Thứ Tư, 5 tháng 11, 2025

“MỀM HÓA” Ý THỨC CHÍNH TRỊ QUẦN CHÚNG - THỦ ĐOẠN THÂM HIỂM CỦA CÁC THẾ LỰC THÙ ĐỊCH.

BÀI 2: GIẢI PHÁP PHÒNG, CHỐNG THỦ ĐOẠN NHAM HIỂM HÀNG ĐẦU!
(Tiếp theo và hết)

     V.I.Lênin từng chỉ rõ: “Điều quan trọng đối với chúng ta là thu hút toàn thể những người lao động, không trừ một ai tham gia vào việc quản lý nhà nước. Đó là một nhiệm vụ rất mực khó khăn. Nhưng một thiểu số người, tức là đảng, không thể thực hiện chủ nghĩa xã hội (CNXH) được. Chỉ có hàng chục triệu người, khi đã học được cách tự mình thiết lập CNXH, thì mới có thể thực hiện được CNXH”.

Trong bối cảnh, yêu cầu và điều kiện mới của đất nước, để ngăn ngừa, đấu tranh làm thất bại mọi âm mưu, thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch, trong đó có thủ đoạn “mềm hóa” ý thức chính trị quần chúng, cần tập trung thực hiện đồng bộ các giải pháp.

Một là, tăng cường công tác giáo dục chính trị-tư tưởng, nâng cao nhận thức, trách nhiệm của các tầng lớp nhân dân đối với vận mệnh và sự phát triển của đất nước, dân tộc.

Đây là giải pháp rất quan trọng, giữ vai trò quyết định. Công tác giáo dục chính trị-tư tưởng là con đường, phương thức chủ yếu để xác lập, truyền bá và phát triển hệ tư tưởng của Đảng; góp phần nâng cao nhận thức, củng cố niềm tin của nhân dân đối với Đảng và chế độ; tạo nên sự thống nhất trong Đảng, sự đồng thuận trong nhân dân; đồng thời là vũ khí sắc bén tấn công lại sự phá hoại của các thế lực thù địch, phản động. V.I.Lênin từng nói: “Phải làm cho các cơ quan quyền lực trong thực tế là cơ quan quản lý phục vụ những người lao động biến thành cơ quan quản lý do những người lao động”. Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng khẳng định: Công việc thành hay bại một phần lớn là do tư tưởng.

Hiện nay, trước những yêu cầu mới của cách mạng và thách thức ngày càng lớn của cuộc đấu tranh tư tưởng-lý luận, công tác tuyên truyền, giáo dục chính trị-tư tưởng cho các tầng lớp nhân dân phải tiếp tục tăng cường. Nhiệm vụ trọng tâm của công tác này là đưa chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước vào cuộc sống; xây dựng sự đồng thuận, thống nhất cao về nhận thức, ý chí và hành động trong toàn Đảng, toàn dân, toàn quân. Quá trình nâng cao nhận thức phải gắn liền với bồi đắp tình cảm, củng cố niềm tin của nhân dân đối với Đảng, với chế độ xã hội chủ nghĩa (XHCN), tạo nên sự kết nối vững chắc “ý Đảng với lòng dân”; phải giúp cho nhân dân thấy rõ vị trí, vai trò trung tâm của mình trong mọi đường lối, chủ trương của Đảng, đồng thời ý thức được trách nhiệm của mình trong việc tham gia bảo vệ Đảng, Nhà nước, bảo vệ chế độ.

Trong giai đoạn mới, công tác giáo dục chính trị-tư tưởng phải không ngừng đổi mới cả về nội dung, hình thức, biện pháp; làm cho nội dung giáo dục trở nên gần gũi với thực tiễn đời sống; hình thức, biện pháp linh hoạt, phù hợp với đặc điểm và nhận thức của từng đối tượng; gắn tuyên truyền, giáo dục với thuyết phục, động viên, khuyến khích các tầng lớp nhân dân tích cực tham gia các phong trào thi đua yêu nước, tạo nên đời sống chính trị sôi động, hăng hái trong toàn dân.

Hai là, hoàn thiện đồng bộ hệ thống pháp luật, cơ chế, chính sách nhằm phát huy mạnh mẽ quyền làm chủ của nhân dân.

Trong nhà nước pháp quyền XHCN, pháp luật không chỉ là công cụ quản lý mà còn là phương tiện để bảo vệ và hiện thực hóa các quyền, lợi ích chính đáng của người dân. Do đó, pháp luật, cơ chế, chính sách phải được thiết kế theo hướng “vì dân”, phản ánh đúng yêu cầu, nguyện vọng và lợi ích chính đáng của nhân dân; đồng thời tạo điều kiện để người dân có thể tham gia thực chất vào các quá trình ra quyết định, từ việc xây dựng chủ trương, chính sách đến thực thi và giám sát việc thực hiện.

Phải thể chế hóa đầy đủ và đồng bộ các nguyên tắc “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng” vào hệ thống pháp luật. Bên cạnh đó, cần gắn việc hoàn thiện hệ thống pháp luật, cơ chế, chính sách với quá trình tổ chức thực hiện của hệ thống chính trị. Trong bài viết “Phát huy tính Đảng trong xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam”, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm (nay là Tổng Bí thư) chỉ rõ: “Để có dân chủ thực chất thì bên cạnh việc phải có hệ thống pháp luật hoàn thiện theo các tiêu chí của nhà nước pháp quyền XHCN thì sự vận hành hiệu quả của hệ thống chính trị cũng phải đáp ứng, phù hợp với nguyên tắc thượng tôn Hiến pháp, pháp luật”.

Ba là, đổi mới nội dung, phương thức hoạt động của hệ thống chính trị, đặc biệt ở cấp cơ sở để phát huy quyền làm chủ thật sự của nhân dân.

Cấp cơ sở là nơi trực tiếp, thường xuyên tiếp xúc với nhân dân, là tuyến đầu trong tổ chức thực hiện các chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước. Đây cũng là nơi quyền dân chủ của người dân được thể hiện rõ nét nhất, song cũng dễ bị xâm phạm nhất nếu bộ máy yếu kém, vận hành kém hiệu quả. Trong bối cảnh sắp xếp, kiện toàn tổ chức bộ máy hệ thống chính trị theo hướng tinh, gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả, việc đổi mới hệ thống chính trị ở cơ sở càng phải đặt trọng tâm vào nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu và trách nhiệm nêu gương của cấp ủy, bảo đảm sự lãnh đạo của Đảng sát thực tiễn, gần dân và đáp ứng yêu cầu của nhân dân.

Bộ máy hành chính chỉ thật sự “vì dân” khi không chỉ “gần dân” về địa lý, mà còn “gần dân” trong tư duy, phong cách, phương thức vận hành, biết lắng nghe, thấu hiểu và giải quyết kịp thời, thỏa đáng những nguyện vọng chính đáng của người dân. Việc xây dựng và nâng cao năng lực hoạt động của chính quyền cơ sở phải được coi là khâu đột phá trong quá trình tinh gọn tổ chức, bao gồm chuẩn hóa đội ngũ cán bộ, cải tiến quy trình làm việc, ứng dụng mạnh mẽ công nghệ số, tăng cường công khai, minh bạch và thiết lập cơ chế để người dân tham gia giám sát một cách thực chất. Chỉ khi cấp xã thực sự đủ năng lực, trách nhiệm và gần dân, thì phương châm “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng” mới trở thành hiện thực. Đây cũng là giải pháp căn cơ để củng cố niềm tin, nâng cao ý thức chính trị của nhân dân, góp phần vô hiệu hóa thủ đoạn “mềm hóa” ý thức chính trị quần chúng mà các thế lực thù địch đang ráo riết thực hiện.

Bốn là, nâng cao chất lượng chuyên môn, nghiệp vụ, đạo đức công vụ và trách nhiệm của đội ngũ cán bộ, công chức phục vụ nhân dân, tạo niềm tin và sự hài lòng của người dân đối với nhà nước và chính quyền các cấp.

Thực tiễn cho thấy, sự thờ ơ, vô cảm chính trị của một bộ phận người dân không chỉ bắt nguồn từ tác động của các thế lực thù địch mà còn từ những trải nghiệm tiêu cực trong quá trình tiếp xúc, làm việc với những cán bộ thoái hóa biến chất, nhũng nhiễu, quan liêu, xa dân. Do đó, việc xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức có trình độ, năng lực, đạo đức và trách nhiệm công vụ là giải pháp then chốt nhằm củng cố niềm tin của nhân dân vào hệ thống chính trị, vô hiệu hóa các âm mưu, thủ đoạn lợi dụng, xuyên tạc của kẻ thù. 

Để đáp ứng yêu cầu đó, trước hết cần chú trọng nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ của đội ngũ cán bộ, công chức, không dừng ở bằng cấp, chứng chỉ mà thể hiện ở năng lực thực thi công vụ, khả năng giải quyết những vấn đề thực tiễn phức tạp, nhất là ở cấp cơ sở. Người cán bộ không thể chỉ “đúng quy trình”, mà phải “hiểu việc”, “thuộc dân”, “sát dân”, “vì dân”. Cùng với đó, cần kiên quyết chấn chỉnh đạo đức công vụ, đấu tranh với biểu hiện vô cảm, thiếu trách nhiệm, quan liêu, “hành là chính”, làm xói mòn niềm tin của nhân dân. Một bộ máy mà ở đó người dân phải xin xỏ để được phục vụ, phải “biết điều” mới được việc thì không thể là bộ máy dân chủ, càng không thể là công cụ thực hiện quyền làm chủ của nhân dân.

Vì vậy, phải xác lập nguyên tắc lấy sự hài lòng của nhân dân làm thước đo hiệu quả hoạt động của bộ máy và của từng cán bộ, công chức. Muốn vậy, cần chuyển tư duy quản lý từ “mệnh lệnh hành chính” sang “phục vụ và đối thoại”, từ áp đặt từ trên xuống sang lắng nghe từ dưới lên; đồng thời thiết lập cơ chế để nhân dân trực tiếp tham gia giám sát, đánh giá cán bộ thông qua các kênh khảo sát độc lập, phản biện xã hội, tiếp xúc cử tri và đối thoại định kỳ tại cơ sở. Chỉ khi cán bộ thực sự chịu sự giám sát của nhân dân thì trách nhiệm mới không còn hình thức, đạo đức công vụ mới không chỉ là khẩu hiệu, và niềm tin chính trị của nhân dân mới được củng cố vững chắc.

Năm là, tăng cường quản lý các phương tiện truyền thông, mạng xã hội, kịp thời loại bỏ những nội dung xấu độc, tiêu cực, “trong lành hóa” môi trường mạng.

Hiện nay, không gian mạng đang trở thành môi trường lý tưởng cho các thế lực phản động, cơ hội chính trị, các phần tử cực đoan lợi dụng để tung tin giả, kích động chống phá, gieo rắc tâm lý tiêu cực, hoài nghi, thậm chí thù ghét chế độ. Nếu không quản lý tốt, không kịp thời “lọc độc-kháng độc”, thì không gian mạng sẽ trở thành “vùng nhiễm độc mềm”, đầu độc tư tưởng, gây rối loạn nhận thức, xói mòn lòng tin của nhân dân. Do đó, nhiệm vụ đầu tiên là tăng cường năng lực quản lý, giám sát và điều tiết không gian mạng, cả về mặt thể chế pháp luật lẫn công nghệ kỹ thuật. Phải có những quy định chặt chẽ, đồng bộ về trách nhiệm của các nền tảng mạng xã hội, các tổ chức cung cấp dịch vụ xuyên biên giới, bảo đảm chủ quyền số quốc gia. Đồng thời, cần phát triển công cụ giám sát, cảnh báo sớm, xử lý nhanh, gỡ bỏ kịp thời các thông tin xấu độc, xuyên tạc, bịa đặt, kích động thù hận, vi phạm thuần phong mỹ tục, xâm hại đến an ninh tư tưởng và văn hóa.

Cần xây dựng chiến lược chủ động sử dụng mạng xã hội như một công cụ để khơi dậy lòng tự hào, tự tôn dân tộc và ý thức trách nhiệm công dân, nhất là với thế hệ trẻ. Không chỉ là tuyên truyền một chiều, mà phải đổi mới nội dung, phương thức, phong cách truyền thông từ khô cứng sang sinh động, từ hàn lâm sang gần gũi, từ áp đặt sang đối thoại, từ phòng thủ sang chủ động “chiếm lĩnh trận địa thông tin”. Các cơ quan báo chí, truyền thông chính thống tăng cường hiện diện trên mạng xã hội, xây dựng đội ngũ “người phát ngôn số”, KOLs chính luận, lan tỏa thông điệp tích cực bằng nhiều hình thức sáng tạo, hấp dẫn, gắn với những giá trị văn hóa truyền thống, những nét đẹp của con người Việt Nam.

Có thể nói, “mềm hóa” ý thức chính trị của quần chúng là thủ đoạn thâm hiểm và đầy tinh vi mà các thế lực thù địch ráo riết thực hiện nhằm làm suy yếu nền tảng tư tưởng, bào mòn lòng tin và triệt tiêu sức đề kháng của người dân. Đấu tranh với thủ đoạn này không chỉ là nhiệm vụ của lực lượng chuyên trách mà là trách nhiệm chung của cả hệ thống chính trị và từng công dân yêu nước. Cảnh giác, chủ động nhận diện và phản bác, đồng thời không ngừng nâng cao dân trí, bồi đắp lòng tin, củng cố bản lĩnh chính trị chính là “lá chắn” vững chắc để bảo vệ Đảng, bảo vệ chế độ, giữ vững con đường đi lên CNXH./.
Khuyết danh ST.

“MỀM HÓA” Ý THỨC CHÍNH TRỊ QUẦN CHÚNG - THỦ ĐOẠN THÂM HIỂM CỦA CÁC THẾ LỰC THÙ ĐỊCH.

BÀI 1: TÍNH CHẤT TINH VI, NGUY HIỂM CỦA THỦ ĐOẠN “MỀM HÓA” Ý THỨC CHÍNH TRỊ QUẦN CHÚNG!

     Nhận thức, tình cảm, niềm tin và trách nhiệm chính trị của nhân dân đối với Đảng và chế độ xã hội chủ nghĩa (XHCN) là yếu tố có ý nghĩa sống còn, quyết định trực tiếp đến sự ổn định và phát triển của đất nước. Nhận rõ điều đó, các thế lực thù địch luôn tìm mọi cách tấn công vào tư tưởng của nhân dân bằng những thủ đoạn tinh vi, nhằm làm sai lệch nhận thức, phai nhạt niềm tin, lệch lạc thái độ chính trị, từng bước phá vỡ trận địa tư tưởng của Đảng từ bên trong. Trong đó, thủ đoạn “mềm hóa” ý thức chính trị là đặc biệt nguy hiểm, cần được nhận diện và đấu tranh kiên quyết.

Thủ đoạn “mềm hóa” ý thức chính trị quần chúng là sự tấn công một cách có chủ đích của các thế lực thù địch thông qua các cách thức, biện pháp kín đáo, ngấm ngầm, gián tiếp nhằm làm suy giảm nhận thức, phai nhạt tình cảm, biến đổi niềm tin chính trị của nhân dân, làm cho người dân từng bước rơi vào trạng thái thờ ơ, vô cảm chính trị, suy giảm và mất niềm tin vào sự lãnh đạo của Đảng, vào con đường đi lên chủ nghĩa xã hội của đất nước.

Nói cách khác, đây là thủ đoạn làm tan rã niềm tin của nhân dân bằng con đường phi cưỡng bức, dùng yếu tố phi chính trị để từng bước chi phối tư tưởng chính trị; không tạo ra sự đối đầu trực tiếp, không kích động bạo lực hay biểu hiện rõ ràng ngay lập tức, mà lặng lẽ len lỏi vào tư duy, làm thay đổi thái độ và hành vi của người dân đối với các vấn đề chính trị-xã hội của đất nước. Chính vì vậy, thủ đoạn này rất khó nắm bắt, khó nhận biết.

Ở nước ta hiện nay, thủ đoạn làm “mềm hóa” ý thức chính trị của quần chúng đang được các thế lực thù địch thực hiện thông qua những hình thức chủ yếu sau:

Cổ xúy lối sống tránh xa chính trị, không cần chính trị: Đây là biểu hiện cơ bản, phổ biến và rất nguy hiểm, bởi nó tấn công trực tiếp vào nhận thức và quan niệm của quần chúng về vai trò của chính trị trong đời sống. Bằng phương thức chung của thủ đoạn “mềm hóa”, các thế lực thù địch không trực tiếp kêu gọi nhân dân “tránh xa chính trị”, mà chúng thường thông qua các luồng truyền dẫn thông tin khác nhau để tạo ra sự đối lập giữa chính trị với đời sống, khiến cho người dân dần có cảm giác chính trị là những công việc “to lớn”, “đại sự”, là công việc của Nhà nước, của một nhóm nhỏ nhà lãnh đạo, còn nhân dân chỉ cần lo đời sống cá nhân. Chúng tán phát những “triết lý” kiểu như “cuộc sống là hữu hạn, vô thường, sẽ thật là hoài phí nếu không biết hưởng thụ”, từ đó khiến cho người dân, nhất là giới trẻ không còn hứng thú với chính trị, coi đó là việc nặng nề, nhàm chán. Lâu dần, sự xa rời chính trị sẽ tạo thành lối sống thờ ơ, vô cảm chính trị trong các tầng lớp nhân dân.

Gieo rắc tư tưởng sợ chính trị, ngại chính trị: Nếu như phương thức thứ nhất nhằm làm cho quần chúng không quan tâm đến chính trị thì phương thức này tập trung vào việc tạo ra tâm lý e dè, sợ hãi khi nhắc đến các vấn đề chính trị-xã hội. Lợi dụng và xuyên tạc những vụ án xét xử các tổ chức, cá nhân phản động, chống phá chính quyền nhân dân (mà chúng gọi là “tù nhân lương tâm”), các thế lực thù địch ra sức truyền bá những quan điểm cho rằng ở Việt Nam “không có dân chủ”, “mọi thứ đều bị kiểm soát”, gieo rắc tâm lý cho rằng “chính trị là nguy hiểm, không nên dính dáng”, “nói về chính trị có thể bị trừng phạt”.

Cùng với đó, chúng tìm cách suy diễn, xuyên tạc đường lối, quan điểm của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước, đặc biệt là những chính sách, pháp luật có liên quan đến quyền phát ngôn của nhân dân như Luật Tiếp cận thông tin; Luật Báo chí; Luật Bảo vệ bí mật nhà nước; Luật An ninh mạng..., khiến một bộ phận người dân hiểu sai, nảy sinh tâm lý e ngại, hoang mang, sợ bị liên lụy khi bày tỏ chính kiến. Lâu dần, tâm lý “tự kiểm duyệt” hình thành, khiến cho nhiều người chọn im lặng trước cái sai, cái xấu. Khi sợ hãi và thờ ơ lan rộng, xã hội sẽ thiếu những tiếng nói bảo vệ lẽ phải, tạo khoảng trống để tư tưởng sai trái dễ dàng thâm nhập, lan tỏa.

Gieo rắc tâm lý bất lực chính trị: Đây là thủ đoạn mang tính chất phá hoại niềm tin từ bên trong, làm cho quần chúng dần chấp nhận thái độ buông xuôi trước các vấn đề chính trị-xã hội. Các thế lực thù địch tuyên truyền rằng “chính trị là chuyện riêng của quan chức, tiếng nói của dân đen không có ý nghĩa gì”, rằng “mọi thứ đã an bài”, “bầu cử chỉ là hình thức”, “dân chủ chỉ là thủ đoạn”... từ đó làm suy yếu động lực tham gia chính trị của người dân.

Chúng lợi dụng những bất cập, khó khăn trong quá trình phát triển đất nước để khuếch đại sự thất vọng, gieo rắc tâm lý hoài nghi, bế tắc, khiến quần chúng mất niềm tin vào khả năng cải thiện và phát triển của chế độ. Khi tâm lý bất lực chính trị lan rộng, xã hội sẽ trở nên thụ động, nhân dân không còn muốn đấu tranh với các biểu hiện tiêu cực, không còn tin vào khả năng kiến tạo và phát triển của đất nước. Đây chính là bước đệm nguy hiểm dẫn đến nguy cơ “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, làm suy yếu nội lực của chế độ từ bên trong.

Gieo rắc tâm lý tìm kiếm sự mới mẻ chính trị: Thực tiễn cho thấy, không ai hoàn toàn vô cảm với chính trị theo nghĩa tuyệt đối thờ ơ hay không quan tâm đến các vấn đề chính trị-xã hội. Sự thờ ơ, vô cảm chính trị thực chất là một dạng thái độ, một dạng phản ứng chính trị được lựa chọn có chủ đích của những người đang gặp khủng hoảng về niềm tin chính trị.

Đây là lúc người ta dễ tìm đến những luồng tư tưởng chính trị trái chiều nhất. Chính vì vậy, sau khi gieo vào quần chúng tâm lý bất lực, mất động lực, mất niềm tin với chế độ chính trị hiện tại của đất nước, bước tiếp theo các thế lực thù địch thực hiện là kích thích sự tò mò đối với những “giải pháp thay thế” được chúng khéo léo gợi ý, đề xuất.

Thông qua các phương tiện, nhất là mạng xã hội, chúng vẽ nên một bức tranh hào nhoáng về các thể chế chính trị phương Tây, khẳng định rằng chỉ có đa nguyên, đa đảng mới mang lại dân chủ, tự do thực sự. Chúng cố tình so sánh phiến diện, tô hồng những mô hình chính trị ngoại lai trong khi bóp méo, xuyên tạc con đường phát triển của Việt Nam, làm cho một bộ phận quần chúng, đặc biệt là giới trẻ, nảy sinh tâm lý hoài nghi, muốn “đổi mới” bằng cách thử nghiệm những mô hình xa lạ. Đây là một thủ đoạn đặc biệt nguy hiểm, bởi nó không chỉ làm xói mòn niềm tin vào con đường XHCN mà còn tạo ra những nguy cơ bất ổn về tư tưởng, mở đường cho các hoạt động chống phá mang tính chất lật đổ.

Nhìn tổng thể, thủ đoạn “mềm hóa” ý thức chính trị không phải là những hành động rời rạc, mà là một chiến lược được các thế lực thù địch triển khai có tổ chức, đồng bộ và tinh vi nhằm từng bước làm suy yếu ý thức chính trị của quần chúng nhân dân. Khi ý thức chính trị bị “mềm hóa”, hệ lụy trở nên đặc biệt nguy hiểm: Nhân dân dần đánh mất ý thức về quyền, nghĩa vụ công dân, thờ ơ với việc tham gia xây dựng, củng cố hệ thống chính trị, đồng thời làm suy giảm tinh thần trách nhiệm xã hội, làm xói mòn đạo đức, gia tăng chia rẽ và bất đồng. Đáng lo ngại hơn, khoảng trống niềm tin chính trị sẽ trở thành môi trường thuận lợi để các quan điểm sai trái, thù địch thâm nhập, chuyển hóa dần từ thờ ơ sang chống đối, đe dọa trực tiếp sự ổn định chính trị và an ninh quốc gia.

Nhìn vào thực tiễn lịch sử, có thể nhận thấy, thủ đoạn “mềm hóa” ý thức chính trị quần chúng vốn dĩ đã được các thế lực thù địch, phản động sử dụng như một phương thức hữu hiệu để chống phá các nước XHCN. Nghiên cứu sự sụp đổ của mô hình chủ nghĩa xã hội ở Liên Xô và Đông Âu, người ta đã tìm ra những bằng chứng xác thực về một chiến lược chống phá “dài hơi” mà Mỹ và các lực lượng phản động đã tiến hành nhằm phá hoại nền tảng tư tưởng XHCN trong xã hội Xô viết lúc bấy giờ.

Trong suốt cuộc “Chiến tranh lạnh”, đặc biệt là vào những năm 80, 90 của thế kỷ 20, âm mưu của Mỹ và các thế lực thù địch nhằm tạo ra sự thờ ơ, vô cảm chính trị trong nhân dân Liên Xô là một phần của chiến lược rộng lớn làm suy yếu và cuối cùng là lật đổ hệ thống Xô viết. Một trong những công cụ quan trọng trong chiến lược này là “Dự án Harvard”, được thực hiện trong giai đoạn cải tổ, với mục tiêu làm suy yếu hệ tư tưởng Mác-Lênin và thay thế nó bằng một hệ tư tưởng khác. Đây không chỉ là sự can thiệp vào nhận thức mà còn là cuộc chiến tranh tâm lý nhằm làm cho cả lãnh đạo Liên Xô lẫn quần chúng không nhận thức được sự nguy hiểm từ bên ngoài và không đủ khả năng đối phó.

Phương Tây còn dày công xây dựng cả một ngành khoa học gọi là ngành Kremli học, chuyên nghiên cứu những đặc điểm cá nhân và khả năng tiềm ẩn của những nhân vật chủ chốt trong giới lãnh đạo ở Liên Xô, từ đó thao túng họ theo hướng có lợi cho lợi ích của phương Tây. Vào những năm cải tổ, Mỹ đã phát triển tới 285 trung tâm “Xô viết học” chuyên thu thập thông tin, hoạch định kế hoạch làm suy yếu, tiến tới lật đổ Liên Xô. Những nỗ lực này không chỉ tập trung vào giới lãnh đạo mà còn tác động đến quần chúng, khiến họ trở nên thờ ơ, mất đi sự quan tâm và trách nhiệm đối với các vấn đề chính trị và xã hội.

Đặc biệt, không thể không nhắc đến Chỉ lệnh NSDD-75, được Tổng thống Hoa Kỳ Ronald Reagan ban hành tháng 1-1983, trong đó xác định rõ những cách thức tấn công vào mặt trận tư tưởng Xô viết nhằm tạo ra một trào lưu vô cảm chính trị trong xã hội, khiến người dân, đặc biệt là giới trẻ, xa rời các vấn đề chính trị, mất niềm tin vào chế độ. Bằng những thủ đoạn chống phá hết sức bài bản, tinh vi và thâm độc ấy, phương Tây, đứng đầu là Mỹ đã thành công trong việc gây mất ổn định nhận thức, mất thái độ trách nhiệm công dân vốn có của người dân Liên Xô đối với những đổi thay của đất nước, biến quần chúng chỉ còn là đám đông thuần túy, khiến cho Đảng và chính quyền Xô viết không còn điểm tựa, dẫn tới sụp đổ nhanh chóng.

Thực tiễn lịch sử ấy là lời cảnh tỉnh cho bất cứ ai có thái độ chủ quan trước những âm mưu, thủ đoạn chống phá của kẻ thù; cho những ai còn hoài nghi về việc có hay không một âm mưu khiến cho nhân dân ta bị sao nhãng, thờ ơ, vô cảm chính trị; cho những ai còn nghĩ rằng “thế lực thù địch” chỉ đơn thuần là một “bóng ma” mà những người làm chính trị đang tự huyễn hoặc. Bất cứ khi nào chúng ta mất cảnh giác trước kẻ thù, quên đi việc nhận diện những âm mưu phá hoại đang ẩn giấu thì khi đó, kẻ thù đã tiến thêm được một bước trên con đường phá hoại sự nghiệp cách mạng của Đảng và nhân dân ta.

Lời dạy của V.I.Lênin vẫn chưa bao giờ cũ: “Chừng nào người ta chưa biết phân biệt được lợi ích của giai cấp này hay của giai cấp khác,... thì trước sau bao giờ người ta cũng vẫn là kẻ ngốc nghếch bị người khác lừa bịp và tự lừa bịp mình về chính trị”./.
(còn nữa)
Khuyết danh ST.

TOÀN VĂN PHÁT BIỂU KHAI MẠC HỘI NGHỊ TRUNG ƯƠNG 14 KHÓA XIII CỦA TỔNG BÍ THƯ TÔ LÂM!

     Sáng 5/11, Hội nghị lần thứ 14 Ban Chấp hành Trung ương Đảng (Hội nghị Trung ương 14) khóa XIII đã khai mạc trọng thể tại Thủ đô Hà Nội. Tổng Bí thư Tô Lâm chủ trì, phát biểu khai mạc Hội nghị. Xin trân trọng giới thiệu toàn văn phát biểu của Tổng Bí thư Tô Lâm.

Thưa các đồng chí Ủy viên Bộ Chính trị, Ủy viên Ban Bí thư, Ủy viên Trung ương Đảng,

Thưa các đồng chí Đại biểu dự Hội nghị.

Hôm nay, Hội nghị Ban chấp hành Trung ương 14 khai mạc trong bối cảnh toàn Đảng, toàn dân, toàn quân đang phấn đấu hoàn thành các mục tiêu, chỉ tiêu công tác năm 2025, các mục tiêu nhiệm kỳ 2020-2025 và công việc chuẩn bị cho Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng. Thay mặt Bộ Chính trị, Ban Bí thư, tôi nhiệt liệt chào mừng các đồng chí Ủy viên Trung ương, các đồng chí đại biểu về dự Hội nghị, xin gửi tới các đồng chí lời chúc sức khỏe, hạnh phúc, thành công.

Thưa các đồng chí,

Hội nghị lần này tập trung vào hai nội dung lớn, đó là (1) Nhóm vấn đề về công tác Đại hội XIV của Đảng và (2) Nhóm vấn về xây dựng Đảng và hệ thống chính trị. Trong từng nhóm vấn đề sẽ có nhiều nội dung cụ thể, đặc biệt trong nhóm vấn đề về Công tác chuẩn bị Đại hội XIV của Đảng. Tài liệu Hội nghị các đồng chí đã nhận từ Ban tổ chức Hội nghị. Tôi tin rằng các đồng chí đã nghiên cứu kỹ và sẵn sàng đóng góp ý kiến trong các ngày diễn ra Hội nghị.

Thời gian gấp, công việc nhiều, yêu cầu cao, nhưng càng trong thời khắc quyết định, chúng ta càng phải nỗ lực, tranh thủ thời gian, làm việc với tinh thần vượt qua thách thức, vượt qua chính mình với tư duy chiến lược và hành động quyết liệt vì lợi ích quốc gia-dân tộc, vì vai trò lãnh đạo, cầm quyền của Đảng cộng sản Việt Nam.

Để góp phần cho Hội nghị thành công, tôi có một số điểm gợi mở với các đồng chí như sau:
Thứ nhất: Về công tác chuẩn bị, lựa chọn, giới thiệu nhân sự tham gia Bộ Chính trị, Ban Bí thư khóa XIV của Đảng.

Tại Hội nghị Trung ương 13, trên cơ sở đề nghị của Bộ Chính trị, Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII đã biểu quyết thống nhất, tập trung cao, giới thiệu nhân sự Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV (chưa bao gồm các đồng chí Ủy viên Bộ Chính trị, Ủy viên Ban Bí thư đủ điều kiện tái cử và trường hợp đặc biệt) cơ bản đảm bảo cơ cấu, số lượng, tiêu chuẩn, điều kiện, địa bàn, lĩnh vực công tác theo Phương hướng công tác nhân sự Đại hội XIV của Đảng, Quy chế bầu cử trong Đảng và kế hoạch hoạt động của Tiểu Ban Nhân sự Đại hội XIV của Đảng. Đây là cơ sở, kinh nghiệm hết sức quan trọng để chúng ta tiếp tục kế thừa, phát huy trong công tác chuẩn bị, lựa chọn, giới thiệu nhân sự tham gia Bộ Chính trị, Ban Bí thư và nhân sự Lãnh đạo chủ chốt của Đảng, Nhà nước khóa XIV, nhiệm kỳ 2026-2031.

Tại Hội nghị này, Ban Chấp hành Trung ương sẽ cho ý kiến về số lượng Ủy viên Bộ Chính trị, Ủy viên Ban Bí thư nhiệm kỳ Đại hội XIV và lựa chọn nhân sự giới thiệu tham gia Bộ Chính trị, Ban Bí thư khóa XIV. Đây là công việc đặc biệt hệ trọng, là cốt lõi của cốt lõi vì mọi việc đều quyết định bởi con người. Lựa chọn giới thiệu nhân sự cho Ban lãnh đạo cao nhất của Đảng để lãnh đạo triển khai thực hiện các mục tiêu rất cao, rất quyết liệt của sự phát triển đất nước trong giai đoạn mới nên càng phải kỹ lưỡng, chắc chắn, thận trọng, chính xác. Tôi cho rằng ngoài các tiêu chuẩn lựa chọn theo quy định như đối với các đồng chí Ủy viên Trung ương mà chúng ta đặt ra tại Hội nghị Trung ương 12 và 13 vừa qua, việc lựa chọn giới thiệu nhân sự tham gia Bộ Chính trị, Ban Bí thư khóa XIV cần nhấn mạnh thêm một số yêu cầu quan trọng phù hợp với giai đoạn cách mạng mới của Đảng ta, đất nước ta.

Thưa các đồng chí,

Trong bối cảnh quốc tế chuyển động nhanh, cạnh tranh chiến lược gay gắt, chuỗi cung ứng toàn cầu luôn biến động, trong nước đòi hỏi phải tiến hành đồng thời chuyển đổi số, chuyển đổi xanh, chuyển đổi mô hình tăng trưởng… nhằm giữ mức tăng trưởng hai con số bền vững trong nhiều năm để đạt hai mục tiêu 100 năm mà Đảng ta đã đề ra và nhân dân mong chờ, vai trò lãnh đạo của Đảng ở đây đặc biệt quan trọng. Do vậy, trách nhiệm "chọn đúng người cho đúng việc", nhất là nhân sự cấp cao, những người lãnh đạo đất nước, là điều kiện tiên quyết để đưa tầm nhìn, khát vọng thành kết quả. Chúng ta phải lựa chọn, giới thiệu những người xứng đáng nhất trong số những người xứng đáng tham gia Bộ Chính trị, Ban Bí thư. Những đồng chí đó phải hội đủ bản lĩnh chính trị, đạo đức liêm chính và nêu gương, đặt lợi ích quốc gia-dân tộc, lợi ích nhân dân lên trên hết; phải có tầm nhìn chiến lược sắc bén và năng lực tổ chức để mở khóa các điểm nghẽn, khơi thông nguồn lực, tập hợp sức mạnh. Quan trọng hơn, phải có năng lực tổ chức thực thi: thiết kế mục tiêu rõ ràng, cụ thể, xác lập trách nhiệm cá nhân, đo lường bằng dữ liệu, đưa quyết sách "đi đến cùng" với kỷ luật công vụ cao. Trong kỷ nguyên số, tiêu chí không thể thiếu là năng lực số và tư duy dữ liệu, hiểu biết sâu về kinh tế số, kinh tế xanh, kinh tế tuần hoàn, quản trị rủi ro và khả năng điều phối liên ngành - liên vùng - liên cấp. Người lãnh đạo cần khả năng huy động nguồn lực xã hội, thiết kế quan hệ đối tác công-tư, tạo lập niềm tin thị trường; khả năng hội nhập quốc tế, ngoại ngữ và văn hóa đối thoại để mở rộng không gian phát triển. Đặc biệt đề cao, coi trọng chất lượng, hiệu quả, sự cống hiến của cán bộ, ưu tiên những cán bộ có những công trình, phương án, dự án mang lại tác động rõ rệt; có năng lực xử lý tình huống trong khủng hoảng (thiên tai, dịch bệnh, tài chính, an ninh phi truyền thống); quyết đoán nhưng biết lắng nghe phản biện, dựa vào dân, vì dân. Người được chọn giới thiệu là người phù hợp nhất với mục tiêu phát triển trong giai đoạn mới, có độ tin cậy cao, sức bền chịu áp lực, ý chí cải cách, chuyển nguồn lực thành động lực, đưa tiềm năng thành tốc độ tăng trưởng kinh tế hai con số để đất nước vươn tới 2 mục tiêu 100 năm.

Tóm lại, bên cạnh các tiêu chuẩn chung mà các đồng chí được quán triệt, được nêu trong các quy định của Đảng, trong lựa chọn, giới thiệu nhân sự tham gia Bộ Chính trị, Ban Bí thư khóa XIV, các đồng chí đặc biệt quan tâm tới 5 "điểm cộng", đó là (1) Có tầm nhìn chiến lược quốc gia, có khả năng giữ tự chủ của đất nước. (2) Có năng lực lãnh đạo, chỉ huy ở quy mô quốc gia. (3) Có uy tín chính trị, liêm chính ở mức biểu tượng để mọi người noi theo, học tập. (4) Có khả năng triển khai Nghị quyết thành kết quả, thành quả có thể đo đếm được. (5) Có đủ sức bền, cả về tinh thần và thể chất, để chịu được áp lực, cường độ công việc trong nhiệm kỳ XIV và có thể là những nhiệm kỳ tiếp theo.

Thứ hai: Về báo cáo kiểm điểm sự lãnh đạo, chỉ đạo của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII trình Đại hội XIV của Đảng.

Ngay sau Đại hội XIII, Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Bộ Chính trị, Ban Bí thư đã khẩn trương lãnh đạo, chỉ đạo việc nghiên cứu, quan triệt và triển khai tổ chức thực hiện Nghị quyết Đại hội với nhiều cách làm mới, bài bản, khoa học và hiệu quả. Kịp thời xem xét, cho chủ trương xử lý nhiều vấn đề khó, phức tạp, tồn đọng, kéo dài, khơi thông nguồn lực cho phát triển đất nước, đặc biệt là phát triển kinh tế- xã hội. Lãnh đạo, chỉ đạo công tác quốc phòng, an ninh, đối ngoại; công tác xây dựng, chỉnh đốn đảng và hệ thống chính trị. Thực hiện nghiêm các nguyên tắc của đảng, không ngừng đổi mới phương thức lãnh đạo và phong cách, lề lối làm việc... Nhìn lại nhiệm kỳ XIII, chúng ta đã giữ vững định hướng chiến lược; kiên trì xây dựng, chỉnh đốn Đảng; thúc đẩy hoàn thiện thể chế; kiên định ổn định vĩ mô; đẩy mạnh chuyển đổi số, chuyển đổi xanh; củng cố quốc phòng-an ninh; mở rộng đối ngoại và hội nhập sâu rộng. Nhiều chủ trương lớn được thể chế hóa, nhiều điểm nghẽn được tháo gỡ, nhiều quyết sách mang tính đột phá được triển khai. Chúng ta đã làm được những việc có thể coi là kỳ tích. Song, với tinh thần tự soi, tự sửa, các đồng chí cũng cần đóng góp ý kiến để Trung ương khóa XIV khắc phục những hạn chế, khuyết điểm như: (i) một số chính sách chậm đi vào cuộc sống, còn nợ văn bản hướng dẫn, tổ chức triển khai chưa đồng đều; (ii) phân cấp, phân quyền chưa thật thông suốt, liên thông dọc-ngang chưa nhịp nhàng, trách nhiệm giải trình có nơi chưa rõ ràng; (iii) tổ chức bộ máy có nơi tinh gọn nhưng chưa đi đôi với nâng cao hiệu lực, hiệu quả; (iv) các "điểm nghẽn" về đất đai, thị trường vốn, lao động có kỹ năng... xử lý chưa dứt điểm; (v) phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực đạt nhiều kết quả nhưng công tác phòng ngừa từ sớm, từ xa cần quyết liệt hơn; (vi) truyền thông chính sách chưa đạt yêu cầu "đúng - đủ - kịp thời", niềm tin công chúng có lúc, có nơi bị thử thách.

Thứ ba: Về tổng kết Nghị quyết 18-NQ/TW ngày 25/10/2017 của Ban chấp hành Trung ương khóa XII về một số vấn đề về tiếp tục đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả.

Sau 8 năm thực hiện Nghị quyết 18, nhất là giai đoạn từ năm 2024 đến nay, chúng ta đã đạt nhiều kết quả quan trọng. Bộ máy trong toàn hệ thống chính trị, từ Trung ương đến địa phương, đã được sắp xếp tinh gọn hơn, rõ chức năng, rõ trách nhiệm, giảm tầng nấc trung gian; tinh giản biên chế gắn với nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức; hoạt động của các cơ quan Đảng, Nhà nước, Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị -xã hội ngày càng hiệu lực, hiệu quả. Ở đây tôi nhấn mạnh đến kết quả tổ chức lại không gian phát triển với mô hình chính quyền địa phương hai cấp để các đồng chí góp ý, tiếp tục hoàn thiện mô hình này.

Việc triển khai nghiêm túc những bài học kinh nghiệm từ tổng kết Nghị quyết 18 có ý nghĩa then chốt để chuyển hệ thống chính trị từ "cồng kềnh - phân tán" sang tinh gọn - liên thông - hiệu lực - hiệu quả, nhất là khi chúng ta tổ chức mô hình chính quyền địa phương 2 cấp và mở ra không gian phát triển mới sau sắp xếp địa giới hành chính cấp tỉnh, cấp xã. Đây là điều kiện nền tảng để giữ vững ổn định, phát triển, bảo đảm quản trị quốc gia hiện đại, thúc đẩy tăng trưởng nhanh, bền vững, nâng chất lượng sống của nhân dân, hướng tới mục tiêu "dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh", quốc gia hùng cường, thịnh vượng, trường tồn. Về ý nghĩa, tổng kết cho thấy phải chuyển từ tư duy "quản lý theo đầu mối hành chính" sang "quản trị theo chức năng - kết quả"; giảm tầng nấc trung gian, làm rõ thẩm quyền và trách nhiệm, "một việc - một cơ quan chủ trì - một người chịu trách nhiệm", gắn phân cấp mạnh với cơ chế kiểm soát quyền lực minh bạch. Về tầm quan trọng, mô hình chính quyền địa phương 2 cấp giúp cấp Tỉnh tập trung chiến lược, quy hoạch, điều phối liên vùng và các dịch vụ công cấp độ cao, trong khi Xã bám dân, giải quyết nhanh nhu cầu hàng ngày; khi ranh giới hành chính được sắp xếp lại, ta có cơ hội tái cấu trúc mạng lưới đô thị - nông thôn, hình thành các cực tăng trưởng, hành lang kinh tế, khai thác quy mô thị trường lớn hơn và giảm chi phí giao dịch cho doanh nghiệp, người dân. Về giá trị thực tiễn, những bài học đã kiểm chứng gồm: chuẩn hóa quy trình và dữ liệu, liên thông cơ sở dữ liệu quốc gia, vận hành "một cửa - một chuẩn - một lần khai", đo lường bằng sự hài lòng của người dân và doanh nghiệp. Làm được như vậy, mô hình chính quyền địa phương 2 cấp và không gian phát triển mới sẽ trở thành đòn bẩy thể chế, chuyển nguồn lực thành động lực, đưa tiềm năng thành tăng trưởng cao và bền vững, góp phần hiện thực hóa các mục tiêu 100 năm trong một trật tự khu vực và thế giới đầy biến động.

Để mô hình chính quyền địa phương 2 cấp phát huy hiệu quả tối đa, cần bảo đảm tính liên thông, bổ trợ của chính quyền 3 cấp (Trung ương - Tỉnh/thành phố - Xã/phường) theo ba trục: thể chế - nguồn lực - dữ liệu. Trong cấu trúc liên thông ấy, chính quyền Trung ương giữ vai trò điều hành, kiến tạo và bảo đảm thống nhất trên toàn hệ thống.

Khi ba cấp chính quyền vận hành như một chỉnh thể, Trung ương kiến tạo chuẩn mực và điều phối liên vùng; cấp tỉnh tổ chức chiến lược, phân bổ nguồn lực, giám sát kết quả; cấp cơ sở phục vụ trực tiếp, giải quyết nhanh và phản hồi dữ liệu thực tế, thì mục tiêu giữ vững hòa bình, ổn định, thúc đẩy tăng trưởng nhanh nhưng bền vững, nâng cao phúc lợi, sẽ có nền tảng vững chắc. Kết lại, triển khai bài học kinh nghiệm của Nghị quyết 18 theo mô hình chính quyền địa phương 2 cấp, liên thông 3 cấp, với Trung ương làm "kiến trúc sư thể chế" sẽ là đòn bẩy quyết định để hệ thống chính trị tinh gọn - minh bạch - hiệu quả, qua đó đưa đất nước tiến nhanh, vững chắc tới hùng cường, thịnh vượng, nhân dân ấm no, hạnh phúc.

Thưa các đồng chí,

Chúng ta kỳ vọng Hội nghị Trung ương 14 sẽ tạo đồng thuận rất cao về: Tầm nhìn phát triển và những định hướng chiến lược trình Đại hội XIV; Danh sách nhân sự giới thiệu tham gia Bộ Chính trị, Ban Bí thư thực sự tiêu biểu, bảo đảm tính kế thừa và đột phá; Khuôn khổ thể chế cho một bộ máy tinh gọn, hiệu lực, hiệu quả, quản trị hiện đại dựa trên dữ liệu, phân cấp, phân quyền đi đôi với kiểm soát quyền lực; Cơ chế thực thi rõ người, rõ việc, rõ thời hạn, rõ nguồn lực, rõ trách nhiệm giải trình.

Thưa các đồng chí,

Đất nước ta đứng trước thời cơ lịch sử để bứt phá, đồng thời đối mặt không ít thách thức chưa từng có. Muốn giữ vững hòa bình, ổn định, phát triển nhanh và bền vững, để nhân dân thực sự ấm no, hạnh phúc, để đất nước ngày càng hùng cường, thịnh vượng, chúng ta phải quyết định đúng và làm đến cùng những công việc hệ trọng Ban Chấp hành Trung ương đã đề ra. Mỗi ý kiến phát biểu hôm nay không chỉ đóng góp cho Hội nghị này mà còn đặt nền cho một nhiệm kỳ mới, tạo lực đẩy cho cả một giai đoạn phát triển.

Với tinh thần đó, tôi đề nghị các đồng chí nêu cao trách nhiệm trước Đảng, trước Nhân dân, phát huy trí tuệ tập thể, thẳng thắn, xây dựng, quyết đoán trong lựa chọn phương án tối ưu vì lợi ích quốc gia-dân tộc cũng như trong đóng góp ý kiến với các nội dung trong chương trình nghị sự của Hội nghị.

Thay mặt Bộ Chính trị, Ban Bí thư, tôi tuyên bố Khai mạc Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương 14 của Đảng.

Chúc Hội nghị của chúng ta thành công tốt đẹp./.


Yêu nước ST.

Thứ Ba, 4 tháng 11, 2025

TÌM HIỂU GIÚP BẠN: “TĂNG TUỔI NGHỈ HƯU LÊN 65, VIỆT NAM SẼ CÓ THÊM HƠN 5 TRIỆU LAO ĐỘNG/ NĂM”!

     Đại biểu Quốc hội Nguyễn Thiện Nhân tính toán, tăng tuổi nghỉ hưu lên 65 tuổi sẽ giúp Việt Nam có thêm hơn 5 triệu lao động mỗi năm, bảo đảm nguồn nhân lực cho phát triển bền vững.

Phát biểu tại Quốc hội chiều 30/10, GS Nguyễn Thiện Nhân (đoàn thành phố Hồ Chí Minh) khuyến cáo, Việt Nam hiện đối mặt hai thách thức lớn: nguy cơ mất cân đối quỹ hưu trí trong tương lai và yêu cầu đạt tốc độ tăng trưởng 10% mỗi năm trong 20 năm tới.

Theo ông, đột phá tăng năng suất lao động và đảm bảo ổn định quy mô lao động là hai giải pháp cốt lõi, trong đó tăng tuổi nghỉ hưu là chính sách mang tính chiến lược để bảo đảm nguồn lực lao động và an sinh xã hội lâu dài.

Quỹ hưu trí ra sao khi dân số già hóa nhanh?

GS Nguyễn Thiện Nhân nêu dẫn chứng nhiều quốc gia có tốc độ tăng trưởng cao hàng chục năm nhưng vẫn không bảo đảm mức sống cho người hưu trí.

"Hàn Quốc là ví dụ điển hình. Trải qua 43 năm tăng trưởng bình quân hơn 9%/năm, quỹ hưu trí lớn thứ ba thế giới của nước này vẫn được dự báo sẽ vỡ vào năm 2055. Trung Quốc cũng cảnh báo quỹ hưu trí nhà nước cạn vào năm 2035 khi số người về hưu tăng từ 300 triệu lên 400 triệu", đại biểu cho biết. 

Theo ông, nguyên nhân cốt lõi là mức sinh thấp kéo dài khiến số người lao động giảm, trong khi số người già tăng nhanh.

"Năm 2023, ở Hàn Quốc cứ 3,3 người lao động thì có một người hưu Đến năm 2055, chỉ còn 0,8 người lao động phải nuôi một người hưu ông nói.

Đại biểu thành phố Hồ Chí Minh cho rằng tình hình tương tự đang hình thành ở Việt Nam. Năm 2000, mỗi người hưu được "nuôi" bởi 7 người lao động, đến năm 2025 chỉ còn 4,3 người, năm 2045 là 2,4 người và đến năm 2100 chỉ còn 1,3 người.

GS Nhân tính ra, quy luật của Hàn Quốc, Trung Quốc là sau 37 năm quy mô lao động đạt đỉnh thì quỹ hưu trí mất cân đối. 

Áp dụng phép tính với Việt Nam, rủi ro với quỹ như vậy sẽ xuất hiện khoảng năm 2070. 

Ông cho rằng nếu không cải cách sớm, lương hưu có thể giảm mạnh, như Hàn Quốc - nơi 40% người nhận lương hưu bị xếp vào nhóm nghèo tương đối. Vì vậy, đại biểu kiến nghị trước năm 2030 cần xây dựng một đề án cải cách toàn diện bảo hiểm xã hội để người về hưu vẫn có cuộc sống đàng hoàng, tương xứng với sự phát triển của đất nước.

Thêm 5 triệu lao động/năm là bằng dân số 1 nước

Theo GS Nguyễn Thiện Nhân, mục tiêu tăng trưởng GDP 10%/năm là khả thi nếu năng suất lao động tăng vượt trội và quy mô lao động không suy giảm.

"Giai đoạn 2021-2025, năng suất tăng 5,1% thì lao động phải tăng 1,14%/năm để GDP đạt 6,3%. Nhưng từ năm 2025, quy mô lao động đạt đỉnh và bắt đầu giảm", ông nói. 

Dự báo giai đoạn 2026-2030, lực lượng lao động chỉ tăng 0,7%/năm, trong khi để đạt GDP 10%, cần tăng ít nhất 1,45%. Nếu không có biện pháp bù đắp, tốc độ tăng trưởng thực tế chỉ đạt 7-8%/năm.

"Do đó, cần có đột phá về năng suất lao động thông qua khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và c.h.u.y.ể.n đ.ổ.i s.ố, đồng thời tận dụng hiệu quả nguồn nhân lực hiện có", ông phân tích.

Ngoài ra, nguyên Bí thư Thành ủy thành phố Hồ Chí Minh lập luận, hiện tuổi nghỉ hưu trung bình của Việt Nam là 59 đối với nam và 54 với nữ và đang trong lộ trình tăng dần lên 62 với nam (hoàn thành năm 2028) và 60 với nữ (hoàn thành năm 2035).

"Nếu Việt Nam tiếp tục nâng tuổi nghỉ hưu lên 65 như nhiều nước, lực lượng lao động sẽ thêm được hơn 5 triệu người mỗi năm", ông nói.

Theo tính toán của ông, con số này tương đương dân số của một quốc gia phát triển như Phần Lan, Na Uy hay Đan Mạch. 

Việc tăng tuổi nghỉ hưu có lộ trình trong 10 năm tới sẽ giúp Việt Nam có đủ lao động để đạt mục tiêu tăng trưởng 10%/năm mà không cần phụ thuộc vào dân số trẻ như trước đây.

GS Nhân kiến nghị: "Chúng ta cần sớm có lộ trình tăng tuổi nghỉ hưu trước năm 2035 để tận dụng nguồn lực quý giá này, đồng thời phải có giải pháp nâng mức sinh từ 1,91 lên 2,1 trước năm 2035 để quy mô lao động không giảm và bảo đảm phát triển bền vững về kinh tế, con người và dân tộc"./.
Môi trường ST.

DÂN TA PHẢI BIẾT SỬ TA!

     Theo sử sách nước ta, của Trung Quốc và các giáo sĩ đương thời ghi lại cho biết, vua Quang Trung đã có kế hoạch đánh Gia Định với một lực lượng quân chủ lực huy động đến 30 vạn dự án của chiến dịch như sau:
1. Quy Nhơn, Nguyễn Nhạc tích cực chuẩn bị lực lượng, đóng thêm thuyền chiến phối hợp với quân “Tàu ô” đánh thẳng vào Biên Hoà, Gia Định.

2. Bộ binh từ Phú Xuân theo đường thượng đạo qua Lào, xuống Chân Lạp, phối hợp với quân Chân Lạp, từ phía Tây đánh thẳng vào Sài Gòn và chặn đường biên giới Chân Lạp không cho địch tháo lui.

3. Thuỷ quân từ Phú Xuân thẳng vào Côn Lôn, Hà Tiên, đánh ngược lên Sài Gòn, chặn mọi ngả đường không cho quân Nguyễn Ánh trốn thoát ra các hải đảo hoặc trốn chạy sang Xiêm.

Để chu đáo trong việc chuẩn bị hành quân và cũng để yên lòng dân hai phủ Quảng Ngãi, Quy Nhơn, ngày 28 tháng 8 năm 1792 (tức ngày 10 tháng 7 năm Quang Trung thứ 5), vua Quang Trung có lệnh truyền cho quan lại và quân dân hai phủ có đoạn như sau:
“Bây giờ theo lệnh của Hoàng đại huynh, Trẫm sẽ thân chinh cầm quân theo hai đường thuỷ bộ vào dẹp giặc, Trẫm sẽ đập tan bọn cựu Nguyễn dễ dàng như đập tan một cành củi khô, một thanh gỗ mục. Còn nhân dân hai phủ, các ngươi đừng lo âu đừng sợ giặc, các ngươi hãy để mắt nhìn, để tai nghe xem Trẫm làm gì. Các ngươi sẽ thấy rằng, Trẫm chỉ đánh một trận là Bình Khang, Nha Trang, như mảnh xương tàn của các thây vua Gia Định. Cũng như Phú Yên đã từng là trung tâm chiến trường và suốt từ dải Bình Thuận vào tới Chân Lạp sẽ tức khắc được thu phục.
Như thế để ai nấy đều hiểu rằng Trẫm và Hoàng đại huynh là hai anh em ruột, là cùng chung một dòng máu, Trẫm không bao giờ quên điều đó”.
Tháng 9 năm 1792, thời điểm thắng lợi của cuộc đấu tranh ngoại giao do phái đoàn Vũ Văn Dũng đang có mặt tại cung điện nhà Thanh ở Bắc Kinh và cũng vào lúc Quang Trung ở Phú Xuân, Nguyễn Nhạc ở Quy Nhơn đang ráo riết chuẩn bị triển khai kế hoạch đánh tập đoàn Nguyễn Ánh và bọn can thiệp Pháp ở Gia Định.
Bài hịch của Quang Trung truyền đi, được binh sĩ và nhân dân nô nức chờ đợi. Nhưng chưa đầy 20 ngày sau, ngày 16 tháng 9 năm 1792, sau một cơn bạo bệnh, Quang Trung đã qua đời. Đây là một tổn thất lớn cho sự nghiệp Tây Sơn và cả dân tộc, không gì bù đắp nổi.
Nếu việc đánh Gia Định được triển khai đúng như kế hoạch của vua Quang Trung đã đề ra, chắc tình thế đất nước từ đó và cả sau này có thể lạc quan hơn.
Nhưng Quang Trung đã qua đời! Như một ngôi sao sáng, vụt tắt. Sự nghiệp đánh giặc phải chịu lỡ làng, một hoài bão đấu tranh thống nhất và xây dựng đất nước giàu mạnh phải chịu dở dang. Rồi còn chịu mang tiếng vì có lỗi lầm là đã chọn người kế tục không xứng đáng.
Nhưng hoài bão về đánh giặc, dựng nước của vua Quang Trung còn nóng hổi sinh khí cũng như thực tiễn và kinh nghiệm của nó đối với thời đại chúng ta./.

Yêu nước ST.

TÌM HIỂU GIÚP BẠN: TRIỂN KHAI ĐỢT THI ĐUA LẬP THÀNH TÍCH CHÀO MỪNG ĐẠI HỘI LẦN THỨ XIV CỦA ĐẢNG!

     Đợt thi đua lập thành tích chào mừng Đại hội lần thứ XIV của Đảng được triển khai thực hiện từ tháng 10/2025 đến khi tổ chức thành công Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng.

Phó Thủ tướng Chính phủ Phạm Thị Thanh Trà vừa ký Quyết định số 2437/QĐ-TTg ngày 4/11/2025 của Thủ tướng Chính phủ ban hành Kế hoạch triển khai Đợt thi đua lập thành tích chào mừng Đại hội lần thứ XIV của Đảng; tăng tốc, bứt phá hoàn thành thắng lợi các mục tiêu, nhiệm vụ Nghị quyết Đại hội lần thứ XIII của Đảng.

Mục đích của Kế hoạch là phát huy sức mạnh của cả hệ thống chính trị tạo khí thế thi đua sôi nổi, khơi dậy tinh thần đoàn kết, khát vọng phát triển mạnh mẽ của toàn dân tộc, lòng yêu nước và sức sáng tạo của mỗi tập thể, cá nhân trên tất cả các lĩnh vực, quyết tâm phấn đấu hoàn thành toàn diện các nhiệm vụ kinh tế-xã hội năm 2025 và giai đoạn 2021-2025, lập thành tích chào mừng Đại hội Đảng các cấp và Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng.

Đợt thi đua được triển khai sâu rộng, đồng bộ, xuyên suốt từ trung ương đến cơ sở, bảo đảm thiết thực, hiệu quả, với nội dung, hình thức phong phú gắn với thực hiện các Nghị quyết của Trung ương về cải cách hành chính, xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền, phát triển nguồn nhân lực, chuyển đổi số quốc gia.

Đợt thi đua được triển khai thực hiện từ tháng 10/2025 đến khi tổ chức thành công Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng.

Thông qua Đợt thi đua, kịp thời biểu dương, tôn vinh, khen thưởng, nhân rộng các điển hình tiên tiến, các tập thể, cá nhân có thành tích xuất sắc tiêu biểu trong thực hiện các nhiệm vụ phát triển kinh tế, xã hội.

Nội dung đợt thi đua
Để toàn dân đồng lòng, thi đua hành động, thực hiện thắng lợi các nhiệm vụ, hướng tới Đại hội XIV của Đảng thành công, các bộ, ngành, địa phương, tổ chức, doanh nghiệp và mọi người dân triển khai Đợt thi đua với tinh thần "quyết tâm cao, hành động quyết liệt, hiệu quả thiết thực," tập trung thi đua thực hiện các nội dung chủ yếu sau:

Thi đua thực hiện thắng lợi nhiệm vụ phát triển kinh tế-xã hội năm 2025 và Kế hoạch 5 năm (2021-2025) theo Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng, các đề án, chương trình được Chính phủ giao theo Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng và các Nghị quyết của Quốc hội.

Thi đua thực hiện tốt công tác chuẩn bị và tổ chức thành công Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng bảo đảm đúng quy định.

Thi đua xây dựng Đảng, xây dựng chính quyền trong sạch, vững mạnh, đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh, thực hiện tốt công tác cán bộ, chống chủ nghĩa cá nhân, tiêu cực, tăng cường phối hợp giữa các cấp chính quyền với Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức chính trị-xã hội.

Thi đua đẩy mạnh xây dựng, hoàn thiện đồng bộ về thể chế phát triển nhanh, bền vững đất nước, phát huy mọi động lực, đột phá mạnh mẽ khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia, thu hút, trọng dụng nhân tài, đẩy mạnh phát triển lực lượng sản xuất mới.

Thi đua hoàn thành, hoàn thành vượt mức các công trình phát triển kết cấu hạ tầng, kinh tế vùng, kinh tế biển, lấy các đô thị làm động lực phát triển vùng và đẩy mạnh xây dựng nông thôn mới.

Tiêu chí thi đua
Kế hoạch đề ra các tiêu chí thi đua cụ thể như sau:

Đối với các bộ, ban, ngành trung ương

Hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ chính trị được giao; đẩy mạnh xây dựng, hoàn thiện đồng bộ thể chế phát triển nhanh, bền vững đất nước, tháo gỡ kịp thời dứt điểm các điểm nghẽn, nút thắt, khơi thông và giải phóng sức sản xuất, mọi nguồn lực, đẩy mạnh phát triển lực lượng sản xuất mới.

Đẩy mạnh cải cách hành chính, chuyển đổi số; lao động sáng tạo, hoàn thành đúng tiến độ hoặc vượt kế hoạch, đảm bảo chất lượng các công trình, dự án, nhất là các dự án quan trọng quốc gia, các dự án có sức ảnh hưởng, hạ tầng số, các công trình an sinh xã hội ở vùng sâu, vùng xa, vùng đặc biệt khó khăn để tạo sự đột phá, đảm bảo quốc phòng, an ninh.

Đối với các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương

Hoàn thành vượt mức các chỉ tiêu phát triển kinh tế-xã hội năm 2025, bảo đảm ổn định chính trị, giữ vững quốc phòng, an ninh, trật tự an toàn xã hội.

Tổ chức tốt công tác tuyên truyền, cổ vũ cho Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng.

Cải cách hành chính, nâng cao hiệu quả quản trị, thi đua xây dựng chính quyền điện tử, chính quyền số, tăng cường phục vụ người dân và doanh nghiệp.

Xây dựng Đảng, chính quyền và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh, tăng cường kỷ luật, kỷ cương, đề cao trách nhiệm người đứng đầu trong điều hành, tổ chức thực hiện, làm tốt công tác dân vận, đối thoại với nhân dân, giải quyết hiệu quả đơn thư, khiếu nại, tố cáo.

Đối với Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức chính trị-xã hội

Tổ chức sâu rộng các phong trào thi đua yêu nước, các cuộc vận động đến đông đảo các tầng lớp Nhân dân, phát huy tinh thần thi đua sáng tạo, vận động mọi nguồn lực xã hội tạo nên sức mạnh góp phần thực hiện thắng lợi các mục tiêu, nhiệm vụ phát triển kinh tế-xã hội, đảm bảo quốc phòng an ninh, xây dựng hệ thống chính trị trong sạch vững mạnh.

Phát huy mạnh mẽ vai trò của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị-xã hội trong việc thực hành dân chủ và phát huy quyền dân chủ của Nhân dân trong đời sống xã hội. Thực hiện tốt chức năng giám sát và phản biện xã hội, đặc biệt là giám sát quá trình vận hành bộ máy chính quyền theo mô hình chính quyền địa phương hai cấp; giám sát thực hiện các quy định của Đảng, pháp luật của Nhà nước về phòng chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực.

Đối với các doanh nghiệp

Sản xuất kinh doanh hiệu quả, bền vững, hợp pháp. Giải quyết nhiều việc làm, nâng cao thu nhập cho người lao động, đồng hành cùng đất nước thực hiện thắng lợi các chỉ tiêu Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng, thi đua lập thành tích chào mừng Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng.

Có nhiều sáng chế, phát minh, sáng kiến, cải tiến kỹ thuật, biện pháp hợp lý hóa sản xuất, ứng dụng khoa học, công nghệ vào sản xuất kinh doanh, sử dụng năng lượng hiệu quả, sản xuất xanh-sạch-tiết kiệm.

Nội bộ đoàn kết. Thực hiện tốt trách nhiệm xã hội, tham gia tích cực các hoạt động vì cộng đồng, đóng góp tích cực trong các phong trào thi đua do Thủ tướng Chính phủ phát động và các phong trào thi đua của bộ, ngành, địa phương.

Đối với cá nhân

Cán bộ, công chức, viên chức gương mẫu chấp hành tốt chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, có sáng kiến, giải pháp sáng tạo trong việc xây dựng, ban hành hoặc trình cấp có thẩm quyền ban hành, tổ chức thực hiện, kiểm tra, hướng dẫn việc thực hiện cơ chế, chính sách, quy định, góp phần thực hiện thắng lợi các nhiệm vụ đã đề ra tại Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng với phương châm "đổi mới tư duy, quyết tâm hành động, gương mẫu đi đầu, tận tâm cống hiến, kiến tạo phát triển, vì dân phục vụ."

Mọi người dân tiếp tục nêu cao lòng yêu nước, khát vọng cống hiến, đoàn kết một lòng, tin tưởng tuyệt đối vào sự lãnh đạo của Đảng, ra sức thi đua lao động sản xuất, giữ gìn an ninh, trật tự xã hội và bảo vệ môi trường, bảo vệ độc lập chủ quyền đất nước./.
Yêu nước ST.

TÌM HIỂU GIÚP BẠN: THỦ TƯỚNG PHẠM MINH CHÍNH: THỂ CHẾ PHẢI KIẾN TẠO PHÁT TRIỂN, LẤY THỰC TIỄN LÀM THƯỚC ĐO!

      “Xây dựng pháp luật thì vừa phải bám sát thực tiễn, vừa phải có hiệu quả. Thể chế phải kiến tạo phát triển, lấy thực tiễn làm thước đo. Nhưng làm sao phát huy được sự chủ động, sự tích cực và tinh thần dám chịu trách nhiệm của những người thực thi là rất quan trọng”, Thủ tướng Phạm Minh Chính nhấn mạnh.

Tại phiên thảo luận chiều nay, 4/11 của Tổ 11 gồm Đoàn ĐBQH TP. Cần Thơ và Đoàn ĐBQH tỉnh Điện Biên, Thủ tướng Phạm Minh Chính đánh giá cao việc Quốc hội thảo luận tổ về dự thảo Văn kiện trình Đại hội lần thứ XIV của Đảng; cho rằng, cách thức này rất phù hợp và rất hiệu quả, tạo điều kiện để nhiều đại biểu Quốc hội đóng góp ý kiến, đồng thời nâng cao chất lượng đóng góp ý kiến.

"Nâng tầm", "làm giàu nội hàm", "tăng hiệu quả" 3 đột phá chiến lược

Thủ tướng Phạm Minh Chính cũng đã trao đổi, làm rõ thêm một số vấn đề được các đại biểu Quốc hội Tổ 11 đặt ra.

Trong đó, về đại đoàn kết toàn dân tộc, Thủ tướng nêu rõ, đây là điểm tựa hết sức quan trọng của dân tộc ta, có đoàn kết thì mới có sức mạnh. Nhấn mạnh lại lời căn dặn của Bác Hồ: "Đoàn kết, đoàn kết, đại đoàn kết, thành công, thành công, đại thành công", Thủ tướng chỉ rõ, tinh thần đoàn kết phải được thể hiện trên mọi phương diện, từ đoàn kết toàn Đảng, toàn dân, đến đoàn kết quốc tế; khẳng định, đoàn kết là nền tảng cho hợp tác và đối thoại, củng cố niềm tin.

Về các đột phá chiến lược (thể chế, hạ tầng, nguồn nhân lực), Thủ tướng khẳng định ba đột phá này đã được đặt ra từ Đại hội lần thứ XI nhưng đến nay "vẫn có giá trị" và cần tiếp tục "nâng tầm", "làm giàu nội hàm", "tăng hiệu quả" để phát triển đất nước.

Trong đó, về hạ tầng, Thủ tướng cho biết, nhiệm kỳ này, tổng đầu tư cho phát triển đã tăng 55% so với nhiệm kỳ trước. Nhất trí với ý kiến của các đại biểu Tổ 11 về việc phải tăng đầu tư cho các hạ tầng chiến lược, Thủ tướng nêu rõ, hiện nay, hạ tầng giao thông (đường cao tốc, đường sắt cao tốc), hạ tầng năng lượng, hạ tầng thích ứng với biến đổi khí hậu, hạ tầng y tế, giáo dục, văn hóa... đều đang được triển khai rất tích cực.

Theo Thủ tướng, việc mạnh dạn phân cấp, giao các địa phương làm chủ đầu tư các dự án cao tốc là một điểm mới của nhiệm kỳ này và đã chứng minh hiệu quả vượt trội. Các địa phương, dù ban đầu còn e ngại, nay đã rất tự tin và triển khai "rất nhanh", thậm chí nhanh hơn cả phần do bộ chủ quản thực hiện.

Thủ tướng cũng cho biết, phát huy kinh nghiệm trong nhiệm kỳ này, tới đây, trong đầu tư hạ tầng thì Trung ương làm gì, địa phương làm gì phải xác định rất rõ và tổ chức thực hiện theo đúng tinh thần: Đảng lãnh đạo, Nhà nước kiến tạo, doanh nghiệp tiên phong, công tư đồng hành, đất nước giàu mạnh, nhân dân hạnh phúc. Phải tăng cường phân cấp, phân quyền đi đôi với phân bổ nguồn lực, tăng cường giám sát kiểm tra, nâng cao năng lực thực thi của từng cấp.

Về đột phá thể chế, Thủ tướng bày tỏ hoàn toàn nhất trí với ý kiến của các đại biểu Quốc hội Tổ 11. Theo đó, phải tiếp tục thay đổi căn bản tư duy xây dựng pháp luật, chuyển từ tư duy chỉ tập trung vào quản lý sang tư duy kiến tạo phát triển. Pháp luật phải vừa là động lực, vừa là nguồn lực, là sức cạnh tranh của nền kinh tế; phải đi từ thực tiễn, xuất phát từ thực tiễn, bám sát thực tiễn, tôn trọng thực tiễn và lấy thực tiễn làm thước đo.

Nêu ví dụ những ách tắc trong triển khai các dự án đầu tư vừa qua, Thủ tướng cho biết, để tháo gỡ vướng mắc, hiện nay, chúng ta quyết định vừa phải có đấu thầu, vừa phải có chỉ định thầu. Nhưng đấu thầu hay chỉ định thầu thì vấn đề cuối cùng "cũng là do cán bộ thôi". Anh có dám chịu trách nhiệm để chỉ định thầu cho kịp thời, cho hiệu quả không? Như lúc mua vaccine Covid - 19 là điển hình, tất cả rủi ro người mua chịu hết, nếu mình không chịu trách nhiệm thì ai chịu trách nhiệm?

"Nói tóm lại, vấn đề xây dựng pháp luật thì vừa phải bám sát thực tiễn, vừa phải có hiệu quả. Nhưng làm sao phát huy được sự chủ động, sự tích cực và tinh thần dám chịu trách nhiệm của những người thực thi là rất quan trọng", Thủ tướng khẳng định.

Phát triển nhanh, bền vững, không để ai bị bỏ lại phía sau

Tại phiên thảo luận, Thủ tướng Phạm Minh Chính cũng khẳng định lại quan điểm xuyên suốt của Đảng và Nhà nước ta: phát triển nhanh nhưng phải bền vững và bao trùm.

"Bền vững ở đây bao gồm cả vấn đề liên quan đến con người, liên quan đến môi trường, liên quan đến an sinh xã hội. Quan điểm của chúng ta là không hy sinh công bằng, tiến bộ xã hội, không hy sinh an sinh xã hội, không hy sinh môi trường để chạy theo tăng trưởng đơn thuần", Thủ tướng nêu rõ.

Minh chứng là trong các nhiệm kỳ vừa qua, chúng ta đầu tư cho an sinh xã hội rất lớn. Nhiệm kỳ này, đầu tư cho an sinh xã hội là 1,1 triệu tỷ đồng, chiếm khoảng 17% tổng GDP. Việt Nam đã thực hiện hiệu quả chủ trương "không để ai bị bỏ lại phía sau", hoàn thành các mục tiêu thiên niên kỷ của Liên Hợp Quốc trước 10 năm, đạt được những thành tích ấn tượng về xóa đói giảm nghèo, xóa nhà tạm, nhà dột nát, thực hiện các chương trình mục tiêu quốc gia về phát triển kinh tế - xã hội cho đồng bào vùng sâu, vùng xa, miền núi, biên giới, hải đảo...

Thủ tướng cũng nhấn mạnh tầm quan trọng của văn hóa, coi đây là "sức mạnh nội sinh"; khẳng định quan điểm "văn hóa soi đường cho quốc dân đi. Văn hóa còn thì dân tộc còn, văn hóa mất thì dân tộc mất."

Về mục tiêu tăng trưởng kinh tế, Thủ tướng cho rằng việc đặt mục tiêu cao (8% trở lên) là một áp lực lớn, nhưng cần thiết để đạt được các mục tiêu chiến lược; đồng thời bày tỏ niềm tin vào bản lĩnh của dân tộc: "càng áp lực thì càng phải nỗ lực. càng khó khăn thì lại càng nảy ra sáng kiến".

Về thích ứng với biến đổi khí hậu, nhất trí với đánh giá và các đề xuất của đại biểu Quốc hội Tổ 11, Thủ tướng chỉ rõ, thế giới cũng xác định cần phải đoàn kết, chung tay và đề cao chủ nghĩa đa phương, hợp tác quốc tế trong lĩnh vực này.

Và chúng ta đang cần gì? Theo Thủ tướng, chúng ta cần thứ nhất là khung pháp lý bảo vệ môi trường, thích ứng với biến đổi khí hậu một cách bài bản. Thứ hai là nguồn lực thì phải thúc đẩy hợp tác công tư, huy động nhà nước và nhân dân cùng làm, huy động nguồn lực hỗ trợ của quốc tế. Thứ ba là công nghệ, nhiều lĩnh vực để thích ứng được thì phải có công nghệ mới làm được, ví dụ chống sạt lở thì phải có đánh giá tác động, xây dựng chương trình, kế hoạch... Thứ tư là cách thức quản lý.

"Lần này, chúng ta đưa biến đổi khí hậu, bảo vệ môi trường vào một trong những nhiệm vụ trung tâm. Trước đây chúng ta xác định nhiệm vụ trung tâm là kinh tế - xã hội, nhưng bây giờ là môi trường nữa", Thủ tướng nêu rõ./.

Yêu nước ST.

TÌM HIỂU GIÚP BẠN: ĐẠI TƯỚNG PHAN VĂN GIANG CHỦ TRÌ HỘI NGHỊ THƯỜNG VỤ QUÂN ỦY TRUNG ƯƠNG!

     Chiều 4-11, tại Hà Nội, Thường vụ Quân ủy Trung ương tổ chức hội nghị cho ý kiến đối với một số nội dung quan trọng. Đại tướng Phan Văn Giang, Ủy viên Bộ Chính trị, Phó bí thư Quân ủy Trung ương, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng chủ trì hội nghị.

Dự hội nghị có các đồng chí: Đại tướng Nguyễn Trọng Nghĩa, Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Trung ương Đảng, Ủy viên Thường vụ Quân ủy Trung ương, Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị Quân đội nhân dân Việt Nam; Đại tướng Trịnh Văn Quyết, Bí thư Trung ương Đảng, Trưởng ban Tuyên giáo và Dân vận Trung ương; Đại tướng Nguyễn Tân Cương, Ủy viên Trung ương Đảng, Ủy viên Thường vụ Quân ủy Trung ương, Tổng Tham mưu trưởng Quân đội nhân dân Việt Nam, Thứ trưởng Bộ Quốc phòng.

Cùng dự hội nghị có các đồng chí Ủy viên Trung ương Đảng, Thứ trưởng Bộ Quốc phòng: Thượng tướng Võ Minh Lương, Ủy viên Thường vụ Quân ủy Trung ương; Thượng tướng Hoàng Xuân Chiến, Ủy viên Thường vụ Quân ủy Trung ương; Thượng tướng Vũ Hải Sản.

Tham dự hội nghị có: Thượng tướng Phùng Sĩ Tấn, Phó tổng Tham mưu trưởng Quân đội nhân dân Việt Nam; Thượng tướng Lê Quang Minh, Phó chủ nhiệm Tổng cục Chính trị Quân đội nhân dân Việt Nam; Trung tướng Đỗ Xuân Tụng, Phó chủ nhiệm Tổng cục Chính trị Quân đội nhân dân Việt Nam; lãnh đạo, chỉ huy một số tổng cục và cơ quan chức năng Bộ Quốc phòng, Tổng cục Chính trị Quân đội nhân dân Việt Nam, Bộ Tổng Tham mưu Quân đội nhân dân Việt Nam.

Tại hội nghị, đại diện các cơ quan, đơn vị thuộc Tổng cục Chính trị báo cáo nội dung điều chỉnh quy hoạch chi tiết Bảo tàng Lịch sử quân sự Việt Nam giai đoạn 2, trong đó tập trung vào việc thiết kế không gian trưng bày ngoài trời và các hạng mục công trình phụ trợ phục vụ đón, tiếp khách đến tham quan bảo tàng. Tiếp đó, đại diện cơ quan chức năng Bộ Tổng Tham mưu báo cáo quy hoạch phân khu chức năng và tổng thể mặt bằng tổ chức không gian kiến trúc cảnh quan doanh trại Sở chỉ huy Bộ Quốc phòng khu vực phía Nam.

Qua nghe báo cáo của đại diện các cơ quan, đơn vị, sau khi thống nhất ý kiến của các đại biểu dự hội nghị, thay mặt Thường vụ Quân ủy Trung ương, Đại tướng Phan Văn Giang phát biểu kết luận các nội dung.

Theo đó, đối với việc điều chỉnh quy hoạch chi tiết Bảo tàng Lịch sử Quân sự Việt Nam, Thường vụ Quân ủy Trung ương yêu cầu các cơ quan, đơn vị liên quan trong quá trình xây dựng, điều chỉnh quy hoạch chi tiết, cần tiếp tục tham khảo ý kiến của các chuyên gia uy tín về lĩnh vực lịch sử, kiến trúc, điêu khắc. Đồng thời, tham khảo, học hỏi kinh nghiệm, mô hình, cách làm của các bảo tàng lịch sử quân sự lớn của một số nước trên thế giới, nhất là các nước có công trình bảo tàng nổi tiếng.

Đại tướng Phan Văn Giang nhấn mạnh, theo quan điểm của Thường vụ Quân ủy Trung ương, Bảo tàng Lịch sử quân sự không chỉ là nơi tham quan thuần túy, mà còn là điểm học tập lịch sử quân sự, giúp học viên trong Quân đội và học sinh, sinh viên bên ngoài đến học tập, nghiên cứu lịch sử. Vì vậy, quá trình quy hoạch, thiết kế, trưng bày, phải bảo đảm hội tụ đầy đủ tri thức của các ngành, lĩnh vực, để công trình vừa có tính khoa học, hiện đại, vừa mang giá trị lịch sử, văn hóa, giáo dục và thẩm mỹ đặc sắc.

Cùng với đó, quy hoạch chi tiết cần được điều chỉnh phù hợp với quy hoạch khu vực đã được phê duyệt, thống nhất với cơ quan chức năng về các thông tin, chỉ tiêu quy hoạch và thỏa thuận đấu nối hạ tầng kỹ thuật; tuân thủ các tiêu chuẩn, quy chuẩn của Nhà nước, Bộ Quốc phòng.

Đồng thời, khai thác hiệu quả điều kiện tự nhiên, vị trí khu đất, đưa ra giải pháp kiến trúc phù hợp, tạo sự hài hòa với cảnh quan xung quanh; giải pháp hạ tầng kỹ thuật cần chú trọng kết nối đồng bộ với khu vực và các dự án đã triển khai trên diện tích đất.

Về quy hoạch phân khu chức năng và tổng thể mặt bằng tổ chức không gian kiến trúc cảnh quan doanh trại Sở chỉ huy Bộ Quốc phòng khu vực phía Nam, trên cơ sở ý kiến thống nhất của Thường vụ Quân ủy Trung ương, Đại tướng Phan Văn Giang yêu cầu các cơ quan chức năng nghiên cứu kỹ lưỡng đặc điểm, hình dạng khu đất để tổ chức, bố trí các công trình trên đất phù hợp, bảo đảm khai thác hiệu quả diện tích đất cho phép để xây dựng công trình nhà khách, nhà chỉ huy, nhà công vụ và các công trình phụ trợ theo hướng liên hợp, hiện đại, đồng bộ, chất lượng, tiện nghi, phục vụ tốt công tác đón, tiếp khách và nhu cầu làm việc, ăn nghỉ, sinh hoạt của cán bộ, nhân viên cơ quan, đơn vị.

Ngoài các nội dung trên, tại hội nghị, Thường vụ Quân ủy Trung ương đã cho ý kiến đối với một số nội dung và thực hiện nội dung quan trọng khác liên quan đến công tác cán bộ./.


Yêu nước ST.

TÌM HIỂU GIÚP BẠN: PHÁT BIỂU CỦA TỔNG BÍ THƯ TÔ LÂM TẠI QUỐC HỘI VỀ DỰ THẢO VĂN KIỆN ĐẠI HỘI XIV CỦA ĐẢNG!

     Chiều nay 4/11, Tổng Bí thư Tô Lâm đã có phát biểu, trao đổi thông tin tại hội trường Quốc hội về một số điểm mới và những định hướng quan trọng trong dự thảo Văn kiện trình Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng. Xin trân trọng giới thiệu toàn văn phát biểu của Tổng Bí thư Tô Lâm.

Thưa các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước

Thưa các đồng chí Lãnh đạo Quốc hội và các Cơ quan Trung ương,

Thưa các Đại biểu Quốc hội,

Theo chương trình làm việc, hôm nay, Quốc hội dành một buổi để các đại biểu Quốc hội thực hiện một trọng trách rất đặc biệt, tiếp tục đóng góp ý kiến với dự thảo các Văn kiện trình Đại hội XIV của Đảng. Đây là khoảng thời gian để những người đang trực tiếp tham gia xây dựng hệ thống pháp luật của đất nước góp ý, hoàn thiện nội dung các văn kiện sẽ trình Đại hội XIV của Đảng, những văn kiện định hướng cho con đường phát triển của dân tộc ta trong nhiều năm tới.

Tôi cho rằng: tiếng nói của các đại biểu Quốc hội hôm nay không chỉ là ý kiến góp ý cá nhân; đó là tiếng nói của cử tri mà các Đại biểu là đại diện; là tiếng nói của thực tiễn đời sống, kinh tế - xã hội, quốc phòng - an ninh; là tiếng nói của những người làm luật.

Các Đại biểu đã tham gia góp ý từ cấp chi bộ, đảng bộ cơ sở, đảng bộ bộ ngành, tỉnh, thành phố… hôm nay, với vị thế là đại biểu Quốc hội, cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất, cơ quan làm luật, các Đại biểu tiếp tục góp ý, ở một tầm cao hơn, với kinh nghiệm sâu hơn, bằng trách nhiệm lớn hơn. Tôi mong từng ý kiến đóng góp đều đi thẳng vào những vấn đề căn cốt nhất của thể chế và phương thức tổ chức thực thi quyền lực nhà nước.

Tôi xin gợi mở một số nhóm nội dung để chúng ta cùng trao đổi, đào sâu, làm rõ thêm.

Thứ nhất, góp ý về thể chế và pháp luật. Chúng ta ban hành luật là để quản lý xã hội bằng pháp luật, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân. Nhưng trong thực tiễn, vẫn còn tình trạng "luật thì đúng mà làm thì khó", "trên nghị trường thì thông, xuống cơ sở thì vướng".

Tôi đề nghị các Đại biểu tập trung nói thật rõ: vì sao có những đạo luật, nghị định, thông tư ban hành rất công phu, rất dày, nhưng cán bộ cơ sở không dám làm; doanh nghiệp loay hoay, xoay sở; người dân lúng túng, xuôi ngược. Chỗ nào chồng chéo, chỗ nào cách hiểu khác nhau giữa các bộ, ngành, chỗ nào trao quyền mà lại buộc người ta chịu trách nhiệm vượt quá khả năng kiểm soát của họ.

Chúng ta phải hướng tới hệ thống pháp luật "dễ nhớ, dễ hiểu, dễ thực hiện". Câu chữ trong luật phải ngắn gọn, rõ nghĩa, không đánh đố, không để lại khoảng mờ cho sự lạm dụng hay né tránh. Chính sách ban hành ra phải đo được tác động, kiểm soát được rủi ro, đặc biệt là phải tạo thuận lợi chứ không tạo thêm thủ tục. Một đạo luật tốt không phải là đạo luật viết hay, mà là đạo luật đi được vào cuộc sống.

Các Đại biểu cần chỉ rõ: để luật thực sự đi vào cuộc sống thì trong văn kiện Đại hội XIV cần bổ sung, điều chỉnh những định hướng gì. Chúng ta phải nói thẳng để sửa thẳng.

Thứ hai, về xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam.

Nhà nước pháp quyền không chỉ là có hệ thống luật pháp đầy đủ. Nhà nước pháp quyền trước hết là sự thượng tôn Hiến pháp và pháp luật, là sự kiểm soát quyền lực, là công khai, minh bạch, là giải trình trước nhân dân.

Tôi rất mong ý kiến của các Đại biểu tập trung vào câu hỏi: chúng ta đã làm đủ chưa để mỗi quyền lực đều được ràng buộc trong khuôn khổ pháp luật, vận hành đúng thẩm quyền, đúng mục đích, đúng lợi ích của nhân dân chưa? Còn khoảng trống nào khiến người dân thấy "muốn thì được, không muốn thì thôi" ? Còn tình trạng nào mà người dân phải "xin" những thứ lẽ ra họ được "hưởng"? nếu chưa có câu trả lời đầy đủ, đó chính là chỗ Nhà nước pháp quyền chưa hoàn chỉnh.

Xây dựng Nhà nước pháp quyền của chúng ta là xây dựng một nhà nước mạnh nhưng không lạm quyền; có kỷ cương nhưng không xa dân; hành động quyết liệt nhưng vẫn nhân văn, thuyết phục, có đối thoại. Những định hướng như thế cần được làm thật rõ trong văn kiện Đại hội XIV.

Thứ ba, về phân cấp, phân quyền và tổ chức bộ máy.

Chúng ta đã bàn nhiều năm về phân cấp, phân quyền; đã có nhiều nghị quyết, nhiều đề án tinh gọn bộ máy, sắp xếp lại đầu mối, đổi mới mô hình chính quyền địa phương. Bây giờ cần phải trả lời cho được hai câu hỏi: (1) phân cấp những gì, cho ai, đi liền với điều kiện gì; và (2) cơ chế chịu trách nhiệm, kiểm tra, giám sát sẽ như thế nào.

Tôi đề nghị các Đại biểu góp ý thẳng vào nội dung này. Nơi nào cấp dưới có thể quyết nhanh, sát dân hơn cấp trên thì phải mạnh dạn giao quyền. Nhưng giao quyền không phải là "đẩy việc xuống", "đẩy rủi ro xuống". Giao quyền phải đi cùng nguồn lực, nhân lực, công cụ, và cả vùng an toàn pháp lý để cán bộ dám làm, dám chịu trách nhiệm vì lợi ích chung chứ không phải chịu trách nhiệm cá nhân một cách oan uổng.

Liên quan tới mô hình chính quyền địa phương hai cấp, chúng ta đang từng bước sắp xếp lại, hướng tới bộ máy tinh gọn, hiệu lực, hiệu quả. Đây là nội dung rất mới, rất quan trọng, rất nhạy cảm, liên quan trực tiếp đến đời sống người dân và cán bộ cơ sở. Tôi mong các đại biểu cho ý kiến cụ thể: mô hình hai cấp phải thiết kế thế nào để dân không bị xa chính quyền, không bị đứt gãy dịch vụ công? Đừng để tuyên bố tinh gọn bộ máy mà sinh thêm tầng nấc xin- cho ngoài thực tế. Điều quan trọng nữa là chính quyền cơ sở phải có quyền gì, phải có nguồn lực nào cho nhiệm vụ kiến tạo phát triển ở cơ sở. Thêm những gì cho hành lang pháp lý cho nhiệm vụ này.

Cùng với đó là mối quan hệ giữa ba cấp chính quyền: trung ương, tỉnh/thành phố, cơ sở. Ba cấp phải là một chỉnh thể vận hành thông suốt, chia sẻ trách nhiệm và hỗ trợ nhau. Tuyệt đối không phải ba lớp "chuyền trách nhiệm cho nhau" để nhân dân chạy vòng quanh. Các đồng chí là đại biểu Quốc hội, đi cơ sở rất nhiều, xin góp ý thật kỹ cho những chỗ này.

Thứ tư, về mối quan hệ gắn bó hữu cơ giữa Đảng, Nhà nước, Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể và nhân dân.

Chúng ta khẳng định vai trò lãnh đạo của Đảng là nhân tố quyết định mọi thắng lợi của Cách mạng Việt Nam. Nhưng lãnh đạo thế nào? Lãnh đạo bằng đường lối đúng, bằng nêu gương trong sạch, bằng tổ chức thực hiện hiệu quả, bằng xây dựng niềm tin nơi dân- hay bằng mệnh lệnh hành chính? Câu trả lời này phải rõ, phải minh bạch, phải thuyết phục nhân dân.

Tôi mong các Đại biểu góp ý thêm: cơ chế nào để Đảng lãnh đạo tuyệt đối, toàn diện nhưng không làm thay, không bao biện, không buông lỏng; Chính phủ quản lý, điều hành theo pháp luật, dám chịu trách nhiệm cá nhân; Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể chính trị- xã hội thực sự trở thành cầu nối tin cậy giữa Đảng, Nhà nước với nhân dân. Người dân không chỉ là đối tượng thụ hưởng mà là chủ thể tham gia, giám sát, phản biện, đồng hành.

Nếu nói "lấy dân làm trung tâm", thì phải thiết kế cơ chế để dân có tiếng nói thực chất, có quyền giám sát thực chất, có cơ hội tham gia thực chất vào các vấn đề.

Thứ năm, về vai trò lãnh đạo, cầm quyền của Đảng trong hệ thống pháp luật và trong điều hành thực tiễn.

Đảng ta là Đảng cầm quyền. Cầm quyền tức là gánh trách nhiệm trước dân về sự phát triển của đất nước, về cuộc sống hàng ngày của nhân dân. Cầm quyền không chỉ là đưa ra đường lối, mà còn là tổ chức thực hiện, kiểm tra thực hiện, chịu trách nhiệm về kết quả.

Vì vậy, các văn kiện trình Đại hội XIV không thể chỉ nói "tăng cường sự lãnh đạo của Đảng" theo cách chung chung. Chúng ta phải làm rõ hơn: Đảng lãnh đạo để bảo đảm mọi chính sách, mọi đạo luật đều thực sự phục vụ nhân dân, phát triển đất nước, giữ vững độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ, giữ ổn định chính trị-xã hội; giữ gìn khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Đảng lãnh đạo để chống tư duy cục bộ ngành, cục bộ địa phương, lợi ích nhóm, tiêu cực, tham nhũng, lãng phí. Đảng lãnh đạo để bảo vệ người dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm vì lợi ích chung.

Tôi muốn các Đại biểu góp ý xem trong văn kiện đã nêu đủ những điều này chưa, đã rõ chưa, đã chạm đến những điểm yếu còn tồn tại chưa.

Thứ sáu, về tinh thần đổi mới tư duy, đổi mới cách làm, đổi mới quản trị quốc gia theo phương châm kiến tạo và vì dân.

Thế giới thay đổi rất nhanh. Thực tiễn trong nước cũng thay đổi rất nhanh. Nếu tư duy của chúng ta chậm hơn thực tiễn thì văn kiện sẽ lạc hậu ngay, thậm chí ngay khi vừa thông qua. Cho nên, tôi đề nghị các Đại biểu đọc văn kiện với tinh thần: có điểm nào vẫn còn tư duy cũ, cách nói cũ, cách làm cũ? Có điểm nào chúng ta còn giữ thói quen quản lý kiểu xin- cho, trong khi lẽ ra Nhà nước phải đóng vai trò kiến tạo, phục vụ người dân và doanh nghiệp?

Chúng ta phải khẳng định rõ hơn mô hình quản trị quốc gia trong giai đoạn tới: quản trị dựa trên pháp luật minh bạch, dữ liệu tin cậy, hạ tầng số hiện đại, bộ máy tinh gọn, cán bộ liêm chính, kỷ cương đi đôi với phục vụ. Quản trị như vậy là quản trị kiến tạo phát triển, không phải quản trị xin-cho.

Tôi đề nghị các Đại biểu đóng góp bằng những ví dụ cụ thể từ ngành, địa phương, lĩnh vực mình phụ trách: chỗ nào còn thủ tục rườm rà làm doanh nghiệp nản lòng; chỗ nào người dân bức xúc vì đi lại nhiều lần mà không giải quyết được việc; chỗ nào còn "chạy cơ chế". Chúng ta nêu thẳng, không né tránh. Có nhìn thẳng thì mới sửa được những tồn tại, hạn chế đó.

Thứ bảy, về những điểm mới, điểm đột phá.

Tiểu ban Văn kiện đã nêu 18 điểm mới, những định hướng được coi là đột phá, thể hiện tinh thần dám đổi mới, dám chuyển đổi mô hình phát triển, dám tổ chức lại bộ máy và phương thức vận hành. Tôi không nhắc lại từng điểm ở đây. Tôi chỉ đề nghị các Đại biểu giúp trả lời hai câu hỏi rất quan trọng:

Câu hỏi thứ nhất, 18 điểm mới ấy đã đủ tầm chưa? Có điểm nào còn đang ở mức "chủ trương", "định hướng", "sẽ nghiên cứu", trong khi xã hội đang đòi hỏi câu trả lời cụ thể, lộ trình rõ ràng, trách nhiệm rõ người?

Câu hỏi thứ hai, theo các Đại biểu, những người sát dân, hiểu đời sống thực tế, hiểu tâm tư cử tri thì còn những vấn đề nào chưa được gọi tên đúng mức trong văn kiện? Còn nút thắt nào nếu không tháo bây giờ thì 5 năm tới chúng ta sẽ phải trả giá đắt hơn? Xin nói thẳng, nói hết, nói rõ những điểm đó, phát hiện đó.

Văn kiện Đại hội là văn kiện gốc. Chúng ta làm rõ được ngay từ đây thì sau này quá trình thể chế hóa, xây dựng luật, tổ chức thi hành sẽ thuận lợi hơn, thống nhất hơn, đỡ lúng túng hơn. Ngược lại, nếu văn kiện còn chung chung, chưa hoàn thiện, thì khi đưa vào luật sẽ sinh ra cách hiểu khác nhau, cách làm khác nhau, thậm chí "vận dụng" theo cách hiểu của cá nhân. Như vậy người chịu thiệt nhất chính là nhân dân.

Thưa các đồng chí,

Tôi rất mong buổi thảo luận hôm nay và các vòng góp ý tiếp theo, sẽ thật sự là những cuộc thảo luận thẳng thắn, trách nhiệm, xây dựng. Điều Đảng mong muốn, Quốc hội mong muốn, Chính phủ mong muốn và nhân dân mong muốn có mẫu số chung rất cụ thể, rất gần gũi, rất giản dị: đất nước phát triển bền vững; xã hội trật tự, kỷ cương, ấm áp, nhân văn; người dân được bảo vệ và được trao cơ hội vươn lên bằng sức lao động của chính mình; ai làm đúng pháp luật thì được bảo hộ, ai làm sai thì bị xử lý công bằng, không có vùng cấm.

Tôi đề nghị mỗi Đại biểu Quốc hội hôm nay đóng góp với tư cách người đại diện cho nhân dân, đồng thời cũng với tư cách đảng viên, cán bộ có trải nghiệm thực tiễn sâu sắc. Nói điều mình thật sự thấy, điều mình trăn trở, điều mình dám chịu trách nhiệm.

Tôi xin nhấn mạnh lại 6 yêu cầu cụ thể: (1) Góp ý vào tính khả thi của thể chế, của pháp luật. (2) Góp ý vào tổ chức quyền lực nhà nước, cơ chế kiểm soát quyền lực, cơ chế chịu trách nhiệm cá nhân.(3) Góp ý vào phân cấp, phân quyền, mô hình chính quyền địa phương hai cấp, quan hệ giữa ba cấp chính quyền.(4) Góp ý vào mối quan hệ Đảng - Nhà nước - Mặt trận - Các đoàn thể chính trị, xã hội - Nhân dân sao cho thật sự gắn bó, thật sự đồng lòng. (5) Góp ý vào vai trò Đảng cầm quyền trong quản trị phát triển đất nước. (6) Góp ý để làm rõ và làm sâu thêm các điểm đột phá, không chỉ dừng ở phương châm mà đi vào cơ chế vận hành.

Tôi tin rằng với kinh nghiệm công tác, với sự gắn bó rất gần với cử tri, với bản lĩnh của mình, các Đại biểu sẽ làm rất tốt trọng trách này.

Chúc các Đại biểu sức khỏe, trí tuệ, tâm huyết, để tiếng nói của các Đại biểu đi vào văn kiện và đi vào cuộc sống của nhân dân.

Xin trân trọng cảm ơn các vị Đại biểu Quốc hội!
Yêu nước ST.