội khóa XVI và Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026-2031; đổi mới công tác xây dựng Đảng, công tác cán bộ; ban hành khung tiêu chuẩn chức danh đối với cán bộ diện Bộ Chính trị, Ban Bí thư quản lý và cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp; đánh giá định kỳ hằng quý về đội ngũ cán bộ, về chất lượng hoạt động của tổ chức cơ sở đảng trong toàn đảng; thúc đẩy phát triển kinh tế-xã hội, chăm lo đời sống nhân dân; tháo gỡ vướng mắc về thể chế, hoàn thiện chính quyền địa phương hai cấp và tiếp tục sắp xếp, tinh gọn bộ máy ba cấp trong hệ thống chính trị, xây dựng tiêu chí, tiêu chuẩn, phân loại đơn vị hành chính, phân loại đô thị; đẩy mạnh phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực; củng cố quốc phòng, an ninh; chủ động đối ngoại, hội nhập; làm tốt công tác thông tin, tuyên truyền.

Hội nghị Trung ương 13 lần này đã thảo luận thẳng thắn, khoa học và thống nhất cao nhiều chủ trương, quyết sách quan trọng. Có thể khái quát về 4 kết quả chính:

Thứ nhất, Ban Chấp hành Trung ương thông qua các Văn kiện trình Đại hội XIV của Đảng; thống nhất giới thiệu nhân sự Ban Chấp hành Trung ương và Ủy ban Kiểm tra Trung ương khóa XIV; cho ý kiến về thời gian, nội dung, chương trình, quy chế làm việc, quy chế bầu cử của Đại hội XIV với phương châm đảm bảo đúng điều lệ, đổi mới, khoa học, hiệu quả, thiết thực. Đặc biệt nội dung các Văn kiện thiết kế theo hướng ngắn gọn, thực chất, định hướng rõ đột phá thể chế-hạ tầng-nhân lực, chuyển đổi số và xanh, liên kết vùng, phát triển đất nước theo hướng tự chủ, bền vững.

Thứ hai, Thông qua kết luận về Báo cáo thực hiện kế hoạch kinh tế-xã hội năm 2025; quyết tâm hoàn thành các chỉ tiêu còn lại của Kế hoạch 5 năm 2021–2025; chuẩn bị cơ sở cho kế hoạch kinh tế-xã hội năm 2026 và tài chính- ngân sách 2026–2030 theo tinh thần ổn định vĩ mô, an toàn nợ công, ưu tiên đầu tư phát triển và bảo đảm an sinh.

Thứ ba, xác định rõ các điểm nghẽn thể chế cần tháo gỡ ngay trong thẩm quyền của Trung ương; thống nhất cơ chế theo dõi-kiểm tra-đánh giá định kỳ, công khai trách nhiệm người đứng đầu, khuyến khích người dám nghĩ, dám làm vì lợi ích chung.

Thứ tư, thống nhất các định hướng lớn, phương pháp tổ chức thực hiện kết luận của Hội nghị Trung ương 13 và kết luận của Bộ Chính trị thời gian qua; xác lập nguyên tắc điều hành"Kỷ cương đi trước-Nguồn lực đi cùng-Kết quả là thước đo".

Ban Chấp hành Trung ương đã quyết định một số vấn đề về công tác các bộ theo thẩm quyền.

Tinh thần xuyên suốt Hội nghị lần này là lấy kết quả làm thước đo, lấy Nhân dân làm trung tâm, lấy kỷ cương làm nền tảng, lấy đổi mới sáng tạo làm động lực. Qua thảo luận thẳng thắn, dân chủ và trách nhiệm, Ban Chấp hành Trung ương thống nhất 9 định hướng lớn sau đây.

Thứ nhất, chuẩn bị thật tốt cho Đại hội XIV của Đảng: (i) Tiếp tục bổ sung, hoàn thiện để nội dung các Văn kiện cô đọng, sâu sắc, thể hiện tầm nhìn chiến lược, khẳng định ba đột phá chiến lược trong điều kiện mới (thể chế-hạ tầng-nhân lực), làm rõ chuyển đổi số-chuyển đổi xanh, liên kết vùng-đô thị thông minh, chú trọng kinh tế biển, kinh tế văn hóa; quan trọng là lượng hóa chỉ tiêu, rõ lộ trình thực thi. (ii) Nhân sự phải bảo đảm phẩm chất-năng lực-uy tín-liêm chính-hiệu quả, kiên quyết không để lọt người chạy chức, chạy quyền, tham nhũng, tiêu cực, không có chí tiến thủ, dĩ hòa vi quý; đề cao nêu gương người đứng đầu, trọng dụng thực tài, bố trí đúng người, đúng việc, đúng lúc.

Thứ hai, hoàn thành và hoàn thành vượt mức các chỉ tiêu còn lại của Nghị quyết Đại hội XIII, Nhiệm vụ phát triển kinh tế-xã hội năm 2025, Kế hoạch 5 năm 2021–2025. Tiếp tục giữ vững ổn định vĩ mô, kiểm soát lạm phát, tạo dư địa cho đầu tư-tiêu dùng-xuất khẩu; đẩy nhanh giải ngân đầu tư công "đúng-trúng-nhanh-hiệu quả"; cải thiện mạnh môi trường kinh doanh, giảm chi phí tuân thủ, triển khai dịch vụ công một cửa-một lần khai trên nền dữ liệu liên thông.

Thứ ba, tích cực chuẩn bị cho kỳ họp thứ 10, Quốc hội khóa XV và chuẩn bị chu đáo cho bầu cử Quốc hội khóa XVI và Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026–2031. Rà soát khung pháp lý, quy trình; bảo đảm dân chủ, kỷ cương, minh bạch; chủ động phương án nhân sự và tổ chức, để cuộc bầu cử thực sự là đợt sinh hoạt chính trị sâu rộng, củng cố niềm tin của Nhân dân.

Thứ tư, hoàn thiện mô hình chính quyền địa phương hai cấp, tiếp tục sắp xếp, tinh gọn bộ máy ba cấp trong toàn hệ thống. Trọng tâm là số hóa quy trình, đơn giản hóa thủ tục, mở rộng phân cấp-phân quyền gắn với trách nhiệm giải trình, đo bằng mức độ hài lòng của người dân, doanh nghiệp. Đồng thời khẩn trương hoàn thiện đề án tiêu chuẩn-phân loại đơn vị hành chính, phân loại đô thị theo hướng tổng thể, liên thông, khả thi, tạo không gian phát triển mới cho cấp cơ sở, để chính quyền cơ sở không chỉ là nơi thực thi nhiệm vụ, phục vụ nhân dân mà còn là nguồn sáng tạo vô tận trong phát triển đất nước.

Thứ năm, tháo gỡ điểm nghẽn thể chế trong thẩm quyền của Trung ương, tập trung vào các lĩnh vực đất đai-đầu tư-xây dựng-môi trường-năng lượng; lành mạnh hóa thị trường trái phiếu doanh nghiệp, bất động sản, củng cố kỷ luật và niềm tin thị trường; khuyến khích đối tác công tư, đổi mới công nghệ, khơi thông nguồn lực xã hội, tăng cường vai trò chủ đạo của kinh tế Nhà nước, thúc đẩy vai trò kinh tế tư nhân trong phát triển đất nước.

Thứ sáu, đẩy mạnh phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực với tinh thần "không có vùng cấm, không có ngoại lệ", tăng tốc thanh tra, kiểm tra, điều tra, truy tố, xét xử các vụ án, vụ việc thuộc diện Ban Chỉ đạo Trung ương về phòng chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực theo dõi; đồng thời bảo vệ người dám nghĩ, dám làm vì lợi ích chung, siết chặt kỷ luật, kỷ cương Đảng, để chống mạnh mẽ hơn và xây bền vững hơn.

Thứ bảy, giữ vững quốc phòng, an ninh; chủ động, hiệu quả trong đối ngoại và hội nhập: kiên định lợi ích quốc gia, dân tộc, bảo đảm toàn vẹn lãnh thổ, độc lập, chủ quyền; chủ động thích ứng với chính sách thương mại mới của các đối tác lớn; đa dạng hóa thị trường-sản phẩm- chuỗi cung ứng; duy trì môi trường hòa bình, ổn định, hợp tác và phát triển.

Thứ tám, đẩy mạnh công tác tuyên truyền, định hướng, lan tỏa thông tin để tăng cường niềm tin xã hội vào công cuộc bảo vệ, xây dựng và phát triển đất nước; tập trung tuyên truyền về những chủ trương, đường lối, biện pháp, cách làm mới, gương người tốt, việc tốt. Triển khai đồng bộ tuyên truyền về việc thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng bộ các cấp và công tác chuẩn bị Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng.

Thứ chín, kiên định triển khai nghiêm túc, đồng bộ các kết luận của Hội nghị Trung ương 13, của Bộ Chính trị trong thời gian từ sau Hội nghị Trung ương 12 đến nay và những kết luận sẽ ban hành sắp tới. Mọi nhiệm vụ đều phải rõ mục tiêu, rõ lộ trình, rõ nguồn lực, rõ trách nhiệm, rõ kiểm tra; báo cáo đúng hạn; công khai tiến độ và kết quả để Nhân dân giám sát.

Thưa các đồng chí,

Muốn chuyển chủ trương lớn thành kết quả cụ thể, chúng ta cần hành động kiên quyết, minh bạch, nhất quán. Tôi đề nghị quán triệt ba trọng tâm-ba công khai-một thước đo:

Ba trọng tâm: (i) Thể chế hóa nhanh nghị quyết, kết luận của Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư; (ii) Tổ chức thực thi quyết liệt theo tiến độ tuần, tháng, quý; (iii) Kiểm tra, giám sát thường xuyên, kịp thời tháo gỡ vướng mắc.

Ba công khai: công khai tiến độ, công khai trách nhiệm, công khai kết quả để xã hội cùng giám sát, cùng đồng hành.

Một thước đo: mức sống và niềm tin của Nhân dân. Cụ thể là, dịch vụ công tốt hơn, cơ hội việc làm và kinh doanh rộng hơn, chi phí thời gian và thủ tục ít hơn; xã hội yên bình hơn, người dân ấm no, hạnh phúc hơn.

Đối với cấp ủy, chính quyền địa phương, nhất là cấp tỉnh, thành: đề nghị tập trung tạo chuyển biến thực chất: (i) Từ "quy trình" sang "kết quả", mỗi nhiệm vụ đều phải có sản phẩm đầu ra, có địa chỉ chịu trách nhiệm, có mốc hoàn thành rõ ràng. (ii) Từ"mạnh từng cơ sở, từng địa phương" sang "mạnh theo vùng"; hoàn thiện quy hoạch, kết nối hạ tầng giao thông-số-năng lượng, hình thành cụm động lực, tận dụng kinh tế đô thị. (iii) Chuyển từ "chăm lo" sang "chăm lo thiết thực": an sinh, y tế, giáo dục phải đến đúng người, đúng nhu cầu, đúng thời điểm; nhà ở công nhân, dịch vụ công được nâng cấp; không để ai bị bỏ lại phía sau. Phấn đấu để mỗi cá nhân, mỗi gia đình đều được chăm lo chu đáo cả về tinh thần và vật chất.

Chúng ta hoàn thành chương trình Hội nghị 13 với khí thế mới, niềm tin mới và trách nhiệm mới. Thuận lợi rất lớn đang mở ra: kết quả năm 2025 tích cực, mô hình chính quyền 3 cấp vận hành thông suốt, không gian phát triển sau sắp xếp đang bổ trợ lẫn nhau, bảy nghị quyết chiến lược của Bộ Chính trị đang mở đường. Đồng thời, thách thức cũng không hề nhỏ: cạnh tranh chiến lược, thay đổi chính sách quốc tế, biến đổi khí hậu và yêu cầu chuyển đổi số và xanh. Bản lĩnh, trí tuệ và khát vọng sẽ giúp chúng ta vượt qua thách thức, nắm bắt thời cơ, để đất nước phát triển từng ngày.

Tôi đề nghị mỗi đồng chí Ủy viên Trung ương tiếp tục nêu gương, "nói ít-làm nhiều-quyết liệt-hiệu quả"; kiên quyết tránh hình thức, tránh giáo điều, tránh đùn đẩy. Hãy cùng nhau giữ vững kỷ cương, khơi thông nguồn lực, đổi mới sáng tạo, tăng tốc thực thi để tạo đột phá ngay từ những tháng cuối năm 2025 và tạo đà vững chắc bước vào năm 2026 và những năm tiếp theo.

Thay mặt Bộ Chính trị, Ban Bí thư, tôi trân trọng cảm ơn các đồng chí Ủy viên Trung ương, các cơ quan giúp việc, đội ngũ phục vụ, phóng viên các cơ quan thông tấn, báo chí… đã làm việc với tinh thần trách nhiệm cao, góp phần vào thành công chung của Hội nghị.

Với niềm tin son sắt và quyết tâm cao, tôi tuyên bố Bế mạc Hội nghị lần thứ 13, Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII. Đề nghị các đồng chí khẩn trương tổ chức thực hiện các kết luận của Hội nghị; chuẩn bị thật tốt cho Hội nghị Trung ương 14 và đặc biệt là Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng.

Trước tình hình diễn biến rất phức tạp của thời tiết vừa qua, tôi xin chia sẻ những mất mát về người, sức khỏe và tài sản của nhân dân ở những vùng ảnh hưởng bão lụt và biểu dương Chính phủ, các cơ quan, các địa phương, lực lượng quân đội, công an, thanh niên, các tổ chức cứu trợ đã nỗ lực, hy sinh không quản ngại nguy hiểm, cứu dân, bảo vệ tài sản nhà nước, nhân dân, kịp thời khắc phục những khó khăn ở các địa phương vừa qua.

Đề nghị các đồng chí Ủy viên Trung ương, nhất là lãnh đạo các địa phương, khẩn trương tập trung chỉ đạo công tác phòng, chống và khắc phục hậu quả bão, lũ, sạt lở, ngập úng đang diễn ra nghiêm trọng ở nhiều nơi, nhất là sau bão số 10 và 11. Cần huy động toàn bộ hệ thống chính trị, lực lượng vũ trang và nhân dân để bảo vệ tính mạng, tài sản của nhân dân, không để ai bị đói, không có chỗ ở, không được chăm sóc y tế; tập trung khắc phục khó khăn để học sinh có thể đi học trong thời gian sớm nhất. Đồng thời chủ động chuẩn bị các phương án ứng phó với diễn biến thời tiết được dự báo còn rất phức tạp, khắc nghiệt có thể xảy ra.

Một lần nữa chúc toàn thể các đồng chí mạnh khỏe, hạnh phúc và thành công.

Xin trân trọng cảm ơn các đồng chí!


Yêu nước ST.

Thứ Ba, 7 tháng 10, 2025

TÌM HIỂU GIÚP BẠN: DÂN QUÂN TỰ VỆ VỮNG MẠNH, RỘNG KHẮP - “LÁ CHẮN THÉP” TỪ CƠ SỞ!

BÀI 3: NÂNG TẦM TRONG GIAI ĐOẠN MỚI 

(Tiếp theo và hết)

     Thực tế cho thấy, mặc dù công tác xây dựng lực lượng dân quân tự vệ (DQTV) đã có nhiều chuyển biến tích cực nhưng vẫn còn những hạn chế, bất cập. Để đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới, cần tiếp tục quan tâm chăm lo củng cố, nâng cao chất lượng, xây dựng lực lượng DQTV thực sự vững mạnh, có cơ cấu và tổ chức hợp lý, phát huy tốt hiệu quả, xứng đáng là “lá chắn thép” bảo vệ cơ sở, địa phương.


Thực trạng và yêu cầu đặt ra trong xây dựng lực lượng DQTV


Hiện nay, các mối đe dọa an ninh truyền thống và phi truyền thống ngày càng phức tạp, địa bàn cơ sở nảy sinh nhiều thách thức, các thế lực thù địch tăng cường chống phá với các thủ đoạn tinh vi, nhất là chiến tranh trên không gian mạng nhằm chống phá Đảng, Nhà nước, phá hoại đại đoàn kết dân tộc và "thế trận lòng dân", kích động biểu tình, bạo loạn... đòi hỏi lực lượng DQTV phải được đào tạo bài bản, có bản lĩnh chính trị vững vàng và khả năng ứng phó linh hoạt, hiệu quả. 


Theo Trung tướng Phạm Quang Ngân, Cục trưởng Cục DQTV, hiện nay, lực lượng DQTV được xây dựng rộng khắp trên cả nước, từ thành thị đến nông thôn, vùng sâu, vùng xa và khu vực biên giới, hải đảo với cơ cấu, tổ chức chặt chẽ ở tất cả xã, phường, thị trấn và các cơ quan, tổ chức kinh tế, không chỉ đóng vai trò quan trọng trong bảo vệ an ninh-trật tự tại cơ sở mà còn góp phần tích cực vào công tác phòng, chống thiên tai, tìm kiếm cứu nạn và tham gia phát triển kinh tế-xã hội ở địa phương.


Những năm qua, công tác xây dựng, huấn luyện và hoạt động của DQTV đạt nhiều kết quả tích cực. Đội ngũ cán bộ, chiến sĩ DQTV ngày càng được củng cố về chất lượng, có bản lĩnh chính trị, nắm vững kiến thức quân sự cơ bản, nâng cao khả năng ứng phó với các tình huống khẩn cấp, bảo vệ an ninh-trật tự, an toàn xã hội. Nhiều đơn vị DQTV đã phát huy tốt vai trò nòng cốt trong bảo vệ địa bàn, góp phần củng cố thế trận quốc phòng toàn dân vững chắc.


Như tại Hà Nội là địa bàn đặc thù, có thuận lợi nhưng cũng nhiều khó khăn trong thực hiện công tác DQTV, Đại tá Nguyễn Quang Đấu, Trưởng phòng DQTV (Bộ Tham mưu, Bộ tư lệnh Thủ đô Hà Nội) cho biết: Thành ủy Hà Nội đã ban hành Chương trình số 09-CTr/TU ngày 17-3-2021 về “Tăng cường tiềm lực quốc phòng, an ninh, giữ vững ổn định an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội trên địa bàn thành phố giai đoạn 2021-2025”; UBND thành phố có kế hoạch về tổ chức xây dựng lực lượng DQTV TP Hà Nội giai đoạn 2021-2025. Thời gian qua, thành phố chỉ đạo các đơn vị, địa phương đẩy nhanh tiến độ đầu tư xây dựng trụ sở làm việc cho ban CHQS cấp xã và thành lập đơn vị dân quân thường trực (DQTT). Hà Nội đang là điểm sáng của cả nước trong thực hiện nội dung này. Đến nay, toàn thành phố đã xây dựng được hơn 200 trụ sở làm việc cho ban CHQS cấp xã; thành lập được 10 trung đội DQTT, 156 tiểu đội DQTT; tạo điều kiện thuận lợi để cơ quan quân sự địa phương thực hiện nhiệm vụ, phát huy tốt vai trò, trách nhiệm trong công tác quân sự, quốc phòng địa phương.


Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đạt được, công tác xây dựng và phát huy vai trò của lực lượng DQTV ở các cơ quan, đơn vị, địa phương trên cả nước vẫn còn bộc lộ nhiều hạn chế, bất cập. Quy mô lực lượng tại một số địa phương chưa đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ; cơ sở doanh trại, trang bị phương tiện, công cụ hỗ trợ còn thiếu, chưa đáp ứng được yêu cầu hiện đại hóa và ứng phó với các tình huống phức tạp; việc huy động nguồn lực cho xây dựng lực lượng và hoạt động của DQTV còn gặp nhiều khó khăn. Đặc biệt, chế độ, chính sách đãi ngộ dành cho cán bộ, chiến sĩ DQTV ở một số nơi chưa thực sự phù hợp, chưa tạo được động lực để duy trì và phát triển lực lượng ổn định, lâu dài. Nhiều đồng chí cán bộ quân sự cấp huyện, xã ở hầu hết các địa phương phản ánh, mức trợ cấp đối với chiến sĩ DQTT và dân quân khi huy động thực hiện nhiệm vụ thấp hơn mức tiền công trung bình của người lao động nên chưa tạo được động lực, khó huy động DQTV thực hiện nhiệm vụ.


Để khắc phục những bất cập, hạn chế này, cần có những giải pháp đồng bộ và hiệu quả hơn nhằm xây dựng lực lượng DQTV thực sự vững mạnh, rộng khắp, hoạt động hiệu quả, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trong tình hình mới.


Triển khai đồng bộ các giải pháp


Vừa qua, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 16/2025/NĐ-CP ngày 4-2-2025 sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 72/2020/NĐ-CP. Theo đó, một số chế độ, chính sách đối với DQTV đã được nâng lên.


Bên cạnh đó, để xây dựng lực lượng DQTV đáp ứng tốt với yêu cầu nhiệm vụ đòi hỏi ngày càng cao, theo Trung tướng Phạm Quang Ngân, trước hết cấp ủy, chính quyền các địa phương, đơn vị phải thường xuyên quan tâm, tăng cường sự lãnh đạo, chỉ đạo đối với lực lượng DQTV; làm tốt công tác giáo dục chủ nghĩa yêu nước, lý tưởng cách mạng và nâng cao nhận thức pháp luật cho lực lượng DQTV; chú trọng công tác xây dựng Đảng trong lực lượng DQTV, bồi dưỡng, kết nạp những chiến sĩ DQTV ưu tú vào Đảng. Cán bộ, chiến sĩ DQTV phải không ngừng rèn luyện bản lĩnh chính trị vững vàng, tuyệt đối trung thành với Đảng, với Tổ quốc và nhân dân. Sự trưởng thành về chính trị, tư tưởng của mỗi chiến sĩ DQTV chính là nền tảng vững chắc để nâng cao chất lượng tổng thể của lực lượng. Các địa phương cần tiếp tục củng cố tổ chức, biên chế DQTV theo đúng quy định của Luật DQTV, bảo đảm tỷ lệ hợp lý, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ quốc phòng, an ninh ở từng địa bàn; chú trọng xây dựng lực lượng DQTV ở các địa bàn trọng điểm như biên giới, biển đảo, địa bàn chiến lược.


Trong giai đoạn mới, nội dung, chương trình huấn luyện DQTV cần tiếp tục đổi mới, cập nhật phù hợp với yêu cầu nhiệm vụ và sự phát triển của nghệ thuật quân sự. Các địa phương xây dựng kế hoạch huấn luyện khoa học, chặt chẽ, bảo đảm 100% cán bộ, chiến sĩ DQTV được huấn luyện quân sự, giáo dục chính trị, pháp luật theo quy định; bổ sung huấn luyện kỹ năng tác chiến hiện đại, bao gồm kiến thức về chiến tranh thông tin, chiến tranh không gian mạng, sử dụng thành thạo các thiết bị thông tin liên lạc, quan sát, cảnh giới, phòng, chống máy bay không người lái... Tăng cường tổ chức hội thi, hội thao, diễn tập giữa các đơn vị DQTV và diễn tập khu vực phòng thủ các cấp có DQTV tham gia để nâng cao trình độ, khả năng phối hợp, hiệp đồng tác chiến với các lực lượng. Đưa phong trào thi đua huấn luyện giỏi, “vững mạnh về chuyên môn, tinh thông về kỹ, chiến thuật” trở thành phong trào sâu rộng trong toàn lực lượng DQTV. Chỉ khi huấn luyện giỏi, kỷ luật nghiêm, lực lượng DQTV mới có thể sẵn sàng chiến đấu cao, hoàn thành tốt các nhiệm vụ được giao.


Cùng với đó, cần đẩy mạnh hiện đại hóa trang bị, phương tiện và ứng dụng khoa học-công nghệ trong hoạt động của DQTV. Hiện nay, nhiều địa phương đã và đang thí điểm mô hình “chuyển đổi số trong công tác DQTV”, áp dụng phần mềm quản lý cơ sở dữ liệu DQTV, hệ thống thông tin chỉ huy liên lạc từ tỉnh tới xã, qua đó nâng cao hiệu quả quản lý, chỉ đạo đối với lực lượng này. Việc hiện đại hóa lực lượng DQTV phải được tiến hành đồng bộ, có trọng tâm, trọng điểm, kết hợp chặt chẽ với lộ trình hiện đại hóa của Quân đội nhân dân Việt Nam. Đẩy mạnh nghiên cứu, tổng kết thực tiễn để đề xuất những phương án trang bị mới phù hợp cho DQTV, bảo đảm gọn nhẹ, cơ động, hiệu quả và sát với điều kiện từng địa phương.


Tiếp tục tăng cường phối hợp chặt chẽ giữa lực lượng DQTV với lực lượng Quân đội, Công an trong thực hiện nhiệm vụ; nâng cao hiệu quả công tác phối hợp, hiệp đồng; cơ chế chỉ huy thống nhất trong khu vực phòng thủ phải được vận hành nhịp nhàng, thông suốt, bảo đảm khi có tình huống, lực lượng DQTV có thể nhanh chóng nhận lệnh và hành động ăn ý với các lực lượng cần phối hợp, hoàn thành tốt nhiệm vụ.


Thủ trưởng Bộ Quốc phòng và Bộ Tổng Tham mưu đã đề ra yêu cầu tiếp tục triển khai các giải pháp đồng bộ nâng cao chất lượng quản lý, chỉ huy, tổ chức xây dựng lực lượng, huấn luyện, hoạt động và bảo đảm chính sách để xây dựng lực lượng DQTV ngày càng vững mạnh. Đây là định hướng quan trọng mà mỗi địa phương, đơn vị cần cụ thể hóa thành kế hoạch, triển khai thực hiện phù hợp, hiệu quả nhằm nâng cao chất lượng xây dựng, hoạt động của lực lượng DQTV, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trong tình hình mới./.

Ảnh 1: Dân quân thường trực xã Ia Lốp, huyện Ea Súp, tỉnh Đắk Lắk luyện tập bắn súng.


Ảnh 2: Dân quân thường trực xã Ia Lốp, huyện Ea Súp, tỉnh Đắk Lắk huấn luyện võ thuật.


Ảnh 3, 4: Lực lượng dân quân tham gia tuần tra trên tuyến biên giới Hà Tiên (Kiên Giang).

Yêu nước ST.

TÌM HIỂU GIÚP BẠN: DÂN QUÂN TỰ VỆ VỮNG MẠNH, RỘNG KHẮP - “LÁ CHẮN THÉP” TỪ CƠ SỞ!

BÀI 2: PHÁT HUY SỨC MẠNH CỦA LỰC LƯỢNG “SAO VUÔNG”!

     Với vai trò đặc biệt vừa là chiến sĩ vừa là người dân, lực lượng dân quân tự vệ (DQTV) góp phần rất quan trọng xây dựng thế trận lòng dân” vững chắc, phát huy sức mạnh của hệ thống chính trị ở cơ sở và quần chúng nhân dân. Chính sức mạnh này đã góp phần nâng cao khả năng “tự phòng, tự quảntại cơ sở, kịp thời ứng phó với những tình huống phức tạp, bảo vệ sự bình yên của nhân dân và chủ quyền lãnh thổ. Vì vậy, việc quan tâm xây dựng và phát huy hiệu quả hoạt động của lực lượng DQTV là hết sức quan trọng, là yêu cầu cấp thiết hiện nay.

Quan tâm xây dựng lực lượng dân quân tự vệ

Những năm qua, Cục DQTV đã chủ trì, phối hợp với các cơ quan liên quan tham mưu, đề xuất Bộ Tổng Tham mưu, Bộ Quốc phòng, Quân ủy Trung ương và Đảng, Nhà nước rà soát, ban hành các nghị quyết, chỉ thị, hệ thống văn bản quy phạm pháp luật về công tác quân sự, quốc phòng địa phương nói chung, công tác DQTV nói riêng ngày càng đồng bộ, thống nhất, phù hợp với tình hình thực tế.

Bên cạnh đó, Cục DQTV đã làm tốt công tác chỉ đạo, hướng dẫn, kiểm tra, đôn đốc các cơ quan, đơn vị, địa phương chăm lo xây dựng lực lượng DQTV ngày càng vững mạnh, rộng khắp, với cơ cấu, thành phần hợp lý và chất lượng chính trị, độ tin cậy ngày càng cao, sẵn sàng chiến đấu (SSCĐ) tốt, hoạt động hiệu quả.

Trung tướng Phạm Quang Ngân, Cục trưởng Cục DQTV đánh giá: Thời gian qua, lực lượng DQTV cả nước luôn nỗ lực phấn đấu, hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ, tạo được niềm tin với cấp ủy, chính quyền địa phương và được các tầng lớp nhân dân tin tưởng, yêu mến. Lực lượng DQTV được tổ chức xây dựng đúng phương châm vững mạnh, rộng khắp.

Đến nay, toàn quốc đã tổ chức hơn 24.000 cơ sở DQTV, đạt 1,45% tổng dân số, tỷ lệ đảng viên hơn 24%; 100% thôn, bản, tổ dân phố có lực lượng dân quân tại chỗ; cấp xã có lực lượng dân quân cơ động, xã trọng điểm về quốc phòng, an ninh có lực lượng dân quân thường trực (DQTT); cấp huyện, tỉnh có lực lượng dân quân cơ động; các địa phương đều tổ chức DQTV chuyên ngành trinh sát, công binh, y tế, phòng hóa, pháo binh. Bên cạnh đó, nơi làm việc của ban CHQS cấp xã được các địa phương quan tâm xây dựng, bảo đảm điều kiện làm việc tốt nhất cho lực lượng DQTV. Hiện đã có hơn 4.000 ban CHQS cấp xã có trụ sở làm việc riêng; hơn 6.000 ban CHQS cấp xã có phòng làm việc riêng trong trụ sở UBND.

Hằng năm, công tác huấn luyện quân sự, giáo dục chính trị, pháp luật cho DQTV được triển khai tại 100% xã, phường, thị trấn, cơ quan, tổ chức. Nội dung huấn luyện sát với yêu cầu nhiệm vụ và đặc điểm địa bàn hoạt động, chất lượng huấn luyện từng bước được nâng lên. Toàn quốc đã đào tạo được hơn 31.000 chỉ huy trưởng ban CHQS cấp xã, trong đó có hơn 6.000 đồng chí đã phát triển, đảm nhiệm chức vụ bí thư, phó bí thư đảng ủy và chủ tịch, phó chủ tịch HĐND, UBND cấp xã, góp phần xây dựng củng cố, kiện toàn và nâng cao chất lượng cán bộ của hệ thống chính trị ở cơ sở. 

Như tại địa bàn Quân khu 1, theo Đại tá Phạm Văn Phương, Trưởng phòng DQTV (Bộ Tham mưu Quân khu 1), hiện nay, lực lượng DQTV trên địa bàn Quân khu bảo đảm đủ biên chế. Hằng năm, cơ quan quân sự các cấp tổ chức tập huấn, huấn luyện cho các đối tượng DQTV theo đúng phân cấp, đạt 99,5% quân số; tổ chức diễn tập, tham gia hội thi, hội thao theo kế hoạch đạt kết quả tốt; đội ngũ cán bộ tự tổ chức huấn luyện DQTV được theo phân cấp; trình độ huấn luyện, quản lý, chỉ huy của đội ngũ cán bộ và khả năng hoàn thành nhiệm vụ của chiến sĩ DQTV trong toàn Quân khu có bước chuyển biến căn bản. 

Nhiều mô hình điểm hoạt động hiệu quả

Để thực hiện tốt phương châm xây dựng lực lượng DQTV vững mạnh, rộng khắp, khẳng định vị trí, vai trò, chức năng, nhiệm vụ, đồng thời nâng cao chất lượng hoạt động cho lực lượng DQTV, các đơn vị, địa phương trên cả nước đã xây dựng được 11 loại mô hình điểm, mô hình mới với gần 300 đơn vị điểm DQTV như: Đơn vị DQTV vững mạnh toàn diện "mẫu mực, tiêu biểu"; hải đội DQTT tham gia bảo vệ chủ quyền biển, đảo trong tình hình mới; đơn vị DQTT, DQTV biển, dân quân cơ động, pháo binh, phòng không; chốt DQTT biên giới đất liền... Bổ sung xây dựng lực lượng DQTV làm nhiệm vụ chiến tranh thông tin, chiến tranh không gian mạng, các đội bắn tỉa, chế áp phương tiện bay không người lái (UAV), đơn vị tự vệ trong các loại hình doanh nghiệp... 

Đáng chú ý là việc thành lập, duy trì hoạt động các chốt chiến đấu DQTT biên giới đất liền đã phát huy hiệu quả tích cực, vừa thực hiện tốt nhiệm vụ huấn luyện, SSCĐ vừa phối hợp với các lực lượng tuần tra, kiểm soát biên giới, đấu tranh, ngăn chặn những hành vi vi phạm pháp luật; là điểm tựa cho người dân vùng biên giới. Hiện cả nước có hàng trăm chốt DQTT biên giới đất liền gắn với các điểm dân cư đã được triển khai xây dựng và hoạt động hiệu quả. Nổi bật là các địa phương trên địa bàn Quân khu 7, Quân khu 9 đã hoàn thành xây dựng chốt DQTT biên giới gắn với điểm dân cư liền kề và đồn, trạm biên phòng. Các chốt được đầu tư cơ sở vật chất, bảo đảm điện, nước, thông tin liên lạc, phương tiện, hỗ trợ kinh phí sinh hoạt, học tập, tạo điều kiện cho cán bộ, chiến sĩ dân quân thực hiện tốt nhiệm vụ.

Các hải đội DQTT tuy mới thành lập nhưng bước đầu đã phát huy tốt vai trò, chức năng, hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao. Lần đầu tiên lực lượng DQTV biển được trang bị tàu, thiết bị chuyên dụng, công cụ hỗ trợ, ngư lưới cụ để thực hiện nhiệm vụ trên biển. Các hải đội DQTT vừa tổ chức đánh bắt, khai thác hải sản vừa làm dịch vụ hậu cần nghề cá phục vụ ngư dân, đồng thời tham gia trực SSCĐ bảo vệ chủ quyền biển, đảo của Tổ quốc; phối hợp với các lực lượng chức năng đấu tranh phòng, chống tội phạm, vi phạm pháp luật trên biển; bảo vệ hoạt động khai thác hải sản của ngư dân, bảo vệ ngư trường; tham gia tìm kiếm cứu hộ, cứu nạn trên biển... Đồng chí Thái Lưu Quang Vinh, Chính trị viên Hải đội DQTT TP Đà Nẵng cho biết: “Cán bộ, chiến sĩ đơn vị luôn xác định rõ nhiệm vụ, nêu cao trách nhiệm, sẵn sàng cho các chuyến tuần tra, trực SSCĐ dài ngày kết hợp với đánh bắt hải sản trên biển”. 

Nói về hải đội DQTT, đồng chí Trần Hoàng Tuấn, Phó chủ tịch Thường trực UBND tỉnh Quảng Ngãi chia sẻ: “Quảng Ngãi là tỉnh ven biển nên rất nhiều người làm nghề biển. Tàu của hải đội DQTT làm nhiệm vụ trực gác, tuần tra tại các ngư trường là điểm tựa giúp ngư dân an tâm ra khơi, bởi các tàu DQTT không chỉ bảo vệ mà còn giúp đỡ ngư dân mỗi khi có tình huống cấp cứu, hỗ trợ cung cấp hậu cần nghề cá... Qua đó góp phần giúp địa phương phát triển kinh tế-xã hội, bảo đảm an ninh, an toàn trên biển”.

Nét nổi bật của lực lượng DQTV được cấp ủy đảng, chính quyền và nhân dân đánh giá cao là tinh thần xung kích đi đầu trong mọi tình huống, việc khó. Tính từ năm 2020 đến nay, các địa phương đã huy động gần 3 triệu lượt DQTV với hơn 10 triệu ngày công thực hiện các nhiệm vụ. Lực lượng DQTV luôn xung kích, làm nòng cốt trong công tác xây dựng nền quốc phòng toàn dân, xây dựng khu vực phòng thủ và phòng thủ dân sự ở địa phương; phối hợp chặt chẽ với các lực lượng chức năng trong thực hiện nhiệm vụ trực SSCĐ, tuần tra, canh gác, tham gia cứu hộ, cứu nạn và phòng, chống thiên tai, dịch bệnh, góp phần giữ vững an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội ở cơ sở, tạo điều kiện thuận lợi để phát triển kinh tế-xã hội./.
Ảnh: Khối nữ dân quân tham gia duyệt đội ngũ tại lễ ra quân huấn luyện của lực lượng vũ trang TP Hồ Chí Minh.
(còn nữa)
Yêu nước ST.

TÌM HIỂU GIÚP BẠN: DÂN QUÂN TỰ VỆ VỮNG MẠNH, RỘNG KHẮP - “LÁ CHẮN THÉP” TỪ CƠ SỞ!

BÀI 1: MỖI CHIẾN CÔNG ĐỀU IN ĐẬM ĐÓNG GÓP CỦA DÂN QUÂN TỰ VỆ!

     Dân quân tự vệ (DQTV) chính là lực lượng trực tiếp bảo vệ cấp ủy, chính quyền, tính mạng và tài sản của nhân dân ở cơ sở, có vai trò hết sức quan trọng trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

Để đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trong tình hình mới với bối cảnh những thách thức an ninh truyền thống và phi truyền thống ngày càng diễn biến phức tạp, việc xây dựng lực lượng DQTV vững mạnh, rộng khắp càng trở nên cần thiết nhằm kịp thời giải quyết, ứng phó với những sự cố, tình huống quốc phòng, an ninh ngay từ cơ sở. Nhân kỷ niệm 90 năm Ngày truyền thống lực lượng DQTV Việt Nam (28-3-1935 / 28-3-2025), Báo Quân đội nhân dân đăng loạt bài “DQTV vững mạnh, rộng khắp - "Lá chắn thép" từ cơ sở”.

Lịch sử hình thành và phát triển lực lượng DQTV Việt Nam gắn liền với sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam. Ngày 28-3-1935, tại Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ nhất (họp ở Ma Cao, Trung Quốc), Đảng ta đã ban hành “Nghị quyết về đội tự vệ” (sau này, ngày 28-3 hằng năm trở thành Ngày truyền thống của lực lượng DQTV Việt Nam). Ngay sau khi có nghị quyết, các đội Tự vệ công nông lần lượt ra đời, mang tính chất là tổ chức vũ trang quần chúng đầu tiên...

Lũy thép” trong thời chiến

Trong cao trào vận động cách mạng những năm 1940-1945, Đảng ta chủ trương thành lập các đội Tự vệ cứu quốc, các tổ, tiểu đội du kích ở nhiều địa phương, căn cứ cách mạng. Lực lượng tự vệ, du kích vừa huấn luyện, vừa chiến đấu hỗ trợ phong trào đấu tranh giành chính quyền. Đến tháng 8-1945, lực lượng DQTV đã phát triển lên tới vài chục nghìn người, cùng với Quân Giải phóng và toàn dân tiến hành Tổng khởi nghĩa thành công, góp phần quyết định vào thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám năm 1945, khai sinh nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa (nay là nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam). Lực lượng DQTV trở thành một trong “3 thứ quân” (bộ đội chủ lực, bộ đội địa phương, dân quân tự vệ) của LLVT nhân dân Việt Nam.

Trong những ngày đầu độc lập, đất nước ta gặp vô vàn khó khăn, DQTV là lực lượng chủ yếu bảo vệ Đảng, bảo vệ chính quyền cách mạng non trẻ và thành quả cách mạng. Bước vào cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược, DQTV tiếp tục phát triển cả về tổ chức và lực lượng, thống nhất trong hàng ngũ LLVT nhân dân dưới sự lãnh đạo của Đảng. Từ vài chục nghìn người năm 1945, đến đầu năm 1947, lực lượng DQTV và du kích trên cả nước đã phát triển lên gần 3 triệu người, riêng Thủ đô Hà Nội có 6.000 đội viên tự vệ tham gia chiến đấu.

Với phương châm “toàn dân kháng chiến”, DQTV, du kích hoạt động rộng khắp từ Bắc chí Nam, trở thành nỗi khiếp sợ của quân xâm lược. Thực tế lịch sử đã ghi nhận, trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, lực lượng DQTV và bộ đội địa phương đã tiêu diệt 23,1 vạn trong tổng số 50 vạn quân địch, làm tan rã hơn 20 vạn quân địch và giam chân, phân tán trên 90% lực lượng địch ở khắp các chiến trường. DQTV và du kích đã đóng góp công sức, xương máu vô cùng to lớn vào thắng lợi chung, chấm dứt hơn 80 năm thống trị của thực dân, khôi phục nền độc lập dân tộc.

Sau Chiến thắng Điện Biên Phủ năm 1954, đất nước tạm thời bị chia cắt, miền Bắc bước vào thời kỳ xây dựng xã hội chủ nghĩa, miền Nam tiếp tục cuộc đấu tranh giải phóng. Lực lượng DQTV miền Bắc vừa sản xuất, vừa luyện tập sẵn sàng chiến đấu với tinh thần “tay cày tay súng”, “tay búa tay súng”. Hàng vạn đơn vị DQTV được trang bị thêm các loại vũ khí phòng không, pháo binh để bảo vệ vùng trời, vùng biển miền Bắc. Trong kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, lực lượng DQTV cũng lập nhiều chiến công xuất sắc. Ở hậu phương miền Bắc, DQTV phối hợp với Bộ đội Phòng không kiên cường chiến đấu, bắn rơi nhiều máy bay Mỹ. Riêng lực lượng DQTV miền Bắc đã độc lập bắn rơi 424 máy bay các loại trong tổng số 4.181 máy bay Mỹ bị bắn rơi ở miền Bắc, bắt sống hàng trăm phi công Mỹ, tiêu diệt hàng chục toán biệt kích, bắn chìm và bắn cháy nhiều tàu chiến của địch. Ở tiền tuyến miền Nam, dân quân, du kích bám đất, bám dân, “mỗi làng xã là một pháo đài”, hoạt động mưu trí, dũng cảm, buộc địch nhiều nơi phải phân tán tới 90% quân số để đối phó với LLVT địa phương ta. Đặc biệt, trong Tổng tiến công và nổi dậy mùa xuân năm 1975, dân quân, du kích cùng bộ đội chủ lực và toàn dân đồng loạt tiến công, nổi dậy “đánh cho Mỹ cút, đánh cho ngụy nhào”, giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước.

Sau khi non sông thu về một mối, các thế lực thù địch lại xâm lược biên giới Tây Nam và biên giới phía Bắc. Lực lượng DQTV cùng với bộ đội nỗ lực xây dựng các tuyến phòng thủ biên giới, trực tiếp chiến đấu bảo vệ từng tấc đất thiêng liêng của Tổ quốc, góp phần cùng cả nước đánh bại quân xâm lược... 

Dấu ấn “sao vuông” thời bình

Khi đất nước hòa bình, DQTV cả nước với lực lượng đông đảo đã hăng hái tham gia khắc phục hậu quả chiến tranh, rà phá bom mìn, xung kích tham gia xây dựng những công trình lớn, phát triển kinh tế-xã hội... Có thể nói, trong thời bình, lực lượng DQTV thực sự là nòng cốt trong củng cố quốc phòng, an ninh ở cơ sở, góp phần quan trọng vào sự nghiệp đổi mới, xây dựng đất nước.

Trao đổi với chúng tôi, Trung tướng Phạm Quang Ngân, Cục trưởng Cục DQTV (Bộ Tổng Tham mưu Quân đội nhân dân Việt Nam) cho biết: Trong công cuộc đổi mới và hội nhập hiện nay, lực lượng DQTV tiếp tục phát huy truyền thống anh hùng, không ngại khó khăn, gian khổ, luôn có mặt ở những nơi hiểm nguy, nhất là mỗi khi có thiên tai, địch họa. Hằng ngày, hằng giờ, ở các địa phương, cơ sở luôn có lực lượng DQTV túc trực, thực hiện nhiệm vụ sẵn sàng chiến đấu bảo vệ quê hương, Tổ quốc, đấu tranh làm thất bại mọi âm mưu chống phá của các thế lực thù địch. Đặc biệt, lực lượng DQTV thể hiện rõ vai trò xung kích trong thời bình thông qua tham gia lao động sản xuất, giúp nhân dân xóa đói, giảm nghèo, phòng, chống, khắc phục hậu quả thiên tai, dịch bệnh, cứu hộ, cứu nạn... Ở đâu nhân dân gặp khó khăn, hoạn nạn, ở đó có lực lượng DQTV sát cánh hỗ trợ.

Điển hình là trong đại dịch Covid-19, hàng chục triệu lượt cán bộ, chiến sĩ DQTV trên cả nước đã xung kích tham gia chống dịch ở tuyến đầu. Các chốt kiểm soát phòng dịch từ biên giới đến nội địa, tại mỗi làng, xã và cơ quan, doanh nghiệp đều có DQTV tham gia và làm nòng cốt. Lực lượng DQTV còn trực tiếp phục vụ tại hơn 10.000 khu cách ly và 120 bệnh viện dã chiến; phối hợp với lực lượng y tế và bộ đội "đến từng ngõ, gõ từng nhà" tuyên truyền, lấy mẫu xét nghiệm, kịp thời vận chuyển người bệnh đi cấp cứu, điều trị, cung cấp nhu yếu phẩm cho nhân dân. Tinh thần dấn thân, sự tận tụy, sẵn sàng hy sinh vì nhân dân của lực lượng DQTV đã được các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước, cấp ủy, chính quyền các địa phương và nhân dân ghi nhận, đánh giá cao.

 Có thể khẳng định, 90 năm qua, mỗi chặng đường lịch sử và chiến công của dân tộc đều in đậm những đóng góp to lớn của lực lượng DQTV. Nhiều cán bộ, chiến sĩ DQTV đã anh dũng chiến đấu, hy sinh hoặc cống hiến thầm lặng cho sự nghiệp cách mạng. Chủ tịch Hồ Chí Minh từng khẳng định vai trò đặc biệt của DQTV: “DQTV và du kích là lực lượng của toàn dân tộc, là một lực lượng vô địch, là một bức tường sắt của Tổ quốc. Vô luận địch hung bạo thế nào, hễ đụng vào lực lượng đó, bức tường đó, thì địch nào cũng phải tan rã”. Lịch sử đã chứng minh DQTV Việt Nam dưới sự lãnh đạo của Đảng là lực lượng quần chúng vũ trang trung thành, tận tụy, đóng vai trò quan trọng vào thắng lợi vĩ đại của sự nghiệp giải phóng dân tộc, bảo vệ Tổ quốc./.
Ảnh: Dân quân huyện Văn Chấn, tỉnh Yên Bái hỗ trợ người dân khắc phục hậu quả mưa lũ, tháng 9-2024.
(Còn nữa)
Yêu nước ST.

“XÂY DỰNG "LÁ CHẮN THÉP" BẢO VỆ NỀN TẢNG TƯ TƯỞNG TRONG KỶ NGUYÊN VƯƠN MÌNH CỦA DÂN TỘC VIỆT NAM”!

BÀI 2: PHÁT HUY SỨC MẠNH TỔNG HỢP, TẠO “LÁ CHẮN THÉP” BẢO VỆ VỮNG CHẮC NỀN TẢNG TƯ TƯỞNG CỦA ĐẢNG!
(Tiếp theo và hết)

     Trong bối cảnh quốc tế đầy biến động và sự phát triển mạnh mẽ của Cách mạng Công nghiệp lần thứ tư, nền tảng tư tưởng của Đảng đang phải đối mặt với những thách thức ngày càng tinh vi và đa dạng. Tấn công tư tưởng giờ đây không chỉ là cuộc chiến truyền thống, mà là một cuộc chiến không tiếng súng trên không gian mạng, nơi mà các thế lực thù địch lợi dụng công nghệ để xuyên tạc và phá hoại.

Chính vì vậy, phát huy sức mạnh tổng hợp là yêu cầu then chốt để bảo vệ vững chắc nền tảng tư tưởng của Đảng. Sức mạnh này không chỉ là sự kết hợp các nguồn lực mà còn là khả năng kết nối và phát huy đồng bộ các trụ cột: Chính trị, pháp lý, nhân lực, công nghệ và đối ngoại.

Đảng ta đã xác định rõ ràng: “Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng là nhiệm vụ cấp bách, thường xuyên của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân; kết hợp chặt chẽ "xây" và "chống"; phát huy sức mạnh tổng hợp của cả hệ thống chính trị”. Đặc biệt, công tác tổ chức cần lưu ý: “Chớ dùng thợ mộc làm nghề thợ rèn”. Nghị quyết số 35-NQ/TW ngày 22-10-2018 của Bộ Chính trị đã nhấn mạnh việc tăng cường tuyên truyền, giáo dục lý luận chính trị, đồng thời nâng cao tinh thần cảnh giác, phát hiện sớm các luận điệu xuyên tạc. Tiếp nối quan điểm đó, Chiến lược An ninh mạng quốc gia đến năm 2030 (ban hành năm 2024) bổ sung: “Phải đặt trọng tâm bảo vệ từ sớm, từ xa, gắn kết sát sao giữa biện pháp công nghệ với biện pháp con người”. Các văn bản pháp lý như Luật An ninh mạng 2018 và các nghị định liên quan đã tạo ra khung pháp lý vững chắc, làm cơ sở cho việc huy động và phân bổ nguồn lực trong và ngoài nước.

Trong kỷ nguyên vươn mình của dân tộc Việt Nam, khi thế giới đang chuyển mình mạnh mẽ, không gian tư tưởng của Đảng liên tục bị tấn công từ các chiến dịch thông tin sai lệch. Điều này đòi hỏi chúng ta phải phát huy sức mạnh tổng hợp từ chính trị, pháp lý, nhân lực đến công nghệ và đối ngoại, tạo dựng một “lá chắn thép” bảo vệ nền tảng tư tưởng vững chắc, đồng thời giữ gìn sự thống nhất nhận thức và hành động trong toàn hệ thống chính trị.

Nghị quyết số 35-NQ/TW xác định bảo vệ nền tảng tư tưởng là nhiệm vụ “thường xuyên, cấp bách” của toàn Đảng. Cấp ủy các cấp cần đảm bảo nội dung bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng khi triển khai và tổ chức thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng bộ các cấp nhiệm kỳ 2025 - 2030, Kết luận số 21-KL/TW của Hội nghị lần thứ 4 Ban Chấp hành Trung ương khóa XIII về xây dựng, chỉnh đốn Đảng. Đồng thời, phát huy tối đa vai trò các phương tiện truyền thông chính thống và nền tảng số, trang mạng xã hội do hệ thống chính trị quản lý để “xây dựng” giá trị cốt lõi và “chống” xuyên tạc, tạo thế chủ động trên mọi kênh dư luận.

Như chúng ta đã biết, để từng bước hoàn thiện cơ sở pháp lý - thể chế, các luật như Luật An ninh mạng 2018 đã xác lập trách nhiệm bảo đảm an toàn thông tin và giáo dục chính trị. Tuy nhiên, cần nhanh chóng ban hành các nghị định, thông tư hướng dẫn về xử lý tin giả và khủng hoảng truyền thông. Việc xây dựng quy chế phản ứng nhanh ba lớp (phát hiện - thẩm định - phản bác) giúp rút ngắn “thời gian vàng” ngăn chặn tin tức xấu lan truyền.

Nghị quyết số 26-NQ/TW yêu cầu đổi mới giáo dục và đào tạo trong Quân đội để phát triển nguồn nhân lực cao hình thành đội ngũ chuyên gia “kép”, am hiểu lý luận chính trị và thành thạo an ninh mạng. Các học viện, trường sĩ quan và hệ thống báo cáo viên cần được đào tạo thường xuyên kỹ năng nhận diện và phản bác các luận điệu “tự diễn biến” và “tự chuyển hóa”.

Với phương châm “bảo vệ từ sớm, từ xa”, chúng ta phải tận dụng ưu thế công nghệ - kỹ thuật. Trong đó phải coi trọng việc đầu tư vào nền tảng giám sát thế hệ mới, ứng dụng trí tuệ nhân tạo và dữ liệu lớn giúp phát hiện sớm các chiến dịch thao túng thông tin, thao túng dư luận. Các mô phỏng tấn công lan truyền tin giả ("cyber range") giúp rèn luyện phản ứng khẩn cấp cho lực lượng an ninh, tuyên giáo, đồng thời kiểm tra hiệu quả hệ thống phòng thủ kỹ thuật theo kịch bản thực chiến.

Muốn vậy, Việt Nam cần mở rộng hợp tác quốc tế và phát huy sức mạnh mềm, chủ động tham gia vào các diễn đàn quốc tế về an ninh mạng, chia sẻ kinh nghiệm chống tin giả và tranh thủ chuyên gia quốc tế. Đồng thời, việc truyền thông đa ngôn ngữ (Anh, Pháp, Đức, Trung Quốc) về đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước sẽ nâng cao sự thuyết phục và tạo “hàng rào” dư luận từ bên ngoài.

Những giải pháp nêu trên tạo thành một chỉnh thể hữu cơ. Khi được triển khai đồng bộ và có cơ chế đánh giá định kỳ, chúng sẽ loại bỏ các “điểm nghẽn” trong phòng thủ tư tưởng. Mỗi cấp ủy, tổ chức, cơ quan phải xem bảo vệ nền tảng tư tưởng là nhiệm vụ trung tâm, ưu tiên nguồn lực chính trị, pháp lý, nhân lực, công nghệ và ngoại giao để giữ vững trận địa tư tưởng, phản bác mọi quan điểm sai trái, thù địch, và củng cố niềm tin của nhân dân vào sự lãnh đạo của Đảng.

Bộ Tư lệnh 86 không hoạt động một cách tách biệt mà là phần quan trọng trong một cơ chế liên ngành chặt chẽ, nơi sự phối hợp chiến lược giữa các bộ, ngành và địa phương tạo thành một "lá chắn thép" bảo vệ vững chắc nền tảng tư tưởng của Đảng. Từ việc hoạch định chiến lược đến triển khai thực tiễn, các lực lượng này kết hợp, tối ưu hóa hiệu quả bảo vệ tư tưởng qua một mạng lưới an ninh tư tưởng toàn diện. Dữ liệu sơ cấp được thu thập qua Mạng quan trắc dư luận xã hội của Bộ Thông tin & Truyền thông (nay là Bộ Văn hóa-Thể thao và Du lịch), với sự tham gia của Cục An ninh mạng và Phòng chống tội phạm sử dụng công nghệ cao (Cục A05, Bộ Công an) và Ban Tuyên giáo và Dân vận Trung ương, giúp tăng cường khả năng phát hiện và phản ứng nhanh chóng. Đến cuối năm 2023, 80% quy trình tác chiến mạng đã được số hóa, với hơn 200 đợt diễn tập, rút ngắn 40% thời gian phản ứng, đưa hiệu quả phòng chống tin giả lên tầm cao mới.

Chiến lược bảo vệ tư tưởng của Đảng được triển khai qua bốn lớp phối hợp đồng bộ. Cấp chiến lược do Ban Bí thư lãnh đạo, tạo nền tảng chính sách, trong khi Bộ tư lệnh 86 phối hợp với Cục A05 và Cục An toàn Thông tin (Bộ Khoa học và Công nghệ) thực hiện các kịch bản phản công kép: vừa vô hiệu hóa thông tin xấu, vừa lan tỏa thông tin chính thống. Tầng kỹ thuật sử dụng nền tảng “Tri thức đỏ”, SOC, tường lửa tư tưởng, và công nghệ tiên tiến như CDR và blockchain để xử lý dữ liệu tức thời. Cuối cùng, tại cấp cơ sở, các đội phản ứng nhanh đa ngành được huấn luyện, phối hợp chặt chẽ giữa quân đội, công an và CNTT, giúp khoanh vùng và phản bác tin giả ngay tại "tuyến đầu", đảm bảo mọi chiến dịch đều được xử lý kịp thời, hiệu quả.

Trong kỷ nguyên vươn mình của dân tộc Việt Nam, đất nước đang vươn lên mạnh mẽ trong thời đại số, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trở thành nhiệm vụ quan trọng bậc nhất. Điều này không chỉ yêu cầu củng cố bản lĩnh chính trị và sức đề kháng tư tưởng của cán bộ, đảng viên và nhân dân, mà còn phải chủ động thích ứng với những tiến bộ của internet, mạng xã hội, nhận diện và phản bác kịp thời các quan điểm sai trái. Công tác tuyên truyền, giáo dục cần phải đổi mới, lan tỏa cảm hứng thay vì chỉ áp đặt. Sự kết hợp nhịp nhàng giữa công nghệ, pháp luật và ngoại giao cần được triển khai đồng bộ, tạo thành một thế trận liên ngành vững mạnh. Đặc biệt, cần phát huy vai trò của nhân dân, đặc biệt là thế hệ trẻ, làm chủ công nghệ để trở thành “thế trận toàn dân” trong cuộc chiến bảo vệ tư tưởng của Đảng.

Vấn đề có tính then chốt là phải tăn g cường “sức đề kháng” tư tưởng trong Đảng và xã hội. Muốn vậy, trước hết phải xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh về chính trị, tư tưởng và đạo đức. Theo Văn kiện Đại hội XIII, công tác giáo dục lý luận chính trị cần đổi mới, kết hợp linh hoạt giữa hình thức truyền thống và số hóa, đảm bảo mọi đảng viên thấm nhuần chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh. Việc học tập và làm theo tư tưởng Hồ Chí Minh cần lồng ghép vào sinh hoạt chi bộ, sinh hoạt đoàn thể và các mô hình câu lạc bộ giá trị sống tại cơ sở, kết hợp với khảo sát và phản hồi để điều chỉnh kịp thời. Cấp ủy các cấp phải tăng cường giám sát nội dung tư tưởng trên các kênh truyền thông nội bộ, việc sử dụng mạng xã hội cá nhân của cán bộ, đảng viên để phát hiện và chấn chỉnh kịp thời các biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị.

Vấn đề có tính quan trọng là chủ động định hướng dư luận trên không gian mạng. Không gian mạng là “mặt trận thứ năm” trong kỷ nguyên vươn mình dân tộc, đầy thách thức và cơ hội. Cần thiết lập một hệ sinh thái truyền thông đa nền tảng của các cơ quan Đảng, Nhà nước, sử dụng trí tuệ nhân tạo và Big Data để phân tích dư luận theo thời gian thực, phát hiện sớm tin giả và khủng hoảng truyền thông. Cần xây dựng đội ngũ cộng tác viên có kỹ năng truyền thông số, có khả năng xử lý nhanh các bình luận tiêu cực và thường xuyên tổ chức livestream, tọa đàm trực tuyến để giải đáp thắc mắc, giải tỏa thông tin sai lệch.

Bên cạnh đó, phát huy vai trò báo chí, văn học-nghệ thuật và giáo dục là một trong những giải pháp quan trọng. Báo chí, văn học, nghệ thuật và giáo dục là những công cụ sắc bén trong đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng. Báo chí phải trung thực, phản ánh thực tiễn cuộc sống, phê phán tiêu cực và làm nổi bật những giá trị tích cực của xã hội.

Để thu hút giới trẻ, cần khuyến khích các hình thức truyền thông hiện đại như infographics, video ngắn trên TikTok, Instagram. Ngành văn học-nghệ thuật cần chú trọng sản xuất các tác phẩm tuyên truyền lịch sử và những chân dung cách mạng với dung lượng và chất lượng phù hợp để đăng tải trên môi trường mạng xã hội. Đồng thời, ngành giáo dục tích hợp bảo vệ nền tảng tư tưởng vào chương trình học và tổ chức các cuộc thi sáng tạo nhằm khơi dậy lòng tự hào, tự tôn dân tộc, vun đắp niềm tin và xây dựng ý thức cảnh giác trước các luận điệu xuyên tạc của các thế lực thù địch.

Đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng không chỉ là nhiệm vụ của Ban Tuyên giáo và Dân vận hay các cơ quan quốc phòng, an ninh mà là trách nhiệm chung của toàn bộ hệ thống chính trị và xã hội. Mỗi cấp ủy, mỗi cơ quan cần phát huy sức mạnh tổng hợp để bảo vệ nền tảng tư tưởng, tạo ra một chiến lược phòng thủ tư tưởng toàn diện.

Bên cạnh hoàn thiện hệ thống pháp luật về an ninh mạng và an toàn thông tin, cần phải nâng cao hiệu quả thực thi và hợp tác tư pháp quốc tế: Việt Nam cần đẩy mạnh ký kết các điều ước quốc tế về dẫn độ tội phạm công nghệ cao và triển khai cơ chế chia sẻ dữ liệu điện tử phục vụ điều tra xuyên biên giới, phối hợp với các đối tác quốc tế trong việc bảo vệ lợi ích quốc gia trên không gian mạng.

Cùng với việc bảo vệ bản quyền số và dữ liệu chiến lược, cần có những giải pháp công nghệ, kỹ thuật, an ninh, an toàn. Muốn vậy, trước hết phải coi trọng xây dựng hệ thống cảnh báo sớm “Tri thức đỏ” sử dụng Big Data và AI để thu thập và phân tích dữ liệu từ mạng xã hội, diễn đàn, báo điện tử, các nguồn từ internet. Hệ thống sẽ nhận diện thông tin sai lệch, tin giả và cảnh báo kịp thời cho các cấp chỉ đạo qua giao diện trực quan.

Trong kỷ nguyên vươn mình của dân tộc Việt Nam, khi công nghệ và không gian mạng ngày càng chi phối mọi mặt đời sống xã hội, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng chính là nhiệm vụ cấp bách, là trách nhiệm của toàn xã hội. Cuộc chiến tư tưởng không còn giới hạn trong không gian vật lý mà đã lan tỏa vào không gian mạng, nơi các thế lực thù địch không ngừng lợi dụng công nghệ để tấn công, xuyên tạc và phá hoại niềm tin của nhân dân đối với Đảng và Nhà nước.

Trong không gian mạng, nơi thông tin lan tỏa với tốc độ chóng mặt, sự kết hợp nhịp nhàng của các lực lượng chính trị, pháp lý, công nghệ và an ninh, an toàn - sẽ giúp bảo vệ vững chắc nền tảng tư tưởng của Đảng, tạo nên một "mạng lưới bảo vệ tư tưởng" kiên cố. Chính trị - tư tưởng hun đúc niềm tin kiên cường; pháp lý mạnh mẽ xử lý mọi hành vi xuyên tạc; công nghệ trí tuệ nhân tạo và Big Data giúp phát hiện, cảnh báo sớm các mối đe dọa; trong khi an ninh, an toàn mạng bảo vệ hạ tầng số, bảo vệ từng “tuyến phòng thủ” trong mặt trận tư tưởng.

Mô hình phối hợp liên ngành từ Ban Chỉ đạo chiến lược đến các đội phản ứng nhanh đã chứng minh sức mạnh cộng hưởng không thể phá vỡ. Những kết quả đạt được trong công tác bảo vệ nền tảng tư tưởng, với việc rút ngắn thời gian phản ứng và nâng cao tính chính xác, minh bạch của thông tin, khẳng định sự chủ động trong chiến lược phòng thủ tư tưởng.

Chỉ khi toàn xã hội đồng lòng, quyết tâm bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, chúng ta mới có thể vững vàng tiến bước, đưa đất nước phát triển bền vững trong kỷ nguyên số, không chỉ giữ gìn mà còn làm phong phú thêm những giá trị cốt lõi, tạo dựng một tương lai mạnh mẽ, đoàn kết và thịnh vượng./.
Ảnh: Trung tâm 386 tổ chức tập huấn nghiệp vụ cho các lực lượng tại Ban chỉ đạo 35 tỉnh Ninh Thuận, nay là tỉnh Khánh Hòa.
Môi trường ST.

“XÂY DỰNG "LÁ CHẮN THÉP" BẢO VỆ NỀN TẢNG TƯ TƯỞNG TRONG KỶ NGUYÊN VƯƠN MÌNH CỦA DÂN TỘC VIỆT NAM”!

BÀI 1: MẶT TRẬN KHÔNG TIẾNG SÚNG TRONG kỷ NGUYÊN VƯƠN MÌNH! 

     Trong kỷ nguyên vươn mình, khi đất nước bước vào Cách mạng Công nghiệp lần thứ 4, mặt trận tư tưởng đã chuyển trọng tâm lên không gian mạng. Các thế lực thù địch lợi dụng công nghệ để xuyên tạc và làm suy yếu niềm tin của nhân dân vào Đảng và Nhà nước. Để bảo vệ vững chắc nền tảng tư tưởng của Đảng, bài viết đề xuất xây dựng một "lá chắn thép" tổng hòa giữa chính trị, pháp lý và công nghệ. Trong thời đại số, việc bảo vệ tư tưởng Đảng không chỉ là nhiệm vụ của các cơ quan chức năng mà là trách nhiệm của toàn xã hội. Hệ thống bảo vệ tư tưởng này không chỉ giúp duy trì sự ổn định chính trị mà còn tạo nền tảng cho sự phát triển bền vững, đưa đất nước vươn mình mạnh mẽ trong kỷ nguyên số.


Kỷ nguyên vươn mình của dân tộc Việt Nam - không chỉ là kỷ nguyên của sự phát triển mạnh mẽ mà còn có những thử thách cam go. Trong xu thế chuyển đổi số, công nghệ và không gian mạng trở thành những công cụ sắc bén, chúng ta không chỉ phải đối mặt với nguy cơ các cuộc chiến vũ trang hay xung đột biên giới mà còn là một cuộc chiến âm thầm nhưng không kém phần khốc liệt: Cuộc chiến tư tưởng.


Trên "mặt trận không tiếng súng", các thế lực thù địch sử dụng công nghệ để xuyên tạc, chia rẽ, và phá hoại niềm tin của người dân vào Đảng và chính quyền. Những cuộc tấn công không cần súng đạn, nhưng chúng lại có sức mạnh phá hủy nền tảng tư tưởng, làm lung lay sự ổn định về chính trị và xã hội.


Trong bối cảnh đó, một "lá chắn thép" bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng không chỉ là một khái niệm, mà là yêu cầu sống còn. Đây là thời điểm để vươn mình mạnh mẽ, xây dựng một hệ thống phòng thủ toàn diện, không chỉ từ những biện pháp chính trị, pháp lý mà còn là sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa công nghệ tiên tiến và trí tuệ con người. Đó là “lá chắn thép” bảo vệ những giá trị cốt lõi của Đảng, giúp chúng ta kiên cường đứng vững trước những thử thách trong kỷ nguyên mới.


Mặt trận không tiếng súng này đòi hỏi mỗi công dân, mỗi đảng viên phải là một chiến sĩ kiên cường, sẵn sàng bảo vệ tư tưởng, bảo vệ niềm tin và bảo vệ đất nước trước những âm mưu chia rẽ từ bên ngoài và bên trong. Kỷ nguyên vươn mình của dân tộc Việt Nam, nơi công nghệ và con người hòa quyện, chính là cơ hội và thử thách để xây dựng một "lá chắn thép" vững chắc, đưa đất nước tiến lên tầm cao mới, không chỉ giữ gìn mà còn phát triển nền tảng tư tưởng của Đảng trong kỷ nguyên mới.


Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng là bảo vệ hệ thống giá trị, quan điểm chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, cùng các đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước. Trong kỷ nguyên vươn mình của dân tộc Việt Nam, là khi đất nước đang bước vào thời đại mới với sự phát triển mạnh mẽ của công nghệ và toàn cầu hóa, nhiệm vụ này càng trở thành cấp bách, không thể chậm trễ. Để bảo vệ vững chắc nền tảng tư tưởng của Đảng, chúng ta không chỉ cần ngăn chặn các luận điệu sai trái, xuyên tạc và phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng, mà còn phải làm sáng tỏ bản sắc, giá trị cốt lõi, từ đó nâng cao nhận thức của cán bộ, đảng viên và các tầng lớp nhân dân. Phạm vi bảo vệ nền tảng tư tưởng trải rộng từ công tác tuyên truyền, giáo dục chính trị qua các phương tiện truyền thông, đến việc thiết lập hệ thống giám sát và phân tích thông tin trên không gian mạng, bảo vệ an toàn cơ sở dữ liệu quốc gia.


Kỷ nguyên vươn mình của dân tộc Việt Nam cũng là thời đại của Cách mạng Công nghiệp lần thứ tư, nơi mà internet vạn vật, truyền thông xã hội, trí tuệ nhân tạo và phân tích dữ liệu lớn tạo ra một môi trường thông tin toàn cầu, có sức lan tỏa nhanh chóng, nhưng cũng là nơi khởi phát của "chiến tranh thông tin" với tin giả, video deepfake và các chiến dịch sử dụng botnet để phát tán thông tin độc hại. Các thế lực thù địch đã và đang lợi dụng công nghệ để khuếch đại luận điệu xuyên tạc, gây hoang mang dư luận và làm suy yếu sức đề kháng tư tưởng của xã hội. Chính vì vậy, ngoài công tác tuyên truyền, việc thiết lập cơ chế giám sát liên tục, cảnh báo sớm và phản bác kịp thời thông qua các công cụ kỹ thuật tiên tiến là yếu tố then chốt góp phần bảo vệ vững chắc nền tảng tư tưởng.


Nhìn lại lịch sử, trong thời kỳ Chiến tranh Lạnh, cả Liên Xô và Mỹ đều xây dựng các hệ thống tuyên truyền và pháp lý chặt chẽ để bảo vệ niềm tin xã hội. Gần đây, Liên minh châu Âu đã ban hành “Digital Services Act” để tăng cường trách nhiệm của các nền tảng số trong việc kiểm soát nội dung xấu, trong khi Trung Quốc triển khai “Tường lửa vĩ đại” và chiến lược tuyên truyền chủ động. Các quốc gia Á Đông phát triển khác như Nhật Bản và Hàn Quốc cũng áp dụng cơ chế hợp tác công-tư để truy vết và xử lý tin giả. Việc học hỏi kinh nghiệm quốc tế và kết hợp chặt chẽ giữa đấu tranh chính trị - tư tưởng, pháp lý và ứng dụng công nghệ sẽ là bài học quý giá để Việt Nam hoàn thiện cơ chế bảo vệ nền tảng tư tưởng, phù hợp với thể chế, văn hóa và pháp luật trong kỷ nguyên vươn mình.


Trong dòng chảy mạnh mẽ của toàn cầu hóa và kỷ nguyên số, nền tảng tư tưởng của Đảng không chỉ đứng trước cơ hội được khẳng định, củng cố, lan tỏa mà còn phải đối mặt với những thử thách gay gắt mang tính toàn cầu. Khi các thế lực thù địch không ngừng thay đổi hình thức, công cụ và thủ đoạn chống phá, việc nhận diện rõ bản chất của chúng trở thành yếu tố theo chốt để bảo vệ vững chắc trận địa tư tưởng.


Bản chất của các thế lực này không chỉ là những tổ chức phản động lưu vong hay nhóm, cá nhân bất mãn chính trị cụ thể trong nước, mà là các chiến dịch chống phá, đứng sau là một mạng lưới phức tạp, đan xen lợi ích, bao gồm các tổ chức phản động người Việt, cơ quan truyền thông quốc tế, tổ chức phi chính phủ nước ngoài mang danh “bảo vệ dân chủ, nhân quyền” và những phần tử cơ hội chính trị trong nước. Họ không hành động đơn lẻ mà liên kết thành một mạng lưới có tổ chức, được hậu thuẫn về thể chế, tài chính, công nghệ và truyền thông từ những thế lực chống chủ nghĩa xã hội, tạo thành một “chiến tuyến mềm” nhắm trực diện vào niềm tin, ý chí và bản lĩnh chính trị của cán bộ, đảng viên và nhân dân.


Nếu trước đây, các thế lực thù địch thường tập trung tấn công vào những vấn đề lịch sử, lãnh tụ và chủ quyền lãnh thổ, thì ngày nay, phương thức chống phá đã được đẩy lên một tầm mức cao hơn: Tấn công trực tiếp vào nền tảng tư tưởng của Đảng. Chúng tìm mọi cách phủ nhận chủ nghĩa Mác-Lênin, bôi nhọ tư tưởng Hồ Chí Minh, thổi phồng khuyết điểm của Đảng và Nhà nước, đồng thời gieo rắc hoài nghi về con đường đi lên chủ nghĩa xã hội của Việt Nam. Không bắt đầu bằng những vấn đề lý luận vĩ mô, các thế lực này chuyển hướng khai thác những vấn đề nhạy cảm, những vụ việc cụ thể phát sinh trong đời sống, từ tranh chấp đất đai, ô nhiễm môi trường, ứng phó dịch bệnh, các vụ việc từ nhũng nhiễu đến tham nhũng, lãng phí, tiêu cực cho đến những hiện tượng mới trong tôn giáo, xung đột sắc tộc. Chính sự len lỏi vào những vấn đề thiết thân này khiến các luận điệu chống phá trở nên nguy hiểm, bởi chúng trực tiếp tác động đến niềm tin, làm "rung chuyển" nhận thức của một bộ phận người dân.


Trong kỷ nguyên vươn mình của dân tộc Việt Nam, không gian mạng đã trở thành “mảnh đất màu mỡ” để các thế lực thù địch gieo rắc những âm mưu chống phá nền tảng tư tưởng của Đảng. Không giống như các phương thức truyền thống, cuộc tấn công trong kỷ nguyên số không cần đến súng đạn, không cần vượt qua biên giới vật lý, mà chỉ cần vài dòng trạng thái, một video livestream hoặc được cắt ghép tinh vi hay một loạt bài viết đầy kích động. Các thế lực thù địch này đã và đang tận dụng mọi thành tựu công nghệ, từ trí tuệ nhân tạo, big data, botnet đến deepfake, để hình thành chiến tranh thông tin trên môi trường mạng, gia tăng sức công phá, làm xói mòn niềm tin của nhân dân vào Đảng và Nhà nước. Mục tiêu của chúng không chỉ đơn thuần là bôi nhọ một cá nhân lãnh đạo, mà còn là làm suy yếu sức đề kháng tư tưởng của xã hội, khiến người dân mất phương hướng, hoài nghi về chính thể, từng bước đẩy xã hội vào trạng thái “tự diễn biến” và “tự chuyển hóa”.


Điều đặc biệt nguy hiểm trong kỷ nguyên vươn mình này là các hoạt động chống phá không còn giới hạn trong một lĩnh vực hay phạm vi cụ thể. Chúng đan xen, phối hợp trên nhiều mặt trận: Từ chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội đến không gian mạng, từ thành thị đến nông thôn. Một video lan truyền trên mạng xã hội có thể tạo ra ngay lập tức một “làn sóng phẫn nộ” ngoài đời thực; một bài báo xuyên tạc trên các phương tiện truyền thông quốc tế có thể trở thành công cụ gây sức ép ngoại giao; một nhóm nhỏ kêu gọi bất tuân dân sự trên mạng có thể biến thành các cuộc tụ tập, gây rối ngoài đường phố. Chính sự tinh vi trong phối hợp này khiến việc chống phá nền tảng tư tưởng không còn là chuyện xa vời, mà đã xâm nhập vào tận các ngõ ngách của đời sống xã hội.


Đằng sau mọi hành động này là âm mưu thâm sâu: Phá hoại niềm tin của nhân dân đối với Đảng, làm suy yếu khối đại đoàn kết dân tộc, kích động bất ổn xã hội và cuối cùng, tiến tới làm xói mòn nền tảng chính trị, chuyển hóa chế độ. Các thế lực thù địch hiểu rõ rằng một xã hội thiếu niềm tin chính trị sẽ dễ dàng rơi vào khủng hoảng. Chính vì vậy, cuộc chiến bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng thực chất là cuộc chiến bảo vệ niềm tin, bảo vệ sự ổn định và bảo vệ chính nghĩa trong kỷ nguyên vươn mình của dân tộc Việt Nam.


Trong bối cảnh ấy, nhiệm vụ đặt ra không chỉ là phát hiện, phản bác và xử lý từng đối tượng hay vụ việc cụ thể, mà quan trọng hơn là xây dựng một thế trận phòng thủ tư tưởng toàn diện. Một thế trận mang tính tổng thể, dựa trên sự tỉnh táo và ý thức của toàn xã hội, trên bản lĩnh chính trị vững vàng của cán bộ, đảng viên, khả năng làm chủ công nghệ, và sự phối hợp nhịp nhàng giữa các lực lượng: chính trị, pháp luật, an ninh, giáo dục, truyền thông và ngoại giao. Khi sức mạnh tổng hợp này được phát huy, khi mỗi người dân trở thành một "chiến sĩ" bảo vệ niềm tin, khi mỗi cơ quan, đoàn thể trở thành một "pháo đài tư tưởng", khi toàn xã hội vững vàng trở thành một “lá chắn thép”, thì dù các âm mưu, thủ đoạn chống phá có tinh vi đến đâu, chúng cũng không thể xuyên thủng./.

Ảnh: Lãnh đạo Bộ tư lệnh 86 trao Bằng khen tặng các tập thể có thành tích xuất sắc trong thực hiện Nghị quyết số 35, xứng đáng là lực lượng "lá chắn thép" bảo vệ những giá trị cốt lõi của Đảng.

(Còn nữa)

Môi trường ST.

Thứ Hai, 6 tháng 10, 2025

VẬN DỤNG TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH TRONG XÂY DỰNG KHỐI ĐẠI ĐOÀN KẾT DÂN TỘC THỜI KỲ ĐỔI MỚI Ở VIỆT NAM Thứ tư - 09/04/2025 16:04 Trong suốt cuộc đời và sự nghiệp của mình, Hồ Chí Minh luôn coi trọng việc xây dựng khối đại đoàn kết dân tộc, coi đó là một yếu tố quyết định cho sự nghiệp cách mạng và xây dựng đất nước. Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, đại đoàn kết toàn dân tộc là truyền thống quý báu, là vấn đề có ý nghĩa chiến lược; đồng thời, là mục tiêu, nhiệm vụ, động lực quyết định thắng lợi của cách mạng Việt Nam. Người khẳng định: “Đoàn kết, đoàn kết, đại đoàn kết, thành công, thành công, đại thành công”[1]. Khẩu hiệu đó trở thành kim chỉ nam cho mọi hành động của Đảng và nhân dân Việt Nam vận dụng trong mọi giai đoạn lịch sử. Người nhấn mạnh, sức mạnh của dân tộc là sức mạnh của toàn thể nhân dân, mọi tầng lớp, mọi dân tộc, mọi tôn giáo trên nền tảng liên minh giai cấp giữa giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức, do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo. Cùng với việc xác định lực lượng khối đại đoàn kết, chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ ra nguyên tắc, phương pháp cơ bản thực hiện đại đoàn kết dân tộc là phải lấy mục tiêu chung của cách mạng cùng những điểm tương đồng để quy tụ, đoàn kết các tầng lớp nhân dân. Bởi theo Người, ở mỗi người dân Việt Nam, dù ở giai cấp, tầng lớp, vùng, miền nào ít nhiều đều có lòng yêu nước, đều mưu cầu độc lập cho Tổ quốc, tự do, hạnh phúc cho nhân dân. Do đó, tìm cái chung, lấy cái chung làm điểm tựa để hóa giải những khác biệt. Hơn nữa, Chủ tịch Hồ Chí Minh nhấn mạnh, đại đoàn kết dân tộc phải hướng tới hình thành một cộng đồng gắn bó và thống nhất; kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại nhằm thực hiện thắng lợi các mục tiêu cách mạng. Để làm được điều đó, phải quy tụ, đoàn kết các tầng lớp nhân dân trong tổ chức thống nhất, đó chính là Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, trên nền tảng liên minh công - nông - trí thức; hoạt động theo nguyên tắc hiệp thương dân chủ, lấy việc thống nhất lợi ích tối cao của quốc gia - dân tộc với lợi ích của các tầng lớp nhân dân làm cơ sở để củng cố và mở rộng. Người chỉ rõ nguyên tắc trong xây dựng khối đại đoàn kết dân tộc là trên cơ sở thống nhất giữa lợi ích của quốc gia dân tộc với lợi ích chính đáng của các giai cấp, tầng lớp. Phải luôn giữ vững quan điểm “dân là gốc”, tin vào dân, dựa vào dân, vì nhân dân. Đoàn kết tự giác, tự nguyện, thành thật, đoàn kết lâu dài. Đồng thời cần nhận diện và phân hóa lực lượng trung gian, lực lượng phản cách mạng để có phương pháp ứng xử phù hợp, góp phần củng cố và phát triển phong trào cách mạng. Tư tưởng Hồ Chí Minh về đại đoàn kết dân tộc có ý nghĩa to lớn và mang tính thời sự sâu sắc cho sự nghiệp cách mạng. Do đó, việc vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh trong xây dựng khối đại đoàn kết thời kỳ đổi mới có ý nghĩa hết sức quan trọng góp phần củng cố khối đại đoàn kết dân tộc, tạo động lực cho sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước; yếu tố quyết định để đất nước vượt qua khó khăn, thách thức, đặc biệt trước những âm mưu, thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch. Từ kinh nghiệm lịch sử và yêu cầu cấp bách của sự nghiệp đổi mới đất nước, tại Đại hội VII (1991) của Đảng khẳng định: “Đảng lấy chủ nghĩa Mác- Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động, lấy tập trung dân chủ làm nguyên tắc tổ chức cơ bản”[2]. Đảng đã chỉ đạo đẩy mạnh nghiên cứu, làm sáng tỏ tư tưởng Hồ Chí Minh về đại đoàn kết toàn dân tộc, làm cơ sở lý luận để vận dụng trong xây dựng khối đại đoàn toàn dân tộc; qua đó, khơi dậy và phát huy nguồn sức mạnh nội sinh to lớn của đất nước trên cơ sở khơi dậy và phát huy sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân tộc nhằm thực hiện thắng lợi mục tiêu xây dựng nước Việt Nam phồn vinh, hạnh phúc, dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh. Hiện nay, thế giới có nhiều biến động phức tạp và khó lường, trong khi tình hình trong nước cũng chứng kiến những thay đổi sâu sắc về kinh tế, văn hóa, xã hội. Đồng thời, đất nước ta phải đối mặt với những âm mưu, thủ đoạn chống phá từ các thế lực thù địch, chúng tập trung phá hoại sự đoàn kết trong Đảng, trọng tâm then chốt tấn công trên mặt trận tư tưởng - văn hóa với mưu đồ làm tan rã niềm tin, tạo ra “khoảng trống” để dần dần đưa hệ tư tưởng tư sản vào và tiến tới “tự chuyển hóa” xóa bỏ tư tưởng xã hội chủ nghĩa... Trước thực tế đó, Đảng ta xác định rõ các mục tiêu, nhiệm vụ, nội dung mới để quy tụ, khơi dậy và phát huy sức mạnh, khát vọng cống hiến của toàn dân tộc nhằm hiện thực hóa mục tiêu xây dựng đất nước phát triển nhanh, bền vững, theo đúng định hướng xã hội chủ nghĩa. Đồng thời xác định quan điểm, đường lối nhất quán trong xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc: “Khơi dậy mạnh mẽ tinh thần yêu nước, ý chí tự cường dân tộc, sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc và khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc…”[3] nhằm đáp ứng những đòi hỏi thực tiễn phát triển đất nước trong bối cảnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Vận dụng và phát triển sáng tạo tư tưởng Hồ Chí Minh thời kỳ đổi mới, Đảng, Nhà nước đã ban hành nhiều chủ trương, chính sách xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc ngày càng bền chặt. Trên cơ sở tổng kết, đánh giá những kết quả đã đạt được, những hạn chế, nguyên nhân của những thành tựu và hạn chế sau 20 năm thực hiện Nghị quyết số 23- NQ/ TW ngày 12/3/2003 của Hội nghị Trung ương 7 khóa IX “về phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc vì dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh” và thực hiện quan điểm chỉ đạo của Đảng ta trong Văn kiện Đại hội XIII về phát huy tinh thần đại đoàn kết dân tộc, Ban Chấp hành Trung ương Đảng đã đề ra Nghị quyết số 43- NQ/TW, ngày 24/11/2023 “về tiếp tục phát huy truyền thống, sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, xây dựng đất nước ta ngày càng phồn vinh, hạnh phúc” với những quan điểm nhất quán: đại đoàn kết dân tộc là sợi chỉ đỏ, truyền thống quý báu, chủ trương, đường lối quan trọng, xuyên suốt của Đảng; nguồn sức mạnh to lớn góp phần quyết định thắng lợi sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Nhờ đó, chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước về tăng cường khối đại đoàn kết dân tộc, phát huy dân chủ xã hội chủ nghĩa, bảo đảm quốc phòng, an ninh, mở rộng đối ngoại được thực hiện có hiệu quả. Đồng thời, đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân ngày càng được nâng cao, quyền làm chủ của người dân được thực hiện trên thực tế, khơi dậy tiềm năng và sức sáng tạo trong các phong trào thi đua yêu nước... Tất cả những yếu tố đó đã tạo nên nguồn sức mạnh nội sinh vững chắc, trở thành động lực to lớn giúp đất nước vượt qua nhiều khó khăn, thách thức đạt được nhiều thành tựu quan trọng, có ý nghĩa lịch sử to lớn như Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã khẳng định: “Đất nước ta chưa bao giờ có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế như ngày nay”[4]. Bên cạnh những thành tựu đạt được, công tác tổng kết nghiên cứu, vận dụng và phát triển sáng tạo tư tưởng Hồ Chí Minh trong xây dựng khối đại đoàn kết trong thời kì đổi mới còn chậm, thiếu toàn diện, đồng bộ. Việc thể chế hóa chủ trương, quan điểm của Đảng liên quan đến quyền, lợi ích hợp pháp, chính đáng của nhân dân còn bất cập. Chủ trương về tổ chức thực thi chính sách, pháp luật còn hạn chế; chưa bảo đảm cho nhân dân tham gia đầy đủ vào quá trình quyết định chính sách; còn bị động, lúng túng trước một số vấn đề mới phát sinh. Việc đổi mới nội dung và phương thức hoạt động của Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức chính trị - xã hội, vai trò đại diện cho quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng, phát huy quyền làm chủ của nhân dân còn một số hạn chế. Các thế lực thù địch, phản động dùng mọi thủ đoạn thâm độc hòng chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân tộc bằng những thủ đoạn, chiêu bài tinh vi, thực hiện những chiêu trò đánh lạc hướng dư luận... hòng khiến người dân từ nghi ngờ, dẫn đến mất lòng tin vào Đảng, chế độ, làm suy giảm tinh thần cách mạng của nhân dân... Do đó, việc phát huy sức mạnh khối đại đoàn kết toàn dân tộc trong thời kỳ đổi mới hiện nay là điều kiện quan trọng, tiên quyết góp phần xây dựng và phát triển đất nước bền vững. Để tiếp việc vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh trong xây dựng khối đại đoàn kết hiệu quả hơn, trong thời gian tới cần thực hiện đồng bộ các giải pháp sau: Một là, nâng cao nhận thức về tư tưởng đại đoàn kết của Hồ Chí Minh thông qua việc tổ chức các hội thảo, tọa đàm về tư tưởng đại đoàn kết dân tộc của Hồ Chí Minh ở các cấp, từ trung ương đến địa phương. Đưa nội dung tư tưởng Hồ Chí Minh về đại đoàn kết vào chương trình giảng dạy trong hệ thống giáo dục phổ thông, đại học và các lớp đào tạo, bồi dưỡng lý luận chính trị. Hai là, củng cố vai trò của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức đoàn thể. Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị - xã hội cần tăng cường tổ chức các phong trào, hoạt động cộng đồng như: Chương trình “Ngày hội Đại đoàn kết toàn dân tộc” tại các khu dân cư, Phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa”. Đồng thời, đổi mới phương thức hoạt động của Mặt trận Tổ quốc để gần dân, sát dân hơn; lắng nghe và phản ánh trung thực tâm tư, nguyện vọng của nhân dân. Ba là, nêu cao tinh thần trách nhiệm của đội ngũ cán bộ, đảng viên. Kiên quyết đấu tranh chống tham nhũng, quan liêu, lãng phí để củng cố lòng tin của nhân dân. Khuyến khích cán bộ thực hành “nói đi đôi với làm”, gần dân, sát dân, giải quyết kịp thời các bức xúc của nhân dân. Nâng cao ý thức, trách nhiệm trong đấu tranh, ngăn chặn hoạt động chống phá của các thế lực thù địch góp phần bảo vệ Đảng, Nhà nước và chế độ. Để thực hiện hiệu quả nội dung này cần quán triệt sâu sắc tinh thần của Kết luận số 12-KL/TW ngày 6/4/2022 của Bộ Chính trị về tiếp tục tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác phòng, chống tham nhũng, tiêu cực; Quy định số 144-QĐ/TW ngày 09/5/2024 của Bộ Chính trị về chuẩn mực đạo đức cách mạng của cán bộ, đảng viên trong giai đoạn mới... Bốn là, phát huy dân chủ, xây dựng Nhà nước pháp quyền của Nhân dân, do Nhân dân, vì Nhân dân. Triển khai mạnh mẽ quy chế dân chủ ở cơ sở, tạo điều kiện để nhân dân tham gia giám sát và phản biện chính sách. Tăng cường công tác đối thoại giữa chính quyền với Nhân dân. Năm là, đấu tranh chống các âm mưu chia rẽ, phá hoại khối đoàn kết toàn dân tộc của các thế lực thù địch. Tăng cường giáo dục, nâng cao nhận thức của nhân dân về chủ nghĩa yêu nước, tư tưởng Hồ Chí Minh, lịch sử dân tộc để củng cố lòng tin vào Đảng, Nhà nước. Chủ động cung cấp thông tin kịp thời, đúng đắn về các vấn đề xã hội để người dân không bị lôi kéo bởi thông tin sai lệch. Tận dụng các nền tảng số để phản bác thông tin sai lệch, đấu tranh với các luận điệu xuyên tạc. Tóm lại, tư tưởng Hồ Chí Minh về đại đoàn kết dân tộc và xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc vẫn còn nguyên giá trị về lý luận và thực tiễn. Trong thời kỳ đổi mới, cùng với việc không ngừng hoàn thiện lý luận về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam, Đảng đã không ngừng nghiên cứu, vận dụng và phát triển sáng tạo tư tưởng Hồ Chí Minh trong xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Nhờ đó, tinh thần đại đoàn kết dân tộc được phát huy mạnh mẽ, tạo nên sức mạnh to lớn để toàn dân chung tay đoàn kết, quyết tâm vượt qua mọi thử thách, tận dụng cơ hội, từng bước hiện thực hóa khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc, vững bước tiến vào kỷ nguyên mới - kỷ nguyên vươn mình của dân tộc./. [1] Hồ Chí Minh - Toàn tập, Tập 13, Nxb CTQG, H. 2011, tr. 119. [2] Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng Toàn tập, Nxb CTQG, H, 2007, T. 51, tr. 147. [3] Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, t.I, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2021, tr.110. [4] Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, t.I, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2021, tr. 104. Ths. Phùng Thị Thu Giảng viên khoa Xây dựng Đảng Những tin cũ hơn TỈNH CAO BẰNG NỖ LỰC THỰC HIỆN ĐỀ ÁN “HỖ TRỢ PHỤ NỮ KHỞI NGHIỆP

       Trong suốt cuộc đời và sự nghiệp của mình, Hồ Chí Minh luôn coi trọng việc xây dựng khối đại đoàn kết dân tộc, coi đó là một yếu tố quyết định cho sự nghiệp cách mạng và xây dựng đất nước. Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, đại đoàn kết toàn dân tộc là truyền thống quý báu, là vấn đề có ý nghĩa chiến lược; đồng thời, là mục tiêu, nhiệm vụ, động lực quyết định thắng lợi của cách mạng Việt Nam. Người khẳng định: “Đoàn kết, đoàn kết, đại đoàn kết, thành công, thành công, đại thành công”[1]. Khẩu hiệu đó trở thành kim chỉ nam cho mọi hành động của Đảng và nhân dân Việt Nam vận dụng trong mọi giai đoạn lịch sử. Người nhấn mạnh, sức mạnh của dân tộc là sức mạnh của toàn thể nhân dân, mọi tầng lớp, mọi dân tộc, mọi tôn giáo trên nền tảng liên minh giai cấp giữa giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức, do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo.
       Cùng với việc xác định lực lượng khối đại đoàn kết, chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ ra nguyên tắc, phương pháp cơ bản thực hiện đại đoàn kết dân tộc là phải lấy mục tiêu chung của cách mạng cùng những điểm tương đồng để quy tụ, đoàn kết các tầng lớp nhân dân. Bởi theo Người, ở mỗi người dân Việt Nam, dù ở giai cấp, tầng lớp, vùng, miền nào ít nhiều đều có lòng yêu nước, đều mưu cầu độc lập cho Tổ quốc, tự do, hạnh phúc cho nhân dân. Do đó, tìm cái chung, lấy cái chung làm điểm tựa để hóa giải những khác biệt. Hơn nữa, Chủ tịch Hồ Chí Minh nhấn mạnh, đại đoàn kết dân tộc phải hướng tới hình thành một cộng đồng gắn bó và thống nhất; kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại nhằm thực hiện thắng lợi các mục tiêu cách mạng. Để làm được điều đó, phải quy tụ, đoàn kết các tầng lớp nhân dân trong tổ chức thống nhất, đó chính là Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, trên nền tảng liên minh công - nông - trí thức; hoạt động theo nguyên tắc hiệp thương dân chủ, lấy việc thống nhất lợi ích tối cao của quốc gia - dân tộc với lợi ích của các tầng lớp nhân dân làm cơ sở để củng cố và mở rộng. Người chỉ rõ nguyên tắc trong xây dựng khối đại đoàn kết dân tộc là trên cơ sở thống nhất giữa lợi ích của quốc gia dân tộc với lợi ích chính đáng của các giai cấp, tầng lớp. Phải luôn giữ vững quan điểm “dân là gốc”, tin vào dân, dựa vào dân, vì nhân dân. Đoàn kết tự giác, tự nguyện, thành thật, đoàn kết lâu dài. Đồng thời cần nhận diện và phân hóa lực lượng trung gian, lực lượng phản cách mạng để có phương pháp ứng xử phù hợp, góp phần củng cố và phát triển phong trào cách mạng. Tư tưởng Hồ Chí Minh về đại đoàn kết dân tộc có ý nghĩa to lớn và mang tính thời sự sâu sắc cho sự nghiệp cách mạng. Do đó, việc vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh trong xây dựng khối đại đoàn kết thời kỳ đổi mới có ý nghĩa hết sức quan trọng góp phần củng cố khối đại đoàn kết dân tộc, tạo động lực cho sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước; yếu tố quyết định để đất nước vượt qua khó khăn, thách thức, đặc biệt trước những âm mưu, thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch.
       Từ kinh nghiệm lịch sử và yêu cầu cấp bách của sự nghiệp đổi mới đất nước, tại Đại hội VII (1991) của Đảng khẳng định: “Đảng lấy chủ nghĩa Mác- Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động, lấy tập trung dân chủ làm nguyên tắc tổ chức cơ bản”[2]. Đảng đã chỉ đạo đẩy mạnh nghiên cứu, làm sáng tỏ tư tưởng Hồ Chí Minh về đại đoàn kết toàn dân tộc, làm cơ sở lý luận để vận dụng trong xây dựng khối đại đoàn toàn dân tộc; qua đó, khơi dậy và phát huy nguồn sức mạnh nội sinh to lớn của đất nước trên cơ sở khơi dậy và phát huy sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân tộc nhằm thực hiện thắng lợi mục tiêu xây dựng nước Việt Nam phồn vinh, hạnh phúc, dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh. 
       Hiện nay, thế giới có nhiều biến động phức tạp và khó lường, trong khi tình hình trong nước cũng chứng kiến những thay đổi sâu sắc về kinh tế, văn hóa, xã hội. Đồng thời, đất nước ta phải đối mặt với những âm mưu, thủ đoạn chống phá từ các thế lực thù địch, chúng tập trung phá hoại sự đoàn kết trong Đảng, trọng tâm then chốt tấn công trên mặt trận tư tưởng - văn hóa với mưu đồ làm tan rã niềm tin, tạo ra “khoảng trống” để dần dần đưa hệ tư tưởng tư sản vào và tiến tới “tự chuyển hóa” xóa bỏ tư tưởng xã hội chủ nghĩa... Trước thực tế đó, Đảng ta xác định rõ các mục tiêu, nhiệm vụ, nội dung mới để quy tụ, khơi dậy và phát huy sức mạnh, khát vọng cống hiến của toàn dân tộc nhằm hiện thực hóa mục tiêu xây dựng đất nước phát triển nhanh, bền vững, theo đúng định hướng xã hội chủ nghĩa. Đồng thời xác định quan điểm, đường lối nhất quán trong xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc: “Khơi dậy mạnh mẽ tinh thần yêu nước, ý chí tự cường dân tộc, sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc và khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc…”[3] nhằm đáp ứng những đòi hỏi thực tiễn phát triển đất nước trong bối cảnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa.
       Vận dụng và phát triển sáng tạo tư tưởng Hồ Chí Minh thời kỳ đổi mới, Đảng, Nhà nước đã ban hành nhiều chủ trương, chính sách xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc ngày càng bền chặt. Trên cơ sở tổng kết, đánh giá những kết quả đã đạt được, những hạn chế, nguyên nhân của những thành tựu và hạn chế sau 20 năm thực hiện Nghị quyết số 23- NQ/ TW ngày 12/3/2003 của Hội nghị Trung ương 7 khóa IX “về phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc vì dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh” và thực hiện quan điểm chỉ đạo của Đảng ta trong Văn kiện Đại hội XIII về phát huy tinh thần đại đoàn kết dân tộc, Ban Chấp hành Trung ương Đảng đã đề ra Nghị quyết số 43- NQ/TW, ngày 24/11/2023 “về tiếp tục phát huy truyền thống, sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, xây dựng đất nước ta ngày càng phồn vinh, hạnh phúc” với những quan điểm nhất quán: đại đoàn kết dân tộc là sợi chỉ đỏ, truyền thống quý báu, chủ trương, đường lối quan trọng, xuyên suốt của Đảng; nguồn sức mạnh to lớn góp phần quyết định thắng lợi sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Nhờ đó, chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước về tăng cường khối đại đoàn kết dân tộc, phát huy dân chủ xã hội chủ nghĩa, bảo đảm quốc phòng, an ninh, mở rộng đối ngoại được thực hiện có hiệu quả. Đồng thời, đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân ngày càng được nâng cao, quyền làm chủ của người dân được thực hiện trên thực tế, khơi dậy tiềm năng và sức sáng tạo trong các phong trào thi đua yêu nước... Tất cả những yếu tố đó đã tạo nên nguồn sức mạnh nội sinh vững chắc, trở thành động lực to lớn giúp đất nước vượt qua nhiều khó khăn, thách thức đạt được nhiều thành tựu quan trọng, có ý nghĩa lịch sử to lớn như Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã khẳng định: “Đất nước ta chưa bao giờ có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế như ngày nay”[4].
       Bên cạnh những thành tựu đạt được, công tác tổng kết nghiên cứu, vận dụng và phát triển sáng tạo tư tưởng Hồ Chí Minh trong xây dựng khối đại đoàn kết trong thời kì đổi mới còn chậm, thiếu toàn diện, đồng bộ. Việc thể chế hóa chủ trương, quan điểm của Đảng liên quan đến quyền, lợi ích hợp pháp, chính đáng của nhân dân còn bất cập. Chủ trương về tổ chức thực thi chính sách, pháp luật còn hạn chế; chưa bảo đảm cho nhân dân tham gia đầy đủ vào quá trình quyết định chính sách; còn bị động, lúng túng trước một số vấn đề mới phát sinh. Việc đổi mới nội dung và phương thức hoạt động của Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức chính trị - xã hội, vai trò đại diện cho quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng, phát huy quyền làm chủ của nhân dân còn một số hạn chế. Các thế lực thù địch, phản động dùng mọi thủ đoạn thâm độc hòng chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân tộc bằng những thủ đoạn, chiêu bài tinh vi, thực hiện những chiêu trò đánh lạc hướng dư luận... hòng khiến người dân từ nghi ngờ, dẫn đến mất lòng tin vào Đảng, chế độ, làm suy giảm tinh thần cách mạng của nhân dân... Do đó, việc phát huy sức mạnh khối đại đoàn kết toàn dân tộc trong thời kỳ đổi mới hiện nay là điều kiện quan trọng, tiên quyết góp phần xây dựng và phát triển đất nước bền vững. Để tiếp việc vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh trong xây dựng khối đại đoàn kết hiệu quả hơn, trong thời gian tới cần thực hiện đồng bộ các giải pháp sau:
        Một là, nâng cao nhận thức về tư tưởng đại đoàn kết của Hồ Chí Minh thông qua việc tổ chức các hội thảo, tọa đàm về tư tưởng đại đoàn kết dân tộc của Hồ Chí Minh ở các cấp, từ trung ương đến địa phương. Đưa nội dung tư tưởng Hồ Chí Minh về đại đoàn kết vào chương trình giảng dạy trong hệ thống giáo dục phổ thông, đại học và các lớp đào tạo, bồi dưỡng lý luận chính trị.
       Hai là, củng cố vai trò của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức đoàn thể. Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị - xã hội cần tăng cường tổ chức các phong trào, hoạt động cộng đồng như: Chương trình “Ngày hội Đại đoàn kết toàn dân tộc” tại các khu dân cư, Phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa”. Đồng thời, đổi mới phương thức hoạt động của Mặt trận Tổ quốc để gần dân, sát dân hơn; lắng nghe và phản ánh trung thực tâm tư, nguyện vọng của nhân dân.
       Ba là, nêu cao tinh thần trách nhiệm của đội ngũ cán bộ, đảng viên. Kiên quyết đấu tranh chống tham nhũng, quan liêu, lãng phí để củng cố lòng tin của nhân dân. Khuyến khích cán bộ thực hành “nói đi đôi với làm”, gần dân, sát dân, giải quyết kịp thời các bức xúc của nhân dân. Nâng cao ý thức, trách nhiệm trong đấu tranh, ngăn chặn hoạt động chống phá của các thế lực thù địch góp phần bảo vệ Đảng, Nhà nước và chế độ. Để thực hiện hiệu quả nội dung này cần quán triệt sâu sắc tinh thần của Kết luận số 12-KL/TW ngày 6/4/2022 của Bộ Chính trị về tiếp tục tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác phòng, chống tham nhũng, tiêu cực; Quy định số 144-QĐ/TW ngày 09/5/2024 của Bộ Chính trị về chuẩn mực đạo đức cách mạng của cán bộ, đảng viên trong giai đoạn mới...
       Bốn là, phát huy dân chủ, xây dựng Nhà nước pháp quyền của Nhân dân, do Nhân dân, vì Nhân dân. Triển khai mạnh mẽ quy chế dân chủ ở cơ sở, tạo điều kiện để nhân dân tham gia giám sát và phản biện chính sách. Tăng cường công tác đối thoại giữa chính quyền với Nhân dân.
       Năm là, đấu tranh chống các âm mưu chia rẽ, phá hoại khối đoàn kết toàn dân tộc của các thế lực thù địch. Tăng cường giáo dục, nâng cao nhận thức của nhân dân về chủ nghĩa yêu nước, tư tưởng Hồ Chí Minh, lịch sử dân tộc để củng cố lòng tin vào Đảng, Nhà nước. Chủ động cung cấp thông tin kịp thời, đúng đắn về các vấn đề xã hội để người dân không bị lôi kéo bởi thông tin sai lệch. Tận dụng các nền tảng số để phản bác thông tin sai lệch, đấu tranh với các luận điệu xuyên tạc.
       Tóm lại, tư tưởng Hồ Chí Minh về đại đoàn kết dân tộc và xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc vẫn còn nguyên giá trị về lý luận và thực tiễn. Trong thời kỳ đổi mới, cùng với việc không ngừng hoàn thiện lý luận về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam, Đảng đã không ngừng nghiên cứu, vận dụng và phát triển sáng tạo tư tưởng Hồ Chí Minh trong xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Nhờ đó, tinh thần đại đoàn kết dân tộc được phát huy mạnh mẽ, tạo nên sức mạnh to lớn để toàn dân chung tay đoàn kết, quyết tâm vượt qua mọi thử thách, tận dụng cơ hội, từng bước hiện thực hóa khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc, vững bước tiến vào kỷ nguyên mới - kỷ nguyên vươn mình của dân tộc./.
----------
[1] Hồ Chí Minh - Toàn tập, Tập 13, Nxb CTQG, H. 2011, tr. 119.
[2] Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng Toàn tập, Nxb CTQG, H, 2007, T. 51, tr. 147.
[3] Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, t.I, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2021, tr.110.
[4] Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, t.I, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2021, tr. 104.
Yêu nước ST.