Thứ Bảy, 18 tháng 10, 2025

CÂU CHUYỆN QUỐC TẾ: NHIỀU NGƯỜI NÓI LÝ DO QUAN TRỌNG NHẤT ĐỂ MỸ TẠO RA CUỘC CHIẾN ỦY NHIỆM Ở UKRAINA LÀ MỸ MUỐN LÀM GIẢM SỨC MẠNH NGA!

     Còn theo tôi thì đó là lý do phụ, không phải lý do chính. Sách Trắng Quốc Phòng Mỹ 2021 (ngay trước khi xảy ra cuộc chiến ở Ukraine) công bố top 3 nước k.ẻ t.h.ù nguy hiểm nhất với Mỹ là:

"Trung Quốc là k.ẻ t.h.ù nguy hiểm số 1, Nga xếp số 2, Iran xếp số 3" (Triều Tiên số 4).

Nếu Mỹ muốn dùng chiến tranh để t.i.ê.u h.a.o sức mạnh k.ẻ t.h.ù của Mỹ, thì chắc chắn Mỹ sẽ cố tạo ra chiến tranh mà đẩy Trung Quốc vào cuộc chiến ấy.

Vì lý do chính tức mục đích then chốt thì sẽ phải là tập trung giải quyết vấn đề lớn nhất là vấn đề Trung Quốc, chứ không phải Nga.

Mà theo tôi, lý do chính (mục đích chính) mà Mỹ tạo ra cuộc chiến ở Ukraine là để cho NATO có động lực tồn tại vì NATO là khối quân sự được tạo ra để đấu với Liên Xô/Nga chứ khối này không được tạo ra để đấu với Trung Quốc.

Việ̣c NATO tồn tại sẽ mang lại cho Mỹ vô số lợi ích, trong đó lợi ích chính là Mỹ có b.ầ.y đ.à.n để đi gieo rắc bất ổn, xung đột, chiến tranh nhằm tạo ra thị trường tiêu thụ V.ũ k.h.í Mỹ, giúp Mỹ có những bãi chiến trường thử nghiệm V.ũ k.h.í mới, giúp Mỹ c.ư.ớ.p được nhiều nước và dựng chế độ b.ù nhìn phục vụ Mỹ...

tức là lợi ích kinh tế và quân đội Mỹ....Mỹ giàu mạnh hơn nhờ NATO và vì thế bằng mọi giá Mỹ phải giữ lại NATO.

Muốn duy trì vị thế bá chủ thế giới, điều kiện tiên quyết là Mỹ phải giữ lại b.ầ.y đ.à.n NATO.

Mà Mỹ không tạo ra "New Cold War" thì gần như chắc chắn là NATO sẽ giải tán.

Nên ngay từ năm 1992, Ngoại trưởng và Tổng thống Mỹ khi đó đã đến Ukraine để thuyết phục Ukraine gia nhập NATO nhằm hướng đến New Cold War (phải công nhận tầm nhìn xa của lãnh đạo Mỹ khi đó).

Từng có thành viên NATO đề nghị giải thể NATO sau khi Liên Xô t.a.n r.ã... Mỹ rất lo sợ NATO không còn việc để làm dẫn đến mất động lực tồn tại nên Mỹ ̣tạo ra "New Cold War" (Cụm danh từ mà các nhà nghiên cứu chiến tranh trên thế giới sử dụng từ 1992 tới nay).

Còn Trump cho người tung tin h.ă.m d.ọ.a các nước NATO rằng Mỹ không bảo kê các nước NATO nếu các nước này không tăng ngân sách quốc phòng...thì cuối cùng cũng là để các nước đó c.h.i thêm t.i.ề.n mua thêm V.ũ k.h.í hết hạn sử dụng cần thanh lý của Mỹ.

Tóm lại lý do chính Mỹ tạo ra cuộc chiến Nga - Ukraine là để Mỹ giàu (kinh tế) và mạnh (quân sự) hơn. 

Còn lý do làm giảm sức mạnh Nga chỉ là phụ, không phải lý do chính./.
Khuyết danh ST.

CÂU CHUYỆN QUỐC TẾ: NĂM 2015, THEO CÁC CUỘC ĐIỀU TRA ĐỘC LẬP, UKRAINE CÓ 17% DÂN SỐ LÀ NGƯỜI NGA, 78% LÀ NGƯỜI UKRAINE, CÒN LẠI LÀ NGƯỜI KHÁC!

     Và dân số Ukraine 2015 là hơn 45 Triệu người, chúng ta tạm làm tròn là 45 Triệu người.

Như vậy, có khoảng 7.650.000 người Nga ở Ukraine lúc đó, tức người Nga c.h.i.ế.m khoảng 1/5 dân số Ukraine hồi 2015.

Và 1/5 dân số Ukraine ấy, được khoảng 145 Triệu người Nga (gấp khoảng 3 lần dân số Ukraine) ở nước Nga bên cạnh ủng hộ...

Vậy mà chính quyền b.ù nhìn Ukraine lại ảo tưởng rằng họ, với sự đứng sau của Mỹ/NATO có thể c.ấ.m 1/5 dân số nước mình không được làm những điều họ muốn, từ b.ỏ gốc gác của họ, không được nói tiếng Nga vốn là tiếng mẹ đẻ của họ, h.ấ.t đ.ổ bàn thờ tổ tiên của họ, b.à.i t.r.ừ tổ tiên họ, c.ấ.m họ ăn mặc, sinh hoạt văn hóa theo truyền thống của họ... chính quyền Ukraine còn trực tiếp cho Cảnh sát và Quân đội ra tay g.i.ế.t hơn 3000 dân thường Nga ở miền Đông (theo công bố của Liên Hiệp Quốc)...

Bảo sao 1/5 dân số đó không đứng lên kêu gọi 145 Triệu người Nga ở đất mẹ Nga cứu giúp họ, bảo sao Putin không hành động mạnh tay...

Mình có anh bạn là Lãnh đạo Ủy ban của một địa phương mà ở đó có một dân tộc thiểu số họ không thông thạo tiếng Kinh cho lắm, thế là anh ấy phải học tiếng thiểu số đó để có thể giao tiếp với dân của địa phương mình bằng tiếng của họ, nắm bắt tâm tư nguyện vọng của họ để có cách phục vụ họ tốt hơn...

Đằng này chính quyền b.ù nhìn Ukraine, chẳng những không làm như anh bạn mình, mà còn thẳng tay t.à.n b.ạ.o với người "thiểu số" trong đất nước mình...

Cái giá phải trả cho chế độ b.ù nhìn này là như bây giờ đấy...
Khuyết danh ST.

CÂU CHUYỆN QUỐC TẾ: TẢN MẠN CUỐI TUẦN - THẤY GÌ ĐẰNG SAU CÁI CÀ VẠT CỦA BỘ TRƯỞNG CHIẾN TRANH HOA KỲ ĐEO KHI TIẾP CHUYỆN VỚI TỔNG THỐNG ZELENSKY?

     Người dùng mạng xã hội châu Âu đang bàn tán xôn xao cái cà - vạt của Bộ trưởng Chiến tranh Hoa Kỳ - ông Pete Hegseth đeo khi gặp Zelensky. Mẫu cà vạt này đã được người dùng mạng truy tìm và phát hiện trong một cửa hàng trực tuyến, ghi rõ là “Russian flag” hay “tie with the Russian flag” (cà vạt in cờ Nga)!

Một sự phát hiện thật tinh tế của người dùng MXH. Đó cũng là cách mà người ta đã nhìn thấy quan điểm rất rõ ràng của Hoa Kỳ kể từ khi Tổng thống Trump nhậm chức, đặc biệt chính quyền Trump đã có rất nhiều thay đổi trong quan điểm tiếp cận về chiến dịch quân sự đặc biệt của Nga.

Nếu quan sát kỹ chúng ta có thể thấy quan điểm của chính quyền Trump có vẻ thân thiện với Nga hơn, so với các đời tổng thống Mỹ. Ngay cả nhiệm kỳ trước của Trump, ông này cũng có nhiều hợp tác gần gũi, tốt đẹp với Nga hơn, ông Trump cũng từng viết trên trang cá nhân của mình sau khi nhậm chức, đại ý: Nếu Tôi (Trump) là Biden nhiệm kỳ trước, chắc chắn sẽ không bao giờ có một cuộc xung đột giữa châu Âu - Ucraina với Nga... và thế giới sẽ yên ổn hơn...,

Sau khi nhậm chức ông muốn kết thúc xung đột Nga - Ucraina trong vòng 24h bằng cách nói chuyện dễ dàng với Tổng thống Putin, nhưng đến nay chưa làm được, đó cũng là danh dự cá nhân ông đang tiếp tục theo đuổi mà cả thế giới đều thấy.

Ông cũng đã từng đưa cả tấm bản đồ Ucraina đặt tại cuộc gặp phái đoàn Ucraina và Liên minh Eu, vừa chỉ lên và khuyên Zekensky hãy nhìn vào lịch sử địa lý nước Nga nó ở đâu, nó thuộc vùng nào?

Ông cũng từng ca ngợi Nga Hoàng đã đánh bại Napoleon như thế nào? Liên Xô và đồng minh Hoa Kỳ đã đánh bại phát xít Đức - Nhật - Ý ra sao?

Lần gần đây nhất, ông Trump đã tuyên bố trong cuộc yết kiến, ngay khi ông Zelensky chưa đặt được vấn đề cầu cứu với Trump, rằng: Chính phủ Ucraina hãy dừng ngay kháng cự và chấp nhận theo ranh giới chiến trường hiện tại với Nga để có hòa bình.

Ông cũng bắt buộc Zelensky đừng nghĩ đến tên lửa Tomahawk nữa vì nó là bảo bối bí mật duy nhất nước Mỹ, nếu bị Nga thu hồi một quả thì còn gì bí mật nữa, hoặc là, nếu cung cấp cho Ucraina nó sẽ làm phóng xạ hạt nhân tràn qua nước Mỹ là điều có thật.... Tuyên bố này của Trump khác gì Tổng thống Mỹ đang nói với Zelensky: Hãy đầu hàng Nga đi, đừng ảo tưởng!

Chỉ nhìn cái cà vạt ông Bộ trưởng Chiến tranh Hoa Kỳ đeo, cả thế giới đã hiểu chỉ mỗi mình Zekensky không hiểu. Câu chuyện này làm tôi lại nhớ tới chế độ ngụy quyền Sài Gòn, chết đến đít rồi vẫn tưởng mình còn cay lắm với đối phương, và thương lắm của quan thầy: "nếu Hoa Kỳ không viện trợ nữa, thì..."
Khuyết danh ST.

CÙNG ĐỌC VÀ SUY NGẪM: ĐỀ NGHỊ CỬ TRI CẢ NƯỚC LÊN TIẾNG!

     Trước sự lộng hành của hiện tượng "xét lại lịch sử", dư luận Nhân dân đã rất bức xúc. Bên cạnh việc phản ánh trên mạng xã hội, thiết nghĩ các bậc cử tri cả nước, nhất là tại các địa phương có hiện tượng vinh danh các nhân vật gây tranh cãi về "công - tội" (thực chất là tội nặng hơn "công") như: Nguyễn Ánh - Gia Long, Lê Văn Duyệt, Phan Thanh Giản, Trương Vĩnh Ký... hãy lên tiếng kiến nghị, chất vấn tại các buổi tiếp xúc cử tri của đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp.

Đây là vấn đề hệ trọng, liên quan đến nền tảng truyền thống yêu nước, chống ngoại xâm của dân tộc; liên quan đến tương lai, vận mệnh của đất nước, chế độ. Rất mong các bác cựu chiến binh, cán bộ hưu trí, nhà nghiên cứu, giáo viên, đoàn viên thanh niên và toàn thể những ai tâm huyết với vấn đề bảo vệ lịch sử dân tộc hãy lên tiếng để tâm tư, ý chí, nguyện vọng và bức xúc của Nhân dân đến với Đảng, Nhà nước, Quốc hội và các cơ quan chức năng. Tôi xin đưa ra một số lập luận sau đây để mọi người tham khảo: 

1. Soi chiếu theo truyền thống yêu nước, chống giặc ngoại xâm của dân tộc: Những kẻ hèn nhược, đầu hàng ngoại bang, hợp tác với ngoại bang là mắc đại tội BÁN NƯỚC - Muôn đời bị Nhân dân nguyền rủa, không bao giờ rửa sạch hết đại tội này: Nguyễn Ánh, Lê Văn Duyệt: Quỳ mọp dưới chân vua Xiêm để xin Xiêm mang quân sang giúp; cầu viện Mãn Thanh, chở gạo ra tiếp viện cho quân Thanh xâm lược nước ta; cầu viện thực dân Pháp, là một trong những nguyên nhân gây ra mối họa ngoại xâm đô hộ trăm năm đầy tủi nhục, lầm than cho dân tộc.. Phan Thanh Giản hèn nhược, đại diện triều Nguyễn ký văn bản nhục nhã, cắt lục tỉnh cho Pháp.... Trương Vĩnh Ký hợp tác với Pháp, cả đời phục vụ quân xâm lược... Những nhân vật này đều đã mắc ĐẠI TỘI BÁN NƯỚC! Nhân dân chưa "đái ngập mồ thối xương" đã là nhân văn lắm rồi, nay hà cớ lôi lên từ mồ sâu đòi tôn vinh?.

2. Soi chiếu theo tư tưởng Hồ Chí Minh về các vấn đề lịch sử, nhân vật lịch sử được thể hiện rõ nét qua tác phẩm "Lịch sử nước ta" thì Nguyễn Ánh - Gia Long bị đánh giá: "Tự mình đã chẳng có tài/ Nhờ Tây qua cứu, tính bài giải vây/ Nay ta mất nước thế này/ Cũng vì vua Nguyễn rước Tây vào nhà/ Khác gì cõng rắn cắn gà/ Rước voi dầy mả, thiệt là ngu si". Khoa học gì, ngụy biện kiểu gì cũng khống thể vượt qua lằn ranh đỏ là tư tưởng Hồ Chí Minh - Nền tảng tư tưởng của Đảng.

3. Soi chiếu theo bản chất chính trị, lợi ích chính trị, quan điểm, chủ trương, đường lối của Đảng Cộng sản Việt Nam: lấy chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh là nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho mọi hành động. Như vậy có thể suy ra, tôn vinh những kẻ bị lịch sử phê phán, mang xú danh bán nước như Nguyễn Ánh - Gia Long là đi ngược lại bản chất chính trị, lợi ích chính trị, quan điểm, chủ trương, đường lối của Đảng Cộng sản Việt Nam.

NHƯ VẬY: Những tỉnh, thành phố đang có hiện tượng tôn vinh Nguyễn Ánh - Gia Long, Lê Văn Duyệt, Phan Thanh Giản, Trương Vĩnh Ký và những nhân vật gây tranh cãi khác, Trung ương Đảng, Quốc hội, Chính phủ có nắm được không? Quan điểm để định hướng, chấn chỉnh, uốn nắn hiện tượng này như thế nào? Rất mong Trung ương Đảng, Quốc hội, Chính phủ, HĐND các cấp cần nghiêm túc quan tâm, lắng nghe dư luận Nhân dân, kiến nghị của cử tri để nghiên cứu, xem xét và nhanh chóng có SỰ CHỈ ĐẠO, ĐỊNH HƯỚNG RÕ RÀNG, QUYẾT LIỆT để chấn chỉnh, uốn nắn, lập lại trật tự, góp phần ổn định dư luận xã hội, củng cố niềm tin của cán bộ, đảng viên và Nhân dân; bảo vệ truyền thống yêu nước, chống ngoại xâm của dân tộc, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng.

Ps: Soi chiếu vào 3 luận cứ trên, đề nghị các vị ăn bổng lộc Nhân dân đang dọa dẫm Nhân dân giải thích dùm: HOẠN QUAN Lê Văn Duyệt là "anh hùng dân tộc" ở chỗ nào? Ai vinh danh ông ta là "anh hùng dân tộc"?


Khuyết danh ST.

CÂU CHUYỆN QUỐC TẾ: CAMPUCHIA BẮT GẦN 3.500 NGHI PHẠM TRONG CHIẾN DỊCH TRUY QUÉT LỪA ĐẢO ONLINE!

     Phnom Penh, ngày 15/10/2025 - Lực lượng chuyên trách chống lừa đảo mạng của Campuchia thông báo đã bắt giữ 3.455 nghi phạm chỉ trong 4 tháng kể từ khi mở chiến dịch truy quét toàn quốc vào cuối tháng 6.


Chi tiết chiến dịch:


Đột kích 92 điểm nghi vấn tại 18 tỉnh, thành (trên tổng số 25 địa phương).


Các nghi phạm đến từ 20 quốc gia, trong đó có Trung Quốc (kể cả Đài Loan), Việt Nam, Thái Lan, Indonesia, Ấn Độ, Nigeria, Nga, Cameroon, Hàn Quốc, v.v.


Hàng chục kẻ cầm đầu đã bị chuyển hồ sơ truy tố, phần lớn nghi phạm nước ngoài sẽ bị trục xuất về nước.


Mục tiêu chiến dịch:


Cải thiện hình ảnh của Campuchia sau khi bị coi là “trung tâm lừa đảo trực tuyến toàn cầu.”


Động thái này diễn ra sau vụ một sinh viên Hàn Quốc bị dụ sang Campuchia rồi bị tra tấn đến chết, khiến Seoul gây sức ép ngoại giao buộc Phnom Penh phải mạnh tay hơn.


Nhìn chung, Campuchia đang nỗ lực lấy lại uy tín quốc tế bằng chiến dịch truy quét quy mô lớn, trong bối cảnh các đường dây tội phạm xuyên quốc gia lợi dụng nước này làm “đại bản doanh” lừa đảo qua mạng./.




Môi trường ST.

BẢN LĨNH, TRÍ TUỆ CỦA MỘT CÂY BÚT LỚN!

     Không chỉ riêng tôi, nhiều đồng nghiệp cùng trang lứa từng công tác ở Báo Quân đội nhân dân (QĐND) mỗi khi có dịp gặp nhau ai cũng chung một ý nghĩ, chúng tôi có may mắn được làm việc dưới thời của ông: Thiếu tướng, Tổng biên tập Trần Công Mân.

Nhân kỷ niệm 75 năm Ngày Báo QĐND ra số đầu tiên (20-10-1950 / 20-10-2025) và 100 năm Ngày sinh của Thiếu tướng Trần Công Mân (20-10-1925 / 20-10-2025), xin kể lại một vài mẩu chuyện riêng với Tổng biên tập Trần Công Mân. Đây như một nén tâm nhang xin được tri ân ông, một nhà báo có “bản lĩnh vững vàng, sắc sảo, có uy tín” như lời Đại tướng Võ Nguyên Giáp viết tựa cho cuốn sách “Trần Công Mân-Tác phẩm báo chí chọn lọc”.

Tư duy uyên bác, nhạy bén và sắc sảo

Thời chúng tôi, những năm 80 của thế kỷ trước, báo chí chưa phát triển đa phương tiện như bây giờ. Báo chí chủ yếu có 3 loại hình: Báo viết, báo nói và báo hình.

Tháng 7-1985, chỉ vài tháng sau khi tôi về nhận công tác tại Phòng biên tập Quân sự (nay là Phòng biên tập Quốc phòng-An ninh), Báo QĐND thì có hai nữ phóng viên truyền hình hãng CNN Mỹ đến làm việc với Tổng biên tập Trần Công Mân. Đó là dịp cả đất nước vừa kỷ niệm 10 năm giải phóng miền Nam, thống nhất Tổ quốc. Chính vì vậy, hai nữ phóng viên đề nghị cho gặp những phóng viên Báo QĐND đã trực tiếp sống, chiến đấu trên chiến trường miền Nam. Tổng biên tập chỉ định 3 người, anh Đặng Đình Thi, Phạm Minh Châu và tôi. Tôi là người trẻ nhất vừa mới về Báo. Có lẽ vì thế ông gọi tôi lên và dặn dò những điều cần phải chú ý khi tiếp xúc với nhà báo phương Tây. Ông nhấn mạnh, khi phỏng vấn, phóng viên phương Tây thường không hỏi trực tiếp những điều họ cần biết. Điều cần biết của họ thường ẩn sau những trả lời trực tiếp của mình.

Hai nữ phóng viên CNN phỏng vấn chúng tôi đủ mọi thứ chuyện về quá khứ, hiện tại, công việc đang làm... Tưởng chừng câu chuyện chỉ dừng lại đó, nhưng khi chia tay bước xuống cầu thang, một cô phóng viên quay ngoắt lại hỏi tôi: “Này anh, chiến tranh đã qua đi 10 năm rồi, vậy có khi nào trong giấc ngủ anh mơ thấy những đồng đội đã chết hiện ra với anh không?”. Một thoáng bối rối trước câu hỏi bất ngờ nhưng tôi kịp trấn tĩnh lại và nhìn thẳng vào mắt cô ta trả lời... Nghe tôi trả lời xong, cô phóng viên dướn đôi lông mày, nhún vai, bước xuống cầu thang không nói thêm một lời nào!
Khi nghe tôi kể lại câu hỏi bất ngờ của cô phóng viên CNN, Tổng biên tập cười thú vị: “Đấy! Chi tiết báo chí là chỗ ấy. Nếu cậu trả lời cũng bị ám ảnh, cũng mơ gặp đồng đội đã hy sinh” là họ đạt được ý định rồi. Chiến tranh qua đi đã 10 năm nhưng ở nước Mỹ, hội chứng chiến tranh Việt Nam mới bắt đầu. Họ định đánh đồng nỗi nhục nhã của kẻ xâm lược bị thua trận với sự hy sinh của người cầm súng bảo vệ Tổ quốc”.

Bản lĩnh tự tin để bảo vệ sự thật

Tôi vẫn nhớ như in chuyến công tác đặc biệt ra Trường Sa sau sự kiện tháng 3-1988. Ngày ấy cả nước đang sôi sục không khí hướng về Trường Sa thân yêu, ở đâu cũng quyên góp ủng hộ cán bộ, chiến sĩ Trường Sa. Quà tặng, hàng hóa gửi về các căn cứ bộ đội hải quân chất cao như núi nhưng lại khác hẳn với những gì chúng tôi gặp ở Trường Sa. Sau khi ra quần đảo trực tiếp gặp gỡ và chứng kiến mắt thấy tai nghe, tôi đã viết bài “Quà tặng cần tới Trường Sa nhanh hơn” trong Chuyên mục “Góp ý-kiến nghị”, đăng trên trang nhất Báo QĐND.

Tôi cũng không lường trước được sự phản ứng gay gắt của lãnh đạo, chỉ huy đơn vị tôi nêu tên trên Báo. Chỉ ít hôm sau, Tổng biên tập nhận được công văn của lãnh đạo đơn vị đòi phải xử lý kỷ luật tác giả bài viết vì sai sự thật. Nhận được công văn của lãnh đạo đơn vị, tôi đọc trên góc trái có bút phê của Tổng biên tập: “Đoàn H đúng hay Hồ Anh Thắng đúng?”. Tôi định lên gặp Tổng biên tập thì Trưởng phòng Vương Sĩ Đình nói Tổng biên tập không cần trình bày, chỉ cần cậu viết tiếp dưới, cậu đúng hay Đoàn H đúng? Nghe vậy tôi không ngần ngại cầm bút ghi đáp lời ông: “Báo cáo: Hồ Anh Thắng đúng!”.

Sau đó tôi lại nhận được bút phê: “Hồ Anh Thắng đúng thì soạn thảo công văn trả lời lãnh đạo Đoàn H. Trong công văn trả lời nói rõ tòa soạn Báo QĐND sẽ mời lãnh đạo Đoàn H đồng tổ chức một cuộc trao đổi về những nội dung đề cập trong Chuyên mục “Góp ý-kiến nghị” với phóng viên các báo cùng chuyến đi trực tiếp tại Trường Sa. Nội dung cuộc trao đổi sẽ được lược ghi và đăng lại trên các số Báo QĐND tiếp theo”.

Công văn phúc đáp gửi đi, tôi hồi hộp, phấp phỏng chờ đợi Đoàn H trả lời, nhưng càng chờ đợi lại càng rơi vào trạng thái im lặng...
Nhà báo phải nhìn thấy “những vì sao”

Tôi trở thành phóng viên Báo QĐND vào thời điểm những năm đầu của công cuộc đổi mới do Đảng ta khởi xướng và lãnh đạo. Làn gió đổi mới lan tỏa vào mọi ngóc ngách của đời sống xã hội. Trên lĩnh vực văn hóa, xã hội, văn học, nghệ thuật, báo chí... người cầm bút như được "cởi trói".

Như nhiều nhà báo khác, tôi đi vào thực tiễn sống và viết mang trong mình “cẩm nang” về công cuộc đổi mới của Đảng với thái độ “nhìn thẳng vào sự thật, đánh giá đúng sự thật, nói rõ sự thật”.
Cho đến bây giờ, tôi vẫn nhớ chuyến về quê năm ấy. Trước những tệ nạn tiêu cực trong xã hội, làng quê tôi cũng không ngoại lệ. Có một sự thật là những người dám đứng ra để góp ý, phê bình các hiện tượng tiêu cực phần lớn lại chỉ là những cán bộ đã về hưu. Từ thực tế đó, tôi đã viết một bài đăng trên Chuyên mục Diễn đàn thứ bảy: “Chống tiêu cực không chỉ việc của người đã nghỉ hưu”, một chuyên mục thời sự đang rất thu hút bạn đọc thời đó.

Bài báo đăng lên chỉ ít ngày sau không ngờ làng tôi có một nhóm người ra Báo QĐND đòi gặp trực tiếp Tổng biên tập. Họ đề nghị cần phải xử lý kỷ luật tác giả bài diễn đàn vì bài viết đã đưa chuyện tiêu cực ở làng lên báo, mặc dù trong bài viết chỉ nêu lên một hiện tượng xã hội.

Nghe đại diện nhóm người trình bày xong, Tổng biên tập bước sang Phòng Bạn đọc, một lúc sau, đồng chí Trịnh Tường, Trưởng phòng Bạn đọc cầm sang mấy lá thư bạn đọc vừa gửi về. Trong đó có lá thư của các cựu chiến binh xã Canh Nậu, huyện Thạch Thất, TP Hà Nội. Lá thư khẳng định bài diễn đàn đã nêu ra một vấn đề rất thời sự, đúng với thực trạng của xã Canh Nậu và đề nghị Báo QĐND tiếp tục cử phóng viên về xã điều tra và phản ánh sâu hơn nữa, cụ thể hơn nữa để tạo nên một phong trào chống tiêu cực rộng rãi trong toàn xã hội...

Ông Trưởng phòng Bạn đọc vừa đọc xong thì Tổng biên tập nói, đại ý rằng chuyện ở bài báo không chỉ riêng của một làng, một xã mà là một vấn đề đang rất thời sự của xã hội. Đó chính là sứ mệnh dự báo của báo chí, các nhà báo có bản lĩnh, có trách nhiệm với xã hội phải có trách nhiệm trước ngòi bút của mình!

Khi viết lại những câu chuyện này, tôi dường như thấy ông bên cạnh. Một Tổng biên tập hết sức khiêm nhường và kiệm lời. Ông chỉ dành lời khen, chê cho một bài viết hay và chưa hay, đúng và chưa đúng. Ngay cả lời khuyên với một phóng viên dưới quyền ông cũng chắt chiu từng ý, từng lời.

Tháng 4-1988, tôi viết một phóng sự dài kỳ: “Ghi chép ở Trường Sa”. Bài phóng sự đến tay ông, chỉ một tiếng sau, ông gọi tôi lên và trao lại cho tôi bản thảo. Tôi có thói quen liếc mắt lên góc trái bản thảo và bắt gặp chữ ông: "Viết lại!". Phải thừa nhận ông đọc nhanh, nhìn những dấu chấm đỏ trên bản thảo, tôi biết ngay ông không bỏ sót một chữ nào. Nhiều đoạn ông gạch nham nhở, đánh dấu hỏi. Nhất là những trang tôi miêu tả cảnh chiến sĩ hy sinh, đọc đến đó bao nhiêu lần mà nước mắt tôi cứ chực ào ra. Khi tôi chưa kịp hiểu ra điều gì thì ông đã nhắc: “Người làm báo không nên khóc cho nhân vật, sự kiện. Nếu nước mắt làm cho thế giới không còn chiến tranh thì trái đất sẽ ngập chìm trong nước mắt. Ngòi bút là vũ khí của nhà báo, vũ khí phải sắc, phải nhọn mới chiến thắng được kẻ thù!”. Rồi ông lại nhìn tôi thật nghiêm khắc, nói tiếp: “Hai người cùng nhìn xuống, một người nhìn thấy vũng nước, còn nhà báo thì nhìn thấy những vì sao!”...

Thiếu tướng HỒ ANH THẮNG (nguyên Phó tổng biên tập Báo Quân đội nhân dân, nguyên Giám đốc Trung tâm-Phát thanh Truyền hình Quân đội).

Ảnh: Thiếu tướng Trần Công Mân gắn huy hiệu tặng Tổng biên tập Báo Chiến sĩ Xô-viết, Quân khu Xibian, Liên Xô (năm 1987 - Ảnh tư liệu).
Yêu nước ST.

VIỆT NAM - THẾ GIỚI: HÀNH TRÌNH CỦA MỘT QUỐC GIA ĐƯỢC THẾ GIỚI TÍN NHIỆM!

     Việt Nam tái đắc cử Hội đồng Nhân quyền Liên Hợp Quốc nhiệm kỳ 2026-2028 với 163/193 phiếu thuận cao nhất khu vực châu Á - Thái Bình Dương. Đây là lần thứ hai trong vòng mười năm Việt Nam được bầu vào cơ quan này, thể hiện uy tín ngày càng tăng và niềm tin của cộng đồng quốc tế vào con đường phát triển lấy con người làm trung tâm.

Thành quả đó không đến từ một hành trình dài: giữ vững ổn định giữa thế giới biến động, cải thiện thực chất quyền con người bằng chính sách cụ thể, và đóng góp vào các nỗ lực hòa bình toàn cầu.

ỔN ĐỊNH

Hiện nay, các cuộc xung đột vũ trang tại Ukraine, Gaza, Sudan, Myanmar… đã khiến hàng triệu người thiệt mạng hoặc mất nhà cửa. Lạm phát, đói nghèo và bất bình đẳng gia tăng sau đại dịch COVID-19; theo thống kê của Liên Hợp Quốc, hơn 1,8 tỷ người trên thế giới đang sống trong khu vực có chiến tranh hoặc khủng hoảng nhân đạo. Trong bức tranh toàn cầu đầy bất ổn ấy, Việt Nam được nhìn nhận là quốc gia giữ vững ổn định, bảo đảm an ninh xã hội và duy trì đà phát triển kinh tế.

Theo Chỉ số Hòa bình Toàn cầu 2025, Việt Nam xếp thứ 38/163 quốc gia, thuộc nhóm an toàn hàng đầu châu Á. Báo cáo Hạnh phúc Thế giới 2025 xếp Việt Nam 46/143 nước, tăng tám bậc, điểm trung bình 6,04/10 vượt ngưỡng toàn cầu. Kinh tế dự kiến tăng trưởng 8,3%, nằm trong nhóm phục hồi nhanh nhất thế giới. Báo cáo UPR 2024 của Liên Hợp Quốc, Việt Nam đã hoàn thành 220/241 khuyến nghị, tỷ lệ thực hiện thuộc nhóm cao nhất toàn cầu.

Sự ổn định đó là kết quả của một triết lý xuyên suốt. Từ các nghị quyết của Đại hội XIII đến các văn kiện chuẩn bị Đại hội XIV, Đảng Cộng sản Việt Nam khẳng định: “Lấy con người làm trung tâm, mục tiêu, chủ thể và động lực phát triển đất nước.” Tư tưởng ấy đã trở thành nền tảng của mọi chính sách:

- Giáo dục: miễn, giảm học phí từ mầm non đến THPT khoảng 30.000 tỷ đồng/năm.
- Y tế: tiến tới miễn viện phí cơ bản trước 2030, 90% dân số có bảo hiểm y tế.
- Nhà ở: triển khai đề án 1 triệu căn nhà xã hội giai đoạn 2025–2030.
- Giảm nghèo: tỷ lệ nghèo đa chiều còn 2,9% năm 2024.
- Tiếp cận thông tin: Internet phủ 99% xã, phường; 98% trẻ em đến trường đúng độ tuổi.

CẦU NỐI CÂN BẰNG TRONG CƠ CHẾ NHÂN QUYỀN TOÀN CẦU

Nếu ở trong nước, nhân quyền được nuôi dưỡng bằng chính sách phát triển, thì trên trường quốc tế, Việt Nam thể hiện nhân quyền bằng đối thoại, trách nhiệm và lòng nhân đạo.

Trong 3 năm qua, Việt Nam tham gia hơn 30 phiên thảo luận, đề xuất 10 sáng kiến về quyền con người, với quan điểm nhất quán “đối thoại, hợp tác, tôn trọng lẫn nhau”. Trong nhiệm kỳ 2023–2025, Việt Nam đồng chủ trì Nghị quyết về quyền của người yếu thế trong khủng hoảng kinh tế xã hội, được 145 quốc gia ủng hộ. Là thành viên Nhóm Điều phối khu vực châu Á Thái Bình Dương, Việt Nam đóng vai trò cầu nối giữa các nước phát triển và đang phát triển, theo phương châm “đối thoại thay vì đối đầu, hợp tác thay vì áp đặt”.

Không chỉ nói trong các phiên họp, Việt Nam còn hành động:

- Hơn 1.000 cán bộ, bác sĩ, kỹ sư Việt Nam đã và đang phục vụ trong lực lượng gìn giữ hòa bình Liên Hợp Quốc tại Nam Sudan, Cộng hòa Trung Phi, Abyei.
- Việt Nam đóng góp 500.000 USD hỗ trợ nhân đạo cho người dân Gaza, Palestine, rất nhiều lần kêu gọi dỡ bỏ cấm vấn cho Cuba đồng thời liên tục kêu gọi bảo vệ dân thường và giải quyết các tranh chấp bằng biện pháp hoàn bình và tuân thủ luật pháp quốc tế.
- Nhiều sĩ quan, bác sĩ Việt Nam đảm nhiệm vị trí chỉ huy, được Liên Hợp Quốc đánh giá là “một trong những lực lượng kỷ luật và nhân ái nhất châu Á.”

Chính vì vậy, 163/193 phiếu thuận dành cho Việt Nam không chỉ là sự tín nhiệm về ngoại giao, mà là sự công nhận cho một mô hình nhân quyền cân bằng nơi phát ngôn và hành động đi cùng một chiều. Và cũng là minh chứng rõ ràng nhất về hình ảnh:

Một đất nước từng đi qua chiến tranh, hiểu giá trị của hòa bình hơn ai hết. Một dân tộc nói về nhân quyền không bằng lý thuyết, mà bằng ký ức của những người từng mất mát. Khi có nơi lấy “nhân quyền” làm cớ để trừng phạt, Việt Nam chọn biến nó thành cơ hội để gắn kết./.


Môi trường ST.

TÌM HIỂU GIÚP BẠN: NGƯỜI PHỤ NỮ PHI THƯỜNG NHẤT VIỆT NAM!

     Đó là câu nói của lãnh tụ Cuba Fidel Castro về nữ tướng Nguyễn Thị Định. Trong suốt chiều dài lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc, phụ nữ Việt Nam luôn có vai trò to lớn, góp phần xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Lịch sử đấu tranh cách mạng của phụ nữ Việt Nam đã xuất hiện rất nhiều cá nhân tiêu biểu, trong số đó nổi bật là Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân, Thiếu tướng Nguyễn Thị Định.

Lãnh tụ Cuba Fidel Castro từng gọi bà là “người phụ nữ phi thường nhất Việt Nam” bởi ở bà hội tụ bản lĩnh của một vị tướng, trái tim của một người mẹ và tầm nhìn của một nhà văn hóa. Cuộc đời và sự nghiệp của bà mãi mãi là tấm gương sáng cho các thế hệ phụ nữ Việt Nam noi theo.

Người chỉ huy mưu trí, vị nữ tướng tài ba và gần gũi. Trong cuộc đấu tranh giành chính quyền năm 1945, Nguyễn Thị Định là người đi đầu dẫn hàng nghìn người dân tiến vào giành chính quyền ở thị xã Bến Tre. Tháng 3/1946, bà đã vinh dự được tham gia đoàn cán bộ miền nam vượt biển ra miền bắc báo cáo với Trung ương Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh về tình hình chiến trường Nam Bộ. Tháng 10/1946, bà được giao nhiệm vụ vận chuyển 12 tấn vũ khí từ bờ biển Nam Trung Bộ chi viện cho chiến trường Nam Bộ.

Trước nhiệm vụ đầy khó khăn, thử thách, Nguyễn Thị Định vẫn sẵn sàng nhận nhiệm vụ với một lòng quyết tâm phải mang bằng được số vũ khí này về đến miền nam an toàn. Số vũ khí đó là tài sản, là hy vọng và cả tình cảm mà miền bắc gửi tới mặt trận phía nam.

Bà cùng đồng đội đã xếp đầy hàng hóa lên trên để ngụy trang và chờ đợt gió chướng để giương buồm ra khơi. Trên chuyến tàu chở vũ khí có Nguyễn Thị Định và 3 đồng chí đều không có kinh nghiệm đi biển, vì vậy bà đã thuê 4 người đi biển giỏi, có thiện cảm với kháng chiến đi cùng.

Nằm chờ mất 1 tháng, đến tháng 11/1946, thấy có gió chướng nổi lên mù mịt, biển động, bà cho thuyền nhổ neo ra biển. Chuyến tàu rời bến, trên đường gặp bão, chính vì vậy mà thuyền đã tránh được sự dòm ngó của địch, vượt qua dông bão cập bến an toàn. Kết quả chuyến vượt biển thành công đó đã trở thành kinh nghiệm đi biển cho quân ta trong kháng chiến.

Trong lịch sử đấu tranh cách mạng của dân tộc Việt Nam, phong trào Đồng khởi Bến Tre năm 1960 nổi lên như một mốc son, gắn liền với tên tuổi của bà Nguyễn Thị Định. Là người chỉ huy phong trào, bà đã thể hiện đầy đủ phẩm chất của một lãnh đạo có tài thao lược, đầy bản lĩnh, mưu trí và sáng tạo.

Sau đó, phong trào Đồng Khởi phát triển sâu rộng trên toàn miền nam, với cái tên “Đội quân tóc dài” - một lực lượng quan trọng, độc đáo, một nét sáng tạo trong hình thức tổ chức chính trị, góp phần hoàn thiện phương châm ba mũi giáp công, một phương châm đấu tranh hiệu quả của cách mạng miền nam.

“Đội quân tóc dài” đóng một vai trò quan trọng trong sự nghiệp đấu tranh cách mạng của miền nam thời kỳ chống Mỹ, làm rạng rỡ thêm truyền thống yêu nước, bất khuất, trung hậu, đảm đang của người phụ nữ Việt Nam. Bà Nguyễn Thị Định trở thành niềm tự hào của nhân dân Bến Tre và của dân tộc Việt Nam.

Dấu ấn của vị tướng quân sự tài ba Nguyễn Thị Định còn in đậm và thể hiện rõ trong những lần bà cầm quân, chỉ đạo phong trào cách mạng miền nam trên cương vị Phó Tổng Tư lệnh các lực lượng vũ trang giải phóng miền nam Việt Nam từ năm 1965 đến 1975.
Bà đã chỉ đạo hiệu quả các đơn vị văn công, tuyên huấn, du kích, đoàn thể của căn cứ Trung ương Cục miền nam, đánh bại chiến dịch Junction City của Mỹ tấn công vào khu căn cứ Dương Minh Châu (Tây Ninh) năm 1967.

Bà chỉ đạo đưa cán bộ nữ vào ấp chiến lược, xây dựng cơ sở… tranh thủ tín đồ, làm công tác binh vận để tan rã quân Cao Đài ở Tây Ninh trong chiến dịch Mậu Thân năm 1968. Đặc biệt là những quyết định sáng suốt, sự chỉ đạo thông minh công tác bảo vệ căn cứ, di chuyển cơ quan đầu não của ta là Chính phủ Cách mạng lâm thời ở chiến khu Tây Ninh trong năm 1970.

Bà còn được nhắc tới với hình ảnh của một vị tướng luôn có bên mình cuộn kim chỉ để khi nghỉ ngơi tranh thủ khâu vá quần áo cho chiến sĩ. Bà thường xuyên thức khuya, dậy sớm, hướng dẫn anh chị em chế biến, nấu nướng món ăn. Hình ảnh vị Phó Tư lệnh như người mẹ hiền, như người chị cả in đậm trong tâm hồn chiến sĩ khắp các chiến trường miền nam.

Phát biểu tại cuộc mít-tinh kỷ niệm 20 năm thành lập Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: "Phó Tổng Tư lệnh Quân giải phóng là cô Nguyễn Thị Định. Cả thế giới chỉ nước ta có vị tướng quân gái như vậy. Thật là vẻ vang cho miền nam, cho cả dân tộc ta"./.
Yêu nước ST.

TÌM HIỂU GIÚP BẠN: AN TOÀN THÔNG TIN, AN NINH MẠNG LÀ GÌ?

      Trong bối cảnh công nghệ phát triển vũ bão, không gian mạng đã trở thành ''biên giới mềm'' quyết định sức mạnh quốc gia. Cùng với cơ hội phát triển, những mối đe dọa an toàn thông tin và an ninh mạng ngày càng gia tăng. Hiểu rõ bản chất, nâng cao nhận thức và có biện pháp bảo vệ phù hợp chính là nhiệm vụ cấp bách để giữ vững ''chủ quyền số'', bảo đảm an ninh quốc gia và lợi ích của từng cá nhân.

Thực trạng và thách thức

Trong đời sống số, khái niệm an toàn thông tin và an ninh mạng thường được nhắc tới cùng nhau, song không hoàn toàn đồng nghĩa. Theo Luật An ninh mạng năm 2018, an ninh mạng là việc bảo đảm cho các hoạt động trên không gian mạng không gây phương hại đến an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân. Hiểu một cách khái quát, đây là lĩnh vực tập trung bảo vệ hệ thống máy tính, mạng viễn thông, cơ sở dữ liệu và các ứng dụng số khỏi những hành vi xâm nhập, phá hoại, chiếm quyền kiểm soát hoặc tấn công có chủ đích.

Trong khi đó, an toàn thông tin là tập hợp các giải pháp kỹ thuật và tổ chức nhằm bảo vệ dữ liệu trước ba nguy cơ chính: Mất bảo mật (thông tin bị truy cập trái phép); mất toàn vẹn (thông tin bị thay đổi ngoài ý muốn); mất khả dụng (thông tin không sẵn sàng khi cần). Nếu ví an ninh mạng là tấm “lá chắn” bao trùm, thì an toàn thông tin chính là những “ổ khóa” kiên cố bảo vệ từng cánh cửa dữ liệu. Hai phạm trù này gắn bó chặt chẽ, bổ sung cho nhau, cùng hướng tới một mục tiêu chung là duy trì trật tự, an toàn và bền vững trong kỷ nguyên số.

Không gian mạng ngày nay đã trở thành môi trường sinh tồn mới của mỗi quốc gia. Từ giao dịch tài chính, dịch vụ công trực tuyến, điều hành doanh nghiệp cho tới sinh hoạt xã hội, mọi hoạt động đều phụ thuộc ngày càng nhiều vào hạ tầng số. Song song với cơ hội, các mối đe dọa an ninh mạng cũng ngày càng tinh vi, khó lường. Thực tế cho thấy, các loại hình tấn công phổ biến hiện nay gồm: Phần mềm độc hại - Malware (lén lút cài vào hệ thống để chiếm quyền điều khiển, xóa hoặc đánh cắp dữ liệu); mã độc tống tiền - Ransomware (khóa dữ liệu, buộc trả tiền chuộc); lừa đảo trực tuyến - Phishing/Scam (giả mạo email, mạng xã hội để đánh cắp thông tin, phát tán mã độc); tấn công có chủ đích (chiến dịch tinh vi, kéo dài, thường nhắm vào cơ quan trọng yếu); khai thác tâm lý (lợi dụng sự cả tin, thao túng con người để lấy thông tin mật); tấn công chuỗi cung ứng (xâm nhập qua nhà cung cấp, đối tác); mối nguy từ nội bộ (nhân viên có quyền truy cập vô tình hoặc cố ý gây rò rỉ dữ liệu)...

Thực tiễn tại nước ta cho thấy các mối đe dọa an ninh mạng có mức độ nghiêm trọng ngày càng tăng. Trong giai đoạn 2010-2019, hơn 53.000 lượt website tên miền “.vn” bị tấn công, trong đó có 2.300 lượt thuộc cơ quan Đảng, Nhà nước. Năm 2022, số vụ lừa đảo mạng lên tới 14.500, gấp 14 lần năm 2021. Quý I/2024 ghi nhận 32.265 nguy cơ tấn công nhằm vào hệ thống trọng yếu của Chính phủ và doanh nghiệp Nhà nước, tăng gần 19% so với cùng kỳ 2023. Trong khi đó, nhiều doanh nghiệp trong nước vẫn thiếu hụt trầm trọng nhân lực chuyên trách, chưa đủ nguồn vốn đầu tư và phụ thuộc lớn vào hạ tầng công nghệ nước ngoài. Thực trạng này cho thấy, bảo vệ an ninh mạng không đơn thuần là xử lý sự cố kỹ thuật, mà còn là cuộc đấu tranh quyết liệt nhằm giữ vững chủ quyền số và an ninh quốc gia.

Giải pháp và định hướng bảo vệ chủ quyền số

Trước những diễn biến phức tạp về an toàn thông tin và an ninh mạng, Đảng và Nhà nước ta đã ban hành nhiều chủ trương, chính sách quan trọng nhằm củng cố “lá chắn số” quốc gia. Đây không chỉ là giải pháp kỹ thuật đơn thuần, mà còn là chiến lược toàn diện, kết hợp chặt chẽ giữa an ninh mạng với an ninh chính trị, trật tự xã hội và sự phát triển bền vững của đất nước.

Một trong những yêu cầu then chốt là tăng cường sự lãnh đạo, quản lý của Đảng và Nhà nước. Việc bảo đảm an ninh mạng cần được xem như nhiệm vụ thường xuyên, lâu dài, gắn liền với bảo vệ chủ quyền và ổn định quốc gia. Trên nền tảng đó, công tác tuyên truyền, giáo dục nhận thức cộng đồng cũng đóng vai trò đặc biệt quan trọng. Khi người dân hiểu biết, có kỹ năng sử dụng Internet an toàn, họ sẽ trở thành “lá chắn” đầu tiên trước nguy cơ tấn công, lừa đảo và lan truyền thông tin độc hại. Đưa nội dung giáo dục an toàn thông tin vào trường học chính là bước đi bền vững, hình thành thói quen, kỹ năng bảo mật ngay từ thế hệ trẻ.

Song song với nâng cao nhận thức, đầu tư cho hạ tầng công nghệ và phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao là điều không thể thiếu. Các trung tâm giám sát, ứng cứu sự cố an ninh mạng hiện đại cần được xây dựng, duy trì đồng bộ, đủ sức ứng phó kịp thời trước mọi tình huống. Đội ngũ kỹ sư, chuyên gia được đào tạo bài bản, có năng lực làm chủ công nghệ, chính là lực lượng nòng cốt trong bảo vệ không gian mạng quốc gia.

Cùng với đó, công tác phòng ngừa, dự báo và đấu tranh kiên quyết phải đi trước một bước. Việc tổ chức diễn tập quốc gia về phòng, chống tấn công mạng không chỉ rèn luyện năng lực phối hợp liên ngành, mà còn góp phần tạo dựng thế trận an ninh nhân dân vững chắc trong môi trường số. Trong bối cảnh các mối đe dọa ngày càng tinh vi, chủ động tấn công phủ đầu vào những “điểm nóng” nguy cơ cao sẽ hiệu quả hơn nhiều so với chỉ tập trung khắc phục hậu quả.

Một hướng đi quan trọng khác là phát triển công nghiệp an ninh mạng trong nước. Khi doanh nghiệp Việt Nam được khuyến khích nghiên cứu, sản xuất phần mềm và thiết bị bảo mật “Make in Vietnam”, chúng ta vừa có cơ hội làm chủ thị trường, vừa giảm sự phụ thuộc vào công nghệ bên ngoài. Đây cũng là yếu tố then chốt để đảm bảo chủ quyền số.

Hành lang pháp lý là nền tảng không thể bỏ qua. Luật hóa các quy định về phòng, chống tin giả, tin xấu độc; xác định rõ trách nhiệm tổ chức, cá nhân trong việc cung cấp và sử dụng thông tin; đồng thời ban hành bộ quy tắc ứng xử văn minh trên mạng xã hội, tất cả đều nhằm hướng tới một môi trường số trong sạch, an toàn.

Ngoài ra, an ninh mạng vốn không có biên giới, nên hợp tác quốc tế là xu thế tất yếu. Việt Nam cần chủ động phối hợp với các quốc gia, tổ chức toàn cầu để trao đổi kinh nghiệm, xử lý tội phạm mạng xuyên biên giới, đồng thời hợp tác trong đào tạo nguồn nhân lực. Đây chính là cách để chúng ta vừa bảo vệ lợi ích quốc gia, vừa đóng góp trách nhiệm vào nỗ lực chung của cộng đồng quốc tế.

An toàn thông tin và an ninh mạng không chỉ là trách nhiệm của lực lượng chuyên trách, mà là nghĩa vụ của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân. Mỗi hành vi sử dụng thông tin có trách nhiệm, mỗi cú click chuột an toàn sẽ góp phần dựng nên tuyến phòng thủ vững chắc trên “biên giới số” của Tổ quốc./.
Môi trường ST.

TÌM HIỂU GIÚP BẠN: PHÁT TRIỂN LÝ LUẬN CÔNG TÁC ĐẢNG, CÔNG TÁC CHÍNH TRỊ ĐÁP ỨNG YÊU CẦU XÂY DỰNG QUÂN ĐỘI VỮNG MẠNH!

     Công tác Đảng, công tác chính trị (CTĐ, CTCT) trong Quân đội nhân dân Việt Nam ra đời gắn liền với hoạt động tổ chức, xây dựng, lãnh đạo quân đội của Đảng Cộng sản Việt Nam. CTĐ, CTCT hình thành, hoạt động ngay từ những ngày đầu tổ chức xây dựng lực lượng vũ trang cách mạng của Đảng, trong các đội quân đầu tiên và từng bước phát triển, hoàn thiện gắn với sự trưởng thành, chiến thắng của quân đội.

Lý luận CTĐ, CTCT trong Quân đội nhân dân Việt Nam là một hệ thống thống nhất các quan điểm, tư tưởng lý luận, sản phẩm nhận thức của các chủ thể hoạt động CTĐ, CTCT, phản ánh bản chất của hoạt động CTĐ, CTCT. Được hình thành trên cơ sở thực tiễn CTĐ, CTCT và đúc kết thông qua tổng kết kinh nghiệm thực tiễn hoạt động CTĐ, CTCT qua các thời kỳ.

Giai đoạn 1930 - 1945, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, hoạt động CTCT tập trung chủ yếu vào các mặt công tác như: Công tác giáo dục chính trị, tư tưởng, công tác tổ chức xây dựng Đảng, công tác cán bộ, công tác dân vận, công tác địch vận. Đây là giai đoạn sơ khai hình thành CTCT trong các tổ chức vũ trang cách mạng, từ những đội tự vệ công nông, du kích cứu quốc, đến các đội cứu quốc quân, đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân và Việt Nam giải phóng quân. Bên cạnh việc tiến hành CTCT trong đội, hoạt động CTCT còn góp phần đặc biệt quan trọng trong tuyên truyền, vận động quần chúng nhân dân. Bằng các hình thức như tố khổ, kể khổ, phát hành bản tin du kích, ra bích báo, kết hợp các hoạt động bảo vệ, giúp đỡ nhân dân trong các cuộc bãi công, bãi thị, kháng sưu, kháng thuế, hoạt động CTCT đã giác ngộ quần chúng, thu phục quần chúng theo ảnh hưởng cộng sản, vùng lên đấu tranh theo con đường cách mạng của Đảng. Mặc dù mới sơ khai hình thành, có những lúc tiến hành một cách mò mẫm, nhưng hoạt động CTCT đạt hiệu quả rất thiết thực, phản ánh đúng bối cảnh lịch sử giai đoạn này.

Thời kỳ kháng chiến chống thực dân Pháp, hoạt động công tác chính trị có sự trưởng thành rõ rệt. Thực tiễn đã tập trung vào các nội dung, các mặt công tác như: Công tác tư tưởng; công tác tổ chức xây dựng Đảng; thực hiện cơ chế lãnh đạo của Đảng đối với Quân đội; công tác cán bộ; xây dựng cơ quan chính trị, đội ngũ cán bộ chính trị các cấp; công tác bảo vệ an ninh; công tác dân vận; công tác địch vận; công tác chính sách; xây dựng các tổ chức quần chúng và hội đồng quân nhân. Song do điều kiện lịch sử, thời kỳ này CTCT trong Quân đội chưa tổng kết được kinh nghiệm thực tiễn nên việc hình thành nguyên tắc tiến hành CTCT còn dừng lại ở những tư tưởng, quan điểm chỉ đạo từng nội dung, từng mặt công tác, chưa khái quát được thành những nguyên tắc chung nhất chỉ đạo toàn bộ hoạt động CTCT.

Thời kỳ kháng chiến chống đế quốc Mỹ xâm lược, hoạt động CTĐ, CTCT có sự phát triển vượt bậc. Tập trung toàn diện vào các mặt công tác, phù hợp với đặc điểm từng giai đoạn, từng nhiệm vụ, từng chiến trường cụ thể. Làm cho bộ đội thấu suốt đường lối, chủ trương chiến lược, sách lược cách mạng của Đảng, nhiệm vụ của quân đội; hiểu rõ bản chất âm mưu thủ đoạn của kẻ thù; phát động cao trào chống Mỹ, cứu nước; phát huy sức mạnh tổng hợp của cả nước quyết tâm bảo vệ miền Bắc, giải phóng miền Nam thống nhất Tổ quốc, đưa cả nước lên chủ nghĩa xã hội. Hoạt động tổng kết thực tiễn được tiến hành, Tổng cục Chính trị đã chủ trì tổng kết CTĐ, CTCT của Quân đội nhân dân Việt Nam từ khi thành lập cho đến năm 1959, đã rút ra 7 bài học kinh nghiệm có giá trị lý luận và chỉ đạo thực tiễn sâu sắc. Ban hành Điều lệ (dự thảo) CTCT của Quân đội nhân dân Việt Nam (1958); ban hành Điều lệ công tác của các Cục chức năng, một số đơn vị trong quân đội và bộ đội địa phương. Tuy nhiên hệ thống lý luận về CTĐ, CTCT chưa được nghiên cứu một cách đầy đủ.

Thời kỳ từ năm 1976 đến nay, thực tiễn hoạt động CTĐ, CTCT luôn có sự vận động, biến đổi phù hợp với mỗi giai đoạn của cách mạng. Đã sâu sát bám sát thực tiễn trong cuộc chiến tranh bảo vệ biên giới Tây Nam biên giới phía Bắc, trong chiến đấu bảo vệ chủ quyền biển đảo của Tổ quốc. Trong xây dựng Quân đội cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại, lấy xây dựng Quân đội vững mạnh về chính trị làm cơ sở nâng cao chất lượng tổng hợp, sức chiến đấu của Quân đội. 

Hiện nay, đặc điểm tình hình có nhiều biến đổi, đất nước ta bước vào kỷ nguyên mới, mô hình chính quyền địa phương 2 cấp được thực hiện. Trong Quân đội đã tiến hành sát nhập các cơ quan, đơn vị, bỏ mô hình quân sự cấp huyện, bảo đảm xây dựng Quân đội tinh, gọn, mạnh, cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại. Việc hội nhập quốc tế, đối ngoại quốc phòng là một tất yếu khách quan, phong trào bình dân học vụ số đang được triển khai thực hiện tích cực. Trong bối cảnh đó, Đại hội Đảng bộ Quân đội lần thứ XII đã xác định nhiều vấn đề quan trọng, đặt ra yêu cầu cho tất cả các cơ quan, đơn vị trong toàn quân phải nỗ lực phấn đấu, hoàn thành tốt và xuất sắc nhiệm vụ, góp phần thực hiện thắng lợi các mục tiêu mà Đại hội đã đề ra.

Theo đó, lý luận CTĐ, CTCT hiện nay cần được tiếp tục nghiên cứu, bổ sung, hoàn thiện một cách toàn diện. Phát triển lý luận CTĐ, CTCT có nhiệm vụ đáp ứng yêu cầu xây dựng Quân đội vững mạnh về chính trị, cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại; cung cấp cơ sở lý luận, thực tiễn và giải pháp nhằm tiếp tục củng cố, tăng cường bản chất giai cấp công nhân, giữ vững sự lãnh đạo của Đảng đối với Quân đội trong mọi điều kiện, hoàn cảnh. Nghiên cứu, quán triệt sâu sắc và làm sáng tỏ hơn nữa sự phát triển hoạt động CTĐ, CTCT trong Quân đội từ khi thành lập đến nay, nhất là thực tiễn hoạt động CTĐ, CTCT trong tình hình hiện nay. Nội dung bao gồm các vấn đề: Lý luận về nguyên tắc Đảng lãnh đạo Quân đội nhân dân Việt Nam; lý luận về cơ chế lãnh đạo của Đảng đối với quân đội; lý luận về công tác tư tưởng của Đảng trong quân đội; lý luận về công tác tổ chức trong quân đội; lý luận về công tác chính sách trong quân đội; lý luận về CTĐ, CTCT trong các nhiệm vụ của quân đội; nghiên cứu về chính trị của quân đội nước ngoài, về CTCT của quân đội các nước xã hội chủ nghĩa; nghiên cứu phát triển hệ thống khái niệm phạm trù CTĐ, CTCT. 

Như vậy, lý luận CTĐ, CTCT trong Quân đội nhân dân Việt Nam hiện nay gồm 8 vấn đề cơ bản. Theo đó, nghiên cứu sự hình thành, phát triển lý luận CTĐ, CTCT trong Quân đội nhân dân Việt Nam hiện nay cần bám sát những vấn đề trên để làm rõ quá trình hình thành, bổ sung, phát triển qua các giai đoạn cách mạng.

Để phát triển lý luận CTĐ, CTCT trong quân đội hiện nay theo tinh thần Nghị quyết Đại hội XII của Đảng bộ Quân đội, cần tập trung thực hiện một số giải pháp sau đây:

Thứ nhất, nâng cao trách nhiệm các tổ chức, cá nhân, các cơ quan chức năng về sự cần thiết nghiên cứu, phát triển lý luận CTĐ, CTCT trong tình hình hiện nay. Đây là giải pháp quan trọng, bảo đảm cho quá trình nghiên cứu, phát triển lý luận CTĐ, CTCT được tiến hành thường xuyên, liên tục, đồng bộ, thống nhất trong quân đội. Các tổ chức, cá nhân, nhất là lực lượng chuyên môn cần xác định rõ trách nhiệm, có kế hoạch nghiên cứu bổ sung làm rõ hơn nhận thức về CTĐ, CTCT trong quân đội. Đầu tư trí tuệ, thời gian, phân công nhiệm vụ cụ thể, đẩy mạnh quá trình nghiên cứu để có sản phẩm cụ thể, chất lượng tốt.

Thứ hai, nâng cao chất lượng nghiên cứu khoa học của các cơ quan nghiên cứu trong các học viện nhà trường, phát huy đội ngũ cán bộ nghiên cứu, giảng dạy trong lĩnh vực khoa học xã hội và nhân văn quân sự. Đây là lực lượng nòng cốt, đi đầu trong nghiên cứu, phát triển lý luận CTĐ, CTCT trong quân đội. Cần phát huy khả năng nghiên cứu của các nhà khoa học, các đồng chí nghiên cứu, giảng dạy về CTĐ, CTCT về xây dựng Đảng và chính quyền Nhà nước và một số lĩnh vực khác. Từng cơ sở có thể đặt bài hoặc giao nhiệm vụ cho một số cá nhân nghiên cứu về lĩnh vực này, tập trung làm rõ những vấn đề cơ bản về lý luận, những điểm mới, điểm nhấn mà Đại hội Đảng bộ Quân đội lần thứ XII đã đề cập như: Xây dựng quân đội vững mạnh về chính trị; đối ngoại quốc phòng; đề nghị của đồng chí Tổng Bí thư về thực hiện tốt “2 kiên định, 2 đẩy mạnh và 2 ngăn ngừa” trong Quân đội hiện nay. 

Thứ ba, tổ chức các cuộc hội thảo, tổng kết thực tiễn hoạt động CTĐ, CTCT. Tổng kết thực tiễn là một khâu quan trọng trong công tác nghiên cứu lý luận CTĐ, CTCT, nhằm kiểm nghiệm các tri thức lý luận đã có, đồng thời thu thập, bổ sung những tri thức thực tiễn mới vào hệ thống lý luận CTĐ, CTCT. Thông qua đó, những vấn đề thực tiễn đặt ra, những mâu thuẫn cần giải quyết, những thay đổi của tình hình được nghiên cứu kỹ và có những giải pháp thực hiện phù hợp. Việc tổ chức hội thảo, tổng kết thực tiễn cần xác định rõ chủ đề, nội dung sát với thực tiễn hoạt động CTĐ, CTCT. Quá trình đó cần khắc phục chủ nghĩa giáo điều, chủ nghĩa kinh nghiệm, cần thống nhất giữa lý luận với thực tiễn, xuất phát từ thực tiễn mà đúc kết, khái quát lên thành lý luận CTĐ, CTCT.

Thứ tư, có cơ chế, chính sách bảo đảm điều kiện thuận lợi cho các tổ chức, cá nhân tham gia nghiên cứu, phát triển lý luận CTĐ, CTCT. Trước hết, cần có cơ chế, chính sách đãi ngộ xứng đáng đối với đội ngũ chuyên gia nòng cốt để họ yên tâm công tác, trau dồi nghề nghiệp, dành tâm huyết cho nghiên cứu lý luận và tổng kết thực tiễn hoạt động CTĐ, CTCT. Xây dựng hệ thống dữ liệu và trang bị các công cụ, phương tiện cần thiết để đội ngũ cán bộ chuyên trách nòng cốt thuận lợi trong tổng kết thực tiễn gắn với nghiên cứu lý luận, nghiên cứu khoa học. Tạo điều kiện tốt nhất về mặt thời gian để các nhà khoa học chuyên tâm nghiên cứu, luôn luôn chủ động và kịp thời đánh giá đúng thực trạng, đề ra các giải pháp có tính khả thi cao góp phần nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động CTĐ, CTCT.

Cũng như hoạt động thực tiễn CTĐ, CTCT, lý luận CTĐ, CTCT cũng trải qua quá trình phát triển từ thấp đến cao, từ chưa hoàn thiện đến hoàn thiện dần từng bước. Từ chỗ quan niệm chưa rõ về CTĐ, CTCT đến chỗ khái quát đúng bản chất, chức năng, nhiệm vụ CTĐ, CTCT.

Sự phát triển tư duy lý luận CTĐ, CTCT là một tất yếu khách quan, song nhận thức đầy đủ về quá trình lịch sử sự vận động đó cho phép chúng ta nhìn nhận, đánh giá đúng về những thành công, hạn chế hoạt động CTĐ, CTCT, có quan điểm biện chứng trong đổi mới tư duy lý luận về CTĐ, CTCT, góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động CTĐ, CTCT trong từng giai đoạn cách mạng. 

Trong tình hình hiện nay, cần tiếp tục nghiên cứu, luận giải sâu sắc, cụ thể, khái quát và toàn diện hơn lý luận CTĐ, CTCT, đáp ứng yêu cầu xây dựng Quân đội cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại. Góp phần xây dựng Quân đội vững mạnh về chính trị, nâng cao hơn nữa chất lượng, hiệu quả hoạt động CTĐ, CTCT trong Quân đội./.


Theo QĐND
Yêu nước ST.

TÌM HIỂU GIÚP BẠN: THỦ TƯỚNG PHẠM MINH CHÍNH CHỦ TRÌ HỘI NGHỊ THÚC ĐẨY GIẢI NGÂN ĐẦU TƯ CÔNG!

     Sáng 18-10, Thủ tướng Phạm Minh Chính chủ trì Hội nghị toàn quốc thúc đẩy đầu tư công năm 2025. Đây là hội nghị lần thứ 4 trong năm về đầu tư công, được tổ chức theo hình thức trực tiếp tại trụ sở Chính phủ, trực tuyến với 34 tỉnh, thành phố.

Cùng dự hội nghị có các Phó thủ tướng Chính phủ: Trần Hồng Hà, Lê Thành Long, Hồ Đức Phớc, Mai Văn Chính; lãnh đạo bộ, ngành, cơ quan Trung ương; lãnh đạo các tỉnh, thành phố, tập đoàn kinh tế.

Phát biểu khai mạc hội nghị, Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính nhấn mạnh, chỉ còn chưa đầy 1 quý nữa là hết năm 2025. Cả nước phải thực hiện giải pháp nước rút hoàn thành mục tiêu, nhiệm vụ mà Đảng, Quốc hội giao. Để đạt mục tiêu tăng trưởng hơn 8% trong năm 2025, tạo đà, tạo thế, tạo lực cho tăng trưởng 2 con số trong những năm tiếp theo, một trong những động lực tăng trưởng là đầu tư, trong đó có đầu tư công.

Trong nhiệm kỳ này, toàn Đảng, cả hệ thống chính trị, toàn quân, toàn dân thực hiện quyết liệt các giải pháp tăng thu, giảm chi, dành nguồn lực cho tăng đầu tư công. Theo đó, vốn đầu tư công cả nhiệm kỳ tăng 55% so với nhiệm kỳ trước. Đến nay công tác giải ngân vốn đầu tư công được triển khai cơ bản tốt, tránh đầu tư dàn trải, riêng năm 2025 đầu tư công khoảng 1,11 triệu tỷ đồng và phấn đấu giải ngân 100%, góp phần thúc đẩy phát triển, mục tiêu tăng trưởng.

Trong bối cảnh cả nước triển khai nhiều công việc quan trọng, với khối lượng công việc rất lớn, Thủ tướng đề nghị lãnh đạo các bộ, ngành, cơ quan, địa phương phát huy tinh thần trách nhiệm và lương tâm đối với quốc gia, dân tộc, nhân dân, tập trung chỉ đạo, tổ chức thực hiện giải ngân đầu tư công, góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội, nâng cao đời sống vật chất, tinh thần nhân dân.

Thủ tướng cho biết, theo tổng hợp đến ngày 16-10, cả nước mới giải ngân đầu tư công đạt 455.000 tỷ đồng, đạt 50,7%, thấp so với yêu cầu. Trong đó, còn 29 bộ, cơ quan Trung ương và 18 địa phương có tỷ lệ giải ngân đạt dưới mức trung bình của cả nước. Vừa qua, Bộ Chính trị vừa ban hành Quy định số 366 - QĐ/TW về việc kiểm điểm và đánh giá, xếp loại chất lượng đối với tập thể, cá nhân trong hệ thống chính trị, trong đó, kết quả chỉ đạo, tổ chức thực hiện giải ngân vốn đầu tư công là một tiêu chí.

Nhấn mạnh, “mỗi ngôi nhà mọc lên, mỗi công trình, công việc được hoàn thành mang lại niềm vui, phấn khởi, hạnh phúc của nhân dân, đóng góp vào sự phát triển của đất nước”, Thủ tướng yêu cầu các đại biểu tập trung kiểm điểm, đánh giá kết quả công tác giải ngân đầu tư công, làm rõ nguyên nhân việc giải ngân đầu tư công chậm tại một số bộ, ngành, cơ quan, địa phương, trong khi có cùng điều kiện, mặt bằng pháp lý.

Thủ tướng lưu ý tinh thần “nói ít, làm nhiều, bằng những sản phẩm cụ thể”, các đại biểu làm rõ nguyên nhân, trách nhiệm trong công tác giải ngân đầu tư công; những vướng mắc cần xử lý, trách nhiệm xử lý ở cấp nào, ngành nào; tránh đùn đẩy, né tránh trách nhiệm…

Theo Bộ Tài chính, tổng kế hoạch đầu tư công vốn ngân sách nhà nước năm 2025 đã được Thủ tướng Chính phủ giao là hơn 897.000 tỷ đồng. Tổng số vốn các bộ, cơ quan trung ương, địa phương đã phân bổ là hơn 871.000 tỷ đồng, đạt 97,1% kế hoạch vốn Thủ tướng Chính phủ đã giao; số vốn còn lại chưa phân bổ chi tiết là 26.202 tỷ đồng. Đến hết ngày 16-10-2025, có 9 bộ, cơ quan trung ương và 16 địa phương có tỷ lệ giải ngân đạt trên mức bình quân chung cả nước.

Cũng theo Bộ Tài chính, giải ngân vốn đầu tư công được xác định là một trong những nhiệm vụ chính trị trọng tâm. Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ rất quan tâm, chỉ đạo sát sao, quyết liệt ngay từ những ngày đầu năm, đã chỉ đạo tổ chức nhiều hội nghị toàn quốc và ban hành hàng loạt công điện, chỉ thị.

Thủ tướng, các Phó thủ tướng Chính phủ thường xuyên có các chuyến công tác, làm việc với địa phương để trực tiếp chỉ đạo, giải quyết vướng mắc, khó khăn về thể chế, quy trình, quy phạm... kiểm tra tiến độ, chất lượng trên thực địa của những công trình quan trọng quốc gia, dự án trọng điểm.

Để nâng cao kỷ luật, kỷ cương, đẩy nhanh thực hiện và giải ngân vốn đầu tư công, Thủ tướng đã ban hành Quyết định điều chỉnh kế hoạch vốn ngân sách trung ương từ các bộ, địa phương giải ngân thấp sang các bộ, địa phương có nhu cầu bổ sung vốn để đẩy nhanh tiến độ thực hiện; có nhiều công điện để thúc đẩy giải ngân đầu tư công. 

Đặc biệt, Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ đã chỉ đạo sửa đổi, bổ sung, điều chỉnh các quy định của nhiều luật, nghị định, nghị quyết để tháo gỡ khó khăn, vướng mắc; tăng cường phân cấp, phân quyền, cắt bỏ, đơn giải hóa quy trình, trình tự, thủ tục, hồ sơ, số hóa toàn trình quá trình phê duyệt, phân bổ, thanh toán, quyết toán vốn đầu tư công.

Dưới sự điều hành quyết liệt, công tác bố trí và giải ngân vốn đầu tư công đã đạt nhiều kết quả nổi bật. Vốn ngân sách nhà nước được tập trung cho các dự án hạ tầng trọng điểm, cao tốc, sân bay, đường sắt tốc độ cao, tạo động lực phát triển mới cho các vùng, địa phương.

Từ đầu năm đến nay, cả nước đã hoàn thành hơn 455km đường cao tốc; khởi công mới 364km đường cao tốc, hướng tới hoàn thành mục tiêu 3.000km vào cuối năm 2025. Kỷ luật, kỷ cương trong đầu tư công được tăng cường. Các bộ, ngành, địa phương thường xuyên rà soát, điều chỉnh, điều chuyển vốn giữa các dự án, bảo đảm hiệu quả, minh bạch, đúng tiến độ, góp phần quan trọng vào tăng trưởng kinh tế, ổn định vĩ mô và phát triển bền vững…/.


Theo QĐND
Yêu nước ST.

TÌM HIỂU GIÚP BẠN: "THEN CHỐT CỦA THEN CHỐT"!

     Công tác cán bộ là “công việc đặc biệt hệ trọng, then chốt của then chốt”, quyết định không chỉ thành công của Đại hội XIV mà còn định hình tương lai phát triển của đất nước trong thập niên tới. Gần đây, có một số thông tin diễn giải sai lệch về tiêu chuẩn và quy trình lựa chọn nhân sự cấp cao, gây hiểu lầm rằng công tác này còn thiếu minh bạch hoặc dễ bị chi phối tại quy định số 365-QĐ/TW ngày 30/8/2025 của Ban Chấp hành Trung ương.

QUY TRÌNH TẬP THỂ VÀ KIỂM SOÁT NHIỀU TẦNG

Quy định 365, Phần I, Mục 1.2, nêu rõ: mọi quyết định về nhân sự phải đặt dưới sự lãnh đạo trực tiếp, toàn diện của Ban Chấp hành, Bộ Chính trị, Ban Bí thư, đảm bảo tính tập thể, dân chủ, khách quan và công khai. 

Thực tế, các bước đánh giá, thẩm định, lấy phiếu tín nhiệm và biểu quyết đều trải qua ít nhất ba cấp thẩm quyền theo Quy định 105-QĐ/TW (2017). Trong kỳ Đại hội XIII, danh sách nhân sự trình Ban Chấp hành Trung ương gồm hơn 200 cán bộ, nhưng chỉ khoảng 20% được giới thiệu chính thức sau quá trình rà soát và lấy ý kiến rộng rãi. Điều này cho thấy công tác bổ nhiệm nhân sự cấp cao vận hành trên nguyên tắc tập thể và có kiểm soát chặt chẽ, tránh mọi diễn giải cảm tính về quyết định cá nhân hay nhóm lợi ích.

CƠ CHẾ LINH HOẠT VÀ TRƯỜNG HỢP ĐẶC BIỆT

Quy định 365 đồng thời khẳng định tính linh hoạt và cơ chế “trường hợp đặc biệt”, nhằm đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ chính trị và bảo đảm tính kế thừa trong đội ngũ lãnh đạo. Phần III, Mục 3.5 nêu rõ: “Trường hợp đặc biệt do Ban Chấp hành Trung ương xem xét, quyết định trên cơ sở yêu cầu nhiệm vụ chính trị cụ thể.” Cơ chế này kế thừa từ Quy định 214 (2020) và đã từng được áp dụng tại Đại hội XII và XIII. Tại Đại hội XIII, có ba trường hợp đặc biệt được Ban Chấp hành Trung ương biểu quyết với tỷ lệ trên 80% tán thành, cho thấy cơ chế vừa đảm bảo linh hoạt vừa được thực hiện theo nguyên tắc tập thể, minh bạch, không phụ thuộc cảm tính hay yếu tố cá nhân.

CHUẨN HÓA HỒ SƠ VÀ TĂNG CƯỜNG MINH BẠCH

Quy định 365 đặt trọng tâm vào chuẩn hóa hồ sơ, tiêu chuẩn năng lực và cơ chế công khai thông tin trong nội bộ Đảng, góp phần nâng cao niềm tin xã hội và đảm bảo mọi nhân sự chiến lược đáp ứng đầy đủ tiêu chuẩn về phẩm chất chính trị, năng lực, đạo đức và uy tín. Trong giai đoạn 2021–2024, Ban Tổ chức Trung ương đã rà soát, tinh giản gần 1.200 trường hợp không đủ chuẩn chính trị hoặc năng lực. Hiện Ban Tổ chức Trung ương quản lý hơn 40.000 hồ sơ cán bộ cấp chiến lược, mỗi hồ sơ được thẩm định và giám sát định kỳ bởi ít nhất ba cơ quan độc lập. Những con số này cho thấy công tác cán bộ đang được chuẩn hóa, minh bạch hóa và kiểm soát chặt chẽ, loại bỏ mọi sai phạm và củng cố niềm tin xã hội.

Quy định 365 thể hiện ba trụ cột quan trọng trong công tác cán bộ: tính tập thể, nguyên tắc linh hoạt và cơ chế minh bạch, chuẩn hóa. Có thể nói, Quy định 365 ra đời nhằm chuẩn hóa, thống nhất và tăng cường tính công khai trong công tác cán bộ, là căn cứ pháp lý cao nhất hiện nay thể hiện tính hệ thống và minh bạch trong toàn bộ quy trình nhân sự cấp cao./.


Yêu nước ST.

TÌM HIỂU GIÚP BẠN: TỔNG BÍ THƯ DỰ LỄ KỶ NIỆM 80 NĂM NGÀY TRUYỀN THỐNG TÌNH BÁO QUỐC PHÒNG!

     Dự lễ kỷ niệm 80 năm ngày truyền thống, Tổng Bí thư Tô Lâm đã trao Huân chương Hồ Chí Minh cho lực lượng Tình báo Quốc phòng Việt Nam.

Sáng 18/10, Tổng cục II tổ chức Lễ kỷ niệm 80 năm ngày truyền thống Tình báo Quốc phòng Việt Nam (25/10/1945-25/10/2025) và đón nhận Huân chương Hồ Chí Minh.

Tổng Bí thư Tô Lâm, Bí thư Quân ủy Trung ương, dự và phát biểu chỉ đạo buổi lễ.
Trình bày diễn văn tại buổi lễ, Trung tướng Trần Công Chính, Tổng cục trưởng Tổng cục II đã ôn lại chặng đường 80 năm xây dựng, chiến đấu và trưởng thành của ngành Tình báo Quốc phòng Việt Nam.

Ra đời từ những ngày đầu của chính quyền cách mạng, trưởng thành cùng với sự lớn mạnh của Quân đội và phát triển của đất nước, Tình báo Quốc phòng Việt Nam luôn tuyệt đối trung thành với Đảng, với Tổ quốc và Quân đội, dựa vào dân và đi sát địch, liên tục trưởng thành, tiến bộ, hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ được giao.

Ghi nhận những thành tích, đóng góp to lớn đó Đảng, Nhà nước đã trao tặng Tình báo Quốc phòng nhiều phần thưởng cao quý như: Huân chương Sao vàng, 2 Huân chương Hồ Chí Minh, Huân chương Độc lập hạng Nhất, Huân chương Quân công hạng Nhất, 2 lần phong tặng danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân,...

Nhân dịp kỷ niệm 80 năm ngày truyền thống, Tình báo Quốc phòng vinh dự được Đảng, Nhà nước tặng thưởng Huân chương Hồ Chí Minh lần thứ 3./.

#KBC-ST!

TÌM HIỂU GIÚP BẠN: TỔNG BÍ THƯ TÔ LÂM “VĂN PHÒNG TRUNG ƯƠNG ĐẢNG CẦN ĐÓNG VAI “NHẠC TRƯỞNG”, LÀM GƯƠNG MẪU MỰC”!

     Chiều 18-10, tại Hà Nội, Văn phòng Trung ương Đảng tổ chức trọng thể Lễ kỷ niệm 95 năm Ngày truyền thống Văn phòng Trung ương Đảng và văn phòng cấp ủy (18-10-1930 / 18-10-2025); đón nhận Huân chương Lao động hạng Nhất và tuyên dương các điển hình tiên tiến giai đoạn 2020-2025. Tổng Bí thư Tô Lâm dự và phát biểu tại Lễ kỷ niệm.

Tham dự Lễ kỷ niệm có: Nguyên Ủy viên Bộ Chính trị, nguyên Tổng Bí thư Nông Đức Mạnh; Ủy viên Bộ Chính trị, Thường trực Ban Bí thư Trần Cẩm Tú; nguyên Ủy viên Bộ Chính trị, nguyên Thường trực Ban Bí thư Phan Diễn.

Cùng dự có các đồng chí Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Trung ương Đảng: Trưởng ban Tổ chức Trung ương Lê Minh Hưng, Chủ nhiệm Ủy ban Kiểm tra Trung ương Nguyễn Duy Ngọc; các đồng chí: Nguyễn Văn Nên, Ủy viên Bộ Chính trị, Thường trực Tiểu ban Văn kiện Đại hội XIV của Đảng; Ngô Văn Dụ, nguyên Ủy viên Bộ Chính trị, nguyên Chủ nhiệm Ủy ban Kiểm tra Trung ương; Lê Hoài Trung, Bí thư Trung ương Đảng, Quyền Bộ trưởng Bộ Ngoại giao; các đồng chí Ủy viên Trung ương Đảng, nguyên Ủy viên Trung ương Đảng, lãnh đạo các ban đảng Trung ương, lãnh đạo, nguyên lãnh đạo các Văn phòng và Văn phòng Trung ương Đảng.

* Tô thắm truyền thống: “Tuyệt đối trung thành, đoàn kết, sáng tạo, tận tụy, chu đáo, giữ vững nguyên tắc công tác”

Đọc Diễn văn tại Lễ kỷ niệm, Ủy viên Trung ương Đảng, Chánh Văn phòng Trung ương Đảng Phạm Gia Túc nêu rõ, cách đây 95 năm, sau Hội nghị thành lập Đảng (tháng 2-1930), Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương lâm thời Đảng Cộng sản Việt Nam họp lần đầu tiên vào tháng 10-1930 đã quyết định thành lập các bộ phận chuyên môn giúp việc cho Trung ương Đảng, trong đó có văn phòng cấp ủy. Từ sự kiện lịch sử này, Ban Bí thư Trung ương Đảng khóa IX đã quyết định lấy ngày 18-10 làm ngày truyền thống của Văn phòng Trung ương Đảng và văn phòng cấp ủy đảng các cấp.

Tháng 5-1947, tại căn cứ địa Việt Bắc (xã Quảng Nạp, huyện Định Hóa, nay là xã Bình Thành, tỉnh Thái Nguyên), Ban Thường vụ Trung ương Đảng đã quyết định thành lập Văn phòng Thường vụ Trung ương Đảng (nay là Văn phòng Trung ương Đảng), cử đồng chí Lê Văn Lương làm Bí thư Văn phòng. Tháng 6-1949, tại căn cứ địa Việt Bắc, Trung ương đã triệu tập Hội nghị Văn phòng toàn quốc và thông qua nghị quyết quan trọng, xác định những vấn đề cơ bản của công tác văn phòng cấp ủy như: Nguyên tắc và hình thức tổ chức, lề lối làm việc, quan hệ công tác; vị trí, chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, tổ chức bộ máy, cán bộ của Văn phòng Trung ương Đảng và văn phòng cấp ủy các cấp. Đây là dấu mốc đặt nền móng căn bản cho hoạt động của Văn phòng Trung ương Đảng và văn phòng cấp ủy các cấp.

Chánh Văn phòng Trung ương Đảng Phạm Gia Túc nhấn mạnh, nhìn lại 95 năm xây dựng và phát triển, hoạt động của Văn phòng Trung ương Đảng và văn phòng cấp ủy luôn gắn liền với lịch sử vẻ vang của Đảng Cộng sản Việt Nam, với hoạt động của Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Bộ Chính trị, Ban Bí thư, các đồng chí lãnh đạo cấp cao của Đảng và lãnh đạo các cấp ủy đảng. Các thế hệ cán bộ của Văn phòng Trung ương Đảng và văn phòng cấp ủy đã vượt qua biết bao gian lao thử thách, sẵn sàng hy sinh xương máu, một lòng, một dạ kiên trung với Đảng, luôn bám sát và hoàn thành nhiệm vụ, góp phần rất quan trọng vào việc giữ vững các mối liên lạc, bảo đảm cho sự lãnh đạo, chỉ đạo của Trung ương Đảng, của Bác Hồ, của các cấp ủy đảng, đưa đất nước vượt qua muôn vàn khó khăn, “rũ bùn đứng dậy sáng lòa” giành độc lập, tự do cho Tổ quốc, tiến hành các cuộc kháng chiến chống xâm lược, thống nhất đất nước, xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc và đang bước vào kỷ nguyên mới, kỷ nguyên vươn mình của đất nước với mục tiêu trở thành quốc gia giàu mạnh, hùng cường, văn minh, người dân ấm no, hạnh phúc.

Trải qua 95 năm xây dựng và phát triển, với những chiến công, thành tích đạt được, Văn phòng Trung ương Đảng đã được Đảng, Nhà nước trao tặng Huân chương Sao vàng; Văn phòng Khu ủy Khu 5 và Ban Tài mậu, Khu ủy Khu 5 được phong tặng danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân; nhiều danh hiệu cao quý khác đã trao tặng cho các tập thể và cá nhân của Văn phòng Trung ương Đảng...

Văn phòng Trung ương Đảng đã quán triệt và triển khai thực hiện tốt các chủ trương của Đảng, Nhà nước về công tác thi đua khen thưởng; tổ chức nhiều phong trào thi đua trong cán bộ, công chức, viên chức và người lao động theo lời dạy của Bác Hồ: "Thi đua là yêu nước, yêu nước thì phải thi đua”. Các phong trào thi đua ở Văn phòng Trung ương Đảng diễn ra sôi nổi, liên tục, thiết thực, có sức lan tỏa lớn, thu hút sự tham gia tự giác, tích cực của đông đảo cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức, người lao động trong cơ quan, góp phần quan trọng vào việc hoàn thành tốt nhiệm vụ chính trị được giao, tô thắm thêm truyền thống: “Tuyệt đối trung thành, đoàn kết, sáng tạo, tận tụy, chu đáo, giữ vững nguyên tắc công tác” của Văn phòng Trung ương Đảng. Từ các phong trào thi đua đó, đã xuất hiện nhiều tập thể, cá nhân điển hình tiên tiến có thành tích xuất sắc, được biểu dương, khen thưởng.

* Tham mưu ngắn gọn - đúng việc - đúng lúc - dễ thực thi

Phát biểu tại Lễ kỷ niệm, Tổng Bí thư Tô Lâm khẳng định, 95 năm qua, biết bao lượt cán bộ văn phòng cấp ủy đã hy sinh, chịu đựng gian khổ, giữ đúng nguyên tắc, giữ trọn kỷ luật, nhận phần khó về mình để công việc của Đảng thông suốt. Có những cống hiến không được nhắc tới trong văn bản nhưng in đậm trong chất lượng quyết định; có nhiều đêm không ngủ, có nhiều Chủ Nhật, ngày Lễ vẫn đi làm, có những thời gian “chạy nước rút” trước “giờ G” để một công văn kịp phát hành, một văn kiện ra đời đúng hạn, một hội nghị thành công, một chủ trương kịp đi vào cuộc sống...

Tổng Bí thư bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đối với những cán bộ hết lòng vì công việc, dám hy sinh lợi ích cá nhân vì lợi ích tập thể, vì cái chung; ghi nhận và tri ân cống hiến của các thế hệ đi trước; trân trọng những đồng chí vẫn ngày ngày “giữ lửa” kỷ cương, chu đáo, khiêm nhường mà hiệu quả và là tấm gương sáng cho những người đi sau, những người thế hệ hôm nay học tập.

Bước vào kỷ nguyên số, xã hội số, kinh tế số, đòi hỏi hệ thống văn phòng cấp ủy chuyển từ “quy trình thủ công” sang “quy trình số”, từ “giấy tờ phân tán” sang “dữ liệu thống nhất, liên thông, an toàn”, từ “thói quen xử lý sự vụ” sang “quản trị theo kết quả”, Tổng Bí thư đề nghị Văn phòng Trung ương Đảng hành động theo 3 định hướng lớn: Sớm số hóa toàn diện vòng đời văn bản, hồ sơ công việc; chữ ký số - lịch số - giao việc số - báo cáo số; xây dựng kho dữ liệu chuẩn dùng chung, bảo đảm bảo mật - an toàn - bền vững. Chuẩn hóa quy trình theo nguyên tắc “một lần nhập - dùng nhiều lần”, rút ngắn thời gian xử lý, truy xuất nhanh, chính xác; lấy mức độ hài lòng của cơ quan, của nhân dân là thước đo. Phát triển năng lực số cho đội ngũ cán bộ văn phòng về kỹ năng dữ liệu, an toàn thông tin, phân tích tổng hợp; kết hợp kỷ luật sắt với sáng tạo mềm để tham mưu ngắn gọn - đúng việc - đúng lúc - dễ thực thi.

Tổng Bí thư yêu cầu, Văn phòng Trung ương Đảng thực hiện 6 nhiệm vụ: Cần đóng vai “nhạc trưởng”, làm gương mẫu mực cho toàn hệ thống văn phòng cấp ủy và văn phòng của cả hệ thống chính trị. Khi tham mưu chiến lược cho Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Bộ Chính trị, Ban Bí thư cần nêu rõ vấn đề, nêu đúng phương án, nêu đủ nguồn lực, nêu kỹ lộ trình, nêu rõ trách nhiệm. Xây dựng chuẩn mực nghiệp vụ thống nhất từ Trung ương đến cơ sở: Mẫu hóa hồ sơ, chuẩn hóa quy trình, đo lường thời gian - chất lượng - chi phí; đào tạo, bồi dưỡng thường xuyên đối với cán bộ. Xây dựng văn hóa chất lượng của công việc, của văn bản. Xây dựng văn hóa nêu gương: Lãnh đạo, quản lý nói đi đôi với làm, chấp hành kỷ luật thông tin, giữ bí mật tài liệu, tôn trọng sự thật; đề cao tinh thần hợp tác liên thông giữa các cơ quan tham mưu của Đảng và Nhà nước. Trong thời gian tới Văn phòng Trung ương Đảng cần chuẩn bị thật tốt công tác phục vụ Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng.

Với bề dày truyền thống 95 năm của Văn phòng Trung ương Đảng và Văn phòng các cấp ủy, với tinh thần, ý thức, trách nhiệm đảng viên và của người lao động, Tổng Bí thư tin tưởng toàn thể các đồng chí làm công tác Văn phòng trong hệ thống cấp ủy sẽ vượt qua mọi khó khăn, thách thức, hoàn thành mọi nhiệm vụ được giao, đóng góp xứng đáng vào mục tiêu phát triển của đất nước trong giai đoạn cách mạng mới, giữ vững và phát huy truyền thống “Tuyệt đối trung thành, đoàn kết, sáng tạo, tận tụy, chu đáo, giữ vững nguyên tắc” của Văn phòng Trung ương Đảng.

Tại Lễ kỷ niệm, thay mặt lãnh đạo Đảng, Nhà nước, Tổng Bí thư Tô Lâm đã trao tặng Huân chương Lao động hạng Nhất cho Văn phòng Trung ương Đảng đã có thành tích đặc biệt xuất sắc trong công tác tham mưu chiến lược phục vụ Bộ Chính trị, Ban Bí thư trong tổ chức điều hành công việc lãnh đạo của Đảng và có thành tích to lớn trong sự phát triển kinh tế - xã của đất nước.

Thường trực Ban Bí thư Trần Cẩm Tú đã trao tặng Bằng khen của Thủ tướng Chính phủ cho tập thể, cá nhân Văn phòng Trung ương Đảng ghi nhận thành tích xuất sắc trong các hoạt động kỷ niệm 50 năm Ngày Giải phóng miền Nam thống nhất đất nước.

Ghi nhận những thành tích của các tập thể, cá nhân điển hình tiên tiến giai đoạn 2020 - 2025, Chánh Văn phòng Trung ương Đảng đã tặng Bằng khen cho 16 tập thể và 44 cá nhân.

Nhân dịp này, Văn phòng Trung ương Đảng đã Phát động phong trào thi đua giai đoạn 2025 - 2030 và đợt thi đua cao điểm chào mừng Đại hội XIV của Đảng./.


Theo QĐND
Yêu nước ST.