Thứ Ba, 18 tháng 11, 2025

KHÔNG THỂ XUYÊN TẠC BẢN CHẤT CỦA QUỐC HỘI VÌ TỔ QUỐC, VÌ NHÂN DÂN

BÀI 4: GIÁM SÁT CỦA QUỐC HỘI - CON MẮT TINH TƯỜNG VÌ DÂN!

     Giám sát tối cao là một trong ba chức năng chính của Quốc hội Việt Nam, thể hiện rõ quyền và trách nhiệm của Quốc hội trong việc kiểm soát quyền lực nhà nước. Khi các phiên chất vấn ngày càng dân chủ, giám sát chuyên đề ngày càng đi vào thực chất, Quốc hội thực sự đang trở thành “con mắt của Nhân dân”, soi rọi hoạt động của bộ máy công quyền với tinh thần trách nhiệm và minh bạch cao nhất.

GIÁM SÁT ĐỂ KIẾN TẠO, PHÁT TRIỂN ĐẤT NƯỚC

Nhìn lại lịch sử 80 năm Quốc hội Việt Nam có thể thấy hoạt động giám sát đã được Chủ tịch Hồ Chí Minh quan tâm, chỉ đạo từ năm 1946 khi Quốc hội khóa I vừa ra đời. Chức năng giám sát của Quốc hội đã được quy định trong bản Hiến pháp đầu tiên của nước ta năm 1946. Đến nay, chức năng giám sát của Quốc hội đã được phát triển và xác định một cách toàn diện, đầy đủ. Theo đó, giám sát là việc các chủ thể gồm Quốc hội, Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Hội đồng Dân tộc, các Ủy ban của Quốc hội, Đoàn đại biểu Quốc hội, đại biểu Quốc hội và HĐND... theo dõi, xem xét, đánh giá hoạt động của cơ quan, tổ chức, cá nhân chịu sự giám sát trong việc tuân theo Hiến pháp và pháp luật về việc thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của mình, xử lý theo thẩm quyền hoặc yêu cầu, kiến nghị cơ quan có thẩm quyền xử lý.

Quốc hội không ngừng đổi mới về nội dung, phương thức trong thực hiện chức năng giám sát, ngày càng bám sát thực tiễn. Quốc hội không chỉ chú trọng giám sát tại các kỳ họp mà còn kết hợp với hoạt động giám sát trong thời gian giữa 2 kỳ họp, nắm bắt thông tin, thực tế tại cơ sở, lắng nghe, ghi nhận ý kiến của cư tri và Nhân dân, làm việc trực tiếp với các bộ, ngành, địa phương để nâng cao chất lượng, hiệu lực, hiệu quả giám sát. Cùng với đó, Quốc hội cũng giám sát tối cao thông qua việc lấy phiếu tín nhiệm đối với người giữ chức vụ do Quốc hội bầu hoặc phê chuẩn.

Theo Chủ nhiệm Ủy ban Dân nguyện và Giám sát của Quốc hội Dương Thanh Bình, kết quả giám sát của Quốc hội thực sự đã trở thành tiền đề quan trọng; là công cụ không thể thiếu trong việc hoàn thiện hệ thống pháp luật trên các lĩnh vực, bảo đảm tính dân chủ, pháp quyền và hiệu quả quản lý nhà nước, đóng góp thiết thực vào công cuộc xây dựng, phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới.

Thông qua các hoạt động giám sát, Quốc hội đã phát hiện nhiều bất cập, chồng chéo, mâu thuẫn hoặc những nội dung, quy định không còn phù hợp trên các lĩnh vực, từ đó Quốc hội đã quyết định sửa đổi, bổ sung hoặc ban hành mới nhiều luật, nghị quyết quan trọng. Trong đó, có thể kể đến như Luật Đất đai; Luật Đầu tư; Luật Đầu tư công; Luật Doanh nghiệp; Luật Đấu thầu; các nghị quyết về cơ chế, chính sách đặc thù thực hiện các chương trình mục tiêu quốc gia; cơ chế đặc biệt xử lý khó khăn, vướng mắc do quy định của pháp luật; sắp xếp đơn vị hành chính cấp tỉnh, cấp xã… Trong thời gian tới, trên cơ sở thông tin có được từ hoạt động giám sát, Quốc hội sẽ tiếp tục khẩn trương sửa đổi nhiều đạo luật để tạo cơ sở pháp lý hoàn thiện hơn, từ đó tạo sự thay đổi mang tính đột phá trong công tác thực thi pháp luật, đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới.

CHẤT VẤN THẲNG THẮN, TRẢ LỜI RÕ RÀNG

Chất vấn và trả lời chất vấn là hình thức giám sát nổi bật của Quốc hội tại các kỳ họp. Hoạt động này cũng gắn liền với lịch sử hình thành và phát triển của Quốc hội Việt Nam. Ngay từ Kỳ họp thứ hai, Quốc hội khóa I đã diễn ra phiên chất vấn và trả lời chất vấn. Lần đầu tiên trong lịch sử Việt Nam, dưới sự chứng kiến của người dân, các đại biểu Quốc hội chất vấn Bộ trưởng tại một kỳ họp Quốc hội. Đặc biệt, Chủ tịch Hồ Chí Minh trực tiếp trả lời chất vấn các đại biểu trong không khí dân chủ, cởi mở.

Một trong những điểm sáng nổi bật tại các kỳ họp Quốc hội là tính dân chủ và thực chất trong các phiên chất vấn. Các vấn đề nóng như giá xăng, dầu, giáo dục, môi trường, đầu tư công, quản lý đất đai, y tế, an sinh… được các đại biểu chất vấn thẳng, sâu và đi đến cùng sự việc. Các phiên chất vấn và trả lời chất vấn được truyền hình, phát thanh trực tiếp đến cử tri, Nhân dân cả nước càng khẳng định tính công khai, minh bạch và giám sát xã hội trong hoạt động nghị trường. Quốc hội yêu cầu xác định rõ trách nhiệm, yêu cầu các thành viên Chính phủ trả lời trực diện và cam kết giải pháp rõ ràng.

Sau phiên chất vấn và trả lời chất vấn tại kỳ họp, Quốc hội ra nghị quyết về chất vấn, trong đó, nêu rõ giải pháp, nhiệm vụ cụ thể đối với các thành viên Chính phủ và các cơ quan liên quan để khắc phục tồn tại, hạn chế, nâng cao hiệu quả công tác quản lý Nhà nước, tạo chuyển biến mạnh mẽ trên các lĩnh vực.

Đặc biệt, Quốc hội cũng tiến hành chất vấn về việc thực hiện các nghị quyết của Quốc hội liên quan đến giám sát chuyên đề và chất vấn từ đầu nhiệm kỳ đến hết kỳ họp gần nhất. Phiên chất vấn và trả lời chất vấn về nội dung này không ấn định trước số người trả lời cũng như không xác định nhóm vấn đề chất vấn bởi bất cứ bộ trưởng, trưởng ngành nào cũng trả lời chất vấn khi được đại biểu Quốc hội đặt câu hỏi. Có thể nói, đây là hình thức chất vấn quét, giám sát lại, thể hiện tinh thần giám sát đến cùng việc thực hiện các yêu cầu của Quốc hội, góp phần rất quan trọng giúp nâng cao hơn nữa trách nhiệm của các trưởng ngành, thành viên Chính phủ đối với nhiệm vụ được giao, củng cố mạnh mẽ niềm tin của cử tri, Nhân dân.

GIÁM SÁT CHUYÊN ĐỀ - MỔ XẺ NHỮNG ĐIỂM NGHẼN

Cùng với chất vấn và trả lời chất vấn, Quốc hội thực hiện giám sát chuyên đề để theo dõi, xem xét, đánh giá vấn đề hoặc hoạt động của cơ quan, tổ chức, cá nhân chịu sự giám sát trong việc tuân theo Hiến pháp và pháp luật. Các chuyên đề được Quốc hội lựa chọn để giám sát tối cao tập trung vào những vấn đề bức xúc của cuộc sống, góp phần hoàn thiện chính sách, pháp luật, bảo đảm kỷ luật, kỷ cương, thúc đẩy các cơ quan Nhà nước thực hiện tốt hơn nhiệm vụ. Trong đó có những vấn đề tồn đọng kéo dài như chậm giải ngân đầu tư công, xử lý sai phạm trong cán bộ công vụ, bảo vệ môi trường, quản lý đất đai…

Các chuyên đề được Quốc hội lựa chọn để giám sát tối cao tập trung vào những vấn đề bức xúc của cuộc sống, góp phần hoàn thiện chính sách, pháp luật, bảo đảm kỷ luật, kỷ cương, thúc đẩy các cơ quan Nhà nước thực hiện tốt hơn nhiệm vụ.

Các chuyên đề giám sát của Quốc hội xuất phát từ thực tiễn và kết quả giám sát đã góp phần rất quan trọng giải quyết những vấn đề thực tế cuộc sống đang đặt ra, khắc phục những bất cập, hạn chế của các chính sách, pháp luật, bảo vệ lợi ích của Nhân dân và đất nước. Có thể kể đến như chuyên đề giám sát về “Việc thực hiện chính sách, pháp luật về quản lý thị trường bất động sản và phát triển nhà ở xã hội từ năm 2015 đến hết năm 2023". Triển khai chuyên đề giám sát giúp đánh giá tổng thể, toàn diện kết quả đạt được, hạn chế, khó khăn, vướng mắc trong việc ban hành và thực hiện chính sách, pháp luật về quản lý thị trường bất động sản và phát triển nhà ở xã hội. Thông qua kết quả giám sát giúp giải mã được thực chất những vấn đề thực tiễn nóng, xác định nguyên nhân, chỉ rõ trách nhiệm của các cơ quan, tổ chức, cá nhân, rút ra bài học kinh nghiệm trong việc thực hiện chính sách, pháp luật về quản lý thị trường bất động sản và phát triển nhà ở xã hội. Cùng với đó là đề xuất, kiến nghị nhiệm vụ, giải pháp tháo gỡ “đúng”, “trúng”, góp phần nâng cao hiệu quả thực hiện và tiếp tục hoàn thiện chính sách, pháp luật có liên quan.

Tại Kỳ họp thứ ba, Quốc hội khóa XIV, Quốc hội đã lựa chọn nội dung giám sát việc thực hiện chính sách pháp luật về an toàn thực phẩm giai đoạn 2011-2016 để tiến hành giám sát tối cao. Đây là vấn đề ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe của người tiêu dùng. Kết quả giám sát đã chỉ ra những hạn chế, yếu kém trong công tác an toàn thực phẩm như việc ban hành văn bản hướng dẫn thi hành pháp luật còn chậm, chưa được hệ thống hóa gây ảnh hưởng tới việc thực thi luật; một số quy định chưa phù hợp với quản lý an toàn thực phẩm, tính khả thi chưa cao… Từ đó, thúc đẩy ban hành chế tài xử lý nghiêm trường hợp vi phạm, đồng thời, tăng cường công tác tuyên truyền cho người sản xuất và người tiêu dùng, nâng cao ý thức, loại bỏ thực phẩm bẩn, bảo đảm an toàn từ đồng ruộng đến bàn ăn.

Vấn đề bảo vệ môi trường vốn nổi cộm trong nhiều năm qua đang được Quốc hội giám sát tại Kỳ họp thứ mười (Quốc hội khóa XV) với chuyên đề việc thực hiện chính sách, pháp luật bảo vệ môi trường kể từ khi Luật Bảo vệ môi trường năm 2020 có hiệu lực. Bảo vệ môi trường là yếu tố hàng đầu quyết định đến an toàn, sức khỏe và chất lượng cuộc sống người dân. Hiện nay, Hà Nội, TP Hồ Chí Minh đang triển khai những giải pháp quyết liệt để xử lý cơ bản tình trạng ô nhiễm môi trường không khí. Công tác giám sát cũng mổ xẻ tình trạng ô nhiễm môi trường, ùn tắc giao thông, ngập úng tại các đô thị lớn, sạt lở tại các tỉnh miền núi, thiên tai, bão lũ, thời tiết ngày càng cực đoan hơn…

Phát biểu tại Diễn đàn về hoạt động giám sát của Quốc hội lần đầu tiên được Ủy ban Thường vụ Quốc hội tổ chức vào tháng 8-2025, Chủ tịch Quốc hội Trần Thanh Mẫn nhấn mạnh: Quốc hội khóa XV rất quan tâm đến công tác giám sát, tiến hành nghiêm túc, chất lượng. Khẳng định tính cấp thiết phải nâng cao chất lượng hoạt động giám sát, Chủ tịch Quốc hội nêu rõ, hiện nay kinh tế-xã hội chuyển biến liên tục đòi hỏi luật, nghị định, thông tư phải được điều chỉnh kịp thời cho phù hợp tình hình thế giới, tình hình trong nước… Điều đó đặt ra yêu cầu hoạt động giám sát của Quốc hội, Ủy ban Thường vụ Quốc hội, các cơ quan của Quốc hội phải đi vào thực chất và được tiến hành thường xuyên.

Đáng chú ý, sau khi kết thúc giám sát, Quốc hội ban hành nghị quyết giám sát chuyên đề với các yêu cầu cụ thể, thời hạn rõ ràng, và cam kết sẽ tiếp tục giám sát việc thực hiện sau đó. Điều này góp phần chuyển hoạt động giám sát từ hình thức sang thực chất. Nhiều vụ việc kéo dài, tưởng chừng “trôi vào quên lãng”, đã được khơi lại, mổ xẻ công khai tại nghị trường, buộc các bộ ngành phải có trách nhiệm giải trình, từ đó thúc đẩy hành động cụ thể. Giám sát không chỉ là quyền hạn hiến định của Quốc hội, mà còn là biểu hiện của một nền dân chủ pháp quyền thực chất./.
Ảnh: Các đại biểu dự Kỳ họp thứ nhất, Quốc hội khóa I, tại Nhà hát Lớn Hà Nội, ngày 2-3-1946.
(Còn nữa)
Theo QĐND
Khuyết danh ST.

KHÔNG THỂ XUYÊN TẠC BẢN CHẤT CỦA QUỐC HỘI VÌ TỔ QUỐC, VÌ NHÂN DÂN

BÀI 3: LẤY LỢI ÍCH CỦA NHÂN DÂN LÀM THƯỚC ĐO CHÍNH SÁCH!

     Thế lực thù địch xuyên tạc rằng “Quốc hội vô cảm”, “Quốc hội không vì lợi ích của dân”, “hoạt động của Quốc hội không hiệu quả”, “đại biểu Quốc hội chỉ là nghị gật”… Nhưng thực tế là mọi hoạt động của Quốc hội từ lập hiến, lập pháp, quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước cho tới giám sát tối cao đối với hoạt động của Nhà nước đều là kết quả của quá trình lắng nghe, chắt lọc từ thực tiễn, từ nguyện vọng chính đáng của Nhân dân và đã mang lại hiệu quả thiết thực.

PHÁP LUẬT PHỤNG SỰ NHÂN DÂN

Việc sửa đổi Luật Bảo hiểm y tế (BHYT) năm 2024 là minh chứng rõ nét cho tinh thần pháp luật đã thực sự lắng nghe, thấu hiểu và đặt người dân ở vị trí trung tâm. Trước khi Luật Bảo hiểm y tế được sửa đổi, dù có thẻ BHYT, ông Vũ Ngọc Vợn, trú tại xã Nam Đồng, tỉnh Ninh Bình, thường xuyên không thể sử dụng quyền lợi của mình do chưa có chính sách thông tuyến khám chữa bệnh. Vì ông có lúc sinh sống ở TP Hà Nội, TP Hải Phòng, có khi ở TP Hồ Chí Minh, nhưng thẻ BHYT lại được đăng ký nơi khám chữa bệnh ban đầu ở Ninh Bình. Khi ốm đau đột xuất, ông buộc phải tự chi trả chi phí khám chữa bệnh tại nơi tạm trú, vừa tốn kém tiền bạc, vừa ảnh hưởng đến sức khỏe do không được điều trị kịp thời.

Những bất cập đó không chỉ là câu chuyện riêng của ông Vợn, mà còn là nỗi khó khăn chung của hàng triệu người dân, đặc biệt là những người thu nhập thấp, người lao động xa quê, người sống ở vùng sâu vùng xa-những đối tượng yếu thế đáng lẽ cần được bảo vệ và hỗ trợ nhiều nhất trong chính sách BHYT. Trong nhiều lần tiếp xúc cử tri, Chủ tịch Quốc hội Trần Thanh Mẫn đều ghi nhận những khó khăn, vướng mắc của người dân khi sử dụng BHYT. Trong quá trình bàn thảo, xây dựng Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật BHYT, tinh thần xuyên suốt được Chủ tịch Quốc hội chỉ đạo: Người dân có BHYT có quyền đi khám, chữa bệnh trên toàn quốc, tại bất kỳ tỉnh, thành phố nào và được quỹ BHYT chi trả theo quy định, tạo công bằng cho mọi người dân.

Trăn trở với thực tiễn, lắng nghe nguyện vọng chính đáng của người dân, Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật BHYT được Quốc hội thông qua ngày 27-11-2024 đã có hàng loạt những đổi mới như quy định mức hưởng BHYT khi thực hiện thông cấp khám, chữa bệnh BHYT theo hướng không phân biệt địa giới hành chính theo tỉnh, giữ ổn định tỷ lệ mức hưởng BHYT theo quy định của luật hiện hành và mở rộng với một số trường hợp...

Hàng loạt quyết sách quan trọng về an sinh xã hội cũng đã được Quốc hội thông qua như: Giảm thời gian đóng bảo hiểm xã hội tối thiểu để hưởng lương hưu từ 20 năm xuống 15 năm; bổ sung chế độ thai sản cho người tham gia bảo hiểm xã hội tự nguyện; giảm độ tuổi được hưởng trợ cấp hưu trí xã hội xuống 75 tuổi; hay những chính sách về miễn, hỗ trợ học phí cho học sinh, phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ 3-5 tuổi, thúc đẩy tiếp cận tín dụng ưu đãi cho hộ nghèo và hộ kinh doanh... Tất cả những quyết sách này khẳng định rằng Quốc hội luôn lấy con người làm trung tâm, nắm bắt hơi thở cuộc sống, lắng nghe nguyện vọng chính đáng của người dân, biến pháp luật thành công cụ cụ thể để cải thiện đời sống, bảo vệ quyền lợi hợp pháp của Nhân dân.

PHÁP LUẬT ĐỒNG HÀNH CÙNG ĐỔI MỚI VÀ PHÁT TRIỂN

Theo ông Phan Đức Hiếu, Ủy viên hoạt động chuyên trách Ủy ban Kinh tế và Tài chính của Quốc hội, một minh chứng cho thấy Quốc hội đã thể hiện rõ tinh thần “lập pháp vì cuộc sống” với những nỗ lực mở đường cho kinh tế tư nhân phát triển.

Ông Phan Đức Hiếu dẫn chứng bằng các dấu mốc quan trọng thể hiện nỗ lực mở đường này. Dấu mốc quan trọng đầu tiên là năm 1990, khi Quốc hội thông qua Luật Công ty và Luật Doanh nghiệp tư nhân, chính thức cho phép khu vực kinh tế tư nhân hoạt động. Dấu mốc thứ hai là năm 1999, Luật Doanh nghiệp đánh dấu bước tiến quan trọng khi mở rộng quyền tự do kinh doanh, doanh nghiệp được làm những gì pháp luật không cấm, là tiền đề để cải thiện môi trường kinh doanh và từ đó, bức tranh kinh tế tư nhân Việt Nam dần được khởi sắc. Dấu mốc quan trọng thứ ba của khu vực kinh tế tư nhân được ông Phan Đức Hiếu đề cập đó là sự ra đời của Nghị quyết số 68-NQ/TW ngày 4-5-2025 của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế tư nhân được ban hành và chỉ 12 ngày sau, tại Kỳ họp thứ chín, Quốc hội khóa XV đã thể chế hóa tinh thần nghị quyết thông qua Nghị quyết số 198/2025/QH15 của Quốc hội về một số cơ chế, chính sách đặc biệt phát triển kinh tế tư nhân. Nghị quyết này đánh dấu lần đầu tiên có văn bản pháp lý quy định rõ không hình sự hóa các quan hệ kinh tế, hành chính, dân sự, cùng các chính sách đặc biệt được ban hành gồm chính sách thuế, đất đai, hạ tầng và chuyển giao công nghệ; cải cách thủ tục đầu tư, cấp phép; tăng khả năng tiếp cận tín dụng và huy động vốn của khu vực tư nhân...

Với 3 khóa tham gia Quốc hội (XIII, XIV, XV), đại biểu Tô Văn Tám (đoàn Quảng Ngãi) cảm nhận rằng, tư duy pháp lý của đại biểu Quốc hội ngày càng đổi mới, pháp luật không phải là để ràng buộc, cấm đoán mà là để mở rộng khuyến khích sáng tạo, tạo ra nguồn lực của phát triển. Chung cảm nhận, với 4 khóa tham gia Quốc hội (IX, X, XI, XII), nguyên Phó chủ tịch Quốc hội Nguyễn Đức Kiên đánh giá cao hoạt động của Quốc hội ngày càng dân chủ hơn, không ngừng đổi mới về mọi mặt. Hoạt động Quốc hội rất khẩn trương, khối lượng công việc rất lớn, có nhiều kỳ họp bất thường diễn ra nhưng với tinh thần trách nhiệm cao, Quốc hội vẫn hoàn thành nhiệm vụ.

Trước hết, phải kể đến những kỳ họp bất thường, những phiên họp trực tuyến để xem xét, quyết định nhiều vấn đề cấp bách của đất nước. 9 kỳ họp bất thường của Quốc hội khóa XV đã được tổ chức khẩn trương xem xét, quyết định nhiều vấn đề cấp bách của đất nước. Còn nhớ, tại Kỳ họp bất thường lần thứ nhất, Quốc hội khóa XV, Nghị quyết số 43 được Quốc hội ban hành trong bối cảnh đặc biệt, với nhiều chính sách chưa từng có tiền lệ nhằm đạt "mục tiêu kép" vừa phòng, chống dịch, vừa phục hồi phát triển kinh tế. Các quyết định về công tác nhân sự, phục vụ cuộc cách mạng sắp xếp, tinh gọn tổ chức bộ máy, đáp ứng yêu cầu rất cao của đất nước trong kỷ nguyên mới,… cũng được Quốc hội khẩn trương ban hành. Đó chính là minh chứng cho một Quốc hội hành động, luôn đặt lợi ích của quốc gia và Nhân dân lên trên hết, trước hết.

Tinh thần đổi mới của Quốc hội thể hiện cả ở việc rút ngắn trình tự xây dựng pháp luật và ngay trong nội dung từng đạo luật được Quốc hội thông qua. Không ôm đồm, cầu toàn, các đạo luật ngày càng được thiết kế theo hướng nguyên tắc hóa, chỉ quy định những vấn đề cốt lõi, còn lại giao Chính phủ quy định chi tiết.

Việc triển khai xây dựng Quốc hội số và ứng dụng công nghệ trí tuệ nhân tạo trong chuyển đổi số của Quốc hội được thực hiện quyết liệt, thể hiện quyết tâm của Quốc hội trong việc đẩy mạnh ứng dụng công nghệ tiên tiến để nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động, đáp ứng yêu cầu phát triển của đất nước trong giai đoạn mới. Nhờ đó, số lượng, chất lượng các luật, nghị quyết được thông qua trong nhiệm kỳ Quốc hội khóa XV tăng lên qua từng kỳ họp. Tính riêng số lượng luật, nghị quyết được thông qua trong năm 2024 nhiều nhất từ đầu nhiệm kỳ tới nay với 31 luật, 42 nghị quyết (chiếm gần 50% tổng số nhiệm vụ lập pháp đã hoàn thành từ đầu nhiệm kỳ đến nay). Bước sang năm 2025, chỉ trong Kỳ họp thứ chín, Quốc hội đã xem xét, cho ý kiến về 54 dự án luật, nghị quyết thuộc công tác lập hiến, lập pháp (thông qua 34 luật, 14 nghị quyết và cho ý kiến 6 dự án luật khác). Đó là một khối lượng công việc lập hiến, lập pháp khổng lồ với nhiều nhiệm vụ khó, lần đầu tiên được Quốc hội tiến hành cùng lúc.

Tương tự, tại Kỳ họp thứ mười, Quốc hội sẽ xem xét, quyết định: 66 nội dung, nhóm nội dung (49 dự án luật, 4 nghị quyết thuộc công tác lập pháp; 13 nhóm nội dung về kinh tế - xã hội, ngân sách nhà nước, giám sát và các vấn đề quan trọng khác)./.
Ảnh: Tổng Bí thư Tô Lâm, Thủ tướng Phạm Minh Chính, Chủ tịch Quốc hội Trần Thanh Mẫn và các đại biểu tham gia Hội nghị chuyên đề về Bình dân học vụ số - Quốc hội số.
(Còn nữa)
Theo QĐND
Khuyết danh ST.

KHÔNG THỂ XUYÊN TẠC BẢN CHẤT CỦA QUỐC HỘI VÌ TỔ QUỐC, VÌ NHÂN DÂN

BÀI 2: LẬT TẨY ÂM MƯU, THỦ ĐOẠN CHIA RẼ QUỐC HỘI VỚI ĐẢNG, CHÍNH PHỦ!

     Các thế lực thù địch, phản động không ngừng tìm cách xuyên tạc, chia rẽ mối quan hệ mật thiết giữa Đảng, Quốc hội và Chính phủ Việt Nam bằng những luận điệu sai trái như “dân chủ hình thức”, “Đảng thao túng Quốc hội”, hay “Quốc hội chỉ biểu quyết theo Chính phủ” nhằm gây nghi ngờ, chia rẽ giữa các cơ quan trong hệ thống chính trị, phủ nhận vai trò của Quốc hội. Đó là những chiêu trò xuyên tạc cũ kỹ, bất chấp thực tế rằng Quốc hội Việt Nam ngày càng đổi mới, phát huy rõ vai trò, hiệu quả.

Chiêu trò chia rẽ giữa Quốc hội và Đảng không phải là hiện tượng mới, mà là mưu toan thâm độc, được các thế lực thù địch, phản động nhiều lần sử dụng dưới nhiều hình thức tinh vi. Chúng xuyên tạc rằng các kỳ họp Quốc hội đều “không giải quyết được vấn đề gì”, “chỉ là hình thức”, Quốc hội không có “thực quyền” vì “Đảng thao túng Quốc hội, “Đảng lãnh đạo Quốc hội là đứng trên luật pháp”, từ đó đòi Quốc hội phải độc lập với Đảng. Mưu đồ ấy nhằm làm suy giảm niềm tin của Nhân dân vào cơ chế lãnh đạo của Đảng, phủ nhận sự vận hành chặt chẽ của hệ thống chính trị Việt Nam và gây hiểu lầm về mối quan hệ giữa Đảng, Quốc hội.

Thế lực thù địch luôn tìm cách hạ thấp vai trò của Quốc hội Việt Nam, thúc đẩy cái gọi là “quốc hội độc lập”, hay tạo áp lực để đại biểu không phải là đảng viên chiếm đa số, nhằm cài cắm lực lượng đối lập và hòng biến nghị trường Quốc hội thành diễn đàn chống phá.

Thực tế chứng minh, Đảng Cộng sản Việt Nam luôn thể hiện tốt vai trò lãnh đạo kịp thời, đúng đắn, sáng suốt về chủ trương, đường lối, chứ không đứng trên, “chỉ tay” để Quốc hội “giơ tay”, đại biểu “nghị gật” như những luận điệu xuyên tạc.

Đầu tiên cần phải khẳng định rằng, theo Hiến pháp của Việt Nam, Đảng lãnh đạo Nhà nước và xã hội, do đó vai trò lãnh đạo của Đảng đối với Quốc hội là đúng pháp luật, đúng bản chất của Nhà nước ta. Xuyên suốt 80 năm qua, Đảng đã lãnh đạo để xây dựng và phát triển Quốc hội trở thành cơ quan đại biểu cao nhất của Nhân dân, cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.

Ngay sau khi Cách mạng Tháng Tám thành công, trước yêu cầu củng cố chính quyền, chống thực dân Pháp xâm lược, ngày 25-11-1945, Ban Chấp hành Trung ương Đảng đã ban hành Chỉ thị về Kháng chiến kiến quốc, trong đó nhấn mạnh nhiệm vụ cần kíp hàng đầu lúc này phải “xúc tiến việc đi đến Quốc hội để quy định hiến pháp, bầu Chính phủ chính thức”. Điều này khẳng định rằng, Đảng đã sớm quan tâm lãnh đạo xây dựng, củng cố và đẩy mạnh hoạt động của Quốc hội nhằm phát huy vai trò của Quốc hội trong xác lập một hệ thống chính quyền hoàn toàn đầy đủ danh nghĩa về mặt pháp lý để đại diện cho Nhân dân Việt Nam về đối nội và đối ngoại, có tính chất hợp pháp để điều hành đất nước, tổ chức toàn dân kháng chiến, kiến quốc, giải quyết mọi quan hệ đối ngoại của Việt Nam trên trường quốc tế.

Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (năm 1991) đã chỉ rõ: “Đảng không làm thay công việc của các tổ chức khác trong hệ thống chính trị. Đảng lãnh đạo hệ thống chính trị, đồng thời là một bộ phận của hệ thống ấy. Đảng liên hệ mật thiết với Nhân dân, chịu sự giám sát của Nhân dân, hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật”. Như vậy, phương thức lãnh đạo của Đảng với Quốc hội bằng nghị quyết, chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng. Quốc hội là cơ quan quyền lực Nhà nước cao nhất, đại diện cho cử tri, toàn thể Nhân dân nên việc Đảng lãnh đạo Quốc hội chính là để thể chế hóa các chủ trương, đường lối của Đảng thành chính sách, pháp luật, từ đó đưa vào thực tiễn cuộc sống. Ngược lại, thông qua hoạt động của Quốc hội (lập pháp, giám sát và quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước) tác động lại sự lãnh đạo của Đảng trong việc đưa ra các chủ trương, chính sách mới để đưa đất nước ngày càng phát triển.

Đúng như Tổng Bí thư Tô Lâm nhấn mạnh rằng, cần nâng cao tính Đảng trong hoạt động của Quốc hội. Tính Đảng không làm giảm đi tính dân chủ, mà là định hướng để dân chủ được thực hiện đúng bản chất của chế độ ta. Đây là yêu cầu xuyên suốt, bảo đảm Quốc hội ta luôn kiên định mục tiêu độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội, đặt lợi ích quốc gia, dân tộc, quyền và lợi ích chính đáng của Nhân dân lên trên hết, trước hết.

Một ví dụ điển hình cho thấy Quốc hội là cơ quan quyền lực cao nhất của đất nước, đó là khi xem xét dự án đường sắt cao tốc Hà Nội-Thành phố Hồ Chí Minh vào năm 2010. Khi đưa ra Quốc hội chiều 19-6-2010, số đại biểu tán thành không đạt số lượng cần thiết, do đó chủ trương xây dựng dự án đường sắt cao tốc trị giá 56 tỷ USD do Chính phủ trình đã không được Quốc hội thông qua.

Quyết định cấm sản xuất, kinh doanh, nhập khẩu và sử dụng thuốc lá điện tử, thuốc lá nung nóng từ năm 2025 là minh chứng rõ nét cho tư duy đổi mới, làm việc khoa học và hành động quyết liệt nhưng thận trọng của Quốc hội. Dù chịu sức ép từ doanh nghiệp, một bộ phận người tiêu dùng, Quốc hội dưới sự lãnh đạo sáng suốt của Đảng đã kiên định, đặt sức khỏe và tương lai của nhân dân, đặc biệt là thế hệ trẻ, lên trên hết. Quyết định này cho thấy Quốc hội coi trọng việc bảo vệ sức khỏe cộng đồng, xây dựng xã hội lành mạnh văn minh hơn lợi ích kinh tế.

Qua 15 nhiệm kỳ, sự phát triển của Quốc hội là một quá trình liên tục kế thừa và không ngừng đổi mới, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ của mỗi giai đoạn cách mạng Việt Nam. Riêng nhiệm kỳ Khóa XV, Quốc hội có số lượng kỳ họp lớn nhất từ trước đến nay với 19 kỳ họp, trong đó có tới 9 kỳ họp bất thường để kịp thời xem xét, quyết định các nội dung quan trọng, cấp bách để đáp ứng yêu cầu do thực tiễn đặt ra. Các dự án luật bao quát hầu hết các lĩnh vực trọng yếu, nhiều vấn đề mới, biến động liên tục; kịp thời thể chế hóa các chủ trương, nghị quyết mới của Đảng.

Với phương thức lãnh đạo của Đảng, cách thức hoạt động của Quốc hội như vậy, không thể nói Quốc hội không có “thực quyền”, “chỉ là hình thức”, “Đảng lãnh đạo Quốc hội là đứng trên luật pháp” như những thông tin xuyên tạc. Những dẫn chứng từ thực tế cho thấy rõ rằng, Quốc hội ban hành văn bản pháp luật đúng với chức năng, nhiệm vụ của cơ quan lập pháp, thể hiện rõ sự độc lập của mình, qua đó thêm sự khẳng định rõ ràng rằng, Đảng lãnh đạo toàn diện, chứ không đứng trên, làm thay Quốc hội.

Có thể khẳng định, tại Việt Nam, lập pháp và hành pháp có mối quan hệ đặc biệt chặt chẽ. Theo Hiến pháp, quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công, phối hợp và kiểm soát giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp. Trong đó, Quốc hội là cơ quan đại biểu cao nhất của nhân dân, cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, thực hiện quyền lập hiến, quyền lập pháp, quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước và giám sát tối cao đối với hoạt động của Nhà nước. Chính phủ là cơ quan hành chính nhà nước cao nhất của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, thực hiện quyền hành pháp, là cơ quan chấp hành của Quốc hội. Như vậy, mối quan hệ giữa Quốc hội và Chính phủ ở Việt Nam mang tính đặc thù, vừa thể hiện sự phân công và phối hợp, vừa có sự kiểm soát của Quốc hội đối với hoạt động của Chính phủ, trong đó Quốc hội giữ vị trí trung tâm và có vai trò quyết định.

Từ trên xuống dưới, từ trái qua phải: Đoàn giám sát của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về "Việc thực hiện Nghị quyết số 88/2014/QH13 và Nghị quyết số 51/2017/QH14 của Quốc hội về đổi mới chương trình, sách giáo khoa giáo dục phổ thông" làm việc với Chính phủ ngày 27-7-2023; Ngày 4-3-2022, Đoàn giám sát của Quốc hội đã có cuộc làm việc với Bộ Kế hoạch và Đầu tư (nay là Bộ Tài chính) về "Thực hiện chính sách, pháp luật về công tác quy hoạch kể từ khi Luật Quy hoạch có hiệu lực"; Đoàn giám sát của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về việc thực hiện chính sách, pháp luật về phát triển và sử dụng nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội, nhất là nguồn nhân lực chất lượng cao giai đoạn 2021-2024 làm việc với Chính phủ.

Quyền lập pháp là quyền đại diện cho nhân dân thể hiện ý chí chung của quốc gia và ý chí ấy được thể hiện trong các đạo luật mà Quốc hội là cơ quan duy nhất được giao quyền biểu quyết thông qua. Chính vì là cơ quan đại biểu cao nhất của Nhân dân, nên Quốc hội xem xét và biểu quyết thông qua các nhân sự quan trọng nhất của Nhà nước như Chủ tịch nước, Thủ tướng Chính phủ, Chủ tịch Quốc hội, Chánh án Tòa án Nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện Kiểm sát Nhân dân tối cao…

Quyền hành pháp là quyền tổ chức thực hiện ý chí chung của quốc gia do Chính phủ đảm nhiệm. Thuộc tính cơ bản, xuyên suốt của hoạt động của Chính phủ là quản lý nhà nước, mà thực chất là tổ chức thực thi pháp luật để bảo đảm an ninh, an toàn và phát triển xã hội.

Việc Chính phủ tổ chức thi hành pháp luật chính là góp phần bảo đảm cho “đầu ra” của sản phẩm lập pháp; tạo sự gắn kết giữa chức năng lập pháp của Quốc hội với chức năng “đưa pháp luật đi vào cuộc sống” của Chính phủ - cơ quan hành pháp. Hoạt động của Chính phủ cũng phải được Quốc hội giám sát để bảo đảm tính hợp hiến, hợp pháp. Dưới sự lãnh đạo của Đảng, Quốc hội, Chính phủ và các cơ quan trong bộ máy Nhà nước đều vì mục tiêu tối thượng là độc lập của dân tộc, hạnh phúc của Nhân dân.

Hoạt động giám sát của Quốc hội ngày càng nâng cao hiệu lực, hiệu quả, đạt được nhiều kết quả quan trọng. Trong ảnh (từ trên xuống dưới, từ trái qua phải): Chủ tịch Quốc hội Trần Thanh Mẫn, các Phó chủ tịch Quốc hội và khách mời tham quan Triển lãm “Dấu ấn hoạt động giám sát của Quốc hội Việt Nam” trong khuôn khổ Diễn đàn về hoạt động giám sát của Quốc hội do Ủy ban Thường vụ Quốc hội tổ chức ngày 6-8-2025; Diễn đàn về hoạt động giám sát của Quốc hội với chủ đề "Giám sát của Quốc hội để kiến tạo phát triển" lần đầu tiên được tổ chức, cho thấy sự đổi mới không ngừng hoạt động của Quốc hội; Đoàn giám sát của Quốc hội về “Việc thực hiện chính sách, pháp luật về quản lý thị trường bất động sản và phát triển nhà ở xã hội từ năm 2015 đến năm 2023” khảo sát thực tế tại một số dự án trên địa bàn Thành phố Hà Nội.

Các luận điệu xuyên tạc về Quốc hội đều xuất phát từ mưu âm phá hoại ổn định chính trị của nước ta. Trước những âm mưu tinh vi này, cán bộ, đảng viên, cử tri và Nhân dân phải tỉnh táo, nhận thức rõ bản chất, không để bị lôi kéo, kiên quyết bảo vệ vai trò lãnh đạo của Đảng, quyền làm chủ của Nhân dân và bảo đảm sự ổn định của đất nước./.
Ảnh: Tổng Bí thư Tô Lâm tham dự Đại hội đại biểu Đảng bộ Quốc hội lần thứ I, nhiệm kỳ 2025-2030.
Theo QĐND
Khuyết danh ST.

KHÔNG THỂ XUYÊN TẠC BẢN CHẤT CỦA QUỐC HỘI VÌ TỔ QUỐC, VÌ NHÂN DÂN

BÀI 1: QUYỀN LỰC CỦA NHÂN DÂN!

     Có luận điệu cho rằng “Quốc hội Việt Nam không có thực quyền”, “Quốc hội Việt Nam không gắn bó với Nhân dân, không bảo vệ lợi ích của Nhân dân”. Thế nhưng, thực tế cho thấy, ngay từ khi ra đời, Quốc hội Việt Nam đã luôn gắn bó mật thiết với Nhân dân, đại diện cho tiếng nói của Nhân dân, bảo vệ quyền lợi chính đáng của Nhân dân. Quốc hội là cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất của nước ta và quyền lực đó của Quốc hội là đại diện cho quyền lực của Nhân dân.

THỰC THI TƯ TƯỞNG DÂN QUYỀN TỪ BUỔI ĐẦU LẬP QUỐC

Quốc hội Việt Nam mang bản chất cách mạng, bản chất dân tộc và mục tiêu vì đất nước, vì Nhân dân. Về hình thức, Quốc hội Việt Nam không giống bất cứ mô hình nghị viện nào trên thế giới.

Hiện nay, có người lầm tưởng rằng, dân chủ nghị viện theo kiểu phương Tây mới là “thực sự là dân chủ”. Ngay tại Việt Nam, thời trước cách mạng, Nhân dân ta cũng đã được “hưởng” hình thức Viện dân biểu do Pháp lập ra. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã phê phán các Viện dân biểu này chỉ là tổ chức mang tính mị dân, không có thực quyền, “không phải do cuộc đầu phiếu phổ thông mà chỉ do các kỳ mục, địa chủ và thương nhân bầu ra… Tất cả các “vị dân biểu” này chỉ có tiếng nói tư vấn thôi… mỗi năm hội họp một lần và lúc nào họp là do khâm sứ quyết định. Thậm chí họ không có lấy một phòng họp, hay một phòng để làm việc… Trong số hàng trăm yêu sách… không có một yêu sách nào được thực hiện cả”.

Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn vận dụng sáng tạo và thực thi từng bước tư tưởng dân quyền ngay trong tiến trình đấu tranh giành độc lập dân tộc. Chính bởi muốn xây dựng một Nhà nước của Nhân dân, do Nhân dân, vì Nhân dân, nên ngày 3-9-1945, tức là một ngày sau khi Nhà nước cách mạng ra đời, trong phiên họp đầu tiên của Chính phủ lâm thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nói: "Trước chúng ta đã bị chế độ quân chủ chuyên chế cai trị, rồi đến chế độ thực dân không kém phần chuyên chế, nên nước ta không có Hiến pháp. Nhân dân ta không được hưởng quyền tự do dân chủ. Chúng ta phải có một Hiến pháp dân chủ. Tôi đề nghị Chính phủ tổ chức càng sớm càng hay cuộc tổng tuyển cử với chế độ phổ thông đầu phiếu. Tất cả công dân trai gái 18 tuổi đều có quyền ứng cử và bầu cử, không phân biệt giàu, nghèo, tôn giáo, dòng giống...".

Cuộc Tổng tuyển cử được tiến hành sâu rộng trong cả nước ngày 6-1-1946 đã mở đầu cho quá trình xây dựng chế độ dân chủ tại nước ta, đó là sự khởi đầu của Quốc hội nước ta-một trụ cột vững chắc cho Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của Nhân dân, do Nhân dân, vì Nhân dân. Ngay sau khi được bầu, tại kỳ họp đầu tiên (2-3-1946), Quốc hội khóa I đã thành lập được một Chính phủ hợp hiến, hợp pháp do Chủ tịch Hồ Chí Minh đứng đầu và “trao quyền bính cho chính quyền ấy” bảo đảm cho Chính phủ đủ uy tín, hiệu lực và để tổ chức Nhân dân kháng chiến, kiến quốc. Quốc hội đã thông qua được bản Hiến pháp đầu tiên-Hiến pháp năm 1946, đặt cơ sở pháp lý cho chế độ dân chủ cộng hòa. Hiến pháp năm 1946 đã hiến định những quy định tiến bộ bậc nhất so với các bản hiến văn trên thế giới khi ấy. Các quy định về bảo đảm quyền con người, quyền công dân của Hiến pháp năm 1946 khẳng định tính ưu việt của chính quyền Nhân dân.

QUYỀN LỰC NHÀ NƯỚC CAO CHẤT THUỘC VỀ QUỐC HỘI - CƠ QUAN ĐẠI BIỂU CAO NHẤT CỦA NHÂN DÂN

Trong quá trình xác lập mô hình tổ chức bộ máy nhà nước Việt Nam mới, Chủ tịch Hồ Chí Minh chủ trương thống nhất quyền lực nhà nước theo nguyên tắc tập quyền xã hội chủ nghĩa. Trong đó, Quốc hội là cơ quan quyền lực tối cao thể hiện thống nhất của quyền lực nhà nước, bởi chỉ có Quốc hội mới là cơ quan duy nhất do cử tri cả nước trực tiếp bầu ra. Hiện nay, theo Hiến pháp năm 2013, Quốc hội là cơ quan đại biểu cao nhất của Nhân dân, cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Quốc hội thực hiện quyền lập hiến, quyền lập pháp, quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước và giám sát tối cao đối với hoạt động của Nhà nước.

Quốc hội là cơ quan đại biểu cao nhất của Nhân dân được thể hiện ở các mặt sau đây: Thứ nhất, về cách thức thành lập, Quốc hội là cơ quan do cử tri cả nước bầu ra theo nguyên tắc phổ thông, bình đẳng, trực tiếp và bỏ phiếu kín. Quốc hội đại diện cho ý chí và nguyện vọng của Nhân dân cả nước, được Nhân dân tin tưởng ủy thác quyền lực nhà nước, thay mặt Nhân dân quyết định những vấn đề trọng đại của đất nước và chịu trách nhiệm trước Nhân dân cả nước. Thứ hai, về cơ cấu tổ chức, đại biểu Quốc hội là yếu tố cơ bản và quan trọng nhất cấu thành Quốc hội. Đại biểu Quốc hội là những công dân ưu tú trong mọi lĩnh vực hoạt động của Nhà nước và xã hội, đại diện cho các tầng lớp Nhân dân và các dân tộc anh em trên đất nước Việt Nam. Quốc hội là hình ảnh của khối đại đoàn kết toàn dân, là biểu trưng sức mạnh trí tuệ của cả dân tộc Việt Nam. Thứ ba, chức năng và nhiệm vụ của Quốc hội được quy định toàn diện trên các lĩnh vực: Lập hiến, lập pháp, giám sát tối cao và quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước, nhằm phục vụ cho lợi ích chung của toàn thể Nhân dân.

Quốc hội là cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất bởi vì theo quy định của Hiến pháp, ở nước ta, tất cả quyền lực thuộc về Nhân dân. Nhân dân là chủ thể của quyền lực nhà nước. Quốc hội do Nhân dân bầu ra, là cơ quan nhà nước cao nhất thực hiện quyền lực của Nhân dân. Quốc hội là cơ quyền lực nhà nước cao nhất còn thể hiện ở chức năng của Quốc hội. Theo quy định của Hiến pháp, Quốc hội là cơ quan thực hiện quyền làm Hiến pháp và sửa đổi Hiến pháp, làm luật và sửa đổi luật. Bằng việc làm Hiến pháp và sửa đổi Hiến pháp, Quốc hội quy định các vấn đề cơ bản nhất, quan trọng nhất về hình thức và bản chất của Nhà nước; ghi nhận, tôn trọng, bảo vệ, bảo đảm quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân; quy định các nội dung cơ bản về chế độ kinh tế, xã hội, văn hóa, giáo dục, khoa học, công nghệ, môi trường, bảo vệ Tổ quốc và về tổ chức bộ máy nhà nước. Bằng việc làm luật và sửa đổi luật, Quốc hội điều chỉnh các quan hệ xã hội trong từng lĩnh vực của đời sống xã hội.

Bên cạnh đó, Quốc hội là cơ quan có quyền quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước, đó là những chủ trương lớn, những vấn đề quốc kế dân sinh, những chính sách cơ bản về đối nội và đối ngoại, nhiệm vụ kinh tế - xã hội, quốc phòng, an ninh của đất nước. Quốc hội thực hiện quyền giám sát tối cao đối với toàn bộ hoạt động của Nhà nước. Không một cơ quan nào đứng trên Quốc hội trong xem xét, đánh giá việc thi hành Hiến pháp, luật - những văn bản mà chỉ Quốc hội mới có quyền ban hành. Các cơ quan do Quốc hội thành lập và người giữ các chức vụ do Quốc hội bầu, phê chuẩn (bao gồm cả Chủ tịch nước, Thủ tướng Chính phủ, Chủ tịch Quốc hội) phải chịu trách nhiệm, báo cáo công tác trước Quốc hội và chịu sự giám sát của Quốc hội.

Từ trên xuống dưới, từ trái qua phải: Nghị quyết về Chủ trương đầu tư dự án Nhà máy Thủy điện Sơn La được Quốc hội khóa X thông qua tại kỳ họp thứ 9, tháng 6-2001; Quốc hội Biểu quyết thông qua Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của 11 luật về quân sự, quốc phòng sáng 27-6-2025; Quốc hội thông qua Nghị quyết sửa đổi, bổ sung một số điều của Hiến pháp năm 2013 với 100% đại biểu có mặt tán thành.

ĐẶC BIỆT TRÂN TRỌNG Ý KIẾN, NGUYỆN VỌNG CỦA NHÂN DÂN

Để có được những quyết sách đúng đắn và hợp lòng dân, Quốc hội Việt Nam đặc biệt coi trọng việc lấy ý kiến Nhân dân, chuyên gia và các tổ chức xã hội trong quá trình xây dựng luật, nghị quyết. Cơ chế này được thực hiện thông qua việc công khai dự thảo luật trên Cổng Thông tin điện tử để người dân góp ý, tổ chức các hội thảo, tọa đàm chuyên gia, lấy ý kiến hiệp hội, tổ chức xã hội và tiếp xúc cử tri. Việc tham vấn rộng rãi giúp các chính sách được ban hành vừa có tính khả thi, vừa phản ánh thực tiễn đời sống.

Đơn cử, năm 2024, để sửa đổi Luật Đất đai, Quốc hội, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam đã tổ chức nhiều hội nghị, diễn đàn, lấy hàng triệu lượt ý kiến từ người dân, doanh nghiệp và giới chuyên gia. Nhờ đó, nhiều quy định quan trọng về quyền sử dụng đất, bồi thường, hỗ trợ tái định cư đã được chỉnh sửa, hoàn thiện hơn, phù hợp hơn với mong muốn và lợi ích chính đáng của Nhân dân. Điều này thể hiện rõ tinh thần dân chủ và trách nhiệm của các đại biểu Quốc hội trong việc lắng nghe, phản ánh tiếng nói của cử tri trước khi “bấm nút” thông qua các chính sách lớn của đất nước.

Không thể xuyên tạc bản chất của Quốc hội vì Tổ quốc, vì Nhân dân - Bài 1: Quyền lực của Nhân dân
Ảnh bên trái: Tổng Bí thư Tô Lâm và các đồng chí lãnh đạo, nguyên lãnh đạo Đảng, Nhà nước cùng các đại biểu tại buổi gặp mặt các thế hệ đại biểu Quốc hội qua các thời kỳ ngày 27-8-2025. Ảnh bên phải: Tổng Bí thư Tô Lâm phát biểu tại buổi gặp mặt các thế hệ đại biểu Quốc hội qua các thời kỳ ngày 27-8-2025.
80 năm qua, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, Quốc hội trở thành nơi hội tụ của “ý Đảng, lòng dân”, cầu nối giữa thực tiễn xã hội với ý chí chính trị. Đúng như Tổng Bí thư Tô Lâm đánh giá: “Quốc hội luôn đồng hành cùng dân tộc, là nơi những quyết sách trọng đại thể theo ý chí và nguyện vọng của Nhân dân được thảo luận dân chủ, thông qua thận trọng, triển khai quyết liệt”./.
Ảnh 1: Chính phủ Liên hiệp kháng chiến làm lễ ra mắt và tuyên thệ trước Quốc hội tại Nhà hát Lớn Hà Nội, ngày 2-3-1946.
Ảnh 2: Cử tri Hà Nội bỏ phiếu bầu người xứng đáng tham gia Quốc hội khóa I.

Ảnh 3: Toàn cảnh kỳ họp thứ nhất, Quốc hội khóa I, ngày 2-3-1946.

Ảnh 4 (trên): Quốc hội họp phiên toàn thể, nhất trí thông qua Hiến pháp mới, ngày 31-12-1959.
Ảnh 5 (dưới): Chủ tịch Hồ Chí Minh ký Sắc lệnh công bố Hiến pháp mới, sáng 1-1-1960.

Ảnh 6: Lễ tuyên thệ nhậm chức của Chủ tịch nước Lương Cường; Lễ tuyên thệ nhậm chức của Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính và Lễ tuyên thệ nhậm chức của Chủ tịch Quốc hội Trần Thanh Mẫn.


Ảnh 7, 8, 9: Từ trên xuống dưới: Nghị quyết về Chủ trương đầu tư dự án Nhà máy Thủy điện Sơn La được Quốc hội khóa X thông qua tại kỳ họp thứ 9, tháng 6-2001; Quốc hội Biểu quyết thông qua Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của 11 luật về quân sự, quốc phòng sáng 27-6-2025; Quốc hội thông qua Nghị quyết sửa đổi, bổ sung một số điều của Hiến pháp năm 2013 với 100% đại biểu có mặt tán thành.
Theo QĐND
Khuyết danh ST.

SÀNG LỌC, LOẠI BỎ CÁC SẢN PHẨM, THÔNG TIN ĐỘC HẠI TRONG XUẤT BẢN SÁCH VĂN HỌC, NGHỆ THUẬT!

     Thời gian qua, các đối tượng chống phá cực đoan, phản động, thiếu thiện chí với Việt Nam luôn coi xuất bản, trong đó có mảng sách văn học, là một trong những mặt trận để tấn công bằng nhiều phương thức, thủ đoạn ngày càng tinh vi. Vì vậy, cần nhận diện, đấu tranh loại bỏ những sản phẩm, thông tin độc hại trong xuất bản sách văn học, nghệ thuật (VHNT).

Ẩn náu sự chống phá tinh vi, nham hiểm

Một trong những cách thức chống phá văn hóa, tư tưởng của các thế lực thù địch nhằm vào các quốc gia, đó là tài trợ, hỗ trợ xuất bản “chui” những cuốn sách có thông tin độc hại, xuyên tạc, phản động, nhất là sách thuộc thể loại VHNT. Các đối tượng tìm mọi cách để những sản phẩm này xâm nhập vào môi trường văn hóa đọc của các quốc gia, hòng xuyên tạc, bôi nhọ chế độ, làm thay đổi suy nghĩ, nhận thức của người đọc. Trong thời kỳ Chiến tranh lạnh, Cục Tình báo Trung ương Mỹ (CIA) đã dùng tiểu thuyết “Bác sĩ Zhivago” của Boris Pasternak với mục đích chống lại hệ tư tưởng cộng sản, chống phá các nước Xô viết. Trong các tài liệu được giải mật đã nhiều lần nhấn mạnh rằng, bằng bất cứ giá nào cũng không được để lộ cho công chúng biết đến sự liên quan của CIA trong việc xuất bản cuốn tiểu thuyết này.

VHNT là một hình thái ý thức xã hội đặc thù, có sự khác biệt với các ngành khoa học, các hình thái ý thức xã hội khác. Tính đặc trưng của VHNT được khu biệt ở tư duy mang tính nghệ thuật. Phương tiện phản ánh hiện thực của VHNT được xây dựng bằng hình tượng. Nghĩa là tác giả không bộc lộ trực tiếp tư tưởng, tình cảm, quan điểm, thái độ mà bao giờ cũng thể hiện thông qua cầu nối là hình tượng nghệ thuật.

Với đặc trưng trên, sách VHNT trở thành một trong những “mũi tấn công” của các đối tượng chống phá cực đoan, phản động, thiếu thiện chí với Việt Nam. Họ lôi kéo các văn nghệ sĩ suy thoái về tư tưởng chính trị, dùng tác phẩm VHNT để cài cắm những hình tượng nghệ thuật, biểu tượng mang tính đa nghĩa nhằm phê phán, bôi đen cuộc sống, bộc lộ thái độ xuyên tạc, chống phá Đảng, Nhà nước và chế độ xã hội chủ nghĩa.  

Những sản phẩm, thông tin độc hại, xuyên tạc, phản động trong xuất bản sách VHNT dù được che đậy, bao bọc bằng những hình tượng đa nghĩa, cài cắm chi tiết gian xảo, tinh vi, nhưng cũng có thể nhận diện qua các dấu hiệu sau:
Một là, sách VHNT có nội dung quan điểm thù địch, chống đối Đảng Cộng sản Việt Nam. Bằng thủ đoạn mượn danh đổi mới, tác giả tìm mọi cách truyền bá tư tưởng thoát ly sự lãnh đạo của Đảng, phê phán học thuyết Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, phủ định lý luận và thực tiễn về chủ nghĩa xã hội. Thông qua các hình tượng văn học, tác giả đưa ra những nhận định, quan điểm cá nhân, thiếu cơ sở khoa học để xuyên tạc, phủ định sự đúng đắn của con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam.

Hai là, sách VHNT đề cập đến những sự kiện, nhân vật lịch sử nhưng không phân tích đầy đủ, khách quan, không đủ chiều sâu để giải thích các sự kiện. Tác giả đưa ra những lý giải mang tính chủ quan, phiến diện, thậm chí xuyên tạc lịch sử, xúc phạm dân tộc, gây định kiến, hiểu nhầm cho độc giả về sự kiện lịch sử.

Ba là, sách VHNT viết về anh hùng dân tộc, lãnh tụ của Đảng, các bậc tiền bối cách mạng, các nhân vật lịch sử chưa đúng quy định hoặc đưa những thông tin, chi tiết chưa được kiểm chứng, xác minh, gây hoang mang cho bạn đọc, thậm chí mượn cớ sáng tạo hình tượng nghệ thuật nhằm hạ bệ thần tượng, danh nhân văn hóa, anh hùng dân tộc và các bậc tiền bối cách mạng.

Bốn là, sách ký, hồi ký, tự truyện có những chi tiết không được kiểm chứng, sai lệch thông tin, cài cắm nội dung phản cách mạng hoặc ám chỉ, phê phán con người và dân tộc Việt Nam một cách tinh vi, xảo trá, nham hiểm.

Năm là, sách VHNT dịch từ nước ngoài có nội dung sai sự thật, dung tục, không phù hợp với thuần phong mỹ tục Việt Nam. Đó là những cuốn sách văn học thuộc thể loại ngôn tình lệch lạc, đã tiếp tay cho sự xâm nhập các ấn phẩm văn hóa rẻ tiền vào nước ta, gây nhận thức sai lệch cho người đọc, nhất là giới trẻ.

Những biểu hiện tiêu cực, vi phạm trong xuất bản sách VHNT nêu trên đã làm “ô nhiễm” môi trường văn hóa xuất bản, tác động tiêu cực đến tình cảm, niềm tin, tư tưởng lành mạnh của bạn đọc; đồng thời tạo điều kiện thuận lợi cho các thế lực thù địch bên ngoài lợi dụng chống phá cách mạng, xâm phạm an ninh tư tưởng văn hóa của quốc gia.

Phòng ngừa, đấu tranh, loại bỏ sản phẩm, thông tin độc hại

Có thể thấy, các vi phạm trong xuất bản sách VHNT ở nước ta thời gian gần đây phần lớn đều liên quan đến hoạt động liên kết của các nhà xuất bản, trong khi các quy định của pháp luật điều chỉnh hoạt động này còn chung chung, chưa quy định trách nhiệm cụ thể của người đứng đầu các đơn vị, tổ chức khi tham gia liên kết xuất bản. Các quy định hiện hành về xử phạt vi phạm pháp luật trong xuất bản dù đã được sửa đổi, nhưng mức phạt chưa đủ tính răn đe. Thậm chí có chủ thể tham gia xuất bản tác phẩm văn học theo xu hướng này sẵn sàng vi phạm và nộp phạt vì giả sử bị phạt vẫn có lợi nhuận cao do bán được nhiều sách.

Văn kiện Đại hội XIII của Đảng nêu rõ định hướng: “Kiên quyết đấu tranh, loại bỏ các sản phẩm, thông tin độc hại, xuyên tạc, phản động, ảnh hưởng xấu đến ổn định chính trị-xã hội, thuần phong mỹ tục”. Để góp phần phòng ngừa, đấu tranh, loại bỏ sản phẩm, thông tin độc hại, xuyên tạc, phản động trong xuất bản sách VHNT, trước hết, cần tăng cường vai trò lãnh đạo của Đảng, nâng cao năng lực, hiệu lực, hiệu quả quản lý Nhà nước với công tác xuất bản sách VHNT. Nội dung chính trị tư tưởng của các tác phẩm VHNT phải bảo đảm đúng định hướng tuyên truyền của Đảng; nâng cao ý thức trách nhiệm, năng lực và phẩm chất chính trị của cán bộ chủ chốt các cơ quan xuất bản tác phẩm văn học. Thời gian tới, các cơ quan quản lý, chuyên gia cần tiếp tục nghiên cứu sửa đổi, điều chỉnh, bổ sung và hoàn thiện hệ thống văn bản pháp luật để tăng cường hiệu quả quản lý Nhà nước trong lĩnh vực xuất bản nói chung, xuất bản sách VHNT nói riêng.

Đối với các nhà xuất bản, cần hoạt động đúng tôn chỉ, mục đích, thực hiện chặt chẽ các khâu, các bước trong quy trình xuất bản sách VHNT. Trong công tác xuất bản, việc thực hiện chặt chẽ quy trình xuất bản sẽ tạo nên “bộ lọc” tốt, loại bỏ được những sản phẩm độc hại ngay từ bản thảo. Thực tế có những bản thảo sách VHNT chỉ cần đọc qua một vài trang cơ bản đã có thể nhận thấy nội dung không phù hợp để cấp phép. Chỉ cần các nhà xuất bản làm đúng quy trình xuất bản thì những cuốn sách VHNT có nội dung sai phạm, độc hại khó có thể được phê duyệt, thông qua.  

Trong tình hình hiện nay, cần chú trọng công tác thanh tra, kiểm tra, giám sát để kịp thời phát hiện và xử lý vi phạm, tránh việc xuất bản phẩm có nội dung sai lệch bị tán phát rộng rãi trên thị trường, gây dư luận tiêu cực trong xã hội. Thời gian qua, một số cá nhân, tổ chức thiếu thiện chí thường tập trung vào những cuốn sách VHNT vi phạm để tuyên truyền, tán phát “chui” trên thị trường. Thậm chí, một số hội nhóm ở nước ngoài còn thành lập “nhà xuất bản tự do” in ấn, phát hành trái phép những cuốn sách VHNT có nội dung chống phá Đảng, Nhà nước. Chính vì vậy, công tác thanh tra, kiểm tra, giám sát cần sát sao hơn nữa nhằm ngăn chặn những vi phạm này.

Giải pháp căn cơ là quan tâm đào tạo, bồi dưỡng, nâng cao bản lĩnh chính trị, kiến thức, kỹ năng cho đội ngũ lãnh đạo, biên tập viên các nhà xuất bản có tham gia xuất bản sách VHNT. Trong đó, trọng tâm là nâng cao chất lượng đội ngũ biên tập viên, bảo đảm cho đội ngũ này thực sự là “người gác cổng” tin cậy, nhạy bén trong công tác biên tập sách VHNT; kiên quyết từ chối những bản thảo chất lượng kém hay bản thảo chứa đựng nội dung thông tin độc hại, phản động.

Trong thời đại bùng nổ thông tin với rất nhiều ấn bản phẩm xuất hiện trên thị trường, cần đẩy mạnh công tác tuyên truyền, nâng cao nhận thức của bạn đọc đối với việc nhận diện, đấu tranh, loại bỏ sản phẩm, thông tin độc hại, xuyên tạc, phản động trong xuất bản sách VHNT. Mỗi độc giả cần tỉnh táo trong lựa chọn, tiếp nhận những cuốn sách có tư tưởng tốt, nội dung giàu tính giáo dục; không tìm đọc hoặc tiếp tay cho những sách VHNT chưa được các đơn vị chức năng có thẩm quyền cấp phép. Khi phát hiện có dấu hiệu sai phạm, bạn đọc cần kịp thời phản ánh đến cơ quan chức năng để xử lý theo đúng thẩm quyền.

Trong công tác bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, việc nhận diện, đấu tranh, loại bỏ các sản phẩm, thông tin độc hại, xuyên tạc, phản động trong xuất bản sách VHNT có vai trò quan trọng. Cơ quan chủ quản, quản lý Nhà nước phải có đội ngũ cán bộ đủ tầm để làm công tác tham mưu, đưa ra các quyết định chính xác, nghiêm khắc trong lĩnh vực này. Qua đó, góp phần giúp công tác xuất bản nói chung và xuất bản sách VHNT nói riêng đáp ứng tốt hơn yêu cầu của độc giả, có khả năng “miễn dịch” trước những âm mưu, thủ đoạn chống phá của thế lực thù địch; đồng thời tác động tích cực vào nhận thức của công chúng và xã hội, góp phần xây dựng nền xuất bản chuyên nghiệp, hiện đại, nhân văn, phục vụ lợi ích quốc gia-dân tộc và làm phong phú nền văn hóa Việt Nam./.
Theo QĐND
Yêu nước ST.

TÌM HIỂU GIÚP BẠN: ĐOÀN BỘ QUỐC PHÒNG VIỆT NAM DỰ TRIỂN LÃM HÀNG KHÔNG DUBAI 2025!

     Nhận lời mời của Bộ Quốc phòng Các Tiểu vương quốc Arab thống nhất (UAE), đoàn Bộ Quốc phòng Việt Nam do Thượng tướng Hoàng Xuân Chiến, Ủy viên Trung ương Đảng, Ủy viên Thường vụ Quân ủy Trung ương, Thứ trưởng Bộ Quốc phòng làm trưởng đoàn, tham dự Triển lãm Hàng không Dubai 2025 tại Dubai và thăm, làm việc với Bộ Quốc phòng UAE.

Triển lãm hàng không Dubai là một trong những triển lãm hàng không quốc tế hàng đầu thế giới. Triển lãm năm nay quy tụ gần 1.500 đơn vị triển lãm đến từ 98 quốc gia, với gần 200 máy bay được trưng bày ấn tượng, đồng thời giới thiệu những tiến bộ mới nhất trong lĩnh vực hàng không và công nghệ quốc phòng.

Việc Bộ Quốc phòng Việt Nam tham dự triển lãm thể hiện sự quan tâm đối với hợp tác quốc tế về công nghiệp quốc phòng; khẳng định Chính phủ và Bộ Quốc phòng Việt Nam luôn tạo điều kiện tăng cường trao đổi, hợp tác quốc tế về lĩnh vực công nghiệp quốc phòng theo nguyên tắc bình đẳng, cùng có lợi, tôn trọng pháp luật của Việt Nam và các cam kết quốc tế khác. 

Tại triển lãm, Thượng tướng Hoàng Xuân Chiến và đoàn đã tham quan các gian hàng, tiếp xúc với các doanh nghiệp quốc phòng của UAE và một số nước. Thượng tướng Hoàng Xuân Chiến đề nghị các nước và Việt Nam thúc đẩy trao đổi, tìm hiểu khả năng hợp tác, phù hợp với năng lực của mỗi bên, thống nhất về phương hướng thúc đẩy quan hệ hợp tác công nghiệp quốc phòng trong thời gian tới.

Ngày 17-11, Thượng tướng Hoàng Xuân Chiến đã chứng kiến Lễ ký Bản ghi nhớ giữa Tập đoàn Công nghiệp-Viễn thông Quân đội (Viettel) và Tập đoàn Edge của UAE.

Bản ghi nhớ tạo nền tảng vững chắc cho tiềm năng hợp tác sâu rộng trong lĩnh vực công nghiệp quốc phòng công nghệ cao. Bản ghi nhớ cũng vạch ra lộ trình cho các sáng kiến chung, cùng quan tâm, bao gồm tiềm năng phát triển mô hình sản xuất thiết bị gốc tại Việt Nam cho các linh kiện và module kết nối với các dòng sản phẩm Edge, hướng đến UAE và các thị trường xuất khẩu khác, mở rộng cơ hội nghiên cứu, trao đổi, chuyển giao công nghệ, hợp tác đào tạo công nghệ.

Thượng tướng Hoàng Xuân Chiến chúc mừng Viettel và Edge ký Bản ghi nhớ, đồng thời đề nghị hai bên tiếp tục duy trì liên lạc và phối hợp chặt chẽ nhằm cụ thể hóa các nội dung đã thống nhất, xây dựng kế hoạch triển khai các hoạt động hợp tác cụ thể ở các lĩnh vực trọng điểm trong thời gian tới./.

Theo QĐND
Yêu nước ST.

Thứ Hai, 17 tháng 11, 2025

ĐẤU TRANH NGĂN CHẶN ÂM MƯU LÔI KÉO, DỤ DỖ GIỚI TRẺ TRÊN KHÔNG GIAN MẠNG!

     Trong bối cảnh công nghệ thông tin và mạng xã hội phát triển mạnh mẽ, không gian mạng trở thành một phần không thể tách rời trong đời sống xã hội, mang lại nhiều tiện ích trong học tập, làm việc và giao tiếp. Tuy nhiên, song song với những mặt tích cực, các thế lực thù địch, phản động và phần tử cơ hội chính trị đã lợi dụng không gian này để truyền bá tư tưởng sai trái, tung tin giả, thông tin xấu độc, đặc biệt là lôi kéo, dụ dỗ giới trẻ tham gia các nhóm kín, trang mạng phản động, phát tán “tin nóng”, “clip giật gân” nhằm gây rối loạn thông tin, làm mất định hướng xã hội. Đây là một thủ đoạn nguy hiểm, tinh vi và khó lường, tác động sâu sắc đến nhận thức và niềm tin của thế hệ trẻ.

Âm mưu thâm độc và thủ đoạn tinh vi

Những kẻ chống phá thường núp dưới danh nghĩa tự do ngôn luận, chia sẻ quan điểm cá nhân, lập ra hàng trăm trang mạng, nhóm kín trên các nền tảng như Facebook, TikTok, Telegram, YouTube… để truyền tải thông tin sai lệch, bịa đặt, xuyên tạc đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước. Chúng lợi dụng tâm lý tò mò, hiếu kỳ và nhu cầu khẳng định bản thân của giới trẻ để lôi kéo, dụ dỗ tham gia vào các nhóm “trò chuyện kín”, nơi thường xuyên xuất hiện những nội dung tiêu cực, phản động. Bên cạnh đó, chúng còn cắt ghép hình ảnh, video, tạo “tin nóng”, “clip giật gân” về các vụ việc xã hội nhạy cảm nhằm gây bức xúc, kích động bình luận cực đoan, chia rẽ tư tưởng, thậm chí lôi kéo xuống đường biểu tình, tụ tập đông người.

Đáng lo ngại, một số đối tượng còn mạo danh nhà báo, chuyên gia, người nổi tiếng, dùng ngôn ngữ hấp dẫn, hình ảnh bắt mắt để “đánh lừa” người xem, khiến nhiều bạn trẻ dễ tin, dễ chia sẻ mà không kiểm chứng thông tin. Chỉ với vài cú nhấp chuột, những tin giả, clip sai sự thật có thể lan truyền đến hàng chục nghìn người, gây tác động tiêu cực trong xã hội.

Tác hại nghiêm trọng đối với giới trẻ và xã hội

Những thông tin xấu độc đó làm xói mòn niềm tin của giới trẻ, khiến một bộ phận thanh niên mất phương hướng, nghi ngờ vai trò lãnh đạo của Đảng, pháp luật của Nhà nước, thậm chí bị kích động thực hiện các hành vi vi phạm pháp luật. Không ít trường hợp bị kẻ xấu lợi dụng danh tính, chiếm đoạt tài khoản, thu thập dữ liệu cá nhân, hoặc bị lôi kéo vào các tổ chức, nhóm phản động dưới hình thức “thảo luận xã hội”. Về lâu dài, những tác động này đe dọa an ninh tư tưởng, an ninh văn hóa và an ninh mạng quốc gia, làm mất ổn định chính trị – xã hội, ảnh hưởng trực tiếp đến sự phát triển bền vững của đất nước.

Chủ động phòng ngừa và đấu tranh hiệu quả

Để ngăn chặn, đẩy lùi tình trạng trên, cần phát huy sức mạnh tổng hợp của cả hệ thống chính trị, gia đình, nhà trường và xã hội, trong đó thanh niên vừa là đối tượng cần được bảo vệ, vừa là lực lượng xung kích trong đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái. Trước hết, các cơ quan, tổ chức, đoàn thể cần tăng cường giáo dục chính trị, tư tưởng, đạo đức, lối sống cho thanh niên, giúp họ nhận diện rõ âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch; nâng cao “sức đề kháng” trước thông tin xấu độc, hình thành bản lĩnh vững vàng, không dao động, không bị lôi kéo.

Tiếp đó, cần đẩy mạnh tuyên truyền, hướng dẫn kỹ năng sử dụng mạng xã hội an toàn, văn minh, khuyến khích thanh niên lan tỏa giá trị tốt đẹp, tích cực, góp phần tạo môi trường mạng trong sạch, lành mạnh. Đồng thời, các cơ quan quản lý Nhà nước về thông tin và truyền thông cần tăng cường kiểm soát, phát hiện và xử lý nghiêm các tài khoản, trang mạng có hành vi phát tán thông tin xấu độc, kích động chống phá. Bên cạnh đó, phát huy vai trò của tổ chức Đoàn, Hội, các cơ sở giáo dục và quân đội, tổ chức nhiều hoạt động, sân chơi bổ ích, qua đó định hướng tư tưởng, củng cố niềm tin, khơi dậy ý chí và trách nhiệm công dân số trong thanh niên.

Giới trẻ Việt Nam hôm nay là tương lai của đất nước, là thế hệ tiên phong trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong kỷ nguyên số.

Mỗi bạn trẻ cần nêu cao tinh thần cảnh giác, ý thức trách nhiệm, chủ động chọn lọc thông tin, không tin, không chia sẻ những nội dung chưa được kiểm chứng, đồng thời chủ động đấu tranh, phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trên không gian mạng. Giữ vững niềm tin, bản lĩnh và lý tưởng cách mạng - đó chính là lá chắn vững chắc bảo vệ bản thân, cộng đồng và Tổ quốc, góp phần xây dựng không gian mạng an toàn, lành mạnh và giàu giá trị nhân văn./.
Khuyết danh!

TÌM HIỂU GIÚP BẠN: BỆNH VIỆN BẠCH MAI CƠ SỞ 2 TẠI NINH BÌNH SẼ ĐÓN TIẾP NGƯỜI BỆNH TỪ NGÀY 19/12!

     Dự kiến, từ ngày 19/12/2025, Bệnh viện Bạch Mai cơ sở 2 tại Ninh Bình sẽ chính thức mở cửa đón tiếp người bệnh, mang dịch vụ y tế chất lượng cao đến gần hơn với người dân.

Đại diện Bệnh viện cho biết: Bệnh viện Bạch Mai đang khẩn trương thực hiện những bước cuối cùng để chuẩn bị đưa cơ sở 2 tại Ninh Bình đi vào hoạt động. Dự kiến, từ ngày 19/12/2025, cơ sở mới này sẽ chính thức mở cửa đón tiếp người bệnh, mang dịch vụ y tế chất lượng cao của Bạch Mai đến gần hơn với người dân.

Theo đó, tinh thần chung là "toàn thể bệnh viện chung sức, đồng lòng", tập trung mọi nguồn lực để đảm bảo sẵn sàng phục vụ người bệnh từ ngày đầu tiên.

Hiện công tác chuẩn bị cơ sở vật chất, trang thiết bị đang được triển khai đồng bộ và khẩn trương với quyết tâm cao. Cụ thể, về chuyên môn, các khoa lâm sàng đã sẵn sàng kế hoạch bố trí nhân sự và trang thiết bị hiện đại. Có ít nhất 2 phòng mổ sẽ được hoàn thiện để sẵn sàng cho các ca cấp cứu ngay trong ngày đầu vận hành.

Hệ thống máy chụp chiếu, xét nghiệm tân tiến đang được lắp đặt, kiểm tra kỹ lưỡng để cho kết quả chính xác. Bệnh viện hướng tới mô hình "bệnh viện thông minh" đầu tiên trong hệ thống y tế công, với hệ thống phần mềm quản lý (HIS, LIS...) được kết nối liên thông toàn diện giữa hai cơ sở, giúp việc quản lý và chăm sóc người bệnh được tối ưu.

Bên cạnh đó, các phương án đảm bảo nguồn thuốc, vật tư, suất ăn dinh dưỡng cho người bệnh và chỗ ở, đi lại cho cán bộ đều đã được tính toán chi tiết.

Hơn 600 bác sĩ, điều dưỡng, kỹ thuật viên giàu kinh nghiệm từ cơ sở Hà Nội đã tự nguyện đăng ký luân chuyển công tác về cơ sở 2. Đội ngũ này chính là "linh hồn" của cơ sở 2, cam kết mang đến cho người bệnh tại Ninh Bình chất lượng dịch vụ và chuyên môn y tế đúng chuẩn Bạch Mai.

PGS.TS Đào Xuân Cơ, Giám đốc Bệnh viện khẳng định: "Người bệnh đến với cơ sở 2 sẽ được hưởng chất lượng dịch vụ và chuyên môn tương đương với cơ sở 1 tại Hà Nội".

Theo đó, việc đưa Bệnh viện Bạch Mai cơ sở Ninh Bình vào hoạt động có ý nghĩa chiến lược, mang tầm vóc quốc gia. Đây không chỉ là giải pháp then chốt giảm tải cho cơ sở chính tại Hà Nội, mà còn mở ra cơ hội tiếp cận dịch vụ y tế cao cấp cho hàng chục triệu người dân tại Ninh Bình, Nam Định, Thanh Hóa, Hà Nam và khu vực Bắc Trung Bộ. Người dân sẽ không còn phải di chuyển xa, chịu nhiều chi phí phát sinh để được thụ hưởng các dịch vụ kỹ thuật cao ngay tại địa phương.

Với sự chuẩn bị chu đáo về nhân lực, vật lực và quyết tâm cao độ của toàn thể tập thể Bệnh viện Bạch Mai, cơ sở Ninh Bình hứa hẹn sẽ chính thức trở thành một địa chỉ y tế tin cậy, mang lại những giá trị thiết thực cho sức khỏe nhân dân, đúng như kỳ vọng của các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước và toàn thể nhân dân./.
Môi trường ST.

🇻🇳 🇻🇳 BẢO VỆ NỀN TẢNG TƯ TƯỞNG CỦA ĐẢNG LÀ TRÁCH NHIỆM CỦA TOÀN DÂN, TOÀN QUÂN 🇻🇳 🇻🇳

     Theo PGS.TS Nguyễn Trọng Phúc, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng không chỉ là nhiệm vụ của cơ quan lý luận, mà là trách nhiệm chung của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân.

PGS.TS Nguyễn Trọng Phúc, nguyên Viện trưởng Viện Lịch sử Đảng, nhấn mạnh Đảng Cộng sản Việt Nam là lực lượng lãnh đạo Nhà nước và xã hội, là lực lượng lãnh đạo cầm quyền duy nhất, do đó mục tiêu xây dựng chủ nghĩa xã hội được xác định là nhiệm vụ trọng tâm, xuyên suốt và phải kiên quyết thực hiện cho bằng được.

Ngay từ khi ra đời, Đảng ta đã xác định rõ con đường phát triển của dân tộc là gắn liền độc lập dân tộc với chủ nghĩa xã hội - đó vừa là quy luật khách quan của lịch sử, vừa là sự lựa chọn đúng đắn, phù hợp với thực tiễn cách mạng Việt Nam.

🔺 Kiên định và bảo vệ vững chắc nền tảng tư tưởng của Đảng trong thời kỳ mới

Chủ nghĩa xã hội là mục tiêu cao cả mà Đảng và nhân dân ta kiên định theo đuổi, đây không chỉ là lý tưởng mà còn là con đường tất yếu bảo đảm độc lập dân tộc gắn liền với hạnh phúc, ấm no của nhân dân.

Trải qua gần 40 năm đổi mới, dưới sự lãnh đạo của Đảng, Việt Nam đã đạt được những thành tựu to lớn, toàn diện, khẳng định tính đúng đắn, sáng tạo của con đường đi lên chủ nghĩa xã hội mà Đảng, Bác Hồ và nhân dân ta đã lựa chọn.

Tuy nhiên, trong bối cảnh tình hình thế giới biến động phức tạp, cùng với sự phát triển mạnh mẽ của công nghệ thông tin và mạng xã hội, các thế lực thù địch, phản động vẫn không ngừng chống phá nền tảng tư tưởng của Đảng, xuyên tạc, phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam.

Chúng tung ra nhiều luận điệu sai trái, phản động, nhằm làm suy yếu niềm tin của cán bộ, đảng viên và nhân dân vào con đường xã hội chủ nghĩa.

PGS.TS Nguyễn Trọng Phúc cho rằng: “Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng chính là bảo vệ con đường đi lên chủ nghĩa xã hội, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo. Nhiệm vụ này không chỉ mang ý nghĩa lý luận, mà còn là trách nhiệm chính trị, là yêu cầu thực tiễn sống còn đối với sự nghiệp cách mạng của nhân dân ta".

Theo PGS.TS Nguyễn Trọng Phúc, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trước hết là bảo vệ, phát triển và vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh vào thực tiễn Việt Nam.

Đây là nền tảng lý luận kiên định, soi đường cho toàn bộ sự nghiệp cách mạng Việt Nam. Đồng thời, trong giai đoạn hiện nay, cần phải bảo vệ và phát triển lý luận đổi mới của Việt Nam, lý luận về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam, những thành quả lý luận được đúc kết từ hơn bốn thập kỷ đổi mới.

Hội nghị Trung ương 13 khóa XIII đã khẳng định rõ lý luận về đổi mới, được tổng kết trong suốt 40 năm qua, là cơ sở quan trọng để chuẩn bị trình Đại hội XIV của Đảng. Cùng với đó, lý luận về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam đã được hệ thống hóa, trở thành bộ phận cấu thành quan trọng của nền tảng tư tưởng của Đảng.

PGS.TS Nguyễn Trọng Phúc khẳng định, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng không chỉ là gìn giữ các giá trị học thuật mà còn phải bảo vệ giá trị hiện thực, bản chất cách mạng và khoa học của những tư tưởng đó.

Khi những giá trị này được giữ vững, nó sẽ củng cố niềm tin, định hướng hành động và tạo nền tảng vững chắc để toàn Đảng, toàn dân tiếp tục phấn đấu cho mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh; kiên quyết đấu tranh, phản bác các quan điểm sai trái, thù địch.

"Một nội dung trọng tâm trong bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng là kiên quyết bác bỏ các luận điệu sai trái, phản động", PGS.TS Nguyễn Trọng Phúc nhấn mạnh.

🔺 Nhà nước pháp quyền phục vụ lợi ích nhân dân, đặt dưới sự lãnh đạo toàn diện của Đảng

Ông cho rằng các luận điệu thù địch thường tập trung vào một số điểm chính sau:
Thứ nhất, chúng phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, đòi thực hiện đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập.
Đây là luận điệu phản động, sai trái, đi ngược lại thực tiễn lịch sử. Lịch sử cách mạng Việt Nam đã chứng minh chỉ có Đảng Cộng sản Việt Nam - đội quân tiên phong của giai cấp công - nông, đại biểu trung thành của lợi ích dân tộc mới có đủ bản lĩnh, trí tuệ và uy tín để lãnh đạo đất nước đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác.

Thứ hai, chúng kêu gọi từ bỏ con đường đi lên chủ nghĩa xã hội, hướng Việt Nam theo các mô hình tư sản phương Tây. Thực tế gần 100 năm qua con đường xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam luôn gắn liền với độc lập dân tộc và được Đảng kiên định lựa chọn từ khi ra đời.

Những thành quả đổi mới từ kinh tế, chính trị, văn hóa đến đối ngoại đã chứng minh tính đúng đắn, sáng tạo của con đường đó.

Thứ ba, các thế lực thù địch tìm cách can thiệp, tác động vào chính sách đối ngoại của Việt Nam, ép buộc nước ta phải “ngả” về một phía.

Song đường lối đối ngoại của Đảng ta là độc lập, tự chủ, đa phương hóa, đa dạng hóa, làm bạn với tất cả các nước, là thành viên có trách nhiệm của cộng đồng quốc tế. Thực tế cho thấy, Việt Nam đang được các quốc gia, kể cả những nước từng là đối thủ trong quá khứ, đánh giá cao và tôn trọng.

Thứ tư, chúng đòi “phi chính trị hóa” lực lượng vũ trang, tách quân đội và công an khỏi sự lãnh đạo của Đảng và đây là âm mưu hết sức nguy hiểm.

Quân đội nhân dân Việt Nam và Công an nhân dân Việt Nam là lực lượng do Đảng sáng lập, lãnh đạo và rèn luyện; trung thành tuyệt đối với Tổ quốc, với nhân dân và với Đảng. Việc giữ vững sự lãnh đạo của Đảng đối với lực lượng vũ trang là nguyên tắc bất di bất dịch, bảo đảm cho chế độ xã hội chủ nghĩa được bảo vệ vững chắc.

Thứ năm, có những luận điệu đòi xây dựng nhà nước theo mô hình tư sản, tách rời sự lãnh đạo của Đảng nhưng Việt Nam kiên định xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của dân, do dân, vì dân, phù hợp với tư tưởng Hồ Chí Minh và thực tiễn phát triển của đất nước.

Đây là nhà nước pháp quyền phục vụ lợi ích nhân dân, đặt dưới sự lãnh đạo toàn diện của Đảng, củng cố niềm tin, phát huy sức mạnh của toàn xã hội.

🔺 Cán bộ, đảng viên là chiến sĩ kiên cường trên mặt trận tư tưởng

PGS.TS Nguyễn Trọng Phúc đánh giá, để bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng hiệu quả, cần đồng thời củng cố lý luận, tăng cường tuyên truyền, giáo dục chính trị tư tưởng và đấu tranh phản bác có cơ sở khoa học, thực tiễn, pháp lý.

Trong đó, công tác giáo dục lý luận chính trị cần được đổi mới về nội dung và hình thức, bảo đảm vừa sâu sắc, vừa sinh động, phù hợp với từng đối tượng, nhất là thế hệ trẻ và cùng với đó cần chủ động đấu tranh trên không gian mạng - nơi các luận điệu sai trái lan truyền nhanh chóng.

"Việc phản bác phải được tiến hành có tổ chức, có lập luận khoa học, với tinh thần “lấy cái đúng, thắng cái sai; lấy thực tiễn, bác bỏ xuyên tạc”. Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng không chỉ là nhiệm vụ của cơ quan lý luận, mà là trách nhiệm chung của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân.

Mỗi cán bộ, đảng viên phải là một chiến sĩ kiên cường trên mặt trận tư tưởng, góp phần củng cố niềm tin, tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân tộc", PGS.TS Nguyễn Trọng Phúc nhấn mạnh.
Ông khẳng định bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong thời kỳ mới chính là bảo vệ con đường đi lên chủ nghĩa xã hội, bảo vệ chế độ, bảo vệ Đảng và Nhà nước ta. Đó là nhiệm vụ mang ý nghĩa chiến lược, lâu dài và cấp bách, đòi hỏi sự kiên định về tư tưởng, sáng tạo trong hành động và đoàn kết trong toàn xã hội.

Khi nền tảng tư tưởng được giữ vững, niềm tin của nhân dân được củng cố, sức mạnh dân tộc được nhân lên đó chính là điều kiện quyết định để Việt Nam tiếp tục tiến bước vững chắc trên con đường độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội./.
Yêu nước ST.

95 NĂM DƯỚI NGỌN CỜ ĐẠI ĐOÀN KẾT!

     Lịch sử Mặt trận Dân tộc thống nhất Việt Nam đã trải qua 95 năm hình thành và phát triển với bề dày truyền thống vẻ vang gắn liền với cuộc đấu tranh giành độc lập, tự do kiên cường, bền bỉ của dân tộc ta do Đảng Cộng sản Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh lãnh đạo.

Chặng đường khó khăn, gian khổ nhưng cũng đầy vinh quang, hào hùng đó không chỉ được lưu lại trong những trang sử vàng mà con được tái hiện qua những hình ảnh, hiện vật tại Bảo tàng Mặt trận Tổ quốc Việt Nam kể về câu chuyện hành trình đại đoàn kết dân tộc gần một thế kỷ. Đó chính là hành trình xây dựng và phát huy sức mạnh của lòng dân được kết tinh từ triệu triệu trái tim, khối óc, từ sự chung sức đồng lòng, từ những cống hiến, hy sinh thầm lặng của biết bao thế hệ vì sự nghiệp chung khắc tạc nên tượng đài vĩnh cửu về truyền thống đại đoàn kết toàn dân tộc.

Tại Bảo tàng Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, bản “Chỉ thị thành lập Hội Phản đế đồng minh” ngày 18/11/1930 mang ý nghĩa như “giấy khai sinh” đánh dấu sự ra đời của Mặt trận Dân tộc thống nhất Việt Nam. Do tính chất và yêu cầu của cách mạng, ở mỗi thời kỳ, Mặt trận Dân tộc thống nhất Việt Nam có các hình thức tổ chức và tên gọi khác nhau: Phản đế Liên minh (1935), Mặt trận Thống nhất Nhân dân Phản đế Đông Dương (1936) và Mặt trận Dân chủ Đông Dương (1938), Mặt trận Dân tộc thống nhất phản đế Đông Dương (1939) đảm đương được những nhiệm vụ cao cả, trọng đại mà lịch sử giao phó. Những hiện vật của thời kỳ này tại bảo tàng, chủ yếu là văn kiện, nghị quyết, báo chí… in ấn thô sơ nhưng đã phản ánh giai đoạn “thử lửa” đầy gian nan, đặt những viên gạch nền móng đầu tiên xây nên pháo đài đại đoàn kết.

Mốc son chói lọi trong lịch sử Mặt trận Dân tộc thống nhất Việt Nam là việc thành lập Mặt trận Việt Minh ngày 19/5/1941 với chủ trương liên hiệp hết thảy các tầng lớp nhân dân, các đoàn thể cách mạng, các dân tộc bị áp bức đoàn kết lại, chiến đấu đánh đổ chủ nghĩa đế quốc, phát xít Nhật, giành quyền độc lập cho nước Việt Nam với khẩu hiệu: “Dân tộc trên hết”, “Tổ quốc trên hết” và mục tiêu “Nước Việt Nam hoàn toàn độc lập, làm cho dân Việt Nam sung sướng, tự do...”. Về hệ thống tổ chức Mặt trận được xây dựng chặt chẽ từ Trung ương tới địa phương và cơ sở. Chương trình, khẩu hiệu và mục tiêu Việt Minh đưa ra rất thiết thực và sát hợp với nguyện vọng của nhân dân, có sức lôi cuốn mạnh mẽ “sĩ, nông, công, thương, binh, phú hào yêu nước, phụ lão thương nòi”, được nhân dân đồng lòng hưởng ứng. Phong trào và tổ chức Việt Minh phát triển nhanh chóng và sâu rộng cả ở thành thị lẫn nông thôn, trở thành lực lượng chính trị to lớn và hùng mạnh, làm cơ sở cho sự ra đời và phát triển lực lượng vũ trang, xây dựng và phát triển căn cứ địa cách mạng và quản lý các căn cứ địa cách mạng, các vùng được giải phóng.

Những hiện vật về Mặt trận Việt Minh bao gồm: báo chí, truyền đơn, tín phiếu…tuyên truyền đường lối, chính sách của Đảng và Mặt trận, trở thành lời hịch vang dội kêu gọi, hiệu triệu quần chúng nhân dân đứng lên đấu tranh. Không chỉ “thức tỉnh” lòng yêu nước trong quần chúng, mà còn có sức “cảm hóa tầng lớp tay sai, bù nhìn theo Pháp, Nhật quay súng, ủng hộ Việt Minh”. Chính sức mạnh đoàn kết thần kỳ ấy đã làm nên thắng lợi vĩ đại của Cách mạng tháng Tám năm 1945, ghi lại dấu ấn lịch sử của Mặt trận Việt Minh trong thắng lợi chung của toàn dân tộc và để lại những bài học kinh nghiệm quý báu cho công tác xây dựng Mặt trận, tập hợp lực lượng của khối đại đoàn kết trong các giai đoạn cách mạng sau này.

Chính quyền cách mạng non trẻ vừa mới ra đời, vận mệnh dân tộc ta lại đứng trước tình thế “ngàn cân treo sợi tóc”. Để mở rộng hơn nữa khối đại đoàn kết, làm chỗ dựa vững chắc cho chính quyền cách mạng non trẻ, Hội Liên hiệp quốc dân Việt Nam ra đời ngày 29/5/1946. Từ đây, Việt Minh và Liên Việt đã cùng nhau trở thành chỗ dựa vững chắc cho sự nghiệp củng cố, bảo vệ chính quyền non trẻ, chống thù trong giặc ngoài.

Một trong những bức ảnh tư liệu được trưng bày tại Bảo tàng kể câu chuyện về nhà tư sản dân tộc Ngô Tử Hạ kéo xe tay vận động quyên góp cứu đói năm 1945 gây xúc động sâu sắc. Trước vận mệnh dân tộc nguy nan, để góp phần cùng Chính phủ diệt giặc đói, dù đã 63 tuổi, cụ Ngô Tử Hạ vẫn kéo xe tay qua các phố quanh bờ hồ Hoàn Kiếm để vận động quyên góp lương thực cứu đói. Khi xe đến Nhà Hát Lớn thì gặp Bác Hồ. Bác Hồ xúc động ôm cụ, chỉ vào chiếc xe chở nhiều loại lương thực và nói: “Đây mới là gạo đại đoàn kết. Nước ta có nhiều thứ gạo ngon, nhưng bây giờ đây là gạo ngon nhất”.

Những hình ảnh, hiện vật từ cuộc kháng chiến chống Pháp như: Quyết tử quân Hà Nội ôm bom ba càng đánh xe tăng Pháp trong những ngày đầu toàn quốc kháng chiến, những đoàn dân công vận chuyển lương thực trên những chiếc xe thồ vượt đèo, lội suối gian nan không quản mưa nắng, ngày đêm, chi viện cho chiến trường, Thư của Tổng bộ Việt Minh gửi cụ Cao Triều Phát, Hình ảnh Chủ tịch Hồ Chí Minh tham dự Đại hội thống nhất Mặt trận Việt Minh-Liên Việt, Hội nghị thành lập liên minh ba nước Việt - Miên - Lào năm 1951… đã góp phần minh chứng cho sức mạnh vô song của cuộc chiến tranh nhân dân, của tinh thần đoàn kết toàn dân và đoàn kết quốc tế. Chính sức mạnh đại đoàn kết được hun đúc suốt 9 năm trường kỳ kháng chiến đã làm nên chiến thắng Điện Biên Phủ “vang dội năm châu, chấn động địa cầu”, kết thúc thắng lợi cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp.

Hiệp định Genève chia cắt tạm thời đất nước. Cả nước bước vào giai đoạn lịch sử đặc biệt: miền Bắc xây dựng chủ nghĩa xã hội, miền Nam tiếp tục cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc để hoàn thành mục tiêu độc lập và thống nhất nước nhà. Nhiệm vụ chung của cả nước cũng như của mỗi miền đã thay đổi. Vì vậy cần phải có hình thức tổ chức Mặt trận mới, thích hợp.

Tại miền Bắc, ngày 10/9/1955, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam được thành lập đã tích cực động viên nhân dân hăng hái lao động, sản xuất, phát triển kinh tế văn hóa, xây dựng miền Bắc đi lên chủ nghĩa xã hội, làm tròn nghĩa vụ của hậu phương lớn đối với tiền tuyến lớn miền Nam. Các phong trào thi đua sôi nổi được tái hiện qua nhiều hình ảnh, hiện vật phản ánh không khí lao động, sản xuất của quân và dân miền Bắc bất chấp bom đạn của kẻ thù, với tinh thần “mỗi người làm việc bằng hai vì miền Nam ruột thịt”

Tại miền Nam, trước sức mạnh của phong trào Đồng Khởi, ngày 20/12/1960 Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam đã ra đời trở thành ngọn cờ công khai đoàn kết, tập hợp, tổ chức, lãnh đạo các hoạt động đấu tranh lật đổ ách thống trị của đế quốc Mỹ và tay sai phản động, thực hiện độc lập, dân chủ, hòa bình, thống nhất đất nước. Cùng với đó là sự ra đời của Liên minh các lực lượng Dân tộc, Dân chủ và Hòa bình Việt Nam ngày 21/4/1968. Bộ sưu tập về với hàng trăm hiện vật thuộc các chất liệu khác nhau về hai hình thức tổ chức Mặt trận này đã phản ánh sự lãnh đạo đúng đắn, sáng tạo, linh hoạt của Đảng ta trong việc thành lập các tổ chức Mặt trận phù hợp với hoàn cảnh, điều kiện thực tiễn của cách mạng miền Nam với mục đích tập hợp, huy động tối đa mọi nguồn lực cho cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước. Vị trí, vai trò của Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam trong đời sống chính trị - xã hội thời chiến, sức mạnh vô địch từ sự đoàn kết, chung lưng đấu cật của toàn quân, toàn dân, sự ủng hộ to lớn của bạn bè quốc tế đối với cuộc kháng chiến chính nghĩa của nhân dân ta cũng được phản ánh đậm nét qua nhiều hiện vật, hình ảnh đặc sắc. Đặc biệt nhóm hiện vật về tư trang, kỷ vật của các cán bộ, chiến sĩ, đồng bào trong cuộc kháng chiến chống Mỹ gian khổ, ác liệt nhưng đầy can trường, hào hùng chứa đựng nhiều câu chuyện cảm động. Không ít người trong số họ đã hiến dâng tuổi thanh xuân, hy sinh hạnh phúc riêng tư và anh dũng ngã xuống để đất nước được hòa bình, thống nhất như liệt sĩ, Anh hùng Lực lượng Vũ trang Nhân dân Huỳnh Lan Khanh, liệt sĩ Trần Quang Long, liệt sĩ Lê Quang Lộc, liệt sĩ Nguyễn Ngọc Phương, liệt sĩ Lê Quang Dĩnh, Liệt sĩ Nguyễn Văn Quới…

Sau khi đất nước được thống nhất, cùng với sự thống nhất về lãnh thổ là sự thống nhất về tổ chức để đảm đương nhiệm vụ mới. Từ ngày 31-1 đến ngày 4/2/1977 tại Thành phố Hồ Chí Minh đã tổ chức Đại hội thống nhất các tổ chức Mặt trận ở hai miền Nam - Bắc thành Mặt trận Tổ quốc Việt Nam.

Phát huy vai trò trung tâm của khối đại đoàn kết, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam đã không ngừng khơi dậy niềm tự hào dân tộc, khát vọng vươn lên để mỗi người dân đều trở thành một “chiến sĩ” trên mặt trận xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Sứ mệnh của Mặt trận trong thời bình là tuyên truyền, vận động, tập hợp nhân dân, tăng cường sự đồng thuận xã hội, đại diện, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của nhân dân, thực hiện giám sát và phản biện xã hội, là trung tâm của các cuộc vận động, các phong trào thi đua yêu nước... Mỗi khi đất nước gặp thiên tai, dịch bệnh, lời kêu gọi của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam trở thành lời “hiệu triệu” khơi dậy, quy tụ sức mạnh đại đoàn kết, tinh thần 'tương thân tương ái' của dân tộc ta.

Một trong những minh chứng rõ nét chính là những hình ảnh, hiện vật của cuộc chiến chống đại dịch Covid-19. Đó là lá đơn xin xung phong lên tuyến đầu chống dịch Covid-19 của bác sĩ Nguyễn Văn Trang, 78 tuổi, (Nghệ An), chiếc xe máy dùng để vận chuyển lương thực cứu trợ đồng bào bị cách ly của anh Trần Khắc Hạnh (Thành phố Hồ Chí Minh), máy “ATM gạo”, “ATM khẩu trang” nghĩa tình do doanh nhân Hoàng Tuấn Anh cùng các cộng sự sáng chế, hai con robot “Dũng sỹ diệt Covid-19” tự tạo của Thiếu tá Nguyễn Trung Kiên (Bộ Chỉ huy quận sự Thành phố Thủ Đức), mảnh vỡ từ con lợn đất của em Phan Anh Khôi trường Tiểu học Trung Tự (Hà Nội) đã dành toàn bộ tiền tiết kiệm để ủng hộ Quỹ phòng, chống Covid-19, đôi dép mòn vẹt của lái xe Trương Minh Tấn, người đã tình nguyện chở hàng trăm bệnh nhân bất kể ngày đêm, bức ảnh cậu bé Hồ Ánh Khiết 8 tuổi, người dân tộc Cadong (Quảng Nam), đầu trần, chân đất vác búp măng rừng đến điểm tập kết ủng hộ đồng bào Đà Nẵng bị cách ly…. Đặc biệt những tư trang, kỷ vật, hình ảnh của những cán bộ, chiến sĩ, đồng bào đã hy sinh, qua đời vì Covid-19 được sưu tầm và lưu giữ tại bảo tàng gây xúc động sâu sắc về truyền thống đoàn kết, “tình dân tộc, nghĩa đồng bào”, đức hy sinh vì cộng đồng. Tất cả đã minh chứng cho chân lý giản dị nhưng vĩ đại của dân tộc ta: mỗi khi gặp gian nan, thử thách, nhân dân ta hơn bao giờ hết lại đoàn kết, thương yêu, tương trợ, đùm bọc lẫn nhau.

95 năm, một chặng đường lịch sử vinh quang. Từ “Hội Phản đế Đồng minh” năm 1930 đến Mặt trận Tổ quốc Việt Nam ngày nay là một hành trình bền bỉ, miệt mài, không ngừng nghỉ của tinh thần đại đoàn kết. Hành trình ấy được kể lại một cách chân thực và xúc động tại Bảo tàng Mặt trận Tổ quốc Việt Nam. Di sản lớn nhất để lại qua gần một thế kỷ là bài học vô giá về “lòng dân”- sự đồng thuận, tin tưởng và chung sức vì mục tiêu chung của quốc gia. Chân lý mà Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đúc kết: “Đoàn kết, đoàn kết, đại đoàn kết. Thành công, thành công, đại thành công” đã được chứng thực qua 95 năm lịch sử vẫn vẹn nguyên giá trị như một lời hiệu triệu và mãi mãi là ngọn đuốc soi đường trên hành trình xây dựng, bảo vệ Tổ quốc Việt Nam hùng cường, văn minh, thịnh vượng./.


Yêu nước ST.