Chủ Nhật, 4 tháng 1, 2026

ÔNG CHA TA ĐÁNH GIẶC: ĐẶC CÔNG VIỆT NAM VÀ NHỮNG PHI VỤ ĐÁNH B-52 NGAY TẠI SÀO HUYỆT!

     Người Mỹ cho rằng Utapao là căn cứ quân sự bất khả xâm phạm và thường xuyên để trong căn cứ khoảng 20 chiếc máy bay B-52. Và họ đã phải trả giá cho sự chủ quan của mình.

Trong những năm 1965 – 1966, Không quân Mỹ đã dội xuống miền Bắc Việt Nam một khối lượng bom đạn khổng lồ, tập trung đánh phá dữ dội vào các cơ sở điện lực công nghiệp, giao thông, kho dự trữ nhiên liệu, sân bay và các trận địa phòng không, các cơ sở dân sự khác.

Tháng 2/1967, Tổng thống Johnson chuẩn y đề nghị của Hội đồng tham mưu trưởng liên quân Mỹ, cho phép mở rộng phạm vi đánh phá trong khu vực Hà Nội, Hải Phòng, tiến hành rải mìn trên các luồng sông, cửa biển; dùng không quân khống chế gắt gao khu vực ven biển từ Vĩ tuyến 17 đến Vĩ tuyến 20…

Để thực hiện kế hoạch này, Mỹ đã củng cố và tiến hành xây dựng những căn cứ không quân tại Thái Lan như sân bay Utapao, Ubon, Udon. Do vị trí rất gần Việt Nam, từ những sân bay này, những chiếc máy bay B-52 của Mỹ sẽ cất cánh đi đánh phá miền Bắc Việt Nam mà không cần tiếp nhiên liệu trên không, cường độ xuất kích cao hơn, khả năng tiếp vận cũng sẽ nhanh và nhiều hơn…

Với chủ trương: địch xuất phát từ đâu, ta sẽ đánh trả ngay tại nơi sào huyệt của chúng, và trên cơ sở phân tích tin tình báo chiến lược, phán đoán ý đồ của Mỹ, Bộ Tư lệnh Binh chủng Đặc công đã giao nhiệm vụ cho Thượng tá Nguyễn Đức Trúng, Tham mưu trưởng Binh chủng, nghiên cứu và chuẩn bị phương án đánh thẳng vào những căn cứ máy bay B-52 của Mỹ tại Thái Lan, khi chúng tăng cường ném bom Thủ đô Hà Nội.

Đánh sân bay Utapao - sào huyệt của những chiếc B-52 ném bom Hà Nội, Hải Phòng.

Utapao là một sân bay quân sự của Thái Lan được xây dựng từ năm 1952, cách thủ đô Bangkok khoảng 190 km. Năm 1968, quân đội Mỹ đầu tư thành một căn cứ không quân chiến lược để sử dụng trong chiến lược quân sự của Mỹ ở khu vực Đông Nam Á. Người Mỹ cho rằng đây là căn cứ quân sự bất khả xâm phạm và thường xuyên để trong căn cứ khoảng 20 chiếc máy bay B-52. Mỗi đêm, Mỹ sử dụng từ 3 đến 5 chiếc B-52 đi rải bom ở Việt Nam.

Bộ Tư lệnh Binh chủng Đặc công xác định không thể đánh sân bay Utapao bằng lực lượng lớn từ xa, mà phải dùng một lực lượng nhỏ những người lính đặc công đang hoạt động trên đất Thái Lan thì mới có điều kiện tiếp cận, điều tra nghiên cứu và tấn công mục tiêu.

Tháng 5/1971, đồng chí Lê Toàn - Chính trị viên Tiểu đoàn Đặc công biệt động 1A đã cùng một tổ công tác vượt biên giới sang Campuchia rồi từ đó lên sát biên giới Thái Lan, trực tiếp bắt liên lạc và thành lập một tổ đặc công gồm các anh Trần Thế Lại, Bùi Văn Phương, Vũ Công Đài lúc đó đang hoạt động trên đất Thái Lan. Đồng chí Lê Toàn giao nhiệm vụ đánh sân bay Utapao cho tổ đặc công này.

Nhận nhiệm vụ tổ chức trận đánh, đồng chí Trần Thế Lại đã liên lạc và giao nhiệm vụ cho đồng chí Bùi Văn Phương chuẩn bị vị trí cất giấu vũ khí, giả trang là dân thường đến khu vực sân bay Utapao để điều tra, nghiên cứu mục tiêu, nắm tình hình sơ bộ và kiểm tra nơi cất giấu vũ khí.

Cũng trong tháng 10/1971, đồng chí Vũ Công Đài và Bùi Văn Phương (là hai người sẽ trực tiếp thực hiện trận đánh) đã gặp nhau bàn bạc thống nhất kế hoạch, nội dung và phương pháp trinh sát sân bay Utapao từ ngày 5 đến 9/11/1971 nhằm nắm được rõ quy luật hoạt động của địch. Các anh đã dự kiến một phương án tấn công sân bay là phá hủy bí mật bằng thủ pháo nổ chậm, nếu bị lộ thì chuyển sang đánh nổ ngay. Vũ khí sẽ sử dụng là 10 quả thủ pháo loại 0,4kg bằng chất nổ mạnh C4 và 2 quả lựu đạn…

Trưa ngày 9/1/1972, hai đồng chí Phương và Đài đi xe đến gần khu vực sân bay, 19 giờ cùng ngày, các anh đã lấy xong số vũ khí được cất giấu. Sau khi quan sát nắm tình hình địch, cả hai tiến về phía mục tiêu, tiến hành khắc phục vật cản. Hàng rào bao quanh sân bay là loại dây thép gai 0,3cm, dựng cao đến 2m, những người lính đặc công với chiếc kìm cắt loại nhỏ, không thể cắt nổi, phải luồn lách chui qua...

Môi trường ST.

TÌM HIỂU GIÚP BẠN: BÀN GIAO GẦN 100 CĂN NHÀ TRONG “CHIẾN DỊCH QUANG TRUNG” TẠI ĐẮK LẮK!

     Sáng nay (4/1), tại thôn Phú Hữu, xã Hòa Thịnh, Bộ Tư lệnh Quân khu 5 phối hợp với tỉnh Đắk Lắk tổ chức lễ khánh thành và bàn giao 96 căn nhà trong 'Chiến dịch Quang Trung' cho các hộ dân có nhà bị sập đổ do mưa lũ!

Đợt mưa lũ lịch sử từ ngày 14 đến 25/11/2025 đã gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng trên địa bàn từ Đà Nẵng đến Khánh Hòa, làm 1.098 căn nhà bị sập đổ hoàn toàn, hơn 1.000 căn nhà bị hư hỏng và gần 185.000 căn nhà bị ngập nước.

Triển khai “Chiến dịch Quang Trung”, Quân khu 5 đã huy động tổng lực, hỗ trợ xây dựng 610 căn nhà mới và sửa chữa 314 căn nhà hư hỏng nặng trên toàn địa bàn quân khu. Riêng tại tỉnh Đắk Lắk, 331 căn nhà đã được triển khai xây mới, trong đó 96 căn hoàn thành sớm và bàn giao trong đợt 1 này.

Phát biểu tại buổi lễ, Trung tướng Lê Ngọc Hải - Tư lệnh Quân khu 5 cho biết, thực hiện “Chiến dịch Quang Trung”, bộ đội đã về với dân nhanh nhất, dựng lại nhà sớm nhất, để bà con an cư, ổn định cuộc sống, đón Tết đủ đầy, ấm áp hơn.

“Chiến dịch Quang Trung" là minh chứng trong những lúc khó khăn nhất, phẩm chất tốt đẹp nhất của người Việt Nam được thắp lên mạnh mẽ nhất, là minh chứng bão lũ có thể cuốn đi nhiều thứ nhưng không thể cuốn đi tình người khi những mái nhà mới được hiện lên”, Trung tướng Lê Ngọc Hải nhấn mạnh.

Trong niềm xúc động ngày nhận nhà mới, bà Trần Thị Lãnh, 80 tuổi, ở Đội 3, thôn Phú Hữu, xã Hòa Thịnh chia sẻ: “Sau lũ về nhà sập thảm thương lắm, về đứng khóc không biết làm sao hết! Nhờ Nhà nước rồi các mạnh thường quân giúp đỡ, Bộ đội về xây lại nhà. Hôm nay tôi rất vui, cảm ơn Nhà nước, cảm ơn tất cả!”

Thay mặt Đảng bộ, chính quyền và Nhân dân tỉnh, ông Lương Nguyễn Minh Triết – Bí thư Tỉnh ủy Đắk Lắk trân trọng cảm ơn tình cảm, tinh thần trách nhiệm của lực lượng Quân khu 5 và các đơn vị lực lượng vũ trang đứng chân trên địa bàn. Những căn nhà mới không chỉ là chỗ ở, mà còn là điểm tựa tinh thần, tiếp thêm niềm tin để bà con vượt qua khó khăn, gây dựng lại cuộc sống sau thiên tai.

Cùng với xây dựng nhà ở, các lực lượng vũ trang còn hỗ trợ khắc phục kênh mương, vệ sinh môi trường, thu gom rác thải, sửa chữa trường học, trạm y tế và giúp nhân dân sớm ổn định cuộc sống. Những việc làm đó tiếp tục khẳng định hình ảnh “Bộ đội Cụ Hồ” trong lòng nhân dân.

“Khoảng 1 tháng chúng ta đã có những căn nhà được xây dựng hết sức vững chãi, thể hiện đúng tinh thần thần tốc của "Chiến dịch Quang Trung". Để có thành quả hôm nay, tôi đặc biệt cảm ơn các đơn vị lực lượng vũ trang, các đồng chí đã thể hiện rõ bản chất của Bộ đội Cụ Hồ, bộ đội của lòng dân”, ông Lương Nguyễn Minh Triết chia sẻ.

Nhân dịp khánh thành và bàn giao nhà trong “Chiến dịch Quang Trung” tại tỉnh Đắk Lắk, các cơ quan, đơn vị trong và ngoài Quân đội đã trao nhiều phần quà ý nghĩa tặng các hộ gia đình.

Trong đó, các quân binh chủng thuộc Bộ Quốc phòng, thuộc Quân khu 5 và Bộ đội địa phương đã trao tặng mỗi hộ gia đình các vật dụng thiết yếu như tivi, tủ lạnh, quạt điện, nồi cơm điện, bộ bình trà, đồng hồ treo tường, giường, tủ, bếp ga, bàn ăn, máy lọc nước…, góp phần hỗ trợ bà con sớm ổn định cuộc sống./.


Môi trường ST.

VIỆT NAM QUAN NGẠI VỀ TÌNH HÌNH VENEZUELA!

     Việt Nam bày tỏ sự quan ngại về tình hình Venezuela và kêu gọi các bên kiềm chế, giải quyết tranh chấp, bất đồng trên cơ sở luật pháp quốc tế.

Ngày 4/1, trả lời câu hỏi của phóng viên đề nghị cho biết phản ứng của Việt Nam liên quan đến tình hình Venezuela hiện nay, người phát ngôn Bộ Ngoại giao Việt Nam Phạm Thu Hằng nêu rõ: “Việt Nam quan ngại sâu sắc về thông tin liên quan đến tình hình hiện nay ở Venezuela”. 

Việt Nam kêu gọi các bên liên quan tôn trọng luật pháp quốc tế, Hiến chương Liên Hợp Quốc, trong đó có nguyên tắc tôn trọng chủ quyền các quốc gia, không sử dụng vũ lực và đe dọa sử dụng vũ lực trong quan hệ quốc tế. 

Việt Nam kêu gọi các bên kiềm chế, đối thoại, giải quyết các tranh chấp, bất đồng trên cơ sở luật pháp quốc tế, góp phần bảo đảm hòa bình, an ninh, ổn định, hợp tác ở khu vực và trên toàn thế giới.

Tổng thống Mỹ Donald Trump ngày 3/1 đã thông báo về việc quân đội nước này bắt giữ vợ chồng Tổng thống Venezuela Nicolas Maduro. Trước đó, quân đội Mỹ đã tập kích hàng loạt căn cứ quân sự ở thủ đô Caracas và nhiều tỉnh của Venezuela. Trước khi ông Trump thông báo bắt giữ ông Maduro, nhà lãnh đạo Venezuela đã ban bố tình trạng khẩn cấp trên cả nước.

Tại cuộc họp báo, Tổng thống Mỹ cho biết: Chúng tôi sẽ điều hành Venezuela cho đến khi có thể tiến hành một cuộc chuyển giao an toàn, phù hợp và thận trọng. Washington sẽ quyết định khi nào nên trao trả quyền kiểm soát lại cho Venezuela./.
Môi trường ST.

TIN MỚI CẬP NHẬT VỀ TÌNH HÌNH VÊNZUELA!

1. Tình hình tại Venezuela:

- Tổng thống Delcy Rodriguez đã chủ trì cuộc họp lãnh đạo, tuyên bố tình trạng khẩn cấp, tăng cường đáng kể quyền lực cho quân đội và cơ quan đặc nhiệm. Bà Rodriguez bác bỏ thông tin tuân theo chỉ đạo của Mỹ (như lời ông Trump nói), lên án cuộc tấn công và khẳng định ông Maduro vẫn là Tổng thống hợp hiến.

- Lực lượng dân quân ủng hộ Maduro đang được triển khai trên diện rộng. 

- Theo NYT, cuộc tấn công của Mỹ hôm thứ Bảy đã khiến ít nhất 40 người (gồm cả quân nhân và thường dân) thiệt mạng.

- Các phóng viên, nhà báo quốc tế đang có mặt tại Thủ đô Caracas (Venezuela) cho biết hiện khá yên tĩnh nhưng các cửa hàng đóng cửa; người dân lo ngại về đợt tấn công tiếp theo và phản đôi cuộc tấn công của Mỹ vào quốc gia này.

Lưu ý: các hình ảnh/video về "người dân" Venezuela tổ chức xuống đường "ăn mừng" thực chất là diễn ra tại Chile, Argentina, Ai Cập, Florida (Mỹ)...

2. Tình hình tại Mỹ (New York):

- Ông Maduro và vợ đã bị quân đội Mỹ bắt giữ và đang bị giam giữ tại Trung tâm tạm giam Brooklyn (New York).

- Thị trưởng New York Zohran Mamdani xác nhận thông tin trên, nhưng kịch liệt phản đối hành động này. Ông coi việc tấn công đơn phương là "hành động chiến tranh", vi phạm luật pháp quốc tế và hiến pháp. Ông Mamdani đã gọi điện trực tiếp cho Tổng thống Mỹ để phản đối việc theo đuổi thay đổi chế độ và bày tỏ lo ngại cho an toàn của cộng đồng người Venezuela tại New York.

- Cựu Tổng thống Biden và cựu Phó Tổng thống Harris đã lên tiếng phản lối và lo lắng cho nước Mỹ, cùng người dân Mỹ sẽ phải gánh chịu hậu quả nặng nề từ hành động của Chính quyền Trump.

- Ủy ban Quân sự Thượng viện Mỹ vẫn chưa nhận được thông tin chính thức từ Nhà Trắng liên quan hoạt động quân sự ngoài lãnh thổ.

3. Phản ứng của Quốc tế về Venezuela:

- Venezuela đã gửi thư tới Hội đồng Bảo an Liên Hợp Quốc, lên án hành động xâm lược vũ trang của Mỹ.

- Colombia: Phản đối hoạt động quân sự của Mỹ và lên án hành động này phạm luật quốc tế. Nước này cũng đã gia tăng lực lượng quân sự dọc biên giới và nâng cảnh báo.

- Trung Quốc: Bắc Kinh cực lực lên án Mỹ sử dụng vũ lực chống lại Venezuela.

- Cuba: Chủ tịch Cuba Miguel Diaz-Canel gọi chiến dịch của Mỹ là một “cuộc tấn công tội phạm”.

- Nga: gọi đây là “hành động xâm lược vũ trang” của Mỹ nhằm vào Venezuela.

- Iran: Tehran đã gọi đây là “một sự vi phạm trắng trợn chủ quyền quốc gia và toàn vẹn lãnh thổ” của Venezuela. 

- EU: kêu gọi giảm leo thang, đồng thời mọi hành động phải luôn tôn trọng đầy đủ luật pháp quốc tế và các nguyên tắc của Hiến chương Liên Hợp Quốc.

- Anh: Nước Anh “không liên quan dưới bất kỳ hình thức nào” đến chiến dịch của Mỹ tại Venezuela.

- Việt Nam: quan ngại sâu sắc về thông tin liên quan đến tình hình hiện nay ở Venezuela, kêu gọi các bên tôn trọng luật pháp quốc tế.

- Liên Hợp quốc: Thông báo họp khẩn vào thứ Hai và đề nghị các bên kiềm chế, giảm xung đột./.


Môi trường ST.

CÂU CHUYỆN QUỐC TẾ: CHUYỆN PHIM “CHIẾN DỊCH BÓNG TỐI” - CUỘC BẮT GIỮ VỢ CHỒNG MADUROS ĐƯỢC DÀN DỰNG RA SAO?

     Caracas chìm trong đêm bất ổn. Trong dinh tổng thống Miraflores, Tổng thống Venezuela Nicolás Maduro và phu nhân Cilia Flores vẫn chưa hay biết rằng một chiến dịch được chuẩn bị kỹ lưỡng bởi CIA và lực lượng đặc nhiệm Mỹ đã bước vào giai đoạn cuối - một nước cờ nhằm đảo chiều cuộc đối đầu địa chính trị kéo dài giữa Washington và Caracas.

Rạng sáng, những tiếng nổ dữ dội xé toạc bầu trời gần sân bay quốc tế Simón Bolívar. Các tiêm kích F-35 của Mỹ, xuất phát từ căn cứ khu vực Colombia, bất ngờ đánh phá đường băng, vô hiệu hóa nhiều máy bay quân sự Venezuela. Gần như cùng lúc, lính thủy đánh bộ Mỹ triển khai tại các điểm quân sự trọng yếu quanh Caracas như Fort Tiuna và La Carlota. Thành phố rơi vào hỗn loạn, khói lửa bao trùm, hệ thống chỉ huy quân đội tê liệt.

Tại Miraflores, Maduro nhận được báo cáo khẩn từ cố vấn an ninh và lập tức kích hoạt “Protocolo Águila” - kế hoạch sơ tán tổng thống và gia đình đến một địa điểm an toàn bí mật ở dãy Andes.

Điều ông không biết là CIA đã chờ chính xác khoảnh khắc này.

Suốt nhiều tháng trước đó, các điệp viên CIA hoạt động bí mật tại Caracas dưới vỏ bọc doanh nhân và nhà báo đã thâm nhập sâu vào mạng lưới liên lạc của Venezuela. Với sự hỗ trợ của công nghệ tấn công mạng và vệ tinh do thám từ NSA, họ kiểm soát hệ thống thông tin của FAES - lực lượng đặc nhiệm chịu trách nhiệm bảo vệ và giải cứu tổng thống.

Một điệp viên mang mật danh “Phantom”, cựu sĩ quan tình báo Venezuela đào tẩu, đã cài mã độc vào hệ thống radio mã hóa của FAES. Từ thời điểm đó, mọi mệnh lệnh khẩn cấp đều nằm trong tay CIA.

Tại một căn cứ bí mật ngoại ô Caracas, Phantom cùng đội kỹ thuật bắt đầu bước then chốt: giả mạo giọng nói Đại tá Ramirez - chỉ huy FAES, người được Maduro tin tưởng tuyệt đối. Qua kênh liên lạc “an toàn”, mệnh lệnh vang lên:

> “Thưa Tổng thống, quân Mỹ đang áp sát Miraflores. Trực thăng Black Hawk sẽ đến sân sau trong 10 phút để đưa ngài và phu nhân đến nơi an toàn. Đề nghị di chuyển ngay, chỉ mang theo vật dụng thiết yếu.”

Maduro không nghi ngờ. Trong tình thế hỗn loạn, mọi tín hiệu đều có vẻ hợp lý. Lực lượng an ninh quanh dinh thự, cũng nhận cùng mệnh lệnh qua hệ thống đã bị chiếm quyền kiểm soát, lập tức triển khai bảo vệ điểm hạ cánh.

Ít phút sau, tiếng cánh quạt xé gió. Một chiếc Black Hawk đen tuyền, không mang phù hiệu Venezuela, hạ xuống sân sau Miraflores. Vợ chồng Maduro được hộ tống lên máy bay trong niềm tin rằng FAES đang thực hiện nhiệm vụ giải cứu.

Nhưng ngay khi cửa trực thăng đóng lại, sự thật lộ diện.

Dưới ánh đèn mờ, những gương mặt xa lạ hiện ra - lính đặc nhiệm Mỹ, trang bị kính hồng ngoại, phù hiệu Delta Force trên vai. Đội trưởng, Captain Reyes, lạnh lùng lên tiếng:

> “Chào mừng ngài Tổng thống. Đây là chuyến bay của CIA.”

Maduro chết lặng. Phu nhân Flores phản kháng nhưng lập tức bị khống chế. Trực thăng không bay về Andes, mà hướng thẳng ra biển Caribbean, nơi một tàu chiến Mỹ đã chờ sẵn.

Dưới mặt đất, khi lực lượng an ninh Venezuela cố liên lạc với FAES thật, họ mới nhận ra toàn bộ hệ thống đã bị vô hiệu hóa - nhưng đã quá muộn. Chiến dịch kết thúc mà không cần nổ súng.

Trên tàu USS Freedom, vợ chồng Maduro bị dẫn giải vào khu giam giữ tạm thời. Trong cơn choáng váng, Maduro lẩm bẩm về âm mưu và trả giá. Captain Reyes chỉ đáp gọn:

> “Trò chơi kết thúc rồi.”

Caracas chìm trong hỗn loạn. Thế giới chỉ biết rằng Maduro đã “biến mất” sau cuộc tấn công. Còn trong giới tình báo, chiến dịch này được truyền tai như một huyền thoại - minh chứng cho cách quyền lực có thể sụp đổ chỉ trong im lặng./.



Môi trường ST.

Thứ Bảy, 3 tháng 1, 2026

TÌM HIỂU GIÚP BẠN: TỰ CHỦ CHIẾN LƯỢC VIỆT NAM HÙNG CƯỜNG!

     Đất nước trước thềm Xuân Bính Ngọ 2026 nhìn tới Xuân Canh Ngọ 2050! Sau 80 năm lập nên Nhà nước cách mạng và 40 năm đổi mới, dưới ngọn cờ của Đảng, Việt Nam đặt nền móng căn bản và rất quan trọng để trở thành một quốc gia phát triển trong 25 năm tới, xứng đáng đứng trong đội ngũ các quốc gia phát triển của hoàn cầu thế kỷ thứ XXI.

Đó là một con đường dài, gập ghềnh, khó khăn và đầy thách thức. Song, đó là nhu cầu phát triển của đất nước, là khát vọng của Nhân dân và danh dự quốc gia trong tầm nhìn 2050.

Trên lộ trình tiến tới Đại hội lần thứ XIV, Đảng ta sẽ xác quyết những đại sự của kỷ nguyên phát triển đất nước phú cường, trên nền tảng tự chủ chiến lược.

25 năm tới, dân tộc tự chủ kiến tạo và phát triển Việt Nam phú cường. Đó là mệnh lệnh lịch sử quốc gia mang tầm thời đại.

Thay vì dự báo tương lai, chúng ta kiến tạo tương lai!

Vì thế, trong định vị tương lai đất nước, đòi hỏi về tầm nhìn xa rộng, khả năng kiến tạo và phát triển hệ giá trị quốc gia, về hoạch định định chế và thực thi quyết sách chính trị nhằm tạo ra sự bứt phá với gia tốc mới một cách mạnh mẽ, tạo nên thành tựu phi thường trong những thập kỷ tới, không thể không giữ vững và sáng tạo tự chủ chiến lược.

Nói một cách khái quát, tự chủ chiến lược là khả năng và nghệ thuật cân bằng động vị thế đất nước, thực lực quốc gia (sức mạnh, nguồn lực trực tiếp và dự trữ nguồn lực chiến lược toàn diện), không gian phát triển cứng và mềm; đồng thời, tiên liệu, chủ động khắc chế hiệu quả những hệ luỵ phản phát triển từ bên trong và bên ngoài phù hợp với thời cơ, thách thức trong sự vận động của thời đại nhằm phát triển đất nước đúng hướng, mạnh mẽ, bền vững, nhân văn; không rơi vào bị động chiến lược, bảo đảm quốc gia chủ động nhịp bước cùng thế giới ngày nay.

Tầm nhìn chiến lược

Việt Nam không thể bước vào thế kỷ XXI bằng mô hình thế kỷ XX, mà phải kiến tạo một tầm nhìn mới, động lực mới và hệ giá trị mới.

Đó là một sự chuyển hóa căn cơ về tư duy, mô thức phát triển và cấu trúc xã hội nhằm xây dựng một Việt Nam phú cường trong một thế giới mới. Từ địa chính trị, địa kinh tế, địa văn hóa và từ 80 năm Nhà nước cách mạng Việt Nam, đặc biệt thực tiễn, sức mạnh của 40 năm đổi mới, trong bối cảnh thế giới hiện nay, có thể dự báo và phác thảo tầm viễn kiến chiến lược kiến tạo tương lai Việt Nam.

Thứ nhất, tầm nhìn dân tộc. Việt Nam phải trở thành một dân tộc văn hiến, trí tuệ, tự chủ và sánh vai các cường quốc - một sứ mệnh được xác lập ngay trong tinh thần Đại hội VI (1986) và ngày càng cụ thể hóa về tầm nhìn, quyết sách và cương lĩnh hành động trên mỗi chặng đường trong thời kỳ đổi mới, với tâm thế tự vượt lên chính mình trong thế kỷ XXI.

Thứ hai, tầm nhìn quốc gia. Việt Nam không thể là quốc gia tiệm tiến mà phải là quốc gia kiến tạo, dấn thân, đột phá, phát triển mạnh mẽ, bền vững, nhân văn, nhịp bước cùng thời đại. Việt Nam phải là một trung tâm trí tuệ - văn hóa - kinh tế xanh - xã hội nhân văn ở khu vực Đông Nam Á, là điểm tựa hòa bình - phát triển - hội nhập bền vững của thế giới.

Thứ ba, tầm nhìn quốc tế: Có thể hình dung một cách hình ảnh, đó là hệ thống tư tưởng - lý luận - hành động như một “bản đồ chiến lược” đưa Việt Nam tới năm 2045, hình thành một học thuyết phát triển mang bản sắc Việt Nam, một hệ giá trị quốc gia hài hòa giữa tính dân tộc - khoa học - hiện đại - nhân văn và có khả năng tham gia định hướng, phát triển thời đại.

Nói khái quát, đó là Việt Nam phú cường bản sắc hóa - hiện đại hóa - toàn cầu hóa.

Thực tiễn xác tín, ý tưởng định hình dòng chảy lịch sử dân tộc phải là ưu tiên trước hết. Nhưng, ý tưởng, xét cho tới cùng là nghệ thuật tạo thời cơ, nắm thời cơ, khắc chế nguy cơ và phương thức tổ chức lực lượng. Đó cũng là tư chất của dân tộc Việt Nam dựng nước và giữ nước mấy nghìn năm qua. Sự kết hợp của hai thứ đó, kỳ vọng sẽ kiến tạo và phát triển kỷ nguyên phú cường.

Một là, phát triển một dân tộc kiêu hãnh. Định vị chiến lược đất nước từ yêu cầu phát triển của tương lai, không thể đơn giản chỉ từ vị thế kéo dài của quá khứ. Đây là một thách thức kép: một mặt đang đến từ tương lai và mặt khác thách thức là nguy cơ của quá khứ và từ bên ngoài. Dân tộc Việt Nam hơn 100 triệu người dù ở trong nước hay ở nước ngoài phải kiến thiết một quốc gia phú cường, không chỉ giàu có về vật chất mà còn hùng mạnh về trí tuệ, bản lĩnh và văn hóa; phát triển toàn diện, có chiều sâu, mang bản sắc riêng, không lệ thuộc.

Từ tự chủ chiến lược chúng ta kiên định đi tới tương lai.

Hai là, kiến tạo mô hình quốc gia phú cường. Dự báo nhịp sóng phát triển thứ tư sẽ tròn 25 năm từ 2025 - 2050. Nếu giai đoạn 30 năm đổi mới từ 1986 - 2025 là sự thức dậy về tư duy, đổi mới về cơ chế, chủ động trong hội nhập toàn cầu, thì giai đoạn 25 năm đổi mới tiếp theo tới năm 2050 sẽ được định hình bởi những cố gắng phi thường của cả dân tộc. Đó là một quốc gia tự chủ phát triển: hiện đại - dân chủ - nhân văn - tự cường - bản sắc; đồng thời, là trung tâm kết nối trí tuệ - văn hóa - kinh tế - chính trị trong khu vực Đông Nam Á và có khả năng tham gia kiến tạo và ảnh hưởng tích cực trong đời sống thế giới.

Nói một cách hình ảnh, dân tộc đột phá đổi mới tư duy, mở tầm viễn kiến, tự chủ chiến lược, trỗi dậy toàn diện, đồng bộ sức mạnh dân tộc kết hợp sức mạnh thời đại xây dựng nền tảng cho một xã hội phồn vinh và hạnh phúc, với khát vọng đưa Việt Nam trở thành một quốc gia phú cường, giữ vị thế xứng đáng trong cộng đồng quốc tế.

Hệ mục tiêu chiến lược phát triển quốc gia

Định vị và phát triển hệ giá trị Việt Nam trong hệ giá trị toàn cầu và hệ tri thức số hóa quốc tế nhằm xây dựng Việt Nam độc lập - tự chủ - tự cường - khai phóng: sâu sắc về lý tưởng - hùng mạnh về kinh tế - giàu văn hóa bản sắc - bền vững về hệ giá trị trong một thế giới đầy đa dạng, thống nhất nhưng tiềm tàng, ẩn chứa không ít bất định.

Từ thực tiễn 40 năm đổi mới, trong 25 năm tới, có thể xác lập mục tiêu phát triển chiến lược Việt Nam phú cường:

Một là: Độc lập dân tộc - Tự chủ chiến lược - Tự lập toàn vẹn - Tự tôn chính đáng - Tự cường bền vững. Tự quyết chính trị đổi mới với đặc trưng quốc gia pháp quyền - xã hội nhân văn, dân chủ - văn hóa phát triển - dưới sự dẫn dắt của Đảng vững mạnh về trí tuệ, đạo đức, bản lĩnh và năng lực lãnh đạo, cầm quyền làm nên Quốc chính rực rỡ.

Hai là, Dân chủ - Pháp quyền - Kỷ cương - Liêm chính - Hiệu lực - Hiệu quả. Nền tảng kiến tạo và phát triển Nhà nước pháp quyền XHCN hiện đại, vì dân chủ - dân quyền - dân trí - dân khí - dân sinh làm nên Quốc khí tỏa sáng.

Ba là, Phát triển bền vững - Công bằng - Văn minh - Hội nhập - Bản sắc. Phát triển kinh tế thị trường định hướng XHCN song hành với khoa học, công nghệ, nhất là công nghệ lõi trên một nền tảng nhân lực tương xứng; gắn kết phát triển kinh tế, xã hội, văn hóa và môi trường trong tiến trình toàn cầu hóa làm nên Quốc lực vững bền.

Bốn là, con người là trung tâm, chủ thể các nguồn lực chiến lược, động lực phát triển quốc gia mạnh mẽ, bền vững, nhân văn. Kỷ cương - liêm chính - đoàn kết - dũng cảm - nhân bản và mang tầm nhân loại làm nên Quốc tín vẻ vang.

Nói khái lược, mục tiêu chiến lược Dân giàu: thu nhập cao, phân phối công bằng, cơ hội rộng mở; Nước mạnh: tự chủ chiến lược về chính trị, kinh tế, an ninh, quốc phòng, công nghệ, văn hóa và môi trường sinh thái; Xã hội dân chủ - công bằng - văn minh: nơi con người là trung tâm, nhân phẩm, sáng tạo phát triển toàn diện, bảo vệ và tôn vinh; và sự bị động chiến lược quốc gia là phép thử sức mạnh, bản lĩnh, uy tín và danh dự quốc gia.

Hệ giá trị phát triển chiến lược quốc gia

Sự tiên tri tốt nhất của tương lai lại chính là nghiền ngẫm quá khứ trước yêu cầu của tương lai.

Việt Nam năm 2050 trở thành một quốc gia phú cường toàn diện, không chỉ tăng trưởng kinh tế, mà đạt trình độ phát triển xã hội nhân văn cao; là quốc gia có bản sắc riêng, định vị chính mình giữa làn sóng toàn cầu hóa; một xã hội công dân mạnh, với tầng lớp trí thức, doanh nhân và thế hệ trẻ có bản lĩnh lý tưởng và tư duy toàn cầu. Việt Nam chỉ đứng vững và phát triển trên nền đạo đức và bản lĩnh dân tộc truyền thống song hành với hiện đại, không thể trông đợi, rập khuôn hay dịch chuyển các mô hình, giá trị văn hóa ngoại lai.

Có thể hình dung những riềng mối hòa hợp giữa truyền thống dân tộc và giá trị thời đại ở nước ta. Thứ nhất, giá trị quốc gia dân tộc: Độc lập - Tự cường - Thống nhất - Văn hiến - Hòa bình. Thứ hai, giá trị xã hội: Dân chủ - Công bằng - Văn minh - Đổi mới - Hội nhập. Thứ ba, giá trị của Nhà nước pháp quyền XHCN: Chính danh quyền lực - Chính quyền phụng sự - Chính pháp kỷ cương - Chính tín đạo đức, dưới ngọn cờ của Đảng.

Thứ tư, giá trị đạo đức, văn hóa, tinh thần xã hội: Trung thực, trách nhiệm, liêm chính, phụng sự cộng đồng, thượng tôn pháp luật trên nền móng chân - thiện - mỹ - nhân - nghĩa - tín là cốt lõi hệ giá trị của xã hội Việt Nam hiện đại.

Thứ năm, giá trị con người Việt Nam: Yêu nước, nhân nghĩa, cần cù, sáng tạo, khát vọng phát triển đất nước tương hợp, dung hòa, bình đẳng với lợi ích các quốc gia dân tộc khác mang tính nhân loại.

Thứ sáu, giá trị đối ngoại và hội nhập quốc tế: Tôn trọng mọi sự khác biệt; giữ vững sự bình đẳng mọi quan hệ, rường cột là lợi ích; hợp tác và bảo vệ các quốc gia dân tộc khác; tham gia kiến tạo hệ thống pháp lý và đạo lý quốc tế.

Đó là gương mặt, tư chất và hồn phách Việt Nam.

Việt Nam của thế kỷ XXI là một quốc gia hội đủ 3 phẩm chất: Phát triển - Dân chủ - Văn minh. Đó là con đường phát triển XHCN Việt Nam bản sắc - nhân văn - dân chủ - hiện đại trên nền tảng tư tưởng dân tộc độc lập, thích ứng và chủ động hóa giải mọi thách thức và nguy cơ phản phát triển; nền kinh tế độc lập, hùng mạnh và tự chủ; tự cường văn hóa bản sắc nhưng thống nhất thế giới; hội nhập, kiến tạo và phát triển đời sống toàn cầu.

Đó là thước đo sự thành bại, mạnh yếu của khả năng hiện thực hóa tư tưởng tự chủ chiến lược; đồng thời là phép thử về nguy cơ và mức độ bị động chiến lược quốc gia.

Trên nền lịch sử mấy nghìn năm, nhìn tới năm 2045, tư tưởng độc lập dân tộc gắn với hiện đại hóa quốc gia XHCN là phương pháp luận bao trùm.

Phát triển với tư tưởng chủ đạo và tâm thế cốt lõi tự chủ chiến lược Việt Nam: Đảng làm trung tâm - Nhân dân làm chủ thể - Văn hóa làm nền tảng, chủ động kiến tạo và thúc đẩy hành động sáng tạo: Chính trị dẫn đường - Văn hóa soi đường - Khoa học định hình - Công nghệ làm động lực - Dân tộc thực thi.

Đặc biệt, Đảng và Nhà nước tiên phong đổi mới tư duy chiến lược lãnh đạo và quản trị quốc gia từ quản lý - điều hành sang kiến tạo - dẫn dắt - lan tỏa song hành với chuyển hóa trong xã hội và con người từ thụ động - phục tùng sang chủ động - sáng tạo - phụng sự Tổ quốc với các nguồn lực thích ứng về tư tưởng và tinh thần, về vật chất và cơ chế, về nội lực và ngoại lực, hoạch định phương thức, nhịp độ và tốc độ phát triển tương dung với thực lực đất nước và điều kiện thời đại.

Vấn đề căn bản phải bảo đảm sức mạnh nền kinh tế quốc gia. Cân bằng sự giàu mạnh không chỉ đo bằng GDP, dù rất quan trọng, mà bằng khả năng và thực lực cạnh tranh toàn cầu và phẩm giá quốc gia, bảo đảm sự hài hòa giữa phồn vinh vật chất với thịnh vượng văn hóa tinh thần; tăng trưởng phải hướng tới phát triển toàn diện, kinh tế, xã hội, nhất là con người một cách toàn vẹn về phẩm giá, danh dự và sự phát triển nhân văn, bền vững.

Và, vấn đề then chốt là, tăng cường sức mạnh nội sinh, bảo đảm dự trữ chiến lược các nguồn lực vật chất, tinh thần, không rơi vào bị động chiến lược trên lộ trình phát triển quốc gia.

Nếu kỷ nguyên phú cường phải lấy Dân tộc là điểm tựa - Nhân dân là trung tâm, thì văn hóa phải xứng đáng là nền móng của toàn bộ chiến lược phát triển quốc gia.

Cải cách toàn diện thể chế trên cơ sở giữ vững nguyên tắc: Đảng cầm quyền chủ động tự đổi mới, tự chỉnh đốn, tự vượt lên mình, dẫn dắt đất nước tiến cùng nhân loại; Nhà nước kiến tạo phát triển, pháp quyền XHCN của Nhân dân, do Nhân dân, vì Nhân dân; bảo vệ lợi ích tối thượng của quốc gia dân tộc thống nhất tuyệt đối và hài hòa với lợi ích của Nhân dân; đồng thời tôn trọng, bảo vệ và bảo đảm hài hòa với lợi ích của các quốc gia dân tộc khác trên đường hội nhập toàn cầu, cảnh giới sự bị động chiến lược quốc gia.

Đứng vững trên nền móng dân tộc, không ngừng thâu thái, tiếp biến và thâu hóa tinh hoa từ các quốc gia - dân tộc, để phát triển hệ giá trị quốc gia tổng thể, tích lũy và dự trữ nguồn lực phát triển chiến lược và hành động một cách dũng cảm, hiệu quả; đồng thời không rơi vào vũng bùn của sự bị động chiến lược, giữ vững an toàn chiến lược trên mỗi chặng đường phát triển quốc gia.

Từ vị thế năm 2025, chúng ta tự chủ làm nên lịch sử kỷ nguyên Việt Nam phú cường.

Lịch sử không chỉ có sự kiện anh hùng hay mà có cả những “vết sẹo” bi tráng và những bài học thành công lẫn thất bại. Chúng ta không quay lại, nhưng không thể không nghiền ngẫm logic vận động và cần tái tạo nó và để vượt lên. Đó là tất yếu kép! Muốn thành kim cương phải chủ động nắm thời, tạo thời, dựng thế, chuẩn bị lực lượng và sẵn sàng đối mặt với áp lực đủ mạnh. Phải kiên tâm đi trên con đường của riêng mình trong thế giới thống nhất.

Trong tầm nhìn năm 2050 Xuân Canh Ngọ - tương lai hối thúc, với tầm viễn kiến, tự chủ chiến lược, dân tộc kiến tạo và phát triển Việt Nam phú cường, - Xuân Bính Ngọ 2026 - nối hai đầu lịch sử, bằng sức sống Phù Đổng, nhất định mã đáo thành công./.

Yêu nước ST.

TÌM HIỂU GIÚP BẠN: TRÍ TUỆ VÀ BẢN LĨNH VIỆT NAM TRONG KỶ NGUYÊN PHÁT TRIỂN MỚI

     Năm 2026 đánh dấu một cột mốc lịch sử đặc biệt quan trọng, là năm khởi đầu nhiệm kỳ Đại hội XIV của Đảng, là năm kỷ niệm 40 năm công cuộc Đổi mới và cũng là thời điểm đất nước ta chính thức bước vào một giai đoạn phát triển mới với tâm thế mới. Trong bài trả lời phỏng vấn báo chí trước thềm năm mới, Tổng Bí thư Tô Lâm đã khái quát thông điệp mang tính thời đại, đó là "phát huy trí tuệ và bản lĩnh Việt Nam vững bước tiến mạnh trong kỷ nguyên phát triển mới". Đây không chỉ là khẩu hiệu, mà còn là sự đúc kết từ thực tiễn gian khó đã qua và là định hướng cho những bước đột phá phát triển sắp tới của đất nước.

Bản lĩnh của Việt Nam trước hết được thể hiện qua khả năng "biến nguy thành cơ" và sức chống chịu kiên cường trước những biến động nhanh chóng, phức tạp của tình hình thế giới. Nhìn lại nhiệm kỳ 2020-2025, đất nước đã phải đối mặt với những thách thức "chưa từng có tiền lệ", đó là đại dịch Covid-19, là sự đứt gãy chuỗi cung ứng toàn cầu, thiên tai bão lũ và những bất ổn địa chính trị phức tạp.

Trong bối cảnh đó, bản lĩnh Việt Nam không chỉ là sự chịu đựng, mà là sự chủ động vượt qua. Chúng ta đã thực hiện thành công "mục tiêu kép", vừa chống dịch vừa phục hồi kinh tế, giữ vững ổn định vĩ mô. Bản lĩnh ấy còn được thể hiện qua quyết tâm chính trị mạnh mẽ trong công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng. Công cuộc phòng, chống tham nhũng, tiêu cực đã chuyển sang một giai đoạn mới, gắn liền với chống lãng phí, với tinh thần "không ngừng, không nghỉ, không có vùng cấm". Như Tổng Bí thư Tô Lâm đã nhấn mạnh, việc làm trong sạch bộ máy không làm cản trở phát triển mà ngược lại, là để kiến tạo một môi trường lành mạnh, củng cố niềm tin của nhân dân và bảo vệ những người dám nghĩ, dám làm.

Đặc biệt, bản lĩnh Việt Nam trong kỷ nguyên mới được minh chứng rõ nét qua "cuộc cách mạng về tinh gọn tổ chức bộ máy", thực hiện chính quyền địa phương hai cấp, sắp xếp lại hệ thống chính trị theo hướng "tinh, gọn, mạnh, hiệu năng, hiệu lực, hiệu quả". Chỉ có bản lĩnh chính trị vững vàng mới có thể thực hiện được những cải cách hướng tới lợi ích của quốc gia và dân tộc.

Nếu bản lĩnh giúp chúng ta đứng vững, thì trí tuệ là ngọn đuốc soi đường để bứt phá. Kỷ nguyên vươn mình của dân tộc không thể dựa trên những cách làm cũ, mà phải dựa trên trí tuệ, tri thức và đổi mới sáng tạo.

Thứ nhất, trí tuệ thể hiện ở tư duy đột phá về thể chế, Nghị quyết số 66-NQ/TW và Dự thảo Báo cáo Chính trị trình Đại hội XIV đã xác định việc hoàn thiện thể chế là "đột phá của đột phá" để chuyển mạnh từ tư duy "quản lý" sang "kiến tạo phát triển", dứt khoát từ bỏ tư duy "không quản được thì cấm". Trí tuệ ở đây là việc xây dựng một hành lang pháp lý thông thoáng, lấy người dân và doanh nghiệp làm trung tâm, khơi thông mọi nguồn lực xã hội cho phát triển.

Thứ hai, trí tuệ thể hiện ở việc lựa chọn động lực tăng trưởng mới. Trong kỷ nguyên mới, Việt Nam xác định khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số là động lực chính. Nghị quyết số 57-NQ/TW đã nhấn mạnh yêu cầu phát triển lực lượng sản xuất mới, trong đó tập trung vào các công nghệ chiến lược như trí tuệ nhân tạo, bán dẫn, công nghiệp dữ liệu. Đây là sự lựa chọn rất quan trọng để Việt Nam đi tắt đón đầu, tránh bẫy thu nhập trung bình và vươn lên nấc thang cao hơn trong chuỗi giá trị toàn cầu.

Thứ ba, trí tuệ trong việc phát triển nguồn lực con người. Nghị quyết số 71-NQ/TW về giáo dục đào tạo đã khẳng định mục tiêu xây dựng con người Việt Nam phát triển toàn diện, có năng lực tư duy độc lập và khả năng thích ứng với kỷ nguyên số. Trí tuệ Việt Nam không chỉ nằm ở những tấm bằng, mà ở năng lực thực tế, ở đội ngũ doanh nhân được đề cao trong Nghị quyết 68-NQ/TW và đội ngũ cán bộ cấp chiến lược có tầm nhìn quốc tế với khẳng định: “Khát vọng giàu mạnh, phồn vinh, văn minh, hạnh phúc trước hết phải được đo bằng những điều rất đời thường: Người dân có việc làm tốt hơn không, thu nhập có ổn định hơn không; có chỗ ở “đàng hoàng hơn, to đẹp hơn” không; con cái học hành có thuận lợi hơn không, bệnh tật có được chăm sóc tốt hơn không, người già có được nương tựa không, vùng khó khăn có được trợ giúp kịp thời không... Và muốn mọi cái đều “hơn” thì chúng ta phải coi tri thức, khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số là động lực then chốt của mô hình tăng trưởng mới; đồng thời phát huy mạnh mẽ mọi nguồn lực xã hội, trong đó kinh tế tư nhân là một động lực quan trọng.”

Sức mạnh của trí tuệ và bản lĩnh Việt Nam không nằm ở một cá nhân hay một nhóm người, mà là sự hội tụ của khối đại đoàn kết và niềm tin của toàn dân tộc. Như Tổng Bí thư Tô Lâm đã khẳng định: "Đoàn kết không chỉ là một khẩu hiệu hay một lời kêu gọi. Đoàn kết phải trở thành cách ứng xử của cả hệ thống và của mỗi người Việt Nam: Đoàn kết trong Đảng, đoàn kết trong nhân dân, đoàn kết giữa ý Đảng và lòng dân; biết đặt việc chung lên trên, biết gác cái riêng lại khi cần. Và cùng với đoàn kết là niềm tin: Tin vào con đường mình đã chọn, tin vào sức mạnh của dân tộc, tin rằng điều tốt đẹp sẽ đến nếu chúng ta làm việc bền bỉ và vì nước, vì dân". Chúng ta mở rộng không gian phát triển thông qua hội nhập quốc tế sâu rộng, nâng cấp quan hệ với các đối tác lớn, biến Việt Nam thành điểm đến tin cậy của hòa bình và hợp tác.

Kỷ nguyên phát triển mới của dân tộc là kết quả của 40 năm toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta kiên trì công cuộc Đổi mới, là sự kết tinh của công sứ và trí tuệ của bao thế hệ cha anh. Việt Nam đang tự tin bước vào vận hội mới của sự phồn vinh, hạnh phúc. Bản lĩnh giúp chúng ta không chùn bước trước khó khăn, trí tuệ giúp chúng ta tìm ra con đường ngắn nhất để đi đến đích. Sự hòa quyện giữa bản lĩnh chính trị vững vàng và trí tuệ thời đại sắc bén, dưới sự lãnh đạo của Đảng và sự đồng lòng của nhân dân, chắc chắn sẽ đưa con thuyền Việt Nam vươn ra biển lớn, sánh vai với các cường quốc năm châu, hiện thực hóa khát vọng về một Việt Nam hùng cường, phồn vinh và hạnh phúc như Chủ tịch Hồ Chí Minh kính yêu hằng mong đợi./.
Yêu nước ST.

TÌM HIỂU GIÚP BẠN: VỮNG VÀNG BẢO VỆ CHỦ QUYỀN BIỂN, ĐẢO TRONG KỶ NGUYÊN MỚI

      Trước yêu cầu bức thiết của việc quản lý, bảo vệ chủ quyền biển, đảo của Tổ quốc, ngày 26-10-1975, Bộ Quốc phòng ra quyết định thành lập 4 Vùng Duyên Hải (nay là các Bộ tư lệnh Vùng 1, 3, 4, 5 Hải quân). Việc ra đời các Vùng Hải quân đánh dấu sự phát triển lớn mạnh của lực lượng Hải quân nhân dân Việt Nam, gánh vác nhiệm vụ hết sức nặng nề nhưng rất vẻ vang.

Để đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ, năm 1978 Bộ Quốc phòng đã ra quyết định điều chỉnh 5 vùng duyên hải và căn cứ Cam Ranh thành 4 vùng Hải quân, đồng thời giải thể Vùng 2 duyên hải (sau đó để đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ quản lý, bảo vệ khu vực biển phía Đông Nam và thềm lục địa phía Nam của Tổ quốc, năm 2009, Bộ Quốc phòng ra quyết định thành lập Vùng 2 Hải quân).

50 năm xây dựng và phát triển, từ những ngày đầu gian khó, thiếu thốn, song các thế hệ cán bộ, chiến sĩ các Vùng Hải quân đã kiên cường bám trụ trên các đảo, con tàu, đài - trạm radar, nhà giàn… tạo thành một vành đai phòng thủ vững chắc, là những “lá chắn thép” bảo vệ chủ quyền biển, đảo của Tổ quốc.

Trong bối cảnh tình hình Biển Đông đang đặt ra những thách thức, các Vùng Hải quân được giao trọng trách đặc biệt "vừa kiên định bảo vệ vững chắc chủ quyền quốc gia, vừa giữ gìn môi trường hòa bình, ổn định để phục vụ cho sự phát triển bền vững kinh tế biển, đảo”, mỗi cán bộ, chiến sĩ Hải quân phát huy truyền thống, vững vàng bảo vệ chủ quyền biển, đảo trong kỷ nguyên mới.

Vùng 1 Hải quân ra đời từ các đơn vị tiền thân, anh dũng chiến đấu góp phần làm nên chiến thắng trận đầu của Hải quân nhân dân Việt Nam và quân, dân miền Bắc ngày 2 và 5-8-1964, đánh đuổi tàu khu trục Ma-đốc, bắn rơi nhiều máy bay và bắt sống giặc lái Mỹ ngay trên vùng biển miền Bắc. Tự hào được thực hiện nhiệm vụ ở đơn vị chiến thắng trận đầu, cán bộ, chiến sĩ Vùng 1 Hải quân hôm nay làm chủ trang bị kỹ thuật, huấn luyện sát thực tế, sẵn sàng chiến đấu cao.

Chuẩn đô đốc Trần Xuân Văn, Chính ủy Vùng 1 Hải quân cho biết: Quản lý một vùng biển rộng lớn, từ Quảng Ninh đến Hà Tĩnh, 50 năm qua, Vùng 1 Hải quân đã hoàn thành xuất sắc nhiều nhiệm vụ; phòng, chống, khắc phục hậu quả thiên tai, cứu hộ, cứu nạn nhất là ở các vùng biển xa; cán bộ, chiến sĩ Vùng 1 Hải quân không chỉ bảo vệ mình mà còn bảo vệ an toàn tài sản và tính mạng của nhân dân trước thiên tai, dịch bệnh, góp phần khắc họa và làm sâu sắc thêm hình ảnh “Bộ đội Cụ Hồ - Người chiến sĩ Hải quân” trong lòng nhân dân.

Chuẩn đô đốc Trần Xuân Văn khẳng định: Trải qua 50 năm - một hành trình giữ biển, Vùng 1 Hải quân đã không ngừng lớn mạnh, trở thành lực lượng nòng cốt trong bảo vệ chủ quyền biển đảo phía Bắc của Tổ quốc. Để có được bản lĩnh, ý chí và sức mạnh đó, một trong những yếu tố cốt lõi chính là truyền thống vẻ vang và tinh thần yêu nước, ý chí kiên cường và lòng tự hào về biển, đảo quê hương của cán bộ, chiến sĩ Vùng 1 Hải quân, được hun đúc qua nửa thế kỷ chiến đấu, rèn luyện và trưởng thành. Tuyệt đối trung thành với Đảng, Tổ quốc và nhân dân, không dao động trước mọi khó khăn, thử thách, sẵn sàng nhận và hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ được giao.

Quản lý và bảo vệ vùng biển rộng hơn 360.000km2 từ Cù Lao Xanh, Bình Định (nay là Gia Lai) đến Mũi Ba Kiệm, Bình Thuận (nay là Lâm Đồng), bao gồm Trường Sa với nhiều đơn vị đóng quân ở các điểm đảo, trên núi cao. Trải qua nửa thế kỷ xây dựng, chiến đấu và trưởng thành, Vùng 4 Hải quân đã nhiều lần thay đổi về tổ chức, lực lượng và trang bị cho phù hợp với yêu cầu nhiệm vụ từng thời kỳ. Mỗi giai đoạn đều ghi dấu những chiến công, thành tích và sự hy sinh quên mình của các thế hệ cán bộ, chiến sĩ, góp phần quan trọng vào sự nghiệp bảo vệ chủ quyền biển, đảo của Tổ quốc.

Thượng tá Bùi Xuân Bình, Chính ủy Vùng 4 Hải quân cho biết: Qua các giai đoạn xây dựng, chiến đấu và trưởng thành, Vùng 4 Hải quân đã đúc kết được nhiều kinh nghiệm quý báu. Đó là bài học về giữ vững bản lĩnh chính trị, tuyệt đối trung thành với Tổ quốc, Đảng và nhân dân kiên định ý chí “con người, còn đảo”. Đặc biệt, tinh thần đoàn kết, tự lực, tự cường và ý chí kiên cường đã và đang là nguồn sức mạnh to lớn giúp Vùng 4 Hải quân vượt qua mọi khó khăn, hoàn thành xuất sắc sứ mệnh bảo vệ vững chắc chủ quyền biển đảo thiêng liêng của Tổ quốc trong kỷ nguyên mới.

Thượng tá Bùi Xuân Bình chia sẻ: Trên các đảo, tàu trực, đài - trạm radar, mỗi cán bộ, chiến sĩ đều xác định rõ “Trường Sa là Tổ quốc” và bảo vệ Trường Sa là bảo vệ Tổ quốc. Trong mọi điều kiện thời tiết và hoàn cảnh, tinh thần sẵn sàng chiến đấu luôn ở mức cao nhất. Bộ đội kiên gan bám đảo, bám tàu, ngày đêm canh giữ chủ quyền và vượt qua mọi gian khổ, hiểm nguy để bảo vệ vững chắc từng tấc đảo, sải biển thiêng liêng của Tổ quốc.

Bộ tư lệnh Vùng 5 Hải quân được giao nhiệm vụ quản lý vùng biển, đảo Tây Nam từ cửa sông Gành Hào, tỉnh Cà Mau đến Hà Tiên, tỉnh An Giang với hơn 150 hòn đảo lớn, nhỏ, giáp ranh với vùng biển các nước Campuchia, Thái Lan và Malaysia. Đây là vùng biển có vị trí đặc biệt quan trọng cả về kinh tế, chính trị, quốc phòng, an ninh; đồng thời cũng là khu vực đánh bắt truyền thống của ngư dân. Nửa thế kỷ xây dựng, chiến đấu và trưởng thành, Vùng 5 Hải quân luôn là điểm tựa vững chắc nơi biển đảo Tây Nam của Tổ quốc.

Trong thời đại chuyển đổi số và hiện đại hóa Quân đội, những người lính Vùng 5 Hải quân luôn giữ vững bản lĩnh, trí tuệ, ứng dụng chuyển đổi số, làm chủ vũ khí, phương tiện hiện đại, sẵn sàng chiến đấu bảo vệ chủ quyền biển đảo thiêng liêng. Chuẩn đô đốc Trịnh Xuân Tùng, Tư lệnh Vùng 5 Hải quân khẳng định: Trước yêu cầu hiện đại hóa Hải quân và xu thế chuyển đổi số trong Quân đội, Vùng 5 chủ động ứng dụng công nghệ số trong huấn luyện, chỉ huy, điều hành. Các mô hình mô phỏng, sa bàn điện tử được đưa vào sử dụng rộng rãi, giúp cán bộ, chiến sĩ rèn luyện kỹ năng thao tác, xử lý tình huống sát thực tế, tiết kiệm thời gian, chi phí và nâng cao hiệu quả huấn luyện. Nhờ vậy, chất lượng tổng hợp, trình độ, khả năng sẵn sàng chiến đấu của đơn vị không ngừng được nâng cao, đáp ứng tốt yêu cầu nhiệm vụ trong mọi tình huống, xứng đáng là lực lượng nòng cốt bảo vệ vững chắc chủ quyền vùng biển, đảo Tây Nam của Tổ quốc.

Theo Chuẩn đô đốc Nguyễn Đăng Tiến, Chính ủy Vùng 3 Hải quân: Trong bối cảnh tình hình thế giới, khu vực có những diễn biến phức tạp, khó lường, đặc biệt là trên Biển Đông, nhất là vùng biển Vùng được phân công quản lý tiềm ẩn nhiều nguy cơ xảy ra tranh chấp, xung đột, va chạm cục bộ. Nhiệm vụ bảo vệ, chủ quyền biển, đảo đang đặt ra những yêu cầu mới, ngày một cao hơn. Việc nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của Đảng bộ là yếu tố then chốt, mang tính quyết định. Trong đó, yêu cầu về năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của các tổ chức đảng phải được nâng lên một tầm cao mới. Xây dựng Vùng cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại là nền tảng để Vùng hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ được giao, xứng đáng làm nòng cốt trong bảo vệ vững chắc chủ quyền biển, đảo thiêng liêng của Tổ quốc.

Chuẩn đô đốc Nguyễn Đăng Tiến nhấn mạnh: Đảng ủy, Bộ tư lệnh Vùng 3 Hải quân đã xác định phát huy sức mạnh tổng hợp, xây dựng Đảng bộ trong sạch, vững mạnh tiêu biểu; Vùng cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại. Xây dựng Vùng vững mạnh về chính trị; cán bộ, chiến sĩ có bản lĩnh chính trị vững vàng, tuyệt đối trung thành với Đảng, Tổ quốc và nhân dân, sẵn sàng chiến đấu hy sinh bảo vệ chủ quyền biển, đảo của Tổ quốc. Thường xuyên cảnh giác, SSCĐ cao, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ được giao; quản lý, bảo vệ vững chắc chủ quyền biển, đảo được phân công, góp phần giữ vững môi trường hòa bình, ổn định để phát triển đất nước.

Tự hào về hành trình 50 năm, cán bộ, chiến sĩ các Vùng 1, 3, 4, 5 Hải quân tiếp bước cha anh, khắc ghi “Lời thề giữ biển”. Mỗi cán bộ, chiến sĩ nguyện tiếp bước cha anh, kế tục xứng đáng truyền thống vẻ vang, xây dựng Vùng, Quân chủng Hải quân “Cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại”, thực sự là lực lượng nòng cốt, là những “lá chắn thép”, vững vàng bảo vệ chủ quyền biển, đảo trong kỷ nguyên mới./.
Yêu nước ST.

TÌM HIỂU GIÚP BẠN: NHỮNG THÁCH THỨC LỚN ĐỐI VỚI SỰ PHÁT TRIỂN VĂN HÓA TRONG NHIỆM KỲ ĐẠI HỘI XIV “NHÌN THẲNG ĐỂ BỨT PHÁ TRONG KỶ NGUYÊN MỚI”!

     Khi Đại hội XIV của Đảng đang đến gần, chúng ta không chỉ chuẩn bị cho một sự chuyển giao giữa hai nhiệm kỳ, mà thực sự đang đứng trước một bước ngoặt mang tính bản lề của lịch sử phát triển quốc gia.

Chưa bao giờ đất nước ta cùng lúc hội tụ nhiều yếu tố chuyển động lớn như hiện nay: Cải cách thể chế mạnh mẽ theo tinh thần Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, hội nhập quốc tế sâu rộng, khoa học-công nghệ và đổi mới sáng tạo trở thành động lực then chốt, và kinh tế tư nhân được xác định là một động lực quan trọng của nền kinh tế. Trên nền những chuyển động ấy, văn hóa được đặt lại ở vị trí trung tâm. Nhưng để biến những định hướng và lợi thế ấy thành hiện thực trong nhiệm kỳ Đại hội XIV, chúng ta cần thẳng thắn nhìn nhận 15 thách thức lớn đang đặt ra cho sự phát triển văn hóa Việt Nam hôm nay từ đó tìm đường bứt phá cho phát triển văn hóa và đất nước.

1. Khoảng cách giữa nhận thức - chính sách - hành động - kết quả trong lĩnh vực văn hóa

Trong tất cả các văn kiện lớn của Đảng, văn hóa đã được khẳng định nhiều lần là nền tảng tinh thần của xã hội, vừa là mục tiêu, vừa là động lực phát triển. Nhưng nhìn vào thực tiễn, có thể thấy khoảng cách từ nhận thức đúng đến hành động đúng, từ chính sách đúng đến kết quả đúng vẫn còn khá xa.

Ngân sách cho văn hóa tuy đã có bước tăng, nhưng tỷ trọng trong tổng chi ngân sách vẫn còn khiêm tốn; nhiều địa phương vẫn khó đạt mức khoảng 2% chi cho văn hóa – con số vốn đã không phải là cao nếu so với tầm quan trọng của lĩnh vực này. Trong không ít báo cáo phát triển kinh tế – xã hội, văn hóa vẫn thường xuất hiện ở phần cuối, với những dòng tổng kết chung chung, thiếu những chỉ tiêu đo lường cụ thể: Tỷ lệ người dân tham gia hoạt động văn hóa, mức độ hài lòng về đời sống tinh thần, số lượng doanh nghiệp sáng tạo, chỉ số sức mạnh mềm địa phương…

Tại Hội nghị Văn hóa toàn quốc năm 2021, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã chỉ rõ: “Chúng ta chưa quan tâm tương xứng đến văn hóa so với kinh tế, chính trị, xã hội”, và yêu cầu phải tạo “chuyển biến mạnh mẽ, toàn diện” trong nhận thức và hành động. Điều đó có nghĩa là, thách thức đầu tiên không nằm ở chỗ chúng ta chưa nói đủ về văn hóa, mà ở chỗ chưa làm đủ, làm đến nơi đến chốn để văn hóa thực sự trở thành nền tảng và động lực phát triển.

2. Quản trị văn hóa trong bối cảnh bộ máy tinh gọn và chính quyền địa phương hai cấp

Từ ngày 1-7-2025, Việt Nam chính thức vận hành mô hình chính quyền địa phương hai cấp, gắn với việc sắp xếp lại đơn vị hành chính cấp tỉnh và cấp huyện, hướng tới 34 đơn vị hành chính cấp tỉnh, thành trong thời gian tới. Đây là một trong những cuộc cải cách mạnh mẽ nhất về tổ chức bộ máy trong nhiều thập niên.

Tinh gọn bộ máy giúp giảm tầng nấc, tăng hiệu lực, hiệu quả quản lý, nhưng cũng đồng nghĩa với việc khối lượng công việc của mỗi đơn vị, mỗi cán bộ tăng lên, trong khi nhân lực không tăng, thậm chí còn giảm. Ở cấp cơ sở, nhiều cán bộ văn hóa phải kiêm nhiệm: Văn hóa – thông tin – thể thao – du lịch – gia đình – phong trào… Điều đó đòi hỏi họ không chỉ nắm vững chuyên môn, mà còn phải có kỹ năng quản trị, điều phối, huy động xã hội, xử lý khủng hoảng truyền thông, ứng dụng công nghệ số.

Trong khi đó, nhiều khảo sát nội bộ cho thấy tỷ lệ cán bộ quản lý văn hóa được đào tạo đúng ngành, có trình độ sau đại học, am hiểu về công nghiệp văn hóa, văn hóa số… còn thấp; độ chênh giữa trung ương – địa phương, đô thị – nông thôn rất lớn. Nếu không kịp thời có chiến lược bồi dưỡng, tái đào tạo, thì bộ máy tinh gọn có nguy cơ trở thành “bộ máy quá tải”, làm công tác văn hóa nặng về sự vụ, phong trào, thiếu chiều sâu.

Thách thức ở đây là phải xây dựng năng lực quản trị văn hóa phù hợp với mô hình chính quyền hai cấp, trong khi nguồn nhân lực và nguồn lực tài chính không phải vô hạn.

3. Chất lượng đội ngũ cán bộ văn hóa chưa theo kịp yêu cầu phát triển mới

Nhân lực là “linh hồn” của mọi chiến lược văn hóa. Trong kỷ nguyên công nghiệp văn hóa – kinh tế sáng tạo – chuyển đổi số – trí tuệ nhân tạo, người làm văn hóa không chỉ cần hiểu truyền thống, di sản, nghệ thuật, mà còn phải biết xây dựng chiến lược, quản trị dự án, hiểu biết thị trường, sử dụng thành thạo công cụ số, có tư duy liên ngành và năng lực truyền thông.

Trong khi đó, hệ thống đào tạo cán bộ văn hóa hiện nay vẫn thiên về hành chính, quản lý sự vụ, chậm cập nhật các tri thức mới về kinh tế sáng tạo, quản trị sáng tạo, thiết kế trải nghiệm, phân tích dữ liệu văn hóa… So với những nước đã thành công trong công nghiệp văn hóa như Hàn Quốc, Anh, Pháp, Singapore – nơi nhân lực văn hóa được đào tạo theo mô hình liên ngành (culture + management + technology + marketing) – chúng ta đang đi sau một quãng đáng kể.

Tổng Bí thư Tô Lâm, trong phát biểu kỷ niệm 80 năm Ngày truyền thống ngành Văn hóa, đã đặt kỳ vọng lớn vào đội ngũ này, coi trí thức, văn nghệ sĩ là “những kỹ sư tâm hồn của nhân dân” và mong muốn họ tiếp tục bền bỉ sáng tạo, góp phần bồi đắp sức mạnh tinh thần dân tộc. Kỳ vọng đó chỉ có thể trở thành hiện thực nếu đội ngũ cán bộ văn hóa, văn nghệ sĩ, nhà quản lý văn hóa được tạo điều kiện phát triển toàn diện, cả về chuyên môn, chính trị, lẫn kỹ năng nghề nghiệp mới.

4. Hoàn thiện thể chế văn hóa theo tinh thần Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa

Nghị quyết 66 về đổi mới công tác xây dựng và thi hành pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới đặt ra yêu cầu rất cao đối với mọi lĩnh vực, trong đó có văn hóa: Hoạt động văn hóa phải vận hành trên nền tảng pháp luật minh bạch, đồng bộ, hiện đại, phù hợp với thực tiễn và cam kết hội nhập.

Nhưng văn hóa lại là lĩnh vực biến đổi nhanh, đa dạng, nhạy cảm. Nhiều dạng thức mới xuất hiện: Nghệ thuật đương đại, nghệ thuật đường phố, không gian sáng tạo độc lập, sản phẩm số, nội dung do người dùng tạo ra (UGC), nội dung AI, kinh tế di sản, du lịch trải nghiệm… Trong khi đó, hệ thống pháp luật chưa theo kịp, còn khoảng trống trong khung pháp lý cho công nghiệp văn hóa, cơ chế hợp tác công - tư trong văn hóa, chính sách ưu đãi tài chính, thuế, đất đai cho dự án văn hóa, tiêu chí và định mức đánh giá hiệu quả đầu tư văn hóa, quy định về dữ liệu văn hóa, nội dung số, bản quyền trong môi trường số.

Thách thức của nhiệm kỳ Đại hội XIV là phải chuyển tinh thần đó thành những đạo luật, nghị định, thông tư cụ thể, tạo được hành lang pháp lý thông thoáng nhưng chặt chẽ, vừa khuyến khích sáng tạo, vừa bảo vệ các giá trị tốt đẹp của dân tộc.

5. Chuyển đổi số trong văn hóa còn chậm - trong khi công chúng đã “đi rất nhanh”

Với hơn 70-80% dân số sử dụng Internet, thời gian trung bình lên mạng xã hội nhiều giờ mỗi ngày, không gian số đã trở thành không gian văn hóa thứ hai của người Việt Nam. Người trẻ tiếp nhận phần lớn thông tin, tri thức, giải trí, giao tiếp trên môi trường số. Ở đó, sản phẩm văn hóa của thế giới tràn ngập, trong khi sản phẩm văn hóa Việt Nam vẫn còn khiêm tốn về số lượng lẫn chất lượng, đặc biệt là chất lượng số.

Nhiều bảo tàng, thư viện, nhà hát, di tích, không gian văn hóa… vẫn đang ở giai đoạn đầu của quá trình số hóa, mới chỉ dừng ở mức website, fanpage, vài tour ảo, chưa có hệ sinh thái văn hóa số quốc gia với cơ sở dữ liệu mở, nền tảng chung, chuẩn dữ liệu thống nhất để chia sẻ, kết nối, sản xuất sản phẩm mới.

Nếu trong giai đoạn chiến tranh, đó là “văn hóa kháng chiến - kiến quốc”, thì hôm nay, chúng ta có thể nói đến “văn hóa số - kiến tạo tương lai”. Thách thức là làm sao đưa toàn bộ tài nguyên văn hóa dân tộc bước vào không gian số một cách hiện đại, hấp dẫn, có khả năng lan tỏa mạnh mẽ, thay vì chỉ là sao chép hình thức từ thế giới.

6. Công nghiệp văn hóa chưa trở thành trụ cột kinh tế đúng với tiềm năng

UNESCO ước tính các ngành công nghiệp văn hóa và sáng tạo đóng góp hơn 6% GDP toàn cầu, tạo hàng chục triệu việc làm. Ở Hàn Quốc, Indonesia, Anh, Pháp…, công nghiệp văn hóa không chỉ tạo ra giá trị kinh tế, mà còn định hình hình ảnh quốc gia, sức mạnh mềm và khả năng dẫn dắt xu hướng.

Việt Nam đã có Chiến lược phát triển các ngành công nghiệp văn hóa, đặt mục tiêu đến năm 2030 đóng góp khoảng 7% GDP, xây dựng một số thành phố sáng tạo, hình thành các trung tâm công nghiệp văn hóa, tăng giá trị xuất khẩu sản phẩm văn hóa. Tuy nhiên, đến nay, đóng góp thực tế vẫn còn ở mức khiêm tốn, nhiều ngành mũi nhọn như điện ảnh, âm nhạc, trò chơi điện tử, thiết kế, thời trang, quảng cáo… chưa phát huy hết tiềm năng.

Nguyên nhân không chỉ do thiếu vốn, thiếu hạ tầng, mà sâu xa hơn là thiếu những “luật chơi” rõ ràng, thiếu những nhà đầu tư chiến lược, thiếu cơ chế bảo vệ nhà sáng tạo, khiến doanh nghiệp khó yên tâm đầu tư dài hạn.

Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã khẳng định: “Văn hóa là hồn cốt của dân tộc. Văn hóa còn thì dân tộc còn” - và nhấn mạnh văn hóa phải được gắn với chiến lược phát triển kinh tế-xã hội. Điều đó đặt ra yêu cầu phải xem công nghiệp văn hóa không chỉ là câu chuyện của ngành văn hóa, mà là của cả nền kinh tế.

7. Bản quyền trong môi trường số - “vết thương hở” kéo dài của sáng tạo Việt Nam

Không bảo vệ được bản quyền thì không thể có công nghiệp văn hóa bền vững. Trong môi trường số, vi phạm bản quyền diễn ra với tốc độ và quy mô lớn hơn rất nhiều: Phim lậu, nhạc lậu, livestream trái phép, sử dụng trái phép hình ảnh, nội dung… Một bộ phim chiếu rạp có khi vừa công chiếu đã xuất hiện bản lậu trên mạng; một ca khúc, một chương trình nghệ thuật bị sao chép, sử dụng mà không trả tiền cho tác giả.

Điều này không chỉ gây thiệt hại kinh tế, mà còn làm nản lòng người sáng tạo, khiến nhà đầu tư cân nhắc khi bỏ vốn vào những dự án văn hóa - nghệ thuật quy mô lớn. Thách thức ở đây không chỉ là siết chặt chế tài, mà còn là xây dựng văn hóa tôn trọng bản quyền trong xã hội, để người dân hiểu rằng: Trả tiền cho sản phẩm văn hóa chính là trả tiền cho tri thức, cho tài năng và mồ hôi của người sáng tạo, từ đó tạo ra một thị trường văn hóa lành mạnh hơn.

8. Mức hưởng thụ văn hóa giữa các vùng miền còn chênh lệch đáng kể

Một xã hội văn minh là xã hội mà mọi người dân, ở mọi vùng miền, đều có cơ hội tiếp cận và tham gia đời sống văn hóa một cách bình đẳng. Nhưng hiện nay, vẫn còn khoảng cách khá lớn giữa thành thị-nông thôn, vùng thuận lợi-vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc thiểu số.

Nhiều nơi, nhà văn hóa xã hoạt động cầm chừng, thư viện cấp huyện nghèo nàn, rạp chiếu phim vắng bóng, sân chơi văn hóa dành cho thanh thiếu niên ít ỏi. Trong khi đó, ở các đô thị lớn, hoạt động sáng tạo, trình diễn, triển lãm, giao lưu văn hóa diễn ra sôi động.

Tại nhiều diễn đàn, Tổng Bí thư Tô Lâm đã nhấn mạnh mục tiêu “không để ai bị bỏ lại phía sau”, trong đó có quyền tiếp cận văn hóa, giáo dục. Điều này đặt ra yêu cầu phải điều tiết nguồn lực, ưu tiên đầu tư, đa dạng hóa mô hình thiết chế, tăng cường đưa các chương trình văn hóa chất lượng về cơ sở, và nhất là trao quyền cho cộng đồng tự tổ chức, tự vận hành các hoạt động văn hóa.

9. Xây dựng thương hiệu văn hóa - hình ảnh quốc gia còn manh mún, thiếu hệ thống

Ở thời đại “sức mạnh mềm”, hình ảnh quốc gia là tài sản vô hình vô cùng quan trọng. Nhật Bản với “Cool Japan”, Hàn Quốc với “Hallyu - Làn sóng Hàn Quốc”, Thái Lan với “Amazing Thailand” đã chứng minh: Một chiến lược thương hiệu quốc gia bài bản có thể thúc đẩy du lịch, xuất khẩu hàng hóa, thu hút đầu tư và lan tỏa giá trị văn hóa.

Việt Nam có đầy đủ điều kiện: Lịch sử lâu đời, văn hóa đa sắc thái, di sản phong phú, ẩm thực hấp dẫn, con người thân thiện, giàu nghị lực. Nhưng cho đến nay, chúng ta vẫn chưa có một chiến lược thương hiệu văn hóa - hình ảnh quốc gia thật sự đồng bộ, liên ngành, dài hạn. Các chiến dịch quảng bá còn rời rạc, theo từng ngành, từng địa phương, từng sự kiện.

Trong bối cảnh đó, những phát biểu như của Thủ tướng Phạm Minh Chính - “Văn hóa là nền tảng, thông tin là mạch dẫn, thể thao là sức mạnh, du lịch là nhịp cầu kết nối” - không chỉ là khẩu hiệu, mà có thể trở thành trục tư duy để xây dựng hình ảnh Việt Nam là một đất nước văn hóa - sáng tạo - năng động - đáng sống.

Thách thức là: Từ những trục tư duy đó, ai sẽ là đầu mối chiến lược, cơ chế phối hợp nào, nguồn lực nào, công cụ nào để cấu trúc lại toàn bộ hoạt động quảng bá hình ảnh Việt Nam trên trường quốc tế?

10. Áp lực hội nhập quốc tế sâu rộng - phép thử bản lĩnh văn hóa Việt Nam

Việt Nam là một trong những quốc gia có độ mở kinh tế cao, tham gia nhiều hiệp định thương mại tự do thế hệ mới. Hàng hóa, dịch vụ, dòng vốn, dòng người và đặc biệt là dòng chảy thông tin, sản phẩm văn hóa ra vào biên giới với tốc độ chưa từng có.

Đây là cơ hội để văn hóa Việt Nam bước ra thế giới, nhưng đồng thời cũng là thách thức: Sản phẩm văn hóa nước ngoài với lợi thế vốn, công nghệ, marketing, thương hiệu dễ dàng chiếm lĩnh thị trường trong nước, nhất là với giới trẻ.

Văn hóa là “mặt trận” quan trọng, gắn với sự tồn vong của dân tộc. Điều này càng đúng trong hội nhập: Nếu không giữ được ngôn ngữ, ký ức, bản sắc, hệ giá trị, chúng ta rất dễ bị hòa tan trong “biển lớn” toàn cầu hóa. Thách thức của nhiệm kỳ mới là phải biến hội nhập thành động lực chứ không phải sức ép, bằng cách làm mới truyền thống, nâng chất lượng sản phẩm văn hóa nội địa, tăng năng lực cạnh tranh của công nghiệp văn hóa, và có chiến lược xuất khẩu văn hóa chủ động.

11. Sức đề kháng văn hóa trước tác động tiêu cực của không gian mạng

Không gian mạng vừa là môi trường sáng tạo, vừa là “chiến trường” của thông tin, giá trị, quan điểm, lối sống. Tin giả, bạo lực ngôn từ, nội dung độc hại, cực đoan, giật gân… nếu không được kiểm soát tốt sẽ tác động tiêu cực đến tâm lý xã hội, đặc biệt là giới trẻ.

Tổng Bí thư Tô Lâm, trong các phát biểu gần đây, luôn nhấn mạnh yêu cầu giữ vững chủ động trên mặt trận tư tưởng, văn hóa, coi văn hóa là sức mạnh tinh thần, là tấm lá chắn mềm trước những tác động phức tạp của môi trường quốc tế và không gian mạng.

Sức đề kháng văn hóa không thể chỉ xây dựng bằng các biện pháp hành chính, mà phải được bồi đắp từ bên trong mỗi con người, thông qua giáo dục, truyền thông lành mạnh, hoạt động văn hóa-nghệ thuật chất lượng, kỹ năng số và kỹ năng truyền thông cho công dân.

12. Văn hóa công vụ và văn hóa kinh doanh chưa trở thành chuẩn mực phổ quát

Xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa hiện đại và phát triển kinh tế tư nhân theo tinh thần Nghị quyết 68 đòi hỏi một nền văn hóa công vụ và văn hóa doanh nghiệp thực sự vững chắc. Nhưng trên thực tế, vẫn còn hiện tượng thiếu minh bạch, thiếu tinh thần phục vụ nhân dân, lợi ích nhóm, vi phạm đạo đức kinh doanh, gian lận, lừa dối người tiêu dùng… Những hiện tượng ấy, nếu không được chấn chỉnh, sẽ làm xói mòn niềm tin xã hội, làm suy yếu sức mạnh nội sinh của quốc gia. Văn hóa, trong trường hợp này, không còn là khái niệm trừu tượng, mà là thước đo hàng ngày của mỗi cán bộ, đảng viên, mỗi doanh nhân, mỗi tổ chức.

Chủ tịch Hồ Chí Minh nhiều lần nhấn mạnh “đức là gốc”, “cán bộ là cái gốc của mọi công việc”; vì thế, văn hóa trong Đảng, văn hóa trong kinh doanh, văn hóa trong thực thi pháp luật…, phải trở thành chuẩn mực tự thân, không chỉ là khẩu hiệu.

13. Việc gắn văn hóa với phát triển kinh tế - xã hội còn thiên về hình thức

Trong nhiều chiến lược, quy hoạch, văn hóa đã được đưa vào như một trụ cột. Nhưng khi triển khai, không ít dự án vẫn đặt lợi ích kinh tế ngắn hạn lên trên giá trị văn hóa lâu dài. Quy hoạch đô thị đôi khi chưa chú ý bảo tồn ký ức không gian; phát triển du lịch đôi lúc làm nghèo đi di sản, tạo nên những sản phẩm na ná nhau, thiếu bản sắc.

Các nghiên cứu quốc tế cho thấy, mỗi 1 đồng đầu tư vào di sản có thể tạo ra nhiều đồng giá trị gia tăng cho các ngành khác, từ du lịch, dịch vụ, đến sáng tạo và giáo dục. Nhưng để khai thác được điều này, phải có tư duy tích hợp văn hóa trong mọi chính sách phát triển, chứ không coi văn hóa là “phần thêm vào” sau cùng. Chúng ta phải đưa văn hóa vào trung tâm của chiến lược phát triển kinh tế-xã hội.

14. Hạn chế trong huy động nguồn lực xã hội cho văn hóa

Ngân sách nhà nước là nguồn lực quan trọng, nhưng không thể và không nên là nguồn duy nhất cho phát triển văn hóa. Kinh nghiệm quốc tế cho thấy, nơi nào huy động tốt nguồn lực xã hội - doanh nghiệp - cộng đồng - quỹ tư nhân cho văn hóa, nơi đó đời sống văn hóa – sáng tạo phong phú, đa dạng hơn.

Ở ta, nhiều doanh nghiệp muốn đầu tư cho văn hóa, nhưng thiếu khung pháp lý rõ ràng, thiếu ưu đãi về thuế, đất đai, thủ tục phức tạp, rủi ro cao. Không ít mô hình hợp tác công - tư trong văn hóa còn lúng túng, chưa tạo được niềm tin cho nhà đầu tư.

Thủ tướng Phạm Minh Chính trong nhiều phát biểu đều nhấn mạnh cần phát huy sức mạnh của “ba trụ cột”: Nhà nước - thị trường - xã hội, trong đó văn hóa là lĩnh vực rất cần sự đồng hành của doanh nghiệp, trí thức, văn nghệ sĩ, cộng đồng. Thách thức là thiết kế chính sách đủ thông minh, đủ minh bạch để mọi chủ thể đều muốn và dám đầu tư cho văn hóa.

15. Xây dựng và lan tỏa hệ giá trị Việt Nam trong kỷ nguyên mới – thách thức lớn nhất nhưng cũng căn bản nhất

Cuối cùng, thách thức lớn nhất của văn hóa Việt Nam trong nhiệm kỳ Đại hội XIV chính là xây dựng và lan tỏa hệ giá trị quốc gia, hệ giá trị văn hóa và con người Việt Nam trong kỷ nguyên mới: Yêu nước - nhân ái - đoàn kết - nghĩa tình - trung thực - trách nhiệm - kỷ cương - sáng tạo; khát vọng vươn lên; ý thức thượng tôn pháp luật; lối sống nhân văn, lành mạnh.

Chủ tịch Hồ Chí Minh, trong “Đời sống mới” và nhiều bài viết, bài nói chuyện, luôn nhấn mạnh vai trò của văn hóa, đạo đức, lối sống. Tư tưởng ấy được Đảng ta kế thừa và phát triển qua các thời kỳ, nhất là trong bối cảnh hiện nay, khi thế hệ trẻ lớn lên trong một thế giới đa giá trị, đa nguồn ảnh hưởng.

Tổng Bí thư Tô Lâm, tại Lễ kỷ niệm 80 năm ngành Văn hóa, nhấn mạnh văn hóa xây nên dáng hình của dân tộc, định hình hệ giá trị Việt Nam trong thời kỳ mới, củng cố sức mạnh đoàn kết, bồi đắp lòng tin và khát vọng phát triển. Hệ giá trị đó không thể chỉ “nằm trên giấy”, mà phải thấm vào từng chính sách, từng ngôi trường, từng gia đình, từng sản phẩm văn hóa, từng hành vi công vụ, từng hoạt động kinh doanh. Đây vừa là thách thức, vừa là tiêu chí để đánh giá thành công của nhiệm kỳ Đại hội XIV trên mặt trận văn hóa.

*

* *

Nhìn lại 15 thách thức trên, chúng ta thấy một bức tranh vừa nhiều cơ hội, vừa nhiều yêu cầu mới, vừa nhiều việc phải làm ngay. Nhưng lịch sử dân tộc cho thấy, mỗi khi đối mặt với những thời khắc khó khăn, văn hóa và con người Việt Nam luôn là nguồn sức mạnh quyết định.

Từ tư tưởng Hồ Chí Minh “Văn hóa soi đường cho quốc dân đi”, đến khẳng định của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng “Văn hóa là hồn cốt của dân tộc. Văn hóa còn thì dân tộc còn”, rồi những chỉ đạo của Tổng Bí thư Tô Lâm về việc để truyền thống 80 năm ngành Văn hóa thật sự tỏa sáng trong giai đoạn mới, và thông điệp của Thủ tướng Phạm Minh Chính “Văn hóa là nền tảng - Thông tin là mạch dẫn - Thể thao là sức mạnh - Du lịch là nhịp cầu kết nối - Vững bước vào kỷ nguyên mới” - tất cả đang tạo nên một trường lực tư tưởng mạnh mẽ, đặt văn hóa vào trung tâm của tầm nhìn phát triển đất nước.

Nhiệm kỳ Đại hội XIV phải là giai đoạn mà thể chế văn hóa được hoàn thiện thực chất, công nghiệp văn hóa trở thành một trụ cột kinh tế - văn hóa, chuyển đổi số văn hóa diễn ra sâu rộng, có hệ thống, thương hiệu văn hóa - hình ảnh quốc gia được định hình rõ nét, nguồn nhân lực văn hóa - sáng tạo được đầu tư chiến lược, và trên hết, hệ giá trị Việt Nam được nuôi dưỡng, lan tỏa trong đời sống xã hội.

Bởi suy cho cùng, văn hóa, cũng giống như giáo dục, chính là “nguyên khí của quốc gia”: Nếu nguyên khí vượng thì đất nước hưng thịnh; nếu nguyên khí suy thì phát triển không thể bền vững. Trước thềm Đại hội XIV, nhìn thẳng vào 15 thách thức ấy cũng là cách chúng ta chuẩn bị hành trang tinh thần cho một chặng đường mới - tự tin hơn, bản lĩnh hơn, nhân văn hơn, sáng tạo hơn để văn hóa thực sự trở thành sức mạnh nội sinh, soi đường cho dân tộc Việt Nam vươn mình trong kỷ nguyên mới./.
Yêu nước ST.

TÌM HIỂU GIÚP BẠN: TRIỂN LÃM "QUỐC HỘI VIỆT NAM - 80 NĂM ĐỒNG HÀNH CÙNG DÂN TỘC": CHỦ TỊCH HỒ CHÍ MINH VÀ CUỘC TỔNG TUYỂN CỬ ĐẦU TIÊN!

     Ngược dòng thời gian trở về những ngày đầu lập quốc, qua các tài liệu, hình ảnh, hiện vật quý, triển lãm “Quốc hội Việt Nam - 80 năm đồng hành cùng dân tộc” diễn ra ngày 6/1/2026 tại Nhà Quốc hội sẽ làm nổi bật vai trò của Chủ tịch Hồ Chí Minh với cuộc Tổng tuyển cử đầu tiên bầu Quốc hội nước Việt Nam năm 1946!

“Tổ chức càng sớm càng hay cuộc Tổng tuyển cử…”

Nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra đời ngày 2/9/1945 trong bối cảnh nhiều khó khăn, thách thức. Nhân dân và chính quyền cách mạng phải chống lại âm mưu của các thế lực đế quốc muốn thủ tiêu nền độc lập của dân tộc vừa giành được.

Ngày 3/9/1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh chủ trì phiên họp đầu tiên của Hội đồng Chính phủ và trình bày “Những nhiệm vụ cấp bách của Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa”, gồm 6 vấn đề cấp bách hơn cả, trong đó có nội dung “…Chúng ta phải có Hiến pháp dân chủ. Tôi đề nghị Chính phủ tổ chức càng sớm càng hay cuộc Tổng tuyển cử với chế độ phổ thông đầu phiếu…”

Người cũng tạo hành lang pháp lý cho thành công của Tổng tuyển cử bằng Sắc lệnh số 51/SL ngày 17/10/1945, ấn định ngày Tổng tuyển cử và thể lệ cuộc Tổng tuyển cử.

Trong bài viết “Ý nghĩa Tổng tuyển cử” của Chủ tịch Hồ Chí Minh đăng trên báo Cứu quốc số 130, ngày 31/12/1945, Người viết: “Tổng tuyển cử là một dịp cho toàn thể quốc dân tự do lựa chọn những người có tài, có đức để gánh vác công việc nhà nước. Trong Tổng tuyển cử, hễ là những người lo việc nước thì đều có quyền ra ứng cử. Không chia trai gái, giàu nghèo, tôn giáo, giai cấp, đảng phái, hễ là công dân Việt Nam thì đều có hai quyền đó…”

Trước giờ phút lịch sử, “Lời kêu gọi quốc dân đi bỏ phiếu” của Người (đăng trên báo Cứu Quốc, số 134 ra ngày 5/1/1946) đã truyền đi ngọn lửa sục sôi: “Ngày mai mồng 6 tháng Giêng năm 1946. Ngày mai là một ngày sẽ đưa quốc dân ta lên con đường mới mẻ. Ngày mai là một ngày vui sướng của đồng bào ta, vì ngày mai là ngày Tổng tuyển cử, vì ngày mai là một ngày đầu tiên trong lịch sử Việt Nam mà nhân dân ta bắt đầu hưởng dụng quyền dân chủ của mình.

Ngày mai, dân ta sẽ tỏ cho các chiến sĩ ở miền Nam rằng: Về mặt trận quân sự, thì các chiến sĩ dùng súng đạn mà chống quân thù. Về mặt chính trị, thì nhân dân dùng lá phiếu mà chống với quân địch. Một lá phiếu cũng có sức lực như một viên đạn.

Ngày mai, quốc dân ta sẽ tỏ cho thế giới biết rằng dân Việt Nam ta đã: Kiên quyết đoàn kết chặt chẽ, Kiên quyết chống bọn thực dân, Kiên quyết tranh quyền độc lập. Ngày mai, dân ta sẽ tự do lựa chọn và bầu ra những người xứng đáng thay mặt cho mình, và gánh vác việc nước…”

Hiện thân sống động nhất cho tinh thần dân chủ

Ngày 6/1/1946, cuộc Tổng tuyển cử bầu Quốc hội đầu tiên đã diễn ra trong cả nước, kể cả các vùng đang có chiến sự ở Nam Bộ, Nam Trung Bộ và Tây Nguyên… Ở Hà Nội, 91,95% của 74 khu nội thành và 118 làng ngoại thành đã đi bỏ phiếu trong không khí tràn đầy phấn khởi của ngày hội dân chủ. Kết quả 6/74 ứng cử viên đã trúng cử đại biểu Quốc hội. Chủ tịch Hồ Chí Minh trúng cử với số phiếu cao nhất (98,4%).

Ở các địa phương khác, cuộc Tổng tuyển cử cũng được tiến hành sôi nổi. Trong cả nước, số cử tri đi bỏ phiếu đạt tỉ lệ 89%, 333 đại biểu được bầu vào Quốc hội Khóa I, là minh chứng hùng hồn cho sức mạnh của khối đại đoàn kết dân tộc và niềm tin tuyệt đối vào chế độ mới.

Tổng tuyển cử đầu tiên năm 1946 đã khẳng định quyền làm chủ của Nhân dân và sức mạnh nhân dân, tinh thần đoàn kết và vai trò của một hệ thống chính trị xây dựng trên nền tảng dân chủ, pháp quyền. Thắng lợi ấy là minh chứng rõ rệt cho ý chí độc lập, tinh thần yêu nước và khát vọng dân chủ của dân tộc Việt Nam ngay từ buổi đầu dựng nước trong thời đại mới.

Ở đó, Chủ tịch Hồ Chí Minh không chỉ là người thiết kế, tổ chức mà còn là hiện thân sống động nhất cho tinh thần dân chủ ấy. Người đã chứng minh rằng: Một dân tộc chỉ thực sự tự do khi mỗi người dân đều ý thức được quyền lợi và trách nhiệm của mình đối với vận mệnh đất nước.

Những giá trị về dân chủ, pháp quyền và đại đoàn kết mà Chủ tịch Hồ Chí Minh đặt nền móng từ 80 năm trước vẫn còn nguyên giá trị, tiếp tục soi sáng con đường phát triển của Quốc hội và đất nước trong kỷ nguyên mới./.
Yêu nước ST.