Thứ Tư, 17 tháng 12, 2025

TÌM HIỂU GIÚP BẠN: CÂY TRE VIỆT NAM!

     Trong ngày Hội nghị bàn về công tác ngoại giao, ông Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng có đưa ra hình tượng cây tre cho chính sách ngoại giao nước nhà. Từ xưa, cây tre Việt Nam là nguồn cảm hứng của nhiều tác phẩm thi ca.

Nhà thơ Viễn Phương khi ra Hà Nội, đứng trước lăng cụ Hồ, đã phải thốt lên:

“Con ở miền Nam ra thăm lăng Bác
“Đã thấy trong sương hàng tre bát ngát
“Ôi! Hàng tre xanh xanh Việt Nam
“Bão táp mưa sa, đứng thẳng hàng…”

Bài hát đã được nhạc sĩ Hoàng Hiệp phổ nhạc, mỗi lần lời ca cất lên làm rung động bao con tim.

Vâng, có dân tộc nào như dân tộc Việt Nam, trải qua hàng ngàn năm “bão táp mưa sa” nhưng “vẫn đứng thẳng hàng”. Phải, chỉ có những người có tấm lòng yêu nước mới nhận ra điều đó.

Làng Nguyễn của tỉnh Thái Bình, được nhà nước phong tặng danh hiệu “anh hùng” trong thhời kỳ chống Pháp vì suốt 9 năm kháng chiến, chưa một lần giặc có thể vào làng. Chỉ nhờ có lũy tre ken dầy quanh làng, cùng với hào sâu ngay bên ngoài lũy tre, dưới hào là những chiếc chông tre. 

Thật không khác gì cây tre trong bài thơ của nhà thơ Nguyễn Duy, trong đó có những câu:

“Thân gầy guộc, lá mong manh
“Mà sao nên luỹ nên thành tre ơi?...”

Viết đến đây lại nghĩ đến bài hát “Cô gái vót chông” mà người đẹp Việt Nam cất lên trên đất Mỹ, qua tiếng đàn T’rưng, một nhạc cụ cũng lại được làm bằng tre. Sau buổi trình diễn này có nhiều người lo sợ “sẽ làm mất lòng Mỹ”! Ơ hay sao hèn thế? Cả dân tộc ta đánh nhau với Mỹ suốt 20 năm, cuối cùng Mỹ phải cuốn cờ leo lên máy bay trực thăng để chạy khỏi nước Nam mà ta còn chẳng sợ mất lòng ai, huống chi chỉ là một bản nhạc không lời?

Nhà văn Thép Mới, khi nói về cây tre Việt Nam đã có một câu kết: “Cây tre Việt Nam! Cây tre xanh, nhũn nhặn, ngay thẳng, thủy chung, can đảm. Cây tre mang những đức tính của người hiền là tượng trưng cao quý của dân tộc Việt Nam”. Thế đấy! Thế mà có những kẻ không nhận ra sức mạnh của tre, lại bắt chước kẻ thù, quay lại chê bai dân tộc mình. Chúng là những kẻ đớn hèn, là những cây tre tuy đứng trong cùng một khóm nhưng bên trong thân đã để cho sâu đục khoét. Những cây tre loại này không thể dùng làm rường cột cho ngôi nhà, chúng chỉ xứng đáng để làm chuồng trâu, chuồng lợn.

Trong thời gian chống Mỹ, nhà nước đã cử hàng chục ngàn học sinh qua nhờ Liên Xô đào tạo thành các nhà khoa học để sau này về xây dựng đất nước. Có những kẻ thấy sao người Việt giống cây tre quá, họ không hiểu được bản chất của cây tre, chỉ thấy rằng chúng có thể tồn tại và phát triển trên những môi trường cằn cỗi. Thế là có một bài viết, chê bai cả một dân tộc và có ý phân biệt dân tộc này với dân tộc khác, đòi nhổ bỏ bụi tre nào đó.

Nhìn bề ngoài mà đánh giá thì có phần đúng, vì tre có thể trồng trên bất cứ chỗ nào miễn chỗ đó là đất của nước; tre không cần phân bón và những chiếc rễ tre bò lan đến đâu, đều có thể sinh con ở đó. Những cây măng tre, dù mới trồi lên khỏi mặt đất, chúng được bao bọc chỉ là một lớp áo mong manh, song cái đầu đã nhọn như một mũi mác chĩa thẳng lên trời đầy khí phách.

Bàn về cây tre Việt Nam thì còn dài lắm. Chúng ta là người Việt hãy tự hào về cây tre cũng như tự hào về những đức tính của dân tộc mình mà phần nào được thể hiện trong tố chất của những cây tre./.

Yêu nước ST.

TÌM HIỂU GIÚP BẠN: CHÍNH PHỦ “CHỐT” TRÊN 50% HỘ DÂN ĐỒNG Ý MỚI TIẾP TỤC LẬP ĐỀ ÁN SÁP NHẬP TỈNH, XÃ!

     Chính phủ quy định phải có trên 50% tổng số hộ gia đình trên địa bàn tán thành thì cơ quan xây dựng đề án chia tách, sáp nhập tỉnh, xã mới tiếp tục hoàn thiện đề án!

Chính phủ vừa ban hành Nghị định số 321/2025 hướng dẫn việc lấy ý kiến Nhân dân về thành lập, giải thể, nhập, chia, điều chỉnh địa giới và đổi tên đơn vị hành chính.

Nghị định nêu rõ, việc thành lập, giải thể, nhập, chia, điều chỉnh địa giới và đổi tên đơn vị hành chính phải được lấy ý kiến Nhân dân ở những đơn vị hành chính cấp xã chịu ảnh hưởng trực tiếp.

Trường hợp thành lập, giải thể, nhập, chia, điều chỉnh địa giới và đổi tên đơn vị hành chính cấp tỉnh thì UBND cấp tỉnh tổ chức lấy ý kiến Nhân dân ở tất cả các đơn vị hành chính cấp xã thuộc đơn vị hành chính cấp tỉnh đó.

Trường hợp thành lập, giải thể, nhập, chia, điều chỉnh địa giới và đổi tên đơn vị hành chính cấp xã thì UBND cấp tỉnh tổ chức lấy ý kiến Nhân dân ở đơn vị hành chính cấp xã đó.

Về kết quả lấy ý kiến, Nghị định yêu cầu báo cáo phải nêu rõ quá trình tổ chức lấy ý kiến Nhân dân đối với việc thành lập, giải thể, nhập, chia, điều chỉnh địa giới và đổi tên đơn vị hành chính; đồng thời làm rõ tổng số hộ gia đình trên địa bàn, số hộ tham gia lấy ý kiến, số hộ đồng ý, không đồng ý theo từng đơn vị hành chính cấp xã và các ý kiến khác (nếu có).

"Kết quả lấy ý kiến Nhân dân về việc thành lập, giải thể, nhập, chia, điều chỉnh địa giới và đổi tên đơn vị hành chính cấp tỉnh đạt từ 50% trở lên tổng số hộ gia đình trên địa bàn (tính theo từng đơn vị hành chính cấp tỉnh) tán thành thì cơ quan xây dựng đề án tiếp tục hoàn thiện đề án và gửi HĐND cấp tỉnh để xem xét, cho ý kiến

Kết quả lấy ý kiến Nhân dân về việc thành lập, giải thể, nhập, chia, điều chỉnh địa giới và đổi tên đơn vị hành chính cấp xã đạt từ 50% trở lên tổng số hộ gia đình trên địa bàn (tính theo từng đơn vị hành chính cấp xã) tán thành thì cơ quan xây dựng đề án tiếp tục hoàn thiện đề án và gửi HĐND cấp tỉnh, cấp xã để xem xét, cho ý kiến", Nghị định nêu rõ.

Trường hợp đơn vị hành chính cấp xã không tổ chức HĐND thì UBND cấp tỉnh chỉ đạo hoàn thiện Đề án gửi HĐND cấp tỉnh xem xét, cho ý kiến.

Chính phủ cũng yêu cầu kết quả lấy ý kiến Nhân dân phải được công khai trên các trang, cổng thông tin của địa phương và trên Cổng thông tin điện tử của Chính phủ.

Khi phát hiện có sai sót về kết quả lấy ý kiến Nhân dân, công dân và tổ chức có quyền kiến nghị với UBND nơi lập báo cáo kết quả lấy ý kiến Nhân dân. Trong thời hạn 5 ngày làm việc kể từ ngày nhận được kiến nghị, UBND nơi đó phải giải quyết và thông báo cho người kiến nghị biết kết quả giải quyết.

Trường hợp phát hiện sai sót về kết quả lấy ý kiến Nhân dân do quá trình tổng hợp và lập báo cáo kết quả lấy ý kiến Nhân dân, trong thời hạn 5 ngày làm việc, UBND các cấp chỉnh sửa, hoàn thiện, đính chính báo cáo kết quả lấy ý kiến Nhân dân gửi các cơ quan có thẩm quyền theo quy định của Nghị định này.

Trường hợp phát hiện sai sót về kết quả lấy ý kiến Nhân dân đã đăng tải trên Cổng thông tin điện tử Chính phủ và các trang, cổng thông tin điện tử của địa phương, UBND cấp tỉnh, cấp xã có văn bản gửi Cổng thông tin điện tử Chính phủ và các trang, cổng thông tin điện tử của địa phương đề nghị đính chính. Trong thời hạn 3 ngày làm việc kể từ ngày nhận được văn bản của UBND cấp tỉnh, Cổng thông tin điện tử Chính phủ và các trang, cổng thông tin điện tử của địa phương có trách nhiệm đính chính kết quả lấy ý kiến Nhân dân.

Trình tự, thủ tục lấy ý kiến

Nghị định của Chính phủ cũng quy định rõ trình tự, thủ tục lấy ý kiến Nhân dân về thành lập, giải thể, nhập, chia, điều chỉnh địa giới và đổi tên đơn vị hành chính.

Theo đó, sau khi xây dựng Đề án thành lập, giải thể, nhập, chia, điều chỉnh địa giới và đổi tên đơn vị hành chính, UBND cấp tỉnh có văn bản kèm theo mẫu Phiếu lấy ý kiến, tài liệu lấy ý kiến gửi UBND cấp xã; chỉ đạo, hướng dẫn UBND cấp xã xây dựng kế hoạch và tổ chức lấy ý kiến Nhân dân theo từng thôn, tổ dân phố.

Trong thời hạn 60 ngày kể từ ngày nhận được văn bản của UBND cấp tỉnh, UBND cấp xã hoàn thành việc lấy ý kiến Nhân dân.

Trong thời hạn 5 ngày làm việc kể từ ngày hoàn thành việc lấy ý kiến Nhân dân, UBND cấp xã tổng hợp và lập báo cáo kết quả lấy ý kiến Nhân dân trên địa bàn gửi HĐND cùng cấp, UBND cấp tỉnh và gửi trang, cổng thông tin điện tử của UBND cấp xã.

Đối với đơn vị hành chính cấp xã không tổ chức HĐND thì UBND cấp xã tổng hợp và lập báo cáo kết quả lấy ý kiến Nhân dân trên địa bàn gửi Nghị định này có hiệu lực thi hành kể từ ngày 16/12/2025. cấp tỉnh và gửi trang, cổng thông tin điện tử của UBND cấp xã.

Trong thời hạn 5 ngày làm việc kể từ ngày nhận được báo cáo kết quả lấy ý kiến Nhân dân của UBND cấp xã, UBND cấp tỉnh chỉ đạo lập báo cáo tổng hợp kết quả lấy ý kiến Nhân dân của các đơn vị hành chính cấp xã có liên quan trực tiếp gửi HĐND cùng cấp, Cổng thông tin điện tử Chính phủ và trang, cổng thông tin điện tử của UBND cấp tỉnh.

Trong thời hạn 5 ngày làm việc kể từ ngày nhận được báo cáo kết quả lấy ý kiến Nhân dân của UBND cấp tỉnh, cấp xã, Cổng thông tin điện tử Chính phủ và các trang, cổng thông tin điện tử của UBND cấp tỉnh, cấp xã có trách nhiệm đăng tải kết quả lấy ý kiến Nhân dân.

Nghị định này có hiệu lực thi hành kể từ ngày 16/12./.
Ảnh minh họa: Kết quả lấy ý kiến phải đạt từ 50% trở lên hộ dân tán thành mới tiếp tục hoàn thiện đề án sáp nhập, đổi tên tỉnh, xã.
Môi trường ST.

Thứ Ba, 16 tháng 12, 2025

TÌM HIỂU GIÚP BẠN: BỘ QUỐC PHÒNG KIỂM TRA PHƯƠNG ÁN CẢI TIẾN VŨ KHÍ CỦA QUÂN CHỦNG PHÒNG KHÔNG - KHÔNG QUÂN!

     Sáng 16.12, tại Hà Nội, thượng tướng Lê Huy Vịnh, Thứ trưởng Bộ Quốc phòng, chủ trì hội nghị kiểm tra, thông qua phương án cải tiến vũ khí, trang bị kỹ thuật của Quân chủng Phòng không - Không quân.

Theo Bộ Quốc phòng, tại hội nghị, đại diện các cơ quan, đơn vị trực thuộc Quân chủng Phòng không - Không quân đã báo cáo đánh giá thực trạng một số loại vũ khí, trang bị kỹ thuật hiện có trong biên chế; làm rõ những ưu điểm, hạn chế trong quá trình khai thác, sử dụng, bảo đảm kỹ thuật; đồng thời phân tích nhu cầu cải tiến, hiện đại hóa một số vũ khí, trang bị nhằm nâng cao khả năng sẵn sàng chiến đấu, đáp ứng nhiệm vụ bảo vệ vững chắc vùng trời Tổ quốc trong tình hình mới.

Đại diện Tập đoàn Công nghiệp - Viễn thông Quân đội (Viettel) báo cáo tổng thể và các phương án cụ thể về cải tiến, hiện đại hóa vũ khí, trang bị kỹ thuật cho Quân chủng Phòng không - Không quân. 

Trong đó, tập trung vào việc ứng dụng các kết quả nghiên cứu khoa học, công nghệ mới, nâng cao mức độ tự động hóa, tăng độ chính xác, khả năng tích hợp, đồng bộ hệ thống và khả năng bảo đảm kỹ thuật, phù hợp với điều kiện thực tiễn.


Phát biểu kết luận hội nghị, thượng tướng Lê Huy Vịnh nhấn mạnh, công tác cải tiến, hiện đại hóa vũ khí, trang bị kỹ thuật có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, góp phần trực tiếp nâng cao chất lượng tổng hợp, sức mạnh chiến đấu và khả năng sẵn sàng chiến đấu của quân đội nói chung và Quân chủng Phòng không - Không quân nói riêng trong tình hình mới.

Ông yêu cầu Quân chủng Phòng không - Không quân tiếp thu đầy đủ các ý kiến đóng góp; tiếp tục rà soát, xác định rõ danh mục vũ khí, trang bị cần ưu tiên cải tiến, hiện đại hóa theo hướng đồng bộ, hiệu quả, thiết thực, góp phần nâng cao khả năng sẵn sàng chiến đấu và hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao.

Cạnh đó, Thứ trưởng Bộ Quốc phòng cũng yêu cầu Viettel tiếp tục phối hợp chặt chẽ với Quân chủng Phòng không - Không quân và các cơ quan, đơn vị liên quan nghiên cứu, triển khai các phương án cải tiến, hiện đại hóa vũ khí, trang bị kỹ thuật phù hợp với nhu cầu thực tiễn; đồng thời từng bước chuyển giao công nghệ, giúp Quân chủng Phòng không - Không quân làm chủ trong khai thác, sử dụng và bảo đảm kỹ thuật./.
Ảnh: Thượng tướng Lê Huy Vịnh, Thứ trưởng Bộ Quốc phòng, chủ trì hội nghị.
Yêu nước ST.

“DÂN SỰ HÓA” QUÂN ĐỘI - MŨI TÊN ĐỘC TRONG CHIẾN LƯỢC “DIỄN biến HÒA BÌNH”!

BÀI 3: NHỮNG BIẾN TƯỚNG TINH VI CỦA ÂM MƯU “DÂN SỰ HÓA” QUÂN ĐỘI.

     Trong chiến lược “diễn biến hòa bình”, nếu như trước đây, các thế lực thù địch, phản động thường tấn công trực diện, thô thiển vào vai trò lãnh đạo của Đảng đối với Quân đội nhân dân (QĐND) Việt Nam, thì nay chúng đã chuyển sang một phương thức mới tinh vi hơn, mềm mỏng hơn nhưng thâm độc gấp bội. Đó là cổ xúy cho trào lưu “dân sự hóa” quân đội. Được tiếp sức bởi “cơn bão” công nghệ số, âm mưu này càng tạo ra những “cái bẫy” nhận thức nguy hiểm.

“Ma trận” công nghệ trong kỷ nguyên số

Lịch sử cách mạng Việt Nam cho thấy, QĐND Việt Nam luôn là lực lượng nòng cốt, không thể thay thế, không thể phủ nhận, là công cụ sắc bén, hữu hiệu bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ, lợi ích quốc gia, dân tộc, bảo vệ Đảng, Nhà nước, nhân dân và chế độ xã hội chủ nghĩa. Nhiều năm qua, Đảng, Nhà nước, Quân ủy Trung ương luôn nhất quán quyết tâm xây dựng Quân đội cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại. Xây dựng Quân đội “tinh, gọn, mạnh” là yêu cầu tất yếu khách quan. Đặc biệt, Nghị quyết Đại hội Đảng bộ Quân đội lần thứ XII xác định mục tiêu xây dựng Quân đội “cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại” sớm hơn một nhiệm kỳ so với Đại hội đại biểu Đảng bộ Quân đội lần thứ XI xác định. Vậy nhưng, bất chấp thực tiễn lịch sử và những thành tựu to lớn đó, các thế lực thù địch lại cố tình “đi ngược chiều”, ra sức đẩy mạnh truyền bá cái gọi là “dân sự hóa” Quân đội. Thực chất, đây là một biến tướng nham hiểm, xảo quyệt của âm mưu “phi chính trị hóa”, nằm trong chiến lược “diễn biến hòa bình” nhằm chống phá cách mạng Việt Nam. Sự nguy hiểm của âm mưu này nằm ở chỗ nó được cộng hưởng bởi sức mạnh của công nghệ trong kỷ nguyên số.

Mặt trận tấn công đầu tiên chính là công tác tư tưởng trên không gian mạng. Các thế lực thù địch sử dụng công nghệ dữ liệu lớn (Big Data) để thu thập dữ liệu hành vi của người dùng mạng xã hội, đặc biệt nhắm vào nhóm sĩ quan trẻ, học viên quân sự, thanh thiếu niên và trí thức. Thông qua các thuật toán của Facebook, YouTube, TikTok..., chúng tạo ra các “buồng vang thông tin” (Echo Chamber). Khi một người dùng tiếp cận các nội dung về quân sự, trí tuệ nhân tạo (AI) sẽ tự động điều hướng và hiển thị dày đặc các bài viết, video ca ngợi mô hình quân đội phương Tây. Chúng lặp đi lặp lại thông điệp: Quân đội phương Tây hùng mạnh vì họ “đứng ngoài chính trị”, “trung lập” và có bộ trưởng quốc phòng là dân sự. Sự lặp lại có chủ đích này tạo ra một ảo giác nhận thức, khiến người xem lầm tưởng rằng “dân sự hóa” là xu thế văn minh của nhân loại, từ đó nảy sinh tâm lý so sánh, hoài nghi về cơ chế Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt đối với QĐND Việt Nam.

Nguy hiểm hơn, các thế lực thù địch, phản động còn tận dụng công nghệ deepfake để tấn công vào niềm tin của bộ đội và nhân dân. Chúng cắt ghép, dàn dựng các video giả mạo về đời sống bộ đội với những hình ảnh tiêu cực, bịa đặt các vụ việc “bê bối”, “tham nhũng” hoặc “bạo lực” trong doanh trại. Mục đích của thủ đoạn này nhằm “giải thiêng”, bôi nhọ hình ảnh Bộ đội Cụ Hồ, hạ thấp uy tín của Quân đội. Từ sự mất niềm tin đó, chúng dẫn dắt dư luận đến yêu sách: Cần phải “dân sự hóa” công tác quản lý, phải để các tổ chức dân sự giám sát Quân đội thì mới minh bạch, công khai...

Lật tẩy những “vỏ bọc” ngôn từ

Một trong những luận điểm cốt lõi mà các thế lực thù địch ra sức tuyên truyền là: Quân đội chuyên nghiệp phải “trung lập về chính trị”, chỉ tuân thủ Hiến pháp và pháp luật chứ không phục vụ đảng phái nào. Đây là một sự lừa mị trắng trợn về mặt lý luận và thực tiễn. Thêm nữa, chúng cố tình đồng nhất hai khái niệm hoàn toàn khác nhau: “Hiện đại hóa về vũ khí, trang bị” và “Thay đổi về bản chất chính trị”. Chúng lập luận rằng, trong chiến tranh công nghệ cao, yếu tố quyết định là vũ khí tối tân và trình độ kỹ thuật, do đó, cần giảm bớt hoặc xóa bỏ hệ thống cơ quan chính trị, cán bộ chính trị để bộ máy “tinh gọn”, “chuyên nghiệp”. Qua đó, nhằm tước bỏ “linh hồn” của Quân đội ta. Chúng muốn biến QĐND Việt Nam thành một đội quân “robot”, chỉ biết kỹ thuật mà vô cảm về chính trị, tách rời mục tiêu độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội.

Thực chất, cái gọi là “quân đội trung lập”, “quân đội phi chính trị” ở phương Tây lại không bao giờ đứng ngoài chính trị. Ở các nước tư bản phát triển, quân đội tuyệt đối phục tùng quyền lực của giai cấp tư sản cầm quyền. Quân đội của các nước này không chỉ được dùng vào việc bảo vệ độc lập, chủ quyền quốc gia, dân tộc mà còn tham chiến tại các quốc gia khác nhằm mục tiêu chính trị là dựng lên ở nơi đó các chính quyền thân phương Tây, có lợi cho phương Tây. Đơn cử, trong nhiều thập niên trở lại đây, giới tướng lĩnh quân đội các nước phương Tây công khai can dự vào đời sống chính trị của nhiều nước có độc lập chủ quyền như Nam Tư, Afghanistan, Iraq, Libya...

Chiêu trò xuyên tạc các doanh nghiệp Quân đội

Âm mưu “dân sự hóa” của chúng không chỉ dừng lại ở lý luận chung chung mà còn tấn công trực diện vào chức năng cơ bản của QĐND Việt Nam. Với mục đích phủ nhận chức năng “đội quân lao động sản xuất” hòng phá vỡ thế trận quốc phòng, chúng đưa ra lý lẽ: “Quân đội chuyên nghiệp thì chỉ biết cầm súng, không được làm kinh tế”. Chúng lợi dụng một số sai phạm cá biệt của cá nhân trong hoạt động kinh tế (đã bị xử lý nghiêm) để quy chụp thành bản chất, đòi xóa bỏ các doanh nghiệp Quân đội. Chúng cố ý lờ đi sự thật rằng các đơn vị kinh tế-quốc phòng của ta đang đóng quân ở những nơi "đầu sóng ngọn gió”, vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo. Sự hiện diện của Quân đội ở đó không chỉ để làm kinh tế, mà là để bảo vệ dân, giữ đất, bảo vệ biển, đảo, củng cố “thế trận lòng dân”, làm thất bại âm mưu bạo loạn lật đổ. Đòi “dân sự hóa” hoạt động này thực chất là muốn ta bỏ trống các địa bàn chiến lược. Đối với chức năng “đội quân công tác”, chúng xuyên tạc rằng đây là việc của chính quyền, Quân đội làm việc này là “sai chức năng”, “lãng phí nguồn lực huấn luyện”. Thậm chí, khi bộ đội dầm mình trong mưa lũ cứu dân, chúng còn dùng từ ngữ xúc phạm là “diễn”, “làm màu”. Mục đích của chúng là muốn tách rời mối quan hệ máu thịt “cá-nước” giữa Quân đội và nhân dân, biến Quân đội thành một lực lượng biệt lập, quan liêu, xa rời thực tiễn xã hội.

Thẩm thấu tư tưởng “quân đội trung lập”

Tiếp đến, QĐND Việt Nam chủ động mở rộng hội nhập quốc tế và đối ngoại quốc phòng là một chủ trương đúng đắn của Đảng và Nhà nước, là trụ cột then chốt trong chiến lược bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa, bằng biện pháp hòa bình, giúp Quân đội ta học hỏi kinh nghiệm, tiếp thu kiến thức khoa học kỹ thuật và nâng cao vị thế trên trường quốc tế. Tuy nhiên, các thế lực thù địch cũng lợi dụng chính quá trình này để “thẩm thấu” tư tưởng “quân đội trung lập”. Chúng tung ra luận điệu rằng việc Quân đội cử sĩ quan học tập, công tác tại nước ngoài, trong đó có các quốc gia áp dụng mô hình “kiểm soát dân sự đối với quân đội”, thì sự “cọ xát” này dần làm phai nhạt nhận thức, gieo mầm tư tưởng “phi chính trị” và “tư bản hóa”; việc QĐND Việt Nam tham gia hoạt động gìn giữ hòa bình Liên hợp quốc, diễn đàn quân sự, quốc phòng khu vực và quốc tế là “không phù hợp”, “vì lợi ích riêng” hoặc do “sức ép” từ bên ngoài, chứ không phải vì trách nhiệm với cộng đồng quốc tế. Thực tế, Việt Nam đến nay đã thiết lập quan hệ hợp tác quốc phòng với hơn 100 quốc gia và tổ chức quốc tế, trong đó có 5 nước Ủy viên Thường trực Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc và tất cả nước lớn. Đồng thời, QĐND Việt Nam cũng tham gia và đóng góp hiệu quả vào các cơ chế của Liên hợp quốc về phát triển, gìn giữ hòa bình (đã cử hơn 1.100 lượt cán bộ, nhân viên tới các phái bộ gìn giữ hòa bình và trụ sở Liên hợp quốc) và ứng phó với an ninh phi truyền thống; cử lực lượng trực tiếp thực hiện nhiệm vụ hỗ trợ nhân đạo và cứu trợ thảm họa động đất tại Thổ Nhĩ Kỳ và Myanmar...

Âm mưu chuyển hóa hệ thống tư pháp quân đội

Mũi tấn công nguy hiểm khác là nhắm vào hệ thống kỷ luật và các mối quan hệ đặc thù trong nội bộ Quân đội, hòng làm tan rã sức mạnh đoàn kết. Thực tế cho thấy, một quân đội muốn mạnh phải có kỷ luật thép. Các thế lực thù địch, phản động hiểu rõ điều này và chúng đang tập trung tấn công vào “thanh bảo kiếm” duy trì kỷ luật của QĐND Việt Nam, đó là hệ thống tư pháp Quân đội (tòa án quân sự, viện kiểm sát quân sự, cơ quan điều tra hình sự). Chúng lợi dụng việc Đảng, Quân đội ta quyết liệt chống tham nhũng, xử lý hàng loạt vụ án lớn, trong đó có nhiều bị cáo là cán bộ mang quân hàm cao cấp, rồi la lối rằng hệ thống tư pháp quân sự là “vùng cấm”, “bao che nội bộ”. Từ đó, chúng đưa ra yêu sách đòi “dân sự hóa” hệ thống tư pháp, tức là xóa bỏ các cơ quan tư pháp đặc thù này, với mục đích là phá vỡ công cụ chuyên biệt để duy trì kỷ luật, xử lý các tội phạm đặc thù trong môi trường quân sự. Vậy nhưng, việc tồn tại hệ thống tư pháp quân sự là thông lệ quốc tế, không phải “vùng cấm”. Ngay cả các nước phương Tây mà chúng ca ngợi, như Mỹ, Anh, Canada... đều duy trì hệ thống tòa án quân sự riêng biệt. Các cải cách gần đây của họ, như Mỹ sửa đổi Bộ luật Thống nhất về Tư pháp Quân sự (UCMJ) vào năm 2022, là để tăng tính độc lập cho công tố viên và quy định rõ hơn các hành vi phạm tội, chứ không hề xóa bỏ hệ thống này. Chính việc các tòa án quân sự của ta công khai, công bằng, nghiêm minh xét xử không có “”vùng cấm” là bằng chứng đanh thép nhất chống lại luận điệu “bao che” của các thế lực thù địch.

Luận điệu quân đội cũng chỉ là một nghề mưu sinh

Bên cạnh các đòn tấn công trực diện vào nền tảng tư tưởng, các thế lực thù địch, phản động còn triệt để lợi dụng mặt trái của cơ chế thị trường để thúc đẩy âm mưu “dân sự hóa” quân đội. Chúng gieo rắc tâm lý “làm công ăn lương”, đánh tráo bản chất thiêng liêng của Bộ đội Cụ Hồ thành một mối quan hệ lao động thuần túy, với luận điệu: Quân nhân cũng chỉ là một “nghề” mưu sinh trong xã hội giống như bác sĩ, kỹ sư hay công nhân; từ đó cho rằng, đã là một nghề nghiệp thì phải tuân theo quy luật cung-cầu và được đối xử theo luật lao động dân sự. Từ tiền đề sai lệch đó, chúng cổ xúy cho những tư tưởng cực kỳ nguy hiểm: Đòi hỏi quân nhân phải có “quyền đình công” để đòi quyền lợi, có quyền “từ chối mệnh lệnh” nếu mệnh lệnh đó gây bất lợi cho cá nhân hoặc không tương xứng với thù lao; và yêu cầu mọi hoạt động quân sự phải được “hợp đồng hóa” minh bạch về lợi ích. Mục đích của chúng là tước bỏ tính chất “lực lượng vũ trang nhân dân”, xóa nhòa ranh giới giữa cống hiến, hy sinh và giao dịch thương mại, biến Quân đội thành một tập đoàn cung cấp dịch vụ an ninh đơn thuần. Bản chất của hoạt động quân sự là sự hy sinh, gian khổ, là đặt lợi ích của Tổ quốc lên trên tính mạng cá nhân. Khi tâm lý “làm công ăn lương” xâm nhập vào cán bộ, chiến sĩ, nguy cơ lớn nhất là sự phai nhạt lý tưởng “Quyết tử để Tổ quốc quyết sinh”. Nguy hiểm hơn cả, tâm lý này đe dọa phá vỡ nguyên tắc tập trung dân chủ và chế độ thủ trưởng. Mối quan hệ giữa cấp trên và cấp dưới trong QĐND Việt Nam là quan hệ đồng chí, đồng đội, anh em, gắn kết bằng tình thương yêu giai cấp và mục tiêu, lý tưởng chung. Tuy nhiên, luận điệu “dân sự hóa” muốn biến mối quan hệ thiêng liêng này thành quan hệ giữa “người sử dụng lao động” (cấp ủy, chỉ huy) và “người lao động” (bộ đội). Khi đó, mệnh lệnh của người chỉ huy không còn là “quân lệnh như sơn”, từ đó không chỉ làm xói mòn phẩm chất Bộ đội Cụ Hồ cao đẹp mà còn trực tiếp đe dọa đến sức mạnh chiến đấu của Quân đội.

Những vấn đề trên đều dẫn đến một mục tiêu cuối cùng, nguy hiểm nhất của âm mưu “dân sự hóa” quân đội, đó là làm cho quân đội “tê liệt” khi xảy ra các biến động chính trị, các cuộc bạo loạn lật đổ. Khi quân đội, vốn là công cụ bạo lực mạnh nhất và là “thanh gươm và lá chắn” của một giai cấp, một chế độ đã sinh ra nó, không hành động, thì về bản chất, quân đội bị "tê liệt" về chức năng. Đây chính là điều các thế lực thù địch mong chờ nhất. Chúng biết rằng không thể thắng nếu đối đầu trực diện với một quân đội thống nhất, trung thành. Kế hoạch của chúng chỉ có thể thành công khi quân đội mất phương hướng, nghĩa là “thanh gươm” bảo vệ chế độ đã bị bẻ gãy. Chúng muốn QĐND Việt Nam đi vào vết xe đổ của các bài học lịch sử, trở thành một "quân đội trung lập” hoặc đứng nhìn chế độ sụp đổ./.
(còn nữa)
Môi trường ST.

HỎI DÂN ĐỂ HIỂU CÁN BỘ!

     Tư tưởng Hồ Chí Minh về dựa vào dân để xây dựng, chỉnh đốn Đảng, dựa vào dân để hiểu cán bộ, để làm công tác cán bộ đến nay còn nguyên giá trị. Theo đó, “hỏi dân để hiểu cán bộ” không chỉ là phương châm mà còn là biện pháp hiệu quả để xây dựng đội ngũ cán bộ ngang tầm nhiệm vụ trong kỷ nguyên vươn mình của dân tộc Việt Nam.

Tầm quan trọng đặc biệt của gần dân, sát dân, hiểu dân

60 năm trước, Bí thư Tỉnh ủy Vĩnh Phú Kim Ngọc-“cha đẻ của khoán hộ”, “khoán 10”-luôn đau đáu với miếng ăn, hạnh phúc của người dân. Ông luôn quan niệm “phải để nông dân làm chủ mảnh đất của mình”. Những suy nghĩ, quan niệm của ông không tự nhiên hình thành mà nó bắt nguồn từ rất nhiều chuyến thực tế khảo sát, nắm bắt thực tiễn đời sống, hoạt động sản xuất của người dân. Từ năm 1965, Bí thư Tỉnh ủy Kim Ngọc cho triển khai thí điểm “khoán hộ” ở một số huyện như Vĩnh Tường, Yên Lạc...

Hẳn nhiên, khi hành động vì dân, phù hợp với chân lý đời sống, “khoán hộ” của Bí thư Kim Ngọc được tập thể Ban Thường vụ Tỉnh ủy ủng hộ. Như luồng gió mới, “khoán 10” tạo ra hướng đi mới trong cách thức quản lý, gắn lợi ích với kết quả lao động, người dân phấn khởi, tâm huyết, chăm chỉ, phát huy kinh nghiệm đã có từ ngàn đời, tạo nên những cánh đồng lúa trĩu hạt báo hiệu sự ấm no. Rõ ràng, phải thật sự vì dân, gần dân, sát dân, thấu hiểu thực tế, thấu cảm lòng dân, trăn trở với câu hỏi “làm thế nào để mang lại cuộc sống tốt đẹp cho dân?”, Bí thư Kim Ngọc mới có những quyết định táo bạo để người dân có bữa ăn no, đời sống được cải thiện, có thêm thóc gạo gửi vào chiến trường.

Trong thời gian là cán bộ cấp cao đứng đầu tỉnh Nghệ An (2000-2002)-địa phương có địa giới hành chính rộng nhất cả nước, “tư dinh” của Bí thư Tỉnh ủy Trương Đình Tuyển chỉ là căn phòng tập thể nằm trên tầng 2, trong khuôn viên trụ sở Tỉnh ủy. Thời gian này, người dân TP Vinh và đặc biệt là bà con tiểu thương tại chợ Quán Lau (gần cơ quan Tỉnh ủy Nghệ An) rất quen thuộc với hình ảnh một vị Bí thư quần xắn ngang bắp, chân đi dép tông, đạp chiếc xe đạp Thống Nhất cũ kỹ đi chợ, vừa mua thực phẩm về nấu ăn, vừa tranh thủ gần dân để hỏi chuyện. Bởi ông nắm được thông tin, có những việc dân biết hết nhưng họ không nói, không bày tỏ. Trong đầu Bí thư Tỉnh ủy Trương Đình Tuyển luôn trăn trở “làm thế nào để dân nói, dân chia sẻ, đồng hành với cán bộ, đảng viên?”.

Chính nhờ đi sâu vào thực tiễn đời sống người dân, nắm bắt nguyện vọng của nhân dân, trên cương vị Bí thư Tỉnh ủy Nghệ An, ông làm cuộc “cải tổ” có một không hai trong lịch sử phát triển của Đảng bộ tỉnh này. Gần 3 năm, ông cương quyết thay 9 bí thư huyện ủy, trong đó có cả cán bộ vốn là chỗ thân tình, nhưng vì việc chung, ông vẫn kiên quyết không có ngoại lệ. Chỉ cần những lãnh đạo cũ yếu kém, làm sai trái hoặc thiếu bản lĩnh là ông đề xuất tập thể thay ngay.

Thời gian qua, từ khi chính quyền địa phương hai cấp đi vào hoạt động càng khẳng định vai trò, tầm quan trọng đặc biệt của việc gần dân, sát dân và hiểu dân. Điển hình như tại xã Hải Hậu, tỉnh Ninh Bình, sau hơn 3 tháng vận hành mô hình tổ chức chính quyền địa phương hai cấp, đại đa số người dân được lấy ý kiến đều đánh giá cao hiệu quả xử lý công việc của chính quyền và tinh thần, trách nhiệm phục vụ của đội ngũ cán bộ, công chức. Trong đó, Trung tâm Phục vụ hành chính công xã Hải Hậu được nâng cấp, sửa chữa khang trang, đáp ứng nhu cầu phục vụ người dân, doanh nghiệp. Xã ưu tiên nguồn lực đầu tư đồng bộ trang thiết bị với hệ thống máy lấy số xếp hàng tự động, máy cảm ứng tra cứu thông tin, hệ thống kết nối mạng trực tuyến, mạng nội bộ... để phục vụ người dân đến giao dịch, không để nhân dân phải chờ đợi lâu.

Với tinh thần “lấy người dân làm trung tâm phục vụ”, Trung tâm Phục vụ hành chính công xã Hải Hậu đã tiếp nhận và giải quyết cơ bản hồ sơ thủ tục hành chính. Đây là minh chứng rõ ràng khi cán bộ, công chức cấp xã, phường gần với người dân hơn thì cơ chế tiếp nhận ý kiến, xử lý phản ánh cũng nhanh hơn, hiệu quả hơn và niềm tin của người dân với Đảng, Nhà nước, chính quyền được củng cố vững chắc hơn.

Biểu hiện và hệ lụy của bệnh xa dân

Vài năm trước, với những vi phạm rất nghiêm trọng, cựu Bí thư Tỉnh ủy Lào Cai Nguyễn Văn Vịnh bị Hội đồng xét xử sơ thẩm Tòa án Nhân dân tỉnh Lào Cai tuyên mức án 5 năm 6 tháng tù về tội “Lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong khi thi hành công vụ”. Khi cơ quan chức năng thực hiện lệnh bắt tạm giam và khám xét nhà riêng của ông Nguyễn Văn Vịnh, trên mạng xã hội xuất hiện nhiều bình luận thể hiện tâm lý hả hê. Từ lâu, căn biệt thự của gia đình ông Vịnh nằm ở vị trí được xem là đẹp nhất TP Lào Cai (cũ) đã trở nên xa cách với đời sống của phần đông người dân. Hình ảnh người cán bộ như vậy khiến người dân bức xúc.

Cũng từ khi chính quyền địa phương hai cấp đi vào hoạt động, tại nhiều địa phương, cán bộ chưa nắm được thực tiễn, không nắm được địa bàn, chưa sâu sát và xắn tay hành động cùng nhân dân. Điển hình nhất là những đợt thiên tai gây nhiều thiệt hại ở các địa phương vừa qua cho thấy, không phải địa phương nào cán bộ, chính quyền cơ sở cũng sâu sát, nắm được thực tế để chỉ đạo xử lý các công việc phù hợp, kịp thời đáp ứng yêu cầu thực tiễn. Đặc biệt, nhiều thủ tục hành chính gây phiền hà, nhũng nhiễu ở các địa phương vẫn chưa được loại bỏ, trong khi người dân luôn có cái nhìn không tốt về thực trạng này.

Tìm hiểu những câu chuyện thực tế ở nhiều địa phương cho thấy, tình trạng cán bộ mắc bệnh xa dân, quan liêu, thích nghe báo cáo, không chịu nắm cơ sở diễn ra khá phổ biến. Cán bộ ít đến với dân, ít nghe tâm tư, nguyện vọng của người dân; cán bộ tránh, trốn tiếp dân bằng nhiều lý do, nhất là khi có “tình huống điểm nóng”. Người dân không dễ gặp được cán bộ dù ý kiến, nguyện vọng muốn trình bày với người có trách nhiệm giải quyết là chính đáng và cần thiết.

Bệnh xa dân của một số cán bộ, đảng viên được biểu hiện ở cả suy nghĩ, thái độ, hành vi và việc làm cụ thể như: Thiếu kiểm tra, đôn đốc, không sâu sát, không nắm chắc tình hình cơ sở, xa quần chúng, bàn giấy; làm việc quan cách, cửa quyền, hách dịch, thiếu dân chủ, vòi vĩnh, thờ ơ, vô cảm, tắc trách, thiếu trách nhiệm trước những khó khăn, bức xúc và đòi hỏi quyền lợi chính đáng của nhân dân...

Bệnh xa dân dẫn tới hậu quả, hệ lụy vô cùng nguy hiểm, một trong những nguyên nhân đe dọa sự tồn vong của chế độ: Quan điểm, đường lối của Đảng, chủ trương, chính sách của Nhà nước không đến được với người dân; khi tổ chức thực hiện không hiệu quả vì áp dụng không sát với thực tiễn ở từng địa phương, cơ sở, không hợp lòng dân, không làm cho dân tin, dân hiểu, dân theo, gây bức xúc.

Nguy hại hơn, bệnh xa dân dẫn đến tệ nạn tham nhũng, lãng phí tiền của, sức lao động của nhân dân trong quản lý, xây dựng các công trình công cộng..., trở thành “mắt xích yếu nhất” để các thế lực thù địch lợi dụng lôi kéo, mua chuộc, khiến cán bộ, đảng viên sa ngã, làm suy yếu chính quyền, làm mất uy tín của Đảng, Nhà nước đối với nhân dân; kích động nhân dân chống lại chính quyền, gây xung đột, tạo “điểm nóng” dẫn đến hậu quả “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong Đảng, trong dân.

Trên hết và trước hết của người “công bộc”

Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã dạy: “Nhân dân ta có hàng chục triệu người, có hàng mấy chục triệu tai mắt, tay, chân. Nếu biết dựa vào nhân dân thì việc gì cũng xong”. Người còn nhắc nhở đội ngũ cán bộ, đảng viên: “Trước mặt quần chúng, không phải ta cứ viết lên trán chữ “cộng sản” mà ta được họ yêu mến. Quần chúng chỉ quý mến những người có tư cách, đạo đức”.

Chính vì vậy, trong mọi hành động và việc làm, cán bộ, đảng viên phải luôn gần dân, sát dân, dựa vào dân, nắm bắt nguyện vọng của nhân dân; phát huy vai trò của nhân dân, làm lợi cho nhân dân; phải bàn bạc với dân, hỏi ý kiến, kinh nghiệm của dân, giải thích cho dân hiểu, cổ động dân, giúp dân đặt kế hoạch, khuyến khích, đôn đốc, theo dõi, giúp đỡ dân giải quyết những khó khăn. Với công việc, phải đặt việc công lên trên, lên trước; phải tận tâm, tận lực, không sợ khó, sợ khổ.

Bất luận hoàn cảnh nào, mỗi cán bộ, đảng viên phải là những người tiền phong, gương mẫu, có tính dẫn dắt, truyền cảm hứng cho nhân dân nên phải luôn khẳng định tính đứng đắn, trong sáng trong ứng xử, tính chăm chỉ, cần cù trong công tác, tính kỷ luật, khuôn phép trong sinh hoạt. Theo đó, từng cán bộ, đảng viên phải xây dựng hình ảnh đẹp trong đội ngũ, trong công sở cả về tư cách cá nhân lẫn cách phục vụ nhân dân, từ đó góp phần nâng cao hiệu quả trong các hoạt động, ngày càng thuyết phục được nhân dân.

Cùng với đó, mỗi cán bộ, đảng viên phải thường xuyên bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ để trở thành những công chức chuyên nghiệp miệng nói, tay làm, thống nhất lời nói và hành động, thực hiện lý luận gắn với thực tiễn; chống thói tùy tiện, ba hoa, chủ quan; chống bệnh hình thức, sáo rỗng, quan liêu, coi thường nhân dân... Có như vậy, cán bộ, đảng viên mới được dân mến, dân tin, dân phục, sẵn sàng chia sẻ tâm tư, nguyện vọng; gắn bó mật thiết được với nhân dân.

Bài học “hỏi dân để hiểu cán bộ”, dựa vào dân để xây dựng, chỉnh đốn Đảng, dựa vào dân để làm công tác cán bộ của Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh càng ngẫm càng thấy thấm thía và giá trị, nhất là trong bối cảnh toàn Đảng, toàn dân, toàn quân đang ra sức thi đua, lập thành tích hướng về Đại hội XIV của Đảng./.
Môi trường ST.

PHÊ DUYỆT KẾ HOẠCH TRIỂN KHAI CÁC KHUYẾN NGHỊ CỦA ỦY BAN NHÂN QUYỀN LIÊN HỢP QUỐC VỀ THỰC HIỆN CÔNG ƯỚC ICCPR

     Phó thủ tướng Chính phủ Bùi Thanh Sơn ký Quyết định số 2715/QĐ-TTg ngày 13-12-2025 phê duyệt Kế hoạch triển khai thực hiện các khuyến nghị của Ủy ban Nhân quyền Liên hợp quốc đối với Báo cáo lần thứ tư của Việt Nam về thực hiện Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị (Kế hoạch).

Mục đích của Kế hoạch nhằm xác định rõ nội dung công việc, lộ trình thực hiện nhằm triển khai hiệu quả các khuyến nghị của Ủy ban Nhân quyền và các quy định của Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị (Công ước ICCPR), gắn kết với quá trình hoàn thiện thể chế, pháp luật, nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật về các quyền dân sự và chính trị phù hợp với Hiến pháp và điều kiện kinh tế - xã hội của Việt Nam.

Đồng thời, nâng cao hiệu quả điều phối, theo dõi và báo cáo việc thực hiện các khuyến nghị của Ủy ban Nhân quyền, bảo đảm việc thực hiện đạt kết quả tốt phục vụ công tác báo cáo giữa kỳ và báo cáo quốc gia thực hiện Công ước ICCPR giai đoạn tiếp theo...

Kế hoạch đưa ra các nhiệm vụ và giải pháp chủ yếu như sau: Tiếp tục rà soát quy định pháp luật và đề xuất phương án hoàn thiện nhằm thực hiện tốt hơn các quy định của Công ước ICCPR, trong đó chú trọng đánh giá tính tương thích giữa quy định tại các dự thảo luật, nghị quyết của Quốc hội, pháp lệnh, nghị quyết của Ủy ban Thường vụ Quốc hội với các quy định của Công ước ICCPR.

Nghiên cứu đề xuất hoàn thiện khuôn khổ pháp luật nhằm tiếp tục thực hiện tốt hơn các quy định của Công ước ICCPR, bao gồm các quy định về bảo đảm quyền dân sự và chính trị trong một số lĩnh vực, chống phân biệt đối xử và hạn chế quyền dân sự và chính trị.

Xây dựng và triển khai hiệu quả các chương trình, kế hoạch thúc đẩy thực hiện bình đẳng giới, ứng phó với bạo lực trên cơ sở giới, Chương trình hành động quốc gia về phụ nữ, hòa bình, an ninh; xóa bỏ định kiến, phân biệt đối xử với phụ nữ và các nhóm dễ bị tổn thương khác (trong đó lưu ý tới nhóm người khuyết tật, trẻ em, người dân tộc thiểu số, người đồng tính - song tính - chuyển giới - liên giới). Triển khai có hiệu quả các chiến lược, kế hoạch quốc gia có liên quan đến bảo đảm các quyền dân sự và chính trị...

Nâng cao hiệu quả tiếp nhận, giải quyết khiếu nại, tố cáo theo hướng thuận tiện, an toàn và tăng tỷ lệ giải quyết khiếu nại, tố cáo liên quan đến các vi phạm quyền dân sự và chính trị của các cá nhân để đảm bảo tốt hơn quyền khiếu nại, tố cáo. Tăng cường và nâng cao hiệu quả thi hành các quyền dân sự và chính trị trong hoạt động tố tụng hình sự, thi hành án hình sự. 

Triển khai hiệu quả Đề án truyền thông về quyền con người ở Việt Nam (ban hành kèm theo Quyết định số 1079/QĐ-TTg ngày 14-9-2022 của Thủ tướng Chính phủ), trong đó tập trung vào Công ước ICCPR và kết quả thực thi (thành tựu và nỗ lực) ở Việt Nam, kết quả Phiên đối thoại với nội dung và hình thức phù hợp; nghiên cứu xây dựng các đề án, chương trình truyền thông, phổ biến các quy định pháp luật về quyền dân sự, chính trị./.
Môi trường ST.

NGÀY NÀY NĂM XƯA: TỔNG BÍ THƯ NGUYỄN PHÚ TRỌNG ĐƯỢC TRAO TẶNG GIẢI THƯỞNG LÊNIN!

     Chiều 15/12, Lễ trao tặng Tổng Bí thư Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản (ĐCS) Việt Nam Nguyễn Phú Trọng Giải thưởng Lênin của Ban Chấp hành Trung ương ĐCS Liên bang Nga đã được tổ chức trang trọng tại Trụ sở Trung ương Đảng.

Theo TTXVN, tại buổi lễ, ông Leonid Kalashnikov, Phó Chủ tịch Đảng, Chủ nhiệm Ủy ban Các vấn đề về khối cộng đồng các quốc gia độc lập, Liên kết Á - Âu và kiều bào của Duma Quốc gia Nga, đã thay mặt Ban Chấp hành Trung ương ĐCS Liên bang Nga trao tặng Tổng Bí thư Nguyễn Phú trọng Giải thưởng cao quý nhất của ĐCS Liên bang Nga và ĐCS Liên Xô.

Ông Leonid Kalashnikov khẳng định, việc ĐCS Liên bang Nga trao tặng Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng Giải thưởng cao quý này nhân dịp 150 năm kỷ niệm Ngày sinh của Lênin thể hiện sự trân trọng và ghi nhận đối với những đóng góp xuất sắc của Tổng Bí thư - nhà hoạt động chính trị lỗi lạc, được đánh giá cao tại Nga và trên thế giới, trong việc phấn đấu vì công bằng, nhân văn và tiến bộ xã hội; vì sự nghiệp xây dựng CNXH và nghiên cứu làm phong phú lý luận và thực tiễn cho việc phát triển chủ nghĩa Mác - Lênin, cũng như những nỗ lực không ngừng nhằm củng cố quan hệ hữu nghị Việt Nam - Liên bang Nga.

Bày tỏ sự xúc động và cảm ơn ĐCS Liên bang Nga, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng cho rằng, đây không chỉ là sự ghi nhận đối với cá nhân ông mà còn là sự trân trọng và tình cảm của ĐCS Liên bang Nga, đất nước và nhân dân Nga đối với Đảng, Nhà nước và nhân dân Việt Nam; đồng thời thể hiện truyền thống quan hệ đặc biệt giữa ĐCS Việt Nam, nhân dân Việt Nam với ĐCS và nhân dân Liên Xô trước đây, Liên bang Nga ngày nay.

Chân thành cảm ơn sự giúp đỡ to lớn, chí tình, hiệu quả mà nhân dân Liên Xô trước đây, Liên bang Nga ngày nay luôn dành cho nhân dân Việt Nam, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng khẳng định cùng ĐCS Liên bang Nga và các đối tác Nga tiếp tục củng cố, tăng cường quan hệ Đối tác chiến lược toàn diện Việt Nam - Liên bang Nga và quan hệ hữu nghị giữa nhân dân hai nước./.


Yêu nước ST.

TÌM HIỂU GIÚP BẠN: TỔNG BÍ THƯ TÔ LÂM “HÀ NỘI TẬP TRUNG VÀO 5 ƯU TIÊN TRONG NHỮNG ĐỊNH HƯỚNG LỚN”!

     Sáng 15-12, tại Trụ sở Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân phường Bạch Mai, Tổng Bí thư Tô Lâm cùng Đoàn đại biểu Quốc hội TP Hà Nội tiếp xúc cử tri các phường: Ba Đình, Ngọc Hà, Giảng Võ, Đống Đa, Kim Liên, Văn Miếu - Quốc Tử Giám, Láng, Ô Chợ Dừa, Hai Bà Trưng, Vĩnh Tuy và Bạch Mai, để thông cáo kết quả Kỳ họp thứ mười, Quốc hội khóa XV.

Cùng tham dự có các đồng chí: Nguyễn Duy Ngọc, Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Thành ủy Hà Nội; Phạm Gia Túc, Ủy viên Trung ương Đảng, Chánh Văn phòng Trung ương Đảng; Vũ Đại Thắng, Ủy viên Trung ương Đảng, Phó bí thư Thành ủy, Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố Hà Nội; các đồng chí lãnh đạo thành phố Hà Nội, các Phó trưởng đoàn đại biểu Quốc hội thành phố Hà Nội, lãnh đạo các sở, ban, ngành của thành phố và đại biểu cử tri của 11 phường.

Nhiều ý kiến tâm huyết

Sau khi nghe báo cáo kết quả Kỳ họp thứ mười, Quốc hội khóa XV, các cử tri phát biểu đánh giá, đây là một kỳ họp lịch sử với nhiều nội dung, bao hàm tất cả chức năng của Quốc hội, từ công tác nhân sự, xây dựng luật, giám sát, đặc biệt là việc quyết định những vấn đề quan trọng của đất nước. Hoạt động của Quốc hội đã cho thấy sự cụ thể hóa quan điểm của Đảng ta, đó là cải cách thể chế “đột phá của đột phá”, qua đó biến thể chế từ điểm nghẽn trở thành lợi thế của phát triển.

Tại buổi tiếp xúc, cử tri Nguyễn Thị Ngọc Trinh, phường Bạch Mai đề nghị các bộ, ngành chức năng xem xét tiếp tục đầu tư nâng cấp cơ sở vật chất y tế, bổ sung trang thiết bị, tăng cường nhân lực để bảo đảm đáp ứng nhu cầu khám định kỳ hằng năm cho toàn dân, tránh tình trạng quá tải đối với các bệnh viện.

Cơ quan chức năng ban hành hướng dẫn cụ thể về quy trình khám sức khỏe định kỳ; hoàn thiện hệ thống dữ liệu sức khỏe điện tử để quản lý thông tin của người dân một cách thống nhất, liên thông; làm rõ hơn phạm vi miễn viện phí cơ bản, đối tượng áp dụng và lộ trình triển khai để người dân nắm bắt rõ quyền lợi của mình.

Phản ánh có nhiều dự án tồn đọng, kéo dài lâu năm với giá trị nguồn lực rất lớn của xã hội đang bị lãng phí, cử tri Đinh Quốc Phòng, phường Ô Chợ Dừa đề nghị có chính sách tháo gỡ điểm nghẽn, nút thắt trong cơ chế chính sách để các địa phương áp dụng, triển khai các biện pháp, xử lý giải quyết các vấn đề còn tồn đọng, tạo đà tăng trưởng hai con số, giải phóng nguồn lực cho các dự án vào sử dụng, không để lãng phí tài sản của Nhà nước, doanh nghiệp, người dân và xã hội.

Cử tri Đỗ Văn Thuật, phường Láng đề nghị tiếp tục ưu tiên đầu tư, hoàn thiện hệ thống hạ tầng giao thông, đẩy nhanh tiến độ các dự án mở rộng đường, quản lý chặt chẽ công tác đào đường cải tạo phải đảm bảo hoàn trả đúng yêu cầu và phải có thời gian bảo hành dài hạn. Các bên liên quan xây dựng cầu vượt, hầm chui và các tuyến đường vành đai nhằm phân luồng, giảm áp lực cho khu vực nội đô; phát triển mạng lưới giao thông công cộng chất lượng cao, đặc biệt là xe buýt và đường sắt đô thị, tạo điều kiện thuận lợi để người dân chuyển dần từ phương tiện cá nhân sang phương tiện công cộng; tăng cường công tác tuyên truyền, ý thức giao thông.

Cử tri kiến nghị triển khai đồng bộ về tăng cường kiểm soát nguồn thải, xử lý nghiêm các trường hợp vi phạm quy định về môi trường; đẩy mạnh phát triển và sử dụng năng lượng sạch, phương tiện giao thông xanh, chuyển đổi xe chạy xăng sang xe điện, như dự án của thành phố cho khối đô thị lõi, sau chuyển dần ra toàn thành phố, khuyến khích người dân sử dụng giao thông công cộng để giảm khí thải…

Hiện nay, nạn hàng giả, hàng kém chất lượng, đặc biệt là những sản phẩm được quảng cáo tinh vi, sai sự thật trên không gian mạng, cử tri Lê Gia Ánh, phường Láng cho rằng, cần xử lý nghiêm minh hành vi sản xuất, buôn bán hàng giả, hoàn thiện pháp luật để quản lý hàng giả, hàng kém chất lượng, bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng; tăng cường kiểm soát giá cả, có phương án xử lý đối với việc "thổi" giá, đầu cơ trục lợi, nhất là trong các lĩnh vực bất động sản để ổn định thị trường nhà đất. Cử tri kiến nghị, các cơ quan chức năng tăng cường kiểm soát, thanh tra các nhà mạng, siết chặt các tin nhắn, cuộc gọi lừa đảo sử dụng AI trái phép, quảng cáo hàng không đúng chất lượng, gây thiệt hại đến tài sản của nhân dân và Nhà nước.

Bên cạnh đó, cử tri đề nghị Trung ương quan tâm thêm cơ chế, chính sách hỗ trợ địa phương, nhà đầu tư đẩy nhanh cải tạo chung cư cũ; đầu tư đồng bộ về hạ tầng số, liên thông dữ liệu để đơn vị thuận tiện trong khai thác và sử dụng, từng bước chuẩn hóa cán bộ để phát huy được ứng dụng công nghệ số trong công tác quản lý của các cơ quan nhà nước…

Đổi mới tư duy phát triển, dám nghĩ - dám làm - dám chịu trách nhiệm vì lợi ích chung

Phát biểu tại buổi tiếp xúc cử tri, Tổng Bí thư Tô Lâm cho biết, các yêu cầu nhiệm vụ trong thời gian tới gồm: Giữ vững ổn định chính trị, phát triển nhanh, bền vững đất nước, tiếp tục nâng cao đời sống của nhân dân; cần huy động sức mạnh của cả hệ thống chính trị và toàn dân để thực hiện những nhiệm vụ này.

Tổng Bí thư bày tỏ cảm ơn về niềm tin và sự ủng hộ quý báu của toàn thể nhân dân, cử tri thành phố và cử tri cả nước trong nhiệm kỳ Quốc hội XV; nhấn mạnh một số kết quả nhiệm kỳ Quốc hội khóa XV; thông báo tới cử tri một số nét nổi bật về tình hình thế giới và trong nước.

Tổng Bí thư ghi nhận và biểu dương những nỗ lực, cố gắng và tinh thần quyết liệt trong chỉ đạo, điều hành của hệ thống chính trị TP Hà Nội trong năm 2025. Nhiều vấn đề tồn đọng đã được tích cực tháo gỡ. Những kết quả đó cho thấy sự nỗ lực rất lớn của thành phố, là tiền đề quan trọng để Hà Nội tự tin bước vào giai đoạn phát triển mới với nhiều thời cơ nhưng cũng không ít thách thức.

Tổng Bí thư nêu rõ, Hà Nội cần giữ vững vai trò đầu tàu trong phát triển kinh tế - xã hội, đổi mới sáng tạo, thu hút vốn đầu tư; cần triển khai mạnh mẽ Luật Thủ đô sửa đổi, triển khai hiệu quả bộ máy chính quyền địa phương 2 cấp. Thành phố tập trung thực hiện các dự án hạ tầng giao thông, giải tỏa ách tắc, bảo đảm an toàn, giảm ô nhiễm. Hà Nội cần phải xây dựng quy hoạch, bảo đảm sự phát triển bền vững và công bố công khai rộng rãi để huy động sự tham gia hưởng ứng của toàn dân.

Trả lời một số kiến nghị của cử tri, Tổng Bí thư Tô Lâm đề nghị Hà Nội cần phải xác định rõ căn nguyên, có giải pháp quyết liệt để giải quyết tình trạng này. Thành phố phải kiểm soát chặt chẽ các nguồn xả thải ra môi trường, xử lý nghiêm các trường hợp vi phạm về xử lý rác thải, nước thải sinh hoạt, nước thải từ cơ sở sản xuất… để ngăn ngừa ô nhiễm môi trường trên địa bàn thành phố.

Về vấn đề an ninh mạng, quản lý thị trường, hạ tầng số, Tổng Bí thư khẳng định rõ, đây là con đường để phát triển nhanh đất nước trong giai đoạn hiện nay. Thực tế các nước phát triển trên thế giới cho thấy đều đã lựa chọn con đường này và đạt được kết quả tốt. Hà Nội cần phải đi đầu trong chuyển đổi số, phát triển hạ tầng số, đảm bảo an toàn an ninh mạng; xử lý nghiêm các hình thức kinh doanh hàng nhái, hàng giả trên thị trường online; tích cực bồi dưỡng nâng cao nhận thức cho người dân về trình độ tiếp cận, xử lý, phòng ngừa các tình huống lừa đảo, đấu tranh với lừa đảo, phản động trên không gian mạng. Đây là vấn đề mới, phức tạp, đòi hỏi sự vào cuộc mạnh mẽ của nhiều cấp, nhiều ngành.

Trước việc cử tri phản ánh tình trạng quá tải bệnh viện, lo lắng về việc triển khai chương trình khám sức khỏe định kỳ, dữ liệu sức khỏe điện tử, Tổng Bí thư đề nghị, thành phố và Bộ Y tế triển khai quyết liệt Nghị quyết số 72-NQ/TW ngày 9-9-2025 của Bộ Chính trị “Về một số giải pháp đột phá, tăng cường bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe nhân dân”. Về vấn đề miễn viện phí, có thể hiểu là miễn phí các dịch vụ y tế cơ bản của bảo hiểm y tế; để tăng mức miễn viện phí cho người dân, thì định hướng là sẽ nâng cao tỷ lệ người dân có bảo hiểm y tế, mở rộng danh mục bảo hiểm y tế chi trả cũng như mức đồng chi trả... để người dân đóng bảo hiểm y tế được miễn viện phí nhiều hơn theo từng giai đoạn và điều kiện của đất nước… Thành phố tiếp tục đầu tư nâng cấp bệnh viện tuyến thành phố và cơ sở; hoàn thiện hệ thống dữ liệu sức khỏe điện tử liên thông; bảo đảm quyền lợi chính đáng của nhân dân khi triển khai khám sức khỏe định kỳ.

Cử tri rất quan tâm đến vấn đề giáo dục và đào tạo, do đó, Tổng Bí thư yêu cầu, thành phố tiếp tục triển khai Nghị quyết số 71-NQ/TW của Bộ Chính trị về đột phá phát triển giáo dục và đào tạo. Thành phố đầu tư đầy đủ cơ sở vật chất, bảo đảm trường lớp khang trang, an toàn, hiện đại; rà soát chương trình dạy học theo hướng tinh giản, thực chất, thiết thực hơn; tăng cường kỷ cương, minh bạch, phòng chống tiêu cực trong thi cử, tuyển sinh; đẩy mạnh chuyển đổi số, giảm thủ tục, giảm áp lực hành chính cho giáo viên và phụ huynh. Đổi mới giáo dục là hành trình lâu dài, cần sự chung tay của gia đình, nhà trường và toàn xã hội. TP Hà Nội tiếp tục giữ vững truyền thống hiếu học, đi đầu trong đổi mới giáo dục, đáp ứng kỳ vọng của nhân dân Thủ đô và cả nước.

Đối với một số dự án treo, hạ tầng số chưa đồng bộ, thông tin dự báo thiên tai, Tổng Bí thư nhấn mạnh, thành phố cần phân loại, xử lý dứt điểm các dự án treo; đẩy nhanh cải tạo chung cư cũ, nhất là các khu nguy hiểm; đầu tư mạnh cho chuyển đổi số, hạ tầng dữ liệu; hoàn thiện hệ thống cảnh báo thiên tai, chủ động ứng phó biến đổi khí hậu. Đây là những vấn đề kéo dài nhiều năm, ảnh hưởng trực tiếp đời sống người dân. Thành phố xác định đây là nhiệm vụ trọng tâm, cần có lộ trình rõ, người chịu trách nhiệm rõ và báo cáo kết quả trước cử tri.

Về một số định hướng lớn của TP Hà Nội, Tổng Bí thư Tô Lâm yêu cầu đổi mới tư duy phát triển, dám nghĩ - dám làm - dám chịu trách nhiệm vì lợi ích chung, tập trung vào 5 ưu tiên (Hoàn thiện cơ chế, chính sách đặc thù; đột phá hạ tầng giao thông - đô thị; thúc đẩy đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số; phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao; xây dựng môi trường sống văn minh, xanh, sạch, an toàn). Chính quyền địa phương 2 cấp phải thực sự linh hoạt, hiệu quả, gần dân - sát dân - vì dân, với cam kết tiến độ cụ thể cho từng nhiệm vụ mà cử tri nêu.

Tổng Bí thư khẳng định, những ý kiến vừa thể hiện sự kỳ vọng của nhân dân, vừa là động lực để thành phố và các cơ quan Trung ương tiếp tục đổi mới, sáng tạo, hành động quyết liệt hơn. Tổng Bí thư tin tưởng, Đảng bộ, chính quyền và nhân dân Thủ đô sẽ tiếp tục phát huy truyền thống ngàn năm văn hiến, tinh thần đoàn kết, trí tuệ, bản lĩnh, đưa Hà Nội phát triển mạnh mẽ, xứng đáng là trung tâm lớn về chính trị, kinh tế, văn hóa, khoa học, giáo dục của cả nước. Hà Nội đã nói là làm - làm nhanh, làm đúng, làm hiệu quả; đã cam kết là phải hoàn thành; đã nhận nhiệm vụ là phải làm đến nơi đến chốn, đem lại sự hài lòng cho nhân dân./.

Môi trường ST.

“DÂN SỰ HÓA” QUÂN ĐỘI - MŨI TÊN ĐỘC TRONG CHIẾN LƯỢC “DIỄN biến HÒA BÌNH”!

BÀI 2: VẤN ĐỀ “DÂN SỰ HÓA” QUÂN ĐỘI TRONG NƯỚC VÀ QUỐC TẾ!

     Luận điệu “dân sự hóa” quân đội liên tục được các thế lực thù địch và một số học giả thiếu thiện chí cổ xúy như một mô hình “tiến bộ” của phương Tây. Tuy nhiên, cả lý luận lẫn thực tiễn đều cho thấy quân đội không bao giờ tồn tại tách rời chính trị hay đứng ngoài lợi ích của giai cấp cầm quyền. Các thủ đoạn núp bóng cải cách, minh bạch hay tinh gọn đều nhằm làm suy yếu vai trò lãnh đạo của đảng cầm quyền, vô hiệu hóa sức mạnh quân đội và tạo “lỗ hổng” về quốc phòng.

Thực chất của cái gọi là “dân sự hóa” quân đội ở phương Tây

Theo Đại tá, TS Nguyễn Hữu Phúc, Chủ nhiệm Khoa Nhà nước và Pháp luật, Học viện Chính trị, dựa trên “học thuyết phân quyền tư sản”, giới lập pháp ở các nước tư sản đã ban hành vô số điều luật thiết tưởng sẽ chia tách được quyền lực của 3 nhóm lập pháp, hành pháp và tư pháp đối với việc quản lý nhà nước về quân sự, quốc phòng. Ở đó, người ta “thực sự” tin rằng, nhờ chế định “dân sự quản lý quân sự” đã được luật hóa thì việc của quân đội tất yếu do phái dân sự thực hiện, chứ “dứt khoát” không phải là việc của đảng hay phe phái quân sự nào. Đơn cử như tại Mỹ, giới làm luật thường viện dẫn Hiến pháp quy định Tổng thống là Tổng Tư lệnh các lực lượng lục quân, hải quân và lực lượng dự bị ở một số bang; Bộ trưởng Quốc phòng là quan chức dân sự và các quy định hạn chế quân nhân tham gia chính trị, để cổ xúy cho mô hình “dân quản quân”, “quân đội phi giai cấp, đứng ngoài chính trị”.

Tuy nhiên, thực tiễn đời sống pháp luật tư sản cho thấy điều nghịch lý với hoài niệm “tốt đẹp” đó, thậm chí vấp phải sự phản đối của chính học giả phương Tây-những người không thuộc trường phái Mác-xít. Trong công trình khoa học “50 từ then chốt của xã hội học”, nhà xã hội học Jean Golfin cho rằng: “Tầm quan trọng của chức năng quân sự bắt nguồn từ sự gần gũi của nó với quyền lực chính trị: Nó là sức mạnh phục vụ cho chính trị, chống lại sự đe dọa ở bên ngoài”.

Nhấn mạnh yếu tố chính trị là khẳng định quân đội luôn mang bản chất giai cấp và gắn liền với nhà nước; không thể có một quân đội trong nhà nước tư sản mà lại không phục vụ lợi ích của chính nhà nước đó. Để giữ vững phương hướng chính trị và bản chất giai cấp của quân đội, giới cầm quyền truyền bá hệ tư tưởng của mình qua giáo dục mang tính định hướng và áp dụng nghiêm các nguyên tắc tổ chức, hoạt động và cơ chế kiểm soát trong toàn lực lượng. Quân đội Mỹ duy trì cả một bộ máy tuyên truyền, trước đây gọi là Cơ quan Thông tin và Giáo dục quân đội (AFIS) và hiện nay chuyển thành nhiều cơ quan như Cơ quan Hoạt động Truyền thông Quốc phòng (DMA), Cơ quan Quan hệ công chúng (PA) và Cơ quan Tác chiến tâm lý (MISO) thuộc Bộ Chiến tranh với cùng mục đích là tiến hành công tác tư tưởng, giáo dục tinh thần binh sĩ... Trong các quân chủng của quân đội Mỹ đều có cơ quan tương tự. 

Vì lẽ đó, “dân sự hóa” hay “quốc gia hóa” quân đội chỉ là hình thức chứ không làm thay đổi bản chất quân đội phục vụ giai cấp thống trị. Trong nhà nước tư sản, quyền lực vẫn thuộc về giai cấp tư sản, nên quân đội-dù được tuyên bố “trung lập”-vẫn phục vụ cho lợi ích của họ. Việc thay nhau cầm quyền giữa các đảng ở Mỹ chỉ thay đổi đường lối quản trị chứ không làm thay đổi chế độ chính trị đã được Hiến pháp quy định. Các chính đảng ở Mỹ vẫn can dự mạnh mẽ vào cả lập pháp, hành pháp và tư pháp trong lĩnh vực quân sự. Minh chứng là trong lịch sử Mỹ, ngoại trừ Tổng thống đầu tiên George Washington không thuộc đảng phái nào, các tổng thống còn lại đều đại diện cho các đảng phái chính trị và thực thi đường lối của đảng mình khi đắc cử. Việc Mỹ và một số nước quy định Bộ trưởng Quốc phòng phải là người dân sự chỉ là sử dụng quan chức dân sự thực hiện quản lý nhà nước đối với lĩnh vực quân sự. Đây không có nghĩa là “dân sự hóa” quân đội và càng không phải tách quân đội khỏi chính trị. Hơn nữa, quy định này cũng không được áp dụng tuyệt đối, vì vẫn có những cựu quân nhân chưa đủ thời gian xuất ngũ theo luật nhưng vẫn được bổ nhiệm làm Bộ trưởng Quốc phòng (năm 1950, 2017).

Thực tế đời sống chính trị ở một số quốc gia trong khu vực cũng cho thấy, chính phủ và các đảng phái đều tìm cách tranh thủ sự ủng hộ và hậu thuẫn về mặt chính trị từ quân đội. Trong nhiều cuộc đảo chính, lực lượng nào kiểm soát hoặc được quân đội ủng hộ thường chiếm ưu thế quyết định trong việc nắm quyền.

Trung Quốc ứng phó với các thủ đoạn thúc đẩy “dân sự hóa” quân đội

Trao đổi với phóng viên Báo Quân đội nhân dân, GS, TS Thành Hán Bình, Viện trưởng Viện Nghiên cứu Khu vực và Quốc gia kiêm Giám đốc Trung tâm Nghiên cứu Việt Nam, Đại học Công nghiệp Chiết Giang (Trung Quốc), cho biết mặc dù chỉ tác động ở mức độ nhỏ, trào lưu tư tưởng sai lệch đó vẫn từng tồn tại nhất định trong xã hội Trung Quốc và tiềm ẩn nhiều nguy cơ phải cảnh giác. Một số trí thức thường dẫn chứng mô hình của các nước phương Tây để ca ngợi “lợi ích” của cái gọi là “quốc gia hóa quân đội”. Họ lợi dụng các hội thảo, mạng xã hội, diễn đàn và bài viết để tuyên truyền, đánh tráo khái niệm, gây nhiễu loạn nhận thức dư luận. Một số trí thức từng du học nước ngoài càng tích cực cổ xúy cho luận điệu này.     

Theo Đại tá, ThS Vũ Văn Khanh, nguyên Trưởng ban Quốc tế, Viện Chiến lược và Lịch sử quốc phòng Việt Nam, các thủ đoạn chống phá đối với quân đội Trung Quốc tập trung vào một số lĩnh vực then chốt, như: Xuyên tạc tổ chức, biên chế quân đội, với luận điệu cho rằng mô hình hiện nay “cồng kềnh, lạc hậu” và có thể được thay thế bằng các lực lượng dân sự. Dưới vỏ bọc “cải cách quân đội” hay “tinh gọn biên chế”, chúng tài trợ các nghiên cứu, hội thảo quốc tế để hợp thức hóa quan điểm “giảm vai trò quân đội thường trực”, từng bước tác động vào nhận thức và tạo nền tảng lý luận cho âm mưu dân sự hóa. Đồng thời, chúng lợi dụng những hạn chế, sự cố trong huấn luyện và quản lý để chỉ trích mô hình tổ chức quân đội, kêu gọi “tách quân đội khỏi hệ thống chính trị”. Các thế lực thù địch khoét sâu vấn đề ngân sách, thổi phồng “chi phí quân sự” nhằm gây sức ép cắt giảm nguồn lực, tư nhân hóa các chức năng then chốt và làm gia tăng sự phụ thuộc vào chuỗi cung ứng bên ngoài.

Đặc biệt, chúng tiến công vào hệ thống tư pháp quân đội Trung Quốc bằng cách khai thác sai phạm nội bộ, rò rỉ tài liệu, vận động các cơ chế quốc tế chất vấn tính hợp pháp của hoạt động tố tụng, từ đó làm suy giảm uy tín và quyền tự chủ tư pháp quân đội. Cùng với đó, chúng thúc đẩy cơ chế giám sát dân sự, đề xuất chuyển một số thẩm quyền xử lý sang hệ thống tư pháp dân sự hoặc quốc tế, nhằm từng bước làm xói mòn tính đặc thù và vai trò của quân đội trong lĩnh vực quốc phòng, an ninh (đây là âm mưu thâm độc đang được kẻ thù thúc đẩy ở Việt Nam và nhiều nước khác).

Mục tiêu của những hoạt động chống phá này là xóa bỏ vai trò lãnh đạo tuyệt đối của Đảng Cộng sản Trung Quốc đối với quân đội; làm suy yếu bản chất chính trị, tư tưởng và tính giai cấp của lực lượng vũ trang; từng bước biến quân đội thành lực lượng “phi chính trị”, “trung lập”, chỉ phục vụ lợi ích quốc gia theo quan điểm phương Tây; qua đó làm suy giảm sức mạnh chính trị, khả năng chiến đấu và ổn định chế độ xã hội chủ nghĩa ở Trung Quốc.

Trung Quốc coi các luận điểm như “quân đội quốc gia hóa”, “quân đội dân sự hóa” là mối đe dọa trực tiếp tới sự ổn định chính trị và sức mạnh quân đội. Dù thúc đẩy kết hợp quân sự-dân sự, nước này khẳng định đây không phải là việc thay thế quân đội bằng lực lượng quần chúng mà là phát huy sức mạnh toàn xã hội trên nền tảng một quân đội chính quy, chuyên nghiệp, đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng. Đồng thời, Trung Quốc triển khai các biện pháp đồng bộ về chính trị, pháp lý, kinh tế, truyền thông và công nghệ nhằm bảo đảm quân đội luôn trung thành tuyệt đối với Đảng và không bị tác động bởi xu hướng “dân sự hóa”, “phi chính trị hóa”.

Bản chất chính trị của quân đội và những luận điệu cần bác bỏ từ thực tiễn Việt Nam

Nhà lý luận quân sự nổi tiếng của nước Phổ (nay là Cộng hòa Liên bang Đức) thế kỷ 19 Clausewitz từng nêu luận điểm được thừa nhận như một chân lý trong cả khoa học quân sự tư sản lẫn vô sản: “Chiến tranh là sự kế tục của chính trị bằng những biện pháp khác”. Thừa nhận bản chất chính trị của chiến tranh, tất yếu phải thấy rằng không có quân đội nào “đứng ngoài chính trị” hay “không liên quan đến chính trị”. Mọi cuộc chiến tranh đều nhằm đạt mục tiêu chính trị nhất định; quân đội của các bên tham chiến đều do lực lượng cầm quyền tổ chức, giáo dục và sử dụng để thực hiện mục tiêu đó.

Vì vậy, xây dựng quân đội về chính trị là yêu cầu khách quan, tồn tại ở mọi loại hình quân đội. Điểm khác nhau nằm ở cách đặt vị trí của xây dựng chính trị trong tổng thể xây dựng quân đội-đặc biệt là so với hiện đại hóa vũ khí, trang bị-và mức độ công khai bản chất cũng như nội dung giáo dục chính trị.

Lý luận của Chủ nghĩa Mác-Lênin và thực tiễn lịch sử đều khẳng định: Quân đội của bất kỳ quốc gia nào cũng do giai cấp nắm quyền lãnh đạo tổ chức nên, là công cụ bạo lực bảo vệ lợi ích và vị thế của giai cấp đó. Tính chất của nhà nước như thế nào thì quân đội-lực lượng bảo vệ nhà nước-mang bản chất tương ứng đến đó.    

Quân đội nhân dân Việt Nam do Đảng Cộng sản Việt Nam tổ chức và lãnh đạo, ra đời trước khi chính quyền cách mạng được thiết lập. Chính vì vậy, sự lãnh đạo của Đảng không chỉ là nguyên tắc căn bản đã được hiến định mà còn là nhân tố quyết định bản chất giai cấp, mục tiêu chiến đấu và chiến thắng của Quân đội. Vì vậy, sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng và sự trung thành tuyệt đối của Quân đội với Đảng là mối quan hệ biện chứng, thống nhất, không thể tách rời.   

Từ lịch sử dựng nước và giữ nước, cha ông ta luôn coi trọng xây dựng Quân đội tinh nhuệ, “quý hồ tinh bất quý hồ đa”. Chủ nghĩa Mác-Lênin cũng khẳng định giai cấp vô sản muốn bảo vệ thành quả cách mạng và xây dựng xã hội mới phải có quân đội đủ mạnh, thường xuyên được nâng cao sức chiến đấu để trở thành thành trì vững chắc trước mọi âm mưu xâm lược. Yêu cầu bảo vệ Tổ quốc trong bối cảnh tình hình thế giới, khu vực phức tạp hiện nay, tăng cường tiềm lực quốc phòng và hiện đại hóa Quân đội để tự vệ chính đáng và giữ gìn hòa bình là nhiệm vụ cấp thiết. Đây không phải là điều “không cần thiết”, “lãng phí” hay “gây ảnh hưởng đến đời sống nhân dân” như luận điệu chống phá. Trái lại, điều này thể hiện tầm nhìn chiến lược của Đảng và Nhà nước; điều kiện, khả năng và đồng thuận xã hội trong mục tiêu xây dựng Quân đội hiện đại. Mặt khác, đặt trong mối quan hệ giữa “xây dựng” và “bảo vệ”, môi trường hòa bình, ổn định chính là điều kiện tiên quyết để phát triển kinh tế, xã hội, xem nhẹ đầu tư cho quốc phòng đồng nghĩa với việc hạ thấp nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc. Là lực lượng nòng cốt bảo vệ Tổ quốc, Quân đội nhất thiết phải được đầu tư tương xứng để bảo đảm sức mạnh, khả năng hoàn thành nhiệm vụ. Hơn nữa, chủ trương đầu tư hiện đại hóa Quân đội được Đảng, Nhà nước tính toán kỹ lưỡng, phù hợp. Quân đội phát huy nội lực, sử dụng ngân sách hiệu quả cho nhiệm vụ này.

Đánh đồng hoạt động quân sự với hoạt động chuyên môn của cơ quan dân sự thuần túy, từ đó đòi “công khai hoạt động quân sự như dân sự”, là sự đánh tráo về bản chất giữa hai loại hình tổ chức hoàn toàn khác nhau. Quân đội là lực lượng vũ trang của Nhà nước, bảo vệ Tổ quốc bằng sức mạnh vũ lực-lĩnh vực đặc biệt nhạy cảm, liên quan trực tiếp đến an ninh, chủ quyền và sự tồn vong quốc gia. Các hoạt động của Quân đội, từ huấn luyện, bố trí lực lượng đến xây dựng kế hoạch tác chiến... đều mang tính bí mật, không thể và không bao giờ được công khai như hoạt động dân sự. Thông lệ quốc tế và nhiều bộ luật đều xác lập rõ nguyên tắc bảo mật trong lĩnh vực quốc phòng, bởi chỉ cần để lộ một phần nhỏ thông tin cũng có thể tạo ra nguy cơ chiến lược. Việc đòi hỏi Quân đội vận hành “công khai” như cơ quan dân sự thực chất không phải để tăng minh bạch mà nhằm vô hiệu hóa cơ chế phòng thủ, làm suy giảm sức mạnh răn đe, phá vỡ tính kỷ luật, bí mật quân sự.   

Một kiểu đánh đồng khác là quy chụp việc Quân đội tham gia lao động sản xuất là “làm kinh tế thuần túy”. Cần thấy rằng, “vừa chiến đấu, vừa sản xuất”, trong đó chiến đấu là nhiệm vụ trung tâm; lao động, sản xuất là nhiệm vụ quan trọng nhằm góp phần phát triển kinh tế, giảm gánh nặng cho nhân dân và tăng cường tiềm lực quốc phòng, là chức năng, truyền thống của Quân đội ta. Chỉ nói “Quân đội làm kinh tế” không thôi, rồi đánh đồng với các tổ chức kinh tế dân sự khác là không phản ánh đầy đủ bản chất của hoạt động này. Quân đội tham gia lao động sản xuất trước hết phục vụ quốc phòng, đồng thời đóng góp cho phát triển kinh tế-xã hội của đất nước. Hiệu quả của các đoàn kinh tế-quốc phòng trong tạo sinh kế, xóa đói, giảm nghèo, ổn định dân cư; các doanh nghiệp Quân đội sản xuất các sản phẩm lưỡng dụng phục vụ quốc phòng và dân sinh... là minh chứng rõ nét cho điều này./.
Ảnh: Khối nữ chiến sĩ Thông tin tham gia nhiệm vụ A80.
(còn nữa)
Môi trường ST.

“DÂN SỰ HÓA” QUÂN ĐỘI - MŨI TÊN ĐỘC TRONG CHIẾN LƯỢC “DIỄN biến HÒA BÌNH”!

BÀI 1: BẢN CHẤT, ÂM MƯU VÀ NHỮNG NGUY CƠ ĐỐI VỚI VIỆT NAM!

     Thời gian qua, các thế lực thù địch đẩy mạnh chống phá cách mạng Việt Nam trên nhiều phương diện, trong đó Quân đội luôn là mục tiêu trọng điểm. Một trong những mũi tiến công nguy hiểm nhất là luận điệu đòi “dân sự hóa” quân đội với những thủ đoạn tinh vi, nham hiểm. Đáng lo ngại là nhận thức về vấn đề này trong một bộ phận cán bộ, đảng viên và nhân dân còn hạn chế, dẫn đến nguy cơ “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” từ bên trong. Vì vậy, việc kịp thời nhận diện, phê phán sự phi lý, phản động của quan điểm này là nhiệm vụ cấp thiết trong nhiệm vụ xây dựng Quân đội, củng cố quốc phòng hiện nay.

Bản chất “dân sự hóa” quân đội

Theo Thiếu tướng, PGS, TS Nguyễn Bá Dương, Ủy viên Hội đồng Lý luận Trung ương: “Dân sự hóa” quân đội là thuật ngữ dùng để chỉ xu hướng chuyển hóa quân đội từ lực lượng vũ trang mang chức năng chính trị - quân sự đặc thù sang mô hình tương tự tổ chức dân sự, thông qua việc làm giảm vai trò, mục tiêu, lý tưởng chiến đấu của quân đội, tách quân đội ra khỏi sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản; coi quân đội như một thiết chế trung lập trong đời sống xã hội; chỉ tuân theo pháp luật, không tuân theo sự lãnh đạo của Đảng.

Thực chất, nội dung cốt lõi của “dân sự hóa” quân đội bao gồm các quá trình: Thay đổi chức năng quân sự sang chức năng và mục tiêu dân sự hoặc phi quân sự, phi vũ trang, chịu sự kiểm soát, quản lý của tổ chức dân sự. Giảm hoặc loại bỏ tính chính trị và sự lãnh đạo của chủ thể cầm quyền là Đảng Cộng sản, người chỉ huy cao nhất trong quân đội là dân sự, không phải là tướng lĩnh. Phi trung tâm hóa cơ chế chỉ huy, kỷ luật và quản lý quân đội, chẳng hạn biến bộ tổng tham mưu như một tổ chức xã hội, phủ nhận vai trò của cơ quan chính trị và cán bộ chính trị các cấp. Đồng nhất quân đội với tổ chức dân sự về vị trí, vai trò và tính chất hoạt động; đòi công khai các hoạt động quân sự như dân sự. Biến đổi mục tiêu sử dụng lực lượng từ bảo vệ quốc gia sang phục vụ lợi ích phi quốc phòng.

Trên thế giới, quan điểm “dân sự hóa” hay “quốc gia hóa” quân đội, “quân đội trung lập”, “đứng ngoài chính trị” thường xuất hiện ở các nước có chế độ đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập. Để tránh quân đội can dự vào các tranh chấp chính trị, các nhà nước tư sản quy định quân đội phải “đứng trên đảng phái”, "đứng ngoài đảng phái", chịu sự chỉ huy trực tiếp của nguyên thủ quốc gia mà không chịu sự lãnh đạo hay chi phối của bất kỳ đảng phái nào. Ở mỗi nước, cách thức thực hiện và nội hàm cụ thể của vấn đề “dân sự hóa” quân đội có sự khác biệt, nhưng điểm chung là khẳng định quân đội phải là lực lượng vũ trang của quốc gia, phục vụ lợi ích đất nước.

Dựa trên “học thuyết phân quyền”, giới lập pháp ở nhiều nước đã ban hành hàng loạt đạo luật với kỳ vọng tách bạch quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp trong quản lý nhà nước về quân sự, quốc phòng. Trên cơ sở đó, họ tin rằng chế định “dân sự quản lý quân sự” được luật hóa sẽ bảo đảm mọi vấn đề của quân đội đều do lực lượng dân sự quyết định, không liên quan tới bất kỳ đảng phái hay thiết chế quân sự nào.

Ở các nước đi theo con đường xã hội chủ nghĩa, nhà nước mang bản chất giai cấp công nhân, đại diện lợi ích của giai cấp và của nhân dân lao động. Vì vậy, quân đội được lãnh đạo trực tiếp bởi đảng của giai cấp công nhân. Chính điều này khiến các nước tư bản lo ngại và tìm cách làm suy yếu vai trò lãnh đạo ấy bằng cách cổ xúy luận điệu “dân sự hóa” quân đội nhằm tách quân đội khỏi sự lãnh đạo của Đảng.

Đối với Việt Nam, đây là một chiêu bài trong chiến lược “diễn biến hòa bình” kết hợp thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” của các thế lực thù địch nhằm chống phá Đảng, Nhà nước và Quân đội ta. Thực chất của luận điệu này nhằm xóa bỏ sự lãnh đạo của Đảng đối với Quân đội. Về chính trị, chúng phủ nhận vai trò của các tổ chức đảng, đường lối lãnh đạo của Đảng đối với Quân đội. Về pháp lý-tổ chức, chúng xuyên tạc rằng Quân đội là công cụ của toàn xã hội, “sự tồn tại của Quân đội là cần thiết để bảo đảm cho hoạt động bình thường của bất kỳ hệ thống xã hội nào. Vì vậy, Quân đội là tổ chức đứng ngoài xã hội và không mang bản chất giai cấp; là lực lượng vũ trang “trung lập về chính trị”, chỉ chịu sự quản lý của các thiết chế dân sự và phải được “dân sự hóa” triệt để.

Mục tiêu của các thế lực thù địch là gây nhiễu loạn nhận thức, lung lạc ý chí, tinh thần của cán bộ, chiến sĩ; làm sai lệch mục tiêu xây dựng và chiến đấu, tạo ra sự hoài nghi về chức năng, bản chất và vai trò của Quân đội ta; nhạt hóa niềm tin của cán bộ, đảng viên và nhân dân vào sự lãnh đạo của Đảng đối với Quân đội. Xa hơn là tách Quân đội ra khỏi sự lãnh đạo của Đảng, khiến Quân đội phai nhạt bản chất cách mạng và suy giảm sức mạnh chiến đấu bảo vệ Đảng, Tổ quốc và nhân dân để dễ bề can thiệp, thay đổi chế độ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam.

Âm mưu, thủ đoạn “dân sự hóa” quân đội

“Quân đội nhân dân Việt Nam là quân đội của dân, do dân, vì dân”, cho nên các thế lực thù địch lợi dụng vào đó để ngụy biện rằng Quân đội chỉ có nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc, Quân đội phải phụng sự nhân dân, do nhân dân chỉ huy, quản lý; Quân đội không phụ thuộc vào một đảng phái nào mà là của chung nhân dân, dân tộc. Chúng còn đưa ra những yêu sách phi lý như đòi công khai toàn bộ vấn đề quân sự, quốc phòng, ngân sách quốc phòng; đòi nhân dân được giám sát và quyết định các vấn đề quân sự; xuyên tạc chủ trương hiện đại hóa Quân đội, bóp méo chức năng và nhiệm vụ xây dựng kinh tế-quốc phòng của Quân đội. Chúng tìm cách gieo rắc lối sống thực dụng, đề cao cá nhân, coi thường kỷ luật, thờ ơ chính trị nhằm từng bước làm phai nhạt lý tưởng và phẩm chất Bộ đội Cụ Hồ để dễ bề thúc đẩy “tự chuyển hóa” từ bên trong...

Để hiện thực hóa âm mưu đó, các thế lực thù địch đẩy mạnh những thủ đoạn tinh vi, thâm hiểm.

Trước hết, chúng tấn công trực diện vào đường lối quân sự, quốc phòng của Đảng, bóp méo cơ chế Đảng lãnh đạo Quân đội.

Dưới chiêu bài “quân đội quốc gia”, “quân đội phục tùng hiến pháp”, các thế lực thù địch đòi xóa bỏ hệ thống tổ chức đảng, đội ngũ cán bộ làm công tác Đảng, công tác chính trị trong Quân đội. Từ đó, chúng đòi “trao quyền kiểm soát Quân đội” thuần túy cho Quốc hội, Chính phủ như mô hình quân đội các nước tư sản. Chúng còn dẫn chứng những hiện tượng “bề ngoài” để biện hộ cho quan điểm “dân sự hóa quân đội” và “khuyên răn” Việt Nam làm theo, như: Bộ trưởng quốc phòng nhiều nước không phải quân nhân; áp dụng thuyết “tam quyền phân lập”, một số nước đã ban hành luật thể hiện “dân sự quản lý quân sự”, quân đội tách ra khỏi sự ảnh hưởng, chi phối của đảng phái... Để tạo sự mơ hồ, dễ bề chuyển hóa khái niệm này, chúng ra sức tô hồng mô hình quân đội các nước tư sản mà bỏ qua một thực tế rõ ràng ở những nước này, các chính đảng nắm quyền vẫn thông qua người của đảng mình nắm giữ vị trí chủ chốt trong hệ thống chính quyền, chi phối lập pháp, hành pháp, tư pháp và chính sách quân sự, quốc phòng.  

Thứ hai, cố tình bóp méo chức năng và nhiệm vụ xây dựng kinh tế gắn với quốc phòng của Quân đội.

Bằng những lập luận phiến diện, đánh tráo khái niệm, các thế lực thù địch quy chụp nhiệm vụ tham gia lao động sản xuất, phát triển kinh tế gắn với quốc phòng thành “làm kinh tế thuần túy”, rồi từ đó vu cáo Quân đội “lợi ích nhóm”, “đặc quyền đặc lợi” (?!) Từ đó, chúng phủ nhận những đóng góp quan trọng của Quân đội trong lĩnh vực kinh tế, rêu rao rằng Quân đội đã “đánh mất bản chất cách mạng”, bị “tha hóa bởi kinh tế thị trường” nhằm gieo rắc tâm lý nghi ngờ, phá hoại niềm tin của nhân dân đối với Quân đội.   

Thứ ba, trên lĩnh vực tư tưởng-văn hóa, các thế lực thù địch tìm cách cổ xúy lối sống thực dụng, đề cao cá nhân, thiếu trách nhiệm, xem nhẹ kỷ luật, xa rời mục tiêu, lý tưởng, nhằm từng bước làm phai nhạt lý tưởng và phẩm chất Bộ đội Cụ Hồ. Đây là thủ đoạn đặc biệt nguy hiểm, bởi nó tác động trực tiếp đến nền tảng tinh thần của cán bộ, chiến sĩ. Một khi những biểu hiện này len lỏi vào đời sống quân nhân sẽ là mảnh đất màu mỡ cho mầm mống “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” hình thành; đồng thời tạo điều kiện để các tư tưởng thù địch thâm nhập và từng bước phá vỡ sự trong sạch, vững mạnh của Quân đội.

Thứ tư, đối với chủ trương xây dựng Quân đội cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại, các thế lực thù địch cố tình xuyên tạc rằng đây là khoản đầu tư “lãng phí”, rằng thời bình và để “chống chạy đua vũ trang”, Việt Nam mở rộng đối ngoại, hợp tác quốc tế không còn nguy cơ xung đột, chiến tranh nên không cần hiện đại hóa Quân đội. Dưới chiêu bài “dân chủ”, chúng đòi đưa các vấn đề quân sự, quốc phòng ra bàn luận công khai để nhân dân giám sát và quyết định. Nhằm gieo rắc hoài nghi và chia rẽ trong xã hội, chúng xuyên tạc rằng ngân sách quốc phòng “quá cao” so với nhiều lĩnh vực dân sinh; phủ nhận tính đặc thù của hoạt động quân sự, đánh đồng Quân đội với một cơ quan hành chính thông thường, biến việc quân sự thành việc của dân sự. Từ đó, chúng kêu gọi cắt giảm ngân sách quốc phòng để “tiết kiệm nguồn lực đầu tư cho phát triển” hoặc huy động đơn thuần các nguồn lực xã hội để thực hiện nhiệm vụ quốc phòng, an ninh với đề xuất “dân sự hóa hoạt động quân sự”.

Về phương thức, không gian mạng là “mũi tiến công mềm” được các thế lực thù địch khai thác triệt để. Chúng tung tin giả, cắt ghép hình ảnh xuyên tạc về Quân đội; tạo lập tài khoản ảo, tán phát “thư ngỏ”, “kiến nghị”, “tâm thư” với giọng điệu giả danh trí thức để gây nhiễu loạn nhận thức, thao túng dư luận. Mỗi sự cố nhỏ đều bị thổi phồng nhằm gây chia rẽ nội bộ, kích động bất mãn, hạ thấp hình ảnh Quân đội trong mắt nhân dân. Chúng xuyên tạc việc cán bộ, chiến sĩ thực hiện nhiệm vụ phòng, chống thiên tai, cứu hộ, cứu nạn là “diễn”, rằng “tại sao phải mặc quân phục khi giúp đỡ nhân dân, giúp hay chỉ làm màu, khoe mẽ”... 

Về lực lượng, các thế lực thù địch móc nối với các phần tử cơ hội, tổ chức phản động trong và ngoài nước, được các kênh truyền thông chống phá như BBC, VOA, RFA... "hà hơi, tiếp sức", lôi kéo những người có nhận thức lệch lạc và một bộ phận cư dân mạng dễ bị kích động để lan truyền tin giả, thông tin độc hại. 

Nguy cơ “tự diễn biến” từ vấn đề “dân sự hóa” quân đội

Những âm mưu, thủ đoạn trên nếu không bị đấu tranh và loại bỏ, hậu quả sẽ vô cùng nghiêm trọng. Nó thẩm thấu, làm suy yếu từ bên trong đối với vai trò của tổ chức đảng; dẫn đến khoảng trống ý thức hệ, tạo điều kiện cho chủ nghĩa thực dụng, cá nhân chủ nghĩa thâm nhập; bào mòn bản chất giai cấp công nhân, tính nhân dân, tính dân tộc của Quân đội; hạ thấp hình ảnh Bộ đội Cụ Hồ, giảm sút uy tín và niềm tin của Quân đội trong lòng nhân dân.

Một số người chỉ nhìn thấy lợi ích kinh tế trước mắt mà xem nhẹ nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc; đánh đồng Quân đội với cơ quan dân sự về giờ giấc, chế độ đãi ngộ, rồi thổi phồng trên mạng xã hội, tạo thành những luồng dư luận nhiễu loạn, tác động tiêu cực tới tâm lý xã hội.

Từ sự hời hợt trong nhận thức đến thái độ phủ nhận vai trò, chức năng đội quân chiến đấu chỉ cách nhau một bước nhỏ. Và chính sự lệch lạc này trở thành mảnh đất cho “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”: Giảm niềm tin vào Đảng và con đường xã hội chủ nghĩa; phai nhạt mục tiêu, lý tưởng chiến đấu; coi Quân đội như “nghề công chức vũ trang”, không phải lực lượng chính trị, lực lượng chiến đấu của Đảng. Bài học về sự tan rã của Liên Xô đến nay vẫn còn nguyên giá trị. Khi đó, 5 triệu quân nhân Liên Xô đã hoàn toàn thất thủ trước âm mưu “phi chính trị hóa” của kẻ thù, khoanh tay đứng nhìn nhà nước Xô viết-chính thể sinh ra mình sụp đổ. Hay gần đây, sự sụp đổ của chính phủ nhiều nước Bắc Phi-Trung Đông trước sức ép của các cuộc bạo loạn chính trị mang tên “Mùa xuân Arab” cũng có nguyên nhân từ việc mất kiểm soát đối với quân đội.

Một biểu hiện đáng lo ngại của “tự diễn biến” hiện nay là tình trạng một bộ phận cán bộ, đảng viên và quần chúng chưa nhận thức đầy đủ về tầm quan trọng của nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc. Không ít người đánh giá hời hợt, thậm chí giản đơn những biến động nhanh chóng, phức tạp của môi trường an ninh thế giới và khu vực, nơi các nguy cơ xung đột, tranh chấp chủ quyền và cạnh tranh chiến lược luôn tiềm ẩn cả nguy hại trực tiếp lẫn lâu dài. Nhận thức lệch lạc ấy dẫn tới thái độ xem nhẹ vai trò của Quân đội là lực lượng nòng cốt trong sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc. Trong bối cảnh ấy, những “kiến nghị” đòi cắt giảm quân số, giảm ngân sách quốc phòng để dành nguồn lực cho phát triển kinh tế không chỉ đi ngược xu thế chung của thế giới mà còn mâu thuẫn với yêu cầu củng cố sức mạnh quốc phòng, an ninh của đất nước.

Trong bối cảnh nhiệm vụ quân sự ngày càng nặng nề và tác động phức tạp của đời sống xã hội hiện đại, quân nhân nếu không kiên định lập trường, kém tu dưỡng rèn luyện, sẽ bị cuốn vào lối sống thực dụng, hưởng thụ, từ đó từng bước dẫn đến “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”. Các doanh nghiệp, bên cạnh thực hiện tốt nhiệm vụ xây dựng kinh tế, không nên xem nhẹ vấn đề kỷ luật, duy trì môi trường rèn luyện và tu dưỡng phẩm chất của quân nhân. Bởi nếu tư duy kinh tế lấn át tư duy quân sự, kỷ luật dễ bị buông lỏng, hoạt động của doanh nghiệp dễ rơi vào xu hướng “dân sự hóa”. Điều này tạo nguy cơ khiến cán bộ, nhân viên dễ bị tác động bởi cám dỗ vật chất, sa sút trách nhiệm, thiếu rèn luyện, dẫn đến “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong tư tưởng và hành động./.
Ảnh: Khối xe - pháo quân sự của Quân đội nhân dân Việt Nam tại Lễ kỷ niệm, diễu binh, diễu hành 80 năm Quốc khánh 2-9.
(còn nữa)
Môi trường ST.