Thứ Năm, 5 tháng 11, 2020

BẢN CHẤT ƯU VIỆT CỦA CHẾ ĐỘ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM - HIỆN THỰC KHÔNG THỂ PHỦ NHẬN, KHÔNG THỂ BÁC BỎ

 Việt Nam sẽ vượt qua bóng tối của dịch bệnh COVID-19 bằng ánh sáng chân lý, hệ giá trị tư tưởng và lựa chọn của riêng mình. Trong bóng tối, nhân loại có thể nhìn thấy rõ hơn những điểm sáng. Điểm sáng của chủ nghĩa xã hội hiện thực vốn vẫn sáng và tiếp tục tỏa sáng.

Chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh là nền tảng tư tưởng và kim chỉ nam cho hành động của Đảng, đó là nguyên tắc được Đảng ta quán triệt và kiên định trong suốt quá trình đấu tranh giành độc lập dân tộc và xây dựng chủ nghĩa xã hội.

Hệ thống lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh đề cập đến nhiều vấn đề nhưng trung tâm là học thuyết về phát triển và giải phóng con người mang giá trị nhân văn vô cùng sâu sắc.

Vận dụng vào thực tiễn Việt Nam, trong suốt quá trình lãnh đạo sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa, Đảng ta luôn nêu cao phương châm lấy con người trung tâm của quá trình phát triển, con người là chủ thể, là mục tiêu, và động lực của quá trình phát triển. Chính vì vậy, cần xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của dân, do dân và vì dân, đảm bảo tăng trưởng kinh tế đi đôi với thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội, bảo đảm an sinh xã hội, không để ai bị bỏ lại phía sau trong quá trình phát triển. Quan điểm, chủ trương, đường lối của Đảng ta được cụ thể hóa bằng rất nhiều các chính sách của Nhà nước trong những năm qua.

Quan điểm phát triển lấy con người làm trung tâm được hiện thực hóa qua sự cải thiện liên tục về chỉ số phát triển con người Việt Nam. UNDP đánh giá chỉ số HDI của Việt Nam đã tăng trưởng mạnh mẽ, với mức tăng trưởng bình quân hàng năm là 1,36%, đưa Việt Nam trở thành nước có tỉ lệ tăng HDI nhanh nhất trên thế giới. Với chỉ số HDI là 0,63, Việt Nam xếp thứ 118/189 quốc gia và vùng lãnh thổ về phát triển con người và chỉ thiếu 0,007 điểm để được xếp vào nhóm các nước có HDI cao.

Chỉ số HDI được cải thiện mạnh nhưng Việt Nam không phải đánh đổi nhiều về bất bình đẳng xã hội. Tỷ lệ bao phủ bảo hiểm y tế ở Việt Nam chiếm 88,5% dân số, thuộc nhóm đứng đầu thế giới, trong đó, ngân sách nhà nước hỗ trợ toàn bộ và hỗ trợ một phần cho trên 60% số người tham gia bảo hiểm y tế.Tỷ lệ hộ nghèo bình quân cả nước giảm còn dưới 4%, 13% dân số thuộc tầng lớp trung lưu theo chuẩn thế giới và đang tiếp tục gia tăng nhanh chóng tăng với mức tăng hơn 20% trong thập kỷ qua.

Con người được làm chủ, được phát huy sức sáng tạo, được thụ hưởng thành quả từ lao động. Kinh tế thị trường - sản phẩm của văn minh nhân loại được vận dụng vào nền kinh tế Việt Nam như một công cụ để thực hiện mục tiêu xây dựng xã hội dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh.

Thúc đẩy sự hình thành và phát triển nền kinh tế thị trường ở Việt Nam đã tạo ra một hệ thống thị trường đầy đủ, đồng bộ, phát triển đa dạng trên các lĩnh vực của đời sống xã hội, từ thị trường cung cấp các yếu tố đầu vào cho quá trình sản xuất đến các thị trường cung cấp các loại hàng hóa cho tiêu dùng. Hoàn thiện thể chế kinh tế, tạo lập môi trường kinh doanh thuận lợi, đã tạo lực hấp dẫn, thu hút lượng vốn đầu tư lớn trong nước và nước ngoài. Doanh nghiệp, người dân được tự do kinh doanh, được làm những gì pháp luật không cấm.

Khu vực tư nhân Việt Nam đang dần lớn mạnh, trở thành một động lực quan trọng của nền kinh tế và là lực lượng quan trọng trong thực hiện trách nhiệm xã hội. Quan hệ kinh tế quốc tế không ngừng được mở rộng. Cho đến nay, Việt Nam thuộc nhóm các quốc gia có độ mở của kinh tế lớn hàng đầu thế giới. So với quy mô GDP, vị thế chính trị, văn hóa, ngoại giao của Việt Nam trên trường quốc tế lớn mạnh hơn rất nhiều.

Thời gian vừa qua, trong khi các nước đã chỉ trích nhau, đổ lỗi cho nhau, thậm chí miệt thị nhau, giới chính trị gia, các đảng phái, người dân ở nhiều nước còn lừng chừng, tranh luận về quyền con người, quyền công dân, quyền tự do đi lại, giao tiếp xã hội để phản ứng lại các đề xuất chính sách hạn chế đi lại, giãn cách xã hội, hay thực hiện các biện pháp phòng hộ cá nhân tại nơi công cộng của Chính phủ, virus Corona đã âm thầm lan nhanh, lan rộng rồi bùng phát tại nhiều khu vực trên thế giới, đặc biệt là ở châu Âu, châu Mỹ.

Hậu quả của phản ứng chính sách có phần chậm trễ của các quốc gia này đã thấy rõ, thể hiện ở sự gia tăng vô cùng nhanh chóng số ca nhiễm bệnh và số người tử vong. Trong khi đó, Việt Nam được báo chí quốc tế nhắc đến như một hình mẫu của kiểm soát hiệu quả dịch bệnh do Covid-19 gây ra. Cho đến nay, Việt Nam nằm trong số ít nước có số người nhiễm thấp, tốc độ lây lan chậm và chưa có ca nhiễm bệnh nào tử vong.

Thành công đến từ quản trị hiệu quả khủng hoảng, từ sự chung sức, đồng lòng của người dân, doanh nghiệp, từ sự đoàn kết, thống nhất của toàn bộ hệ thống chính trị. Tất cả những kết quả Việt Nam đạt được trong cuộc chiến chống dịch Covid -19 được biểu hiện sinh động và cụ thể. Có thể gọi không quá, đó là “hiện tượng Việt Nam” trong cuộc chiến đấu chống đại dịch toàn cầu. Sâu xa hơn, không phải chỉ là hiện tượng, không phải ngẫu nhiên, càng không phải do may mắn, những kết quả có được hôm nay là tất yếu - sự tất yếu xuất phát từ bản chất ưu việt của chế độ chính trị Việt Nam, của nhà nước xã hội chủ nghĩa của dân, do dân và vì dân.

Lấy con người làm trung tâm của quá trình phát triển, đòi hỏi phải bảo đảm các quyền tối thiểu của con người, mà trước hết, ngay lúc này là quyền được sống, quyền được bảo đảm an toàn trước dịch bệnh. Việt Nam đã chủ động lên phương án phòng chống dịch từ rất sớm, từng bước đi, từng quyết sách ứng phó được ban hành bài bản, tích cực, quyết liệt nhưng vô cùng thận trọng, chắc chắn, không tạo ra các cú sốc lớn lên đời sống người dân, đặc biệt tạo ra sự vững tâm và lòng tin của người dân với Đảng, với Chính phủ.

Các khu cách ly tập trung dần được thiết lập để đón nhân dân, trong số đó, có rất nhiều người Việt Nam đang học tập và làm việc ở nước ngoài về quê hương tránh dịch. Cán bộ trong hệ thống chính trị, lực lượng vũ trang các cấp, từ trung ương đến tận thôn bản căng mình thực thi nhiệm vụ, sát sao, ngày đêm bám sát địa bàn thực hiện nhiệm vụ, nhường chỗ ăn, chỗ nghỉ tốt nhất cho dân.

Rõ ràng, quyền con người ở Việt Nam không phải là bánh vẽ, không phải là khẩu hiệu, là hiện thực trong thời khắc vô cùng gian nan, sinh tử này.

Chi phí sinh hoạt tại các khu cách ly tập trung, chi phí khám chữa cho người có bệnh nền trong các khu cách ly, các khu dân cư bị phong tỏa được nhà nước cung cấp miễn phí cho nhân dân, người dân được tạo điều kiện tốt nhất để vừa cách ly vừa có thể làm việc, thi trả bài, học online ở các trường đại học trên khắp thế giới. Các bệnh nhân dương tính được điều trị miễn phí tại các cơ sở y tế, công tác điều trị được thực hiện hết sức tích cực với mục tiêu không để xảy ra tử vong vì dịch Covid-19.

Chính sách này chỉ có thể được thực hiện ở một chế độ xã hội nhân văn như Việt Nam, bởi lẽ, không chỉ người dân, doanh nghiệp mà nhà nước cũng đang trăm mối bộn bề khi thu ngân sách nhà nước đang chịu những tác động rất tiêu cực từ dịch bệnh toàn cầu.

Chính sách đảm bảo an sinh xã hội đối với người dân, doanh nghiệp chịu tác động của dịch được ban hành khẩn trương thể hiện rõ nét tinh thần của Chính phủ hành động, phục vụ. Theo đó, gói hỗ trợ có giá trị khoảng 62.000 tỷ đồng, áp dụng cho gần 20 triệu đối tượng chính sách và người lao động chịu ảnh hưởng của dịch. Sáu nhóm đối tượng được ngân sách nhà nước hỗ trợ trực tiếp. Các đối tượng của chính sách bao gồm đối tượng bị giảm sâu thu nhập, mất việc làm, không bảo đảm mức sống tối thiểu, trong đó có nhóm đối tượng người nghèo, cận nghèo, người có công, lao động có hợp đồng bị nghỉ việc không lương, lao động tự do mất việc làm… Mức hỗ trợ bằng tiền mặt trong 3 tháng (tháng 4, 5, 6/2020).

Nhóm đối tượng là doanh nghiệp, người sử dụng lao động được vay từ Ngân hàng Chính sách xã hội với lãi suất 0%, thời hạn không quá 12 tháng, mức vay tối đa theo 50% mức lương tối thiểu vùng/tháng/người để trả lương cho người lao động bị ngừng việc trong ba tháng. Ngoài ra, nhiều hỗ trợ của nhà nước đối với các doanh nghiệp và người lao động đã được đề xuất như được tạm dừng đóng quỹ hưu trí và tử tuất đối với các doanh nghiệp phải giảm 50% lao động do ảnh hưởng bởi dịch Covid-19; doanh nghiệp và người lao động được tạm dừng đóng, miễn đóng bảo hiểm thất nghiệp, miễn giảm các loại thuế, phí… cho người dân, doanh nghiệp. Ngoài ra, Nhà nước đã chủ động bố trí nguồn hàng tăng cường dự trữ quốc gia, chủ yếu là thực phẩm để hỗ trợ cho người dân ở các vùng khó khăn, bảo đảm không ai bị đói.

Tất nhiên, mọi sự so sánh là khập khiễng nhưng những gì xảy ra trên thực tế cho thấy bản chất ưu việt của chế độ ta là không thể phủ nhận, không thể chối cãi bằng bất cứ luận điệu xuyên tạc nào.

Khi đại dịch toàn cầu bùng phát và ngày càng lan rộng, nhiều nước, ngay cả các nước là đồng minh của nhau đã và đang thực hiện các hành động giành giật, tranh mua các lô khẩu trang, thiết bị y tế, nhưng với Việt Nam, ngay trong thời khắc khó khăn, vẫn hành xử một cách có lương tri, có phẩm giá. Đó là, hỗ trợ thành phố Vũ Hán, hỗ trợ nước bạn Lào, Campuchia, hỗ trợ Hoa Kỳ, các nước châu Âu vật tư, thiết bị y tế phòng chống dịch.

Hành xử đó không chỉ biểu hiện bản chất nhân văn cao đẹp của một chế độ xã hội mà còn thể hiện một tinh thần quốc tế cao cả. Giá trị vật chất có thể không lớn, nhưng hành động đẹp, đúng lúc cần thiết sẽ khẳng định giá trị văn hóa dân tộc Việt Nam, bản chất tốt đẹp của chế độ xã hội, củng cố lòng tin của bạn bè quốc tế đối với Việt Nam.

Việt Nam sẽ vượt qua bóng tối của dịch bệnh bằng ánh sáng chân lý, hệ giá trị tư tưởng và lựa chọn của riêng mình. Trong bóng tối, nhân loại có thể nhìn thấy rõ hơn những điểm sáng. Điểm sáng của chủ nghĩa xã hội hiện thực vốn vẫn sáng và tiếp tục tỏa sáng.

Sớm muộn gì, thế giới cũng chiến thắng dịch bệnh, nhưng mức độ tàn phá của dịch bệnh, sinh mạng con người mất đi phụ thuộc rất nhiều vào chính sách ứng phó với khủng hoảng của các quốc gia. Kinh tế rồi sẽ phục hồi, nhưng người đã mất không thể hồi sinh. Ứng phó hiệu quả, nhân văn trước khủng hoảng dịch bệnh có lẽ phụ thuộc vào bản chất nhà nước chứ không phải bất kỳ lý lẽ nào khác.

Theo Internet

CÁCH MẠNG THÁNG MƯỜI NGA VĨ ĐẠI MỞ RA CON ĐƯỜNG GIẢI PHÓNG CHO CÁC DÂN TỘC

Chủ tịch Hồ Chí Minh có những đánh giá, nhận định, khách quan, toàn diện và ý nghĩa lịch sử, ý nghĩa thời đại của cách mạng Tháng Mười Nga, cụ thể là:

Nhân dịp kỷ niệm lần thứ 50 ngày thắng lợi của cuộc Cách mạng Tháng Mười Nga vĩ đại (7/11/1917 - 7/11/1967), Chủ tịch Hồ Chí Minh đã viết bài “Cách mạng Tháng Mười Nga vĩ đại mở ra con đường giải phóng cho các dân tộc” cho Báo Pravđa (Liên Xô cũ), Người không những khẳng định ý nghĩa lịch sử, ý nghĩa thời đại của cuộc cách mạng này mà còn chỉ ra những vấn đề cơ bản của các mạng xã hội chủ nghĩa.

 


Chủ tịch Hồ Chí Minh thăm Chiến hạm Rạng Đông ở Leningrad, tháng 8-1957. Ảnh:Vietnam+

Một là, về tính chất của cách mạng xã hội chủ nghĩa Tháng Mười Nga

Trong lịch sử loài người đã diễn ra những cuộc cách mạng xã hội khác nhau. Cách mạng xã hội chủ nghĩa là cuộc cách mạng xã hội do giai cấp công nhân lãnh đạo, nhằm thực hiện sứ mệnh lịch sử là giải phóng giai cấp, giải phóng dân tộc, giải phóng xã hội, giải phóng con người khỏi sự bóc lột, áp bức và bất công, xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản trên phạm vi toàn thế giới.

Tính chất của một cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa là yếu tố cơ bản để phân biệt các cuộc cách mạng khác nhau trong lịch sử. Cơ sở để xác định tính chất của một cuộc cách mạng xã hội là từ nhiệm vụ giải quyết những mâu thuẫn cơ bản của xã hội. Cách mạng xã hội chủ nghĩa Tháng Mười Nga mang tính chất toàn diện, triệt để, gay go, quyết liệt, phức tạp và lâu dài; mang tính nhân dân, tính quốc tế sâu sắc. Về vấn đề này, Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định “Cách mạng Tháng Mười là thắng lợi đầu tiên của chủ nghĩa Mác và học thuyết Lênin ở một nước lớn là Liên Xô, rộng một phần sáu thế giới. Đó là thắng lợi vĩ đại nhất của giai cấp công nhân, của nhân dân lao động và các dân tộc bị áp bức do giai cấp công nhân và đội tiền phong của họ là Đảng Bônsêvích lãnh đạo”(1).

Hai là, về mục tiêu của cách mạng xã hội chủ nghĩa Tháng Mười Nga

Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, đây là cuộc cách mạng thực hiện mục tiêu rất cao cả là giải phóng giai cấp, giải phóng dân tộc, giải phóng nhân loại và giải phóng con người thoát khỏi áp bức, bóc lột, xây dựng xã hội mới không còn sự phân chia giai cấp và thực hiện các mục tiêu của thời đại: hoà bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội. Người đánh giá: “Chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa cộng sản từ chỗ chỉ là một ước mơ cao đẹp của loài người, sau Cách mạng Tháng Mười vĩ đại đã trở thành một hiện thực trong xã hội, có sức mạnh vô cùng to lớn lôi cuốn hàng nghìn triệu người vào hành động cách mạng, vì hoà bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội”(2).

Như vậy, mục tiêu trước mắt của cách mạng xã hội chủ nghĩa nói chung và của cách mạng xã hội chủ nghĩa Tháng Mười Nga nói riêng là giành chính quyền về tay giai cấp công nhân và nhân dân lao động, để từng bước cải tạo xã hội cũ, xây dựng xã hội mới để tiến đến mục tiêu lâu dài đó là xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa cộng sản văn minh trên phạm vi từng nước và toàn thế giới. Mục đó phản ánh tập trung, sâu sắc tính chất cách mạng triệt để và tính nhân văn, nhân đạo mà các cuộc cách mạng xã hội trước không thể thực hiện được.

 


Lãnh tụ Đảng Bolshevich V. I. Lenin tuyên bố thành lập chính quyền Xô Viết tại Đại hội Xô Viết ngày 7-11-1917 tại điện Smolny, ngay sau khi chiếm Cung điện mùa Đông. Ảnh tư liệu

Ba là, về động lực của cách mạng xã hội chủ nghĩa tháng Mười Nga

Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, động lực chủ yếu của cách mạng xã hội chủ nghĩa Tháng Mười Nga chính là liên minh giữa giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và tầng lớp trí thức Nga; trong đó giai cấp công nhân giữ vai trò lãnh đạo và quyết định sự thắng lợi của cách mạng, sử dụng bạo lực cách mạng để đánh đổ giai cấp tư sản và giai cấp phong kiến địa chủ, lập nên chính quyền của công - nông - binh, chính quyền Xôviết: “Cách mạng Tháng Mười đã dùng bạo lực cách mạng đánh đổ giai cấp tư sản và giai cấp phong kiến địa chủ, lập nên chính quyền của những người lao động, xây dựng một xã hội hoàn toàn mới, một xã hội không có người bóc lột người”(3).

Từ bài học của cách mạng xã hội chủ nghĩa Tháng Mười Nga, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định liên minh công nông vừa là động lực vừa là yếu tố căn bản, bảo đảm cho sự thắng lợi của cuộc cách mạng “Thực hiện cho được liên minh công nông vì đó là sự bảo đảm chắc chắn nhất những thắng lợi của cách mạng. Chỉ có khối liên minh công nông do giai cấp công nhân lãnh đạo mới có thể kiên quyết và triệt để đánh đổ các thế lực phản cách mạng, giành lấy và củng cố chính quyền của nhân dân lao động, hoàn thành nhiệm vụ lịch sử của cách mạng dân tộc, dân chủ và tiến lên chủ nghĩa xã hội”(4).

Xây dựng, củng cố vững chắc khối liên minh giữa giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và trí thức sẽ tạo nên một lực lượng cách mạng to lớn, đủ sức để lật đổ giai cấp tư sản. Đồng thời, sự nghiệp cách mạng xã hội chủ nghĩa luôn phải sử dụng sức mạnh tổng hợp của các lực lượng cách mạng; phát huy sức mạnh của liên minh giữa giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và trí thức; sức mạnh đại đoàn kết dân tộc; sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại. Nếu chỉ tuyệt đối hoá hoặc coi nhẹ một lực lượng cách mạng nào, ở trong nước hay quốc tế thì sự nghiệp cách mạng ở nước đó khó có thể thành công. Đặc biệt, trong khối liên minh ấy, theo Người: “Cần có sự lãnh đạo của một đảng cách mạng chân chính của giai cấp công nhân, toàn tâm toàn ý phục vụ nhân dân. Chỉ có sự lãnh đạo của một đảng biết vận dụng một cách sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin vào điều kiện cụ thể của nước mình thì mới có thể đưa cách mạng giải phóng dân tộc đến thắng lợi và cách mạng xã hội chủ nghĩa đến thành công”(5).

Thứ tư, về nội dung cách mạng xã hội chủ nghĩa Tháng Mười Nga

Về nội dung cách mạng xã hội chủ nghĩa Tháng Mười Nga, Chủ tịch Hồ Chí Minh cho rằng, đó là cuộc cách mạng toàn diện trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội, kinh tế, chính trị, tư tưởng, văn hoá. Trong đó, Người nhấn mạnh hai nội dung căn bản là chính trị và kinh tế.

Nội dung cách mạng về chính trị: lật đổ quyền thống trị của giai cấp tư sản Nga, giành quyền lãnh đạo xã hội về giai cấp công nhân Nga, giải phóng nhân dân lao động khỏi địa vị nô lệ và trở thành người làm chủ xã hội mới “đánh đổ giai cấp tư sản và giai cấp phong kiến địa chủ, lập nên chính quyền của những người lao động”(6). Cách mạng về chính trị có vị trí quan trọng hàng đầu trong sự nghiệp cách mạng của giai cấp công nhân, bởi nó là cơ sở và tiền đề cho việc thực hiện các nội dung cách mạng về kinh tế, tư tưởng, văn hoá. Chính quyền là vấn đề cơ bản của mọi cuộc cách mạng xã hội, là công cụ thống trị xã hội, duy trì quyền lực của giai cấp thống trị để cải tạo xã hội cũ và xây dựng xã hội mới. Do vậy, để xoá bỏ xã hội tư bản chủ nghĩa và xây dựng xã hội mới, thì giai cấp công nhân thông qua chính đảng của mình lãnh đạo nhân dân lao động làm cuộc cách mạng về chính trị là màn giáo đầu của cách mạng xã hội chủ nghĩa. Hồ Chí Minh đã khẳng định: “Không ngừng tăng cường và củng cố nền chuyên chính vô sản. Sau khi đã giành được chính quyền thì nhiệm vụ hàng đầu của giai cấp công nhân là phải tăng cường nền chuyên chính vô sản để hoàn thành những nhiệm vụ lịch sử của cách mạng”(7).

Nội dung cách mạng về kinh tế: đây là nội dung có ý nghĩa quyết định sự thắng lợi vững chắc của cách mạng xã hội chủ nghĩa Tháng Mười Nga. Bởi vì, chủ nghĩa xã hội muốn chiến thắng phải tạo ra năng suất lao động cao hơn chủ nghĩa tư bản, không ngừng nâng cao đời sống vật chất và tinh thần cho nhân dân lao động. Cho nên, giai cấp công nhân phải thực hiện nội dung cách mạng về kinh tế nhằm từng bước xoá bỏ chế độ chiếm hữu tư nhân tư bản chủ nghĩa về tư liệu sản xuất, phát triển lực lượng sản xuất, thay đổi địa vị kinh tế - xã hội của nhân dân lao động. Chính vì vậy, Người nhấn mạnh: “triệt để xoá bỏ chế độ người bóc lột người, xây dựng quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa, xây dựng chủ nghĩa xã hội để tiến lên chủ nghĩa cộng sản”(8).

Thứ năm, về ý nghĩa lịch sử của cách mạng xã hội chủ nghĩa Tháng Mười Nga

Cách mạng Tháng Mười Nga năm 1917 có ý nghĩa lịch sử về nhiều mặt, không chỉ vạch mốc thời đại, mở ra kỷ nguyên mới trong lịch sử nước Nga và các dân tộc bị nô dịch, phụ thuộc trên thế giới, mà còn có ý nghĩa nhân văn sâu sắc ở chỗ đã trở thành ngọn cờ hiệu triệu của thời đại mới, thời đại đấu tranh vì những mục tiêu cao cả: hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và chủ nghĩa xã hội. Đánh giá tổng quát về ý nghĩa lịch sử của cách mạng xã hội chủ nghĩa Tháng Mười Nga, Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: “Giống như mặt trời chói lọi, Cách mạng Tháng Mười chiếu sáng khắp năm châu, thức tỉnh hàng triệu hàng triệu người bị áp bức, bóc lột trên trái đất. Trong lịch sử loài người chưa từng có cuộc cách mạng nào có ý nghĩa to lớn và sâu xa như thế”(9). Với ý nghĩa đó, Người khẳng định: “Thắng lợi vĩ đại của Cách mạng Tháng Mười đã dạy cho giai cấp công nhân, nhân dân lao động và các dân tộc bị áp bức trên toàn thế giới nhiều bài học hết sức quý báu, bảo đảm cho sự nghiệp giải phóng triệt để của giai cấp công nhân và của cả loài người”(10).

Không chỉ trong bài viết “Cách mạng Tháng Mười Nga vĩ đại mở ra con đường giải phóng cho các dân tộc” mà trong nhiều bài nói, bài viết của Chủ tịch Hồ Chí Minh, những sự kiện có ý nghĩa và mọi thắng lợi của cách mạng Việt Nam đều chịu tác động của Cách mạng xã hội chủ nghĩa Tháng Mười. Người chỉ rõ: “Kinh nghiệm bản thân của Việt Nam chứng tỏ rằng chính là nhờ Đảng của những người Bônsêvích và của cuộc Cách mạng xã hội chủ nghĩa Tháng Mười vĩ đại mà ở Việt Nam đã có một đảng mácxít lêninnít và Cách mạng Tháng Tám của chúng tôi đã giành được thắng lợi”(11). Theo đó, mười lăm năm sau ngày thành lập, Đảng đã lãnh đạo nhân dân ta giành được chính quyền, lập ra nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa - Nhà nước dân chủ nhân dân đầu tiên ở Đông Nam Á, Hồ Chí Minh cho rằng: Đi theo con đường Cách mạng Tháng Mười, nhân dân Việt Nam dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản đã kiên quyết đứng lên đấu tranh chống thực dân Pháp và bè lũ tay sai. Năm 1945 đã làm Cách mạng Tháng Tám đánh đổ thực dân giải phóng đất nước, xây dựng chính quyền nhân dân. Hồ Chí Minh khẳng định: Thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám chứng tỏ sự đúng đắn của con đường Cách mạng xã hội chủ nghĩa Tháng Mười vĩ đại đã vạch ra.

Hồ Chí Minh đặc biệt coi trọng việc vận dụng sáng tạo những bài học kinh nghiệm của Cách mạng Tháng Mười vào thực tế Việt Nam. Những bài học đó không chỉ có ý nghĩa trước mắt mà còn có giá trị lý luận và thực tiễn lâu dài. Người không chỉ căn dặn nhân dân ta mà còn tuyên bố với bạn bè quốc tế rằng: “Kinh nghiệm của Cách mạng Tháng Mười, những thành tựu của Liên Xô là ngôi sao chỉ đường cho chúng tôi trong sự nghiệp xây dựng một cuộc đời hạnh phúc cho nhân dân Việt Nam”(12).

Một quan điểm có ý nghĩa phương pháp luận mang tính chỉ đạo lâu dài đối với Đảng và nhân dân ta được Hồ Chí Minh chỉ ra là: “Đi theo con đường do Lênin vĩ đại đã vạch ra, con đường của Cách mạng Tháng Mười, nhân dân Việt Nam đã giành được thắng lợi rất to lớn. Chính vì vậy mà mối tình gắn bó và lòng biết ơn của nhân dân Việt Nam đối với Cách mạng Tháng Mười vẻ vang, đối với Lênin vĩ đại và đối với nhân dân Liên Xô là vô cùng sâu sắc”(13).

Hiện nay, chúng ta đang chuẩn bị kỷ niệm 102 năm (7/11/1917 - 7/11/2019) ngày Cách mạng Tháng Mười Nga thành công thì quan điểm trên đây của Hồ Chí Minh giúp chúng ta nhận thức đúng đắn rằng những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử của hơn 33 năm đổi mới có mối liên hệ biện chứng với con đường Cách mạng Tháng Mười. Chính vì vậy, Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (Bổ sung và phát triển năm 2011) tiếp tục khẳng định tinh thần đó và bổ sung: “Cuộc đấu tranh của nhân dân các nước vì hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ, phát triển và tiến bộ xã hội dù gặp nhiều khó khăn, thách thức, nhưng sẽ có những bước tiến mới. Theo quy luật tiến hóa của lịch sử, loài người nhất định sẽ tiến tới chủ nghĩa xã hội”(14), con đường do Cách mạng Tháng Mười khai phá, chỉ lối./.

Chú thích

(1), (2), (3), (4), (5), (6), (7), (8), (9), (10), Hồ Chí Minh (1967), “Cách mạng Tháng Mười Nga vĩ đại mở ra con đường giải phóng cho các dân tộc”, Hồ Chí Minh toàn tập, tập 15, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia - Sự Thật, Hà Nội, 2011, tr.387-388; tr.390; tr.387; tr.391; tr.391; tr.388; tr.391; tr.392; tr.387; 390; tr.397.

(11) Hồ Chí Minh (1957), “Lời phát biểu tại Hội nghị đại biểu các Đảng Cộng sản và Công nhân các nước xã hội chủ nghĩa”, Hồ Chí Minh toàn tập, tập 11, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2011, tr.190;

(12) Hồ Chí Minh (1957), “Bài phát biểu tại khóa họp Tối cao Liên Xô nhân dịp kỷ niệm 40 năm Cách mạng Tháng Mười”, Hồ Chí Minh toàn tập, tập 11, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2011, tr.180.

(14) Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia - Sự thật, Hà Nội, 2011, tr. 69.

Theo http://hochiminh.vn/


Nâng cao "sức đề kháng" của bộ đội và nhân dân trước các thông tin xuyên tạc

Các thế lực thù địch, phản động chưa bao giờ từ bỏ mưu đồ chống phá Đảng, Nhà nước và nhân dân Việt Nam thông qua thực hiện “diễn biến hòa bình”. Mục tiêu không bao giờ thay đổi của chúng là xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản và lật đổ chế độ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam. Đặc biệt, khi chúng ta vừa tiến hành xong đại hội đảng bộ các cấp, tiến tới Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XIII, các thế lực thù địch càng ráo riết tiến hành các hoạt động chống phá. Chúng coi đây là thời cơ để thực hiện mưu đồ chính trị.

Bóp méo, xuyên tạc mục tiêu, lý tưởng.

Mục tiêu, âm mưu, thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch, phản động không mới, chỉ có điều, trong từng thời điểm và tùy vào tình hình cụ thể, chúng điều chỉnh về hình thức, mức độ và tần suất. Một trong những chiêu trò, thủ đoạn của các thế lực thù địch, phản động là triệt để lợi dụng chủ trương lấy ý kiến xây dựng dự thảo các văn kiện trình Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng để chống phá. Thông qua mạng xã hội, các trang web và một số báo mạng thiếu thiện chí với Việt Nam, các nhóm phản động ở hải ngoại kết hợp với những phần tử cơ hội chính trị trong nước ra sức tuyên truyền xuyên tạc, tác động nhằm "nắn dòng dư luận", làm chệch hướng mục tiêu cách mạng, đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng ta hướng theo quỹ đạo của chủ nghĩa tư bản.

Một đề tài được các thế lực thù địch, phản động xuyên tạc từ nhiều năm nay, đó là công kích, xuyên tạc, phủ nhận nền tảng tư tưởng của Đảng ta. Chủ đề này luôn được chúng gia tăng trước các kỳ đại hội, và Đại hội XIII của Đảng không là ngoại lệ. Trước thềm đại hội, bằng nhiều thủ đoạn tinh vi, các thế lực thù địch, phản động móc nối, lôi kéo và sử dụng những phần tử cơ hội chính trị, thoái hóa, biến chất ngay trong nội bộ ta, núp dưới vỏ bọc “đóng góp” vào dự thảo các văn kiện đại hội Đảng để xuyên tạc sự thật, công kích, chống phá ta dưới nhiều hình thức. Đáng lưu ý là những bức “thư ngỏ”, “thư trao đổi”, “thư góp ý”... mang tư tưởng, quan điểm sai trái, lệch lạc, do một số người soạn thảo rồi giao cho một nhân vật đứng tên đưa lên mạng xã hội, gửi tới các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước. Nếu chỉ lướt qua những bức thư kiểu ấy, chúng ta dễ lầm tưởng đó là những ý kiến tâm huyết, trách nhiệm, mang tính xây dựng.

Nhưng đọc kỹ và soi vào thực tiễn mới thấy, thực chất đó là những luận điệu hết sức nguy hiểm, ngụy biện nhằm phủ nhận bản chất cách mạng, khoa học của Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; phủ nhận con đường xây dựng, đi lên CNXH mà Đảng, Nhà nước và nhân dân ta đã lựa chọn; cố tình bóp méo lịch sử, xuyên tạc tình hình đất nước; làm lu mờ những thành tựu mà Việt Nam đã đạt được trên các lĩnh vực, đồng thời thổi phồng những tồn tại, hạn chế của Đảng và Nhà nước trong quá trình lãnh đạo, điều hành đất nước... nhằm mục tiêu hạ thấp vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, làm suy giảm niềm tin của nhân dân với Đảng.

Các thế lực thù địch đang muốn tạo ra trong nội bộ Việt Nam, trước hết là trong đội ngũ cán bộ, đảng viên một “khoảng trống” về tư tưởng chính trị hòng thay dần bằng một hệ tư tưởng mới-tư tưởng dân chủ tư sản. Với cái nhìn chủ quan, phiến diện, một chiều, họ ra sức tô vẽ, ca ngợi xã hội dân chủ tư sản; mặt khác, họ quy kết rằng nguyên nhân của những tồn tại, hạn chế của đất nước là do "bản chất chế độ"; do “mất dân chủ”, "yếu kém về năng lực lãnh đạo" của Đảng Cộng sản. Họ xuyên tạc rằng Chủ nghĩa Mác-Lênin đã lỗi thời, lạc hậu, không còn phù hợp với thực tiễn; lựa chọn con đường xây dựng CNXH là sai lầm của Việt Nam và muốn khắc phục những yếu kém ấy, muốn có nền dân chủ thực sự, muốn đưa đất nước phát triển nhanh hơn thì phải từ bỏ Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; từ bỏ mục tiêu, con đường xây dựng CNXH, từ bỏ vai trò cầm quyền, duy nhất lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam. Họ cho rằng Đại hội XIII là thời cơ để Đảng ta sửa sai, để Việt Nam đổi mới, thực hiện đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập.

Công tác nhân sự Đại hội XIII của Đảng là công việc có ý nghĩa cực kỳ quan trọng, là nhân tố bảo đảm cho thành công của đại hội và việc tổ chức triển khai đưa nghị quyết đại hội đi vào cuộc sống. Đây cũng là nội dung mà các thế lực thù địch, phản động, cơ hội tập trung chống phá. Chẳng hạn, họ lợi dụng việc Đảng và Nhà nước ta đẩy mạnh cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng theo tinh thần “không có vùng cấm”; xử lý nghiêm minh những cán bộ, đảng viên vi phạm kỷ luật của Đảng, pháp luật Nhà nước để bóp méo, xuyên tạc, cho rằng đó là cuộc “thanh trừng nội bộ”, “trả thù lẫn nhau” giữa các cá nhân, phe nhóm... Từ những thông tin cóp nhặt ngoài luồng, họ “dựng lên” danh sách các nhân sự sẽ giữ các trọng trách: Tổng Bí thư, Chủ tịch nước, Thủ tướng Chính phủ, Chủ tịch Quốc hội; nhân sự trong Bộ Chính trị, Ban Bí thư... rồi đem ra bình phẩm, phán xét, so sánh... Đặc biệt nguy hiểm hơn, chúng còn dựng chuyện, xuyên tạc, tung tin rằng công tác nhân sự Đại hội XIII của Đảng Cộng sản Việt Nam có sự tranh giành, "đấu đá" nhau và chịu sự can thiệp của thế lực từ bên ngoài...

Tỉnh táo nhận diện, chủ động đấu tranh.

Nội dung quan trọng được Bộ Chính trị, Ban Bí thư nhấn mạnh và yêu cầu trong công tác lãnh đạo, chỉ đạo chuẩn bị đại hội đảng các cấp, nhất là Đại hội XIII của Đảng là phải chuẩn bị thật tốt và kỹ càng cả về nội dung dự thảo các văn kiện và công tác nhân sự. Đặc biệt, đồng chí Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Nguyễn Phú Trọng nhiều lần yêu cầu cấp ủy, chính quyền, các đoàn thể phải nêu cao tinh thần cảnh giác, nâng cao ý thức tự “đề kháng”, năng lực phản bác của nhân dân trong cuộc đấu tranh làm thất bại những âm mưu, thủ đoạn, luận điệu sai trái của các thế lực thù địch nhằm phá hoại đại hội Đảng.

Một trong những vấn đề cốt yếu được Đảng, Nhà nước và nhân dân Việt Nam xác định đó là phải thường xuyên làm tốt công tác tuyên truyền, giáo dục củng cố và nâng cao nhận thức về bản chất cách mạng, khoa học của Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh. Chỉ có đứng vững trên nền tảng tư tưởng ấy, chúng ta mới đủ cơ sở khoa học và thực tiễn, có cái nhìn khách quan và toàn diện, phân biệt rõ đúng-sai, đủ "sức đề kháng" và có năng lực đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch.

Thực tiễn lịch sử đã chứng minh thuyết phục vai trò của Chủ nghĩa Mác-Lênin đối với cách mạng thế giới nói chung và cách mạng Việt Nam nói riêng. Những thành tựu to lớn trong sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc, thống nhất nước nhà, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, đặc biệt là gần 35 năm đổi mới mà Đảng, Nhà nước và nhân dân ta giành được đã được bạn bè trên thế giới thừa nhận, đã chứng minh bản chất cách mạng, khoa học của Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và sự vận dụng linh hoạt, sáng tạo của Đảng ta. Đó cũng là minh chứng hùng hồn khẳng định việc “Đảng lấy Chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động...” là hoàn toàn đúng đắn. Tất cả những gì đã và đang diễn ra là thực tế không một thế lực nào có thể phủ nhận.

Trong chỉ đạo tiến hành các khâu, các bước để tổ chức đại hội đảng bộ các cấp tiến tới Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng, cùng với chuẩn bị văn kiện, Đảng ta rất coi trọng công tác chuẩn bị nhân sự. Quán triệt, triển khai thực hiện nghiêm túc các nghị quyết, kết luận, chỉ thị, quy định, hướng dẫn của trên, hiện nay, 67/67 đảng bộ trực thuộc Trung ương đã tổ chức thành công đại hội nhiệm kỳ 2020-2025. Mở rộng dân chủ, phát huy trí tuệ, tâm huyết, sự sáng tạo của các cấp ủy, tổ chức đảng, đảng viên, các tầng lớp nhân dân trong xây dựng các văn kiện và công tác nhân sự Đại hội XIII của Đảng là chủ trương đúng đắn của Đảng ta. Đây là công việc rất hệ trọng, mang tính quyết định đến vận mệnh, tương lai phát triển của đất nước.

Để đấu tranh, ngăn chặn những âm mưu, thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch, một trong những yêu cầu hàng đầu mà Đảng ta đặt ra trong công tác nhân sự là phải thực hiện đúng các nguyên tắc, quy trình, trên cơ sở phát huy dân chủ đi đôi với giữ vững nguyên tắc, kỷ luật, kỷ cương; coi trọng chất lượng, hiệu quả, đề cao trách nhiệm của các cấp ủy, tổ chức đảng, trước hết là người đứng đầu. Đề cập đến vấn đề này, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Nguyễn Phú Trọng đã khẳng định: “Đại hội là dịp để ta sàng lọc cán bộ chứ không chỉ bàn phương hướng. Ai xứng đáng thì làm, không thì thôi, không sợ thiếu cán bộ”. Như vậy có thể thấy, quan điểm của Đảng ta về chuẩn bị văn kiện và công tác nhân sự Đại hội XIII là rất dân chủ, rõ ràng, minh bạch.

Phát huy dân chủ, tôn trọng và ghi nhận những ý kiến đóng góp của các tổ chức đảng, đảng viên và các tầng lớp nhân dân là rất cần thiết. Nhưng trước những âm mưu, thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch đòi hỏi chúng ta phải tỉnh táo nhận diện và cương quyết đấu tranh. Trước hết cần có sự nhìn nhận, đánh giá, phân tích kỹ lưỡng, thận trọng, tuyệt đối không để kẻ xấu lợi dụng công việc ý nghĩa này để thực hiện những mục đích cá nhân, mưu đồ đen tối, kích động chia rẽ nội bộ, phá hoại khối đại đoàn kết toàn dân.


Đối với mỗi cán bộ, đảng viên, từng cán bộ, chiến sĩ và từng người dân, khi tiếp cận với những thông tin, tài liệu tán phát trên mạng cần phải tỉnh táo nhận diện đâu là thông tin tốt, đâu là thông tin xấu, đâu là thông tin có cơ sở, đâu là thông tin xuyên tạc, quy chụp, bịa đặt; tránh bị cuốn theo những giọng điệu xảo trá của các thế lực thù địch mà dẫn tới tư tưởng hoài nghi, hoang mang, dao động, suy giảm niềm tin với Đảng và chế độ. Các lực lượng chức năng cần chủ động phát hiện, kịp thời đấu tranh, ngăn chặn những nội dung sai trái, xấu độc trên mạng xã hội, những trang mạng tán phát thông tin, tài liệu xuyên tạc, mạo danh, nặc danh, lợi dụng việc góp ý xây dựng dự thảo các văn kiện đại hội Đảng để công kích, chống phá Đảng, Nhà nước và nhân dân ta./

Thứ Tư, 4 tháng 11, 2020


Theo báo Mặt trận

Tiếp nối tinh thần “tương thân tương ái” trong lịch sử dân tộc

  Phó Chủ tịch Trương Thị Ngọc Ánh tiếp nhận ủng hộ từ Công đoàn Công ty TNHH Yamaha.
Cám ơn sự chung tay kịp thời của các cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp, nhà hảo tâm ở trong và ngoài nước khi đã luôn hướng về đồng bào các tỉnh vùng lũ với tất cả tình cảm, trách nhiệm của mình, Phó Chủ tịch Trương Thị Ngọc Ánh bày tỏ, đây chính là hiện thân của nghĩa đồng bào, của tinh thần “tương thân tương ái” được kế thừa và phát huy trong suốt chiều dài lịch sử của dân tộc.

Đặc biệt, những ngày qua, hệ thống Mặt trận từ Trung ương đến địa phương đã tiếp nhận ủng hộ từ rất nhiều cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp, nhà hảo tâm ở trong và ngoài nước. Những tấm lòng này sẽ góp thêm nguồn lực cùng với Đảng, Nhà nước, Chính phủ giúp bà con vượt qua khó khăn, mất mát.

“Từ nguồn lực tiếp nhận được, chúng tôi sẽ phân bổ cho cấp cơ sở để hỗ trợ khẩn cấp cho những nơi bị ảnh hưởng nặng nề nhất. Số còn lại để giúp người dân khắc phục hậu quả, tái thiết nhà cửa, sản xuất, trên cơ sở danh sách thống kê từ các địa phương tổng hợp. Nguyên tắc là nguồn lực vận động của đợt nào sẽ được phân bổ hết đợt đó theo đúng quy định của pháp luật”, Phó Chủ tịch Trương Thị Ngọc Ánh thông tin.

 Phó Chủ tịch Trương Thị Ngọc Ánh tiếp nhận ủng hộ từ Công ty TNHH Tiếng Vang Việt Nam.
Nhắc tới những thiệt hại nặng nề của bà con các tỉnh miền Trung, Tây Nguyên khi những cơn bão chồng bão, lũ chồng lũ đi qua, Phó Chủ tịch Trương Thị Ngọc Ánh chia sẻ, sẽ cần và cần nhiều hơn nữa những nguồn lực để giúp bà con ổn định cuộc sống, chính vì vậy, hệ thống Mặt trận từ Trung ương tới địa phương mong muốn sẽ có nhiều hơn nữa những hoạt động sẻ chia thấm đượm tinh thần đại đoàn kết này.

“Không chỉ dừng lại ở các hoạt động ủng hộ người dân vùng lũ, UBTƯ MTTQ Việt Nam mong muốn các cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp và cá nhân ở trong và ngoài nước tiếp tục đồng hành cùng Mặt trận để chung tay giúp đỡ các hộ nghèo, gia đình có hoàn cảnh khó khăn, bà con đồng bào dân tộc thiểu số, vùng sâu, vùng xa trên khắp mọi miền Tổ quốc”, Phó Chủ tịch Trương Thị Ngọc Ánh nhấn mạnh.

 TheoTạp chí Tuyên giáo

Phát huy vai trò giám sát, phản biện của MTTQ, góp phần xây dựng Đảng bộ, chính quyền vững mạnh

Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam Thành phố Hồ Chí Minh và các tổ chức thành viên đã có nhiều đổi mới về nội dung, phương thức hoạt động, đa dạng trong tuyên truyền, vận động, tập hợp nhân dân; các phong trào thi đua yêu nước, cuộc vận động hướng mạnh về cơ sở đã huy 
động, phát huy sức mạnh khối đại đoàn kết toàn dân tộc; nhiều mô hình mới, cách làm hay, sáng tạo, có hiệu quả mang tính thiết thực được nhân rộng, lan tỏa. 
 

Trong những năm qua, một trong những nhiệm vụ trọng tâm được Đảng bộ Thành phố Hồ Chí Minh (Đảng bộ Thành phố) xác định là: “Tiếp tục củng cố, kiện toàn tổ chức, đổi mới mạnh mẽ nội dung, phương thức hoạt động của Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể chính trị - xã hội theo hướng nâng cao năng lực đại diện, chăm lo, bảo vệ quyền, lợi ích chính đáng, hợp pháp của các giới, các tầng lớp nhân dân. Nâng cao hiệu quả giám sát, phản biện xã hội, khắc phục tình trạng hành chính hóa trong hoạt động của Mặt trận Tổ quốc (MTTQ) và đoàn thể chính trị - xã hội các cấp”(1). 

Thực hiện chủ trương trên, MTTQ các cấp của Thành phố đã tích cực, thường xuyên tổ chức quán triệt và triển khai Luật MTTQ Việt Nam sâu rộng trong các tầng lớp nhân dân; Đảng đoàn MTTQ Thành phố tập trung lãnh đạo Ban Thường trực Ủy ban MTTQ Thành phố xây dựng các chương trình, kế hoạch với hệ thống giải pháp khoa học gắn với thực tiễn nhằm cụ thể hóa và đưa Nghị quyết Đại hội Đảng bộ Thành phố, Luật MTTQ từng bước đi vào đời sống nhân dân. 

Có thể dễ dàng nhận thấy sự quan tâm, tham gia tích cực của các giới, các tầng lớp nhân dân tại Ngày hội Đại đoàn kết toàn dân tộc ở khu dân cư hàng năm; trong các kỳ sinh hoạt tổ dân phố, sinh hoạt chi hội, tổ hội, chi đoàn thanh niên…; trong các hội nghị, tọa đàm, mạn đàm do MTTQ Thành phố và các tổ chức thành viên tổ chức. Qua đó, người dân tích cực tham gia góp ý và quyết định việc thực hiện các kế hoạch, công trình tại khu dân cư; các khoản huy động đóng góp để nâng cấp, mở rộng các tuyến đường, tuyến hẻm; lắp đặt hệ thống camera quan sát để phòng ngừa tội phạm, phòng chống xả rác bừa bãi, bảo vệ môi trường; công trình chăm lo cho hộ nghèo; tham gia ý kiến sửa đổi, bổ sung các quy ước phù hợp với tình hình thực tế của địa phương…

MTTQ các cấp Thành phố đã phát huy vai trò là một trong những “kênh” quan trọng để nhân dân linh động, sáng tạo thực hiện phương châm “dân biết, dân bàn, dân kiểm tra, dân thụ hưởng”; khơi lên sức sáng tạo, nguồn lực to lớn trong nhân dân.
Công tác giám sát, phản biện xã hội của MTTQ Thành phố các cấp đã được tập trung, tăng cường trong những năm gần đây và trở thành hoạt động thường xuyên, trọng tâm, có tác động thực tế đến sự phát triển kinh tế - xã hội và đảm bảo quốc phòng - an ninh của Thành phố. Đây cũng là phương thức hiệu quả phát huy quyền làm chủ của nhân dân, góp phần xây dựng Đảng, xây dựng chính quyền các cấp Thành phố trong sạch, vững mạnh. 

MTTQ các cấp Thành phố phát huy tích cực vai trò chủ trì, phối hợp với các tổ chức chính trị - xã hội trong tổ chức hoạt động giám sát, lắng nghe ý kiến nhân dân, dư luận, báo chí. Qua đó kịp thời báo cáo cấp ủy, người đứng đầu cấp ủy và chính quyền kịp thời giải quyết những phản ánh, kiến nghị, góp ý thiết thực của nhân dân. Từ năm 2015 đến nay, hệ thống MTTQ các cấp Thành phố đã chủ trì, phối hợp tổ chức giám sát ở 20 nội dung với 3.236 cuộc giám sát chuyên đề và đột xuất, trong đó tập trung vào các lĩnh vực mà người dân quan tâm, kiến nghị. Bên cạnh đó, các tổ chức chính trị - xã hội Thành phố cũng tập trung thực hiện hàng loạt các hoạt động giám sát chuyên đề.

Qua giám sát đã phát hiện nhiều nội dung, vụ việc và những hạn chế của đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức. Nhiều ý kiến, kiến nghị sau giám sát được chính quyền các cấp tiếp thu, phản hồi, giải quyết có tình có lý và kịp thời, góp phần bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp, chính đáng của nhân dân; hạn chế tình trạng khiếu nại, tố cáo; củng cố niềm tin, tạo sự đồng thuận trong nhân dân.

Song song với hoạt động giám sát, việc tổ chức hoạt động phản biện xã hội của MTTQ và các tổ chức chính trị - xã hội Thành phố cũng đã được tập trung và bước đầu đạt được những kết quả quan trọng, góp phần sinh động hơn nội dung, phương thức hoạt động của MTTQ và các tổ chức chính trị - xã hội. 

MTTQ các cấp phát huy vai trò chủ trì trong xây dựng và tổ chức thực hiện kế hoạch phản biện xã hội hàng năm, lựa chọn nội dung theo nhu cầu của chính quyền và những vấn đề mà nhân dân và xã hội quan tâm để phản biện xã hội. Từ năm 2015 đến nay, đã tổ chức và mời các Ủy viên Ủy ban MTTQ Thành phố, các thành viên Hội đồng tư vấn, chuyên gia, nhà khoa học tham gia 321 hội nghị phản biện xã hội đối với các đề án, kế hoạch liên quan đến việc thực hiện cơ chế, chính sách đặc thù phát triển Thành phố theo Nghị quyết số 54/2017/QH14 của Quốc hội, Dự thảo Đề án thực hiện chính quyền đô thị của Thành phố Hồ Chí Minh… Đặc biệt là những vấn đề liên quan đến quy hoạch đô thị, cấp phép xây dựng, bồi thường - hỗ trợ tái định cư, thoát nước đô thị, rác thải - ô nhiễm môi trường; an ninh trật tự… Các ý kiến phản biện, góp ý của MTTQ Thành phố được các cơ quan soạn thảo đánh giá cao, trở thành cơ sở khoa học và thực tiễn để các cơ quan tiếp thu, nghiên cứu và ứng dụng trong các đề án phát triển kinh tế - xã hội phục vụ đời sống nhân dân thành phố.

Trong quá trình tham gia xây dựng chính quyền kiến tạo của nhân dân, dân chủ trực tiếp ngày càng được mở rộng, nhân dân thực hiện quyền làm chủ của mình thông qua các hình thức trực tiếp và thông qua các tổ chức đại diện của mình. Tại các địa phương, tổ chức và hoạt động của Ban Thanh tra Nhân dân; Ban Giám sát đầu tư của cộng đồng ở xã, phường, thị trấn luôn được chú trọng, củng cố cả về tổ chức, nâng cao chất lượng hoạt động. 
Trong 5 năm qua, Ban Thanh tra Nhân dân xã, phường, thị trấn đã tổ chức được 2.102 cuộc giám sát; Ban Giám sát đầu tư của cộng đồng đã tổ chức được 1.217 cuộc giám sát. Qua đó kiến nghị với chính quyền xử lý nhiều vi phạm, góp phần hạn chế những tiêu cực ở cơ sở liên quan đến công tác quản lý nhà nước liên quan đến các lĩnh vực: đất đai, giao thông, thu-chi các nguồn quỹ vận động trong dân, thực hiện chế độ, chính sách đối với các đối tượng được hưởng ưu đãi của Nhà nước…

Đồng hành với nhân dân trong tham gia góp ý xây dựng chính quyền và thực hiện đúng, đủ trách nhiệm của mình, MTTQ các cấp Thành phố đã tập hợp các kiến nghị của những tổ chức thành viên, cử tri và nhân dân Thành phố để phản ánh đến đại biểu Quốc hội, hội đồng nhân dân các cấp; theo dõi, đeo bám việc thực hiện các kiến nghị chính đáng, hợp pháp của cử tri; thông tin kịp thời, đầy đủ đến cử tri có ý kiến, phản ánh. Từ năm 2016 đến nay, Ủy ban MTTQ Thành phố đã kiến nghị 42 vấn đề tại các kỳ họp Hội đồng nhân dân Thành phố liên quan đến các giải pháp phát triển kinh tế - xã hội, những vấn đề người dân Thành phố quan tâm và bức xúc như: ô nhiễm môi trường, vệ sinh an toàn thực phẩm, tội phạm và tệ nạn xã hội, chấn chỉnh trật tự đô thị và quản lý sử dụng lòng lề đường, việc cấp phép xây dựng và xóa các dự án “treo”...

Từ năm 2018 đến nay, Đảng đoàn MTTQ Thành phố đã tập trung chỉ đạo Ban Thường trực Ủy ban MTTQ tổ chức khảo sát đánh giá sự hài lòng của người dân và doanh nghiệp đối với sự phục vụ của đội ngũ cán bộ, công chức các cơ quan hành chính các cấp thành phố (đã thực hiện 33.740 mẫu phiếu khảo sát; mức độ hài lòng của người dân, doanh nghiệp đối với sự phục vụ của cơ quan hành chính, đạt từ 80% đến 95,74%). Qua kết quả khảo sát hàng năm, Đảng đoàn Ủy ban MTTQ đã kiến nghị, đề xuất với Ban cán sự Đảng UBND Thành phố các giải pháp phù hợp, thiết thực trong cải cách chế độ công vụ, tinh thần trách nhiệm và tận tụy phục vụ nhân dân của đội ngũ cán bộ công chức; nâng cao năng lực, hiệu quả quản lý, điều hành của chính quyền các cấp, nhất là nâng cao vai trò và trách nhiệm của người đứng đầu, góp phần cải thiện và nâng cao chất lượng chương trình cải cách hành chính. 

MTTQ và các tổ chức chính trị - xã hội các cấp cũng đã phối hợp tổ chức tốt các hội nghị đối thoại trực tiếp giữa người đứng đầu cấp ủy, chính quyền với nhân dân. Qua đó, góp phần tạo niềm tin của nhân dân với Đảng và chính quyền, tạo môi trường dân chủ trong đời sống chính trị - xã hội của địa phương.

Từ kết quả thực tiễn đã chứng minh: đổi mới phương thức hoạt động, lấy công tác giám sát, phản biện xã hội làm động lực phát huy dân chủ nhân dân, nâng cao chất lượng công tác vận động nhân dân của MTTQ Thành phố các cấp là tất yếu phù hợp với sự phát triển chung Thành phố, đáp ứng nguyện vọng của nhân dân trên địa bàn. Công tác giám sát, phản biện xã hội của MTTQ chỉ có thể phát huy tốt nhất khi có sự phối hợp, thực hiện đồng bộ với các hoạt động giám sát của các cơ quan, tổ chức khác trong hệ thống chính trị dưới sự lãnh đạo sâu sát của cấp ủy, sự phối hợp chặt chẽ của chính quyền cùng cấp.

Trong thời gian tới, để phát huy tốt vai trò giám sát, phản biện xã hội Đảng đoàn MTTQ Thành phố xác định cần triển khai hiệu quả một số giải pháp.

Thứ nhất, nâng cao nhận thức của cấp ủy và MTTQ Thành phố các cấp về vai trò, vị trí của MTTQ trong giám sát, phản biện xã hội, nhất là giám sát người đứng đầu, cán bộ chủ chốt các cấp thực hiện quy định nêu gương. 

Các cấp ủy đảng và MTTQ Thành phố các cấp phải xác định rõ vị trí, vai trò, chức năng, nhiệm vụ giám sát, phản biện xã hội để MTTQ thực sự là một chủ thể, có tiếng nói độc lập, đại diện cho nhân dân trong giám sát việc xây dựng, thực thi chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước.

Hai là, tiếp tục phát huy hiệu quả sự phối hợp và thực hiện một cách đồng bộ với các hoạt động giám sát của các tổ chức chính trị - xã hội và các cơ quan, tổ chức khác trong hệ thống chính trị. Ban Thường trực Ủy ban MTTQ các cấp cần tổ chức tốt việc tiếp nhận và xử lý thông tin, thông qua báo cáo của MTTQ cấp dưới, của các tổ chức thành viên, thông tin từ các cơ quan giúp việc của cấp ủy, chính quyền, các cơ quan truyền thông đại chúng và đơn thư, ý kiến phản ánh trực tiếp của các tầng lớp nhân dân làm căn cứ để giám sát. Phát huy vai trò chủ trì của MTTQ các cấp trong xây dựng và tổ chức thực hiện kế hoạch giám sát hàng năm. Lựa chọn đúng, chính đáng những nội dung mà nhân dân và xã hội quan tâm, bức xúc để giám sát.

Phát huy các hình thức vận động, tuyên truyền, tập hợp, đoàn kết nhân dân thông qua các cuộc vận động, phong trào thi đua yêu nước để sâu sát, kịp thời nắm bắt và phản ánh ý kiến của nhân dân; phát hiện những vướng mắc, bất cập, sai sót trong tổ chức thực hiện chính sách, pháp luật; lựa chọn thực hiện có hiệu quả 3 hình thức phản biện xã hội để đưa ra các ý kiến phản biện sắc sảo, sát thực, góp phần tăng đồng thuận xã hội, ổn định và phát triển.

Ba là, tiếp tục đổi mới về tổ chức bộ máy, nâng cao hiệu quả giám sát, phản biện xã hội của hệ thống MTTQ Thành phố và các tổ chức chính trị - xã hội các cấp. Có các biện pháp nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ MTTQ, các tổ chức chính trị - xã hội về trình độ chuyên môn, năng lực nhìn nhận, phân tích, đánh giá vấn đề, kỹ năng lắng nghe, tổng hợp. Tiếp tục đổi mới, nâng cao chất lượng hoạt động của Ban Thanh tra Nhân dân, Ban Giám sát đầu tư của cộng đồng và Ban Công tác Mặt trận; nâng cao chất lượng hoạt động của chi đoàn, chi hội khu phố, ấp. 

Bốn là, ứng dụng khoa học - công nghệ, các tiện ích mạng xã hội trong công tác giám sát, phản biện xã hội; đồng thời, phối hợp với các cơ quan báo, đài Thành phố xây dựng chương trình phát sóng, đưa tin nhằm tạo kênh thông tin và tương tác nhiều chiều để các tầng lớp nhân dân thành phố có thêm thông tin, phản ánh, đặc biệt là tiếp nhận các góp ý, đề xuất, hiến kế… từ các chuyên gia, nhà nghiên cứu đối với công tác điều hành, quản lý của chính quyền các cấp thành phố.

Năm là, nghiên cứu xây dựng bộ tiêu chí đánh giá sự hợp tác của đối tượng được giám sát về việc cung cấp thông tin, tổ chức tiếp đoàn giám sát, việc báo cáo nội dung theo yêu cầu của chủ thể giám sát, việc tiếp thu ý kiến sau giám sát; từ kết quả đánh giá này, có kiến nghị với cấp ủy đảng, chính quyền trong việc đánh giá mức độ hoàn thành nhiệm vụ đối với cá nhân, tổ chức được giám sát khi không đảm bảo các tiêu chí đánh giá của quá trình và sau giám sát./.

Nhạt phai lý tưởng cách mạng - “đường gần” dẫn đến tự suy thoái

 

Nhạt phai lý tưởng cách mạng - “đường gần” dẫn đến tự suy thoái

Trong thời khắc thiêng liêng của buổi lễ kết nạp Đảng, lời nói đầu tiên của mỗi đảng viên vang lên tha thiết, xúc động từ trái tim mình là: “Trước Quốc kỳ, Đảng kỳ và chân dung Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại, tôi xin thề “Tuyệt đối trung thành với mục tiêu lý tưởng cách mạng của Đảng, chấp hành nghiêm chỉnh Cương lĩnh chính trị, Điều lệ Đảng, nghị quyết, chỉ thị của Đảng…”. Lời thề đó được nhiều thế hệ đảng viên cộng sản khắc cốt ghi tâm trong suốt cuộc đời, nhưng cũng có người để cho lý tưởng cách mạng của Đảng “buông trôi”, nhạt nhòa theo năm tháng, thậm chí đi ngược lại lý tưởng mình hằng theo đuổi, tôn thờ.

Từng có ý kiến cho rằng, thời buổi kinh tế thị trường mà nói đến lý tưởng cách mạng nghe có vẻ cũ kỹ, sáo mòn, khô khan, không hợp thời, khó hội nhập với thế giới. Thậm chí có ý kiến khuyến nghị: Cứ tập trung chăm lo phát triển kinh tế, làm giàu đi, khi mọi người, mọi nhà đều sung túc, của cải xã hội dồi dào, thì đương nhiên là hiện thực hóa lý tưởng rồi. Thoạt nghe thì tưởng đúng, nhưng sự thật đó là thái độ cổ xúy cho tư tưởng cấp tiến, dễ làm những người cộng sản rơi vào tâm thế dao động, thiếu lập trường kiên định, mất phương hướng rèn luyện, phấn đấu để thực hiện những mục đích cao cả mà sự nghiệp cách mạng đã đặt ra.

Nếu như trước đây, lý tưởng cách mạng của Đảng đòi hỏi người đảng viên có tinh thần dấn thân, xông pha vào nơi gian khổ, hiểm nguy, sẵn sàng chiến đấu, hy sinh vì độc lập, tự do của Tổ quốc; thì thời nay, lý tưởng cách mạng của Đảng mong muốn, yêu cầu cán bộ, đảng viên cần đề cao tinh thần phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân; biết giải quyết hài hòa mối quan hệ giữa lợi ích xã hội, lợi ích tập thể và lợi ích cá nhân, trong đó phải lấy lợi ích xã hội, lợi ích tập thể làm trọng; biết xử lý đúng mực, hợp lý, hợp tình mối quan hệ giữa cống hiến và hưởng thụ; biết gắn kết chặt chẽ và thực hiện giữa nói và làm, trong đó cần coi trọng làm đến nơi đến chốn, làm thực chất, làm hiệu quả, làm vì sự trưởng thành của bản thân và sự vững mạnh, tiến bộ của tập thể. Nếu cứ để một chút lơ là, một chút lơi lả, một chút dễ dãi, một chút “thỏa hiệp” với chính mình thì theo ngày tháng, “một chút” đó sẽ lớn dần lên thành “mụn nhọt”, thậm chí thành “ung thư” thì phẩm chất, nhân cách, tư cách của người cán bộ, đảng viên sẽ rơi vào tình trạng “chết lâm sàng”. Từ đó, lý tưởng cách mạng không chỉ nhạt phai, mà đã tự suy thoái và người cộng sản biến thành “bóng ma” của chính mình!

Thủ đoạn xuyên tạc vụ án Châu Văn Khảm, bôi nhọ, chống phá Nhà nước

 

Thủ đoạn xuyên tạc vụ án Châu Văn Khảm, bôi nhọ, chống phá Nhà nước

Không khó để thấy, nhiều đối tượng cơ hội chính trị và các hội nhóm núp dưới bóng bảo vệ nhân quyền đã liên tục đưa ra các thông tin sai lệch về vụ án, vu khống bản chất Nhà nước ta và đưa ra những yêu sách phi lý liên quan đến việc xét xử các bị cáo trong vụ án. Những ngày gần đây, trên các trang mạng như Việt Tân, Hội anh em dân chủ, Chân trời mới Media cùng các trang báo có nội dung tiếng Việt như BBC, RFA đưa ra nhiều bài viết chứa nội dung sai lệch về vụ án Châu Văn Khảm cùng đồng phạm khủng bố nhằm lật đổ chính quyền nhân dân. Đặc biệt, các đối tượng còn viện dẫn thông tin, số liệu mang tính mơ hồ, quy chụp, phi thực tế của cái gọi là Tổ chức Theo dõi Nhân quyền để xâm phạm đến lợi ích quốc gia của Việt Nam, tạo ra tâm lý hoang mang trong dư luận.

Xuyên tạc, hướng lái bản chất vụ án: phương thức chống phá nguy hiểm. Về vụ án Châu Văn Khảm, cái gọi là Tổ chức Theo dõi Nhân quyền đã đưa ra những thông tin sai trái như: “Việt Nam là một nước thường xuyên sử dụng luật hình sự để trừng phạt những người phê phán ôn hòa, đi ngược lại công pháp quốc tế” hay “Đảng Cộng sản Việt Nam đã kiểm soát quyền lực rất chặt chẽ trong hơn 40 năm qua và sẽ không cho phép bất kỳ sự đối lập chính trị nào”. Vậy bản chất thực sự đằng sau đó là gì? Đó chính là mưu đồ chống phá chế độ XHCN, hướng lái chính trị theo con đường đa nguyên, đa đảng, xoá bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản tại Việt Nam, đưa Việt Nam đi theo quỹ đạo lệ thuộc các nước tư bản. Trong đó, bước đầu tiên các đối tượng thực hiện là vươn vòi “bạch tuộc”, can thiệp vào công việc nội bộ của Việt Nam.

Hiện nay, các đối tượng phản động, chống đối, cơ hội chính trị người Việt đang cổ suý tư tưởng “núp bóng”, dựa dẫm vào bên ngoài. Chưa dừng lại ở đây, nhiều đối tượng còn giả danh dân chủ, nhân quyền để tạo cớ cho các thể lực bên ngoài can thiệp vào công việc nội bộ của đất nước. Hành động này cho thấy bản chất “bất trung” với Tổ quốc.

Qua đây, một lần nữa có thể thấy, các đối tượng chống phá Việt Nam không chỉ vi phạm pháp luật Việt Nam mà còn đi ngược lại những quy định chung của luật pháp quốc tế. Mọi hành vi xâm phạm đến lợi ích quốc gia, dân tộc của Việt Nam đều phải bị xử lý một cách nghiêm khắc trước pháp luật.