Thứ Hai, 17 tháng 11, 2025

GIÁ TRỊ TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ ĐẠI ĐOÀN KẾT DÂN TỘC TRONG SỰ NGHIỆP CỦNG CỐ, TĂNG CƯỜNG KHỐI ĐẠI ĐOÀN KẾT TOÀN DÂN TỘC Ở VIỆT NAM HIỆN NAY!

     Trong suốt cuộc đời mình, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn xác định đại đoàn kết dân tộc là phương thức, là sức mạnh và là mục tiêu quan trọng nhất của cách mạng Việt Nam. Với tư tưởng ấy, dân tộc Việt Nam đã giành được độc lập và xây dựng đất nước từng bước đạt mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”. Tư tưởng đại đoàn kết dân tộc của Chủ tịch Hồ Chí Minh đã trở thành giá trị văn hóa, giá trị chính trị quý báu của Việt Nam trong thời đại mới.
 
Với Chủ tịch Hồ Chí Minh, nếu độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội là mục tiêu của cách mạng Việt Nam, Đảng Cộng sản là lực lượng lãnh đạo cách mạng Việt Nam, thì đại đoàn kết dân tộc là sức mạnh của cách mạng Việt Nam và tư tưởng về đại đoàn kết dân tộc là tư tưởng về tập hợp, tổ chức và phát huy sức mạnh của các lực lượng cách mạng trong nước, từ sức mạnh của các lực lượng xã hội, các tổ chức chính trị đến sức mạnh của toàn dân tộc, kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại, làm nên nguồn lực tổng hợp nhằm hiện thực hóa mục tiêu cách mạng dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam. Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định, đoàn kết, trong đó có đại đoàn kết dân tộc, là một nội dung cơ bản, trung tâm của chính trị Việt Nam hiện đại. Người viết: “Tóm lại chính trị là: 1. Đoàn kết. 2. Thanh khiết từ to đến nhỏ”.
 
Tư tưởng chính trị Hồ Chí Minh về đại đoàn kết dân tộc được Người xây dựng trên nền tảng đúc rút trí tuệ nhân loại cổ, kim, Đông, Tây về tập hợp và tổ chức lực lượng cách mạng; trên cơ sở tổng kết lịch sử dân tộc Việt Nam, lịch sử cách mạng Việt Nam và nhiều cuộc cách mạng trên thế giới; và nhất là dựa trên những suy tư rất sâu sắc của Người, ở tầm triết học, về bản chất con người, về vị trí và vai trò của con người trong thế giới, phương thức sống và hoạt động của con người..., nói cách khác trên nền tảng nhân sinh quan cách mạng của Chủ tịch Hồ Chí Minh.
 
Chủ tịch Hồ Chí Minh không chỉ là nhà tư tưởng về đại đoàn kết dân tộc, mà Người trước hết là “nhà hoạt động chính trị chuyên nghiệp” - như chính Người khẳng định, trong đó tư tưởng và thực hành đại đoàn kết dân tộc, lý luận và thực tiễn đại đoàn kết dân tộc liên hệ chặt chẽ với nhau. Chủ tịch Hồ Chí Minh là linh hồn và là trung tâm dẫn dắt quá trình tập hợp và tổ chức lực lượng cách mạng trong thực tiễn. Tư tưởng đại đoàn kết, trong đó đại đoàn kết dân tộc là vấn đề hàng đầu mà Chủ tịch Hồ Chí Minh tính đến khi đứng trước những vấn đề lớn mà cách mạng đặt ra. Thực tiễn cách mạng Việt Nam chứng minh, với tư tưởng và vai trò thực tế của Chủ tịch Hồ Chí Minh, sức mạnh của dân tộc Việt Nam được tập hợp, tổ chức và phát huy cao độ; kết hợp nhuần nhuyễn giữa sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại, góp phần làm nên những thắng lợi to lớn của cách mạng Việt Nam.
 
Tư tưởng Hồ Chí Minh về đại đoàn kết dân tộc cùng với khối đại đoàn kết dân tộc mà Chủ tịch Hồ Chí Minh dày công xây dựng là một di sản vô cùng quý báu cho Đảng ta và dân tộc ta. Trong bối cảnh hiện nay, khi mục tiêu được Đảng ta đưa ra trong Đại hội XIII của Đảng là: “khơi dậy khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc, phát huy ý chí và sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc kết hợp với sức mạnh thời đại” đang đặt ra mạnh mẽ, thì việc tiếp tục đi sâu nghiên cứu, khai thác, vận dụng một cách sáng tạo những giá trị trong tư tưởng Hồ Chí Minh về đại đoàn kết dân tộc là nhiệm vụ có ý nghĩa lý luận và thực tiễn quan trọng.
 
Quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh về tầm quan trọng của đại đoàn kết dân tộc.
 
Để giải quyết những vấn đề lớn của cách mạng Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh rất coi trọng việc tổng kết lịch sử. Khi tổng kết lịch sử dân tộc Việt Nam, Người đúc rút một quy luật: “Sử ta dạy cho ta bài học này: Lúc nào dân ta đoàn kết muôn người như một thì nước ta độc lập, tự do. Trái lại lúc nào dân ta không đoàn kết thì bị nước ngoài xâm lấn. Vậy nay ta phải biết đoàn kết, đoàn kết mau, đoàn kết chắc chắn thêm lên mãi”. Đây là quan điểm rất quan trọng, mang tính nền tảng của Chủ tịch Hồ Chí Minh về đại đoàn kết dân tộc, theo đó, việc lực lượng lãnh đạo cách mạng chú trọng củng cố, tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân tộc, việc các tầng lớp nhân dân tích cực, chủ động tham gia khối đại đoàn kết toàn dân tộc, đó chính là nhận thức và hành động đúng đắn, phù hợp với quy luật.
 
Nhìn vào các phong trào yêu nước của các tầng lớp nhân dân Việt Nam suốt nửa cuối thế kỷ XIX và đầu thế kỷ XX và phong trào đấu tranh của nhân dân nhiều nước thuộc địa chống lại chủ nghĩa thực dân, Chủ tịch Hồ Chí Minh thấy rõ, nguyên nhân khiến cho hầu hết các phong trào đó, dù nổ ra với tinh thần anh dũng, sẵn sàng hy sinh của nhân dân, nhưng đều thất bại, là do bị chia rẽ và cô lập, các lực lượng yêu nước không được tập hợp và tổ chức lại thành một khối đoàn kết vững chắc. Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng dành thời gian nghiên cứu kinh nghiệm các cuộc cách mạng lớn nổ ra trên thế giới như cách mạng Pháp, cách mạng Mỹ và cách mạng Nga, từ đó đúc rút ra những chỉ dẫn quan trọng về đại đoàn kết dân tộc. Người còn đi sâu nghiên cứu nhiều tư tưởng, học thuyết của các nhà lãnh đạo chính trị tầm cỡ, như M. Gan-di, Tôn Trung Sơn..., và đặc biệt, đến với chủ nghĩa Mác - Lê-nin, nhờ vậy, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã có được cơ sở lý luận khoa học để luận giải sâu sắc về tầm quan trọng của đại đoàn kết dân tộc, nhận thức đúng đối tượng đại đoàn kết và cách thức tiến hành đại đoàn kết dân tộc.
 
Trên tất cả những cơ sở đó, Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định tầm quan trọng đặc biệt của đại đoàn kết dân tộc:
 
Thứ nhất, đại đoàn kết dân tộc là một trong những vấn đề gốc của cách mạng. Nếu giải quyết thành công vấn đề này thì các vấn đề khác cũng sẽ có điều kiện để giải quyết thành công. Chủ tịch Hồ Chí Minh dùng từ “điểm mẹ” để diễn đạt quan điểm này. Người viết: Đoàn kết là “điểm mẹ. Điểm này mà thực hiện tốt thì đẻ ra con cháu đều tốt”.
 
Thứ hai, đại đoàn kết dân tộc là phương thức để tập hợp, tổ chức và phát huy cao độ sức mạnh của toàn thể dân tộc, góp phần quyết định đưa cách mạng Việt Nam đến thắng lợi. Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ: “... nhờ sức đại đoàn kết mà cách mệnh thành công... nhờ sức đại đoàn kết mà kháng chiến sẽ thắng lợi”; “Thống nhất nước nhà là con đường sống của nhân dân ta. Đại đoàn kết là một lực lượng tất thắng. Nhờ đại đoàn kết mà cách mạng đã thắng lợi, kháng chiến đã thành công. Nay chúng ta đại đoàn kết thì cuộc đấu tranh chính trị của chúng ta nhất định thắng lợi, nước nhà nhất định thống nhất”.
 
Thứ ba, đại đoàn kết dân tộc là chiến lược hàng đầu của Đảng Cộng sản Việt Nam. Trong bất cứ giai đoạn nào của cách mạng, đại đoàn kết dân tộc luôn phải được Đảng Cộng sản Việt Nam quan tâm giải quyết trước hết. Chủ tịch Hồ Chí Minh căn dặn, “Trước Cách mạng Tháng Tám và trong kháng chiến, thì nhiệm vụ tuyên huấn là làm cho đồng bào các dân tộc hiểu được mấy việc: Một là đoàn kết. Hai là làm cách mạng hay kháng chiến để đòi độc lập. Chỉ đơn giản thế thôi. Bây giờ mục đích tuyên truyền huấn luyện là: Một là đoàn kết. Hai là xây dựng chủ nghĩa xã hội. Ba là đấu tranh thống nhất nước nhà”. Đảng Cộng sản Việt Nam xây dựng đường lối, chiến lược đại đoàn kết dân tộc và lãnh đạo hệ thống chính trị cùng toàn thể nhân dân tích cực thực hiện đường lối chiến lược đó, làm cho đại đoàn kết dân tộc trở thành một hiện thực đầy sức sống trong cách mạng Việt Nam.
 
Quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh về đối tượng đại đoàn kết dân tộc.
 
Trong tư tưởng Hồ Chí Minh, đại đoàn kết dân tộc là đại đoàn kết toàn dân. Trong bài nói chuyên tại Hội nghị đại biểu Mặt trận Liên Việt toàn quốc (tháng 1-1969), Chủ tịch Hồ Chí Minh phát biểu: “Đại đoàn kết tức là trước hết phải đoàn kết đại đa số nhân dân, mà đại đa số nhân dân ta là công nhân, nông dân và các tầng lớp nhân dân lao động khác. Đó là nền gốc của đại đoàn kết. Nó cũng như cái nền của nhà, gốc của cây. Nhưng đã có nền vững, gốc tốt, còn phải đoàn kết các tầng lớp nhân dân khác. Bất kỳ ai mà thật thà tán thành hòa bình, thống nhất, độc lập, dân chủ thì dù những người đó trước đây chống chúng ta, bây giờ chúng ta cũng thật thà đoàn kết với họ”. Có thể thấy, ý nghĩa chữ “đại” trong tư tưởng Hồ Chí Minh về đại đoàn kết dân tộc chính là biên độ của đại đoàn kết được mở rộng tối đa, là đoàn kết với mọi đối tượng có thể đoàn kết được.
 
Vấn đề đặt ra là, đó là những đối tượng nào?
 
Chủ tịch Hồ Chí Minh xác định các đối tượng của đại đoàn kết bằng phương pháp rất khoa học. Theo Người, dân tộc không phải là một “cộng đồng tưởng tượng”, mà là một cộng đồng hiện thực của những con người hiện thực. Để nhận diện đúng cộng đồng ấy, Người tiếp cận cộng đồng dân tộc bằng nhiều “lát cắt” khác nhau: giai cấp, dân tộc, tôn giáo, giới tính, lứa tuổi, vùng miền,... Tùy từng “lát cắt” sẽ chia cộng đồng dân tộc thành những lực lượng xã hội khác nhau, với những đặc điểm về nhu cầu, lợi ích, tâm lý, thái độ,... riêng cùng những mối quan hệ đặc thù. Điều cần lưu ý là, Chủ tịch Hồ Chí Minh không tuyệt đối hóa một lát cắt hay quan hệ nào. Trái lại, áp dụng nhiều “lát cắt” để nhìn sâu vào cái bộ phận, nhưng không dừng ở cái bộ phận mà đi tới cái toàn thể, tức là để nhìn đối tượng đại đoàn kết trong tính chỉnh thể, trong tính tổng hòa khách quan vốn có, theo đúng quan điểm của C. Mác: Trong tính hiện thực của nó, bản chất con người là tổng hòa các mối quan hệ xã hội. Nhận diện một đối tượng đại đoàn kết không phải chỉ trên một phương diện nào đó, chẳng hạn dân tộc hay tôn giáo, mà trong tính tổng hòa đan xen của nó: cùng một đối tượng đại đoàn kết, vừa là con người dân tộc, vừa là con người giai cấp, vừa là con người tôn giáo, vừa là con người lứa tuổi... Cách tiếp cận toàn diện như vậy giúp chủ thể tìm ra những điểm chung để hóa giải các quan hệ khác biệt, mâu thuẫn trong quan hệ giữa các đối tượng đại đoàn kết. Có thể khẳng định, Chủ tịch Hồ Chí Minh phân tích để nhận diện sâu về đối tượng đại đoàn kết trên các phương diện khác nhau và lấy đó làm cơ sở để tổng hợp, để đại đoàn kết là cách tiếp cận độc đáo của Người, vừa khoa học, vừa rất văn hóa, độc đáo, đặc sắc và hiệu quả.
 
Chủ tịch Hồ Chí Minh không tuyệt đối hóa lát cắt nào, nhưng từ góc nhìn chung của đại đoàn kết dân tộc, Chủ tịch Hồ Chí Minh nhấn mạnh điểm chung xuyên qua những khác biệt của các thành viên trong cùng một quốc gia - dân tộc, đó là những giá trị liên quan đến lợi ích chung của dân tộc. Đó là cơ sở quan trọng để Người khẳng định rằng, dù giai cấp, tộc người, tôn giáo, vùng, miền khác nhau, dù là trong nước hay nước ngoài..., nhưng là người Việt Nam, thì đều có những lợi ích chung có thể chia sẻ, vì thế, đều có thể và cần thiết tham gia khối đại đoàn kết dân tộc để phấn đấu cho lợi ích chung. Trong bối cảnh cụ thể của cách mạng Việt Nam khi đó, lợi ích chung ấy được Chủ tịch Hồ Chí Minh diễn đạt là “yêu Tổ quốc, yêu hoà bình, yêu thống nhất”, hay “thật thà tán thành hòa bình, thống nhất, độc lập, dân chủ”,... Hình ảnh “con Lạc, cháu Hồng”, “con dân nước Việt” mà Chủ tịch Hồ Chí Minh nêu lên chính là hiện thân cho những giá trị chung trong mỗi đối tượng đại đoàn kết. Rõ ràng, nói đại đoàn kết dân tộc là đại đoàn kết toàn dân, ở đây, tuyệt nhiên không phải là một khẩu hiệu đơn thuần, mà là một chính sách dân tộc, một cương lĩnh hành động được xây dựng trên cơ sở nhận thức khoa học và mang tính khoan dung văn hóa rất sâu sắc.
 
Quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh về nguyên tắc đại đoàn kết dân tộc.
 
Để có thể thực hiện được đại đoàn kết dân tộc, Hồ Chí Minh đã nêu lên một số nguyên tắc chỉ đạo hoạt động nhận thức và hoạt động thực tiễn.
 
Thứ nhất, quán triệt nguyên tắc “cầu đồng, tồn dị”, trước hết phải “cầu đồng”, tức là phải tìm ra cái “đồng” mà các bên chia sẻ, lấy đó làm điểm quy tụ để đại đoàn kết.
 
Cái “đồng” đó, trong tư tưởng Hồ Chí Minh, suy cho cùng chính là lòng yêu nước chân chính trong mỗi con người Việt Nam. Trong Thư gửi đồng bào Nam Bộ trước khi rời Việt Nam sang Pháp dự Hội nghị Phông-ten-nơ-b-lô, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã viết: “Tôi khuyên đồng bào đoàn kết chặt chẽ và rộng rãi. Năm ngón tay cũng có ngón vắn ngón dài. Nhưng vắn dài đều họp nhau lại nơi bàn tay. Trong mấy triệu người cũng có người thế này thế khác, nhưng thế này hay thế khác đều dòng dõi của tổ tiên ta. Vậy nên ta phải khoan hồng đại độ. Ta phải nhận rằng đã là con Lạc cháu Hồng thì ai cũng có ít hay nhiều lòng ái quốc. Đối với những đồng bào lạc lối lầm đường, ta phải lấy tình thân ái mà cảm hoá họ. Có như thế mới thành đại đoàn kết, có đại đoàn kết thì tương lai chắc sẽ vẻ vang”. Thừa nhận rằng, đã là con Lạc, cháu Hồng, thì ai cũng có ít hay nhiều lòng ái quốc, đó chính là quan điểm nhấn mạnh cái “đồng” của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong tiếp cận các đối tượng đại đoàn kết.
 
Cái “đồng” đó còn là những quyền lợi chính đáng khác mà mỗi con người, dù ở giai cấp, tầng lớp, vùng, miền nào..., cũng hướng đến. Nói cách khác, cùng với “độc lập”, thì “tự do”, “hạnh phúc”, “cơm ăn”, “áo mặc”, “học hành”,... cũng là những giá trị chung cần được quan tâm và là điểm tựa để quy tụ, đoàn kết mọi lực lượng xã hội khác nhau vào một sự nghiệp chung.
 
Tìm ra cái chung, lấy cái chung làm điểm tựa, dựa vào cái chung để hóa giải những khác biệt, mâu thuẫn riêng, đó là triết lý rất sâu sắc của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong thực hiện đại đoàn kết dân tộc.
 
Thực hiện nguyên tắc “cầu đồng, tồn dị” thì không chỉ “cầu đồng”, mà còn phải “tồn dị”, tức là phải chấp nhận và tôn trọng những cái khác biệt, miễn là không tổn hại đến cái chung. “Tồn dị” thể hiện tinh thần khoan dung, độ lượng, hay nói theo cách của Chủ tịch Hồ Chí Minh là “khoan hồng đại độ”. Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ: “Tôi cả quyết cam đoan rằng Chính phủ và đồng bào ta sẽ hết sức khoan hồng đại độ. Chẳng những để cho những người đó cải quá tu tâm, quay về với Tổ quốc, mà lại sẵn sàng trọng dụng họ, nếu những người đó có tài nghệ. Một dân tộc đã tự cường, tự lập, dân chủ cộng hòa thì không làm những việc nhỏ nhen, báo thù báo oán”. Có khoan hồng đại độ, thì mới có đại đoàn kết, đó cũng là một triết lý đại đoàn kết rất sâu sắc của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Khoan hồng đại độ không chỉ thể hiện cái tâm, mà còn thể hiện cái tầm của chủ thể đại đoàn kết. Hình ảnh thể hiện của tinh thần khoan dung chính là sông to và biển rộng: “Sông to, biển rộng, thì bao nhiêu nước cũng chứa được, vì độ lượng nó rộng và sâu. Cái chén nhỏ, cái đĩa cạn, thì một chút nước cũng đầy tràn, vì độ lượng nó hẹp nhỏ”. Cái tâm và cái tầm chủ thể đại đoàn kết dân tộc trái ngược hoàn toàn với sự “nhỏ nhen”, hẹp hòi, định kiến, càng xa lạ với lối ứng xử “báo thù báo oán”. Tinh thần khoan dung, độ lượng, hay khoan hồng đại độ ở Chủ tịch Hồ Chí Minh thực sự chính là tinh thần khoan dung văn hóa, mang tính nhân văn, nhân đạo cực kỳ sâu sắc.
 
Thứ hai, thực hiện nguyên tắc “cầu đồng, tồn dị” nói trên, theo tư tưởng Hồ Chí Minh, cần được đặt trên nền tảng niềm tin đối với con người. Đứng vững trên quan điểm của chủ nghĩa Mác, Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ, “mỗi con người đều có thiện và ác ở trong lòng”. Thiện hay ác đó không phải là “tính sẵn”, mang tính tiên thiên, mà do trình độ phát triển của xã hội quy định, do sự tập nhiễm của con người khi sống trong xã hội chưa thực sự đạt đến trình độ văn minh. Thiện hay ác đó cũng không phải là nhất thành bất biến, mà biến đổi tuỳ thuộc vào giáo dục, theo nghĩa là giáo dục từ phía xã hội, cũng như tự giáo dục của mỗi con người. Lực lượng lãnh đạo cách mạng cần phải có niềm tin vào sự tồn tại của cái thiện trong mỗi con người, và khả năng nảy nở, phát triển của nó nếu được tác động đúng hướng, đúng cách, và thái độ cần có của lực lượng lãnh đạo xã hội là phải làm cho cái thiện “nảy nở như hoa mùa Xuân” và cái ác “mất dần đi”. Lòng yêu nước chân chính, những định hướng giá trị tốt đẹp, như “ấm no”, “tự do”, “hạnh phúc”,... trong mỗi con người Việt Nam chính là cái thiện, và vì thế cần có niềm tin và thái độ ứng xử tích cực đối với cái thiện đó. Chủ tịch Hồ Chí Minh căn dặn: “Không được báo thù báo oán. Đối với những kẻ đi lầm đường lạc lối, đồng bào ta cần phải dùng chính sách khoan hồng. Lấy lời khôn lẽ phải mà bày cho họ. Ai cũng có lòng yêu nước, chẳng qua có lúc vì lợi nhỏ mà quên nghĩa lớn. Nói lẽ phải họ tự nghe. Tuyệt đối không được dùng cách kịch liệt”. Có thể thấy, niềm tin không chỉ đầy tính khoa học, mà cũng cực kỳ nhân văn ở Chủ tịch Hồ Chí Minh đối với cái thiện và năng lực hướng thiện của con người là một triết lý nhân sinh cực kỳ quan trọng, là một bệ đỡ cho hệ thống tư tưởng Hồ Chí Minh, trong đó có tư tưởng về đại đoàn kết dân tộc, là cơ sở để thực hiện các nguyên tắc đại đoàn kết dân tộc một cách thành công. Đó cũng là một nguyên tắc thực hiện đại đoàn kết dân tộc của Chủ tịch Hồ Chí Minh.
 
Thứ ba, đại đoàn kết dân tộc theo tư tưởng Hồ Chí Minh hướng tới hình thành một cộng đồng gắn bó và thống nhất. Có như vậy, mới tập hợp và phát huy được cao độ sức mạnh của mỗi thành viên trong khối đại đoàn kết tạo nên tổng hợp lực cho cách mạng. Để làm được điều đó, ngoài niềm tin và thái độ đúng, còn cần đến cách ứng xử phù hợp. Trừ bọn “Việt gian bán nước”, trừ bọn “phát xít thực dân”, mà Chủ tịch Hồ Chí Minh gọi là “những ác quỷ mà ta phải kiên quyết đánh đổ”, thì “đối với tất cả những người khác thì ta phải yêu quý, kính trọng, giúp đỡ”. Khi nói đến cách ứng xử để xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc, Hồ Chí Minh thường dùng những chữ “thật thà”, “chân thành”, “thân thiết”, “thân ái”, “yêu quý”, “kính trọng”, “giúp đỡ”,... Người viết: “Phong trào giải phóng sôi nổi, nảy nở ra rất nhiều nhân tài ngoài Đảng. Chúng ta không được bỏ rơi họ, xa cách họ. Chúng ta phải thật thà đoàn kết với họ, nâng đỡ họ. Phải thân thiết với họ, gần gụi họ, đem tài năng của họ giúp ích vào công cuộc kháng chiến cứu nước. Chúng ta phải tẩy sạch các bệnh kiêu ngạo, bệnh hẹp hòi, bệnh bao biện”. Người còn chỉ dẫn: “Đồng chí ta, tuy có khi khác nhau về chủng tộc hay khác nhau về nguồn gốc giai cấp, nhưng là những người cùng chủ nghĩa, cùng mục đích, cùng sống, cùng chết, chung sướng, chung khổ, cho nên phải thật thà đoàn kết. Muốn đi tới mục đích, không phải chỉ tổ chức là đủ, phải chân thành trong tư tưởng nữa”,... Như vậy, dù góc tiếp cận nào: trong đảng hay ngoài đảng, chủng tộc hay giai cấp, thì để thực hiện được đại đoàn kết dân tộc, đều cần có cách ứng xử phù hợp, và cách ứng xử đó có thể khái quát là “cách Thiện”: cách Thiện để tạo ra cái Thiện, để làm cho những mầm Thiện nảy nở như hoa mùa Xuân. Đây cũng là một nguyên tắc quan trọng trong tư tưởng Hồ Chí Minh về đại đoàn kết dân tộc.
 
Tư tưởng Hồ Chí Minh về đại đoàn kết dân tộc còn nhiều nội dung rất phong phú, sâu sắc. Những quan điểm đó chứa đựng những giá trị quan trọng đối với sự nghiệp củng cố, tăng cường khối đại đoàn kết dân tộc ở Việt Nam hiện nay. Có thể khái quát là:

Một là, đại đoàn kết toàn dân tộc đã, đang và sẽ luôn là một quy luật chi phối sự tồn tại và phát triển của quốc gia - dân tộc Việt Nam. Để có thể xây dựng, phát triển đất nước và bảo vệ Tổ quốc, nhiệm vụ xây dựng, củng cố, tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân tộc luôn phải được đặt lên hàng đầu, phải là nhiệm vụ hàng đầu của Đảng và Nhà nước Việt Nam, và trực tiếp là của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam. Coi trọng vai trò của đại đoàn kết dân tộc đòi hỏi phải thực sự coi trọng vai trò của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam trong hệ thống chính trị.
 
Hai là, luôn quán triệt quan điểm mở rộng tối đa khối đại đoàn kết dân tộc. Trong xã hội mở và biến đổi nhanh chóng hiện nay, các lực lượng xã hội cấu thành dân tộc rất đa dạng, nhiều khác biệt. Tuy nhiên, dù đa dạng và nhiều khác biệt đến mấy, luôn cần nhìn nhận đó là các lực lượng cần tập hợp vào khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Cần mở rộng các hình thức tập hợp, tổ chức các lực lượng xã hội và có cơ chế để thu hút, quy tụ các hình thức đó vào trong Mặt trận Tổ quốc Việt Nam. Mặt trận Tổ quốc Việt Nam phải thực sự là hiện thân của khối đại đoàn kết toàn dân tộc với các cấp độ tổ chức chặt chẽ và cơ chế hoạt động hiệu quả. Muốn vậy, Mặt trận phải rất thực chất và đầy sức sống, vừa rất thống nhất, vừa đa dạng và sinh động.
 
Ba là, để thực hiện được đại đoàn kết dân tộc trong bối cảnh xã hội phân hoá, phân tầng mạnh mẽ hiện nay, nguyên tắc “cầu đồng, tồn dị” càng hết sức quan trọng. Việc phát hiện và khơi dậy những giá trị, lợi ích chung, cũng như việc chấp nhận và tôn trọng những cái khác biệt sẽ khó khăn hơn, nhưng không thể không thực hiện. Đối với Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, phải làm sao để các đại diện trong Mặt trận thật sự đại diện được cho sự đa dạng trong xã hội, đồng thời phải có cơ chế để sự đa dạng tương tác và tồn tại trong mục tiêu thống nhất. Tinh thần căn bản cần quán xuyến ở đây chính là dân chủ và pháp quyền.

Xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa là mục tiêu lớn của Việt Nam trong giai đoạn hiện nay, theo tư tưởng Hồ Chí Minh, đó phải là nền “pháp quyền nhân nghĩa”. Không phải ngẫu nhiên mà có học giả gọi kỷ nguyên hiện nay là kỷ nguyên của văn hoá, do đó, cách thiện càng là một đòi hỏi về cách ứng xử đối với các lực lượng xã hội khác nhau trong xây dựng khối đại đoàn kết dân tộc ở Việt Nam hiện nay. Chủ tịch Hồ Chí Minh chưa dùng khái niệm “quyền lực mềm”, “sức mạnh mềm”, nhưng Người nhiều lần chỉ dẫn về việc “bày lẽ phải”, “nói phải”, “thuyết phục”,... trong ứng xử với các đối tượng đại đoàn kết. Ngay đối với Đảng Cộng sản Việt Nam - tổ chức vừa là thành viên, vừa là lực lượng lãnh đạo Mặt trận, ngay từ rất sớm, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã lưu ý: “Đảng không thể đòi hỏi Mặt trận thừa nhận quyền lãnh đạo của mình, mà phải tỏ ra là một bộ phận trung thành nhất, hoạt động nhất và chân thực nhất. Chỉ trong đấu tranh và công tác hằng ngày, khi quần chúng rộng rãi thừa nhận chính sách đúng đắn và năng lực lãnh đạo của Đảng, thì Đảng mới giành được địa vị lãnh đạo”(19). Đó không có gì khác hơn là ứng xử theo cách thiện, là phát huy sức mạnh của sự thuyết phục, là sử dụng sức mạnh mềm.

Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, được tổ chức và hoạt động “theo nguyên tắc tự nguyện, hiệp thương dân chủ, phối hợp và thống nhất hành động giữa các thành viên”(20) cần và có điều kiện vận dụng sáng tạo tư tưởng Hồ Chí Minh về đại đoàn kết dân tộc./.
---------------------------------
(1) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2011, t. 5, tr. 75
(2) Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2021, t. I, tr. 35
(3) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t. 3, tr. 256
(4) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t. 10, tr. 589
(5) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t. 5, tr. 601
(6) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t. 10, tr. 360
(7) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t. 14, tr. 161
(8) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t. 9, tr. 244
(9) Khái niệm mà Benedict Anderson nêu ra trong công trình Cộng đồng tưởng tượng - Nguồn gốc và sự lan truyền của chủ nghĩa dân tộc, Nxb. Đại học Sư phạm, Hà Nội, 2018
(10) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t. 4, tr. 280 - 281
(11) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t. 5, tr. 39
(12) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t. 6, tr. 130
(13) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t. 15, tr. 672
(14) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t. 4, tr. 471
(15), (16) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t. 6, tr. 131
(17) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t. 5, tr. 315 - 316
(18) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t. 6, tr. 16
(19) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t. 3, tr. 168
(20) Khoản 2, Điều 4, Luật Mặt trận Tổ quốc Việt Nam năm 2015.
Ảnh: Bác Hồ với đồng bào các dân tộc Việt Nam (tranh lụa của họa sĩ Trần Minh Thái).
Yêu nước!

LỜI BÁC DẠY NGÀY NÀY NĂM XƯA: ĐẠO ĐỨC CÁCH MẠNG DO ĐẤU TRANH RÈN LUYỆN BỀN BỈ HẰNG NGÀY MÀ PHÁT TRIỂN!

     "Đạo đức cách mạng không phải từ trên trời sa xuống. Nó do đấu tranh rèn luyện bền bỉ hằng ngày mà phát triển và củng cố. Cũng như ngọc càng mài càng sáng, vàng càng luyện càng trong"!
 
Là lời Chủ tịch Hồ Chí Minh viết trong Tác phẩm "Đạo đức cách mạng", đăng trên Tạp chí học tập, số 12 năm 1958; với nỗi day dứt, trăn trở trước yêu cầu phát triển của sự nghiệp cách mạng giải phóng dân tộc, thống nhất nước nhà, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ rõ, người cách mạng phải có đạo đức, không có đạo đức thì tài giỏi mấy cũng không lãnh đạo được Nhân dân, không làm được cách mạng. Muốn có đạo đức mạng phải rèn luyện thường xuyên, bền bỉ trong mọi hoạt động thực tiễn; phải tỉ mỉ công phu mới có được phẩm chất đạo đức tốt và ngày càng được bồi đắp, nâng cao.
 
Trong sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc, thống nhất nước nhà, bằng sự cố gắng học tập, rèn luyện nghiêm túc, kiên trì, đạo đức cách mạng đã giúp cho cán bộ, đảng viên của Đảng luôn kiên định mục tiêu, lý tưởng chiến đấu, tuyệt đối trung thành với Đảng, với Tổ quốc và nhân dân, vững vàng trong mọi thử thách, khi gặp khó khăn gian khổ, thất bại vẫn không lùi bước; khi gặp thuận lợi thành công vẫn giữ vững tinh thần khiêm tốn, không tự đắc, tự mãn, không kiêu ngạo, không kèn cựa thiệt hơn; một lòng một dạ phụng sự Tổ quốc, phục vụ Nhân dân.
 
Trong thực tiễn xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa, đã và đang xuất hiện tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện "tự diễn biến", "tự chuyển hóa" trong một bộ phận cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức và tệ quan liêu tham nhũng, lãng phí diễn biến phức tạp. Bên cạnh đó, âm mưu thủ đoạn của các thế lực thù địch chống phá trên lĩnh vực tư tưởng, văn hóa, đạo đức, lối sống…, đang đặt ra yêu cầu cao đối với việc tu dưỡng rèn luyện đạo đức cách mạng đối với cán bộ đảng viên và quần chúng.
 
Trước yêu cầu nhiệm vụ Bảo vệ Tổ quốc, người quân nhân cách mạng phải tu dưỡng, rèn luyện đạo đức cách mạng thường xuyên, liên tục, ở mọi lúc, mọi nơi, gắn với thực tiễn huấn luyện, sẵn sàng chiến đấu, học tập và công tác hàng ngày. Quân nhân có chức vụ càng cao thì càng phải gương mẫu học tập, rèn luyện để trao dồi đạo đức cách mạng đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ được giao. Trước sự tuyên truyền, kích động chống phá quyết liệt của các thế lực thù địch, sự tác động của mặt trái cơ chế thị trường, những tiêu cực xã hội, sự cám dỗ vật chất trong đời sống xã hội hiện nay, càng đòi hỏi quân nhân phải nghiêm túc, tự giác học tập, tu dưỡng rèn luyện đạo đức suốt đời; dù đang công tác trong quân đội hay xuất ngũ hoặc chuyển lĩnh vực công tác khác cũng phải tu dưỡng, rèn luyện đạo đức cách mạng, không ngừng phấn đấu giữ vững và phát huy hơn nữa phẩm chất "Bộ đội Cụ Hồ"./.
Yêu nước ST.

TÌM HIỂU GIÚP BẠN: TRUNG ƯƠNG YÊU CẦU TIẾP TỤC XÂY DỰNG, HOÀN THIỆN TỔ CHỨC BỘ MÁY CỦA HỆ THỐNG CHÍNH TRỊ

     Ban Chấp hành Trung ương yêu cầu tiếp tục xây dựng, hoàn thiện tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị trong thời gian tới.

Thay mặt Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Tổng Bí thư Tô Lâm vừa ký ban hành Kết luận số 210-KL/TW ngày 12.11.2025 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII về tiếp tục xây dựng, hoàn thiện tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị trong thời gian tới.

Kết luận số 210-KL/TW nêu rõ, trên cơ sở kế thừa kết quả đạt được sau 8 năm thực hiện Nghị quyết số 18-NQ/TW, nguyên nhân và bài học kinh nghiệm, để tiếp tục đẩy mạnh cuộc cách mạng tinh gọn tổ chức bộ máy, xây dựng, hoàn thiện, nâng cao hiệu năng, hiệu lực, hiệu quả hoạt động của hệ thống chính trị, đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ của đất nước trong kỷ nguyên phát triển mới, Ban Chấp hành Trung ương Đảng chỉ đạo các cấp uỷ, cơ quan, đơn vị, tổ chức, nhất là người đứng đầu thực hiện tốt một số nhiệm vụ, giải pháp.

Trong đó có nhiệm vụ, giải pháp về công tác giáo dục chính trị, tư tưởng, thông tin, tuyên truyền; Về hoàn thiện thể chế, chức năng, nhiệm vụ của các cơ quan, đơn vị, tổ chức trong hệ thống chính trị; tiếp tục đẩy mạnh phân cấp, phân quyền gắn với cải cách thủ tục hành chính; Về sắp xếp tổ chức bộ máy, quản lý cán bộ, công chức, viên chức; Công tác kiểm tra, giám sát.

Kết luận nêu yêu cầu, tập trung cao nhất các nguồn lực để tiếp tục hoàn thiện đồng bộ thể chế liên quan đến chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, tổ chức bộ máy của các cơ quan, đơn vị, tổ chức trong hệ thống chính trị để phát triển nhanh và bền vững đất nước; việc phân định thẩm quyền, trách nhiệm của Quốc hội, Chính phủ, cơ quan hành pháp, cơ quan tư pháp, thẩm quyền liên thông giữa 3 cấp (Trung ương, cấp tỉnh, cấp xã) cho từng lĩnh vực, xoá chồng lấn, bỏ trống nhiệm vụ, bảo đảm đồng bộ, thống nhất, rõ ràng theo các kết luận của Trung ương, phù hợp với các dự thảo văn kiện trình Đại hội XIV của Đảng, Hiến pháp năm 2013 (sửa đổi, bổ sung năm 2025).

Rà soát, hoàn thiện chức năng, nhiệm vụ các ban, cơ quan của Đảng, các đảng bộ trực thuộc Trung ương mới thành lập theo hướng đổi mới, nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động, phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo của các ban, cơ quan tham mưu chiến lược cho Trung ương, tăng cường phân cấp, uỷ quyền cho ban thường vụ, thường trực đảng uỷ; nghiên cứu, hoàn thiện chức năng, nhiệm vụ, tổ chức bộ máy của các đảng bộ mới thành lập ở Trung ương và cấp tỉnh theo hướng tinh gọn, hiệu quả.

Tiếp tục rà soát, hoàn thiện quy định về chức năng, nhiệm vụ và tổ chức bộ máy của Chính phủ, các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ; trong đó, Chính phủ tập trung cụ thể hoá, triển khai thực hiện các chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước, xây dựng nền hành chính phục vụ Nhân dân, chuyên nghiệp, hiện đại, trong sạch, vững mạnh, công khai, minh bạch, hiệu quả; phân cấp, phân quyền đi kèm kiểm soát; xoá cơ chế "xin - cho", tăng trách nhiệm người đứng đầu; rà soát, hoàn thiện thể chế bảo đảm phân cấp, phân quyền triệt để giữa Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ với các bộ, ngành; giữa Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ với chính quyền địa phương; giữa người đứng đầu bộ, ngành với chính quyền địa phương; giữa các cấp chính quyền địa phương, giữa uỷ ban nhân dân cấp tỉnh, cấp xã với cơ quan chuyên môn thuộc uỷ ban nhân dân cùng cấp..., bảo đảm đúng mục tiêu "Trung ương tăng cường quản lý vĩ mô, xây dựng thể chế, chiến lược, quy hoạch, kế hoạch đồng bộ, thống nhất, giữ vai trò kiến tạo và tăng cường kiểm tra, giám sát", "địa phương quyết, địa phương làm, địa phương chịu trách nhiệm".

Đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính bảo đảm hiệu quả, phù hợp với mô hình chính quyền địa phương 2 cấp; đề xuất phương án xử lý phù hợp, khắc phục ngay những vướng mắc, bất cập; trong năm 2025, các bộ, ngành, cơ quan Trung ương tập trung hoàn thành việc ban hành đầy đủ các quy định, hướng dẫn về quy trình công tác, hồ sơ, thủ tục hành chính… đã phân cấp, phân quyền, phân định thẩm quyền cho cấp tỉnh, cấp xã; bảo đảm tinh gọn về quy trình, cắt giảm mọi thủ tục không cần thiết, đơn giản hoá tối đa thủ tục hành chính, chuẩn hoá, số hoá hồ sơ, dễ làm, dễ kiểm tra, dễ giám sát, phù hợp với trình độ, năng lực cán bộ, yêu cầu thực tiễn khi vận hành tổ chức bộ máy mới.

Tiếp tục tăng cường, hướng dẫn, hỗ trợ các địa phương thực hiện có hiệu quả các nhiệm vụ được phân cấp, phân quyền, nhất là việc nâng cao năng lực tổ chức thực hiện. Kiểm tra, đánh giá các nhiệm vụ của bộ, ngành, của địa phương đang triển khai ở cấp xã, phường để có hướng dẫn, chỉ đạo, điều chỉnh kịp thời.

Rà soát, sửa đổi, bổ sung các văn bản của Đảng, các quy định của pháp luật liên quan đến tổ chức, hoạt động của Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức chính trị - xã hội, các hội quần chúng theo mô hình mới. Xây dựng cơ chế phối hợp linh hoạt, hiệu quả giữa chính quyền, Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể chính trị - xã hội, đoàn thể nhân dân dưới sự lãnh đạo của Đảng; Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức chính trị - xã hội tập trung cho cơ sở, gắn bó với đoàn viên, hội viên, đáp ứng yêu cầu công tác vận động quần chúng của Đảng.

Tiếp tục đổi mới tổ chức, nâng cao chất lượng hoạt động của toà án nhân dân, viện kiểm sát nhân dân, các cơ quan thanh tra, điều tra, thi hành án, bổ trợ tư pháp đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp.

Tăng cường đầu tư cơ sở vật chất, trang thiết bị, điều kiện làm việc các cơ quan, đơn vị, tổ chức, nhất là nơi hợp nhất, sáp nhập và cấp xã, bảo đảm đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ. Thực hiện đổi mới cơ chế phân bổ tài chính công theo kết quả thực hiện nhiệm vụ, đặc điểm riêng của địa phương./.
Yêu nước!

TÌM HIỂU GIÚP BẠN: XÂY DỰNG CHIẾN LƯỢC DÀI HẠN PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC TRẺ!

     Sự kết hợp giữa tri thức, tinh thần sáng tạo, khả năng thích ứng nhanh và ý chí cống hiến của thanh niên là yếu tố quyết định để các chuyển đổi đi vào thực chất, tạo ra sức bật mới cho nền kinh tế.

Việc lấy ý kiến đóng góp của cán bộ, đảng viên và nhân dân vào dự thảo các văn kiện trình Đại hội XIV của Đảng nhằm tập hợp và phát huy trí tuệ, quyền làm chủ của nhân dân tham gia đóng góp với Đảng trong việc hoạch định đường lối, chủ trương, quyết sách quan trọng của đất nước.

Góp ý vào dự thảo các văn kiện trình Đại hội XIV, mỗi đoàn viên, thanh niên không chỉ “góp ý với Đảng” mà còn “hành động theo tinh thần của Đảng,” để từng nhận thức trở thành hành động thiết thực, từng ý tưởng trở thành động lực thúc đẩy đổi mới.

Bí thư Đoàn Thanh niên Đài Truyền hình Việt Nam Nguyễn Hoài Đảm và Bí thư Đoàn Thanh niên Tập đoàn Điện lực Việt Nam Phạm Xuân Minh Trí đều khẳng định dự thảo văn kiện đã tổng kết thực tiễn sinh động của đất nước trong thời kỳ đổi mới, mở ra khát vọng mạnh mẽ về một Việt Nam hùng cường, phồn vinh và hạnh phúc.

Việc hợp nhất ba báo cáo: Báo cáo Chính trị, Báo cáo Kinh tế - xã hội và Báo cáo Tổng kết xây dựng Đảng là bước đột phá, thể hiện tư duy hệ thống, toàn diện và hiện đại của Đảng trong hoạch định đường lối phát triển quốc gia.

Phát triển năng lực số và tư duy sáng tạo của thanh niên

Bí thư Đoàn Thanh niên Đài Truyền hình Việt Nam Nguyễn Hoài Đảm đặc biệt quan tâm đến những nội dung của văn kiện liên quan đến thanh niên và lực lượng lao động trẻ. Dự thảo chưa dành một phần riêng biệt cho nội dung này.

Những chủ trương, định hướng về giáo dục, nguồn nhân lực, khoa học - công nghệ, đổi mới sáng tạo có bao hàm yếu tố thanh niên nhưng mới dừng ở phạm vi khái quát.

Theo anh Nguyễn Hoài Đảm, thanh niên chiếm hơn 1/3 dân số và gần một nửa lực lượng lao động. Nếu không xác định rõ vai trò, vị trí và có chính sách đặc thù đối với thanh niên, có thể bỏ lỡ nguồn lực sáng tạo lớn nhất của quốc gia. Thanh niên là những người nhanh nhạy với công nghệ, sẵn sàng đổi mới, dấn thân trong khởi nghiệp, trong nghiên cứu khoa học, trong sáng tạo nghệ thuật...

Vì vậy, dự thảo văn kiện Đại hội XIV cần nhấn mạnh rõ hơn vai trò và nhiệm vụ của thanh niên trong giai đoạn phát triển mới bằng một nội dung riêng, một thông điệp rõ ràng. Đó là “Phát huy thanh niên là lực lượng xung kích trong đổi mới sáng tạo, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc; lao động trẻ là động lực phát triển kinh tế - xã hội trong thời kỳ hội nhập và chu.yển đ.ổi s.ố.”

Để chính sách về thanh niên đi vào thực chất, anh Nguyễn Hoài Đảm cho rằng cần có những chỉ tiêu cụ thể, có thể đo lường được như tỷ lệ thanh niên được đào tạo kỹ năng số, tỷ lệ thanh niên khởi nghiệp, đổi mới sáng tạo, tỷ lệ cán bộ trẻ trong quy hoạch lãnh đạo hay tỷ lệ lao động trẻ trong các ngành mũi nhọn, công nghệ cao. Khi những con số này được thể hiện trong văn kiện sẽ trở thành cam kết chính trị, là động lực tinh thần cho thế hệ trẻ phấn đấu và cống hiến.

Từ thực tiễn công tác chuyên môn và hoạt động Đoàn, anh Nguyễn Hoài Đảm chia sẻ đoàn viên thanh niên Đài Truyền hình Việt Nam ý thức rất rõ vai trò của truyền thông trong công tác thanh niên. Truyền thông không chỉ là phương tiện chuyển tải thông tin, mà là sức mạnh định hướng tư tưởng, bồi đắp niềm tin, khơi dậy khát vọng và lan tỏa giá trị tốt đẹp. Vì vậy, cần coi truyền thông là một trụ cột trong chiến lược phát triển thanh niên Việt Nam thời đại số.

Đó có thể là “Chiến lược truyền thông quốc gia về thanh niên Việt Nam” nhằm tạo diễn đàn để thế hệ trẻ được bày tỏ tiếng nói, chia sẻ khát vọng, lan tỏa tinh thần trách nhiệm và tình yêu Tổ quốc.

Với ý nghĩa đó, Đoàn Thanh niên Đài Truyền hình Việt Nam đề xuất xây dựng “Chương trình quốc gia về phát triển năng lực số và tư duy sáng tạo cho thanh niên Việt Nam.”

Chương trình không chỉ đào tạo kỹ năng, mà còn bồi dưỡng tinh thần dấn thân, năng lực đổi mới, trách nhiệm công dân số và bản lĩnh văn hóa của thanh niên Việt Nam.

Chính sách đặc thù để phát triển đội ngũ cán bộ trẻ trong doanh nghiệp nhà nước

Quan tâm đến nội dung phát triển nguồn lực con người, đặc biệt là thanh niên, Bí thư Đoàn Thanh niên Tập đoàn Điện lực Việt Nam Phạm Xuân Minh Trí mong muốn dự thảo văn kiện bổ sung thông điệp rõ ràng: “Thanh niên là nguồn lực đặc biệt quan trọng để hiện thực hóa các mục tiêu phát triển đất nước trong kỷ nguyên số và cần được ưu tiên hàng đầu trong chiến lược phát triển nguồn nhân lực quốc gia.”

Theo anh Phạm Xuân Minh Trí trong kỷ nguyên của khoa học - công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuy.ển đổ.i s.ố phát triển mạnh mẽ, nguồn nhân lực trẻ có vai trò đặc biệt quan trọng. Đây là lực lượng có khả năng tiếp thu tri thức mới nhanh, làm chủ công nghệ hiện đại, thích ứng linh hoạt với môi trường lao động thay đổi liên tục và sẵn sàng đảm nhận những nhiệm vụ khó, việc mới, những lĩnh vực phức tạp mà nền kinh tế đặt ra.

Sự phát triển vượt bậc của t.rí tu.ệ nh.ân tạ.o, tự động hóa, năng lượng xanh và các mô hình kinh tế mới đang rút ngắn đáng kể thời gian chuyển giao và làm chủ tri thức, giúp người trẻ có thể nhanh chóng tiếp nhận công nghệ hiện đại, đóng góp trực tiếp vào năng suất, chất lượng tăng trưởng. Đây là điều kiện hết sức thuận lợi để thanh niên Việt Nam trở thành lực lượng nòng cốt thúc đẩy quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa và đổi mới mô hình tăng trưởng của đất nước.

Trong bối cảnh Việt Nam bước vào giai đoạn phát triển mới với những mục tiêu mang tính đột phá, anh Phạm Xuân Minh Trí cho rằng thanh niên cần được xác định là lực lượng trung tâm trong thực hiện 4 chuyển đổi lớn mà Dự thảo nêu: chu.yển đổ.i s.ố, chuyển đổi xanh, chuyển đổi năng lượng và chuyển đổi cơ cấu, chất lượng nguồn nhân lực.

Sự kết hợp giữa tri thức, tinh thần sáng tạo, khả năng thích ứng nhanh và ý chí cống hiến của thanh niên là yếu tố quyết định để các chuyển đổi này đi vào thực chất, tạo ra sức bật mới cho nền kinh tế.

Để phát huy tốt hơn vai trò của thanh niên, anh Phạm Xuân Minh Trí đề nghị Dự thảo văn kiện xây dựng chiến lược có trọng tâm, dài hạn cho phát triển nguồn nhân lực trẻ.

Chiến lược này cần chú trọng các yếu tố như đào tạo chuyên sâu về công nghệ lõi, khuyến khích thanh niên tham gia các dự án lớn, dự án khó của quốc gia; tạo hành lang chính sách để người trẻ mạnh dạn đổi mới sáng tạo, dám nghĩ, dám làm và dám chịu trách nhiệm; xây dựng cơ chế đánh giá, sử dụng nhân lực theo hướng đề cao năng lực thực tiễn, hiệu quả công việc, kịp thời phát hiện và bồi dưỡng nhân tài trẻ.

Đặc biệt, nước ta cần có chính sách đặc thù để phát triển đội ngũ cán bộ trẻ trong doanh nghiệp nhà nước - lực lượng đang trực tiếp giữ vai trò then chốt trong nhiều hạ tầng chiến lược của đất nước.

Anh Phạm Minh Trí đề xuất dự thảo nhấn mạnh yêu cầu giao nhiệm vụ đột phá cho lực lượng thanh niên. Thực tiễn trong nước và quốc tế đều cho thấy những thay đổi, những xu hướng, phương thức lao động mới tạo nên thay đổi đột phát về khoa học - công nghệ, của nền kinh tế thường được dẫn dắt bởi lực lượng thanh niên. Mạnh dạn giao nhiệm vụ lớn cho người trẻ không chỉ khai thác hiệu quả nguồn lực mà còn là cơ chế tạo động lực, khơi dậy khát vọng, trách nhiệm và tinh thần cống hiến của thế hệ trẻ. Đây cũng là yếu tố quan trọng để xây dựng đội ngũ cán bộ kế cận và củng cố nền tảng phát triển lâu dài của đất nước.

Tại Tập đoàn Điện lực Việt Nam, thanh niên là một trong những điểm tựa quan trọng trong quá trình bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia và thực hiện chu.yển đ.ổi s.ố, hiện đại hóa ngành điện.

Những năm gần đây, Tập đoàn đã chủ động triển khai nhiều chương trình mang tính nền tảng như xây dựng lưới điện thông minh, ứng dụng tr.í tu.ệ nh.ân tạ.o trong dự báo phụ tải và điều độ hệ thống, số hóa dữ liệu thiết bị, tự động hóa trạm biến áp không người trực...

Thanh niên luôn là lực lượng xung kích, trực tiếp triển khai từ khâu thiết kế, lập trình, vận hành đến tối ưu hóa hệ thống.

Với niềm tin sâu sắc vào sự lãnh đạo của Đảng, tinh thần đổi mới của Đại hội XIV và khát vọng vươn lên của dân tộc, tuổi trẻ Đài Truyền hình Việt Nam, Tập đoàn Điện lực Việt Nam sẵn sàng nhận trọng trách, xung kích trên mọi lĩnh vực, góp phần hiện thực hóa xây dựng nước Việt Nam hùng cường, phồn vinh và hạnh phúc./.
Yêu nước ST.

ĐOÀN KẾT LÀ SỨC MẠNH, NIỀM KIÊU HÃNH, TỰ HÀO CỦA QUÂN VÀ DÂN TA!

     1. Từ thuở dựng nước và giữ nước, ông cha ta đã đúc kết nên một chân lý giản dị nhưng có sức sống trường tồn: “Đoàn kết là sức mạnh, đoàn kết là thắng lợi”. Trong những tháng năm chống giặc ngoại xâm đầy gian nan, vất vả của dân tộc, từ Hội nghị Diên Hồng thời Trần, đến phong trào “Bình Tây”, rồi cao trào cách mạng dưới ngọn cờ vẻ vang của Đảng và Bác Hồ, mọi thắng lợi của quân và dân ta đều bắt nguồn từ sức mạnh nội sinh của khối đại đoàn kết dân tộc. Chủ tịch Hồ Chí Minh - Người sáng lập và rèn luyện Đảng ta đã khẳng định sức mạnh của dân tộc là: “Đoàn kết, đoàn kết, đại đoàn kết - Thành công, thành công, đại thành công”. Lời dạy sâu sắc của Bác không chỉ là phương châm chỉ đạo hành động, mà còn là mạch nguồn tinh thần tạo nên mọi kỳ tích vĩ đại của cách mạng Việt Nam.

Đoàn kết trong Đảng - hạt nhân của khối đại đoàn kết, là biểu tượng sinh động của bản lĩnh chính trị, trí tuệ và sự trưởng thành của một đảng cầm quyền vì nước, vì dân, do dân, vì lợi ích tối thượng của quốc gia - dân tộc. Đoàn kết trong nhân dân là bức tường thành vững chắc bảo vệ độc lập, chủ quyền, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng và tính ưu việt của chế độ. Đoàn kết trong Quân đội và Công an là hình ảnh đẹp nhất của lực lượng vũ trang trung kiên, trung thành, “vì nước quên thân, vì dân phục vụ”, kết tinh trí tuệ, bản lĩnh thép của “Bộ đội Cụ Hồ”.

Ngày nay, khi đất nước bước vào kỷ nguyên phát triển mới, khởi đầu là công tác chuẩn bị Đại hội XIV của Đảng, tinh thần đoàn kết, đại đoàn kết lại càng có ý nghĩa quyết định sự sống còn và phát triển bền vững của quốc gia - dân tộc. Trong bối cảnh tình hình thế giới, khu vực ngày càng phức tạp, khó đoán định; các thế lực thù địch đẩy mạnh xuyên tạc, chia rẽ, phá hoại từ bên trong, thì đoàn kết - đại đoàn kết chính là lá chắn thép, bức tường thành vững chắc - nguồn sức mạnh nội sinh giúp toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta vượt qua mọi khó khăn, thử thách. Lịch sử hơn 80 năm Cách mạng Việt Nam đã chứng minh: nơi nào đoàn kết được giữ vững, ý Đảng - lòng dân bền chặt, nơi đó cách mạng phát triển bền vững. Ngược lại, nơi nào sự chung sức, đồng lòng được quy tụ, tập hợp và nhân lên, nơi đó không có thế lực thù địch nào có thể khuất phục được ý chí, bản lĩnh và trí tuệ Việt Nam.

     2. Trước thềm Đại hội XIV của Đảng, các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị ráo riết tung ra những luận điệu xuyên tạc, kích động nhằm phá hoại khối đại đoàn kết toàn dân tộc, trong đó, tập trung phá vỡ mối quan hệ, đoàn kết nội bộ, chia rẽ nhân dân với Đảng và Nhà nước. Điển hình là các luận điểm sai trái nguy hiểm cần được nhận diện rõ ràng và kịp thời đấu tranh, ngăn chặn:
Thứ nhất, chúng thêu dệt cái gọi là “nội bộ Đảng đang mâu thuẫn và bị chia rẽ sâu sắc”, “đấu đá phe phái ngày càng quyết liệt”, “tranh giành quyền lực giữa các nhóm lợi ích không nghỉ, không ngừng”. Chúng cố tình bóp méo cơ chế dân chủ trong Đảng, xuyên tạc công tác nhân sự của Đảng, phủ nhận nguyên tắc tổ chức và kỷ luật, kỷ cương của Đảng ta.

Thứ hai, chúng tung tin bịa đặt về cái gọi là “phe quân đội - phe công an”, cho rằng, hai lực lượng nòng cốt bảo vệ chế độ đang cạnh tranh ảnh hưởng, lôi kéo nhân sự vào Ban Chấp hành Trung ương hay Bộ Chính trị khóa XIV. Đây là luận điệu cực kỳ nguy hiểm, độc hại nhằm phá vỡ mối quan hệ đoàn kết, thống nhất giữa hai lực lượng chiến lược của Đảng, Nhà nước và nhân dân.

Thứ ba, chúng gieo rắc luận điệu chia rẽ vùng miền - “phe miền Bắc”, “phe miền Trung”, “phe miền Nam” nhằm kích hoạt sự ngờ vực, gây mất lòng tin về sự công bằng, khách quan và sự thống nhất ý chí trong Đảng.
Thứ tư, chúng thổi phồng, bóp méo những hiện tượng cá biệt trong xã hội biến nó thành “bằng chứng” nhờ hư cấu, bịa chuyện, rằng “đất nước đang rối ren, Đảng không lo cho dân mà chỉ lo đấu đá nội bộ”; rằng “nhân dân mất niềm tin vào Đảng”. Mục tiêu của chúng là làm suy yếu nền tảng tư tưởng của Đảng, tấn công vào niềm tin - điều quý giá nhất, thiêng liêng nhất của cách mạng, của Đảng và nhân dân ta.
Thứ năm, chúng lợi dụng không gian mạng để tán phát “tin giả, tin xấu, tin độc”, làm nhiễu loạn dư luận, nhất là đối tượng cán bộ trẻ, đảng viên, lực lượng vũ trang và những người dùng mạng xã hội.
Những luận điệu trên là vô cùng nguy hiểm, bởi chúng gieo rắc sự hoài nghi, bi quan; đánh vào lòng tin và “trái tim của sự phát triển đất nước” là sự đoàn kết, thống nhất trong Đảng và trong nhân dân. Nếu không đề cao cảnh giác thì nó sẽ lan rộng, gây rạn nứt niềm tin, ảnh hưởng đến công tác chuẩn bị Đại hội XIV, đe dọa sự ổn định chính trị - xã hội, gây tổn thương cho chính sức mạnh “cội nguồn thắng lợi” của dân tộc ta là niềm tin, sức mạnh của khối đoàn kết, thống nhất.

3. Chúng ta nhận thức sâu sắc rằng, đoàn kết không phải là xuôi chiều, là sự cả nể hay bao che cho nhau về những điều sai trái, khuyết điểm. Đoàn kết chân chính phải bắt đầu từ việc nhìn thẳng vào sự thật, dám nói rõ sự thật bằng sự chân thành và tấm lòng nhân hậu, vì sự tiến bộ của đồng chí, đồng đội. Đó là những lời góp ý chí tình, chí nghĩa để giúp nhau sửa sai, khắc phục khuyết điểm, cùng nhau tiến bộ, trưởng thành.

Đoàn kết là cùng chung một chí hướng, đồng sức, đồng lòng vượt qua mọi khó khăn, thử thách; là dám nhận và sửa chữa khuyết điểm, sống với nhau có tình, có nghĩa, đúng tinh thần đồng chí, đồng đội, một long, một dạ vì Đảng, vì nước, vì dân. Tinh thần ấy chỉ thực sự bền vững khi mỗi người coi tự phê bình và phê bình là động lực giúp tập thể trong sạch, tổ chức đảng vững mạnh và mỗi cá nhân ngày càng hoàn thiện, phát triển, trưởng thành hơn.

Để đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái nêu trên, trước hết, cần khẳng định bằng luận cứ khoa học và thực tiễn rằng: Trong lịch sử hơn 95 năm hình thành và phát triển, Đảng ta luôn giữ vững và tăng cường đoàn kết, thống nhất, coi đó là nguyên tắc “bất di bất dịch”, là yếu tố quyết định mọi thắng lợi. Không có sự kiện lịch sử nào chứng minh được “chia rẽ nội bộ” như các thế lực thù địch xuyên tạc; ngược lại, thực tiễn càng khẳng định Đảng càng khó khăn thì càng đoàn kết, gắn bó bên nhau “chung sức, đồng lòng”, càng thử thách thì càng bản lĩnh và trí tuệ.

Thứ hai, công tác nhân sự của Đảng luôn được tiến hành chặt chẽ, bài bản, khoa học, công khai trong nội bộ, đặt lợi ích quốc gia - dân tộc lên trên hết. Nguyên tắc “tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách”, nguyên tắc “tập trung dân chủ” cùng hệ thống kiểm tra, giám sát, đánh giá cán bộ nghiêm minh là cơ sở bác bỏ mọi xuyên tạc về “phe phái”.

Thứ ba, Quân đội và Công an luôn là hai lực lượng tuyệt đối trung thành với Tổ quốc, với Đảng, Nhà nước và nhân dân; luôn gắn bó máu thịt với nhân dân, cùng nhau chia sẻ trách nhiệm bảo vệ độc lập, chủ quyền, bảo vệ Đảng, Nhà nước và chế độ. Không có “phe quân đội”, cũng không có “phe công an”, mà chỉ có “một Đảng, một mục tiêu, một Tổ quốc”, một lực lượng vũ trang cách mạng đặt dưới sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng, sự quản lý tập trung, thống nhất của Nhà nước.

Thứ tư, đoàn kết dân tộc đã được lịch sử chứng minh: không thế lực nào chia rẽ nổi, bởi đó là giá trị được hun đúc qua hàng nghìn năm và được Đảng ta kế thừa, phát triển. Chính sức mạnh vĩ đại ấy đã đưa đất nước từ nô lệ đến độc lập, từ đổ nát chiến tranh đến phát triển hôm nay.
Trong bối cảnh thông tin đa chiều, thật - giả lẫn lộn, vai trò của cán bộ, chiến sĩ, nhất là lực lượng tác chiến trên không gian mạng, càng trở nên đặc biệt quan trọng. Đây chính là “mũi tiến công mềm”, là những người gác cổng tin cậy của Đảng, Nhà nước, là những chiến sĩ thầm lặng “chiến đấu trong thời bình”, nhưng tiên phong trong bảo vệ niềm tin, bảo vệ sự trong sáng của không gian thông tin quốc gia. Mỗi cán bộ, chiến sĩ phải dồn hết tâm huyết, nhiệt tình cách mạng, bản lĩnh và trí tuệ, kiên trì truyền đi “hơi ấm niềm tin”, lan tỏa thông tin chính thống, tích cực, nhân văn đến bộ đội và nhân dân.

Hơn lúc nào hết, chúng ta phải ra sức quét sạch những “đám mây mù”, những “lớp sương độc hại” đang tìm cách bao phủ bầu trời tư tưởng xã hội chủ nghĩa; phải làm sáng lên niềm tin, lẽ phải, để bộ đội và nhân dân hiểu đúng bản chất sự việc, tin vào điều đúng, hành động theo lẽ phải, đem lại sự tốt lành. Mỗi chiến sĩ cần kiên quyết tuyên truyền cộng đồng không tin, không chia sẻ các bài viết, video, clip chưa được kiểm chứng; đặc biệt, cảnh giác với các clip dạng deepfake, các sản phẩm trí tuệ nhân tạo (AI) bị lợi dụng để xuyên tạc, bôi nhọ, kích động chia rẽ nội bộ, phá hoại đoàn kết trong Đảng, trong Quân đội, Công an và trong nhân dân.

Nhiệm vụ ấy không chỉ là trách nhiệm chính trị, mà còn là danh dự, mệnh lệnh trái tim của người chiến sĩ trong thời đại số: góp phần xây dựng bầu không khí đoàn kết, thống nhất, củng cố niềm tin, tạo ra “lá chắn tinh thần” vững chắc để Đại hội XIV của Đảng thành công tốt đẹp.

Trước thềm Đại hội XIV, mỗi cán bộ, đảng viên, chiến sĩ Quân đội, Công an phải nhận thức đầy đủ, sâu sắc vị trí, vai trò, trách nhiệm của mình là giữ gìn sự đoàn kết, thống nhất bền vững này; kiên quyết đấu tranh, không khoan nhượng với mọi luận điệu sai trái, thù địch; nâng cao “sức đề kháng thông tin”, lan tỏa niềm tin và bản lĩnh chính trị trong cán bộ, chiến sĩ và nhân dân.

Bởi chúng ta tin chắc rằng: khối đại đoàn kết toàn dân tộc dưới sự lãnh đạo của Đảng là bất khả chiến bại và với sức mạnh đó, Đại hội XIV của Đảng nhất định thành công tốt đẹp, mở ra chặng đường phát triển mới cho Tổ quốc Việt Nam yêu dấu./.
Yêu nước ST.

KIÊN QUYẾT BẢO VỆ SỰ THẬT LỊCH SỬ, PHẢN BÁC MỌI XUYÊN TẠC VỀ CHIẾN THẮNG PLEI ME!

     Sáu mươi năm sau Chiến thắng Plei Me (19/10-26/11/1965), giá trị lịch sử và tầm vóc thời đại của chiến dịch vẫn tỏa sáng. Tuy nhiên, trên mạng xã hội xuất hiện nhiều thông tin bóp méo sự thật, xuyên tạc vai trò lãnh đạo của Đảng, hạ thấp chiến công của ta, gây hoài nghi trong dư luận.

Nhận diện và phản bác các luận điệu sai trái này là trách nhiệm của mỗi cán bộ, đảng viên và người dân tỉnh Gia Lai trong bối cảnh mới.

1. Một trong những luận điệu phổ biến nhất là việc cố tình thu nhỏ quy mô và phủ nhận kết quả của Chiến thắng Plei Me. Một số đối tượng thông tin trên mạng cho rằng đây chỉ là “trận đánh nhỏ”, “không ảnh hưởng đến chiến lược của Mỹ”.

Nhận định này hoàn toàn phi khoa học và trái ngược với các công trình lịch sử quân sự chính thống. Lịch sử Đảng bộ tỉnh Gia Lai, Lịch sử Quân khu 5 , Lịch sử Bộ đội Tây Nguyên , Lịch sử Sư đoàn 320… đều khẳng định Chiến thắng Plei Me năm 1965 là trận đánh then chốt, buộc Mỹ phải điều Lữ đoàn Không kỵ số 1-lực lượng tinh nhuệ bậc nhất lúc bấy giờ vào chiến trường Tây Nguyên.

Thực tiễn chiến đấu trên chiến trường cho thấy quân và dân ta đã tiêu diệt và làm bị thương hơn 1.700 tên địch, bắn rơi, phá hủy 59 máy bay, bắn cháy 89 xe quân sự, giữ vững căn cứ Plei Me. Những con số đó không thể là kết quả của một trận đánh “không đáng kể” được!

Một kiểu xuyên tạc khác nữa là phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng, cho rằng chiến thắng là “ngẫu nhiên” hoặc “đánh tự phát”. Thực chất, hệ thống văn kiện của Trung ương Cục miền Nam, Quân khu 5 và Bộ Tư lệnh Mặt trận Tây Nguyên thời điểm 1965 cho thấy tư duy chỉ đạo chiến lược sắc bén của Đảng ta: chủ động tiến công, đánh chắc thắng, kết hợp tài tình giữa công kiên và vận động, phát huy sức mạnh tổng hợp của bộ đội chủ lực, bộ đội địa phương và nhân dân các dân tộc Jrai, Bahnar…

Báo cáo của chính Sư đoàn 1 Không kỵ Mỹ cũng phải thừa nhận rằng: “For the first time, U.S. troops faced a well-organized, aggressive and coordinated People's Army force” (tạm dịch: “Lần đầu tiên, quân đội Mỹ phải đối mặt với một lực lượng quân đội nhân dân được tổ chức chặt chẽ, chủ động tiến công và phối hợp nhịp nhàng”, cho thấy đối phương cũng công nhận sức mạnh tổ chức và tinh thần chủ động của Quân đội nhân dân Việt Nam.

Bên cạnh đó, nhiều thông tin trên mạng xã hội đã cố tình bóp méo tình hình thương vong của hai bên, thổi phồng thiệt hại của quân ta hoặc giảm nhẹ tổn thất của quân Mỹ-ngụy nhằm tạo tâm lý hoài nghi trong dư luận.

Tuy nhiên, cả sử liệu Việt Nam và báo cáo hậu chiến của quân đội Mỹ đều thống nhất rằng Lữ đoàn Không kỵ số 1 chịu thiệt hại nặng nề về người và phương tiện. Nhiều tài liệu của Mỹ mô tả đây là trận đánh “gây tổn thất tinh thần nghiêm trọng” đối với lực lượng Không kỵ.

Nguy hiểm hơn, một số kênh YouTube, TikTok đã lợi dụng cắt ghép hình ảnh, chỉ sử dụng tư liệu từ phía Mỹ, cố tình loại bỏ toàn bộ tài liệu chính thống của Việt Nam để dựng lại trận đánh theo hướng sai lệch. Đây là biểu hiện rõ ràng của chiến lược “diễn biến hòa bình” trên mặt trận tư tưởng, văn hóa, nhằm xuyên tạc lịch sử, làm suy giảm niềm tin của nhân dân đối với truyền thống cách mạng của dân tộc.

Những luận điệu nêu trên hoàn toàn đi ngược lại hệ thống tư liệu lịch sử có độ tin cậy cao của cả Việt Nam và Mỹ. Theo Lịch sử Bộ đội Tây Nguyên , Plei Me là chiến dịch phản công quy mô lớn đầu tiên đánh bại chiến thuật “trực thăng vận, thiết xa vận” của Mỹ, giúp bộ đội ta nắm bắt quy luật tác chiến của Không kỵ Hoa Kỳ, tạo tiền đề quan trọng cho các chiến thắng sau này tại Đắk Tô - Tân Cảnh.

Chiến thắng này buộc Mỹ phải điều chỉnh chiến lược “tìm và diệt”, đánh dấu thất bại đầu tiên của lực lượng Không kỵ, lực lượng được xem là “át chủ bài” của quân đội Mỹ trên chiến trường Việt Nam.

2. Sau sáp nhập tỉnh từ ngày 1-7-2025, tỉnh Gia Lai đang vận hành mô hình chính quyền địa phương 2 cấp với yêu cầu cao hơn về ổn định chính trị, củng cố thế trận lòng dân và tăng sức đề kháng trước các thông tin xấu độc trên không gian mạng.

Trong bối cảnh các thế lực thù địch tăng cường xuyên tạc lịch sử, cấp ủy, chính quyền, các đoàn thể và mỗi chúng ta cần đẩy mạnh thông tin chính thống. Cán bộ, đảng viên và đồng bào các dân tộc thiểu số trên địa bàn tỉnh ta cần nhận diện, phản bác thông tin sai trái; tổ chức các hoạt động giáo dục truyền thống, về nguồn, tham quan các di tích Plei Me, Khu căn cứ cách mạng K10 và các thiết chế lịch sử di tích văn hóa trên địa bàn tỉnh. Đồng thời, kiên quyết đấu tranh công khai đối với các nguồn tin xuyên tạc, bóp méo sự thật lịch sử.

Chiến thắng Plei Me là niềm tự hào của quân và dân Gia Lai, là giá trị lịch sử bất biến. Mọi luận điệu xuyên tạc đều nhằm làm suy yếu niềm tin vào Đảng, gây lệch lạc nhận thức, đặc biệt đối với thế hệ trẻ. Bảo vệ sự thật lịch sử, kiên quyết phản bác các quan điểm sai trái, lan tỏa thông tin chính thống về Chiến thắng Plei Me năm 1965 chính là trách nhiệm, là nghĩa vụ và cũng là sự tri ân sâu sắc của chúng ta đối với các thế hệ đi trước đã hy sinh vì độc lập, vì tự do của dân tộc.

Khi sự thật được khẳng định, khi giá trị Chiến thắng Plei Me được lan tỏa bằng những chứng cứ khoa học và tiếng nói chính thống, tỉnh Gia Lai hôm nay sẽ có thêm bản lĩnh và sức mạnh để tự tin bước vào kỷ nguyên phát triển nhanh, bền vững và nhân văn; góp phần xây dựng đất nước phồn vinh, hạnh phúc./.
Ảnh: Bản đồ các tọa độ oanh kích B-52 của Mỹ tại khu vực Plei Me - Chư Pông (15-20/11/1965).

Ảnh: Cảnh hỗn loạn và thương vong lớn của quân Mỹ-ngụy trong những ngày đầu của Chiến dịch Plei Me, năm 1965.
Yêu nước ST.

TƯ DUY VÀ HÀNH ĐỘNG ĐẶC SẮC TRONG CÔNG TÁC CHÍNH TRỊ, TƯ TƯỞNG: “ĐỐT BẢN KIỂM ĐIỂM ĐỂ QUYẾT TÂM ĐÁNH MỸ”!

     Đại tướng Chu Huy Mân (1913 - 2006), đã có thời gian dài gắn bó với chiến trường Khu 5 và Mặt trận Tây Nguyên. Tên tuổi ông gắn liền với chiến thắng Chiến dịch Plei Me (10 và 11/1965), đặc biệt là trận then chốt tại thung lũng Ia Đrăng. 

Đầu tháng 10-1965, Bộ Tư lệnh Mặt trận Tây Nguyên nhận được điện chỉ đạo của Quân ủy Trung ương và Bộ Tổng Tư lệnh phê chuẩn Kế hoạch Chiến dịch Plei Me. 

Trước cuộc họp Đảng ủy Mặt trận, đồng chí Chu Huy Mân làm việc xuyên đêm với Cơ quan Chính trị, phân tích tỷ mỷ tình hình và định hướng nhiều nội dung quan trọng. 

Ngay sau cuộc họp, Thiếu tướng Chu Huy Mân trực tiếp dẫn đoàn cán bộ đi khảo sát địa bàn quanh đồn Plei Me, nghiên cứu thế bố phòng địch và hướng đánh viện binh khi chúng tiến lên giải tỏa. 

Kết quả khảo sát được dùng để điều chỉnh phương án tác chiến: Đánh thiệt hại nặng lực lượng cơ động quân ngụy, làm suy yếu nơi dựa của địch và chuẩn bị thế chủ động đánh phủ đầu quân Mỹ, góp phần phá vỡ chiến lược “Đánh nhanh, giải quyết nhanh”, tiến tới đánh bại chiến lược “Chiến tranh cục bộ”.

Trung tướng Nguyễn Quốc Thước từng kể lại câu chuyện ít người biết về Hội nghị Rút kinh nghiệm sau Chiến dịch PLAYME do Thiếu tướng Chu Huy Mân chủ trì. Dù không trực tiếp tham gia chiến dịch vì đơn vị đến muộn nhưng đồng chí Nguyễn Quốc Thước có mặt trong Hội nghị đặc biệt này. Không khí hội nghị thẳng thắn và sôi nổi, các đơn vị mạnh dạn nêu rõ hạn chế của mình và đề xuất giải pháp khắc phục.

Điểm khiến mọi người xúc động nhất là khi đồng chí Chu Huy Mân bất ngờ yêu cầu đốt bỏ toàn bộ “Bản kiểm điểm” của các tập thể và cá nhân. Hành động dứt khoát ấy mang ý nghĩa biểu tượng mạnh mẽ khi tất cả phải hướng về phía trước, bỏ lại những vướng bận không cần thiết, chuẩn bị cho chiến dịch mới, quyết tâm đánh thắng giặc Mỹ xâm lược!
Yêu nước ST.

TÌM HIỂU GIÚP BẠN: ĐẠI TƯỚNG NGUYỄN TRỌNG NGHĨA THĂM, LÀM VIỆC TẠI ĐỒNG THÁP VÀ VĨNH LONG!

     Ngày 16-11, Đại tướng Nguyễn Trọng Nghĩa, Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Trung ương Đảng, Ủy viên Thường vụ Quân ủy Trung ương, Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị Quân đội nhân dân (QĐND) Việt Nam, cùng đoàn công tác đã thăm, làm việc, tặng quà tại hai tỉnh Đồng Tháp và Vĩnh Long.

Tham gia đoàn công tác có thủ trưởng Bộ tư lệnh Quân khu 9, Văn phòng Tổng cục Chính trị QĐND Việt Nam.

Nhân kỷ niệm 43 năm Ngày Nhà giáo Việt Nam (20-11-1982 / 20-11-2025), đoàn công tác đã thăm, tặng quà tại Trường Tiểu học Nguyễn Thị Tốt (xã Vĩnh Hựu, tỉnh Đồng Tháp).

Trường Tiểu học mang tên nữ liệt sĩ Nguyễn Thị Tốt, được khánh thành ngày 4-9-2025, có tổng diện tích khoảng 1,2ha, quy mô 1 trệt, 2 lầu. Ban Tuyên giáo và Dân vận Trung ương đã trao tặng nhà trường phòng thực hành tin học. Tỉnh ủy Đồng Tháp tặng phòng thực hành giáo dục STEM.

Sau khi tham quan cơ sở vật chất của nhà trường, Đại tướng Nguyễn Trọng Nghĩa bày tỏ vui mừng, phấn khởi khi tập thể cán bộ, giáo viên, học sinh Trường Tiểu học Nguyễn Thị Tốt có môi trường dạy, học hiện đại, an toàn, thân thiện.

Đồng chí yêu cầu các thầy, cô giáo tiếp tục giữ vững ngọn lửa yêu nghề, khát vọng “trồng người”, đổi mới tư duy, nhận thức và hành động trong công tác giáo dục, bồi đắp cho học sinh phẩm chất tốt đẹp của dân tộc Việt Nam và quê hương Đồng Tháp.

Đại tướng Nguyễn Trọng Nghĩa cùng đoàn công tác đã dâng hoa, dâng hương tại Nghĩa trang Liệt sĩ Gò Công Đông, Đền thờ Liệt sĩ Gò Công, Tượng đài và Đền thờ Anh hùng dân tộc Trương Định (tỉnh Đồng Tháp).

Tại các địa điểm, các đại biểu thắp hương tri ân, tưởng nhớ công lao to lớn của các bậc tiền nhân, các anh hùng liệt sĩ - những người đã anh dũng hy sinh vì độc lập, tự do của Tổ quốc, vì hạnh phúc của nhân dân.

Tại Vĩnh Long, Đại tướng Nguyễn Trọng Nghĩa và đoàn công tác đã thăm, tặng quà Đại tướng Lê Văn Dũng, nguyên Bí thư Trung ương Đảng, nguyên Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị QĐND Việt Nam.

Đại tướng Nguyễn Trọng Nghĩa ân cần thăm hỏi sức khỏe, đời sống của Đại tướng Lê Văn Dũng và gia đình; báo cáo một số nét nổi bật về tình hình đất nước, nhiệm vụ quân sự, quốc phòng, công tác Đảng, công tác chính trị trong toàn quân.

Đại tướng Nguyễn Trọng Nghĩa bày tỏ biết ơn sâu sắc những cống hiến của Đại tướng Lê Văn Dũng cho sự nghiệp cách mạng của Đảng, dân tộc và xây dựng quân đội; kính chúc Đại tướng Lê Văn Dũng và gia đình luôn mạnh khỏe, hạnh phúc, tiếp tục có những đóng góp, chia sẻ kinh nghiệm, góp phần giúp Tổng cục Chính trị Quân đội nhân dân Việt Nam hoàn thành tốt nhiệm vụ được Đảng và nhân dân giao phó./.


Theo QĐND
Yêu nước ST.

TÌM HIỂU GIÚP BẠN: QUÂN ỦY TRUNG ƯƠNG - BỘ QUỐC PHÒNG BIỂU DƯƠNG NHÀ GIÁO QUÂN ĐỘI!

     Quân ủy Trung ương - Bộ Quốc phòng ghi nhận và biểu dương những thành tích của các học viện, nhà trường, những nỗ lực, cống hiến thầm lặng nhưng to lớn của đội ngũ nhà giáo, cán bộ quản lý giáo dục Quân đội đạt được trong thời gian qua.

Nhân dịp kỷ niệm 43 năm Ngày Nhà giáo Việt Nam (20/11/1982 - 20/11/2025), Đại tướng Phan Văn Giang - Ủy viên Bộ Chính trị, Phó Bí thư Quân uỷ Trung ương, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng, đã có thư gửi tới các thế hệ nhà giáo, cán bộ quản lý giáo dục đã và đang công tác trong Quân đội.

Đại tướng Phan Văn Giang nêu rõ, trong suốt chặng đường phát triển của đất nước, Đảng ta luôn quan tâm sâu sắc và khẳng định tầm quan trọng, vai trò quyết định của đội ngũ nhà giáo trong việc bảo đảm chất lượng giáo dục.

Dưới sự lãnh đạo, chỉ đạo của Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng và cấp ủy, chỉ huy các cơ quan, đơn vị, nhà trường, các thế hệ nhà giáo, cán bộ quản lý giáo dục trong Quân đội đã phát huy bản chất tốt đẹp, truyền thống vẻ vang của Quân đội nhân dân Việt Nam anh hùng; đoàn kết, sáng tạo, tự lực, tự cường, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ được giao.

Đặc biệt, năm học 2024-2025, năm học đầu tiên thực hiện Chiến lược phát triển giáo dục đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045, các nhà trường đã nỗ lực, khắc phục khó khăn, phối hợp chặt chẽ, triển khai đồng bộ nhiều giải pháp để hoàn thành tốt nhiệm vụ năm học.

Đội ngũ nhà giáo, cán bộ quản lý giáo dục đã nêu cao tinh thần trách nhiệm, tận tụy, sáng tạo, đoàn kết, vượt qua khó khăn đạt được nhiều thành tích trong giảng dạy, nghiên cứu khoa học và quản lý giáo dục, góp phần quan trọng nâng cao chất lượng đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, nhân viên chuyên môn kỹ thuật, hạ sĩ quan chỉ huy đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ xây dựng Quân đội và bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới.

Theo Đại tướng Phan Văn Giang, nhiệm vụ xây dựng Quân đội cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại đang đặt ra yêu cầu phải đổi mới mạnh mẽ, toàn diện về công tác giáo dục và đào tạo.

Các nhà trường Quân đội cần tập trung quán triệt, cụ thể hóa, thực hiện có hiệu quả các chủ trương, đường lối, quan điểm của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, các nghị quyết, chỉ thị, kết luận của Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng về giáo dục và đào tạo, nhất là Nghị quyết số 71 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển giáo dục và đào tạo; Nghị quyết Đại hội đại biểu Đảng bộ Quân đội lần thứ XII, nhiệm kỳ 2025-2030.

Tăng cường quản lý, đào tạo, bồi dưỡng, tạo điều kiện thuận lợi để xây dựng đội ngũ nhà giáo, cán bộ quản lý giáo dục có bản lĩnh chính trị vững vàng, tuyệt đối trung thành với Tổ quốc, với Đảng, Nhà nước và Nhân dân, kiên định mục tiêu, lý tưởng cách mạng của Đảng, có phẩm chất đạo đức trong sáng, ý thức tổ chức kỷ luật nghiêm; có trình độ cao, kiến thức, năng lực toàn diện; đủ về số lượng, có cơ cấu hợp lý; bảo đảm sự chuyển tiếp vững chắc giữa các thế hệ.

Tiếp tục đổi mới công tác giáo dục và đào tạo theo hướng chuẩn hóa, hiện đại hóa. Đổi mới tư duy, phương pháp giảng dạy, gắn liền với thực tiễn phát triển của khoa học công nghệ, vũ khí, trang bị khí tài hiện đại, phương pháp tác chiến, hình thức chiến tranh kiểu mới.

Gắn nhà trường với đơn vị; gắn đào tạo, bồi dưỡng với sử dụng; đẩy mạnh chuyển đổi số, ứng dụng nhanh, có hiệu quả các thành tựu của khoa học công nghệ vào giảng dạy và nghiên cứu khoa học; thực hiện tốt phương châm “Chất lượng đào tạo của nhà trường là khả năng sẵn sàng chiến đấu của đơn vị”.

Bộ trưởng Bộ Quốc phòng mong muốn, đội ngũ nhà giáo, cán bộ quản lý giáo dục trong Quân đội tiếp tục phát huy truyền thống, không ngừng học tập, nghiên cứu, nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ và bản lĩnh chính trị, luôn là tấm gương sáng về đạo đức, lối sống, tinh thần cống hiến và ý chí vươn lên, xây dựng môi trường giáo dục quân sự trong sạch, vững mạnh, mẫu mực, hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ được giao; đóng góp xứng đáng vào sự nghiệp xây dựng Quân đội, củng cố quốc phòng, bảo vệ vững chắc Tổ quốc./.
Ảnh: Đại tướng Phan Văn Giang.

Ảnh: Huấn luyện - diễn tập ở đơn vị Phòng hoá, Binh chủng Hóa học.
Yêu nước ST.

TÌM HIỂU GIÚP BẠN: LÊ TRUNG KHOA VÀ ĐỒNG BỌN BỊ KHỞI TỐ!

     Bộ Công an cho biết Lê Trung Khoa bị khởi tố với cáo buộc làm, tàng trữ, phát tán, tuyên truyền thông tin, tài liệu, vật phẩm nhằm chống phá Nhà nước.

Ngày 17/11, Cơ quan An ninh điều tra Bộ Công an đã khởi tố, ra lệnh bắt tạm giam ông Lê Trung Khoa và Đỗ Văn Ngà (48 tuổi, quê Gia Lai) để điều tra tội Làm, tàng trữ, phát tán, tuyên truyền thông tin, tài liệu, vật phẩm nhằm chống Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam theo Điều 117 Bộ luật Hình sự.

Các quyết định tố tụng này đã được VKSND Tối cao phê chuẩn.

Ông Lê Trung Khoa 54 tuổi, quê Thanh Hóa, thường trú tại phường Đống Đa, thành phố Hà Nội, quốc tịch Việt Nam, song cùng gia đình định cư ở Đức từ năm đầu thập niên 90.

Ông này thường giới thiệu mình là nhà báo và cho ra mắt trang web Thoibao.de từ khoảng năm 2007. Trên trang này và Facebook cá nhân có tích xanh với gần 450.000 người theo dõi cùng một số nền tảng online khác, ông Khoa thường đăng tải tin tức về nhiều lĩnh vực ở Việt Nam.

Gần đây, ông Khoa vướng lùm xùm khi Vingroup, VinFast kiện ông ra tòa án ở Berlin, Đức, về việc có dấu hiệu của hành vi phỉ báng, vu khống. Phiên xét xử theo thủ tục khẩn cấp diễn ra hôm 4/11 tại tòa án ở Berlin.

Điều 117. Tội làm, tàng trữ, phát tán hoặc tuyên truyền thông tin, tài liệu, vật phẩm nhằm chống Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam:
1. Người nào có một trong những hành vi sau đây nhằm chống Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, thì bị phạt tù từ 5 năm đến 12 năm:
a) Làm, tàng trữ, phát tán hoặc tuyên truyền thông tin, tài liệu, vật phẩm có nội dung xuyên tạc, phỉ báng chính quyền nhân dân;
b) Làm, tàng trữ, phát tán hoặc tuyên truyền thông tin, tài liệu, vật phẩm có nội dung bịa đặt, gây hoang mang trong nhân dân;
c) Làm, tàng trữ, phát tán hoặc tuyên truyền thông tin, tài liệu, vật phẩm gây chiến tranh tâm lý.
2. Phạm tội trong trường hợp đặc biệt nghiêm trọng, thì bị phạt tù từ 10 năm đến 20 năm.
3. Người chuẩn bị phạm tội này, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm.
Ảnh: Bị can Lê Trung Khoa (trái) và Đỗ Văn Ngà.
Môi trường ST.

AN NINH TRẬT TỰ: NGƯỜI ĐÀN ÔNG Ở HÀ NỘI BỊ CHẶN LẠI VÀ YÊU CẦU XOÁ VIDEO SAU KHI GHI HÌNH ĐOÀN XE ĐẠP ĐI VÀO LÀN Ô TÔ TRÊN CẦU NHẬT TÂN!

     Mới đây, trên mạng xã hội lan truyền đoạn clip ghi lại cảnh một nhóm người đạp xe đi vào làn đường dành cho ô tô trên cầu Nhật Tân (Hà Nội). Đáng chú ý, khi phát hiện bị quay lại, nhóm này còn chặn người quay clip và yêu cầu xoá video.

Theo anh Đậu Quốc Quân (chủ kênh TikTok Lang thang vạn nẻo), khoảng 6h30 ngày 16/11, trong lúc điều khiển xe máy trên cầu Nhật Tân hướng vào trung tâm Hà Nội, anh nhìn thấy nhiều người đạp xe ở bên ngoài hàng rào phân cách, trong phần đường dành cho ô tô.

Nhận thấy hành vi này nguy hiểm, tiềm ẩn nguy cơ tai nạn, anh Quân đã sử dụng camera hành trình 360 độ gắn trên người để ghi lại.

“Khi vừa xuống khỏi cầu, đến đoạn đường dẫn về An Dương Vương, có ba người đạp xe yêu cầu tôi dừng lại. Khi tôi chưa kịp dừng hẳn, một người đàn ông đạp xe lao vào đầu xe máy, buộc tôi phải dừng lại”, anh Quân kể.

Anh cho biết thêm, lúc này hai người đạp xe bỏ đi, chỉ còn một người đàn ông cao khoảng 1m65 đứng lại và yêu cầu anh đưa điện thoại để xoá clip. Anh Quân không đồng ý; hai bên có lời qua tiếng lại. Sau đó, người đàn ông này cũng lấy điện thoại ra ghi hình rồi rời đi.

Liên quan đến đoạn clip, đại diện Đội CSGT đường bộ số 2 (Phòng CSGT Công an Hà Nội) cho biết đơn vị sẽ cử cán bộ xác minh, đồng thời truy tìm nhóm người đạp xe đi vào làn ô tô gây mất an toàn giao thông./.


Môi trường ST.

CÙNG ĐỌC VÀ SUY NGẪM: CUỘC SỐNG VÀ LÀM VIỆC Ở VIỆT NAM TƯƠNG LAI MỚI THỰC SỰ TỐT HƠN!

     Ở Việt Nam, rất nhiều gia đình luôn nói với con rằng: “Hãy cố gắng học giỏi để ra nước ngoài. Ở nước ngoài cuộc sống dễ hơn, tương lai sáng hơn.”!

Tôi biết bởi vì có rất nhiều người nhắn tôi hỏi về visa đi làm vv.

Mình ra nước ngoài mình mới hiểu rằng chúng ta đã bị vẽ ra một bức tranh quá đẹp về cuộc sống ở nước ngoài. Bạn vẫn có thể đi, vẫn có thể trải nghiệm - nhưng hãy biết sự thật trước, để sau này không phải sốc, không phải thất vọng và không phải tự hỏi tại sao mọi thứ lại khác xa những gì bạn từng được nghe.

Từ bên ngoài nhìn vào, ai cũng tưởng rằng Úc, Mỹ, Anh hay Canada là thiên đường. Mọi thứ được quay đẹp trên TV, phim ảnh cho thấy những con phố sạch sẽ, những ngôi nhà lớn, cuộc sống ổn định. Vì vậy, nhiều thế hệ đã tin rằng ra nước ngoài là con đường duy nhất để có tương lai tốt hơn.

Chỉ cần lên mạng coi ở Mỹ và Canada hien tại là như nào, có sạch sẽ như người ta nói không? Thật ra rất nhiều chỗ còn bẩn hơn các nước developing country RẤT NHIỀU.

Yep, thực tế hôm nay đã khác rất nhiều.

Ở các nước phát triển, giới trẻ đang gặp khó khăn rất lớn. chi phí sinh hoạt tăng quá nhanh, tiền lương không theo kịp, áp lực cuộc sống ngày càng nặng, và cảm giác cộng đồng - thứ từng làm họ tự hào - đã biến mất 100%. Rất nhiều người trẻ còn muốn rời chính đất nước của họ để tìm một cuộc sống dễ chịu hơn ở nơi khác. 40% người Úc giữa 18-30 tuổi muốn ra đi sống ở nước khác. Nên hỏi tại sao đi !

Nếu cuộc sống ở nước ngoài thật sự “dễ”, vậy tại sao chính người trẻ ở đó lại muốn rời đi?

Càng sống lâu ở nước ngoài, mình càng trân trọng Việt Nam hơn.

Việt Nam vẫn giữ được điều mà thế giới đang đánh mất:
Một bản sắc rõ ràng, một nền văn hoá sâu sắc, một cách sống bình dị nhưng đầy ấm áp.

Không dễ để người nước ngoài vào sống, làm việc hay mua tài sản ở đây. Điều đó giúp Việt Nam bảo vệ được giá trị, nếp sống, truyền thống - trong một thời đại mà nhiều quốc gia phát triển đang thay đổi quá nhanh.

Và điều mình yêu nhất là con người Việt Nam.

Dù cuộc sống còn khó khăn, mọi người vẫn cười.
Dù áp lực, vẫn tìm cách sống nhẹ nhàng.

Dù bận rộn, vẫn dành thời gian cho gia đình, bạn bè, ly cà phê sáng, những niềm vui nhỏ.

Ở đây, mình thấy sự hạnh phúc thật sự - một kiểu hạnh phúc mà nhiều nơi khác đã đánh mất từ lâu.

Vì vậy, đừng vội tin rằng bên ngoài luôn tốt hơn.

Hãy hỏi những bạn trẻ mới ra nước ngoài gần đây, bạn sẽ hiểu rõ bức tranh thật.

Nếu mọi người muốn, mình sẽ làm một bài riêng để cho thấy chi phí thực tế khi sống ở nước ngoài so với Việt Nam như thế nào./.
Ảnh: Chỉ có tính chất minh họa.
Yêu nước ST.

Chủ Nhật, 16 tháng 11, 2025

TÌM HIỂU GIÚP BẠN: CHÍNH THỨC RA MẮT TRANG THÔNG TIN ĐIỆN TỬ PHỤC VỤ BẦU CỬ!

     Trang thông tin điện tử bầu cử là kênh chính thức cung cấp tài liệu, hướng dẫn, danh sách ứng cử và kết quả bầu cử, hỗ trợ cử tri trong và ngoài nước tiếp cận thông tin nhanh chóng, minh bạch.

Ngày 10/11, trong khuôn khổ phiên họp lần thứ ba của Hội đồng Bầu cử Quốc gia, Tổng Thư ký Quốc hội-Chủ nhiệm Văn phòng Quốc hội Lê Quang Mạnh đã chính thức công bố Trang thông tin điện tử về cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026-2031 (gọi tắt là Trang thông tin điện tử bầu cử).

Trang thông tin điện tử bầu cử được xây dựng trên cơ sở Nghị quyết số 1343/NQ-UBTVQH15 ngày 31/12/2024 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, trong đó giao Văn phòng Quốc hội và Ủy ban Công tác đại biểu phối hợp với Tập đoàn Viettel xây dựng hệ thống thông tin phục vụ cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026-2031.

Với việc ứng dụng giải pháp công nghệ tiên tiến trên không gian mạng, Trang thông tin điện tử bầu cử có chức năng cung cấp thông tin, đăng tải, phổ biến, tra cứu các văn bản chỉ đạo, tài liệu hướng dẫn công tác bầu cử của Đảng, Hội đồng Bầu cử Quốc gia, Chính phủ, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Ủy ban Bầu cử các tỉnh, thành phố.

Qua đó, Trang thông tin tuyên truyền sâu rộng, tạo sự thống nhất cao về nhận thức, tư tưởng chính trị, hành động và sự đồng thuận xã hội, bảo đảm tổ chức cuộc bầu cử diễn ra dân chủ, bình đẳng, đúng pháp luật, an toàn, tiết kiệm và thực sự là Ngày hội của toàn dân; đồng thời, củng cố niềm tin của nhân dân với Đảng, Nhà nước và sự nghiệp đổi mới đất nước, phát huy tối đa quyền làm chủ của nhân dân, xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân, đưa đất nước bước vào kỷ nguyên phát triển mới phồn vinh, thịnh vượng.

Ngoài ra, Trang thông tin điện tử bầu cử là cầu nối quan trọng, giúp cử tri, nhân dân truy cập, tìm kiếm, tiếp cận và nghiên cứu các thông tin về cuộc bầu cử.

Đặc biệt, chỉ với thao tác đơn giản, cử tri từ mọi miền Tổ quốc, kiều bào ta ở nước ngoài đã có thể nắm được bức tranh toàn cảnh về công tác bầu cử, gồm: các văn bản, chỉ thị, nghị quyết của Đảng, Nhà nước về bầu cử; các quy định về Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân, các văn bản hướng dẫn thi hành; các văn bản, nghị quyết, kế hoạch của Hội đồng Bầu cử Quốc gia và các Tiểu ban; các mốc thời gian công việc thực hiện trong cuộc bầu cử; hỏi đáp về bầu cử; danh sách người ứng cử, kết quả cuộc bầu cử, thông tin về hoạt động bầu cử tại các địa phương trên toàn quốc…

Sự ra mắt của Trang thông tin điện tử bầu cử khẳng định quyết tâm của lãnh đạo Quốc hội, Hội đồng Bầu cử Quốc gia trong việc chuyển đổi số, ứng dụng công nghệ để nâng cao hiệu quả công tác thông tin, tuyên truyền bảo đảm thống nhất, minh bạch, góp phần vào thành công chung của cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026-2031./.
Yêu nước ST.

TÌM HIỂU GIÚP BẠN: KHAI MẠC TRIỂN LÃM “CHUNG TAY XOA DỊU NỖI ĐAU DA CAM” TẠI TỈNH ĐỒNG NAI!

     Sáng 14-11, tại Bảo tàng Đồng Nai, Binh chủng Hoá học phối hợp với Quân khu 7, Sở Văn hoá Thể thao và Du lịch tỉnh Đồng Nai, Hội Nạn nhân chất độc da cam/dioxin Việt Nam chỉ đạo tổ chức Triển lãm chuyên đề “Chung tay xoa dịu nỗi đau da cam”. Các đồng chí: Đại tá Phạm Công Hữu, Phó chính ủy Binh chủng Hóa học; Đại tá Nguyễn Anh Tấn, Phó chủ nhiệm Binh chủng Hóa học; Đại tá Thái Thành Đức, Phó chủ nhiệm Chính trị Quân khu 7; Đại tá Phùng Thế Hùng, Phó tham mưu trưởng Quân khu 7; đồng chí Vũ Thanh Ngữ, Phó giám đốc Sở Văn hoá Thể thao và Du lịch tỉnh Đồng Nai, cùng đại diện lãnh đạo các cơ quan, đơn vị đến dự.

   Từ năm 1961 đến năm 1971 quân đội Mỹ đã phun rải xuống nước ta hơn 80 triệu lít chất độc hóa học, trong đó 61% là chất da cam, chứa khoảng 366 kg chất dioxin, chất độc này đã gây hậu quả hết sức nặng nề và lâu dài đối với môi trường và sức khỏe con người. Tỉnh Đồng Nai là một trong những “điểm nóng” về ô nhiễm dioxin, hiện nay hậu quả còn nghiêm trọng và kéo dài, nhất là khu vực sân bay Biên Hòa; hàng nghìn gia đình vẫn phải chịu nỗi đau da cam; nhiều khu vực đất đai, sông hồ cần phải xử lý, cải tạo…

       Phát biểu Khai mạc triển lãm, Đại tá Phạm Công Hữu, Phó chính ủy Binh chủng Hóa học khẳng định: Chiến tranh đã lùi xa hơn nửa thế kỷ, nhưng nỗi đau da cam vẫn hiện hữu, dai dẳng trong biết bao gia đình nạn nhân và nhiều vùng đất, do vậy chúng ta càng thấm thía giá trị của hòa bình và đề cao trách nhiệm, nghĩa tình chung tay xoa dịu nỗi đau da cam. Trải qua 67 năm xây dựng, chiến đấu, trưởng thành, Bộ đội Hóa học luôn nêu cao truyền thống “Phòng chống tốt, chiến đấu giỏi”. Từ năm 1995 đến nay, Binh chủng đã điều tra, khoanh vùng và xử lý hàng trăm nghìn mét khối đất nhiễm dioxin tại các “điểm nóng” các sân bay: Đà Nẵng, A So, Phù Cát, Biên Hòa; phối hợp với các tập đoàn quốc tế thử nghiệm và làm chủ công nghệ xử lý đất nhiễm độc, hồi sinh nhiều vùng đất chết, đồng thời triển khai nhiều chương trình hỗ trợ, phục hồi chức năng và nâng cao chất lượng sống cho hàng vạn NNCĐDC tại các tỉnh miền Trung và Nam Bộ, trong đó có tỉnh Đồng Nai.

     Triển lãm “Chung tay xoa dịu nỗi đau da cam” năm 2025 tại tỉnh Đồng Nai trưng bày hơn 400 hiện vật, tư liệu, hình ảnh tiêu biểu...theo các nội dung: Thảm họa và nỗi đau da cam; Công tác xử lý chất độc hóa học sau chiến tranh; Hoạt động chăm sóc, giúp đỡ và hành trình đòi công lý cho NNCĐDC; Những tấm gương vượt khó vươn lên, những Tấm lòng vàng vì nạn nhân; Quân khu 7 và tỉnh Đồng Nai khắc phục hậu quả chất độc da cam/dioxin, giúp đỡ nạn nhân.

      Thông qua triển lãm giúp đông đảo du khách trong và ngoài nước hiểu rõ hơn về thảm hoạ da cam ở Việt Nam; về sự quan tâm của Đảng, Nhà nước, hệ thống chính trị; của quân và dân cả nước nói chung, Binh chủng Hoá học, Quân khu 7, Hội NNCĐDC/dioxin các cấp và tỉnh Đồng Nai nói riêng trong công cuộc khắc phục hậu quả chất độc hoá học do Mỹ sử dụng trong chiến tranh ở Việt Nam; chăm sóc, giúp đỡ, đấu tranh đòi công lý cho NNCĐDC; biểu dương các tổ chức, cá nhân tiêu biểu, những “Tấm lòng vàng” vì NNCĐDC, qua đó lan toả đạo lý "Uống nước nhớ nguồn", “Đền ơn đáp nghĩa”, chung tay xoa dịu nỗi đau da cam.

Triển lãm mở cửa phục vụ du khách trong thời gian 1 tháng. Tại lễ khai mạc triển lãm, Ban tổ chức đã tặng quà cho 10 gia đình nạn nhân chất độc da cam trên địa bàn./.



Môi trường ST.