Thứ Bảy, 3 tháng 1, 2026

TÌM HIỂU GIÚP BẠN: TỰ CHỦ CHIẾN LƯỢC VIỆT NAM HÙNG CƯỜNG!

     Đất nước trước thềm Xuân Bính Ngọ 2026 nhìn tới Xuân Canh Ngọ 2050! Sau 80 năm lập nên Nhà nước cách mạng và 40 năm đổi mới, dưới ngọn cờ của Đảng, Việt Nam đặt nền móng căn bản và rất quan trọng để trở thành một quốc gia phát triển trong 25 năm tới, xứng đáng đứng trong đội ngũ các quốc gia phát triển của hoàn cầu thế kỷ thứ XXI.

Đó là một con đường dài, gập ghềnh, khó khăn và đầy thách thức. Song, đó là nhu cầu phát triển của đất nước, là khát vọng của Nhân dân và danh dự quốc gia trong tầm nhìn 2050.

Trên lộ trình tiến tới Đại hội lần thứ XIV, Đảng ta sẽ xác quyết những đại sự của kỷ nguyên phát triển đất nước phú cường, trên nền tảng tự chủ chiến lược.

25 năm tới, dân tộc tự chủ kiến tạo và phát triển Việt Nam phú cường. Đó là mệnh lệnh lịch sử quốc gia mang tầm thời đại.

Thay vì dự báo tương lai, chúng ta kiến tạo tương lai!

Vì thế, trong định vị tương lai đất nước, đòi hỏi về tầm nhìn xa rộng, khả năng kiến tạo và phát triển hệ giá trị quốc gia, về hoạch định định chế và thực thi quyết sách chính trị nhằm tạo ra sự bứt phá với gia tốc mới một cách mạnh mẽ, tạo nên thành tựu phi thường trong những thập kỷ tới, không thể không giữ vững và sáng tạo tự chủ chiến lược.

Nói một cách khái quát, tự chủ chiến lược là khả năng và nghệ thuật cân bằng động vị thế đất nước, thực lực quốc gia (sức mạnh, nguồn lực trực tiếp và dự trữ nguồn lực chiến lược toàn diện), không gian phát triển cứng và mềm; đồng thời, tiên liệu, chủ động khắc chế hiệu quả những hệ luỵ phản phát triển từ bên trong và bên ngoài phù hợp với thời cơ, thách thức trong sự vận động của thời đại nhằm phát triển đất nước đúng hướng, mạnh mẽ, bền vững, nhân văn; không rơi vào bị động chiến lược, bảo đảm quốc gia chủ động nhịp bước cùng thế giới ngày nay.

Tầm nhìn chiến lược

Việt Nam không thể bước vào thế kỷ XXI bằng mô hình thế kỷ XX, mà phải kiến tạo một tầm nhìn mới, động lực mới và hệ giá trị mới.

Đó là một sự chuyển hóa căn cơ về tư duy, mô thức phát triển và cấu trúc xã hội nhằm xây dựng một Việt Nam phú cường trong một thế giới mới. Từ địa chính trị, địa kinh tế, địa văn hóa và từ 80 năm Nhà nước cách mạng Việt Nam, đặc biệt thực tiễn, sức mạnh của 40 năm đổi mới, trong bối cảnh thế giới hiện nay, có thể dự báo và phác thảo tầm viễn kiến chiến lược kiến tạo tương lai Việt Nam.

Thứ nhất, tầm nhìn dân tộc. Việt Nam phải trở thành một dân tộc văn hiến, trí tuệ, tự chủ và sánh vai các cường quốc - một sứ mệnh được xác lập ngay trong tinh thần Đại hội VI (1986) và ngày càng cụ thể hóa về tầm nhìn, quyết sách và cương lĩnh hành động trên mỗi chặng đường trong thời kỳ đổi mới, với tâm thế tự vượt lên chính mình trong thế kỷ XXI.

Thứ hai, tầm nhìn quốc gia. Việt Nam không thể là quốc gia tiệm tiến mà phải là quốc gia kiến tạo, dấn thân, đột phá, phát triển mạnh mẽ, bền vững, nhân văn, nhịp bước cùng thời đại. Việt Nam phải là một trung tâm trí tuệ - văn hóa - kinh tế xanh - xã hội nhân văn ở khu vực Đông Nam Á, là điểm tựa hòa bình - phát triển - hội nhập bền vững của thế giới.

Thứ ba, tầm nhìn quốc tế: Có thể hình dung một cách hình ảnh, đó là hệ thống tư tưởng - lý luận - hành động như một “bản đồ chiến lược” đưa Việt Nam tới năm 2045, hình thành một học thuyết phát triển mang bản sắc Việt Nam, một hệ giá trị quốc gia hài hòa giữa tính dân tộc - khoa học - hiện đại - nhân văn và có khả năng tham gia định hướng, phát triển thời đại.

Nói khái quát, đó là Việt Nam phú cường bản sắc hóa - hiện đại hóa - toàn cầu hóa.

Thực tiễn xác tín, ý tưởng định hình dòng chảy lịch sử dân tộc phải là ưu tiên trước hết. Nhưng, ý tưởng, xét cho tới cùng là nghệ thuật tạo thời cơ, nắm thời cơ, khắc chế nguy cơ và phương thức tổ chức lực lượng. Đó cũng là tư chất của dân tộc Việt Nam dựng nước và giữ nước mấy nghìn năm qua. Sự kết hợp của hai thứ đó, kỳ vọng sẽ kiến tạo và phát triển kỷ nguyên phú cường.

Một là, phát triển một dân tộc kiêu hãnh. Định vị chiến lược đất nước từ yêu cầu phát triển của tương lai, không thể đơn giản chỉ từ vị thế kéo dài của quá khứ. Đây là một thách thức kép: một mặt đang đến từ tương lai và mặt khác thách thức là nguy cơ của quá khứ và từ bên ngoài. Dân tộc Việt Nam hơn 100 triệu người dù ở trong nước hay ở nước ngoài phải kiến thiết một quốc gia phú cường, không chỉ giàu có về vật chất mà còn hùng mạnh về trí tuệ, bản lĩnh và văn hóa; phát triển toàn diện, có chiều sâu, mang bản sắc riêng, không lệ thuộc.

Từ tự chủ chiến lược chúng ta kiên định đi tới tương lai.

Hai là, kiến tạo mô hình quốc gia phú cường. Dự báo nhịp sóng phát triển thứ tư sẽ tròn 25 năm từ 2025 - 2050. Nếu giai đoạn 30 năm đổi mới từ 1986 - 2025 là sự thức dậy về tư duy, đổi mới về cơ chế, chủ động trong hội nhập toàn cầu, thì giai đoạn 25 năm đổi mới tiếp theo tới năm 2050 sẽ được định hình bởi những cố gắng phi thường của cả dân tộc. Đó là một quốc gia tự chủ phát triển: hiện đại - dân chủ - nhân văn - tự cường - bản sắc; đồng thời, là trung tâm kết nối trí tuệ - văn hóa - kinh tế - chính trị trong khu vực Đông Nam Á và có khả năng tham gia kiến tạo và ảnh hưởng tích cực trong đời sống thế giới.

Nói một cách hình ảnh, dân tộc đột phá đổi mới tư duy, mở tầm viễn kiến, tự chủ chiến lược, trỗi dậy toàn diện, đồng bộ sức mạnh dân tộc kết hợp sức mạnh thời đại xây dựng nền tảng cho một xã hội phồn vinh và hạnh phúc, với khát vọng đưa Việt Nam trở thành một quốc gia phú cường, giữ vị thế xứng đáng trong cộng đồng quốc tế.

Hệ mục tiêu chiến lược phát triển quốc gia

Định vị và phát triển hệ giá trị Việt Nam trong hệ giá trị toàn cầu và hệ tri thức số hóa quốc tế nhằm xây dựng Việt Nam độc lập - tự chủ - tự cường - khai phóng: sâu sắc về lý tưởng - hùng mạnh về kinh tế - giàu văn hóa bản sắc - bền vững về hệ giá trị trong một thế giới đầy đa dạng, thống nhất nhưng tiềm tàng, ẩn chứa không ít bất định.

Từ thực tiễn 40 năm đổi mới, trong 25 năm tới, có thể xác lập mục tiêu phát triển chiến lược Việt Nam phú cường:

Một là: Độc lập dân tộc - Tự chủ chiến lược - Tự lập toàn vẹn - Tự tôn chính đáng - Tự cường bền vững. Tự quyết chính trị đổi mới với đặc trưng quốc gia pháp quyền - xã hội nhân văn, dân chủ - văn hóa phát triển - dưới sự dẫn dắt của Đảng vững mạnh về trí tuệ, đạo đức, bản lĩnh và năng lực lãnh đạo, cầm quyền làm nên Quốc chính rực rỡ.

Hai là, Dân chủ - Pháp quyền - Kỷ cương - Liêm chính - Hiệu lực - Hiệu quả. Nền tảng kiến tạo và phát triển Nhà nước pháp quyền XHCN hiện đại, vì dân chủ - dân quyền - dân trí - dân khí - dân sinh làm nên Quốc khí tỏa sáng.

Ba là, Phát triển bền vững - Công bằng - Văn minh - Hội nhập - Bản sắc. Phát triển kinh tế thị trường định hướng XHCN song hành với khoa học, công nghệ, nhất là công nghệ lõi trên một nền tảng nhân lực tương xứng; gắn kết phát triển kinh tế, xã hội, văn hóa và môi trường trong tiến trình toàn cầu hóa làm nên Quốc lực vững bền.

Bốn là, con người là trung tâm, chủ thể các nguồn lực chiến lược, động lực phát triển quốc gia mạnh mẽ, bền vững, nhân văn. Kỷ cương - liêm chính - đoàn kết - dũng cảm - nhân bản và mang tầm nhân loại làm nên Quốc tín vẻ vang.

Nói khái lược, mục tiêu chiến lược Dân giàu: thu nhập cao, phân phối công bằng, cơ hội rộng mở; Nước mạnh: tự chủ chiến lược về chính trị, kinh tế, an ninh, quốc phòng, công nghệ, văn hóa và môi trường sinh thái; Xã hội dân chủ - công bằng - văn minh: nơi con người là trung tâm, nhân phẩm, sáng tạo phát triển toàn diện, bảo vệ và tôn vinh; và sự bị động chiến lược quốc gia là phép thử sức mạnh, bản lĩnh, uy tín và danh dự quốc gia.

Hệ giá trị phát triển chiến lược quốc gia

Sự tiên tri tốt nhất của tương lai lại chính là nghiền ngẫm quá khứ trước yêu cầu của tương lai.

Việt Nam năm 2050 trở thành một quốc gia phú cường toàn diện, không chỉ tăng trưởng kinh tế, mà đạt trình độ phát triển xã hội nhân văn cao; là quốc gia có bản sắc riêng, định vị chính mình giữa làn sóng toàn cầu hóa; một xã hội công dân mạnh, với tầng lớp trí thức, doanh nhân và thế hệ trẻ có bản lĩnh lý tưởng và tư duy toàn cầu. Việt Nam chỉ đứng vững và phát triển trên nền đạo đức và bản lĩnh dân tộc truyền thống song hành với hiện đại, không thể trông đợi, rập khuôn hay dịch chuyển các mô hình, giá trị văn hóa ngoại lai.

Có thể hình dung những riềng mối hòa hợp giữa truyền thống dân tộc và giá trị thời đại ở nước ta. Thứ nhất, giá trị quốc gia dân tộc: Độc lập - Tự cường - Thống nhất - Văn hiến - Hòa bình. Thứ hai, giá trị xã hội: Dân chủ - Công bằng - Văn minh - Đổi mới - Hội nhập. Thứ ba, giá trị của Nhà nước pháp quyền XHCN: Chính danh quyền lực - Chính quyền phụng sự - Chính pháp kỷ cương - Chính tín đạo đức, dưới ngọn cờ của Đảng.

Thứ tư, giá trị đạo đức, văn hóa, tinh thần xã hội: Trung thực, trách nhiệm, liêm chính, phụng sự cộng đồng, thượng tôn pháp luật trên nền móng chân - thiện - mỹ - nhân - nghĩa - tín là cốt lõi hệ giá trị của xã hội Việt Nam hiện đại.

Thứ năm, giá trị con người Việt Nam: Yêu nước, nhân nghĩa, cần cù, sáng tạo, khát vọng phát triển đất nước tương hợp, dung hòa, bình đẳng với lợi ích các quốc gia dân tộc khác mang tính nhân loại.

Thứ sáu, giá trị đối ngoại và hội nhập quốc tế: Tôn trọng mọi sự khác biệt; giữ vững sự bình đẳng mọi quan hệ, rường cột là lợi ích; hợp tác và bảo vệ các quốc gia dân tộc khác; tham gia kiến tạo hệ thống pháp lý và đạo lý quốc tế.

Đó là gương mặt, tư chất và hồn phách Việt Nam.

Việt Nam của thế kỷ XXI là một quốc gia hội đủ 3 phẩm chất: Phát triển - Dân chủ - Văn minh. Đó là con đường phát triển XHCN Việt Nam bản sắc - nhân văn - dân chủ - hiện đại trên nền tảng tư tưởng dân tộc độc lập, thích ứng và chủ động hóa giải mọi thách thức và nguy cơ phản phát triển; nền kinh tế độc lập, hùng mạnh và tự chủ; tự cường văn hóa bản sắc nhưng thống nhất thế giới; hội nhập, kiến tạo và phát triển đời sống toàn cầu.

Đó là thước đo sự thành bại, mạnh yếu của khả năng hiện thực hóa tư tưởng tự chủ chiến lược; đồng thời là phép thử về nguy cơ và mức độ bị động chiến lược quốc gia.

Trên nền lịch sử mấy nghìn năm, nhìn tới năm 2045, tư tưởng độc lập dân tộc gắn với hiện đại hóa quốc gia XHCN là phương pháp luận bao trùm.

Phát triển với tư tưởng chủ đạo và tâm thế cốt lõi tự chủ chiến lược Việt Nam: Đảng làm trung tâm - Nhân dân làm chủ thể - Văn hóa làm nền tảng, chủ động kiến tạo và thúc đẩy hành động sáng tạo: Chính trị dẫn đường - Văn hóa soi đường - Khoa học định hình - Công nghệ làm động lực - Dân tộc thực thi.

Đặc biệt, Đảng và Nhà nước tiên phong đổi mới tư duy chiến lược lãnh đạo và quản trị quốc gia từ quản lý - điều hành sang kiến tạo - dẫn dắt - lan tỏa song hành với chuyển hóa trong xã hội và con người từ thụ động - phục tùng sang chủ động - sáng tạo - phụng sự Tổ quốc với các nguồn lực thích ứng về tư tưởng và tinh thần, về vật chất và cơ chế, về nội lực và ngoại lực, hoạch định phương thức, nhịp độ và tốc độ phát triển tương dung với thực lực đất nước và điều kiện thời đại.

Vấn đề căn bản phải bảo đảm sức mạnh nền kinh tế quốc gia. Cân bằng sự giàu mạnh không chỉ đo bằng GDP, dù rất quan trọng, mà bằng khả năng và thực lực cạnh tranh toàn cầu và phẩm giá quốc gia, bảo đảm sự hài hòa giữa phồn vinh vật chất với thịnh vượng văn hóa tinh thần; tăng trưởng phải hướng tới phát triển toàn diện, kinh tế, xã hội, nhất là con người một cách toàn vẹn về phẩm giá, danh dự và sự phát triển nhân văn, bền vững.

Và, vấn đề then chốt là, tăng cường sức mạnh nội sinh, bảo đảm dự trữ chiến lược các nguồn lực vật chất, tinh thần, không rơi vào bị động chiến lược trên lộ trình phát triển quốc gia.

Nếu kỷ nguyên phú cường phải lấy Dân tộc là điểm tựa - Nhân dân là trung tâm, thì văn hóa phải xứng đáng là nền móng của toàn bộ chiến lược phát triển quốc gia.

Cải cách toàn diện thể chế trên cơ sở giữ vững nguyên tắc: Đảng cầm quyền chủ động tự đổi mới, tự chỉnh đốn, tự vượt lên mình, dẫn dắt đất nước tiến cùng nhân loại; Nhà nước kiến tạo phát triển, pháp quyền XHCN của Nhân dân, do Nhân dân, vì Nhân dân; bảo vệ lợi ích tối thượng của quốc gia dân tộc thống nhất tuyệt đối và hài hòa với lợi ích của Nhân dân; đồng thời tôn trọng, bảo vệ và bảo đảm hài hòa với lợi ích của các quốc gia dân tộc khác trên đường hội nhập toàn cầu, cảnh giới sự bị động chiến lược quốc gia.

Đứng vững trên nền móng dân tộc, không ngừng thâu thái, tiếp biến và thâu hóa tinh hoa từ các quốc gia - dân tộc, để phát triển hệ giá trị quốc gia tổng thể, tích lũy và dự trữ nguồn lực phát triển chiến lược và hành động một cách dũng cảm, hiệu quả; đồng thời không rơi vào vũng bùn của sự bị động chiến lược, giữ vững an toàn chiến lược trên mỗi chặng đường phát triển quốc gia.

Từ vị thế năm 2025, chúng ta tự chủ làm nên lịch sử kỷ nguyên Việt Nam phú cường.

Lịch sử không chỉ có sự kiện anh hùng hay mà có cả những “vết sẹo” bi tráng và những bài học thành công lẫn thất bại. Chúng ta không quay lại, nhưng không thể không nghiền ngẫm logic vận động và cần tái tạo nó và để vượt lên. Đó là tất yếu kép! Muốn thành kim cương phải chủ động nắm thời, tạo thời, dựng thế, chuẩn bị lực lượng và sẵn sàng đối mặt với áp lực đủ mạnh. Phải kiên tâm đi trên con đường của riêng mình trong thế giới thống nhất.

Trong tầm nhìn năm 2050 Xuân Canh Ngọ - tương lai hối thúc, với tầm viễn kiến, tự chủ chiến lược, dân tộc kiến tạo và phát triển Việt Nam phú cường, - Xuân Bính Ngọ 2026 - nối hai đầu lịch sử, bằng sức sống Phù Đổng, nhất định mã đáo thành công./.

Yêu nước ST.

TÌM HIỂU GIÚP BẠN: TRÍ TUỆ VÀ BẢN LĨNH VIỆT NAM TRONG KỶ NGUYÊN PHÁT TRIỂN MỚI

     Năm 2026 đánh dấu một cột mốc lịch sử đặc biệt quan trọng, là năm khởi đầu nhiệm kỳ Đại hội XIV của Đảng, là năm kỷ niệm 40 năm công cuộc Đổi mới và cũng là thời điểm đất nước ta chính thức bước vào một giai đoạn phát triển mới với tâm thế mới. Trong bài trả lời phỏng vấn báo chí trước thềm năm mới, Tổng Bí thư Tô Lâm đã khái quát thông điệp mang tính thời đại, đó là "phát huy trí tuệ và bản lĩnh Việt Nam vững bước tiến mạnh trong kỷ nguyên phát triển mới". Đây không chỉ là khẩu hiệu, mà còn là sự đúc kết từ thực tiễn gian khó đã qua và là định hướng cho những bước đột phá phát triển sắp tới của đất nước.

Bản lĩnh của Việt Nam trước hết được thể hiện qua khả năng "biến nguy thành cơ" và sức chống chịu kiên cường trước những biến động nhanh chóng, phức tạp của tình hình thế giới. Nhìn lại nhiệm kỳ 2020-2025, đất nước đã phải đối mặt với những thách thức "chưa từng có tiền lệ", đó là đại dịch Covid-19, là sự đứt gãy chuỗi cung ứng toàn cầu, thiên tai bão lũ và những bất ổn địa chính trị phức tạp.

Trong bối cảnh đó, bản lĩnh Việt Nam không chỉ là sự chịu đựng, mà là sự chủ động vượt qua. Chúng ta đã thực hiện thành công "mục tiêu kép", vừa chống dịch vừa phục hồi kinh tế, giữ vững ổn định vĩ mô. Bản lĩnh ấy còn được thể hiện qua quyết tâm chính trị mạnh mẽ trong công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng. Công cuộc phòng, chống tham nhũng, tiêu cực đã chuyển sang một giai đoạn mới, gắn liền với chống lãng phí, với tinh thần "không ngừng, không nghỉ, không có vùng cấm". Như Tổng Bí thư Tô Lâm đã nhấn mạnh, việc làm trong sạch bộ máy không làm cản trở phát triển mà ngược lại, là để kiến tạo một môi trường lành mạnh, củng cố niềm tin của nhân dân và bảo vệ những người dám nghĩ, dám làm.

Đặc biệt, bản lĩnh Việt Nam trong kỷ nguyên mới được minh chứng rõ nét qua "cuộc cách mạng về tinh gọn tổ chức bộ máy", thực hiện chính quyền địa phương hai cấp, sắp xếp lại hệ thống chính trị theo hướng "tinh, gọn, mạnh, hiệu năng, hiệu lực, hiệu quả". Chỉ có bản lĩnh chính trị vững vàng mới có thể thực hiện được những cải cách hướng tới lợi ích của quốc gia và dân tộc.

Nếu bản lĩnh giúp chúng ta đứng vững, thì trí tuệ là ngọn đuốc soi đường để bứt phá. Kỷ nguyên vươn mình của dân tộc không thể dựa trên những cách làm cũ, mà phải dựa trên trí tuệ, tri thức và đổi mới sáng tạo.

Thứ nhất, trí tuệ thể hiện ở tư duy đột phá về thể chế, Nghị quyết số 66-NQ/TW và Dự thảo Báo cáo Chính trị trình Đại hội XIV đã xác định việc hoàn thiện thể chế là "đột phá của đột phá" để chuyển mạnh từ tư duy "quản lý" sang "kiến tạo phát triển", dứt khoát từ bỏ tư duy "không quản được thì cấm". Trí tuệ ở đây là việc xây dựng một hành lang pháp lý thông thoáng, lấy người dân và doanh nghiệp làm trung tâm, khơi thông mọi nguồn lực xã hội cho phát triển.

Thứ hai, trí tuệ thể hiện ở việc lựa chọn động lực tăng trưởng mới. Trong kỷ nguyên mới, Việt Nam xác định khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số là động lực chính. Nghị quyết số 57-NQ/TW đã nhấn mạnh yêu cầu phát triển lực lượng sản xuất mới, trong đó tập trung vào các công nghệ chiến lược như trí tuệ nhân tạo, bán dẫn, công nghiệp dữ liệu. Đây là sự lựa chọn rất quan trọng để Việt Nam đi tắt đón đầu, tránh bẫy thu nhập trung bình và vươn lên nấc thang cao hơn trong chuỗi giá trị toàn cầu.

Thứ ba, trí tuệ trong việc phát triển nguồn lực con người. Nghị quyết số 71-NQ/TW về giáo dục đào tạo đã khẳng định mục tiêu xây dựng con người Việt Nam phát triển toàn diện, có năng lực tư duy độc lập và khả năng thích ứng với kỷ nguyên số. Trí tuệ Việt Nam không chỉ nằm ở những tấm bằng, mà ở năng lực thực tế, ở đội ngũ doanh nhân được đề cao trong Nghị quyết 68-NQ/TW và đội ngũ cán bộ cấp chiến lược có tầm nhìn quốc tế với khẳng định: “Khát vọng giàu mạnh, phồn vinh, văn minh, hạnh phúc trước hết phải được đo bằng những điều rất đời thường: Người dân có việc làm tốt hơn không, thu nhập có ổn định hơn không; có chỗ ở “đàng hoàng hơn, to đẹp hơn” không; con cái học hành có thuận lợi hơn không, bệnh tật có được chăm sóc tốt hơn không, người già có được nương tựa không, vùng khó khăn có được trợ giúp kịp thời không... Và muốn mọi cái đều “hơn” thì chúng ta phải coi tri thức, khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số là động lực then chốt của mô hình tăng trưởng mới; đồng thời phát huy mạnh mẽ mọi nguồn lực xã hội, trong đó kinh tế tư nhân là một động lực quan trọng.”

Sức mạnh của trí tuệ và bản lĩnh Việt Nam không nằm ở một cá nhân hay một nhóm người, mà là sự hội tụ của khối đại đoàn kết và niềm tin của toàn dân tộc. Như Tổng Bí thư Tô Lâm đã khẳng định: "Đoàn kết không chỉ là một khẩu hiệu hay một lời kêu gọi. Đoàn kết phải trở thành cách ứng xử của cả hệ thống và của mỗi người Việt Nam: Đoàn kết trong Đảng, đoàn kết trong nhân dân, đoàn kết giữa ý Đảng và lòng dân; biết đặt việc chung lên trên, biết gác cái riêng lại khi cần. Và cùng với đoàn kết là niềm tin: Tin vào con đường mình đã chọn, tin vào sức mạnh của dân tộc, tin rằng điều tốt đẹp sẽ đến nếu chúng ta làm việc bền bỉ và vì nước, vì dân". Chúng ta mở rộng không gian phát triển thông qua hội nhập quốc tế sâu rộng, nâng cấp quan hệ với các đối tác lớn, biến Việt Nam thành điểm đến tin cậy của hòa bình và hợp tác.

Kỷ nguyên phát triển mới của dân tộc là kết quả của 40 năm toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta kiên trì công cuộc Đổi mới, là sự kết tinh của công sứ và trí tuệ của bao thế hệ cha anh. Việt Nam đang tự tin bước vào vận hội mới của sự phồn vinh, hạnh phúc. Bản lĩnh giúp chúng ta không chùn bước trước khó khăn, trí tuệ giúp chúng ta tìm ra con đường ngắn nhất để đi đến đích. Sự hòa quyện giữa bản lĩnh chính trị vững vàng và trí tuệ thời đại sắc bén, dưới sự lãnh đạo của Đảng và sự đồng lòng của nhân dân, chắc chắn sẽ đưa con thuyền Việt Nam vươn ra biển lớn, sánh vai với các cường quốc năm châu, hiện thực hóa khát vọng về một Việt Nam hùng cường, phồn vinh và hạnh phúc như Chủ tịch Hồ Chí Minh kính yêu hằng mong đợi./.
Yêu nước ST.

TÌM HIỂU GIÚP BẠN: VỮNG VÀNG BẢO VỆ CHỦ QUYỀN BIỂN, ĐẢO TRONG KỶ NGUYÊN MỚI

      Trước yêu cầu bức thiết của việc quản lý, bảo vệ chủ quyền biển, đảo của Tổ quốc, ngày 26-10-1975, Bộ Quốc phòng ra quyết định thành lập 4 Vùng Duyên Hải (nay là các Bộ tư lệnh Vùng 1, 3, 4, 5 Hải quân). Việc ra đời các Vùng Hải quân đánh dấu sự phát triển lớn mạnh của lực lượng Hải quân nhân dân Việt Nam, gánh vác nhiệm vụ hết sức nặng nề nhưng rất vẻ vang.

Để đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ, năm 1978 Bộ Quốc phòng đã ra quyết định điều chỉnh 5 vùng duyên hải và căn cứ Cam Ranh thành 4 vùng Hải quân, đồng thời giải thể Vùng 2 duyên hải (sau đó để đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ quản lý, bảo vệ khu vực biển phía Đông Nam và thềm lục địa phía Nam của Tổ quốc, năm 2009, Bộ Quốc phòng ra quyết định thành lập Vùng 2 Hải quân).

50 năm xây dựng và phát triển, từ những ngày đầu gian khó, thiếu thốn, song các thế hệ cán bộ, chiến sĩ các Vùng Hải quân đã kiên cường bám trụ trên các đảo, con tàu, đài - trạm radar, nhà giàn… tạo thành một vành đai phòng thủ vững chắc, là những “lá chắn thép” bảo vệ chủ quyền biển, đảo của Tổ quốc.

Trong bối cảnh tình hình Biển Đông đang đặt ra những thách thức, các Vùng Hải quân được giao trọng trách đặc biệt "vừa kiên định bảo vệ vững chắc chủ quyền quốc gia, vừa giữ gìn môi trường hòa bình, ổn định để phục vụ cho sự phát triển bền vững kinh tế biển, đảo”, mỗi cán bộ, chiến sĩ Hải quân phát huy truyền thống, vững vàng bảo vệ chủ quyền biển, đảo trong kỷ nguyên mới.

Vùng 1 Hải quân ra đời từ các đơn vị tiền thân, anh dũng chiến đấu góp phần làm nên chiến thắng trận đầu của Hải quân nhân dân Việt Nam và quân, dân miền Bắc ngày 2 và 5-8-1964, đánh đuổi tàu khu trục Ma-đốc, bắn rơi nhiều máy bay và bắt sống giặc lái Mỹ ngay trên vùng biển miền Bắc. Tự hào được thực hiện nhiệm vụ ở đơn vị chiến thắng trận đầu, cán bộ, chiến sĩ Vùng 1 Hải quân hôm nay làm chủ trang bị kỹ thuật, huấn luyện sát thực tế, sẵn sàng chiến đấu cao.

Chuẩn đô đốc Trần Xuân Văn, Chính ủy Vùng 1 Hải quân cho biết: Quản lý một vùng biển rộng lớn, từ Quảng Ninh đến Hà Tĩnh, 50 năm qua, Vùng 1 Hải quân đã hoàn thành xuất sắc nhiều nhiệm vụ; phòng, chống, khắc phục hậu quả thiên tai, cứu hộ, cứu nạn nhất là ở các vùng biển xa; cán bộ, chiến sĩ Vùng 1 Hải quân không chỉ bảo vệ mình mà còn bảo vệ an toàn tài sản và tính mạng của nhân dân trước thiên tai, dịch bệnh, góp phần khắc họa và làm sâu sắc thêm hình ảnh “Bộ đội Cụ Hồ - Người chiến sĩ Hải quân” trong lòng nhân dân.

Chuẩn đô đốc Trần Xuân Văn khẳng định: Trải qua 50 năm - một hành trình giữ biển, Vùng 1 Hải quân đã không ngừng lớn mạnh, trở thành lực lượng nòng cốt trong bảo vệ chủ quyền biển đảo phía Bắc của Tổ quốc. Để có được bản lĩnh, ý chí và sức mạnh đó, một trong những yếu tố cốt lõi chính là truyền thống vẻ vang và tinh thần yêu nước, ý chí kiên cường và lòng tự hào về biển, đảo quê hương của cán bộ, chiến sĩ Vùng 1 Hải quân, được hun đúc qua nửa thế kỷ chiến đấu, rèn luyện và trưởng thành. Tuyệt đối trung thành với Đảng, Tổ quốc và nhân dân, không dao động trước mọi khó khăn, thử thách, sẵn sàng nhận và hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ được giao.

Quản lý và bảo vệ vùng biển rộng hơn 360.000km2 từ Cù Lao Xanh, Bình Định (nay là Gia Lai) đến Mũi Ba Kiệm, Bình Thuận (nay là Lâm Đồng), bao gồm Trường Sa với nhiều đơn vị đóng quân ở các điểm đảo, trên núi cao. Trải qua nửa thế kỷ xây dựng, chiến đấu và trưởng thành, Vùng 4 Hải quân đã nhiều lần thay đổi về tổ chức, lực lượng và trang bị cho phù hợp với yêu cầu nhiệm vụ từng thời kỳ. Mỗi giai đoạn đều ghi dấu những chiến công, thành tích và sự hy sinh quên mình của các thế hệ cán bộ, chiến sĩ, góp phần quan trọng vào sự nghiệp bảo vệ chủ quyền biển, đảo của Tổ quốc.

Thượng tá Bùi Xuân Bình, Chính ủy Vùng 4 Hải quân cho biết: Qua các giai đoạn xây dựng, chiến đấu và trưởng thành, Vùng 4 Hải quân đã đúc kết được nhiều kinh nghiệm quý báu. Đó là bài học về giữ vững bản lĩnh chính trị, tuyệt đối trung thành với Tổ quốc, Đảng và nhân dân kiên định ý chí “con người, còn đảo”. Đặc biệt, tinh thần đoàn kết, tự lực, tự cường và ý chí kiên cường đã và đang là nguồn sức mạnh to lớn giúp Vùng 4 Hải quân vượt qua mọi khó khăn, hoàn thành xuất sắc sứ mệnh bảo vệ vững chắc chủ quyền biển đảo thiêng liêng của Tổ quốc trong kỷ nguyên mới.

Thượng tá Bùi Xuân Bình chia sẻ: Trên các đảo, tàu trực, đài - trạm radar, mỗi cán bộ, chiến sĩ đều xác định rõ “Trường Sa là Tổ quốc” và bảo vệ Trường Sa là bảo vệ Tổ quốc. Trong mọi điều kiện thời tiết và hoàn cảnh, tinh thần sẵn sàng chiến đấu luôn ở mức cao nhất. Bộ đội kiên gan bám đảo, bám tàu, ngày đêm canh giữ chủ quyền và vượt qua mọi gian khổ, hiểm nguy để bảo vệ vững chắc từng tấc đảo, sải biển thiêng liêng của Tổ quốc.

Bộ tư lệnh Vùng 5 Hải quân được giao nhiệm vụ quản lý vùng biển, đảo Tây Nam từ cửa sông Gành Hào, tỉnh Cà Mau đến Hà Tiên, tỉnh An Giang với hơn 150 hòn đảo lớn, nhỏ, giáp ranh với vùng biển các nước Campuchia, Thái Lan và Malaysia. Đây là vùng biển có vị trí đặc biệt quan trọng cả về kinh tế, chính trị, quốc phòng, an ninh; đồng thời cũng là khu vực đánh bắt truyền thống của ngư dân. Nửa thế kỷ xây dựng, chiến đấu và trưởng thành, Vùng 5 Hải quân luôn là điểm tựa vững chắc nơi biển đảo Tây Nam của Tổ quốc.

Trong thời đại chuyển đổi số và hiện đại hóa Quân đội, những người lính Vùng 5 Hải quân luôn giữ vững bản lĩnh, trí tuệ, ứng dụng chuyển đổi số, làm chủ vũ khí, phương tiện hiện đại, sẵn sàng chiến đấu bảo vệ chủ quyền biển đảo thiêng liêng. Chuẩn đô đốc Trịnh Xuân Tùng, Tư lệnh Vùng 5 Hải quân khẳng định: Trước yêu cầu hiện đại hóa Hải quân và xu thế chuyển đổi số trong Quân đội, Vùng 5 chủ động ứng dụng công nghệ số trong huấn luyện, chỉ huy, điều hành. Các mô hình mô phỏng, sa bàn điện tử được đưa vào sử dụng rộng rãi, giúp cán bộ, chiến sĩ rèn luyện kỹ năng thao tác, xử lý tình huống sát thực tế, tiết kiệm thời gian, chi phí và nâng cao hiệu quả huấn luyện. Nhờ vậy, chất lượng tổng hợp, trình độ, khả năng sẵn sàng chiến đấu của đơn vị không ngừng được nâng cao, đáp ứng tốt yêu cầu nhiệm vụ trong mọi tình huống, xứng đáng là lực lượng nòng cốt bảo vệ vững chắc chủ quyền vùng biển, đảo Tây Nam của Tổ quốc.

Theo Chuẩn đô đốc Nguyễn Đăng Tiến, Chính ủy Vùng 3 Hải quân: Trong bối cảnh tình hình thế giới, khu vực có những diễn biến phức tạp, khó lường, đặc biệt là trên Biển Đông, nhất là vùng biển Vùng được phân công quản lý tiềm ẩn nhiều nguy cơ xảy ra tranh chấp, xung đột, va chạm cục bộ. Nhiệm vụ bảo vệ, chủ quyền biển, đảo đang đặt ra những yêu cầu mới, ngày một cao hơn. Việc nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của Đảng bộ là yếu tố then chốt, mang tính quyết định. Trong đó, yêu cầu về năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của các tổ chức đảng phải được nâng lên một tầm cao mới. Xây dựng Vùng cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại là nền tảng để Vùng hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ được giao, xứng đáng làm nòng cốt trong bảo vệ vững chắc chủ quyền biển, đảo thiêng liêng của Tổ quốc.

Chuẩn đô đốc Nguyễn Đăng Tiến nhấn mạnh: Đảng ủy, Bộ tư lệnh Vùng 3 Hải quân đã xác định phát huy sức mạnh tổng hợp, xây dựng Đảng bộ trong sạch, vững mạnh tiêu biểu; Vùng cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại. Xây dựng Vùng vững mạnh về chính trị; cán bộ, chiến sĩ có bản lĩnh chính trị vững vàng, tuyệt đối trung thành với Đảng, Tổ quốc và nhân dân, sẵn sàng chiến đấu hy sinh bảo vệ chủ quyền biển, đảo của Tổ quốc. Thường xuyên cảnh giác, SSCĐ cao, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ được giao; quản lý, bảo vệ vững chắc chủ quyền biển, đảo được phân công, góp phần giữ vững môi trường hòa bình, ổn định để phát triển đất nước.

Tự hào về hành trình 50 năm, cán bộ, chiến sĩ các Vùng 1, 3, 4, 5 Hải quân tiếp bước cha anh, khắc ghi “Lời thề giữ biển”. Mỗi cán bộ, chiến sĩ nguyện tiếp bước cha anh, kế tục xứng đáng truyền thống vẻ vang, xây dựng Vùng, Quân chủng Hải quân “Cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại”, thực sự là lực lượng nòng cốt, là những “lá chắn thép”, vững vàng bảo vệ chủ quyền biển, đảo trong kỷ nguyên mới./.
Yêu nước ST.

TÌM HIỂU GIÚP BẠN: NHỮNG THÁCH THỨC LỚN ĐỐI VỚI SỰ PHÁT TRIỂN VĂN HÓA TRONG NHIỆM KỲ ĐẠI HỘI XIV “NHÌN THẲNG ĐỂ BỨT PHÁ TRONG KỶ NGUYÊN MỚI”!

     Khi Đại hội XIV của Đảng đang đến gần, chúng ta không chỉ chuẩn bị cho một sự chuyển giao giữa hai nhiệm kỳ, mà thực sự đang đứng trước một bước ngoặt mang tính bản lề của lịch sử phát triển quốc gia.

Chưa bao giờ đất nước ta cùng lúc hội tụ nhiều yếu tố chuyển động lớn như hiện nay: Cải cách thể chế mạnh mẽ theo tinh thần Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, hội nhập quốc tế sâu rộng, khoa học-công nghệ và đổi mới sáng tạo trở thành động lực then chốt, và kinh tế tư nhân được xác định là một động lực quan trọng của nền kinh tế. Trên nền những chuyển động ấy, văn hóa được đặt lại ở vị trí trung tâm. Nhưng để biến những định hướng và lợi thế ấy thành hiện thực trong nhiệm kỳ Đại hội XIV, chúng ta cần thẳng thắn nhìn nhận 15 thách thức lớn đang đặt ra cho sự phát triển văn hóa Việt Nam hôm nay từ đó tìm đường bứt phá cho phát triển văn hóa và đất nước.

1. Khoảng cách giữa nhận thức - chính sách - hành động - kết quả trong lĩnh vực văn hóa

Trong tất cả các văn kiện lớn của Đảng, văn hóa đã được khẳng định nhiều lần là nền tảng tinh thần của xã hội, vừa là mục tiêu, vừa là động lực phát triển. Nhưng nhìn vào thực tiễn, có thể thấy khoảng cách từ nhận thức đúng đến hành động đúng, từ chính sách đúng đến kết quả đúng vẫn còn khá xa.

Ngân sách cho văn hóa tuy đã có bước tăng, nhưng tỷ trọng trong tổng chi ngân sách vẫn còn khiêm tốn; nhiều địa phương vẫn khó đạt mức khoảng 2% chi cho văn hóa – con số vốn đã không phải là cao nếu so với tầm quan trọng của lĩnh vực này. Trong không ít báo cáo phát triển kinh tế – xã hội, văn hóa vẫn thường xuất hiện ở phần cuối, với những dòng tổng kết chung chung, thiếu những chỉ tiêu đo lường cụ thể: Tỷ lệ người dân tham gia hoạt động văn hóa, mức độ hài lòng về đời sống tinh thần, số lượng doanh nghiệp sáng tạo, chỉ số sức mạnh mềm địa phương…

Tại Hội nghị Văn hóa toàn quốc năm 2021, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã chỉ rõ: “Chúng ta chưa quan tâm tương xứng đến văn hóa so với kinh tế, chính trị, xã hội”, và yêu cầu phải tạo “chuyển biến mạnh mẽ, toàn diện” trong nhận thức và hành động. Điều đó có nghĩa là, thách thức đầu tiên không nằm ở chỗ chúng ta chưa nói đủ về văn hóa, mà ở chỗ chưa làm đủ, làm đến nơi đến chốn để văn hóa thực sự trở thành nền tảng và động lực phát triển.

2. Quản trị văn hóa trong bối cảnh bộ máy tinh gọn và chính quyền địa phương hai cấp

Từ ngày 1-7-2025, Việt Nam chính thức vận hành mô hình chính quyền địa phương hai cấp, gắn với việc sắp xếp lại đơn vị hành chính cấp tỉnh và cấp huyện, hướng tới 34 đơn vị hành chính cấp tỉnh, thành trong thời gian tới. Đây là một trong những cuộc cải cách mạnh mẽ nhất về tổ chức bộ máy trong nhiều thập niên.

Tinh gọn bộ máy giúp giảm tầng nấc, tăng hiệu lực, hiệu quả quản lý, nhưng cũng đồng nghĩa với việc khối lượng công việc của mỗi đơn vị, mỗi cán bộ tăng lên, trong khi nhân lực không tăng, thậm chí còn giảm. Ở cấp cơ sở, nhiều cán bộ văn hóa phải kiêm nhiệm: Văn hóa – thông tin – thể thao – du lịch – gia đình – phong trào… Điều đó đòi hỏi họ không chỉ nắm vững chuyên môn, mà còn phải có kỹ năng quản trị, điều phối, huy động xã hội, xử lý khủng hoảng truyền thông, ứng dụng công nghệ số.

Trong khi đó, nhiều khảo sát nội bộ cho thấy tỷ lệ cán bộ quản lý văn hóa được đào tạo đúng ngành, có trình độ sau đại học, am hiểu về công nghiệp văn hóa, văn hóa số… còn thấp; độ chênh giữa trung ương – địa phương, đô thị – nông thôn rất lớn. Nếu không kịp thời có chiến lược bồi dưỡng, tái đào tạo, thì bộ máy tinh gọn có nguy cơ trở thành “bộ máy quá tải”, làm công tác văn hóa nặng về sự vụ, phong trào, thiếu chiều sâu.

Thách thức ở đây là phải xây dựng năng lực quản trị văn hóa phù hợp với mô hình chính quyền hai cấp, trong khi nguồn nhân lực và nguồn lực tài chính không phải vô hạn.

3. Chất lượng đội ngũ cán bộ văn hóa chưa theo kịp yêu cầu phát triển mới

Nhân lực là “linh hồn” của mọi chiến lược văn hóa. Trong kỷ nguyên công nghiệp văn hóa – kinh tế sáng tạo – chuyển đổi số – trí tuệ nhân tạo, người làm văn hóa không chỉ cần hiểu truyền thống, di sản, nghệ thuật, mà còn phải biết xây dựng chiến lược, quản trị dự án, hiểu biết thị trường, sử dụng thành thạo công cụ số, có tư duy liên ngành và năng lực truyền thông.

Trong khi đó, hệ thống đào tạo cán bộ văn hóa hiện nay vẫn thiên về hành chính, quản lý sự vụ, chậm cập nhật các tri thức mới về kinh tế sáng tạo, quản trị sáng tạo, thiết kế trải nghiệm, phân tích dữ liệu văn hóa… So với những nước đã thành công trong công nghiệp văn hóa như Hàn Quốc, Anh, Pháp, Singapore – nơi nhân lực văn hóa được đào tạo theo mô hình liên ngành (culture + management + technology + marketing) – chúng ta đang đi sau một quãng đáng kể.

Tổng Bí thư Tô Lâm, trong phát biểu kỷ niệm 80 năm Ngày truyền thống ngành Văn hóa, đã đặt kỳ vọng lớn vào đội ngũ này, coi trí thức, văn nghệ sĩ là “những kỹ sư tâm hồn của nhân dân” và mong muốn họ tiếp tục bền bỉ sáng tạo, góp phần bồi đắp sức mạnh tinh thần dân tộc. Kỳ vọng đó chỉ có thể trở thành hiện thực nếu đội ngũ cán bộ văn hóa, văn nghệ sĩ, nhà quản lý văn hóa được tạo điều kiện phát triển toàn diện, cả về chuyên môn, chính trị, lẫn kỹ năng nghề nghiệp mới.

4. Hoàn thiện thể chế văn hóa theo tinh thần Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa

Nghị quyết 66 về đổi mới công tác xây dựng và thi hành pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới đặt ra yêu cầu rất cao đối với mọi lĩnh vực, trong đó có văn hóa: Hoạt động văn hóa phải vận hành trên nền tảng pháp luật minh bạch, đồng bộ, hiện đại, phù hợp với thực tiễn và cam kết hội nhập.

Nhưng văn hóa lại là lĩnh vực biến đổi nhanh, đa dạng, nhạy cảm. Nhiều dạng thức mới xuất hiện: Nghệ thuật đương đại, nghệ thuật đường phố, không gian sáng tạo độc lập, sản phẩm số, nội dung do người dùng tạo ra (UGC), nội dung AI, kinh tế di sản, du lịch trải nghiệm… Trong khi đó, hệ thống pháp luật chưa theo kịp, còn khoảng trống trong khung pháp lý cho công nghiệp văn hóa, cơ chế hợp tác công - tư trong văn hóa, chính sách ưu đãi tài chính, thuế, đất đai cho dự án văn hóa, tiêu chí và định mức đánh giá hiệu quả đầu tư văn hóa, quy định về dữ liệu văn hóa, nội dung số, bản quyền trong môi trường số.

Thách thức của nhiệm kỳ Đại hội XIV là phải chuyển tinh thần đó thành những đạo luật, nghị định, thông tư cụ thể, tạo được hành lang pháp lý thông thoáng nhưng chặt chẽ, vừa khuyến khích sáng tạo, vừa bảo vệ các giá trị tốt đẹp của dân tộc.

5. Chuyển đổi số trong văn hóa còn chậm - trong khi công chúng đã “đi rất nhanh”

Với hơn 70-80% dân số sử dụng Internet, thời gian trung bình lên mạng xã hội nhiều giờ mỗi ngày, không gian số đã trở thành không gian văn hóa thứ hai của người Việt Nam. Người trẻ tiếp nhận phần lớn thông tin, tri thức, giải trí, giao tiếp trên môi trường số. Ở đó, sản phẩm văn hóa của thế giới tràn ngập, trong khi sản phẩm văn hóa Việt Nam vẫn còn khiêm tốn về số lượng lẫn chất lượng, đặc biệt là chất lượng số.

Nhiều bảo tàng, thư viện, nhà hát, di tích, không gian văn hóa… vẫn đang ở giai đoạn đầu của quá trình số hóa, mới chỉ dừng ở mức website, fanpage, vài tour ảo, chưa có hệ sinh thái văn hóa số quốc gia với cơ sở dữ liệu mở, nền tảng chung, chuẩn dữ liệu thống nhất để chia sẻ, kết nối, sản xuất sản phẩm mới.

Nếu trong giai đoạn chiến tranh, đó là “văn hóa kháng chiến - kiến quốc”, thì hôm nay, chúng ta có thể nói đến “văn hóa số - kiến tạo tương lai”. Thách thức là làm sao đưa toàn bộ tài nguyên văn hóa dân tộc bước vào không gian số một cách hiện đại, hấp dẫn, có khả năng lan tỏa mạnh mẽ, thay vì chỉ là sao chép hình thức từ thế giới.

6. Công nghiệp văn hóa chưa trở thành trụ cột kinh tế đúng với tiềm năng

UNESCO ước tính các ngành công nghiệp văn hóa và sáng tạo đóng góp hơn 6% GDP toàn cầu, tạo hàng chục triệu việc làm. Ở Hàn Quốc, Indonesia, Anh, Pháp…, công nghiệp văn hóa không chỉ tạo ra giá trị kinh tế, mà còn định hình hình ảnh quốc gia, sức mạnh mềm và khả năng dẫn dắt xu hướng.

Việt Nam đã có Chiến lược phát triển các ngành công nghiệp văn hóa, đặt mục tiêu đến năm 2030 đóng góp khoảng 7% GDP, xây dựng một số thành phố sáng tạo, hình thành các trung tâm công nghiệp văn hóa, tăng giá trị xuất khẩu sản phẩm văn hóa. Tuy nhiên, đến nay, đóng góp thực tế vẫn còn ở mức khiêm tốn, nhiều ngành mũi nhọn như điện ảnh, âm nhạc, trò chơi điện tử, thiết kế, thời trang, quảng cáo… chưa phát huy hết tiềm năng.

Nguyên nhân không chỉ do thiếu vốn, thiếu hạ tầng, mà sâu xa hơn là thiếu những “luật chơi” rõ ràng, thiếu những nhà đầu tư chiến lược, thiếu cơ chế bảo vệ nhà sáng tạo, khiến doanh nghiệp khó yên tâm đầu tư dài hạn.

Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã khẳng định: “Văn hóa là hồn cốt của dân tộc. Văn hóa còn thì dân tộc còn” - và nhấn mạnh văn hóa phải được gắn với chiến lược phát triển kinh tế-xã hội. Điều đó đặt ra yêu cầu phải xem công nghiệp văn hóa không chỉ là câu chuyện của ngành văn hóa, mà là của cả nền kinh tế.

7. Bản quyền trong môi trường số - “vết thương hở” kéo dài của sáng tạo Việt Nam

Không bảo vệ được bản quyền thì không thể có công nghiệp văn hóa bền vững. Trong môi trường số, vi phạm bản quyền diễn ra với tốc độ và quy mô lớn hơn rất nhiều: Phim lậu, nhạc lậu, livestream trái phép, sử dụng trái phép hình ảnh, nội dung… Một bộ phim chiếu rạp có khi vừa công chiếu đã xuất hiện bản lậu trên mạng; một ca khúc, một chương trình nghệ thuật bị sao chép, sử dụng mà không trả tiền cho tác giả.

Điều này không chỉ gây thiệt hại kinh tế, mà còn làm nản lòng người sáng tạo, khiến nhà đầu tư cân nhắc khi bỏ vốn vào những dự án văn hóa - nghệ thuật quy mô lớn. Thách thức ở đây không chỉ là siết chặt chế tài, mà còn là xây dựng văn hóa tôn trọng bản quyền trong xã hội, để người dân hiểu rằng: Trả tiền cho sản phẩm văn hóa chính là trả tiền cho tri thức, cho tài năng và mồ hôi của người sáng tạo, từ đó tạo ra một thị trường văn hóa lành mạnh hơn.

8. Mức hưởng thụ văn hóa giữa các vùng miền còn chênh lệch đáng kể

Một xã hội văn minh là xã hội mà mọi người dân, ở mọi vùng miền, đều có cơ hội tiếp cận và tham gia đời sống văn hóa một cách bình đẳng. Nhưng hiện nay, vẫn còn khoảng cách khá lớn giữa thành thị-nông thôn, vùng thuận lợi-vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc thiểu số.

Nhiều nơi, nhà văn hóa xã hoạt động cầm chừng, thư viện cấp huyện nghèo nàn, rạp chiếu phim vắng bóng, sân chơi văn hóa dành cho thanh thiếu niên ít ỏi. Trong khi đó, ở các đô thị lớn, hoạt động sáng tạo, trình diễn, triển lãm, giao lưu văn hóa diễn ra sôi động.

Tại nhiều diễn đàn, Tổng Bí thư Tô Lâm đã nhấn mạnh mục tiêu “không để ai bị bỏ lại phía sau”, trong đó có quyền tiếp cận văn hóa, giáo dục. Điều này đặt ra yêu cầu phải điều tiết nguồn lực, ưu tiên đầu tư, đa dạng hóa mô hình thiết chế, tăng cường đưa các chương trình văn hóa chất lượng về cơ sở, và nhất là trao quyền cho cộng đồng tự tổ chức, tự vận hành các hoạt động văn hóa.

9. Xây dựng thương hiệu văn hóa - hình ảnh quốc gia còn manh mún, thiếu hệ thống

Ở thời đại “sức mạnh mềm”, hình ảnh quốc gia là tài sản vô hình vô cùng quan trọng. Nhật Bản với “Cool Japan”, Hàn Quốc với “Hallyu - Làn sóng Hàn Quốc”, Thái Lan với “Amazing Thailand” đã chứng minh: Một chiến lược thương hiệu quốc gia bài bản có thể thúc đẩy du lịch, xuất khẩu hàng hóa, thu hút đầu tư và lan tỏa giá trị văn hóa.

Việt Nam có đầy đủ điều kiện: Lịch sử lâu đời, văn hóa đa sắc thái, di sản phong phú, ẩm thực hấp dẫn, con người thân thiện, giàu nghị lực. Nhưng cho đến nay, chúng ta vẫn chưa có một chiến lược thương hiệu văn hóa - hình ảnh quốc gia thật sự đồng bộ, liên ngành, dài hạn. Các chiến dịch quảng bá còn rời rạc, theo từng ngành, từng địa phương, từng sự kiện.

Trong bối cảnh đó, những phát biểu như của Thủ tướng Phạm Minh Chính - “Văn hóa là nền tảng, thông tin là mạch dẫn, thể thao là sức mạnh, du lịch là nhịp cầu kết nối” - không chỉ là khẩu hiệu, mà có thể trở thành trục tư duy để xây dựng hình ảnh Việt Nam là một đất nước văn hóa - sáng tạo - năng động - đáng sống.

Thách thức là: Từ những trục tư duy đó, ai sẽ là đầu mối chiến lược, cơ chế phối hợp nào, nguồn lực nào, công cụ nào để cấu trúc lại toàn bộ hoạt động quảng bá hình ảnh Việt Nam trên trường quốc tế?

10. Áp lực hội nhập quốc tế sâu rộng - phép thử bản lĩnh văn hóa Việt Nam

Việt Nam là một trong những quốc gia có độ mở kinh tế cao, tham gia nhiều hiệp định thương mại tự do thế hệ mới. Hàng hóa, dịch vụ, dòng vốn, dòng người và đặc biệt là dòng chảy thông tin, sản phẩm văn hóa ra vào biên giới với tốc độ chưa từng có.

Đây là cơ hội để văn hóa Việt Nam bước ra thế giới, nhưng đồng thời cũng là thách thức: Sản phẩm văn hóa nước ngoài với lợi thế vốn, công nghệ, marketing, thương hiệu dễ dàng chiếm lĩnh thị trường trong nước, nhất là với giới trẻ.

Văn hóa là “mặt trận” quan trọng, gắn với sự tồn vong của dân tộc. Điều này càng đúng trong hội nhập: Nếu không giữ được ngôn ngữ, ký ức, bản sắc, hệ giá trị, chúng ta rất dễ bị hòa tan trong “biển lớn” toàn cầu hóa. Thách thức của nhiệm kỳ mới là phải biến hội nhập thành động lực chứ không phải sức ép, bằng cách làm mới truyền thống, nâng chất lượng sản phẩm văn hóa nội địa, tăng năng lực cạnh tranh của công nghiệp văn hóa, và có chiến lược xuất khẩu văn hóa chủ động.

11. Sức đề kháng văn hóa trước tác động tiêu cực của không gian mạng

Không gian mạng vừa là môi trường sáng tạo, vừa là “chiến trường” của thông tin, giá trị, quan điểm, lối sống. Tin giả, bạo lực ngôn từ, nội dung độc hại, cực đoan, giật gân… nếu không được kiểm soát tốt sẽ tác động tiêu cực đến tâm lý xã hội, đặc biệt là giới trẻ.

Tổng Bí thư Tô Lâm, trong các phát biểu gần đây, luôn nhấn mạnh yêu cầu giữ vững chủ động trên mặt trận tư tưởng, văn hóa, coi văn hóa là sức mạnh tinh thần, là tấm lá chắn mềm trước những tác động phức tạp của môi trường quốc tế và không gian mạng.

Sức đề kháng văn hóa không thể chỉ xây dựng bằng các biện pháp hành chính, mà phải được bồi đắp từ bên trong mỗi con người, thông qua giáo dục, truyền thông lành mạnh, hoạt động văn hóa-nghệ thuật chất lượng, kỹ năng số và kỹ năng truyền thông cho công dân.

12. Văn hóa công vụ và văn hóa kinh doanh chưa trở thành chuẩn mực phổ quát

Xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa hiện đại và phát triển kinh tế tư nhân theo tinh thần Nghị quyết 68 đòi hỏi một nền văn hóa công vụ và văn hóa doanh nghiệp thực sự vững chắc. Nhưng trên thực tế, vẫn còn hiện tượng thiếu minh bạch, thiếu tinh thần phục vụ nhân dân, lợi ích nhóm, vi phạm đạo đức kinh doanh, gian lận, lừa dối người tiêu dùng… Những hiện tượng ấy, nếu không được chấn chỉnh, sẽ làm xói mòn niềm tin xã hội, làm suy yếu sức mạnh nội sinh của quốc gia. Văn hóa, trong trường hợp này, không còn là khái niệm trừu tượng, mà là thước đo hàng ngày của mỗi cán bộ, đảng viên, mỗi doanh nhân, mỗi tổ chức.

Chủ tịch Hồ Chí Minh nhiều lần nhấn mạnh “đức là gốc”, “cán bộ là cái gốc của mọi công việc”; vì thế, văn hóa trong Đảng, văn hóa trong kinh doanh, văn hóa trong thực thi pháp luật…, phải trở thành chuẩn mực tự thân, không chỉ là khẩu hiệu.

13. Việc gắn văn hóa với phát triển kinh tế - xã hội còn thiên về hình thức

Trong nhiều chiến lược, quy hoạch, văn hóa đã được đưa vào như một trụ cột. Nhưng khi triển khai, không ít dự án vẫn đặt lợi ích kinh tế ngắn hạn lên trên giá trị văn hóa lâu dài. Quy hoạch đô thị đôi khi chưa chú ý bảo tồn ký ức không gian; phát triển du lịch đôi lúc làm nghèo đi di sản, tạo nên những sản phẩm na ná nhau, thiếu bản sắc.

Các nghiên cứu quốc tế cho thấy, mỗi 1 đồng đầu tư vào di sản có thể tạo ra nhiều đồng giá trị gia tăng cho các ngành khác, từ du lịch, dịch vụ, đến sáng tạo và giáo dục. Nhưng để khai thác được điều này, phải có tư duy tích hợp văn hóa trong mọi chính sách phát triển, chứ không coi văn hóa là “phần thêm vào” sau cùng. Chúng ta phải đưa văn hóa vào trung tâm của chiến lược phát triển kinh tế-xã hội.

14. Hạn chế trong huy động nguồn lực xã hội cho văn hóa

Ngân sách nhà nước là nguồn lực quan trọng, nhưng không thể và không nên là nguồn duy nhất cho phát triển văn hóa. Kinh nghiệm quốc tế cho thấy, nơi nào huy động tốt nguồn lực xã hội - doanh nghiệp - cộng đồng - quỹ tư nhân cho văn hóa, nơi đó đời sống văn hóa – sáng tạo phong phú, đa dạng hơn.

Ở ta, nhiều doanh nghiệp muốn đầu tư cho văn hóa, nhưng thiếu khung pháp lý rõ ràng, thiếu ưu đãi về thuế, đất đai, thủ tục phức tạp, rủi ro cao. Không ít mô hình hợp tác công - tư trong văn hóa còn lúng túng, chưa tạo được niềm tin cho nhà đầu tư.

Thủ tướng Phạm Minh Chính trong nhiều phát biểu đều nhấn mạnh cần phát huy sức mạnh của “ba trụ cột”: Nhà nước - thị trường - xã hội, trong đó văn hóa là lĩnh vực rất cần sự đồng hành của doanh nghiệp, trí thức, văn nghệ sĩ, cộng đồng. Thách thức là thiết kế chính sách đủ thông minh, đủ minh bạch để mọi chủ thể đều muốn và dám đầu tư cho văn hóa.

15. Xây dựng và lan tỏa hệ giá trị Việt Nam trong kỷ nguyên mới – thách thức lớn nhất nhưng cũng căn bản nhất

Cuối cùng, thách thức lớn nhất của văn hóa Việt Nam trong nhiệm kỳ Đại hội XIV chính là xây dựng và lan tỏa hệ giá trị quốc gia, hệ giá trị văn hóa và con người Việt Nam trong kỷ nguyên mới: Yêu nước - nhân ái - đoàn kết - nghĩa tình - trung thực - trách nhiệm - kỷ cương - sáng tạo; khát vọng vươn lên; ý thức thượng tôn pháp luật; lối sống nhân văn, lành mạnh.

Chủ tịch Hồ Chí Minh, trong “Đời sống mới” và nhiều bài viết, bài nói chuyện, luôn nhấn mạnh vai trò của văn hóa, đạo đức, lối sống. Tư tưởng ấy được Đảng ta kế thừa và phát triển qua các thời kỳ, nhất là trong bối cảnh hiện nay, khi thế hệ trẻ lớn lên trong một thế giới đa giá trị, đa nguồn ảnh hưởng.

Tổng Bí thư Tô Lâm, tại Lễ kỷ niệm 80 năm ngành Văn hóa, nhấn mạnh văn hóa xây nên dáng hình của dân tộc, định hình hệ giá trị Việt Nam trong thời kỳ mới, củng cố sức mạnh đoàn kết, bồi đắp lòng tin và khát vọng phát triển. Hệ giá trị đó không thể chỉ “nằm trên giấy”, mà phải thấm vào từng chính sách, từng ngôi trường, từng gia đình, từng sản phẩm văn hóa, từng hành vi công vụ, từng hoạt động kinh doanh. Đây vừa là thách thức, vừa là tiêu chí để đánh giá thành công của nhiệm kỳ Đại hội XIV trên mặt trận văn hóa.

*

* *

Nhìn lại 15 thách thức trên, chúng ta thấy một bức tranh vừa nhiều cơ hội, vừa nhiều yêu cầu mới, vừa nhiều việc phải làm ngay. Nhưng lịch sử dân tộc cho thấy, mỗi khi đối mặt với những thời khắc khó khăn, văn hóa và con người Việt Nam luôn là nguồn sức mạnh quyết định.

Từ tư tưởng Hồ Chí Minh “Văn hóa soi đường cho quốc dân đi”, đến khẳng định của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng “Văn hóa là hồn cốt của dân tộc. Văn hóa còn thì dân tộc còn”, rồi những chỉ đạo của Tổng Bí thư Tô Lâm về việc để truyền thống 80 năm ngành Văn hóa thật sự tỏa sáng trong giai đoạn mới, và thông điệp của Thủ tướng Phạm Minh Chính “Văn hóa là nền tảng - Thông tin là mạch dẫn - Thể thao là sức mạnh - Du lịch là nhịp cầu kết nối - Vững bước vào kỷ nguyên mới” - tất cả đang tạo nên một trường lực tư tưởng mạnh mẽ, đặt văn hóa vào trung tâm của tầm nhìn phát triển đất nước.

Nhiệm kỳ Đại hội XIV phải là giai đoạn mà thể chế văn hóa được hoàn thiện thực chất, công nghiệp văn hóa trở thành một trụ cột kinh tế - văn hóa, chuyển đổi số văn hóa diễn ra sâu rộng, có hệ thống, thương hiệu văn hóa - hình ảnh quốc gia được định hình rõ nét, nguồn nhân lực văn hóa - sáng tạo được đầu tư chiến lược, và trên hết, hệ giá trị Việt Nam được nuôi dưỡng, lan tỏa trong đời sống xã hội.

Bởi suy cho cùng, văn hóa, cũng giống như giáo dục, chính là “nguyên khí của quốc gia”: Nếu nguyên khí vượng thì đất nước hưng thịnh; nếu nguyên khí suy thì phát triển không thể bền vững. Trước thềm Đại hội XIV, nhìn thẳng vào 15 thách thức ấy cũng là cách chúng ta chuẩn bị hành trang tinh thần cho một chặng đường mới - tự tin hơn, bản lĩnh hơn, nhân văn hơn, sáng tạo hơn để văn hóa thực sự trở thành sức mạnh nội sinh, soi đường cho dân tộc Việt Nam vươn mình trong kỷ nguyên mới./.
Yêu nước ST.

TÌM HIỂU GIÚP BẠN: TRIỂN LÃM "QUỐC HỘI VIỆT NAM - 80 NĂM ĐỒNG HÀNH CÙNG DÂN TỘC": CHỦ TỊCH HỒ CHÍ MINH VÀ CUỘC TỔNG TUYỂN CỬ ĐẦU TIÊN!

     Ngược dòng thời gian trở về những ngày đầu lập quốc, qua các tài liệu, hình ảnh, hiện vật quý, triển lãm “Quốc hội Việt Nam - 80 năm đồng hành cùng dân tộc” diễn ra ngày 6/1/2026 tại Nhà Quốc hội sẽ làm nổi bật vai trò của Chủ tịch Hồ Chí Minh với cuộc Tổng tuyển cử đầu tiên bầu Quốc hội nước Việt Nam năm 1946!

“Tổ chức càng sớm càng hay cuộc Tổng tuyển cử…”

Nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra đời ngày 2/9/1945 trong bối cảnh nhiều khó khăn, thách thức. Nhân dân và chính quyền cách mạng phải chống lại âm mưu của các thế lực đế quốc muốn thủ tiêu nền độc lập của dân tộc vừa giành được.

Ngày 3/9/1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh chủ trì phiên họp đầu tiên của Hội đồng Chính phủ và trình bày “Những nhiệm vụ cấp bách của Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa”, gồm 6 vấn đề cấp bách hơn cả, trong đó có nội dung “…Chúng ta phải có Hiến pháp dân chủ. Tôi đề nghị Chính phủ tổ chức càng sớm càng hay cuộc Tổng tuyển cử với chế độ phổ thông đầu phiếu…”

Người cũng tạo hành lang pháp lý cho thành công của Tổng tuyển cử bằng Sắc lệnh số 51/SL ngày 17/10/1945, ấn định ngày Tổng tuyển cử và thể lệ cuộc Tổng tuyển cử.

Trong bài viết “Ý nghĩa Tổng tuyển cử” của Chủ tịch Hồ Chí Minh đăng trên báo Cứu quốc số 130, ngày 31/12/1945, Người viết: “Tổng tuyển cử là một dịp cho toàn thể quốc dân tự do lựa chọn những người có tài, có đức để gánh vác công việc nhà nước. Trong Tổng tuyển cử, hễ là những người lo việc nước thì đều có quyền ra ứng cử. Không chia trai gái, giàu nghèo, tôn giáo, giai cấp, đảng phái, hễ là công dân Việt Nam thì đều có hai quyền đó…”

Trước giờ phút lịch sử, “Lời kêu gọi quốc dân đi bỏ phiếu” của Người (đăng trên báo Cứu Quốc, số 134 ra ngày 5/1/1946) đã truyền đi ngọn lửa sục sôi: “Ngày mai mồng 6 tháng Giêng năm 1946. Ngày mai là một ngày sẽ đưa quốc dân ta lên con đường mới mẻ. Ngày mai là một ngày vui sướng của đồng bào ta, vì ngày mai là ngày Tổng tuyển cử, vì ngày mai là một ngày đầu tiên trong lịch sử Việt Nam mà nhân dân ta bắt đầu hưởng dụng quyền dân chủ của mình.

Ngày mai, dân ta sẽ tỏ cho các chiến sĩ ở miền Nam rằng: Về mặt trận quân sự, thì các chiến sĩ dùng súng đạn mà chống quân thù. Về mặt chính trị, thì nhân dân dùng lá phiếu mà chống với quân địch. Một lá phiếu cũng có sức lực như một viên đạn.

Ngày mai, quốc dân ta sẽ tỏ cho thế giới biết rằng dân Việt Nam ta đã: Kiên quyết đoàn kết chặt chẽ, Kiên quyết chống bọn thực dân, Kiên quyết tranh quyền độc lập. Ngày mai, dân ta sẽ tự do lựa chọn và bầu ra những người xứng đáng thay mặt cho mình, và gánh vác việc nước…”

Hiện thân sống động nhất cho tinh thần dân chủ

Ngày 6/1/1946, cuộc Tổng tuyển cử bầu Quốc hội đầu tiên đã diễn ra trong cả nước, kể cả các vùng đang có chiến sự ở Nam Bộ, Nam Trung Bộ và Tây Nguyên… Ở Hà Nội, 91,95% của 74 khu nội thành và 118 làng ngoại thành đã đi bỏ phiếu trong không khí tràn đầy phấn khởi của ngày hội dân chủ. Kết quả 6/74 ứng cử viên đã trúng cử đại biểu Quốc hội. Chủ tịch Hồ Chí Minh trúng cử với số phiếu cao nhất (98,4%).

Ở các địa phương khác, cuộc Tổng tuyển cử cũng được tiến hành sôi nổi. Trong cả nước, số cử tri đi bỏ phiếu đạt tỉ lệ 89%, 333 đại biểu được bầu vào Quốc hội Khóa I, là minh chứng hùng hồn cho sức mạnh của khối đại đoàn kết dân tộc và niềm tin tuyệt đối vào chế độ mới.

Tổng tuyển cử đầu tiên năm 1946 đã khẳng định quyền làm chủ của Nhân dân và sức mạnh nhân dân, tinh thần đoàn kết và vai trò của một hệ thống chính trị xây dựng trên nền tảng dân chủ, pháp quyền. Thắng lợi ấy là minh chứng rõ rệt cho ý chí độc lập, tinh thần yêu nước và khát vọng dân chủ của dân tộc Việt Nam ngay từ buổi đầu dựng nước trong thời đại mới.

Ở đó, Chủ tịch Hồ Chí Minh không chỉ là người thiết kế, tổ chức mà còn là hiện thân sống động nhất cho tinh thần dân chủ ấy. Người đã chứng minh rằng: Một dân tộc chỉ thực sự tự do khi mỗi người dân đều ý thức được quyền lợi và trách nhiệm của mình đối với vận mệnh đất nước.

Những giá trị về dân chủ, pháp quyền và đại đoàn kết mà Chủ tịch Hồ Chí Minh đặt nền móng từ 80 năm trước vẫn còn nguyên giá trị, tiếp tục soi sáng con đường phát triển của Quốc hội và đất nước trong kỷ nguyên mới./.
Yêu nước ST.

MỐI NGUY HẠI KHÔN LƯỜNG TỪ TƯ TƯỞNG XÉT LẠI LỊCH SỬ!

     Trên thực tế, đa số các quan điểm xét lại, phủ nhận lịch sử đều xuất phát từ những thế lực chống đối, thành phần bất mãn chính trị và cơ hội chính trị. Tuy vậy, vẫn còn một bộ phận cán bộ, đảng viên và quần chúng nhân dân chưa nhận thức đầy đủ về tính nghiêm trọng của vấn đề, thiếu cảnh giác, vô hình trung đã để cho các quan điểm, tư tưởng xét lại lịch sử lan truyền trong đời sống xã hội, từ đó gây ra nhiều hệ lụy.

1. “Dân ta phải biết sử ta/ Cho tường gốc tích nước nhà Việt Nam”.

Lời căn dặn năm xưa của Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ rõ ý nghĩa, tầm quan trọng của lịch sử đối với sự tồn vong của đất nước. Lịch sử là tập hợp những sự kiện đã xảy ra, hàm chứa nhiều bài học sâu sắc trong tiến trình vận động và phát triển của cả một dân tộc. Vì lẽ đó, lịch sử không bao giờ chỉ đơn thuần là câu chuyện trong quá khứ mà còn là mối dây liên kết bền chặt giữa các thế hệ, đúc kết kinh nghiệm của cha ông để kiến tạo con đường phát triển cho hôm nay và mai sau.

Đất nước Việt Nam có bề dày lịch sử dựng nước và giữ nước đáng tự hào. Nhân dân Việt Nam có truyền thống trọng đạo nghĩa, luôn ghi nhớ công lao của các thế hệ đi trước, giữ gìn và phát huy những giá trị cao đẹp được tích lũy xuyên suốt chiều dài lịch sử. Nhận thức được điều đó, kể từ khi thành lập, Đảng Cộng sản Việt Nam luôn coi trọng lịch sử truyền thống dân tộc, coi đó là nguồn lực nội sinh, kết hợp với ánh sáng soi đường của Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh để lãnh đạo đất nước đi qua bao cuộc “thử lửa” của thời đại, viết tiếp những trang sử hào hùng của dân tộc.

Việc tìm hiểu, khai thác giá trị lịch sử có mối quan hệ khăng khít với sự nghiệp cách mạng xã hội chủ nghĩa mà Đảng, Nhà nước và nhân dân ta đang thực hiện. Có lẽ vì thế mà lịch sử cũng trở thành một nội dung chống phá của các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị với nhiều thủ đoạn tinh vi, nham hiểm.

2. Trong đời sống xã hội ở nước ta hiện nay vẫn còn tồn tại nhiều quan điểm sai trái, tư tưởng lệch lạc nhằm cắt đứt con đường tìm về với ngọn nguồn lịch sử, tiếp sức cho những mưu đồ phá hoại thâm độc.

Thứ nhất, những quan điểm, tư tưởng xét lại về vai trò của lịch sử, gạt bỏ sức ảnh hưởng của lịch sử khỏi đời sống xã hội dần làm phai nhạt lòng yêu nước, ý chí cách mạng, bản sắc văn hóa dân tộc trong quần chúng nhân dân. Những người theo tư tưởng này cho rằng lịch sử không có nhiều ý nghĩa trong điều kiện nền kinh tế thị trường và cách mạng khoa học-công nghệ, do đó cần giảm bớt sự quan tâm đến lịch sử để tập trung cho các lĩnh vực khác, đồng thời giảm bớt hoặc bỏ môn học Lịch sử trong chương trình giáo dục ở các cấp học.

Quan điểm sai trái này đánh vào tâm lý thực dụng của một bộ phận quần chúng, nhất là đối tượng thanh thiếu niên vì họ tuy có sự năng động, nhiệt huyết nhưng chưa có bản lĩnh vững vàng, thường gặp khó khăn trong việc tiếp thu giá trị sâu sắc của bài học lịch sử. Quan điểm phủ nhận vai trò của lịch sử rất phổ biến trên không gian mạng với hình thức chủ yếu là những bài viết mang tính định hướng dư luận, kích động tâm lý đám đông. Tư tưởng phủ nhận vai trò của lịch sử vẫn rất nguy hiểm, đánh trực diện vào tư duy của nhiều người trẻ-thế hệ tương lai của đất nước, khiến họ lãng quên lịch sử dân tộc, vô cảm với vận mệnh quốc gia, lâu dài sẽ dẫn tới nguy cơ đánh mất độc lập, tự chủ, phụ thuộc vào kẻ khác.

Thứ hai, các quan điểm xuyên tạc, xét lại lịch sử đến từ nhiều loại đối tượng khác nhau, chủ yếu từ các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị. Thủ đoạn quen thuộc của các đối tượng xuyên tạc lịch sử là viết sách, viết báo, đăng tải bài viết dưới danh nghĩa “công trình nghiên cứu” để đưa số liệu, thông tin sai trái, đổi trắng thay đen, xuyên tạc trắng trợn những sự kiện lịch sử đã xảy ra; xoáy sâu vào một vài hạn chế của cách mạng Việt Nam trong những thời kỳ trước đây. Các đối tượng tập trung vào những sự kiện từ năm 1945 trở về sau vì đây là quãng thời gian Đảng ta nắm quyền lãnh đạo công cuộc kháng chiến và xây dựng chủ nghĩa xã hội. Mục tiêu của thủ đoạn xuyên tạc lịch sử là nhằm bôi nhọ, hạ thấp uy tín của Đảng.

Bên cạnh thủ đoạn xuyên tạc lịch sử, các đối tượng chống phá còn sử dụng một chiêu bài tinh vi hơn, đó là xét lại lịch sử. Hoạt động xét lại lịch sử có phạm vi rộng hơn, không chỉ hướng đến các sự kiện trong lịch sử hiện đại mà còn nhắm vào các thời kỳ lịch sử trung đại, cận đại. Thay vì trực tiếp xuyên tạc, các đối tượng theo khuynh hướng xét lại lịch sử đi sâu vào phân tích, lật lại những vấn đề chưa rõ ràng, tính chính nghĩa của các nhân vật lịch sử và tính đúng đắn của sự kiện lịch sử; đặt ra giả thuyết để tạo sự nghi ngờ ở người đọc, người nghe đối với nguồn lịch sử chính thống; ca ngợi phồn vinh giả tạo của chế độ ngụy quyền để khơi gợi tư duy xét lại, phủ định sự nghiệp đấu tranh cách mạng; tạo ra sản phẩm giải trí, sáng tác văn học-nghệ thuật mượn chất liệu lịch sử để cài cắm thông điệp với dụng ý xấu. Hoạt động xét lại lịch sử có mục đích chính là phủ nhận quan điểm lịch sử chính thống đã được Đảng, Nhà nước ta công nhận và cũng không nằm ngoài mục đích chống phá Đảng, cách mạng và chế độ ta.

3. Bảo vệ giá trị, tầm quan trọng của lịch sử, bảo vệ sự thật lịch sử là bộ phận không thể tách rời trong công tác bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng hiện nay.

Để ngăn chặn những hậu quả nguy hại đến từ xu hướng xét lại lịch sử, trước hết cần sớm thống nhất những nội dung về lịch sử trong tài liệu được sử dụng ở các cấp học. Phải nhấn mạnh vai trò không thể thay thế của môn học Lịch sử trong chương trình giáo dục-đào tạo; không được phép hoài nghi về tầm quan trọng của lịch sử. Nội dung học tập cần có sự chọn lọc, bảo đảm cho người học nắm được sự kiện lịch sử và bài học lịch sử, đồng thời đáp ứng những yêu cầu về văn hóa, chính trị, ngoại giao, công tác dân tộc, tôn giáo trên cơ sở lợi ích quốc gia và duy trì, củng cố khối đại đoàn kết toàn dân tộc.

Việc biên soạn, phát hành tài liệu lịch sử, sản phẩm giải trí, sáng tác văn học-nghệ thuật mượn chất liệu lịch sử phải đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý của Nhà nước và thường xuyên được kiểm tra, giám sát. Cho phổ biến rộng rãi những nguồn sử liệu chính thống đã được công nhận để sử dụng trong nghiên cứu khoa học. Với những vấn đề, sự kiện lịch sử chưa rõ ràng, cần tập trung đầu tư, huy động nguồn nhân lực, vật lực để nghiên cứu một cách căn cơ, thuyết phục, hiệu quả.

Trong tình hình hiện nay, cần tăng cường bồi dưỡng kiến thức, nâng cao nhận thức cho đội ngũ cán bộ, đảng viên trong đấu tranh với các quan điểm xét lại lịch sử. Trước hết, chú trọng vào học tập Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh mà nền tảng là quan điểm duy vật biện chứng, duy vật lịch sử vì đây là nguồn cung cấp thế giới quan, phương pháp luận chính xác khi nghiên cứu khoa học, là vũ khí để đấu tranh với những luận điệu đòi xét lại lịch sử. Bản thân cán bộ, đảng viên khi tiến hành đấu tranh cũng phải nắm được sự thật lịch sử, các bài học lịch sử để vô hiệu hóa những quan điểm thù địch, chống phá trên lĩnh vực này; phải lấy tinh thần bảo vệ lợi ích quốc gia-dân tộc, lợi ích giai cấp, bảo vệ khối đại đoàn kết toàn dân tộc làm định hướng khi tiến hành đấu tranh. Việc đấu tranh bảo vệ giá trị của lịch sử phải tuân thủ, chấp hành chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước.

Bên cạnh đó, cần sớm phát hiện, ngăn chặn và có biện pháp xử lý phù hợp, thích đáng đối với những chủ thể có hành vi xuyên tạc, xét lại lịch sử. Trên thực tế, đa số các quan điểm xét lại, phủ nhận lịch sử đều xuất phát từ những thế lực chống đối, thành phần bất mãn chính trị và cơ hội chính trị. Tuy vậy, vẫn còn một bộ phận cán bộ, đảng viên và quần chúng nhân dân chưa nhận thức đầy đủ về tính nghiêm trọng của vấn đề, thiếu cảnh giác, vô hình trung đã để cho các quan điểm xét lại lịch sử lan truyền trong đời sống xã hội. Do đó, thời gian tới, cần bảo đảm nghiêm túc, thực chất hơn nữa trong công tác đấu tranh, nhìn nhận đúng đắn về vấn đề này để bảo vệ lịch sử chân chính, bảo vệ thành quả cách mạng mà các thế hệ cha anh đi trước đã phải hy sinh biết bao xương máu để có được nền độc lập, tự do cho Tổ quốc hiện nay./.
Môi trường ST.

CHỚ ĐỂ BỊ... “DẮT MŨI”!

     Diễn biến hòa bình không ồn ào, không súng đạn. Nó bắt đầu từ những câu chuyện tưởng như vô thưởng vô phạt, rồi âm thầm làm lung lay niềm tin...

Chiều muộn, khi ông Ba ra tới quán nước đầu ngõ thì thấy Tuấn rời mắt khỏi màn hình điện thoại, quay sang cô Hương-chủ quán, nói với giọng phát hiện:

 - Này, cô đã đọc chưa? Trên mạng đang bàn tán rôm rả lắm. Kết quả Hội nghị Trung ương 15 cho thấy các phe phái trong nội bộ Đảng đấu đá nhau ghê lắm. Nhưng phe “quê cô” thắng lớn rồi.

Rót cốc trà mời ông Ba, quay sang Tuấn, cô Hương tò mò:

- Tôi cũng đọc mấy bài phân tích, nghe có vẻ... hợp lý. Họ nói đây toàn là “tin nội bộ” đấy.

Không vội phản bác, chậm rãi nhấp ngụm trà, ông Ba nêu vấn đề:

- Nếu là “tin nội bộ” thì sao lại đưa lên mạng công khai, ai cũng đọc được?

Tuấn cười xòa: Thời buổi này, “rò rỉ thông tin” là chuyện thường mà bác. Người ta phân tích sắc sảo lắm, thuyết phục lắm.

Nhìn thẳng vào mắt Tuấn, giọng ông Ba lớn hơn:

- Thuyết phục vì nó đánh trúng tâm lý tò mò của người đọc. Nhưng suy diễn khác với phân tích, các cháu ạ.

- Họ “đặt giả thiết”, “bình luận nhân sự”, “so sánh phe phái” chứ không chống phá gì đâu bác ạ! Tuấn đáp lời ông Ba.

- Đó mới là điều nguy hiểm nhất, bởi việc gieo rắc thông tin "đấu đá nội bộ" trong Đảng có thể gây nguy cơ làm xói mòn niềm tin.

Ông Ba chậm rãi nói tiếp:

- Hội nghị Trung ương 15 bàn nhiều việc lớn, trong đó có công tác nhân sự, nhưng đều dựa trên nguyên tắc tập trung dân chủ, thảo luận thẳng thắn, quyết định theo đa số và vì lợi ích chung. Trong khi đó, các thế lực thù địch cố tình cắt khúc thông tin, gán ghép động cơ, dựng chuyện để người đọc suy diễn, vô thức lan truyền thông tin.

Tuấn cau mày: Ý bác là... mình vô tình tiếp tay?

- Đúng vậy. Chia sẻ thông tin chưa kiểm chứng là giúp thế lực thù địch thực hiện mưu đồ xấu chống phá cách mạng. Thủ đoạn của chúng tinh vi, chỉ cần ta “hùa theo” là đủ.

Nhìn xuống màn hình điện thoại, giọng cô Hương chậm lại:

- Tôi cũng hay bị cuốn theo lượt xem, lượt chia sẻ. Đúng là nghĩ lại, ai cũng suy diễn, bàn tán kiểu “phe nọ, cánh kia” thì sự việc sẽ càng ngày càng phức tạp, nhân dân sẽ dao động, mất niềm tin trước mớ thông tin hỗn độn.

Gật đầu đồng ý, ông Ba tiếp lời: Đúng vậy. Đoàn kết trong Đảng là nền tảng của đoàn kết toàn dân. Các luận điệu kích động, chia rẽ khi khoác áo “phân tích”, “dự đoán” sẽ nguy hiểm hơn nhiều.

Để chiếc điện thoại sang một bên, Tuấn buông tiếng thở dài:

- Nghe bác phân tích, cháu thấy mình bị "dắt mũi" thật. Tưởng đọc để biết, nhưng thực ra là bị gieo rắc nghi ngờ.

Nhấp ngụm trà, ông Ba nói thêm: Diễn biến hòa bình không ồn ào, không súng đạn. Nó bắt đầu từ những câu chuyện tưởng như vô thưởng vô phạt, rồi âm thầm làm lung lay niềm tin. Trách nhiệm của mỗi người là tỉnh táo, chọn lọc thông tin, không suy diễn, không chia sẻ những thứ làm tổn hại sự đoàn kết chung của Đảng, của dân tộc các cháu nhé./.
Khuyết danh ST.

KHÔNG MƠ HỒ GIỮA TỰ DO DÂN CHỦ HỢP PHÁP VỚI LỢI DỤNG TỰ DO DÂN CHỦ ĐỂ CHỐNG PHÁ ĐẢNG, NHÀ NƯỚC VÀ CHẾ ĐỘ!

     Điều 331 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017, 2025) không phải là “cái gậy” để đàn áp tự do ngôn luận như những gì mà thế lực thù địch bịa đặt, mà là tấm khiên cần thiết để bảo vệ quyền tự do dân chủ được thực thi một cách thực chất. Quyền tự do dân chủ đích thực luôn đi đôi với trách nhiệm, nghĩa vụ tôn trọng pháp luật. Mọi sự xuyên tạc, lợi dụng các quyền tự do dân chủ để thực hiện các mưu đồ chính trị đen tối đều không xứng đáng được hưởng các quyền tự do dân chủ một cách hợp pháp, chính đáng.

Thời gian qua, lợi dụng các vụ án liên quan đến đối tượng có hành vi lợi dụng các quyền tự do dân chủ xâm phạm lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân theo Điều 331 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017, 2025), những phần tử cơ hội chính trị, phản động và một số tổ chức thiếu thiện chí trong và ngoài nước đã quy chụp, xuyên tạc vấn đề quyền con người ở Việt Nam. Họ cho rằng quy định đó là công cụ để “đàn áp tiếng nói phản biện”, “bóp nghẹt tự do ngôn luận”.

Các luận điệu này được ngụy trang dưới chiêu bài “bảo vệ quyền con người”, “bảo vệ tự do ngôn luận” nhằm phủ nhận tính chính danh, tính hợp hiến, hợp pháp và sự cần thiết của quy định pháp luật quan trọng nhằm bảo vệ an ninh quốc gia và thể chế chính trị. Những thủ đoạn, chiêu trò “đánh lận con đen” này vẫn thường được các đối tượng sử dụng nhằm chống phá Đảng, Nhà nước, gây bất lợi cho Việt Nam trong đối ngoại.

Bản chất pháp lý ưu việt của Việt Nam phù hợp với luật pháp quốc tế

Hiến pháp năm 2013 (sửa đổi, bổ sung năm 2025) đã hiến định: “Các quyền con người, quyền công dân về chính trị, dân sự, kinh tế, văn hóa, xã hội được công nhận, tôn trọng, bảo vệ, bảo đảm theo Hiến pháp và pháp luật” (khoản 1, Điều 14). 

Khoản 2, Điều 14 Hiến pháp năm 2013 cũng hiến định, quyền con người, quyền công dân chỉ có thể bị hạn chế theo quy định của luật trong trường hợp cần thiết vì lý do quốc phòng, an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội, đạo đức xã hội, sức khỏe của cộng đồng. Quy định này một mặt nhằm tránh các cơ quan nhà nước xâm phạm quyền con người, quyền công dân; mặt khác cũng hạn chế khả năng lợi dụng vấn đề quyền con người, quyền công dân để thực hiện các hành vi ảnh hưởng đến quốc phòng, an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội, đạo đức xã hội, sức khỏe của cộng đồng.

Hiến pháp năm 2013 đã làm rõ hơn nguyên tắc quyền công dân không tách rời nghĩa vụ công dân, trong đó mọi người có nghĩa vụ tôn trọng quyền của người khác; công dân có trách nhiệm thực hiện nghĩa vụ đối với Nhà nước và xã hội; việc thực hiện quyền con người, quyền công dân không được xâm phạm lợi ích quốc gia, dân tộc, quyền và lợi ích hợp pháp của người khác (Điều 15). Quy định này hoàn toàn phù hợp với pháp luật nhân quyền quốc tế, như Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị năm 1966 (Việt Nam là thành viên từ năm 1982) quy định việc thực hiện quyền tự do ngôn luận phải “kèm theo những nghĩa vụ và trách nhiệm đặc biệt” và “có thể bị giới hạn bởi pháp luật” vì các lý do như tôn trọng quyền hoặc uy tín của người khác, bảo vệ an ninh quốc gia, trật tự công cộng, sức khỏe hoặc đạo đức xã hội.

Chính vì thế, Điều 331 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017, 2025) quy định về “Tội lợi dụng các quyền tự do dân chủ xâm phạm lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân” là hoàn toàn phù hợp với pháp luật nhân quyền quốc tế và hợp hiến, hợp pháp ở Việt Nam.

Tội danh này quy định người phạm tội cố ý thực hiện các hành vi thể hiện dưới các phương thức, thủ đoạn lợi dụng các quyền tự do dân chủ như quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, tự do tín ngưỡng, tôn giáo, tự do hội họp, lập hội và các quyền khác với mục đích xâm phạm lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, tổ chức, như: Viết, biên tập, đăng tải các bài đả kích, lăng mạ, bôi nhọ, nói xấu, xúc phạm danh dự, nhân phẩm cá nhân các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước trên internet và các phương tiện truyền thông khác làm ảnh hưởng, thiệt hại đến uy tín của các cá nhân, cơ quan, tổ chức, thanh danh của Đảng, Nhà nước, gây mất trật tự công cộng, tạo tâm lý hoang mang, lo lắng, bất an trong xã hội.

Các chế tài đối với người phạm tội này (bị phạt cảnh cáo, phạt cải tạo không giam giữ đến 3 năm hoặc phạt tù từ 6 tháng đến 7 năm) là các biện pháp cần thiết để phòng ngừa, ngăn chặn và xử lý kịp thời các hành vi nguy hiểm này đối với xã hội, bảo đảm, bảo vệ quyền lợi hợp pháp cho các chủ thể và lợi ích quốc gia-dân tộc.

Thực tế pháp luật hầu hết các quốc gia dân chủ đều có quy định hình sự tương tự để xử lý các hành vi lạm dụng tự do ngôn luận gây hại nghiêm trọng, như: Tội phỉ báng, vu khống (Anh, Mỹ, Australia...); tội kích động thù hận (nhiều nước châu Âu); tội tán phát thông tin sai lệch gây hoang mang dân chúng (Pháp, Đức...); tội xúc phạm quốc kỳ, quốc huy (Mỹ, Ấn Độ...). Do vậy, Nhà nước quy định “tội lợi dụng các quyền tự do dân chủ xâm phạm lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân” trong pháp luật hình sự hiện hành là phù hợp thông lệ pháp luật thế giới và thực tiễn đất nước.

Việc quy định “Tội lợi dụng các quyền tự do dân chủ xâm phạm lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân” trong pháp luật hình sự hiện hành ở Việt Nam nhằm: 1) Bảo vệ lợi ích của Nhà nước, bao gồm an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ, lợi ích kinh tế, văn hóa, xã hội... Những lợi ích này là nền tảng cho sự tồn vong và phát triển của quốc gia, dân tộc; 2) Bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, gồm uy tín, danh dự, nhân phẩm, bí mật kinh doanh, tài sản... của các cơ quan, đơn vị, doanh nghiệp; 3) Bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của cá nhân, gồm danh dự, nhân phẩm, uy tín, đời tư, bí mật cá nhân, gia đình, tài sản... của mỗi công dân; 4) Bảo vệ môi trường thông tin lành mạnh, gồm chống lại sự lan truyền thông tin giả mạo, độc hại, gây hoang mang, chia rẽ xã hội, phá hoại niềm tin.

Như vậy, việc quy định tội danh này không nhằm hạn chế tự do phát biểu chính kiến hay phản biện xã hội, mà nhằm ngăn chặn sự lạm dụng, sử dụng các quyền tự do đó như một công cụ để gây hại một cách có chủ đích và nghiêm trọng đến các giá trị được pháp luật bảo vệ.

Thực tế, không phải mọi phát biểu trái chiều của cá nhân đều bị coi là phạm tội. Những hành vi này chỉ cấu thành tội phạm khi nó thực sự xâm phạm đến một trong các đối tượng được pháp luật hình sự bảo vệ (lợi ích Nhà nước, quyền lợi tổ chức, cá nhân) do người có đủ năng lực pháp luật hình sự thực hiện.

Vạch trần các luận điệu xuyên tạc Điều 331 của Bộ luật Hình sự hiện hành

Thứ nhất, luận điệu cho rằng “Điều 331 dùng để đàn áp tiếng nói phản biện, chỉ trích chính quyền” là sự suy diễn ác ý và sai lầm của thế lực thù địch.

Phản biện xã hội đúng quy định pháp luật, vì lợi ích chung, lành mạnh, xây dựng, dựa trên sự thật và động cơ trong sáng luôn được khuyến khích và bảo vệ tại Việt Nam. Hàng nghìn ý kiến phản biện trên báo chí, diễn đàn Quốc hội, hội thảo khoa học, qua các kênh tiếp công dân... là minh chứng rõ ràng cho điều này. Vừa qua, kết quả góp ý sửa đổi Hiến pháp năm 2013 cho thấy sự tham gia tích cực của người dân với hơn 280 triệu lượt ý kiến góp ý từ các cơ quan, tổ chức và cá nhân trên cả nước, trong đó có gần 36,6 triệu ý kiến từ cá nhân, và tỷ lệ tán thành đạt 99,75% cho thấy sự đồng thuận cao của xã hội đối với dự thảo Hiến pháp sửa đổi.

Thực tiễn đó cho thấy, Việt Nam không hạn chế quyền tự do ngôn luận, báo chí, quyền tiếp cận thông tin, quyền trưng cầu ý dân, phản biện xã hội. Ngược lại, việc thực hiện các quyền này đúng quy định pháp luật, vì lợi ích chung luôn được tôn trọng, bảo đảm và khuyến khích thực hiện đầy đủ trong thực tế. Điều 331 của Bộ luật Hình sự hiện hành chỉ áp dụng đối với hành vi lợi dụng các quyền tự do dân chủ để xuyên tạc, phỉ báng, tuyên truyền chống phá Đảng, chống phá Nhà nước và chế độ xã hội chủ nghĩa.

Thứ hai, luận điệu cho rằng “Điều 331 được sử dụng để bịt miệng blogger, nhà báo độc lập” là sự đánh tráo khái niệm và ngụy biện của thế lực thù địch.

Nhà báo, blogger hoạt động hợp pháp, tuân thủ pháp luật, đạo đức nghề nghiệp, cung cấp thông tin chính xác, chính thống, có trách nhiệm luôn được tôn trọng. Hệ thống báo chí chính thống và nhiều blogger tuân thủ pháp luật vẫn hoạt động bình thường ở Việt Nam.

Việc một số cá nhân tự nhận là “nhà báo”, “blogger” nhưng lợi dụng danh nghĩa này để thực hiện các hành vi vi phạm pháp luật (như cố ý đăng tin sai sự thật, xuyên tạc, bôi nhọ cá nhân, tổ chức, tán phát thông tin chống phá Nhà nước) thì có thể bị xử lý theo Điều 331 hoặc các điều luật khác (như "Tội đưa hoặc sử dụng trái phép thông tin mạng máy tính, mạng viễn thông"-Điều 288 của Bộ luật Hình sự).

Việc xử lý họ là vì hành vi phạm tội, không phải vì danh nghĩa hay nghề nghiệp của họ. Luật Báo chí năm 2016 phân biệt rõ nhà báo hoạt động trong cơ quan báo chí được cấp phép với người hoạt động thông tin trên mạng (không phải là nhà báo theo luật định). Mọi người đều có quyền tự do ngôn luận, tự do thông tin, nhưng đều phải tuân thủ pháp luật.

Thứ ba, luận điệu cho rằng “Việt Nam vi phạm cam kết quốc tế về tự do ngôn luận khi có Điều 331” là sự vu khống của thế lực thù địch.

Điều 331 của Bộ luật Hình sự hiện hành phù hợp với giới hạn quyền được quy định tại Điều 19 của Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị năm 1966. Quy định này cho phép các quốc gia áp dụng các biện pháp giới hạn quyền nhằm bảo vệ an ninh quốc gia, trật tự công cộng, sức khỏe, đạo đức xã hội, quyền hoặc uy tín của người khác. Việc thực thi Điều 331 chính là để bảo vệ các giá trị đó. Các báo cáo quốc gia định kỳ của Việt Nam về thực hiện Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị năm 1966 đều giải trình rõ quan điểm và thực tiễn này.

Tựu trung lại, Điều 331 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017, 2025) không phải là “cái gậy” để đàn áp tự do ngôn luận như những gì thế lực thù địch bịa đặt, mà là “tấm khiên” cần thiết để bảo vệ quyền tự do dân chủ được thực thi một cách thực chất, có trật tự và an toàn. Quy định đó nhằm bảo vệ xã hội khỏi những hành vi lạm dụng quyền tự do dân chủ để xâm phạm lợi ích chung, quyền lợi chính đáng của người khác. Quyền tự do dân chủ đích thực luôn đi đôi với trách nhiệm, nghĩa vụ tôn trọng pháp luật. Mọi sự xuyên tạc, lợi dụng các quyền tự do dân chủ để thực hiện các mưu đồ chính trị đen tối đều không xứng đáng được hưởng các quyền tự do dân chủ một cách hợp pháp, chính đáng./.
Môi trường ST.

Thứ Sáu, 2 tháng 1, 2026

TỈNH TÁO TRƯỚC LUẬN ĐIỆU “ĐẤT NƯỚC HÒA BÌNH, KHÔNG CẦN ĐẦU TƯ CHO QUỐC PHÒNG, AN NINH, CHỈ TẬP TRUNG PHÁT TRIỂN KINH TẾ”!

     Thời gian gần đây, một số ý kiến cho rằng, đất nước Việt Nam đã giành độc lập, thống nhất, hòa bình đã tồn tại trên mảnh đất Việt Nam nửa thế kỷ, do đó không nhất thiết phải đầu tư cho quốc phòng, an ninh mà cần tập trung phát triển kinh tế thì đất nước mới giàu mạnh, thịnh vượng, phồn vinh. Tuy nhiên, tình hình chính trị quân sự trên thế giới và thực tiễn lịch sử, cách mạng Việt Nam không tương thích với luận điệu phiến diện, sai lầm này.

Quan điểm phiến diện, cực đoan, ẩn chứa âm mưu nguy hại

Trong bối cảnh toàn cầu hóa, hội nhập quốc tế và cuộc cách mạng khoa học-công nghệ diễn ra mạnh mẽ hiện nay, một số người cho rằng, chiến tranh đã lùi vào dĩ vãng, xung đột vũ trang và chiến tranh không còn là nguy cơ đe dọa loài người. Quan điểm này dẫn đến nhận thức sai lệch: Nhân dân Việt Nam đang chung sống hòa bình, không có chiến tranh thì không cần phải đầu tư cho quốc phòng, an ninh; không cần xây dựng Quân đội và Công an mà phải quan tâm đầu tư nguồn lực, ngân sách cho phát triển kinh tế, chăm lo phúc lợi xã hội, nâng cao chất lượng đời sống người dân.

Không chỉ vậy, có quan điểm còn cho rằng, đầu tư cho quốc phòng, an ninh; xây dựng Quân đội và Công an là lãng phí, là không cần thiết trong thời bình, vì không có lý do để đầu tư, không cần thiết để tồn tại vì nó không sinh lời. Cách tiếp cận này cho rằng, thế giới hiện nay cũng như ở Việt Nam không còn nguy cơ chiến tranh, có chăng chỉ là xung đột vũ trang nhất thời. Theo họ, thời nay, các quốc gia, dân tộc chủ yếu lựa chọn phương pháp đối thoại và thương lượng hòa bình thay cho đối đầu; hợp tác và phát triển thay cho xung đột vũ trang để phòng tránh nguy cơ chiến tranh nhằm bảo vệ lợi ích quốc gia, dân tộc; tạo cơ hội mới để phát triển nên sẽ không có chiến tranh.

Theo quan điểm này, đầu tư cho quốc phòng, an ninh và xây dựng Quân đội, Công an là "rất tốn kém, thậm chí đẩy đất nước vào vòng xoáy của cuộc chạy đua vũ trang mới", trong khi đó, nền kinh tế trong kỷ nguyên số của Việt Nam rất cần đầu tư nhiều nguồn lực để đẩy mạnh sản xuất, kinh doanh, tăng thu nhập, tạo ra nhiều sản phẩm hàng hóa cho xã hội, phục vụ tốt hơn nhu cầu của nhân dân sau những “cú sốc” mạnh do đại dịch Covid-19 gây ra. Do vậy, họ cho rằng cần phải tiết kiệm tiền của, sức lực để đầu tư cho sản xuất, kinh doanh, tăng trưởng kinh tế, nâng cao chất lượng cuộc sống thay vì chi phí cho Quân đội, Công an mua sắm, chế tạo vũ khí trang bị hay hệ thống an ninh rất tốn kém. 

Thoạt nghe quan điểm trên, có người cho là có lý. Nhưng nhìn sâu vào bản chất của vấn đề, quan điểm nêu trên thể hiện rõ tầm nhìn hạn hẹp, phiến diện, cực đoan khi tuyệt đối hóa vai trò của kinh tế, tuyệt đối hóa sức mạnh của kinh tế và làm giàu bằng mọi giá nhưng lại coi nhẹ quốc phòng, an ninh, phủ nhận vai trò của Quân đội và Công an. Họ đã tách rời hai nhiệm vụ chiến lược của cách mạng Việt Nam là xây dựng đất nước luôn đi đôi với bảo vệ Tổ quốc, thậm chí đối lập nó với nhau. Có thể nói rằng, việc đề cao thái quá vai trò của tăng trưởng kinh tế, làm giàu bằng mọi cách thực chất là hạ thấp, coi thường nhiệm vụ quốc phòng, an ninh, bảo vệ Tổ quốc. Đây là âm mưu ẩn chứa ý đồ chính trị thâm độc, nguy hại, do đó cần đấu tranh, bác bỏ.

Thực hiện nhất quán quan điểm của Đảng “Bảo đảm quốc phòng, an ninh là nhiệm vụ trọng yếu, thường xuyên”

Thế giới hiện nay không hoàn toàn hòa bình như vẻ bề ngoài mà người ta nhìn thấy. Hàng loạt "điểm nóng” do xung đột quân sự vẫn đang tồn tại âm ỉ như Ukraine-Nga, Israel-Palestine, các cuộc nội chiến ở Sudan, Yemen, Syria, hay căng thẳng giữa Mỹ và Trung Quốc về vấn đề Đài Loan, Campuchia và Thái Lan. Ở Việt Nam, nguy cơ bất ổn chính trị cũng còn tiềm ẩn...

Bên cạnh đó, các hình thức chiến tranh mới như chiến tranh mạng, chiến tranh thông tin, chiến tranh phi đối xứng, chiến tranh kinh tế... ngày càng phổ biến và rất nguy hiểm. Nguy cơ xung đột vũ trang, bạo loạn lật đổ, “diễn biến hòa bình”, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ, “phi chính trị hóa” lực lượng vũ trang không hề biến mất mà chỉ thay đổi hình thức, lúc thì công khai, lúc thì ngấm ngầm. Tình hình trở nên rất khó đoán định bởi nhiều kịch bản có thể diễn ra. Do đó, việc một số người đề xuất không cần đầu tư cho quốc phòng, an ninh, không cần xây dựng Quân đội và Công an là đồng nghĩa với quan điểm “tự sát”, tự làm suy yếu khả năng phòng thủ của quốc gia; là tước bỏ quyền chủ động bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa và giữ nước từ khi nước chưa nguy.

Thực tế cho thấy, Iraq và Libya từng có tiềm lực kinh tế đáng kể, dự trữ ngoại tệ của quốc gia khá cao, nhưng do mất cảnh giác và thiếu khả năng tự vệ, trong khi chiến lược và chính sách quốc phòng, an ninh yếu kém, họ đã rơi vào khủng hoảng trầm trọng kéo dài, nội chiến và bị can thiệp quân sự từ bên ngoài đã “bóp nghẹt” nền độc lập, tự do của họ. Hay như Liên Xô từng là một siêu cường, thành trì của phe xã hội chủ nghĩa nhưng vì quá nóng vội trong cải tổ nên đã mắc mưu “diễn biến hòa bình” của chủ nghĩa đế quốc, bị chệch hướng xã hội chủ nghĩa và sai lầm về đường lối chính trị, kết cục đã bị sụp đổ.

Rõ ràng, một đất nước không có khả năng bảo vệ độc lập chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ thì mọi thành quả kinh tế, sự giàu có đều có thể bị xóa sạch chỉ trong một thời gian ngắn. Phát triển kinh tế là cần thiết nhưng cũng rất cần một môi trường hòa bình, ổn định để nuôi dưỡng, giữ gìn và phát triển các giá trị, thành quả cách mạng đã giành được. Điều đó nhất thiết cần được bảo đảm bởi một nền quốc phòng, an ninh vững chắc, được Quân đội và Công an bảo vệ, gìn giữ hòa bình cho đất nước.

Sự lầm tưởng giữa "hòa bình tương đối" và "an toàn tuyệt đối" là một sai lầm trong nhận thức, dẫn đến những hành động sai trái trong thực tiễn không thể cứu vãn. Nhìn bề ngoài, không có chiến tranh, không có xung đột vũ trang không có nghĩa là không có nguy cơ đe dọa. Các mâu thuẫn, bất đồng, tranh chấp về chủ quyền lãnh thổ, tôn giáo, dân tộc, quyền lợi chiến lược, nhất là lợi ích quốc gia dân tộc vẫn luôn tiềm ẩn, đe dọa an ninh quốc gia. Khi những mâu thuẫn đó bị kích hoạt, xung đột vũ trang và chiến tranh có thể bùng nổ bất cứ lúc nào nếu quốc gia không đủ khả năng phòng vệ...

Sai lầm cốt tử của quan điểm coi quốc phòng, an ninh và phát triển kinh tế là hai lĩnh vực đối lập, loại trừ nhau. Thực ra, hai lĩnh vực này có mối quan hệ biện chứng, tác động và quy định lẫn nhau. Quốc phòng, an ninh là cơ sở, nền tảng vững chắc và là tiền đề cần thiết để phát triển kinh tế-xã hội. Một đất nước không ổn định chính trị, thường xuyên bị đe dọa từ bên ngoài và nguy cơ nổi loạn từ bên trong sẽ không thể thu hút đầu tư, không thể bảo vệ tài sản, nhân lực hay thành quả cách mạng và hòa bình mà các thế hệ đi trước đã đánh đổi bao xương máu mới giành được.

Trong bối cảnh tình hình phức tạp hiện nay, vị trí, vai trò chiến lược của quốc phòng, an ninh, bảo vệ Tổ quốc lại càng nổi bật và được tăng lên không ngừng, nhất là trong bối cảnh địa-chính trị toàn cầu đang có nhiều biến động khó lường. Trong bối cảnh đó, Việt Nam ý thức rõ rằng, nếu thiếu năng lực tự vệ, sao nhãng quốc phòng, an ninh; Quân đội và Công an suy yếu thì sẽ dễ dàng trở thành mục tiêu bị lấn át hoặc can thiệp, nguy cơ chủ quyền quốc gia bị đe dọa, nền hòa bình đất nước sẽ gặp nguy cơ bị “bốc hơi”.

Hiện nay, các loại hình chiến tranh mới như chiến tranh thông tin, chiến tranh mạng, khủng bố xuyên quốc gia, biến đổi khí hậu, dịch bệnh toàn cầu; phòng, chống tội phạm xuyên quốc gia... càng đòi hỏi Việt Nam phải có nền quốc phòng, an ninh vững mạnh, chuyên nghiệp, thiện chiến để ứng phó kịp thời, hiệu quả trước các tình huống. Vì lẽ đó, đầu tư vào an ninh, quốc phòng và xây dựng Quân đội, Công an hiện đại không chỉ là đầu tư cho vũ khí, trang bị kỹ thuật mà còn là đầu tư cho trí tuệ, khoa học-công nghệ, nhất là đầu tư cho con người cầm chắc tay súng bảo vệ Tổ quốc.

Quốc phòng, an ninh không thể xây dựng ngày một ngày hai hoặc mong muốn là có ngay được. Đây là hai lĩnh vực đòi hỏi phải chuẩn bị trước kỹ càng với quy trình nghiêm ngặt, đầu tư lớn, lâu dài, kiên trì, có tầm nhìn chiến lược cả về con người, thế trận, vũ khí, trang bị và các mối quan hệ liên quan. Khi nguy cơ xung đột, chiến tranh xảy ra, nếu không có sự chuẩn bị từ trước, từ sớm, từ xa, hậu quả sẽ vô cùng thảm khốc. Vì thế, để vững tin bước vào kỷ nguyên mới, nhất thiết và bắt buộc chúng ta phải luôn duy trì năng lực quốc phòng, an ninh đủ mạnh để răn đe, bảo vệ Tổ quốc và sẵn sàng ứng phó với mọi sự bất trắc có thể xảy ra.

Đảng, Nhà nước Việt Nam luôn xác định quốc phòng, an ninh là nhiệm vụ trọng yếu, thường xuyên; đồng thời, phát triển kinh tế là trung tâm-một trong những nhiệm vụ chính trị hàng đầu, quyết định việc thực hiện hai nhiệm vụ chiến lược xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Vì vậy, Chiến lược bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới, Chiến lược quốc phòng, Chiến lược quân sự, Chiến lược an ninh quốc gia được triển khai thực hiện đồng bộ, thống nhất và hiệu quả, gắn kết chặt chẽ với nhiệm vụ phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội, đối ngoại với quốc phòng, an ninh. Nhiều công trình kết hợp quốc phòng, an ninh gắn chặt với phát triển kinh tế như hạ tầng trên đảo, tuyến biên giới, vùng sâu, vùng xa; ở đó không chỉ củng cố an ninh, chủ quyền mà còn thúc đẩy phát triển kinh tế-xã hội của các địa phương. Các doanh nghiệp quốc phòng, an ninh đang chủ động, tích cực tham gia vào sản xuất dân dụng, đóng góp nhiều sản phẩm hàng hóa lưỡng dụng và tăng nguồn ngân sách cho nền kinh tế quốc dân.

Phát triển kinh tế-xã hội bền vững là rất cần thiết nhưng không thể tách rời việc xây dựng, củng cố quốc phòng, an ninh và bảo vệ Tổ quốc. Ngược lại, một nền quốc phòng, an ninh vững mạnh luôn là chỗ dựa vững chắc cho mọi nỗ lực phát triển kinh tế-xã hội bền vững. Vì lẽ đó, xây dựng Quân đội nhân dân và Công an nhân dân cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại là một yêu cầu khách quan, nhiệm vụ cấp bách, gắn chặt với sứ mệnh bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.

Trước những thách thức ngày càng phức tạp của cả an ninh truyền thống và phi truyền thống, Đảng và Nhà nước Việt Nam đã xác định rõ phương châm: Phát triển kinh tế-xã hội là trung tâm, xây dựng Đảng là then chốt, bảo đảm quốc phòng, an ninh là nhiệm vụ trọng yếu, thường xuyên. Trong bối cảnh đó, việc xây dựng, thực hiện hệ thống giải pháp toàn diện, đồng bộ để xây dựng và củng cố quốc phòng, an ninh, xây dựng Quân đội nhân dân và Công an nhân dân vững mạnh toàn diện là vấn đề sống còn để giữ vững nền hòa bình, ổn định và phát triển đất nước bền vững trong kỷ nguyên vươn mình của dân tộc./.
Ảnh: Lực lượng vũ trang diễu binh, diễu hành tại Lễ kỷ niệm 80 năm Cách mạng Tháng Tám thành công và Quốc khánh 2-9.
Môi trường ST.