Thứ Bảy, 8 tháng 11, 2025

DÂN TA PHẢI BIẾT SỬ TA: BÍ THƯ THỨ NHẤT LÊ DUẨN NÓI VỀ ÂM MƯU CHỐNG VIỆT NAM CỦA BÈ LŨ PHẢN ĐỘNG TRUNG QUỐC!

     Năm 1963, khi Nikita Khơrútxốp có sai lầm, Trung Quốc lập tức ra Cương lĩnh 25 điểm và mời Đảng ta đến và góp ý kiến. Anh Trường Chinh và tôi cùng đi với một số anh em khác. Trong khi bàn bạc, họ [Trung Quốc] lắng nghe ta chừng mười điểm gì đó, nhưng khi tới ý kiến “không xa rời phe Xã hội chủ nghĩa” thì họ không nghe nữa… Đặng Tiểu Bình nói: “Tôi chịu trách nhiệm về văn bản của chính tôi. Tôi xin ý kiến các đồng chí nhưng tôi không chấp nhận điểm này của các đồng chí.”

Trước khi đoàn ta về nước, Mao có tiếp anh Trường Chinh và tôi. Mao ngồi trò chuyện cùng chúng tôi và đến cuối câu chuyện ông ta tuyên bố: “Các đồng chí, tôi muốn các đồng chí biết việc này. Tôi sẽ là Chủ tịch của 500 triệu bần nông và tôi sẽ mang một đạo quân đánh xuống Đông Nam Á.” Đặng Tiểu Bình cũng ngồi đó và nói thêm: “Đó chủ yếu là vì bần nông của chúng tôi đang ở trong một hoàn cảnh hết sức khó khăn!”

Khi chúng tôi đã ra ngoài, tôi nói với anh Trường Chinh: “Anh thấy đấy, một âm mưu cướp nước ta và cả Đông Nam Á. Bây giờ chuyện đã minh bạch.” Họ dám ngang nhiên tuyên bố như vậy. Họ nghĩ chúng ta không hiểu. Rõ ràng là không một phút nào họ không nghĩ tới việc đánh Việt Nam!

Tôi sẽ nói thêm để các đồng chí có thể thấy rõ hơn tầm quan trọng quân sự của việc này. Mao hỏi tôi:
– Lào có bao nhiêu cây số vuông?
Tôi trả lời:
– Khoảng 200 nghìn [cây số vuông].
– Dân số của họ là bao nhiêu? [Mao hỏi]
– [Tôi đáp:] Gần ba triệu.
– [Mao nói:] Thế thì cũng không nhiều lắm! Tôi sẽ mang người của chúng tôi xuống đấy!
– [Mao hỏi:] Thái Lan thì có bao nhiêu cây số vuông?
– [Tôi trả lời:] Khoảng 500 nghìn.
– Và có bao nhiêu người? [Mao hỏi]
– Gần 40 triệu! [Tôi đáp]
– Trời ơi! [Mao nói], tỉnh Tứ Xuyên của Trung Quốc có 500 nghìn cây số vuông mà có tới 90 triệu dân. Tôi sẽ lấy thêm một ít người của chúng tôi đi xuống đấy nữa [Thái Lan]!

Đối với Việt Nam, họ không dám nói thẳng về việc di dân như vậy. Tuy nhiên, ông ta [Mao] nói với tôi: 
“Các đồng chí, có thật người Việt Nam đã chiến đấu và đánh bại quân Nguyên không?” Tôi nói: “Đúng.” 
“Thế có thật là các anh cũng đánh bại cả quân Thanh nữa phải không?” 
Tôi đáp: “Đúng.” Ông ta lại hỏi: “Và cả quân Minh nữa, đúng không?” 
Tôi trả lời: “Đúng, và cả các ông nữa. Tôi sẽ đánh bại cả các ông. Ông có biết thế không?” Tôi đã nói với Mao như vậy đó. 
Ông ấy nói: “Đúng! Đúng!” 
Mao muốn chiếm Lào, cả nước Thái Lan… cũng như muốn chiếm toàn vùng Đông Nam Á. Mang người đến ở đó. Thật là phức tạp.
-----
* Tài liệu được dịch từ cuốn Đằng sau tấm màn tre - Trung Quốc, Việt Nam và Thế giới ngoài châu Á (Behind the Bamboo Curtain - China, Vietnam, and the World beyond Asia), do Priscilla Roberts biên tập, Trung tâm Woodrow Wilson và Đại học Stanford xuất bản, 2006. 
* Phần III chương 14 của cuốn sách có tiêu đề “Lê Duẩn và sự đoạn tuyệt với Trung Quốc”.
Từ (14 trang, từ trang 453 đến 467) của Tiến sĩ Stein Tønnesson và bản dịch tài liệu này ra tiếng Anh của Christopher E. Goscha (20 trang, 467-486).
Ảnh: Tổng bí thư Lê Duẩn trong lễ kỷ niệm 10 năm giải phóng Đà Nẵng.
Khuyết danh ST.

VÌ NHÂN DÂN PHỤC VỤ: CÀNG KHÓ KHĂN TÌNH QUÂN - DÂN CÀNG BỀN CHẶT!

     Trước những thiệt hại to lớn về hạ tầng, tài sản do cơn bão số 13 gây ra, Sư đoàn 2 (Quân khu 5) đã điều động hơn 350 cán bộ, chiến sĩ đến các vùng bị thiệt hại nặng để giúp dân khắc phục hậu quả.

Giữa cảnh hoang tàn, hình ảnh người chiến sĩ Sư đoàn 2 không quản ngại khó khăn, chạy đua với thời gian để giúp nhân dân dọn dẹp từng đống gạch, đất đá, cây cối, dựng lại từng mái nhà bị đổ sập, tốc mái đã làm người dân xúc động. Nhiều người dân nói với nhau rằng, chính trong những lúc khó khăn này, tình quân - dân lại càng thêm bền chặt, tạo nên sức mạnh hồi sinh từ đổ nát.

Căn nhà của gia đình ông Tạ Minh Phụng, ở thôn An Mỹ, xã An Lương (tỉnh Gia Lai) bị tốc mái hoàn toàn, đồ đạc ngổn ngang. Sau khi đi tránh bão về, ông Phụng không biết phải bắt đầu từ đâu, phần vì mệt, phần vì xót của. “Khi bộ đội Sư đoàn 2 đến nói với gia đình, còn người là còn tất cả, nhà tốc mái rồi thì anh em bộ đội sẽ cùng gia đình lợp lại. Bà con hãy kiên cường, đoàn kết để vượt qua khó khăn, gia đình tôi cùng với các anh bộ đội bắt tay vào dọn dẹp, lợp lại nhà”, ông Phụng xúc động nói.

Đại tá Lê Sỹ Hùng, Chính ủy Sư đoàn 2 cho biết, nhận định cơn bão số 13 sẽ gây thiệt hại lớn cho các xã, phường phía Đông của tỉnh Gia Lai. Trước khi bão vào, Đảng ủy, chỉ huy Sư đoàn 2 đã điều động hơn 350 cán bộ, chiến sĩ, cùng với phương tiện, thành lập các tổ, đội đến các xã, phương: An Lương, Tuy Phước, Nhơn Đông, Quy Nhơn để sẵn sàng ứng cứu nhân dân trong bão và giúp dân khắc phục hậu quả.

“Sư đoàn 2 với truyền thống “Trên tin, bạn mến, dân thương; đã đi là đến, đã đánh là thắng” được hun đúc, tôi luyện qua hơn 60 năm xây dựng, trưởng thành, nên khi nhận được lệnh hành quân giúp dân, chỉ trong một thời gian ngắn các cơ quan, đơn vị đã hoàn tất công tác chuẩn bị. Tổ chức hành quân trong đêm và sáng sớm ngày 6-11 đã có mặt ở các địa điểm trọng yếu để giúp nhân dân. Và ngay trong chiều nay (chiều 8-11), trước những thiệt hại nặng nề do cơn bão số 13 gây ra cho phường Sông Cầu, tỉnh Đắk Lắk, Sư đoàn 2 tiếp tục điều động gần 350 cán bộ, chiến sĩ của Trung đoàn 38 hành quân đến phường Sông Cầu để giúp dân”, Đại tá Lê Sỹ Hùng thông tin.

Theo thống kê của các cơ quan chức năng tỉnh Gia Lai, bão số 13 đã gây thiệt hại cho tỉnh 2 người chết, 8 người bị thương; làm 199 nhà bị sập đổ, 12.447 nhà bị tốc mái, 15 thuyền bị chìm và 42 thuyền bị hư hỏng, 334 lồng, bè nuôi trồng thủy hải sản. Nhiều tuyến đường cũng bị sạt lở nghiêm trọng. Ước tính tổng thiệt hại ban đầu hơn 5.000 tỷ đồng.

Tỉnh Gia Lai quyết định hỗ trợ 60 triệu đồng cho mỗi gia đình có nhà bị sập do bão để xây dựng lại nhà ở, song không được xây dựng lại ở các khu đã di dời; 5 triệu đồng đối với nhà bị tốc mái hoàn toàn và 2 triệu đồng đối với nhà bị tốc mái một phần. Hỗ trợ gia đình có người mất 10 triệu đồng/người và 5 triệu đồng/người bị thương. Riêng tàu bị chìm, hoa màu hư hại sẽ bồi thường theo quy định.

Tại các cuộc họp và các địa phương đến kiểm tra, đồng chí Thái Đại Ngọc, Ủy viên Trung ương Đảng, Bí thư Tỉnh ủy Gia Lai đánh giá cao sự vào cuộc quyết liệt của chính quyền địa phương và các cấp, ngành, lực lượng vũ trang trong ứng phó và khắc phục thiệt hại do bão số 13 gây ra. Đồng thời, đề nghị cả hệ thống dồn lực tập trung khắc phục thiệt hại do bão số 13 gây ra, sớm ổn định cuộc sống của người dân. Bên cạnh đó, phải chủ động quy hoạch lại không gian dân cư, đảm bảo an toàn tính mạng và tài sản của người dân trước thiên tai./.




Theo QĐND
Yêu nước ST.

VÌ NHÂN DÂN PHỤC VỤ: XUYÊN BÃO CỨU DÂN!

     Khi bão số 13 (Kalmaegi) đổ bộ, càn quét dữ dội trên đất liền tỉnh Gia Lai, nhà của một số gia đình bị sập, tốc mái, đe dọa trực tiếp đến tính mạng, LLVT tỉnh Gia Lai đã điều động lực lượng, phương tiện xuyên bão cứu gần 200 người dân.

Đây không chỉ là hành động sáng ngời phẩm chất Bộ đội Cụ Hồ, sẵn sàng hy sinh vì nhân dân, mà còn phản ánh rõ nét công tác lãnh đạo, chỉ đạo, ứng phó kịp thời của Bộ CHQS tỉnh Gia Lai.

Thiếu úy QNCN Nguyễn Duy Tân, lái xe thiết giáp BTR-152, Trung đội 2, Đại đội Trinh sát cơ giới 1, Phòng tham mưu, Bộ CHQS tỉnh Gia Lai - người lái xe trực tiếp cứu dân tại phường Quy Nhơn Nam (tỉnh Gia Lai) nhớ lại, thời điểm đó vào khoảng 19 giờ, sau khi bão đổ bộ và càn quét được một thời gian, thì kíp xe nhận được lệnh đi cứu dân.

Ngay lập tức, kíp xe dưới sự chỉ huy của Trung tá Phạm Ngọc Cảnh, Phó tham mưu trưởng Bộ CHQS tỉnh Gia Lai đã cơ động đến hiện trường. Lúc này, hai nhà dân bị gió bão quật bay mái, trong nhà có khoảng 8 người, trong đó có người già, trẻ nhỏ đang rất hoảng loạn.

“Khi cán bộ, chiến sĩ Bộ CHQS tỉnh và dân quân phối hợp đưa người dân đến nơi tránh trú an toàn, bà con mới hết lo lắng, nhiều người nói, có bộ đội, chúng tôi được cứu sống rồi”, Thiếu úy QNCN Nguyễn Duy Tân nhớ lại.

Đại úy QNCN Võ Lê Quốc, Trưởng xe Thiết giáp BTR-152 chia sẻ: "Kíp xe thực hiện nhiệm vụ trong tâm bão, cây xanh, mái tôn ngã đổ la liệt, rất nguy hiểm, nhưng không một ai run sợ, vì phía trước là tính mạng của nhân dân. Chúng tôi đi về phía nhân dân và ý chí, sức mạnh được nhân lên gấp bội".

Theo Trung tá Phạm Ngọc Cảnh, Phó tham mưu trưởng Bộ CHQS tỉnh Gia Lai, bão số 13 với sức gió khủng khiếp, nhiều ngôi nhà kiên cố cũng đứng trước nguy cơ bị đổ sập và khi bão vào, có rất nhiều gia đình kêu cứu. 6 kíp xe của Đại đội Trinh sát cơ giới 1 được Bộ CHQS tỉnh bố trí tại 3 điểm: Sở chỉ huy Bộ CHQS tỉnh; Ban chỉ huy phòng thủ khu vực 1 - Hoài Nhơn Nam và Ban chỉ huy phòng thủ khu vực 6 - An Nhơn Đông để ứng cứu nhân dân dọc tuyến biển khi có tình huống. Khi bão vào, cả 6 kíp xe đều cơ động làm nhiệm vụ và cứu được gần 200 người.

Đại tá Nguyễn Thế Vinh, Ủy viên Ban Thường vụ Tỉnh ủy, Chỉ huy trưởng Bộ CHQS tỉnh Gia Lai cho biết, công tác phòng, chống bão số 13 được Chính phủ, Bộ tư lệnh Quân khu 5, Tỉnh ủy, UBND tỉnh và Bộ CHQS tỉnh Gia Lai chỉ đạo đồng bộ, quyết liệt, khoa học, hiệu quả, nên thiệt hại được giảm đến mức thấp nhất, đặc biệt là về tính mạng của nhân dân.

Riêng Bộ CHQS tỉnh đã huy động 7.797 cán bộ, chiến sĩ với 92 phương tiện các loại (ô tô, xe thiết giáp, tàu xuồng) và 5 UAV ứng trực tại các địa bàn trọng yếu, có nguy cơ cao, gần sát với nhân dân để xử lý ngay các tình huống.

“Ngoài các kíp xe thiết giáp BTR-152 cứu gần 200 người dân trong bão tối ngày 6-11, ngay trong trưa 7-11, lũ ở thượng nguồn sông Ba đã đổ về với lưu lượng lớn, khiến nhiều khu vực thuộc các xã, phường ven sông ở địa bàn thị xã Ayun Pa và huyện Ia Pa cũ (tỉnh Gia Lai) ngập sâu, Bộ CHQS tỉnh đã chỉ đạo Ban chỉ huy Phòng thủ khu vực 5 - Ayun Pa điều động 2 cano cứu được 9 nạn nhân mắc kẹt, trong đó có 2 ông bà già trên mái nhà và 7 người khác bị cô lập.

Tính từ ngày 6 đến trưa 7-11, Ban chỉ huy Phòng thủ khu vực 5 - Ayun Pa đã phối hợp di dời 1.264 hộ dân với 5.095 nhân khẩu ra khỏi nơi nguy hiểm và cứu 19 người trong lúc nguy kịch. "Những hành động cứu dân trong mưa bão của cán bộ, chiến sĩ LLVT tỉnh đã lan tỏa và làm sáng đẹp phẩm chất Bộ đội Cụ Hồ trong thời kỳ mới”, Đại tá Nguyễn Thế Vinh chia sẻ./.
Ảnh: Lực lượng vũ trang tỉnh Gia Lai dùng xe tăng thiết giáp BTR-152 cứu dân trong đêm 6-11.

Ảnh: Thiếu úy QNCN Nguyễn Duy Tân chia sẻ câu chuyện cứu dân với phóng viên.
Theo QĐND
Yêu nước ST.

TÌM HIỂU GIÚP BẠN: LÃNH ĐẠO VIỆT NAM CHÚC MỪNG KỶ NIỆM 72 NĂM QUỐC KHÁNH VƯƠNG QUỐC CAMPUCHIA!

     Nhân dịp kỷ niệm 72 năm Quốc khánh Vương quốc Campuchia (9-11-1953 / 9-11-2025), Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam đã gửi điện chúc mừng đến Ban Chấp hành Trung ương Đảng Nhân dân Campuchia; Tổng Bí thư Tô Lâm gửi lẵng hoa chúc mừng đến Quốc vương Norodom Sihamoni và Chủ tịch Đảng Nhân dân Campuchia Samdech Techo Hun Sen; Chủ tịch nước Lương Cường gửi thư chúc mừng đến Quốc vương Norodom Sihamoni; Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính gửi thư chúc mừng đến Thủ tướng Samdech Hun Manet; Chủ tịch Quốc hội Trần Thanh Mẫn gửi thư chúc mừng đến Chủ tịch Thượng viện Samdech Techo Hun Sen và Chủ tịch Quốc hội Samdech Khuon Sudary; Thường trực Ban Bí thư Trần Cẩm Tú gửi thư chúc mừng đến Phó chủ tịch kiêm Trưởng ban Thường trực Ban Thường vụ Trung ương Đảng Nhân dân Campuchia Samdech Say Chhum.

Trong các điện, thư chúc mừng, Ban Chấp hành Trung ương Đảng và các đồng chí lãnh đạo chủ chốt Việt Nam chúc mừng những thành tựu to lớn trên các lĩnh vực mà đất nước và nhân dân Campuchia đã đạt được trong thời gian qua và tin tưởng chắc chắn rằng dưới sự trị vì anh minh của Quốc vương Norodom Sihamoni, sự lãnh đạo sáng suốt của Thượng viện, Quốc hội và Chính phủ Vương quốc Campuchia do Đảng Nhân dân Campuchia, đứng đầu là Chủ tịch Hun Sen, nhân dân Campuchia nhất định tiếp tục giành được nhiều thành tựu mới, to lớn hơn nữa, thực hiện thắng lợi Cương lĩnh của Đảng Nhân dân Campuchia giai đoạn 2023-2028, xây dựng đất nước Campuchia ngày càng phát triển, nhân dân Campuchia có cuộc sống ngày càng ấm no, hạnh phúc.

Vui mừng trước những thành tựu đã đạt được của quan hệ “láng giềng tốt đẹp, hữu nghị truyền thống, hợp tác toàn diện, bền vững lâu dài” giữa Việt Nam và Campuchia thời gian qua, lãnh đạo Việt Nam khẳng định sẽ tiếp tục phối hợp chặt chẽ với lãnh đạo Campuchia hiện thực hóa các thỏa thuận giữa lãnh đạo cấp cao hai Đảng, hai nước, tiếp tục gìn giữ và vun đắp quan hệ hữu nghị truyền thống tốt đẹp giữa hai nước ngày càng phát triển đi vào chiều sâu, thiết thực và hiệu quả, vì lợi ích của nhân dân hai nước, góp phần vào hòa bình, ổn định, hợp tác, phát triển của khu vực cũng như xây dựng Cộng đồng ASEAN ổn định và phát triển thịnh vượng.

Nhân dịp này, Bí thư Trung ương Đảng, Bộ trưởng Bộ Ngoại giao Lê Hoài Trung gửi thư chúc mừng đến Ủy viên Ban Thường vụ, Trưởng ban Đối ngoại Trung ương Đảng Nhân dân Campuchia, Phó thủ tướng, Bộ trưởng Bộ Ngoại giao và Hợp tác quốc tế Campuchia Prak Sokhonn./.
Theo QĐND
Môi trường ST .

KHẲNG ĐỊNH VAI TRÒ NÒNG CỐT CỦA QUÂN ĐỘI, CÔNG AN ĐỐI VỚI BẢO VỆ CHỦ QUYỀN, AN NINH QUỐC GIA TRÊN KHÔNG GIAN MẠNG!

     Chiều 7-11, tiếp tục chương trình Kỳ họp thứ mười, Quốc hội khóa XV, dưới sự chủ trì của Chủ tịch Quốc hội Trần Thanh Mẫn, điều hành của Phó chủ tịch Quốc hội Trần Quang Phương, Quốc hội thảo luận ở hội trường về dự án Luật An ninh mạng, dự án Luật Bảo vệ bí mật nhà nước (sửa đổi).

Thảo luận về dự án Luật An ninh mạng, các ý kiến đại biểu Quốc hội bày tỏ đồng tình với sự cần thiết ban hành Luật An ninh mạng, để đáp ứng yêu cầu bảo vệ an ninh, chủ quyền quốc gia trên không gian mạng trong tình hình mới.

Đại biểu Nguyễn Quốc Duyệt (đoàn Hà Nội) nhấn mạnh, hiện nay, không gian mạng đã trở thành một không gian chiến lược không thể tách rời của chủ quyền quốc gia, là môi trường tiềm ẩn những nguy cơ thách thức an ninh vô cùng phức tạp. Không gian mạng được coi là một phần lãnh thổ quốc gia, có vị trí đặc biệt trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

Bảo vệ Tổ quốc trên không gian mạng là nhiệm vụ cấp bách, thường trực và lâu dài. Tính chất xuyên biên giới, phi đối xứng, phi truyền thống của các mối đe dọa tấn công mạng khiến công tác bảo vệ chủ quyền quốc gia trên không gian mạng trở nên phức tạp, đòi hỏi phải có sự phối hợp chặt chẽ giữa các lực lượng, đặc biệt là lực lượng giữ vai trò nòng cốt trong Bộ Quốc phòng, Bộ Công an.

Về phân định rõ chức năng, thẩm quyền và cơ chế phối hợp thực hiện nhiệm vụ giữa các bộ, ngành, các cơ quan có liên quan, theo đại biểu Nguyễn Quốc Duyệt, từ thực tiễn và quan điểm của Đảng đã thể hiện: 2 lực lượng nòng cốt bảo vệ an ninh mạng quốc gia là Bộ Quốc phòng, Bộ Công an.

Đối với dự thảo Luật An ninh mạng, đại biểu đề nghị cần tiếp tục khẳng định vai trò của Bộ Quốc phòng trên 3 trụ cột chính. Trước hết, Bộ Quốc phòng là lực lượng nòng cốt bảo vệ chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ quốc gia trên không gian mạng, địa bàn chiến lược đặc biệt để bảo vệ Tổ quốc, bảo vệ lợi ích quốc gia, dân tộc từ sớm, từ xa.

Bên cạnh đó, Bộ Quốc phòng là cơ quan chủ quản nòng cốt trong xây dựng năng lực phòng thủ mạng quốc gia, có thẩm quyền tổ chức lực lượng tác chiến mạng, bảo vệ hạ tầng thông tin quan trọng của quốc gia, hạ tầng số quốc phòng, hệ thống vũ khí, radar, vệ tinh, dữ liệu bí mật nhà nước, để phục vụ nhiệm vụ quân sự, quốc phòng, bảo vệ Tổ Quốc.

Cùng với đó, Bộ Quốc phòng cần được trao quyền chủ động triển khai biện pháp kỹ thuật, nghiệp vụ đặc biệt để phát hiện, ngăn chặn, vô hiệu hóa hành vi tấn công mạng có yếu tố xâm phạm chủ quyền; đồng thời có thể thực hiện phản công kỹ thuật có giới hạn, phù hợp với luật pháp Việt Nam và luật pháp quốc tế.

Liên quan đến vai trò của Ban Cơ yếu Chính phủ trong quản lý Nhà nước về mật mã dân sự, đại biểu Nguyễn Quốc Duyệt đề nghị, cần kế thừa và phát huy các quy định của Luật An toàn thông tin mạng năm 2015, do các quy định này hiện nay vẫn khả thi, phát huy tốt, hiệu quả và phù hợp với tình hình thực tiễn.

Cũng liên quan đến lĩnh vực mật mã dân sự, đại biểu Nguyễn Trần Phượng Trân (đoàn TP Hồ Chí Minh) cho rằng, qua rà soát dự thảo luật, lĩnh vực mật mã dân sự chưa được kế thừa đầy đủ theo chủ trương, quan điểm xây dựng dự thảo luật tại Tờ trình của Chính phủ và kết luận của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, đặc biệt là trách nhiệm của Bộ trưởng Bộ Quốc phòng thực hiện quản lý nhà nước về mật mã dân sự đã được quy định tại Luật An toàn thông tin mạng năm 2015.

Trong đó, Ban Cơ yếu Chính phủ giúp Bộ trưởng Bộ Quốc phòng thực hiện nhiệm vụ này, thực hiện đúng quan điểm, chủ trương của Chính phủ, Quốc hội trong xây dựng luật, đồng thời bảo đảm được tính thống nhất, đồng bộ trong hệ thống pháp luật hiện hành. Đại biểu Nguyễn Trần Phượng Trân đề nghị Quốc hội tiếp tục giao cho Ban Cơ yếu Chính phủ giúp Bộ trưởng Bộ Quốc phòng thực hiện quản lý nhà nước về mật mã dân sự.

Đại biểu Nguyễn Trần Phượng Trân cũng đề nghị Ban soạn thảo cần nghiên cứu thay thế cụm từ hệ thống thông tin quân sự bằng cụm từ hệ thống thông tin quan trọng về an ninh quốc gia, thuộc phạm vi quản lý của Bộ Quốc phòng, tại một số quy định trong dự thảo luật, để bảo đảm tính đồng bộ, thống nhất với các quy định của pháp luật hiện hành.

Cũng liên quan đến vấn đề này, theo đại biểu Nguyễn Minh Quang (đoàn Hải Phòng), tại một số điều của dự thảo luật quy định: "Bộ Quốc phòng có trách nhiệm, thẩm quyền quản lý, triển khai một số biện pháp bảo vệ an ninh mạng đối với hệ thống thông tin quân sự". Phạm vi trong dự thảo luật quy định về thẩm quyền, trách nhiệm quản lý của Bộ Quốc phòng còn hẹp và chưa bao quát hết các lĩnh vực về quốc phòng. Đại biểu đề nghị cần kế thừa Luật An toàn thông tin mạng năm 2015 và Luật An ninh mạng năm 2018, quy định: "Bộ Quốc phòng chủ trì, hướng dẫn, đôn đốc, thanh tra, kiểm tra công tác bảo vệ an toàn thông tin mạng đối với hệ thống thông tin quan trọng quốc gia do Bộ Quốc phòng quản lý".

Về quy định xác định trách nhiệm của các doanh nghiệp cung cấp dịch vụ trên không gian mạng, đại biểu Nguyễn Minh Quang đề nghị dự thảo luật bổ sung 1 khoản theo hướng giao cho Bộ Quốc phòng quản lý và chịu trách nhiệm về an ninh mạng đối với doanh nghiệp do Quân đội quản lý. Mọi hoạt động của các doanh nghiệp Quân đội luôn gắn chặt với 3 chức năng là chiến đấu, công tác và lao động sản xuất. Việc Bộ Quốc phòng chịu trách nhiệm về nội dung bảo đảm an ninh mạng, bảo vệ tuyệt đối bí mật quân sự, quốc phòng là nhiệm vụ rất quan trọng./.
Ảnh: Chủ tịch Quốc hội Trần Thanh Mẫn chủ trì, Phó chủ tịch Quốc hội Trần Quang Phương điều hành phiên họp.
Theo QĐND
Yêu nước ST.

GIÁ TRỊ TRƯỜNG TỒN CỦA CÁCH MẠNG THÁNG MƯỜI NGA!

     Ngày 7-11-1917, một sự kiện lịch sử vĩ đại của nhân loại đã diễn ra ở nước Nga. Với tiếng súng lệnh từ chiến hạm Rạng Đông, cuộc tiến công Cung điện mùa Đông của giai cấp công nhân, binh sĩ Nga ở Petrograd bắt đầu. Cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa vĩ đại dưới sự lãnh đạo của Đảng Bolsheviks Nga, đứng đầu là V.I.Lenin, đã giành thắng lợi ở Petrograd, lan tỏa và toàn thắng trên nước Nga. 108 năm đã đi qua, song giá trị lịch sử, tầm vóc thời đại của Cách mạng Tháng Mười Nga vẫn trường tồn cùng năm tháng.

Giá trị vĩ đại của Cách mạng Tháng Mười Nga

Thắng lợi của Cách mạng Tháng Mười Nga là tất yếu lịch sử và mang giá trị thời đại. Đúng như Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định: “Giống như mặt trời chói lọi, Cách mạng Tháng Mười chiếu sáng khắp năm châu, thức tỉnh hàng triệu hàng triệu người bị áp bức, bóc lột trên trái đất. Trong lịch sử loài người chưa từng có cuộc cách mạng nào có ý nghĩa to lớn và sâu xa như thế” (1).

Thực tế chứng minh, Cách mạng Tháng Mười Nga thành công đã để lại những giá trị vĩ đại và bền lâu, không thể phủ nhận, xuyên tạc được. Cách mạng Tháng Mười Nga đã mở ra ra thời đại mới - thời đại quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội trên phạm vi toàn thế giới, mở đường phát triển theo hướng tiến bộ, nhân văn cho loài người. Cách mạng Tháng Mười đã xóa bỏ chế độ Sa hoàng và giai cấp tư sản, thiết lập nhà nước chuyên chính vô sản, xóa bỏ áp bức giai cấp, áp bức dân tộc, đưa nhân dân lao động lên làm chủ đất nước. Lần đầu tiên trong lịch sử, khát vọng ngàn đời của nhân loại cần lao mong muốn thoát khỏi cảnh áp bức, bóc lột, bất công; có cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc đã trở thành hiện thực sinh động của hàng trăm triệu con người, nhiều dân tộc ngưỡng vọng, phấn đấu noi theo.

Ngay sau thắng lợi của Cách mạng Tháng Mười, chính quyền Xô viết đã ban hành những sắc lệnh nổi tiếng như: Sắc lệnh hòa bình, Sắc lệnh về ruộng đất, đồng thời ban hành hàng loạt chính sác tiến bộ như: Ngày làm 8 giờ, giáo dục không mất tiền, bình đẳng nam nữ, tự do tín ngưỡng… Trong hơn 70 năm (1917-1991) xây dựng và phát triển, Liên Xô đã vươn lên trở thành một cường quốc có vị thế lớn trên trường quốc tế. Từ một nước lạc hậu, Liên Xô đã trở thành một cường quốc công nghiệp hàng đầu, kinh tế tăng trưởng hằng năm với tốc độ bình quân vài chục phần trăm; chính trị, văn hóa, khoa học giáo dục đều có sự phát triển vượt bậc…

Liên Xô đã đóng góp giúp đỡ to lớn đối với phong trào Cộng sản và công nhân quốc tế và phong trào giải phóng dân tộc. Liên Xô đã thực sự là thành trì của hòa bình, an ninh quốc tế, góp phần chủ yếu cứu loài người khỏi thảm họa phát xít. Nhờ ảnh hưởng của Cách mạng Tháng Mười Nga và sự giúp đỡ, tác động của hệ thống xã hội chủ nghĩa thế giới, từ sau Chiến tranh thế giới thứ hai đến những năm 70 của thế kỷ XX, hàng loạt các dân tộc thuộc địa và lệ thuộc đã đứng lên giải phóng khỏi sự áp bức bóc lột của chủ nghĩa đế quốc và chủ nghĩa thực dân, tạo ra bước nhảy vọt của phong trào giải phóng dân tộc, phong trào cộng sản và công nhân quốc tế trong giai đoạn lịch sử này…

Việt Nam kiên định với con đường, lý tưởng của Cách mạng Tháng Mười Nga

Thắng lợi và những giá trị to lớn của Cách mạng Tháng Mười Nga năm 1917 đã được Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh trong quá trình tìm đường cứu nước, giải phóng dân tộc tìm hiểu, tiếp thu và tích cực truyền bá phong trào công nhân, phong trào yêu nước vào Việt Nam. Người đã chỉ ra: “Con đường của cách mạng Việt Nam là đánh đổ thực dân phong kiến, tư sản phản động, giành độc lập dân tộc, đi lên chủ nghĩa xã hội. Lực lượng cơ bản của cách mạng là công nông, công nông là gốc cách mệnh; còn học trò, nhà buôn nhỏ, điền chủ nhỏ… là bầu bạn của cách mệnh” (2). Cách mạng Việt Nam muốn giành thắng lợi phải sử dụng phương pháp bạo lực của quần chúng nhân dân, “dân khí mạnh thì quân lính nào, súng ống nào cũng không chống lại được”….

Cách mạng Tháng Mười Nga năm 1917 đã vạch đường, dẫn lối cho cách mạng Việt Nam. Với tinh thần quốc tế vô sản cao cả, Liên Xô đã ủng hộ to lớn, toàn diện, hiệu quả công cuộc đấu tranh giành độc lập dân tộc, thống nhất Tổ quốc, xây dựng chủ nghĩa xã hội của nhân dân ta.

Trong suốt 95 năm qua, nhờ kiên định với con đường, lý tưởng của Cách mạng Tháng Mười Nga, độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, Đảng ta đã lãnh đạo nhân dân ta lập nên những kỳ tích vẻ vang, trong đó có Cách mạng Tháng Tám năm 1945. Đảng ta luôn xác định: “Đi lên chủ nghĩa xã hội là khát vọng của nhân dân, là sự lựa chọn đúng đắn của Đảng Cộng sản Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh, phù hợp với xu thế phát triển của lịch sử” (3).

Trong chặng đường gần 40 năm tiến hành công cuộc đổi mới, Việt Nam đã đạt được những kết quả, thành tựu quan trọng, có ý nghĩa lịch sử. Hiện nay, Việt Nam có quan hệ ngoại giao với 194 quốc gia trên thế giới, trong đó có quan hệ đối tác chiến lược và đối tác toàn diện với hơn 30 nước; có quan hệ kinh tế với hơn 230 quốc gia, vùng lãnh thổ. Tính đến tháng 11-2025, Việt Nam có quan hệ đối tác chiến lược toàn diện với 14 quốc gia. Đó là: Trung Quốc (2008), Liên bang Nga (năm 2012), Ấn Độ (2016), Hàn Quốc (2022), Mỹ (9-2023), Nhật Bản (11-2023), Australia (3-2024) và Pháp (10-2024), Malaysia (11-2024), New Zealand (2-2025), Indonesia (3-2025), Singapore (3-2025), Thái Lan (5-2025) và Vương quốc Anh (10-2025). Quan hệ ngoại giao giữa Việt Nam và các nước này đã và đang đạt được nhiều thành tựu trên tất cả lĩnh vực, đóng góp quan trọng vào sự nghiệp xây dựng và phát triển đất nước.

Việt Nam cũng đã chuyển từ nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung sang cơ chế thị trường; chủ động và tích cực hội nhập quốc tế toàn diện, sâu rộng, qua đó đã đạt được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử. “Từ một nước nông nghiệp, lạc hậu, Việt Nam đã ra khỏi nhóm các nước có thu nhập thấp từ năm 2008; quy mô nền kinh tế đạt 430 tỷ USD, đứng thứ 35 trong top 40 nền kinh tế lớn nhất thế giới... Từ một nền kinh tế đóng cửa, khép kín, Việt Nam trở thành đối tác thương mại lớn thứ 22 toàn cầu. Theo số liệu của Tổng cục Thống kê (Bộ Kế hoạch và Đầu tư), trong tháng 10-2024, tổng kim ngạch xuất, nhập khẩu hàng hóa sơ bộ đạt 69,19 tỷ USD, tăng 5,1% so với tháng trước. Tính chung 10 tháng năm 2024, tổng kim ngạch xuất, nhập khẩu hàng hóa sơ bộ đạt 762,44 tỷ USD, tăng 17,4% so với cùng kỳ năm 2024...

Lịch sử thế giới tiếp tục có những sự kiện mới nhưng tầm vóc, ý nghĩa to lớn của Cách mạng Tháng Mười Nga vẫn còn vang mãi. Ngày nay, trong công cuộc đổi mới, hội nhập quốc tế sâu rộng, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, vận dụng bài học quý báu của Cách mạng Tháng Mười Nga vĩ đại, Việt Nam nhất định sẽ tiếp tục thành công, và giành được nhiều thành tựu hơn nữa; xây dựng một nước Việt Nam ngày càng giàu mạnh, văn minh, văn hiến và anh hùng theo định hướng xã hội chủ nghĩa./.


Ảnh 1, 2, 3: Sưu tầm trên mạng.

Ảnh 4: Ngay trong đêm 7-11-1917, Đại hội các Xô viết được triệu tập, thành lập Chính quyền Xô viết do V.I.Lenin đứng đầu.
----------------------------------------
(1) Hồ Chí Minh, Toàn tập, tập 15, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2011, tr.387
(2) Hồ Chí Minh, Toàn tập, tập 2, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1996, tr266
(3) Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Hội, 2011, tr.70
Theo QĐND
Yêu nước ST.

Thứ Sáu, 7 tháng 11, 2025

MỸ THUA THẢM HẠI Ở VIỆT NAM LÀ ĐIỀU DỄ KHẲNG ĐỊNH VÀ MINH TRIẾT, CHỈ CÓ BỌN BA SỌC (CỰU NGỤY CỨ*C) VÀ “TRUM... NGÁO” LÀ VẪN CÒN NẰM MƠ VỚI CÁI GỌI LÀ - “MỸ CHỈ RÚT QUÂN” HOÀN TOÀN KHÔNG THỂ CÓ MỸ NÀO CHỊU NỔI TRƯỚC SỨC MẠNH CỦA Ý CHÍ, LÒNG QUYẾT TÂM VÀ TRÍ TUỆ VIỆT NAM!

     Báo chí Sài Gòn miêu tả vụ nổ kho bom đạn Phước Lý là “Quá khủng khiếp như bom nguyên tử với đám khói hình nấm màu da cam khổng lồ”.

Cuối tháng 4/1969, một vụ nổ lớn đã xảy ra tại kho bom đạn Phước Lý (Phước Tường, Đà Nẵng), khiến truyền thông quốc tế thời điểm đó chấn động.

Kho bom đạn này được quân đội Mỹ xây dựng, thuộc loại quy mô lớn của Vùng I, Vùng II chiến thuật và miền Trung nói chung. Kho có chiều dài trên 2.000m, ở về phía nam cao điểm 627 Phước Tường, nằm dọc hai bên đường từ ngã ba Túy Loan đi Nghi An, giáp QL1A và phi trường Đà Nẵng.

Kho có nhiều khu, phân thành nhiều lô có những bờ đất cao 2m ngăn cách. Về phía Tây khu kho có bồn chứa xăng và hàng trăm phuy xăng, sử dụng cấp cho các sân bay của Quân đoàn I…

Quân đội Mỹ đã bố trí một hệ thống lô cốt dày đặc canh giữ kho. Ngoài những vọng lâu cao 20 mét để quan sát từ xa, những lô cốt nửa chìm, nửa nổi thì cứ chừng 100 mét có một lô cốt lộ thiên…

Dù được bảo vệ cẩn mật như vậy, vào sáng ngày 27/4/1969, kho bom đạn khổng lồ này vẫn bị lực lượng cách mạng xâm nhập và kích nổ làm rung chuyển cả đô thị Đà Nẵng.
Vụ nổ kéo dài sang ngày 28/4/1969 với những tiếng nổ dây chuyền không ngớt, làm cho giới chức Mỹ vô cùng hoang mang, lo sợ. Họ không thể hiểu vì sao đã bố phòng nghiêm ngặt vậy mà kho bom đạn Phước Lý vẫn bị đánh tan tành.

Vụ nổ phá hủy hoàn toàn trên 69.000 tấn bom, đạn và vũ khí; làm cháy trụi kho xăng 50 triệu lít cùng 40 xe quân sự, hư hỏng 11 chiếc phi cơ đậu tại phi trường Đà Nẵng do mảnh bom, đạn văng trúng… Nhiều quân nhân Mỹ thiệt mạng, chủ yếu thuộc tiểu đoàn bảo trì, đại đội AMP (quân cảnh Mỹ).

Thực tế, trận đánh chỉ có ba người tham gia, trong đó có một chiến sĩ nội tuyến hoạt động trong lòng địch, mang bí số C.69, là người trực tiếp đặt chất nổ./.






Ảnh: Những hình ảnh hãi hùng về vụ nổ kho bom Mỹ ở Đà Nẵng 1969.
Yêu nước ST.

TẨY TRẮNG CHO “DANH NHÂN”, “AHDT” TỘI ĐỒ NHẰM MỤC ĐÍCH GÌ?

     Sau nhiều ồn ào tranh cãi thì xin hỏi hội đồng lật sử, công cụ truyền thông, Sở VHTT TPHCM, các quan chức nào đó a dua a tòng cho việc lật sử, tẩy trắng lịch sử xóa tội tâng công cho những kẻ rước giặc hoặc tiếp tay cho rước giặc vào nhà rằng các vị làm vậy để làm gì?

Để đoàn kết dân tộc hơn à? Vậy sau những ồn ào các vị đã đoàn kết hơn chưa?

Hay làm vậy để đất nước thịnh vượng hùng cường, người dân vui vẻ ấm no hơn? Mời các vị nhìn sang Ukraina, hay Nepal kìa... nhờ lật sử đấy, đất nước thịnh vượng đấy, người dân no ấm đấy... các vị sang hưởng trước đi.

Không hiểu các vị ăn cơm dân, mặc áo Đảng, hưởng thành quả của Độc Lập Tự Do, Hạnh Phúc bằng mồ hôi nước mắt và cả máu của Chủ Tịch Hồ Chí Minh, của hàng triệu Chiến sĩ, Đồng bào mà sao lại vô ơn đến thế? Hay các vị đang phục vụ ngoại bang và ngậm tiền của họ nên nhắm mắt làm bừa.

Lịch sử là những gì chân thực đã diễn ra các vị chỉ có quyền chép lại để con cháu đời sau nhìn vào thấy tự hào, biết ơn mà học tập noi gương, hay rút ra bài học sâu sắc để khỏi bước chân vào quá khứ chứ không có quyền viết lại hiểu chưa?

Xin nhắc lại: 
Các vị đúng thì Chủ Tịch Hồ Chí Minh và tư tưởng của Người là sai, Nhân dân sai, Anh hùng diệt giặc ngoại xâm Nguyễn Huệ (Vua Quang Trung) và Nhà Tây sơn sai vì đã mắc lỗi với danh nhân, anh hùng dân tộc Lê Văn Duyệt, Vua Gia Long của các vị.

Là một công dân, một cử tri tôi cũng chưa hiểu tại sao sự việc liên quan đến Lịch sử, đến các AHDT như Vua Quang Trung và Chủ Tịch Hồ Chí Minh cùng tư tưởng của người ồn ào bao nhiêu năm và thi thoảng lại được những cú hích truyền thông thổi bùng lên như sự việc lần này lại chưa từng được đề cập trên nghị trường Quốc Hội? Hay nó chưa đủ nóng để các đại biểu quan tâm nhỉ?



Khuyết danh ST.

PHẢI GIỮ ĐÚNG LỊCH SỬ, BẢO VỆ SỰ THẬT LỊCH SỬ!

     Xưa đánh Mỹ, ngụy các bác dũng cảm, kiên cường. Nay trên mặt trận không tiếng súng chống lật sử các bác vẫn kiên trung anh dũng. Xin cảm ơn các bác thật nhiều.

“Chờ đó, rồi ông sẽ lên gặp công an…!” một số người vào bài tôi đe dọa như vậy!

Thật đau lòng khi lẽ phải, chân lý bị thao túng. Một người mà cả gia đình hy sinh cho Cách mạng với người ba là bí thư đầu tiên của Đảng bộ Cộng sản xã, người mẹ là mẹ chiến sỹ chăm lo cho bộ đội đánh Pháp đánh Mỹ, cả hai đã thành liệt sỹ cùng với cô chú, dượng, anh đều ngã xuống vì tham gia chống Mỹ. Một người mà 10 tuổi theo học trường cách mạng, 13 tuổi thoát ly gia đình tham gia kháng chiến, 14 tuổi thành chiến sỹ Giải phóng quân, cùng đồng đội bao lần vào sống ra chết, không chịu đi ra miền Bắc học tập chỉ vì căm thù Mỹ ngụy, quyết ở miền Nam chiến đấu đền nợ nước, trả thù nhà. Một người mà cả cuộc đời cống hiến cho Quân đội để trước khi rời quân ngủ có quyền tự hào rằng đã làm tròn trách nhiệm của người chiến sỹ quân đội nhân dân VN, mà không lúc nào không nghĩ đến làm sao góp phần nhỏ của mình vào xây dựng quân đội như lời Bác Hồ đã nói “…chính trị trọng hơn quân sự…”. Một người mà đủ tuổi để trở thành Đảng viên của Đảng đã được kết nạp vào Đảng khi chiến trường vô cùng gian khổ, ác liệt khó khăn, và có quyền tự hào gần 55 năm đứng dưới lá cờ vinh quang của Đảng đã luôn đặt lợi ích giai cấp và lợi ích của nhân dân lên hàng đầu, chấp nhận sống trong sạch, không bao giờ nhận những đồng tiền bất chính.

Thế mà giờ đây, khi đứng trước những việc tưởng như không bao giờ xảy ra dưới chế độ ta, chế độ XHCN do Đảng ta, Đảng của Bác Hồ sáng lập rèn luyện, luôn lấy CN Mác - Lê Nin và TT Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng và kim chỉ nam… lại có thể xảy ra. Đó là kẻ bán nước “…cõng rắn cắn gà/Rước voi giày mã…” - (HCM) Nguyễn Ánh cùng những kẻ như Lê Văn Duyệt, Phan Thanh Giản, Trương Vĩnh Ký… lại thành danh nhân văn hóa - anh hùng đất Việt, được đúc tượng đặt tên đường, tên trường… một điều càng lạ lùng hơn, khi những ai phản biện lại bị xúc phạm thậm tệ và thậm chí còn bị đe nẹt khởi tố bắt giam… Và tôi cũng đã nằm trong sự xúc phạm đe dọa đó.

Nhiều anh em, bạn bè và con cháu đã khuyên tôi nên dừng lại, việc này chỉ có Đảng mới đủ sức giải quyết thôi! Họ lo cho tôi không an toàn, tôi đã nói với họ rằng: Cả cuộc đời hy sinh cho Đảng, nay đã xế chiều, quỹ thời gian chẳng còn lại bao nhiêu, hơn 50 năm sống trong hòa bình, được hưởng cái quý giá nhất của dân tộc đó là “…độc lập, tự do” (HCM) so với bao đồng đội đã hy sinh thì mình đã được hưởng thụ quá nhiều, nay dừng lại có khác gì máu xương, anh hùng liệt sỹ đổ xuống sẽ trở nên vô nghĩa, do vậy tôi sẽ còn sức còn chiến đấu và bên mình có có bao đồng chí, đồng đội, đồng bào cùng chung sức, hương hồn các liệt sỹ sẽ ủng hộ, nhất là thế hệ trẻ đòi hỏi thế hệ già không thể buông xuôi. Sáng nay đọc bài viết của bạn Phan Trung Can với tiêu đề Nỗi đau và cay đắng, tôi rất đồng tình. Dân tộc ta đã bị tủi nhục vì mất nước, không có nỗi đau nào bằng “nước mất nhà tan” cả. Song ngày nay đất nước đang hòa bình phát triển, vị thế ngày càng nâng cao sao lại có nỗi đau này. Vì vậy tôi lại tiếp tục viết, viết cho người đã hy sinh, viết cho thế hệ chúng tôi còn đang sống và viết cho thế hệ hiện nay và lớp trẻ mãi sau: nếu chúng ta để nhận thức đúng sai, chính tà lẫn lộn, sự thật lịch sử không được bảo vệ, kẻ bán nước được ca ngợi, thì người yêu nước, anh hùng dân tộc sẽ bị quy tội, chủ nghĩa yêu nước Việt Nam sẽ không còn, sức mạnh của cả dân tộc sẽ bị tàn phá… Âm mưu của kẻ thù với CL DBHB không đánh mà thắng sẽ thành sự thật, bài học vết xe đổ của LX, ĐA và Ucraina sẽ lặp lại ở nước ta. Bởi vậy là Đảng viên của Đảng không cho phép chúng ta ngừng viết và ngừng đấu tranh./.


Khuyết danh ST.

BỘ MÁY TINH GỌN, QUẢN TRỊ HIỆN ĐẠI: ĐỘT PHÁ TỪ VĂN KIỆN ĐẠI HỘI XIV

     Góp ý vào Dự thảo Văn kiện Đại hội XIV của Đảng, các chuyên gia nhấn mạnh: Cải cách hành chính và hoàn thiện thể chế là hai trụ cột chiến lược, quyết định năng lực quản trị và sức mạnh phát triển quốc gia.

Ba thách thức lớn khi chuyển sang mô hình chính quyền 2 cấp

Góp ý vào Dự thảo Văn kiện Đại hội XIV của Đảng, GS.TS Nguyễn Quốc Sửu, Phó Giám đốc Học viện Hành chính và Quản trị công, nhận định: “Cải cách bộ máy, cải cách hành chính là một quá trình lâu dài, nhưng đến năm 2025, chúng ta có thể khẳng định đây là một cuộc đại cách mạng thực sự”.

Theo GS.TS Nguyễn Quốc Sửu, trong nhiều năm qua, vấn đề cải cách bộ máy luôn được Đảng và Nhà nước kiên trì đặt ra, song vẫn dừng lại ở mức hội thảo, lấy ý kiến mà chưa đạt hiệu quả triệt để. Trong bối cảnh hiện nay, với những quyết sách mạnh mẽ, việc tinh gọn bộ máy, đổi mới hoạt động của chính quyền các cấp đang được triển khai quyết liệt, thể hiện tư duy “dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm”.

Từ kết quả khảo sát và nghiên cứu thực tiễn tại các địa phương, GS.TS Nguyễn Quốc Sửu chỉ ra ba thách thức lớn trong quá trình tinh gọn bộ máy và cải cách hành chính.

Trước hết, việc chuyển từ mô hình chính quyền bốn cấp sang ba cấp đòi hỏi phải xác định lại triết lý phân quyền. “Phân cấp thì rõ, nhưng triết lý phân quyền thì cần làm lại từ đầu. Cơ chế ‘song trùng trực thuộc’ vốn thuộc mô hình bốn cấp vẫn đang hiện hữu. Khi bộ máy thu gọn, phải làm rõ địa phương được quyền gì, chịu trách nhiệm gì, và cần thể chế hóa điều đó bằng luật”, ông Sửu nhấn mạnh.

Ông cũng đề xuất xem xét lại bốn triết lý phân quyền: song trùng trực thuộc, giám sát, điều chỉnh và bổ trợ - để lựa chọn mô hình phù hợp với điều kiện địa chính trị, kinh tế và văn hóa Việt Nam.

GS.TS Sửu cho rằng, cấp xã, phường, thị trấn hiện nay mới hoạt động như “trạm cung cấp dịch vụ công”, chưa thực sự phát huy đúng vai trò của một cấp chính quyền.

“Một phường 60.000 dân không thể tổ chức nhân sự giống phường chỉ có 1.400 dân. Cách ‘đồng phục’ biên chế này sẽ gây ra nhiều bất cập”, ông lấy ví dụ.

Bên cạnh đó, tình trạng chuyển từ “nhiều người làm một việc” sang “một người làm nhiều việc” khiến áp lực công vụ tăng cao, trong khi chính sách đãi ngộ chưa tương xứng.

“Trách nhiệm cao, việc nhiều nhưng thu nhập không đổi - đó là khó khăn thực tế nếu chúng ta muốn giữ người giỏi trong bộ máy”, GS.TS Sửu nêu rõ.

Đánh giá Dự thảo Văn kiện Đại hội XIV, GS.TS Nguyễn Quốc Sửu cho rằng, văn kiện được chuẩn bị công phu, phản ánh toàn diện thực tiễn đất nước. Tuy nhiên, ông đề nghị nên bổ sung “bài học dám quyết” - tinh thần nổi bật trong nhiệm kỳ vừa qua.

“Nếu vấn đề đã chín, có sự đồng thuận cao thì phải dám quyết ngay. Đó là bài học thành công của Đảng ta trong cải cách bộ máy và chính sách”, ông nhấn mạnh.

Theo ông, mỗi chính sách cần được nhìn nhận theo vòng đời hoàn chỉnh - từ ban hành, thực thi, giám sát đến tổng kết. “Không thể ngồi trong phòng điều hòa để tổng kết. Phải bám sát thực tiễn, khảo sát người dân - vì sự hài lòng của nhân dân chính là thước đo quan trọng nhất của cải cách hành chính”, GS.TS Nguyễn Quốc Sửu khẳng định.

Theo GS.TS Nguyễn Quốc Sửu, tinh gọn bộ máy không chỉ là bài toán sắp xếp tổ chức mà là cuộc đổi mới tư duy quản trị quốc gia: “Chỉ khi chúng ta dám quyết, dám làm, dám chịu trách nhiệm và biết điều chỉnh chính sách theo thực tiễn, khi đó bộ máy hành chính mới thực sự trở thành bộ máy phục vụ nhân dân - hiệu lực, hiệu năng và hiệu quả”.

Thể chế - “đột phá đầu tiên” trong ba đột phá chiến lược

Cùng góp ý vào Dự thảo Văn kiện Đại hội XIV, PGS.TS Tào Thị Quyên, Phó Viện trưởng Viện Nhà nước và Pháp luật, nhấn mạnh “Hoàn thiện đồng bộ thể chế phát triển nhanh, bền vững đất nước” là một trong 13 định hướng lớn được nêu trong Dự thảo Báo cáo Chính trị. Đây là tư duy chiến lược thể hiện tầm nhìn sáng suốt của Đảng, khi coi thể chế là vấn đề đột phá, then chốt trong tiến trình phát triển đất nước.

PGS.TS Tào Thị Quyên đánh giá nhiều điểm mới về thể chế trong Dự thảo Văn kiện
Theo bà Quyên, Dự thảo Báo cáo Chính trị lần này kế thừa và phát triển từ Đại hội XIII của Đảng, khi “hoàn thiện thể chế” được đặt ở vị trí đột phá chiến lược đầu tiên.

PGS.TS Tào Thị Quyên chỉ ra ba thành tố cơ bản cấu thành thể chế phát triển gồm: Hệ thống chính sách, pháp luật và tiêu chuẩn - tạo hành lang pháp lý cho các quan hệ xã hội; Tổ chức bộ máy và hoạt động của các chủ thể - bao gồm Đảng, Nhà nước, Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức chính trị - xã hội và người dân; Cơ chế vận hành, điều phối giữa các chủ thể - bảo đảm môi trường tương tác, điều hành thống nhất.

“Ba thành tố này tạo nên một tổng thể thống nhất - gồm luật chơi, người chơi và sân chơi - qua đó hình thành môi trường thể chế hướng tới phát triển nhanh, bền vững”, bà Quyên phân tích.

PGS.TS Tào Thị Quyên, nếu như tại Đại hội XIII, nội dung thể chế tập trung vào bốn lĩnh vực: chính trị, kinh tế, xã hội và môi trường, thì Dự thảo Đại hội XIV đã phát triển sâu sắc hơn với sáu nhóm thể chế gồm: Thể chế chính trị; Thể chế kinh tế; Thể chế phát triển văn hóa; Thể chế quản lý phát triển xã hội; Thể chế về quản lý tài nguyên, môi trường, sinh thái; Thể chế về quốc phòng, an ninh và đối ngoại.

Như vậy, việc mở rộng lên sáu nhóm thể hiện bước phát triển tư duy của Đảng, vừa kế thừa, vừa cập nhật thực tiễn mới - phản ánh đúng yêu cầu quản trị quốc gia hiện đại.

Bà Tào Thị Quyên đánh giá cao cách diễn đạt trong Dự thảo Báo cáo Chính trị: “Hoàn thiện đồng bộ thể chế, trong đó thể chế chính trị là then chốt, thể chế kinh tế là trọng tâm, các thể chế khác là quan trọng”.

Theo bà, đây là cách thể hiện cô đọng, súc tích và có tính định hướng cao, phù hợp với tinh thần của một văn kiện chính trị chiến lược, mở đường cho giai đoạn phát triển mới - phát triển nhanh, bền vững và toàn diện.

Các chuyên gia khẳng định, từ “cuộc cách mạng cải cách bộ máy” đến “đột phá thể chế phát triển”, các ý kiến góp ý vào Dự thảo Văn kiện Đại hội XIV đều khẳng định: Tư duy đổi mới, hành động quyết liệt và hoàn thiện thể chế là chìa khóa mở ra giai đoạn phát triển mới của đất nước./.


Môi trường ST.

CÁN BỘ, ĐẢNG VIÊN ĐẨY MẠNH “PHỦ XANH” THÔNG TIN CHÍNH THỐNG, THÔNG TIN TÍCH CỰC TRÊN MẠNG XÃ HỘI

     Trong kỷ nguyên số, không gian mạng đã trở thành mặt trận trọng yếu trong cuộc đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng. Sự phát triển mạnh mẽ của internet và mạng xã hội ở Việt Nam những năm gần đây chính là điều kiện thuận lợi để lan tỏa thông tin chính thống, định hướng dư luận tích cực.

Theo báo cáo của DataReportal về mức độ phổ biến và sử dụng các thiết bị, dịch vụ kết nối, Việt Nam có 79,8 triệu người sử dụng internet và 76,2 triệu tài khoản mạng xã hội vào tháng 1-2025.
Đây là thuận lợi lớn, nhưng chính mặt trận này, các thế lực thù địch triệt để lợi dụng để tuyên truyền chống phá đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật Nhà nước, tung tin xuyên tạc công kích nền tảng tư tưởng của Đảng. 

Thực tế cho thấy, nội dung chống phá không mới, nhưng phương thức, thủ đoạn của các thế lực thù địch trên không gian mạng ngày càng tinh vi, phức tạp. Nếu không kịp thời kiểm soát và định hướng, không gian mạng rất có thể sẽ bị tin xấu độc “chiếm lĩnh”, đe dọa trực tiếp đến trận địa tư tưởng. Do đó, việc chủ động “phủ xanh” thông tin tích cực trên không gian mạng đang trở thành yêu cầu tất yếu và cấp bách. Đây được xem là giải pháp chiến lược nhằm tạo “lá chắn” tư tưởng vững chắc, góp phần đấu tranh phản bác quan điểm sai trái, thù địch, định hướng dư luận theo hướng lành mạnh, củng cố niềm tin của nhân dân vào sự lãnh đạo của Đảng và chế độ.

Sự bùng nổ của công nghệ số đã đưa không gian mạng trở thành một phần không thể thiếu trong đời sống người dân. Internet và mạng xã hội hiện là kênh chủ đạo để công chúng tiếp nhận, trao đổi thông tin. Việt Nam có lượng người dùng mạng xã hội thuộc hàng cao trên thế giới; trong số hơn 76 triệu tài khoản mạng xã hội ở Việt Nam, riêng Facebook, TikTok, Zalo và YouTube, mỗi mạng xã hội đều có hàng chục triệu người dùng. Rõ ràng, không gian mạng vừa là cơ hội, vừa đặt ra thách thức lớn nếu nội dung sai lệch chi phối nhận thức xã hội.

Mặt trái của bùng nổ thông tin là các nội dung độc hại, xuyên tạc lan truyền với tốc độ chóng mặt, tác động đến dư luận xã hội và nhận thức của đối tượng tiếp nhận. Nghiên cứu chỉ ra, tin giả lan truyền nhanh hơn nhiều lần so với tin đúng. Nội dung thông tin xấu độc thường giật gân, câu khách, nên dễ kích thích người dùng chia sẻ trước khi kiểm chứng. Hậu quả nguy hiểm của luồng tin xấu độc này là suy giảm niềm tin của nhân dân vào Đảng, Nhà nước; thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong một bộ phận cán bộ, đảng viên và tạo điều kiện để kẻ xấu thao túng dư luận, gây mất ổn định xã hội.

Nghị quyết số 35-NQ/TW của Bộ Chính trị về tăng cường bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong tình hình mới nhấn mạnh vai trò của không gian mạng, coi đây là mặt trận trọng yếu cần giữ vững, với phương châm kết hợp chặt chẽ giữa “xây” và “chống”, lấy xây dựng nội dung tích cực làm chính, "lấy cái đẹp dẹp cái xấu". Tinh thần ấy là "kim chỉ nam" cho loạt giải pháp “phủ xanh” thông tin tích cực trên không gian mạng hiện nay.

Trên tinh thần “lấy xây để chống, lấy cái đẹp dẹp cái xấu” của Nghị quyết số 35, nhiều giải pháp “phủ xanh” thông tin tích cực trên không gian mạng đang được triển khai đồng bộ. Để những thông tin tích cực trở thành dòng chảy chủ lưu trên không gian mạng và mạng xã hội, qua đó đẩy lùi thông tin xấu độc cần tập trung làm tốt một số giải pháp trọng tâm sau:

Một là, chủ động sản xuất và lan tỏa nội dung tích cực, chính thống. Các cơ quan báo chí, truyền thông cần đóng vai trò nòng cốt trong việc tạo dòng thông tin tích cực trên không gian mạng. Báo chí cách mạng phải đổi mới mạnh mẽ phương thức truyền thông trên nền tảng số, ứng dụng công nghệ hiện đại (AI, Big Data…) để phân tích xu hướng, thị hiếu và sản xuất nội dung phù hợp với từng nhóm công chúng. Bên cạnh những bài viết chính luận chuyên sâu, cần đa dạng hóa hình thức thể hiện, từ podcast, video ngắn đến infographic, livestream để thông tin chính thống trở nên sinh động, hấp dẫn hơn với công chúng trẻ.

Đồng thời, cần tăng tần suất và độ phủ của thông tin tích cực. Muốn “phủ xanh” dòng thông tin, chúng ta phải tạo ra thật nhiều nội dung tích cực chất lượng và khuyến khích cộng đồng (mỗi cán bộ, đảng viên, người dân) tích cực chia sẻ. Khi thông tin tích cực được lan tỏa rộng rãi sẽ “leo top” và xuất hiện dày đặc, dần lấn át tin xấu độc. 

Thực tế tại TP Hồ Chí Minh, TP Hà Nội cho thấy cách làm này đã giúp tập hợp nhiều câu chuyện đẹp, việc làm tốt trở thành “dòng thời sự tích cực chủ lưu” mỗi ngày, định hướng dư luận tích cực và tạo “sức đề kháng” cho cộng đồng cảnh giác hơn trước thông tin tiêu cực.

Cùng với đó, cần phát động các chiến dịch truyền thông sáng tạo để lôi cuốn giới trẻ tham gia lan tỏa thông tin tích cực. Chẳng hạn, Trung ương Đoàn đã triển khai cuộc vận động “Mỗi ngày một tin tốt, mỗi tuần một câu chuyện đẹp” trên mạng xã hội, thu hút đông đảo thanh, thiếu niên hưởng ứng và hình thành thói quen chia sẻ những câu chuyện đẹp, lan tỏa mạnh mẽ các giá trị tích cực.

"Phủ xanh" thông tin tích cực trên không gian mạng
Hai là, phát huy tốt vai trò chủ công của các lực lượng nòng cốt. Huy động sức mạnh tổng hợp của các lực lượng nòng cốt trên mặt trận truyền thông số là yếu tố then chốt. Trước hết, báo chí chính thống phải tiên phong định hướng dư luận, đấu tranh phản bác thông tin sai lệch. Mỗi nhà báo, biên tập viên cũng là một “chiến sĩ” trên mặt trận tư tưởng, cần vạch trần luận điệu xuyên tạc bằng ngòi bút sắc bén. Nhiều cơ quan báo chí đã lập chuyên trang bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trên môi trường số, tuyên truyền sâu về Chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, thành tựu đổi mới, đồng thời có các bài viết phản bác luận điệu sai trái của thế lực thù địch.
Bên cạnh báo chí, những người có tầm ảnh hưởng (KOL) trên mạng xã hội cũng cần chung tay lan tỏa thông tin tích cực. Tiếng nói của họ có thể truyền cảm hứng đến hàng triệu người, đặc biệt là giới trẻ, giúp thông tin tích cực thẩm thấu mềm mại, tự nhiên hơn. Nếu phát huy tốt vai trò các KOL, thông điệp tích cực sẽ lan tỏa sâu rộng trong toàn xã hội.

Đặc biệt, mỗi cán bộ, đảng viên phải gương mẫu coi mình là “chiến sĩ” trên mặt trận tư tưởng số, tiên phong lan tỏa thông tin tích cực. Ban Bí thư Trung ương Đảng đã ban hành Quy định số 85-QĐ/TW (ngày 7-10-2022) yêu cầu cán bộ, đảng viên sử dụng mạng xã hội đúng mực, chịu trách nhiệm về phát ngôn trên mạng. Thực hiện nghiêm quy định này sẽ giúp mỗi đảng viên trở thành hạt nhân tích cực đấu tranh phản bác thông tin xuyên tạc. Cùng với đó, phát huy vai trò các lực lượng chuyên biệt trên không gian mạng, nhất là lực lượng công nghệ cao phải luôn thường trực để kịp thời phát hiện, phản bác quan điểm thù địch và lan tỏa thông tin tích cực.

Ba là, ứng dụng công nghệ để ngăn chặn tin xấu độc. Cần phát triển hệ thống trí tuệ nhân tạo (AI) để sớm phát hiện tin giả, tin độc hại; đồng thời phối hợp với các nền tảng như Facebook, Google, TikTok... rà quét, loại bỏ nội dung vi phạm. Trước đó, các bộ, ngành chức năng đã yêu cầu các nền tảng này áp dụng công nghệ quét tự động và chặn tính năng kiếm tiền trên nội dung vi phạm; nhờ đó, nhiều nội dung xấu độc đã bị gỡ bỏ. Song song với giải pháp kỹ thuật, cần tổ chức “đội phản ứng nhanh” gồm những chuyên gia am hiểu để kịp thời phản bác tin giả, luận điệu sai trái ngay khi xuất hiện. Thực tế, Ban Chỉ đạo 35 các cấp đã thành lập các tổ chuyên trách trên không gian mạng để phản ứng nhanh, phối hợp xử lý hiệu quả các tình huống. Sự kết hợp giữa sức mạnh công nghệ và sức mạnh con người tạo thành “gọng kìm” nhiều tầng, giúp nhanh chóng vô hiệu hóa thông tin độc hại.

Bốn là, nâng cao ý thức, kỹ năng của người dùng. Mỗi người dùng internet cần trở thành “người gác cổng” thông tin cho chính mình, chỉ tiếp nhận và lan truyền nội dung hữu ích, kiên quyết nói không với tin giả, tin xấu độc. Muốn vậy, cần đẩy mạnh giáo dục và trang bị kỹ năng về thông tin cho cộng đồng, nhất là thế hệ trẻ. Ngay từ trường học, học sinh, sinh viên cần được học cách nhận diện tin giả, kiểm chứng thông tin; hiểu rõ tác hại của việc phát tán tin xấu độc. Bộ Giáo dục và Đào tạo nên đưa an toàn và văn hóa thông tin số vào chương trình học như một kỹ năng sống thiết yếu.

Trong bối cảnh Cách mạng công nghiệp 4.0 và bùng nổ truyền thông số, “phủ xanh” thông tin tích cực trên không gian mạng đã trở thành “mệnh lệnh” của thời đại để bảo vệ vững chắc nền tảng tư tưởng của Đảng. Thông tin tích cực tựa “dòng nước trong lành” nuôi dưỡng nhận thức và niềm tin của quần chúng; ngược lại, thông tin xấu độc chẳng khác gì “virus” tấn công vào “hệ miễn dịch” tư tưởng xã hội. Cuộc đấu tranh trên mặt trận này thực chất là cuộc chiến giành quyền chủ động thông tin, nếu chúng ta không nhanh chóng lấp đầy không gian truyền thông số bằng sự thật và những điều tốt đẹp, kẻ xấu sẽ gieo rắc dối trá và hận thù.

“Phủ xanh” thông tin tích cực trên không gian mạng là chiến lược bền vững nhằm giữ vững trận địa tư tưởng của Đảng. Để hiện thực hóa chiến lược này, cần sự chung tay của toàn xã hội. Báo chí chính thống phải đổi mới mạnh mẽ, tiên phong dẫn dắt dòng thông tin. Cơ quan quản lý nhà nước cần hoàn thiện hành lang pháp lý, kỹ thuật để giám sát, xử lý hiệu quả vi phạm trên mạng; đồng thời tạo điều kiện thuận lợi cho các lực lượng chuyên trách hoạt động. Các lực lượng nòng cốt phải phối hợp chặt chẽ từ Trung ương đến cơ sở, tạo thành nhiều lớp "lá chắn" bảo vệ tư tưởng. Mỗi người dân hãy luôn tỉnh táo trước thông tin xấu độc và tích cực lan tỏa những giá trị tốt đẹp. Đó chính là hành động thiết thực để góp phần bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, giữ vững ổn định xã hội và xây dựng một không gian mạng an toàn, lành mạnh./.
Theo QĐND
Yêu nước ST.

BƯỚC PHÁT TRIỂN MỚI TRONG TƯ DUY CHIẾN LƯỢC VỀ QUỐC PHÒNG, AN NINH!

     Với tư duy đổi mới, dự thảo các Văn kiện Đại hội XIV của Đảng được chuẩn bị công phu, kỹ lưỡng, cập nhật, chỉnh lý, bổ sung nhiều lần qua các hội nghị Trung ương, hội thảo, góp ý của các nhà khoa học, bảo đảm ngắn gọn, súc tích, dễ nhớ, dễ hiểu, dễ thực hiện. Kết cấu, nội dung các dự thảo văn kiện trình Đại hội XIV của Đảng có nhiều đổi mới, sáng tạo, thể hiện tinh thần nhìn thẳng vào sự thật, đánh giá khách quan tình hình, đề ra các quan điểm, mục tiêu, định hướng, nhiệm vụ trọng tâm và các giải pháp đột phá để phát triển nhanh và bền vững đất nước, thể hiện khát vọng vươn mình mạnh mẽ của cả dân tộc trong kỷ nguyên mới. Những điểm mới trong dự thảo văn kiện Đại hội XIV của Đảng về lĩnh vực quốc phòng, an ninh (QPAN) thể hiện một số vấn đề sau:

Một là, nhất quán quan điểm Đại hội XIII về kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại, dự thảo văn kiện Đại hội XIV đề cao việc phát huy sức mạnh, bản lĩnh, trí tuệ con người Việt Nam và vai trò "thế trận lòng dân": Đại hội XIII xác định phát huy cao nhất sức mạnh tổng hợp của toàn dân tộc, của cả hệ thống chính trị kết hợp với sức mạnh thời đại, tranh thủ tối đa sự đồng tình, ủng hộ của cộng đồng quốc tế để bảo vệ Tổ quốc (BVTQ); còn dự thảo văn kiện Đại hội XIV đã nhấn mạnh, đề cao việc “phát huy sức mạnh, bản lĩnh, trí tuệ con người Việt Nam”, bổ sung nội dung về sức mạnh của "thế trận lòng dân". Đại hội XIII cũng có định hướng việc xây dựng và phát huy mạnh mẽ "thế trận lòng dân" trong nền quốc phòng toàn dân (QPTD) và nền an ninh nhân dân; còn dự thảo Đại hội XIV là phát huy sức mạnh "thế trận lòng dân" trong sự nghiệp BVTQ. Điểm mới là đề cao, nhấn mạnh “lòng dân” và vai trò con người, với tư cách chủ thể của sự nghiệp xây dựng và BVTQ trong kỷ nguyên mới. Đây là định hướng rất quan trọng và cần thiết, thể hiện rõ quan điểm rất khoa học, đúng đắn của Đảng trong cổ vũ, động viên, phát huy nhân tố con người và vai trò "thế trận lòng dân" trong sự nghiệp xây dựng và BVTQ.

Hai là, đề cao tính chủ động trong BVTQ: Đại hội XIII đã xác định quan điểm, phương châm “kiên quyết, kiên trì” trong BVTQ. Từ nhận thức sâu sắc yêu cầu BVTQ từ sớm, từ xa, "giữ nước từ khi nước chưa nguy" mà dự thảo văn kiện Đại hội XIV bổ sung định hướng mới “Chủ động, kiên quyết, kiên trì đấu tranh bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất toàn vẹn lãnh thổ quốc gia, BVTQ từ sớm, từ xa” để định hướng nhận thức sự cần thiết phải “thấy trước, biết trước, chuẩn bị trước” tạo tâm thế chủ động, đi trước, chuẩn bị trước, ngăn chặn từ trước, từ xa, xử lý sớm các nguy cơ, không để đất nước bị động, bất ngờ trong mọi tình huống.

Ba là, nhấn mạnh yếu tố gắn kết, hài hòa trong kết hợp các thành tố, lĩnh vực của đời sống xã hội: Nhất quán với Đại hội XIII về “Kết hợp chặt chẽ, hiệu quả giữa kinh tế, văn hóa, xã hội, đối ngoại với QPAN và giữa QPAN với kinh tế, văn hóa, xã hội và đối ngoại”, dự thảo văn kiện Đại hội XIV đề cao tính hài hòa và bổ sung lĩnh vực “bảo vệ môi trường” trong kết hợp. “Gắn kết chặt chẽ, hài hòa giữa phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội, bảo vệ môi trường với củng cố QPAN, nâng cao hiệu quả hoạt động đối ngoại và hội nhập quốc tế”. Trước yêu cầu phát triển nhanh, bền vững cũng như nguy cơ, thách thức an ninh phi truyền thống ngày càng gia tăng, nhất là ô nhiễm môi trường sinh thái, Đảng ta đã chủ trương đưa nhiệm vụ bảo vệ môi trường cấp thiết, quan trọng phải kết hợp chặt chẽ, hài hòa trong phát triển kinh tế-xã hội, củng cố QPAN cũng như các mặt hoạt động khác của đời sống xã hội.

Bốn là, lần đầu tiên Đảng ta đưa quan điểm chỉ đạo “tự chủ về chiến lược” vào dự thảo văn kiện đại hội: Trước tình hình cạnh tranh chiến lược trên thế giới, khu vực ngày càng gay gắt, quyết liệt, thậm chí đối đầu trực diện và những hạn chế, bị động trong sự nghiệp xây dựng và BVTQ, đặt ra phải đề cao tự chủ chiến lược. Quan điểm này góp phần khẳng định vị thế, uy tín của đất nước, đồng thời cũng khẳng định vị trí, vai trò Đại hội XIV của Đảng có ý nghĩa bước ngoặt, là dấu mốc đặc biệt quan trọng trên con đường phát triển của đất nước.

Năm là, đẩy nhanh lộ trình xây dựng Quân đội nhân dân (QĐND), Công an nhân dân (CAND) cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại sớm hơn một nhiệm kỳ: Đại hội XIII xác định phấn đấu năm 2030 xây dựng QĐND, CAND cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại. Dự thảo văn kiện Đại hội XIV xác định “Xây dựng QĐND, CAND cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại, tuyệt đối trung thành với Tổ quốc, với Đảng, Nhà nước và nhân dân”. Đây là chủ trương được tính toán kỹ lưỡng, khoa học, có cơ sở lý luận, thực tiễn; nghiên cứu, nắm chắc các nguồn lực tự nhiên, bên trong, bên ngoài của đất nước và LLVT để đẩy sớm việc xây dựng QĐND, CAND hiện đại. Đó là bước đột phá, thể hiện quyết tâm cao, nỗ lực lớn của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân trong xây dựng LLVT đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ BVTQ trong kỷ nguyên mới.

Sáu là, lần đầu tiên đưa vào văn kiện đại hội nội dung về giữ vững và phát huy truyền thống của QĐND; phẩm chất “Bộ đội Cụ Hồ”, chức năng của Quân đội và truyền thống “Vì nước quên thân, vì dân phục vụ” của CAND: Nhất quán với văn kiện các đại hội trước về xây dựng QĐND, CAND vững mạnh về chính trị, tư tưởng, đạo đức, tổ chức và cán bộ, nhưng điểm mới là dự thảo văn kiện Đại hội XIV nhấn mạnh “Giữ vững và phát huy truyền thống QĐND, phẩm chất cao đẹp Bộ đội Cụ Hồ và phát triển nghệ thuật quân sự Việt Nam; thực hiện tốt chức năng đội quân chiến đấu, đội quân công tác, đội quân lao động sản xuất. Tiếp tục hoàn chỉnh tổ chức, bộ máy theo hướng “bộ tinh, tỉnh toàn diện, xã vững mạnh bám cơ sở”; giữ vững và phát huy truyền thống “Vì nước quên thân, vì dân phục vụ” của CAND. Điều này thể hiện sự nhận thức sâu sắc, sự ghi nhận và đánh giá cao của Đảng, của nhân dân về vai trò, giá trị lớn lao của truyền thống, văn hóa, phẩm chất “Bộ đội Cụ Hồ”, chức năng của Quân đội, truyền thống của Công an. Nó vừa là định hướng nhưng cũng là chủ trương, giải pháp chiến lược để ngăn chặn, đẩy lùi, đánh bại chiến lược “diễn biến hòa bình”, âm mưu, thủ đoạn “phi chính trị hóa” Quân đội, LLVT, các biểu hiện “tự diễn biến, “tự chuyển hóa” trong nội bộ, xây dựng LLVT nhân dân thực sự là lực lượng cách mạng, của dân, do dân, vì dân.

Bảy là, xây dựng nền quốc phòng hiện đại: Đây là bước phát triển mới, thể hiện tư duy mới, lý luận mới về nền quốc phòng Việt Nam. Trước sự phát triển của khoa học, công nghệ, nhất là cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, công nghệ số, tr.í t.uệ nh.ân t.ạo (AI) tạo ra nhiều đột phá mới, nhưng cũng tạo ra nhiều thách thức cho QPAN và BVTQ của tất cả các quốc gia, trong đó có Việt Nam. Nền quốc phòng hiện đại là xu thế tất yếu, hướng đi không thể đảo ngược, mục tiêu quan trọng của Việt Nam để BVTQ trong kỷ nguyên mới.

Tám là, đột phá về công nghiệp quốc phòng, an ninh: Đại hội XIII định hướng “Xây dựng, phát triển nền công nghiệp quốc phòng, công nghiệp an ninh hiện đại, lưỡng dụng”; dự thảo văn kiện Đại hội XIV xác định: Đẩy mạnh đột phá phát triển công nghiệp QPAN tự chủ, tự lực, tự cường, lưỡng dụng, hiện đại. Điều này thể hiện sự phát triển, nhận thức sâu sắc vai trò của công nghiệp QPAN trong nền QPTD; vai trò tự chủ, nhất là vũ khí, trang bị của LLVT, vai trò của kinh tế quốc phòng trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa, phát triển nền kinh tế quốc dân. Khi và chỉ khi chúng ta tự chủ, tự lực, tự cường xây dựng, phát triển được nền công nghiệp QPAN hiện đại và lưỡng dụng thì chúng ta mới có thể có được nền QPTD hiện đại, có được nền tảng vững chắc, công cụ, phương tiện, phương thức hiện đại để chủ động chiến lược trong sự nghiệp BVTQ thời kỳ mới.

Những điểm mới về QPAN trong dự thảo văn kiện Đại hội XIV của Đảng là những vấn đề rất quan trọng, vô cùng cần thiết để củng cố, phát triển nền QPAN hiện đại, xây dựng LLVT nhân dân thực sự cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại, đủ sức làm nòng cốt trong sự nghiệp BVTQ trong kỷ nguyên mới. Những vấn đề mới có sự kế thừa, phát triển của các kỳ đại hội trước; là những nội dung, công trình nghiên cứu rất khoa học, công phu với tư duy đổi mới, sáng tạo, được xây dựng, “thổi hồn” bởi những quyết sách chiến lược mới mang tính cách mạng của Đảng. Đây là những định hướng căn bản để toàn Đảng, toàn dân, toàn quân triển khai thực hiện thắng lợi sự nghiệp BVTQ trong kỷ nguyên mới.

Những vấn đề trong lĩnh vực QPAN cần tiếp tục nghiên cứu, bổ sung, làm rõ là:
1. Trước yêu cầu xây dựng và BVTQ trong kỷ nguyên mới, cần tiếp tục khẳng định và phát triển phương châm "4 kiên" trong BVTQ, đó là “kiên định, kiên quyết, kiên trì, kiên cường”. “Kiên định, kiên quyết, kiên trì” đã được xác định rõ trong Chiến lược BVTQ trong tình hình mới. Kiên cường đã được chỉ ra trong chiến lược quốc phòng Việt Nam. Vì vậy, trong kỷ nguyên mới cần hội tụ đầy đủ các thành tố cần thiết của phương châm BVTQ để chỉ đạo thực tiễn sự nghiệp BVTQ giành thắng lợi.

2. Cần nghiên cứu, bổ sung, làm rõ nền QPTD trong kỷ nguyên mới phải là một nền QPTD độc lập, tự chủ, tự lực, tự cường, linh hoạt, hiện đại, để bảo đảm sự nghiệp QPAN của đất nước luôn độc lập, tự chủ trong xác định phương hướng, mục tiêu, lộ trình bước đi; bảo đảm tính tự lực, tự cường không lệ thuộc vào bên ngoài trên cơ sở tăng cường quan hệ hợp tác quốc tế chủ động, sâu rộng, phù hợp.

3. Bổ sung, làm rõ định hướng về tiếp tục tham mưu hoạch định, bổ sung, phát triển, triển khai thực hiện đồng bộ, hiệu quả các chiến lược về quân sự, QPAN hướng vào các nội dung mới trong dự thảo văn kiện Đại hội XIV với mục tiêu, lộ trình, bước đi phù hợp.

4. Bổ sung định hướng việc kết hợp phát triển kinh tế-xã hội với QPAN, bảo vệ môi trường trên các nội dung sau: Gắn kết phát triển kinh tế số với BVTQ trên không gian mạng; phát triển kinh tế xanh, kinh tế tuần hoàn với bảo vệ môi trường; phát triển kinh tế biển với bảo vệ chủ quyền biển, đảo; phát triển kinh tế vùng gắn với xây dựng phòng thủ quân khu và khu vực phòng thủ; phát triển kinh tế đối ngoại với xây dựng thế trận, vành đai an ninh BVTQ từ sớm, từ xa, từ bên ngoài lãnh thổ, biên giới hành chính quốc gia; phát triển kinh tế tầm thấp, kinh tế vũ trụ với bảo vệ không phận quốc gia và không gian vũ trụ.

Để thực hiện được những định hướng đó, ngay từ bây giờ chúng ta cần thực hiện tốt một số vấn đề sau:
Một là, làm tốt công tác nghiên cứu, dự báo, tham mưu chiến lược về QPAN. Quán triệt phương châm chủ động để dự báo sát đúng tình hình thế giới, khu vực, trong nước, các tình huống chiến lược, chuẩn bị trước các phương án, sẵn sàng nguồn lực, lực lượng, phương tiện, phương thức để xử lý thắng lợi mọi tình huống QPAN, bảo vệ vững chắc Tổ quốc từ sớm, từ xa.

Hai là, cụ thể hóa, thiết kế các chiến lược, chương trình, dự án, đề án cả ngắn hạn, trung hạn, dài hạn, chú trọng chiến lược, dài hạn để có cơ sở triển khai thực hiện nghị quyết của Đảng, nhất là các nội dung mới về QPAN và BVTQ.

Ba là, chuẩn bị các nguồn lực để xây dựng Quân đội, Công an, nền QPTD hiện đại, nhất là nguồn lực con người. Để có thể tự chủ chiến lược đòi hỏi phải nhận thức sâu sắc vai trò chủ thể và nguồn lực, do đó phải chuẩn bị tâm thế, xây dựng, phát huy vai trò công dân số, quân nhân số trong kỷ nguyên mới.

Bốn là, tăng cường hội nhập quốc tế và đối ngoại, nhất là đối ngoại QPAN để phát huy vai trò tiên phong huy động nguồn lực quốc tế, xây dựng lòng tin chiến lược, sự tương trợ, giúp đỡ của các nước đối với sự nghiệp xây dựng và BVTQ Việt Nam trong kỷ nguyên mới./.
Theo QĐND
Yêu nước ST.